Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksAn Giang 190 năm

Chào mừng quý vị đến với Cổng thông tin điện tử Đảng bộ tỉnh An Giang!
 
An Giang 190 năm
 
 
 
 
 
  
Phân loại
  
  
  
  
  
Tóm tắt
  
  
  
  
Nội dung
Chợ Mới 105 năm hình thành và phát triểnNewBài viếtHạnh ChâuChợ Mới 105 năm hình thành và phát triển/SiteAssets/CM-105-nam-ptrien-1.jpg
18/08/2022 7:00 CHNoĐã ban hành

(TUAG)- Cách đây 105 năm, Chợ Mới - đơn vị hành chính cấp quận trực thuộc tỉnh Long Xuyên (nay là An Giang) đã được thành lập (1917-2022). Với sứ mệnh được lịch sử trao cho, trong chặng đường hơn 320 năm hình thành và phát triển, 105 năm thiết lập đơn vị hành chính cấp quận, đến nay Chợ Mới luôn giữ vị trí quan trọng về chính trị, quân sự và kinh tế trong sự nghiệp đấu tranh, xây dựng và phát triển quê hương An Giang. Đây còn là vùng đất "địa linh nhân kiệt" phát tiết nhiều giá trị truyền thống lịch sử, văn hóa, anh hùng cách mạng và cũng là quê hương của những cán bộ cách mạng tiền bối, nhân sĩ, trí thức nổi tiếng trong tỉnh và cả nước.

 CM-105-nam-ptrien-1.jpg

Năm 1917, quận Chợ Mới thuộc tỉnh Long Xuyên; đến tháng 3/1948 thuộc tỉnh Long Châu Tiền, đến tháng 6/1951 thuộc tỉnh Long Châu Sa. Từ năm 1957-1975 quận Chợ Mới thuộc tỉnh An Giang của chính quyền Sài Gòn, duy trì đến năm 1975 kể cả khi An Giang tách thành 2 tỉnh An Giang và Châu Đốc từ năm 1964. Sau ngày giải phóng miền Nam tháng 2/1976 Chợ Mới trở về thuộc tỉnh An Giang với 12 xã, 1 thị trấn. Từ năm 2003 đến nay Chợ Mới có 16 xã, 2 thị trấn.

Chợ Mới là chiếc nôi cách mạng của tỉnh An Giang-nơi ra đời Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên ở An Giang. Trong 15 năm đấu tranh giành chính quyền (1930-1945) Chợ Mới luôn là vùng điểm chỉ đạo của tỉnh trong các cao trào đấu tranh cách mạng. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) quân dân Chợ Mới đã bền bỉ đấu tranh đến thắng lợi cuối cùng. Trong 21 năm (1954-1975) cùng nhân dân cả nước chống Mỹ xâm lược, nhân dân Chợ Mới đã làm thất bại mọi âm mưu của địch, lập nên những chiến công góp phần thắng lợi của dân tộc. Ghi nhận những đóng góp to lớn của quân và dân Chợ Mới, nhà nước đã phong tặng Chợ Mới danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân" năm 2014 và 84 danh hiệu "Mẹ Việt Nam anh hùng".

CM-105-nam-ptrien-3.jpg

Sau giải phóng, nền kinh tế huyện Chợ Mới xác định nông nghiệp là lĩnh vực phát triển hàng đầu, bằng sự nỗ lực của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân từ một huyện phải nhờ tỉnh cứu đói (năm 1975), Chợ Mới đã khắc phục những khó khăn vươn lên ổn định cuộc sống nhân dân. Huyện tập trung phát triển sản xuất nông nghiệp toàn diện, chủ yếu là tăng vụ, thâm canh mở rộng diện tích lúa 2 vụ trồng các loại cây lương thực và hoa màu được nhân dân hưởng ứng sôi nổi và thực hiện có kết quả rõ rệt. Năm 1979, tổng sản lượng lương thực đạt đến 99.500 tấn (tăng hơn năm 1977 là 30.000 tấn và tăng gấp đôi năm 1975). Chợ Mới đã tự túc về lương thực, bình quân lương thực đầu người đạt 350 kg/người/năm (sau giải phóng là 130 kg) và còn làm nghĩa vụ đối với Nhà nước gần 20.000 tấn lúa.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ IV của Đảng bộ tỉnh An Giang, huyện Chợ Mới nhanh chóng tiến hành thực hiện chính sách đổi mới kinh tế, trước hết là nông nghiệp chia làm 3 vùng, tăng vòng quay đất... Nhờ đó, năm 1988 tổng sản lượng lương thực đạt 106.092 tấn. Đến năm 1990, cơ cấu kinh tế của huyện chuyển biển theo hướng kinh tế nông nghiệp gắn với công nghiệp chế biến và dịch vụ. Thu nhập bình quân đầu người 1,64 triệu đồng (so năm 1985 1,15 triệu đồng/người/năm).

Điều đáng tự hào trong giai đoạn này, huyện Chợ Mới đã xây dựng hệ thống đê bao ngăn lũ để phát triển kinh tế. Đây là công trình thế kỷ của huyện mang lại nhiều ý nghĩa cho nhân dân về kinh tế, tạo thuận lợi trong sản xuất nông nghiệp. Công trình giúp người dân sản xuất quanh năm không phải nghỉ vào những tháng lũ về như trước, đời sống nâng lên, bộ mặt nông thôn khởi sắc.

Sau 35 năm đổi mới, kinh tế-xã hội của huyện phát triển ổn định, chuyển đổi nhiều mô hình sản xuất hiệu quả. Năm 2021, sản lượng lúa Chợ Mới đã đạt hơn 232.500 tấn. Giá trị sản xuất nông nghiệp bình quân cây hàng năm đạt 326,58 triệu đồng/ha. Chợ Mới đi đầu của tỉnh trong chuyển dịch từ lúa sang rau màu, cây ăn trái với hơn 9.064 ha. Bên cạnh sản xuất nông nghiệp, Chợ Mới có thế mạnh lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp với tổng giá trị sản xuất trong năm đạt hơn 9.667 tỷ đồng; 13/16 xã đạt chuẩn nông thôn mới; 13 làng nghề công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp truyền thống được công nhận, 5 cụm công nghiệp được quy hoạch; đã kêu gọi đầu tư nhiều dự án lớn tạo đòn bẫy cho điạ phương phát triển vượt bậc.

CM-105-nam-ptrien-2.jpg

Lịch sử Đảng bộ huyện Chợ Mới 92 năm hình thành và phát triển (2022-1930) đến nay, nhiệm vụ then chốt xuyên suốt mà Đảng bộ huyện tập trung thực hiện là xây dựng Đảng; thường xuyên chăm lo củng cố hệ thống chính trị, xây dựng chính quyền nhân dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Số lượng, chất lượng đảng viên và tổ chức cơ sở đảng được nâng lên. Đến nay, Đảng bộ huyện Chợ Mới đã có trên 7.278 đảng viên với 60 Chi, Đảng bộ cơ sở. Đảng bộ huyện Chợ Mới từ khi thành lập đến nay đã trải qua 12 kỳ Đại hội. Mỗi kỳ Đại hội là một sự kiện trọng đại trong đời sống chính trị của cán bộ, đảng viên và nhân dân huyện nhà, là mốc son đánh dấu quá trình phát triển và trưởng thành của Đảng bộ huyện cả về tổ chức, bộ máy, nhận thức chính trị, đến vai trò lãnh đạo đối với quá trình xây dựng, phát triển của huyện như ngày hôm nay. Ghi nhận những đóng góp của Đảng bộ, nhân dân huyện nhà trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, Đảng, Nhà nước đã trao tặng Chợ Mới danh hiệu danh hiệu "Anh hùng lao động trong thời kỳ đổi mới" và "Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân" cho nhân dân và Đảng bộ huyện Chợ Mới.

Chợ Mới hôm nay đang vươn tới một tầm cao mới với thế và lực mới. Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện Chợ Mới tiếp tục kế thừa và phát huy truyền thống quê hương anh hùng, phát huy hiệu quả những thành tựu và kinh nghiệm đã có; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh. Đồng thời, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết, đổi mới, sáng tạo, khơi dậy ý chí khát vọng, quyết tâm thực hiện thắng lợi các mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng huyện Chợ Mới đã đề ra, đưa Chợ Mới phát triển nhanh, bền vững.

HẠNH CHÂU

Tịnh Biên vươn mình tiến lên thị xã, thành công từ sự đồng thuận của ý Đảng - lòng Dân NewAn Giang 190 nămBài viếtNguyễn HảoTịnh Biên vươn mình tiến lên thị xã, thành công từ sự đồng thuận của ý Đảng - lòng Dân /SiteAssets/TB-vuon-len-thixa-1.jpg
18/08/2022 4:00 CHNoĐã ban hành
(TUAG)- An Giang là một tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm vùng Đồng bằng sông Cửu Long, nằm trong vùng đô thị Tây Nam với trên 3.500 km2 diện tích tự nhiên, đường biên giới dài, nhiều sông núi và nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, vị trí và điều kiện tự nhiên thuận lợi, cùng với hệ thống giao thông đường bộ và đường thủy phát triển đồng bộ đã tạo cho tỉnh nhiều tiềm năng và lợi thế kinh tế phong phú, đa dạng.
 

Trung tâm hành chính huyện Tịnh Biên (ảnh: Nguyễn Nhậm)

Tịnh Biên là 01 trong 11 đơn vị hành chính cấp huyện của tỉnh An Giang, có 14 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, bao gồm 03 thị trấn: Tịnh Biên, Nhà Bàng, Chi Lăng và 11 xã: An Phú, Thới Sơn, Núi Voi, Nhơn Hưng, Văn Giáo, Vĩnh Trung, An Cư, An Hảo, An Nông, Tân Lập và Tân Lợi.

Đây là một vùng đất có bề dày lịch sử khai phá, Nhân dân giàu lòng yêu nước và tinh thần đấu tranh cách mạng đã không ngừng đứng lên chống ngoại xâm trong suốt quá trình hàng trăm năm mở đất và giữ đất.

Trước các cuộc chiến tranh xâm lược, bất kể thời kỳ nào, Tịnh Biên luôn là một địa bàn rất quan trọng của vùng biên cương Tây Nam đất nước, là nơi đối đầu quyết liệt của quân, dân An Giang với các loại kẻ thù, từ phong kiến Xiêm cho đến bọn diệt chủng Pôn-pốt, để bảo vệ vững chắc cửa ngõ phía Tây của Đồng bằng sông Cửu Long phì nhiêu, trù phú.
 
Ngày 6/11/1978, Chủ tịch Tôn Đức Thắng tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân” cho lực lượng vũ trang nhân dân huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang vì đã lập được nhiều thành tích đặc biệt xuất sắc về chiến đấu và phục vụ chiến đấu, góp phần cùng toàn dân đưa sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, quân dân Tịnh Biên kiên cường chiến đấu, người trước ngã xuống người sau tiến lên, nối tiếp nhau để giành từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, hoàn thành mọi nhiệm vụ mà Đảng và Nhân dân giao phó.

Trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc 30 năm chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, trước bom đạn ác liệt của kẻ thù, Đảng bộ và quân dân Tịnh Biên sẵn sàng chấp nhận gian khổ, hy sinh để giữ vững vị trí đầu cầu chiến lược nối liền sự chi viện của Trung ương về miền Tây Nam bộ. Trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam chống bọn phản động Khmer đỏ, một lần nữa, vùng đất này lại đứng trên đầu sóng, ngọn gió giữ gìn từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc. Những chiến công, những hy sinh anh dũng trong công cuộc đấu tranh giữ gìn bờ cõi ấy của huyện Tịnh Biên cũng đã ghi dấu góp nên trang sử hào hùng, oai tráng trong trang sử 190 năm thành lập tỉnh An Giang (1832-2022).
 

Các chiến sĩ luôn chắc tay súng, giữ gìn an ninh biên giới (ảnh: Nguyễn Nhậm)

Kế thừa và phát huy truyền thống đấu tranh bất khuất của cha ông chống giặc ngoại xâm, bảo vệ và xây dựng quê hương, trải qua hơn 92 năm từ ngày Tịnh Biên có chi bộ Đảng đầu tiên (tháng 7-/930), đến nay Đảng bộ huyện Tịnh Biên đã trưởng thành và lớn mạnh không ngừng. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, Đảng bộ và quân dân Tịnh Biên tiếp tục vượt qua bao khó khăn, thách thức để đưa vùng đất đã bị chiến tranh tàn phá nặng nề từng bước đi lên, xứng đáng là một trong những cửa ngõ quốc tế phía Tây Nam của Tổ quốc. Trong đó có Đề án thành lập thị xã Tịnh Biên thuộc tỉnh An Giang và thành lập các phường thuộc thị xã Tịnh Biên.
 

Tịnh Biên quan tâm phát triển kinh tế vùng biên giới (ảnh: Nguyễn Nhậm)

Với đường biên giới chung với Vương quốc Campuchia dài gần 20 km, Tịnh Biên có lợi thế và tiềm năng rất lớn để phát triển kinh tế cửa khẩu, du lịch thông qua cửa khẩu quốc tế Tịnh Biên và tuyến quốc lộ 91, quốc lộ N1, đường tỉnh 948, 955A, 949… chạy ngang địa bàn. Đây là cầu nối giao thương quan trọng nối huyện Tịnh Biên nói riêng và tỉnh An Giang nói chung với các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long và các nước trong khu vực Đông Nam Á, tạo nên điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập nhanh cùng vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.

Đến nay, Tịnh Biên đã bảo đảm các điều kiện và đạt đủ các tiêu chuẩn thành lập thị xã theo quy định tại Nghị quyết số 1211/2016/UBTVQH13 ngày 25/5/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về tiêu chuẩn của đơn vị hành chính và phân loại đơn vị hành chính. Theo đó, tại Kỳ họp thứ 7 (chuyên đề) Hội đồng nhân dân tỉnh khóa X tổ chức vào ngày 20/5/2022. Hội đồng nhân dân tỉnh An Giang đã thông qua Nghị quyết tán thành chủ trương thành lập thị xã Tịnh Biên thuộc tỉnh An Giang và thành lập các phường thuộc thị xã Tịnh Biên.

Với định hướng xây dựng Tịnh Biên là đô thị trực thuộc tỉnh An Giang, là trung tâm kinh tế, văn hóa, hành chính, thương mại, du lịch, công nghiệp có vai trò thúc đẩy sự phát triển vùng phía Tây tỉnh An Giang. Thời gian qua, Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân huyện Tịnh Biên đã nỗ lực không ngừng, thay đổi bộ mặt huyện miền núi ngày càng văn minh, phát triển, nâng cao đời sống người dân, đẩy mạnh thực hiện nông thôn mới, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực, từng bước xây dựng nếp sống văn hóa, văn minh đô thị và thay đổi bộ mặt đô thị Tịnh Biên.
 

Tịnh Biên lấy nông nghiệp làm nền móng cho sự phát triển (ảnh: Nguyễn Nhậm)

Trong giai đoạn 2016 - 2020, thực hiện Nghị quyết số 01-NQ/HU ngày 14 tháng 8 năm 2015 của Huyện ủy Tịnh Biên và Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện Tịnh Biên khóa XI, nhiệm kỳ 2015 - 2020 và Quyết định số 2564/QĐ-UBND ngày 14 tháng 4 năm 2016 của Ủy ban nhân dân huyện về ban hành Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 05 năm 2016 - 2020, kết quả thực hiện có 14/14 chỉ tiêu đạt, vượt Nghị quyết.
 

Bí thư Tỉnh ủy An Giang Lê Hồng Quang cùng đoàn công tác khảo sát thực tế, sâu sát với các địa phương trong công tác phòng chống dịch bệnh COVID-19 (ảnh: Nguyễn Nhậm)

Năm 2021 là năm đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Tịnh Biên khóa XII, nhiệm kỳ 2020 - 2025. Mặc dù gặp nhiều khó khăn và chịu ảnh hưởng nặng nề của đại dịch COVID-19 nhưng dưới sự quyết tâm cao của Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân trong huyện, cũng như sự quan tâm, chỉ đạo của lãnh đạo tỉnh và các ngành, các cấp, với tinh thần quyết liệt “chống dịch như chống giặc”, thực hiện hiệu quả “mục tiêu kép” vừa phòng, chống dịch, vừa phát triển kinh tế - xã hội nên nền kinh tế của huyện vẫn tiếp tục phát triển ổn định. Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2021 đạt 12,59%; cơ cấu kinh tế dịch chuyển đúng hướng, đời sống Nhân dân được nâng cao, tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện còn 1,07%. Hệ thống các công trình hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội như: Hệ thống đường giao thông, điện lưới quốc gia, trường học, bệnh viện, nhà văn hóa,... được đầu tư xây dựng khá đồng bộ, hiện đại, đáp ứng các yêu cầu về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh và cải thiện, nâng cao đời sống Nhân dân.
 

Thường trực Tỉnh ủy An Giang làm việc với Huyện ủy Tịnh Biên

Phát biểu tại buổi làm việc với Huyện ủy Tịnh Biên ngày 12/04/2022 nhằm đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị năm 2021 và định hướng nhiệm vụ năm 2022, Bí thư Tỉnh ủy An Giang Lê Hồng Quang cũng đã ghi nhận, biểu dương, đánh giá cao kết quả đạt được của huyện Tịnh Biên trong năm 2021. Đồng thời yêu cầu thời gian tới, Ban Thường vụ Huyện ủy cần bám sát các nghị quyết chuyên đề của Tỉnh ủy, các chủ trương, kết luận của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Thường trực Tỉnh ủy; chủ động, quyết liệt trong chỉ đạo, điều hành thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm tận dụng thời cơ, lợi thế, khai thác tốt các tiềm năng sẵn có, nhất là tập trung khai thác thế mạnh kinh tế biên giới và du lịch, để tạo ra sức bật mới trên tất cả các lĩnh vực, tạo tiền đề thực hiện đạt chỉ tiêu nghị quyết của Đảng bộ huyện đã đề ra; chủ động làm tốt công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí; triển khai quán triệt và tổ chức thực hiện tốt Kế hoạch số 33 của Tỉnh ủy An Giang về xây dựng, chỉnh đốn đảng và hệ thống chính trị, kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến, tự chuyển hóa”; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên thật sự tiên phong, gương mẫu, đủ phẩm chất, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ…

Theo đó, tiếp tục phát huy thế mạnh, điều chỉnh những thiếu sót, thực hiện nghiêm túc các chỉ đạo của Thường trực Tỉnh ủy. Năm 2022, hòa chung khí thế kỷ niệm 190 thành lập tỉnh An Giang (1832-2022), Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân huyện Tịnh Biên tiếp tục ra sức thi đua lập thành tích, phấn đấu thực hiện đạt, vượt các chỉ tiêu Nghị quyết đã đề ra. Nỗ lực đẩy mạnh phục hồi, phát triển kinh tế, đảm bảo thích ứng an toàn, linh hoạt và kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19; triển khai các nhiệm vụ giải pháp thực hiện có hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia; triển khai thực hiện các giải pháp thực hiện giảm nghèo bền vững; giữ vững an ninh biên giới; tăng cường các giải pháp thực hiện Kế hoạch cải cách hành chính; tiếp tục thực hiện theo lộ trình lập Đề án thành lập thị Tịnh Biên và thành lập các phường thuộc thị xã Tịnh Biên v.v.

Trong 06 tháng đầu năm 2022, cả hệ thống chính trị và nhân dân huyện Tịnh Biên đã tập trung phấn đấu với nhiều giải pháp đồng bộ nhằm đẩy mạnh phục hồi phát triển kinh tế - xã hội sau đại dịch COVID -19, đạt được nhiều kết quả tích cực.

Là người dân ở xã Nông thôn mới nâng cao Thới Sơn (huyện Tịnh Biên), cô Nguyễn Thị Quang, người dân ấp Thới Thuận chân tình nói: “Xã Thới Sơn bây giờ thì điện, đường, trường, trạm đã khang trang hơn, chỗ y tế có bác sĩ chăm sóc, khám chữa bệnh cho Nhân dân rất là yên tâm. Còn trường học thì cao lớn hơn, đẹp lắm chứ không còn lụp xụp như ngày xưa nữa, cho nên Nhân dân xã Thới Sơn cũng rất là tâm huyết cho con em tới trường ăn học đến nơi đến chốn. Địa phương cũng không dừng lại đó, tiếp tục để vận động xóa nhà tre lá, tạm bợ, lo cuộc sống cho Nhân dân được hoàn chỉnh, thậm chí tới gạo thóc cũng không bỏ sót một ai, chăm lo cho bà con rất đầy đủ. Cho nên từ chỗ đó mà Nhân dân xã Thới Sơn rất là đồng thuận, cùng địa phương thực hiện chính sách mở rộng đường xá liên xã, liên huyện. Những chỗ ngõ ngách ngày xưa là đường là dân sinh đi bộ thì bây giờ cũng được mở lớn khang trang, khi mà người dân muốn chở vật tư nông nghiệp đến ruộng hay mua bán hàng hóa không phải gánh vác như ngày xưa. Bản thân là người dân của xã Thới Sơn, tôi rất là vui mừng phấn khởi vì Đảng bộ cùng bà con ở xã đã làm được những điều này cho quê hương ngày thêm đổi mới, giàu đẹp”.

Phát biểu tại Kỳ họp lần thứ 7 HĐND huyện Tịnh Biên khóa XII, nhiệm kỳ 2021-2026, đồng chí Phan Văn Cường - Tỉnh ủy viên, Bí thư Huyện ủy Tịnh Biên nhấn mạnh: “Mặc dù gặp khó khăn nhiều mặt, nhưng với sự quyết tâm tích cực của cả hệ thống chính trị, đến nay toàn huyện đã thực hiện đạt nhiều kết quả khả quan. Nổi bật là sự phối hợp nhịp nhàng của các ngành, các cấp với quyết tâm đẩy nhanh tiến độ thực hiện các nhiệm vụ các chỉ tiêu năm 2022 hoàn thành sớm nhất”.

“Thực hiện 14 chỉ tiêu kinh tế - xã hội năm 2022, kết quả 06 tháng đầu năm có 04 chỉ tiêu đạt và vượt Nghị quyết gồm: Số trường đạt chuẩn quốc gia, số bác sĩ trên mười ngàn dân, xây dựng nông thôn mới, tuyển quân. Các chỉ tiêu còn lại có 03 chỉ tiêu đạt 80% (chuyển đổi cây trồng, bảo hiểm y tế, phát triển thủy kế); 07 chỉ tiêu đang tiếp tục thực hiện lộ trình đến cuối năm 2022” - đồng chí Phan Văn Cường - Bí thư Huyện ủy Tịnh Biên cho biết.
 

Huyện Tịnh Biên từng bước phát triển kinh tế - xã hội, tiến lên thị xã (ảnh: Nguyễn Nhậm)

Là người dân ở xã nông thôn mới An Phú, cô Nguyễn Thị Giác phấn khởi cho biết: “Trên loa, đài của xã hàng ngày luôn phát thanh kêu gọi người dân cùng chung tay xây dựng nông thôn mới, rồi thông tin huyện Tịnh Biên sẽ tiến lên thành thị xã trong tương lai, tôi rất là mừng và phấn khởi. Người dân chúng tôi lo làm ăn, cũng không biết gì rành, chỉ biết là mình tuân thủ theo chủ trương của Đảng, không làm việc trái với pháp luật, ủng hộ các chương trình, phòng trào của địa phương, vậy là đã góp một phần cùng với huyện mình tiến lên thành thị xã. Huyện tiến lên thị xã, sau này mua bán, giao thương sẽ còn phát triển thêm rất nhiều, bà con ai cũng cảm thấy vui và ủng hộ”.

Tổng hợp sức mạnh từ sự đồng thuận của toàn Đảng, toàn dân, huyện Tịnh Biên từng bước tiến tới nâng huyện lên thị xã. Thị xã Tịnh Biên được thành lập có ý nghĩa quan trọng về mặt chính trị, thể hiện chủ trương phát triển kinh tế - xã hội, chăm lo đời sống Nhân dân, tạo sự cân đối về phát triển đô thị giữa các khu vực, vùng miền trong cả nước, thể hiện quyết tâm xây dựng thị xã Tịnh Biên giàu mạnh, văn minh, hiện đại như Nghị quyết đại hội Đảng bộ tỉnh An Giang lần thứ XI, nhiệm kỳ 2020 - 2025 và Nghị quyết đại hội Đảng bộ huyện Tịnh Biên lần thứ XII, nhiệm kỳ 2020 - 2025 đã đề ra. Đồng thời thành lập thị xã Tịnh Biên sẽ là cơ sở để tiếp tục hoàn chỉnh quy hoạch chung xây dựng đô thị Tịnh Biên đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 cũng như thu hút các dự án đầu tư để mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng đô thị và hiệu quả quản lý đô thị, đồng thời để định hướng đầu tư và phát triển đảm bảo tính bền vững, phù hợp với định hướng quy hoạch tổng thể phát triển đô thị Việt Nam đến năm 2020 và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh An Giang đến năm 2025.
Nguyễn Hảo
Tân Châu triển khai các công trình trọng điểm, lập thành tích chào mừng kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang Bài viếtVăn PhôTân Châu triển khai các công trình trọng điểm, lập thành tích chào mừng kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang /SiteAssets/TC-chaomung-190nam-congtrinh-1.jpg
08/08/2022 11:00 SANoĐã ban hành
(TUAG)- Thiết thực lập thành tích chào mừng kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang (1832-2022). Thời gian gần đây, sau khi dịch bệnh COVID-19 được kiểm soát, Đảng bộ, Chính quyền và Nhân dân thị xã Tân Châu đã và đang nêu cao quyết tâm chính trị, dồn sức tập trung mời gọi đầu tư, thực hiện nhiều công trình trọng điểm, trong đó đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông là mục tiêu quan trọng, nhằm kết nối thị xã với các tỉnh trong khu vực, đưa Tân Châu phát triển nhanh và bền vững, tiến tới trở thành thành phố trực thuộc tỉnh.


Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Lê Văn Nưng cắt băng khánh thành Nhà thi đấu thể thao TX Tân Châu

Với vị trí, tính chất là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của thị xã Tân Châu. Là đô thị trung tâm thương mại, dịch vụ, sản xuất quan trọng của Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Vĩnh Xương (Khu kinh tế vùng tỉnh An Giang - Campuchia). Là đầu mối giao thông thủy, bộ của khu vực, điểm trung chuyển hàng hóa giao thương qua biên giới Campuchia và các nước ASEAN. Hiện tại, thị xã Tân Châu đã và đang tập trung đẩy mạnh quy hoạch và mời gọi đầu tư mạnh về cơ sở hạ tầng, trong đó bố trí lại dân cư, sắp xếp hình thành các cụm công nghiệp, ngành sản xuất để thúc đẩy kinh tế; đặc biệt là quan tâm đẩy mạnh mở rộng địa giới hành chính, mở rộng không gian đô thị, thành lập mới 5 phường gồm Châu Phong, Phú Vĩnh, Long An, Tân An, Vĩnh Xương, hình thành đô thị trung tâm trên 65% là phường. Song song đó, thị xã Tân Châu quan tâm sớm triển khai dự án Khu đô thị mới Sao Mai 99,8 hec do Tập đoàn Sao Mai đầu tư; dự án san lắp kênh Vĩnh An (giai đoạn 2), hình thành các khu dân cư mới; công trình Tuyến kè đầu kênh Vĩnh An (từ bờ kè đến chùa Ông). Tiếp tục mời gọi đầu tư các dự án thuộc khu vực cửa khẩu Quốc tế Vĩnh Xương như: Khu cửa khẩu Quốc tế Vĩnh Xương (đường bộ), Khu Thương mại và vui chơi giải trí khu vực cửa khẩu Vĩnh Xương, Khu tái định cư Vĩnh Xương mở rộng.


Dự án tuyến đường liên kết vùng (ảnh đồ họa, nguồn Internet)

Đối với dự án tuyến đường liên kết vùng đoạn từ thị xã Tân Châu đến TP Châu Đốc, kết nối với tỉnh Đồng Tháp, An Giang và Kiên Giang (gọi là đường N1) có chiều dài dài 21 km, vốn đầu tư khoảng 2.100 tỷ đồng. Dự án song song tỉnh lộ 953, điểm đầu tại nút giao đường tỉnh 954 (phường Long Sơn, thị xã Tân Châu) và điểm cuối tại nút giao với quốc lộ 91 (phường Vĩnh Mỹ, TP Châu Đốc). Trên tuyến còn xây cầu Châu Đốc dài 667 mét (đã khởi công ngày 28/3/2022), thay thế phà Châu Giang và 2 cầu Mương Tri và Thần Nông. Trong tổng vốn đầu tư, chi phí bồi thường, giải tỏa hơn 400 tỷ đồng, khoảng 1.300 tỷ đồng chi phí xây dựng, còn lại dành cho phần việc khác. Công trình sử dụng cả ngân sách Trung ương và địa phương, dự kiến hoàn thành năm 2024. Dự án ngoài rút ngắn thời gian từ Châu Đốc đi thị xã Tân Châu cũng như từ miền Tây đến TP HCM còn thúc đẩy phát triển kinh tế, du lịch vùng biên giới. Hiện tại, thị xã đang phối hợp các ngành tỉnh và nhà đầu tư tập trung thực hiện công tác giải phóng mặt bằng tạo quỹ đất, phối hợp thực hiện dự án cầu Châu Đốc bắc qua sông Hậu, kè Châu Phong,…


Hàng hóa, nông sản tập kết tại tuyến đường bộ Cửa khẩu Quốc tế Vĩnh Xương, xuất khẩu sang Campuchia

Cùng với đó, thị xã Tân Châu còn quan tâm đề xuất tỉnh sớm triển khai dự án nâng cấp tỉnh lộ 952 lên Quốc lộ 80B kết nối Cửa khẩu Quốc tế Vĩnh Xương với Vương Quốc Campuchia; nâng cấp mở rộng đường Tỉnh 953; triển khai dự án đường Lương Đình Của nối dài giáp đường Nguyễn Thị Định, Nguyễn Tri Phương nhằm từng bước tạo ra một hệ thống giao thông đồng bộ. Quy hoạch xây dựng khu thương mại - dịch vụ chính cặp sông Tiền, các siêu thị bố trí trên trục trung tâm hoặc các giao lộ chính, khu xuất nhập khẩu, các dịch vụ hỗ trợ tại cửa khẩu quốc tế Vĩnh Xương. Hình thành chuỗi Khu dịch vụ - du lịch và các trung tâm chuyên ngành khai thác tiềm năng lợi thế của từng địa phương gồm có: Trung tâm giáo dục; các trung tâm y tế; trung tâm văn hoá, thể dục thể thao và câu lạc bộ thể thao sẽ làm tăng chỉ tiêu đất dân dụng. Phát triển mạng lưới chợ, siêu thị, trung tâm thương mại trên địa bàn thị xã. Đổi mới cơ chế chính sách phù hợp, thu hút nguồn nhân lực từ các vùng phụ cận, tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển đổi lao động tại chỗ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng Thương mại - Dịch vụ - Công nghiệp - Xây dựng - Nông nghiệp công nghệ cao. Đây là những mục tiêu, dự án trọng điểm, sau khi hoàn thành sẽ là đòn bẫy để thị xã Tân Châu chuyển mình lên thành phố trực thuộc, là một trong ba trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội phía bắc của tỉnh An Giang.  


Đẩy mạnh thi công các công trình giao thông trọng điểm

Để thị xã Tân Châu sớm trở thành thành phố trực thuộc tỉnh An Giang, hiện tại, tỉnh và thị xã cũng đã quy hoạch từng giai đoạn để thực hiện. Cụ thể, giai đoạn 2021 - 2022, tỉnh điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thị xã đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Đồng thời, tỉnh tiến hành điều chỉnh nhiều nội dung khác: Quy hoạch chung thị xã đến năm 2040, quy chế quản lý quy hoạch - kiến trúc đô thị thị xã, chương trình phát triển đô thị thị xã đến năm 2040. Giai đoạn 2022 - 2023, tỉnh lập nhiệm vụ quy hoạch phân khu cho các khu vực đô thị hóa cao có khả năng trở thành phường trong tương lai. Giai đoạn 2023 - 2025, tỉnh lập các đồ án quy hoạch phân khu cho các khu vực đô thị hóa cao có khả năng trở thành phường (bao gồm 5 xã: Tân An, Long An, Phú Vĩnh, Vĩnh Xương, Châu Phong). Giai đoạn 2024 - 2025, tỉnh lập đề án đề nghị công nhận thị xã Tân Châu là đô thị loại III (phạm vi nội thị mở rộng để lên thành phố). Đồng thời, An Giang triển khai đầu tư xây dựng hạ tầng các phường dự kiến và lập đề án đề nghị thành lập thành phố Tân Châu và các phường trực thuộc thành phố (khi đủ điều kiện) trong giai đoạn này.

Ngoài triển khai Dự án xây dựng tuyến đường liên kết vùng N1, Quốc lộ 80B, xây dựng tuyến đường bộ qua cửa khẩu Vĩnh Xương, đường nối từ đường tỉnh 952 đến bến tàu, giao thông nội bộ và bãi xe trong khu thương mại, dịch vụ Cửa khẩu Quốc tế Vĩnh Xương và cầu Châu Đốc - Tân Châu, san lấp kênh Vĩnh An giai đoạn 2,… tỉnh và thị xã sẽ tiếp tục mời gọi đầu tư xây dựng cầu Tân Châu - Hồng Ngự, cảng Tân Châu, bến tàu Vĩnh Xương trên sông Tiền… Đây là những dự án trọng điểm, sẽ tiếp tục góp phần tạo ra một mạng lưới giao thông thông thoáng để thị xã Tân Châu tiếp tục thu hút đầu tư, đưa thị xã phát triển, trở thành vùng kinh tế động lực phía Bắc của tỉnh, lập thành tích chào mừng kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang (1832-2022).

Văn Phô
Thông cáo báo chí về kết quả Hội thảo khoa học “An Giang 190 năm hình thành và phát triển”An Giang 190 nămTinAdminThông cáo báo chí về kết quả Hội thảo khoa học “An Giang 190 năm hình thành và phát triển”/SiteAssets/Hoithao190nam-AG-2.JPG
03/08/2022 3:35 CHNoĐã ban hành

(TUAG)- Ngày 29/7/2022, Tỉnh ủy An Giang long trọng tổ chức Hội thảo khoa học “An Giang 190 năm hình thành và phát triển (1832 - 2022)” tại Hội trường Tỉnh với sự tham dự gần 300 đại biểu là các đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng và nguyên Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đại biểu Trung ương, đại biểu các tỉnh, thành khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, lãnh đạo và nguyên lãnh đạo tỉnh qua các thời kỳ, đại diện lãnh đạo các sở, ban, ngành, địa phương. Sau hơn một buổi làm việc, Hội thảo đã thành công tốt đẹp, Ban Tổ chức Hội thảo phát hành Thông cáo báo chí về kết quả Hội thảo khoa học “An Giang 190 năm hình thành và phát triển”.

TCBC-hoithao-190-a.jpg

TCBC-hoithao-190-b.jpg

Hội thảo khoa học cấp tỉnh “An Giang 190 năm hình thành và phát triển (1832 - 2022)”TinNgọc HânHội thảo khoa học cấp tỉnh “An Giang 190 năm hình thành và phát triển (1832 - 2022)”/SiteAssets/Hoithao190nam-AG-10.jpg
29/07/2022 11:35 SANoĐã ban hành

(TUAG)- Sáng ngày 29/7, Tỉnh ủy An Giang long trọng tổ chức Hội thảo khoa học “An Giang 190 năm hình thành và phát triển (1832 - 2022)”. PGS. TS Đoàn Minh Huấn, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản; TS Lê Hồng Quang, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy An Giang; đồng chí Lê Văn Nưng, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh; TS Nguyễn Thanh Bình, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh; đồng chí Trần Thị Thanh Hương, Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh chủ trì hội thảo. Cùng với sự tham dự gần 300 đại biểu trong và ngoài tỉnh tham gia hội thảo.

Hoithao190nam-AG-10.jpg

Hoithao190nam-AG-11.jpg

Các đại biểu chủ trì hội thảo

Hoithao190nam-AG-9.jpg

ECK_0008(1).jpg

Các đại biểu tham dự hội thảo

Hoithao190nam-AG-6a.jpg

TS Lê Hồng Quang - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy An Giang phát biểu chào mừng

Hoithao190nam-AG-3.JPG

TS Nguyễn Thanh Bình - Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh An Giang phát biểu đề dẫn hội thảo

Hoithao190nam-AG-12.jpg

Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh An Giang Trần Thị Thanh Hương điều hành phần trình bày tham luận

Hoithao190nam-AG-7.JPG

Nguyên Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội khóa XIV Nguyễn Văn Giàu trình bày tham luận tại hội thảo

Hoithao190nam-AG-8.JPG

PGS, TS Đoàn Minh Huấn Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản tham luận tại hội thảo

Hoithao190nam-AG-2.JPG

TS Lê Hồng Quang - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy phát biểu đóng góp thêm các cứ liệu tại hội thảo

ECK_0068(1).jpg

Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh An Giang Lê Văn Nưng phát biểu tổng kết hội thảo

Phát biểu chào mừng Hội thảo, đồng chí Lê Hồng Quang, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy An Giang thay mặt lãnh đạo tỉnh, gửi lời chào trân trọng, lời cảm ơn chân thành và lời chúc tốt đẹp nhất đến quý vị đại biểu, các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo tỉnh, các Giáo sư, Phó giáo sư, nhà khoa học, nhà quản lý, các cơ quan báo chí đã dành tình cảm và sự quan tâm đến dự Hội thảo.

Đồng chí khẳng định Hội thảo khoa học chủ đề “An Giang - 190 năm hình thành và phát triển (1832 - 2022)” là một trong những hoạt động có ý nghĩa sâu sắc tiến tới kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh. Hội thảo nhằm làm rõ luận cứ khoa học và ý nghĩa lịch sử của quá trình hình thành, phát triển tỉnh An Giang, nêu bật những giá trị lịch sử, văn hóa, truyền thống tốt đẹp của Nhân dân An Giang, cũng là dịp thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” đối với các thế hệ cha ông; đồng thời, hun đúc thế hệ hôm nay và mai sau có trách nhiệm ghi tiếp những trang sử vàng chói lọi của dân tộc; góp phần xây dựng quê hương An Giang ngày càng giàu đẹp, văn minh.

Đồng chí tin tưởng với tinh thần trách nhiệm, trí tuệ của các đại biểu, sẽ góp phần làm sáng tỏ những chủ đề do Ban Tổ chức đặt ra, nhất là tập trung làm rõ luận cứ khoa học và thực tiễn liên quan đến ngày thành lập tỉnh An Giang.   

Sau hơn một tháng triển khai thực hiện Kế hoạch hội thảo, Ban Tổ chức Hội thảo nhận được 167 bài tham luận của các chuyên gia, nhà khoa học, các đại biểu trong và ngoài tỉnh, xoay quanh các nội dung chủ yếu như: (1) Những sử liệu về quá trình hình thành và phát triển của tỉnh; quá trình di dân, lập ấp ở vùng đất An Giang; chính sách khai hoang, mở rộng các dinh điền, phát triển kinh tế - xã hội thời các chúa Nguyễn trên vùng đất An Giang; (2) công cuộc chống ngoại xâm, bảo vệ quê hương đất nước của Nhân dân An Giang; (3) những danh nhân, nhân vật lịch sử, địa danh gắn liền với vùng đất An Giang; (4) vai trò lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh An Giang trong 92 năm hình thành và phát triển, những thành tựu và bài học kinh nghiệm trong công tác lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh về phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh và đối ngoại, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh; (5) Thành tựu to lớn của tỉnh qua 190 năm thành lập và phát triển; thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế - xã hội tỉnh An Giang hiện nay; (6) Tự hào về lịch sử, truyền thống, con người, quê hương An Giang. Tuy nhiên, để phù hợp với mục đích và yêu cầu của Hội thảo cũng như do dung lượng kỷ yếu có hạn, Ban Tổ chức Hội thảo đã chọn 96/167 bài để phục vụ Hội thảo.

BC-tac-nghiep-tai-Hoithao-1.jpg

BC-tac-nghiep-tai-Hoithao-3.jpg

BC-tac-nghiep-tai-Hoithao-2.jpg

Phóng viên báo chí tác nghiệp tại hội thảo.

Qua một buổi làm việc, với sự tập trung trí tuệ và tinh thần trách nhiệm cao, các nhà khoa học, chuyên gia, đại biểu trong và ngoài tỉnh đã phát biểu, trao đổi và làm sâu sắc thêm các chủ đề và nội dung chủ yếu: Những đột phá, sáng tạo của tỉnh An Giang trong phát triển kinh tế - xã hội; Những vấn đề đặt ra trong phát triển kinh tế xã hội An Giang hiện nay; Việc thành lập tỉnh An Giang năm 1832 qua sử liệu quốc sử quán triều Nguyễn; Vị thế An Giang trong tiến trình Nam Bộ hội nhập khu vực và thế giới - trước năm 1858; Khẩn hoang lập ấp ở An Giang thời kỳ các chúa Nguyễn và triều Nguyễn (1757 - 1867); Công cuộc chống ngoại xâm, bảo vệ quê hương đất nước của quân dân An Giang; An Giang đổi mới, hội nhập và phát triển nhìn từ thành tựu cải cách thủ tục hành chính; An Giang phát huy các thành tựu, khát vọng và quyết tâm mới mang tính đột phá; An Giang - Vùng đất địa linh nhân kiệt;…

Phát biểu tổng kết Hội thảo, đồng chí Lê Văn Nưng, Phó Bí thư thường trực Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh nhấn mạnh: Các tham luận đã thể hiện phương pháp tiếp cận đa chiều, trên quan điểm hệ thống, toàn diện, lịch sử cụ thể, quan điểm thực tiễn, đổi mới và phát triển. Đồng thời, có ý nghĩa tư tưởng chính trị sâu sắc, có hàm lượng khoa học cao, phản ánh thực tiễn đa dạng, phong phú trong chặng đường 190 năm hình thành và phát triển của tỉnh.

Đồng chí đề nghị, Ban Tổ chức Hội thảo ghi nhận, tiếp thu đầy đủ, nghiêm túc nội dung những bài viết đã gửi đến hội thảo, nhất là những ý kiến phát biểu tham luận, thảo luận tại Hội thảo để tham mưu, đề xuất với Ban Thường vụ Tỉnh ủy về những chủ trương, giải pháp, để xây dựng và phát triển quê hương An Giang xứng tầm khu vực và cả nước. Đó là cách thiết thực nhất để tiếp tục phát huy truyền thống, thể hiện lòng thành kính, tri ân các bậc tiền nhân đã có công khai mở, vun bồi và bảo vệ quê hương…/.

NGỌC HÂN

Hội thảo khoa học “Lịch sử hành chính 105 năm huyện Chợ Mới (1917-2022)”An Giang 190 nămTinHạnh ChâuHội thảo khoa học “Lịch sử hành chính 105 năm huyện Chợ Mới (1917-2022)”/SiteAssets/CM-hoi-thao-LSHC-1.jpg
28/07/2022 2:00 CHNoĐã ban hành

(TUAG)- Sáng 28/7, Huyện ủy Chợ Mới phối hợp Hội Khoa học lịch sử tỉnh An Giang tổ chức Hội thảo khoa học “Lịch sử hành chính 105 năm huyện Chợ Mới (1917 - 2022)”, chào mừng kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang (1832 - 2022). Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy Chợ Mới Hà Minh Trang chủ trì.    

 CM-hoi-thao-LSHC-1.jpg

Quang cảnh hội thảo

CM-hoi-thao-LSHC-2.jpg 

Đoàn chủ tọa hội thảo

Qua thời gian phát động, Ban Tổ chức Hội thảo đã nhận được 63 bài tham luận của 56 tác giả và đồng tác giả là nhà nghiên cứu, nhà khoa học, tổ chức, cơ quan, đơn vị trong và ngoài tỉnh tập trung viết về các chủ đề: Quá trình, thời gian thành lập, tổ chức quản lý đơn vị hành chính Chợ Mời thời kỳ Pháp thuộc; địa chỉ, địa giới một số làng, xã trên địa bàn huyện; lịch sử vùng đất, con người, kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng-an ninh từ truyền thống cho đến hiện đại. Ngoài các chủ đề về thời gian, sự kiện thành lập đơn vị hành chính Chợ Mới; những thành tựu, thành tích tuyên dương 2 danh hiệu anh hùng của huyện Chợ Mới, còn có những tham luận nghiên cứu về dân cư, dấu ấn lịch sử - văn hóa đặc sắc của huyện Chợ Mới. Một số tham luận đề cập tới vấn đề phát huy những tiềm năng, thế mạnh vùng đất và con người Chợ Mới trong phát triển kinh tế - xã hội, trong đó có những kiến giải, khuyến nghị về định hướng phát triển du lịch cù lao Giêng.

 CM-hoi-thao-LSHC-4.jpg

Tại hội thảo, các đại biểu tập trung trao đổi, làm rõ: Bằng những cứ liệu khoa học, làm rõ thời gian, sự kiện thành lập đơn vị hành chính Chợ Mới thời Pháp thuộc; lý giải, làm sáng tỏ sự tồn tại của đơn vị hành chính Chợ Mới với tư cách một đơn vị hành chính cấp quận (huyện), có đầy đủ cơ sở pháp lý trong hệ thống quản lý hành chính của chính quyền đương thời cho đến khi chính thức được chuyển thành quận vào năm 1938 theo Nghị định số 1987 của Toàn quyền Đông Dương. Đồng thời chỉ ra những sai sót, nhầm lẫn trong việc đồng nhất hai thực thể, hai cách gọi: Khu vực hành chính Chợ Mới và quận Chợ Mới giai đoạn trước năm 1938... Từ những nguồn tư liệu đã sưu tầm và phát hiện được, hướng tới nhận định, đánh giá, lý giải những nét đặc trưng, đặc điểm nổi bật của Chợ Mới tác động đến quá trình phát triển. Thông qua hội thảo, các nhà nghiên cứu, nhà khoa học và các đại biểu đặt ra những vấn đề cần đề xuất, tư vấn, kiến nghị với các cấp lãnh đạo quan tâm chỉ đạo, đầu tư để tạo đà xây dựng quê hương Chợ Mới phát triển xứng tầm với vị thế vốn có và phù hợp với đặc điểm của Chợ Mới hiện nay.

 CM-hoi-thao-LSHC-3.jpg

Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy Chợ Mới Hà Minh Trang phát biểu khai mạc hội thảo

Phát biểu tại hội thảo, Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy Chợ Mới Hà Minh Trang cho biết: Cách đây 105 năm, Chợ Mới- đơn vị hành chính cấp quận trực thuộc tỉnh Long Xuyên (nay là An Giang) đã được thành lập. Với sứ mệnh được lịch sử trao cho, Chợ Mới luôn giữ vị trí quan trọng về chính trị, quân sự và kinh tế trong sự nghiệp đấu tranh, xây dựng và phát triển quê hương An Giang. Đây là vùng đất “địa linh nhân kiệt” phát tiết nhiều giá trị truyền thống lịch sử, văn hóa, anh hùng cách mạng và cũng là quê hương của những cán bộ cách mạng tiền bối, nhân sĩ, trí thức nổi tiếng trong tỉnh và cả nước. Với chặng đường 320 năm hình thành và phát triển, 105 năm thiết lập đơn vị hành chính cấp quận đến nay Chợ Mới có những đóng góp quan trọng cho tiến trình phát triển của tỉnh trên các lĩnh vực. Hội thảo nhằm tiếp tục khẳng định vị trí vai, trò và những đóng góp to lớn của vùng đất và con người Chợ Mới trong tiến trình phát triển tỉnh An Giang. Đồng thời tôn vinh những giá trị lịch sử, văn hóa truyền thống yêu nước và cách mạng của đất và người Chợ Mới.

 CM-hoi-thao-LSHC-5.jpg

Ông Trần Văn Đông, Tổng thư lý Hội Khoa học lịch sử tỉnh An Giang tổng kết hội thảo

Qua hội thảo, các tư liệu luận cứ khoa học được thảo luận phân tích làm sáng tỏ thêm về lịch sử hình thành đơn vị hành chính Chợ Mới; vai trò, giá trị của vùng đất và con người Chợ Mới trong lịch sử hình thành và phát triển, từ truyền thống đến hiện đại; đồng thời khuyến nghị những định hướng và giải pháp góp phần đưa Chợ Mới phát triển nhanh và vền vững trong bối cảnh hội nhập. Đồn thời, làm sáng tỏ, thống nhất, đồng thuận về thời gian thành lập huyện Chợ Mới với tư cách của một đơn vị hành chính cấp quận (huyện) vào đầu thế kỷ XX, làm rõ thêm các vấn đề, sự kiện, nhân vật lịch sử gắn liền với vùng đất Chợ Mới qua các giai đoạn lịch sử.

Hội thảo là diễn đàn để các đại biểu trao đổi, thảo luận một cách khoa học, thẳng thắn, làm sáng tỏ thêm những vấn đề còn tồn nghi và là dịp để “ôn cố tri tân”, học tập và phát huy di sản văn hóa của tiền nhân, thế hệ đi trước đã để lại; qua đó rút ra những bài học bổ ích cho hiện tại và tương lai.

 HẠNH CHÂU

Vùng đất An Giang trước năm 1832Bài viếtTTCTTTVùng đất An Giang trước năm 1832https://www.angiang.dcs.vn/SiteAssets/AnGiang190nam-bando.jpg
26/07/2022 9:40 SANoĐã ban hành

(TUAG)- Người Việt di cư vào vùng đất Nam Bộ từ đầu thế kỷ XVII sau khi chúa Nguyễn Hoàng vào phương Nam và lập phủ Phú Yên năm 1611. Nông dân và ngư dân vùng Thanh Nghệ, Thuận Quảng vào Mô Xoài (Bà Rịa) làm ăn. Sau cuộc hôn nhân của công nữ Ngọc Vạn và vua Chey Chetta II của Vương quốc Chân Lạp, vào năm 1620, làn sóng di dân hợp pháp diễn ra mạnh mẽ hơn. Những di dân Việt đã có mặt trên nhiều vùng đất thuộc miền Đông Nam Bộ như: Biên Hòa, Đồng Nai, Sài Gòn.

Năm 1679, Tổng binh Long Môn Dương Ngạn Địch và Tổng binh Cao Lôi Liêm Trần Thượng Xuyên (dư đảng của Trịnh Thành Công lãnh đạo phong trào “phản Thanh phục Minh” ở Đài Loan thất bại) đem binh lính và quyến thuộc hơn 3000 người và 50 chiếc thuyền ghé vào Đà Nẵng xin hàng. Chúa Nguyễn Phúc Tần cho Trần Thượng Xuyên vào Bàn Lân xứ Đồng Nai (nay là Biên Hòa), Dương Ngạn Địch vào Mỹ Tho, vùng đất Nam Bộ có thêm cộng đồng người Hoa.

Năm 1692 vua nước Chiêm là Bà Tranh đem quân đắp lũy, cướp giết nhân dân phủ Diên Ninh (dinh Bình Khang). Chúa Nguyễn Phúc Chu sai Cai cơ Nguyễn Hữu Cảnh làm Thống binh đi đánh dẹp. Năm 1693, Nguyễn Hữu Cảnh bắt được vua Chiêm. Chúa Nguyễn bèn sáp nhập nước Chiêm vào xứ Đàng Trong (Đại Việt) và đặt làm một trấn, tên là Thuận Thành. Trước sức ép của công cuộc Nam tiến của người Việt và sự kỳ thị tôn giáo trong cộng đồng người Chiêm, một bộ phận khá lớn người Chiêm theo đạo Islam đã di cư sang Vương quốc Chân Lạp.

Sau khi thôn tính hết nước Chiêm, chúa Nguyễn quan tâm đến vùng đất Nam Bộ, lúc đó thuộc Vương quốc Chân Lạp. Năm 1698, chúa Nguyễn Phúc Chu sai Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược đất Đồng Nai, lập huyện Phước Long với dinh Trấn Biên và huyện Tân Bình với dinh Phiên Trấn, đặt phủ Gia Định. Trên vùng đất đai nghìn dặm từ Mô Xoài - Bà Rịa (tiếp giáp với phủ Bình Thuận) tới bờ sông Tiền chỉ có hơn bốn vạn hộ dân người Việt và một ít dân tộc thiểu số bản địa (Stiêng, Chơro, cả người Khmer). Dân cư ở vùng đất giữa sông Tiền và sông Hậu còn ít hơn. Phần lớn là người Khmer, một ít là cư dân vùng Ngũ Quảng, theo đường biển vào (theo các cửa Ba Lai, cửa Đại… của sông Tiền), sống bằng nghề trồng lúa và chài lưới.

Đầu thế kỷ XVIII, sau khi Mạc Cửu dâng đất Hà Tiên, xin thần phục chúa Nguyễn và được phong làm Tổng binh trấn Hà Tiên, một bộ phận lưu dân Việt đã tìm đến sinh cơ lập nghiệp ở vùng đất mới cùng với người Hoa (theo chân Mạc Cửu), người Khmer (từ Lục Chân Lạp theo sông Mê Kông xuống). Năm 1757, chúa Nguyễn đưa Nặc Tôn lên ngôi vua ở Vương quốc Chân Lạp, Nặc Tôn cắt đất Tầm Phong Long cho chúa Nguyễn (thông qua Mạc Thiên Tứ) để đền ơn cứu giúp trong lúc hoạn nạn và giành lại ngôi vua. Chúa Nguyễn cử Nguyễn Cư Trinh và Trương Phúc Du tiếp nhận và cho lệ vào dinh Long Hồ, rồi đặt 3 đạo: Đạo Châu Đốc, đạo Tân Châu (ở cù lao Giêng - huyện Chợ Mới ngày nay) và đạo Đông Khẩu (ở Sa Đéc) để bảo vệ vùng biên giới. Năm 1780, Chúa Nguyễn Ánh cải tên dinh Long Hồ thành dinh Vĩnh Trấn. Sau khi thống nhất đất nước, năm 1808, vua Gia Long lập Gia Định thành trên vùng đất Nam Bộ, và chia thành ngũ trấn: Biên Hòa trấn, Phiên An trấn (sau đổi thành Gia Định trấn), Định Tường trấn, Vĩnh Thanh trấn và Hà Tiên trấn. Tháng 10 năm Minh Mạng thứ 13 (tháng 11/1832 dương lịch), sau khi Tổng trấn Gia Định thành Lê Văn Duyệt mất (tháng 7 năm Minh Mạng thứ 13), Minh Mạng hoàn thành công cuộc cải cách hành chính lớn nhất triều Nguyễn, chia ngũ trấn thành lục tỉnh, riêng trấn Vĩnh Thanh chia làm 2 tỉnh (Vĩnh Long, An Giang), bốn trấn còn lại giữ nguyên tên gọi, chỉ đổi trấn gọi là tỉnh. Cả thảy có sáu tỉnh, tên gọi chung là Nam kỳ lục tỉnh, gồm 3 tỉnh miền Đông (Biên Hòa, Gia Định, Định Tường) và 3 tỉnh miền Tây (Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên).

Như vậy, tỉnh An Giang (thời Nam kỳ lục tỉnh) là vùng đất cuối cùng vào bản đồ Đại Việt (Xứ Đàng Trong), vào năm Đinh sửu (1757). Trước đó vùng đất này tên gọi là Tầm Phong Long thuộc Thủy Chân Lạp của Vương quốc Chân Lạp. Theo tập quán sinh sống và cư trú của người Khmer, họ không ở, gần như bỏ hoang. Theo Chu Đạt Quan mô tả trong sách “Chân Lạp phong thổ ký” (vào thế kỷ XIII), ông đến vùng đất Nam Bộ ngày nay chỉ thấy “toàn là cây mây cao vút, cổ thụ, cát vàng, lau sậy trắng” và “xa hơn tầm mắt chỉ toàn là cỏ kê đầy rẫy, hàng trăm, hành ngàn trâu rừng tụ họp từng bầy”. Ba bốn thế kỷ sau, cảnh quan miền đất này cũng không thay đổi, vẫn hoang vu, rậm rạp, sình lầy, vắng bóng con người, là nơi trú ngụ của côn trùng, thú dữ, rắn rết, cá sấu... Đến nữa sau thế kỷ XVIII, Lê Quí Đôn ghi nhận trong sách “Phủ Biên tạp lục”: “Ở phủ Gia Định, đất Đồng Nai từ các cửa biển Cần Giờ, Lôi Lạp, Cửa Đại, Cửa Tiểu trở vào toàn là rừng rậm hàng ngàn dậm”. Miền hoang địa gần như vô chủ ấy thực sự được đánh thức khi lưu dân người Việt đặt chân đến cư trú và khai mở.

Từ sau năm 1757, làn sóng di dân hợp pháp vào vùng đất mới diễn ra mạnh mẽ hơn. Những người đầu tiên vào khai phá phần lớn là dân nghèo vùng Ngũ Quảng, Bình Định - Phú Yên, không chịu nổi ách áp bức của chế độ đương thời. Họ lần lượt tiến vào vùng đất mới bằng đường biển với phương tiện chủ yếu là thuyền buồm và ghe bầu. Có một ít cư dân người Việt, người Hoa từ Biên Hòa, Gia Định, Mỹ Tho chuyển cư đến vùng đất mới. Đầu tiên, họ cư ngụ ở vùng đất nay là huyện Chợ Mới, xứ Sa Đéc (và tự nhận là dân “hai huyện”) rồi đến vùng Châu Đốc, Tân Châu, sau đó mới hình thành các làng xã bờ Tây sông Hậu vào đầu thế kỷ XIX. Lúc đó ở Châu Đốc, Tân Châu dân cư cũng còn rất thưa thớt, cho nên vua Gia Long gọi là Châu Đốc tân cương. Sau khi hoàn thành đào kinh Thoại Hà và kinh Vĩnh Tế, Nguyễn Văn Thoại mộ dân, lập làng Thoại Sơn ở bờ kinh Thoại Hà, cạnh Núi Sập năm 1822; lập 5 làng cặp bờ kinh Vĩnh Tế (Vĩnh Nguơn, Vĩnh Tế, Vĩnh Lạc, Vĩnh Gia, Vĩnh Điều), hình thành phủ Tịnh Biên vào giữa thế kỷ XIX. Ở Đông Xuyên (nay là thành phố Long Xuyên), năm 1789, chúa Nguyễn Ánh cho lập thủ Đông Xuyên một thời gian rồi bỏ, việc thành lập 2 thôn Bình Đức và Mỹ Phước cũng diễn ra vào đầu thế kỷ XIX, đồng thời với các thôn lập ở bờ Tây sông Hậu. Khi thành lập tỉnh An Giang, sách Đại Nam nhất thống chí ghi nhận số đinh tỉnh An Giang có 25.645 người.

BBTNăm 1679, Tổng binh Long Môn Dương Ngạn Địch và Tổng binh Cao Lôi Liêm Trần Thượng Xuyên (dư đảng của Trịnh Thành Công lãnh đạo phong trào “phản Thanh phục Minh” ở Đài Loan thất bại) đem binh lính và quyến thuộc hơn 3000 người và 50 chiếc thuyền ghé vào Đà Nẵng xin hàng. Chúa Nguyễn Phúc Tần cho Trần Thượng Xuyên vào Bàn Lân xứ Đồng Nai (nay là Biên Hòa), Dương Ngạn Địch vào Mỹ Tho, vùng đất Nam Bộ có thêm cộng đồng người Hoa.

Năm 1692 vua nước Chiêm là Bà Tranh đem quân đắp lũy, cướp giết nhân dân phủ Diên Ninh (dinh Bình Khang). Chúa Nguyễn Phúc Chu sai Cai cơ Nguyễn Hữu Cảnh làm Thống binh đi đánh dẹp. Năm 1693, Nguyễn Hữu Cảnh bắt được vua Chiêm. Chúa Nguyễn bèn sáp nhập nước Chiêm vào xứ Đàng Trong (Đại Việt) và đặt làm một trấn, tên là Thuận Thành. Trước sức ép của công cuộc Nam tiến của người Việt và sự kỳ thị tôn giáo trong cộng đồng người Chiêm, một bộ phận khá lớn người Chiêm theo đạo Islam đã di cư sang Vương quốc Chân Lạp.

Sau khi thôn tính hết nước Chiêm, chúa Nguyễn quan tâm đến vùng đất Nam Bộ, lúc đó thuộc Vương quốc Chân Lạp. Năm 1698, chúa Nguyễn Phúc Chu sai Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược đất Đồng Nai, lập huyện Phước Long với dinh Trấn Biên và huyện Tân Bình với dinh Phiên Trấn, đặt phủ Gia Định. Trên vùng đất đai nghìn dặm từ Mô Xoài - Bà Rịa (tiếp giáp với phủ Bình Thuận) tới bờ sông Tiền chỉ có hơn bốn vạn hộ dân người Việt và một ít dân tộc thiểu số bản địa (Stiêng, Chơro, cả người Khmer). Dân cư ở vùng đất giữa sông Tiền và sông Hậu còn ít hơn. Phần lớn là người Khmer, một ít là cư dân vùng Ngũ Quảng, theo đường biển vào (theo các cửa Ba Lai, cửa Đại… của sông Tiền), sống bằng nghề trồng lúa và chài lưới.

Đầu thế kỷ XVIII, sau khi Mạc Cửu dâng đất Hà Tiên, xin thần phục chúa Nguyễn và được phong làm Tổng binh trấn Hà Tiên, một bộ phận lưu dân Việt đã tìm đến sinh cơ lập nghiệp ở vùng đất mới cùng với người Hoa (theo chân Mạc Cửu), người Khmer (từ Lục Chân Lạp theo sông Mê Kông xuống). Năm 1757, chúa Nguyễn đưa Nặc Tôn lên ngôi vua ở Vương quốc Chân Lạp, Nặc Tôn cắt đất Tầm Phong Long cho chúa Nguyễn (thông qua Mạc Thiên Tứ) để đền ơn cứu giúp trong lúc hoạn nạn và giành lại ngôi vua. Chúa Nguyễn cử Nguyễn Cư Trinh và Trương Phúc Du tiếp nhận và cho lệ vào dinh Long Hồ, rồi đặt 3 đạo: Đạo Châu Đốc, đạo Tân Châu (ở cù lao Giêng - huyện Chợ Mới ngày nay) và đạo Đông Khẩu (ở Sa Đéc) để bảo vệ vùng biên giới. Năm 1780, Chúa Nguyễn Ánh cải tên dinh Long Hồ thành dinh Vĩnh Trấn. Sau khi thống nhất đất nước, năm 1808, vua Gia Long lập Gia Định thành trên vùng đất Nam Bộ, và chia thành ngũ trấn: Biên Hòa trấn, Phiên An trấn (sau đổi thành Gia Định trấn), Định Tường trấn, Vĩnh Thanh trấn và Hà Tiên trấn. Tháng 10 năm Minh Mạng thứ 13 (tháng 11/1832 dương lịch), sau khi Tổng trấn Gia Định thành Lê Văn Duyệt mất (tháng 7 năm Minh Mạng thứ 13), Minh Mạng hoàn thành công cuộc cải cách hành chính lớn nhất triều Nguyễn, chia ngũ trấn thành lục tỉnh, riêng trấn Vĩnh Thanh chia làm 2 tỉnh (Vĩnh Long, An Giang), bốn trấn còn lại giữ nguyên tên gọi, chỉ đổi trấn gọi là tỉnh. Cả thảy có sáu tỉnh, tên gọi chung là Nam kỳ lục tỉnh, gồm 3 tỉnh miền Đông (Biên Hòa, Gia Định, Định Tường) và 3 tỉnh miền Tây (Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên).

Như vậy, tỉnh An Giang (thời Nam kỳ lục tỉnh) là vùng đất cuối cùng vào bản đồ Đại Việt (Xứ Đàng Trong), vào năm Đinh sửu (1757). Trước đó vùng đất này tên gọi là Tầm Phong Long thuộc Thủy Chân Lạp của Vương quốc Chân Lạp. Theo tập quán sinh sống và cư trú của người Khmer, họ không ở, gần như bỏ hoang. Theo Chu Đạt Quan mô tả trong sách “Chân Lạp phong thổ ký” (vào thế kỷ XIII), ông đến vùng đất Nam Bộ ngày nay chỉ thấy “toàn là cây mây cao vút, cổ thụ, cát vàng, lau sậy trắng” và “xa hơn tầm mắt chỉ toàn là cỏ kê đầy rẫy, hàng trăm, hành ngàn trâu rừng tụ họp từng bầy”. Ba bốn thế kỷ sau, cảnh quan miền đất này cũng không thay đổi, vẫn hoang vu, rậm rạp, sình lầy, vắng bóng con người, là nơi trú ngụ của côn trùng, thú dữ, rắn rết, cá sấu... Đến nữa sau thế kỷ XVIII, Lê Quí Đôn ghi nhận trong sách “Phủ Biên tạp lục”: “Ở phủ Gia Định, đất Đồng Nai từ các cửa biển Cần Giờ, Lôi Lạp, Cửa Đại, Cửa Tiểu trở vào toàn là rừng rậm hàng ngàn dậm”. Miền hoang địa gần như vô chủ ấy thực sự được đánh thức khi lưu dân người Việt đặt chân đến cư trú và khai mở.

Từ sau năm 1757, làn sóng di dân hợp pháp vào vùng đất mới diễn ra mạnh mẽ hơn. Những người đầu tiên vào khai phá phần lớn là dân nghèo vùng Ngũ Quảng, Bình Định - Phú Yên, không chịu nổi ách áp bức của chế độ đương thời. Họ lần lượt tiến vào vùng đất mới bằng đường biển với phương tiện chủ yếu là thuyền buồm và ghe bầu. Có một ít cư dân người Việt, người Hoa từ Biên Hòa, Gia Định, Mỹ Tho chuyển cư đến vùng đất mới. Đầu tiên, họ cư ngụ ở vùng đất nay là huyện Chợ Mới, xứ Sa Đéc (và tự nhận là dân “hai huyện”) rồi đến vùng Châu Đốc, Tân Châu, sau đó mới hình thành các làng xã bờ Tây sông Hậu vào đầu thế kỷ XIX. Lúc đó ở Châu Đốc, Tân Châu dân cư cũng còn rất thưa thớt, cho nên vua Gia Long gọi là Châu Đốc tân cương. Sau khi hoàn thành đào kinh Thoại Hà và kinh Vĩnh Tế, Nguyễn Văn Thoại mộ dân, lập làng Thoại Sơn ở bờ kinh Thoại Hà, cạnh Núi Sập năm 1822; lập 5 làng cặp bờ kinh Vĩnh Tế (Vĩnh Nguơn, Vĩnh Tế, Vĩnh Lạc, Vĩnh Gia, Vĩnh Điều), hình thành phủ Tịnh Biên vào giữa thế kỷ XIX. Ở Đông Xuyên (nay là thành phố Long Xuyên), năm 1789, chúa Nguyễn Ánh cho lập thủ Đông Xuyên một thời gian rồi bỏ, việc thành lập 2 thôn Bình Đức và Mỹ Phước cũng diễn ra vào đầu thế kỷ XIX, đồng thời với các thôn lập ở bờ Tây sông Hậu. Khi thành lập tỉnh An Giang, sách Đại Nam nhất thống chí ghi nhận số đinh tỉnh An Giang có 25.645 người.

BBT

Tổ chức sáng tác ca khúc về An Giang từ ngày 15/7 đến 15/9/2022An Giang 190 nămTinNgọc HânTổ chức sáng tác ca khúc về An Giang từ ngày 15/7 đến 15/9/2022/SiteAssets/Logo-AG.jpg
19/07/2022 2:00 CHNoĐã ban hành

(TUAG)- Nhằm mục đích tuyển chọn tác phẩm hay, mang tính biểu tượng về vùng đất, con người An Giang; hướng tới phục vụ đời sống văn hóa tinh thần, sự hưởng thụ về âm nhạc cho công chúng tỉnh nhà và giới thiệu, quảng bá cho công chúng cả nước về An Giang. Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã cho chủ trương và ký ban hành Quyết định số 1807-QĐ/TU, ngày 15/6/2022 thành lập Ban Tổ chức sáng tác ca khúc về An Giang do đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Lê Hồng Quang làm Trưởng ban.

Logo-AG.jpg 

Theo đó các đối tượng tham gia sáng tác ca khúc về An Giang là các nhạc sĩ chuyên nghiệp, không chuyên nghiệp trong và ngoài tỉnh, các tác giả là công dân Việt Nam đang sinh sống, làm việc ở trong và ngoài nước đều có quyền gửi tác phẩm tham gia.

Nội dung tác phẩm: Ca ngợi, nâng cao nhận thức về lòng tự hào dân tộc, truyền thống quê hương An Giang, tinh thần yêu nước, biết quý trọng độc lập tự do, sự hy sinh lớn lao của các thế hệ đi trước cũng như những thành tựu của Đảng bộ và Nhân dân tỉnh An Giang đạt được trong 190 năm qua; ca ngợi thành tựu và kết quả đạt được của quá trình xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng và công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong thời gian qua; ca ngợi tình yêu lứa đôi, tình yêu thương con người và tình yêu quê hương An Giang; giới thiệu, quảng bá hình ảnh con người, nét đẹp thiên nhiên, văn hóa của các dân tộc cùng nhau đoàn kết, sinh sống và góp phần xây dựng, phát triển tỉnh An Giang - quê hương Chủ tịch Tôn Đức Thắng ngày càng phồn vinh, hạnh phúc.

Yêu cầu tác phẩm tham gia sáng tác ca khúc về An Giang phải có nội dung tư tưởng phù hợp với truyền thống văn hóa, giá trị lịch sử của cuộc cách mạng giải phóng quê hương An Giang và những thành tựu, giá trị cao đẹp của cuộc sống, con người, cảnh quan thiên nhiên riêng có về vùng đất An Giang trong quá trình xây dựng, phát triển kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Các tác phẩm được lựa chọn phải có sức lay động, lan tỏa, truyền cảm hứng để khích lệ người dân thêm yêu mến và tự hào về vùng đất, con người An Giang - quê hương Chủ tịch Tôn Đức Thắng.

Thời gian phát động: Kể từ ngày ban hành Thể lệ.

Thời gian nhận tác phẩm: Từ ngày 15/7/2022 (Thứ Sáu) đến 17h00', ngày 15/9/2022 (Thứ Năm). Nếu tác phẩm được gửi qua đường bưu điện thì Ban Tổ chức sẽ tính theo dấu Bưu điện. Thời gian đánh giá tác phẩm: Từ ngày 16/9/2022 (Thứ Sáu) đến ngày 30/9/2022 (Thứ Sáu).

Lễ Tổng kết và trao giải dự kiến tổ chức vào trung tuần tháng 10/2022 và được truyền hình trực tiếp tại Phim trường 4, Đài Phát thanh - Truyền hình An Giang.

Ngoài ra Ban Tổ chức cũng đặt hàng 05 nhạc sĩ chuyên nghiệp của Hội Nhạc sĩ Việt Nam sáng tác ca khúc về An Giang. Tổ chức Trại thực tế sáng tác mời các nhạc sĩ được đặt hàng sáng tác và các nhạc sĩ tham gia sáng tác cần trải nghiệm thực tế để tìm cảm hứng sáng tác ca khúc về An Giang tham dự Trại thực tế sáng tác.

Cơ cấu giải thưởng bao gồm 01 Giải A trị giá 200.000.000 đồng; 10 Giải Khuyến khích mỗi giải trị giá 50.000.000 đồng. Những ca khúc được chọn sẽ được tỉnh tổ chức thu âm, dàn dựng và mời ca sĩ nổi tiếng trình bày trong lễ tổng kết và trao giải; tiến tới phục vụ Lễ kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang và Hội nghị Xúc tiến đầu tư tỉnh năm 2022.

Chi tiết thông báo thể lệ: [02-TB_BTC]-Thể lệ tham gia sáng tác ca khúc về An Giang_15.7.2022.pdf

Ngọc Hân

Hội thảo khoa học “An Giang 190 năm hình thành và phát triển” dự kiến tổ chức vào ngày 29/7/2022An Giang 190 nămTinNguyễn LamHội thảo khoa học “An Giang 190 năm hình thành và phát triển” dự kiến tổ chức vào ngày 29/7/2022/SiteAssets/Hop-BTC-hoithao-4.jpg
14/07/2022 2:00 CHNoĐã ban hành

(TUAG)- Sáng ngày 14/7, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Lê Hồng Quang; Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh, Trưởng Ban Tổ chức Hội thảo Lê Văn Nưng chủ trì cuộc họp Ban Tổ chức Hội thảo khoa học “An Giang 190 năm hình thành và phát triển” (1832 - 2022).

 Hop-BTC-hoithao-1.jpg

Quang cảnh cuộc họp

Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Lê Hồng Quang; Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh, Trưởng Ban Tổ chức Hội thảo Lê Văn Nưng chủ trì cuộc họp.

 Hop-BTC-hoithao-2.jpg

Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Nguyễn Hữu Thịnh báo cáo tiến độ, kết quả thực hiện kế hoạch Hội thảo khoa học

Báo cáo tại cuộc họp, đồng chí Nguyễn Hữu Thịnh - Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy cho biết: Đến nay Ban Tổ chức Hội thảo đã nhận được 167 bài tham luận của các chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý trong và ngoài tỉnh, gồm 94 tham luận của các tác giả trong tỉnh và 73 ngoài tỉnh, trong đó có 01 GS.TS, 06 PGS.TS, 26 tiến sĩ, 60 thạc sĩ, 02 đồng chí Uỷ viên BCH Trung ương Đảng, 01 đồng chí nguyên Ủy viên BCH Trung ương Đảng. Tổ xét duyệt bài tham luận đã chọn 96/167 bài tham luận (chiếm 57,4%) để phục vụ Hội thảo. Theo đánh giá sơ bộ, Hội thảo nhận được sự tham gia hưởng ứng sâu rộng của các ngành, các cấp, các địa phương cả trong và ngoài tỉnh. Số lượng bài viết rất nhiều, nội dung phong phú, thể loại đa dạng. Đa số các bài viết có sự đầu tư công phu, có hàm lượng khoa học khá cao, bám sát chủ đề cho Ban Tổ chức đặt ra. Tuy nhiên, khá nhiều bài viết chưa phù hợp chủ đề do Ban tổ chức đề ra, thông tin và giá trị khoa học chưa đáp ứng yêu cầu. Do đó, Ban Tổ chức chỉ chọn những bài tiêu biểu, phù hợp chủ đề, có hàm lượng khoa học cao để phục vụ Hội thảo.

 Hop-BTC-hoithao-3.jpg

Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nguyễn Khánh Hiệp phát biểu ý kiến tại cuộc họp.

Tại cuộc họp, các đại biểu tập trung thảo luận về một số nội dung: Thời gian dự kiến tổ chức Hội thảo vào ngày 29/7/2022; địa điểm tại Hội trường tỉnh; việc biên tập, thẩm định chặt chẽ đối với bài tham luận của các tác giả, bảo đảm tính chính xác, có căn cứ; trang trí, khánh tiết, chuẩn bị các điều kiện hậu cần phục vụ cho Hội thảo và công tác tuyên truyền…

 Hop-BTC-hoithao-4.jpg

Bí thư Tỉnh ủy Lê Hồng Quang phát biểu kết luận cuộc họp.

Phát biểu kết luận cuộc họp, Bí thư Tỉnh ủy Lê Hồng Quang lưu ý Ban Tổ chức Hội thảo: Xây dựng nội dung kịch bản, chương trình hợp lý, chặt chẽ, tạo không khí dân chủ, thoải mái trong quá trình tham luận, ngoài ra cần gợi mở thêm để đại biểu tham gia thảo luận làm sáng tỏ các vấn đề về lịch sử; công tác chuẩn bị hậu cần, khánh tiết phải hết sức kỹ lưỡng, bài bản, chu đáo; đồng thời phối hợp tuyên truyền sâu rộng trên các phương tiện thông tin đại chúng giai đoạn trước, trong và sau Hội thảo. Hội thảo là tiền đề, cơ sở quan trọng để làm sâu sắc, sáng rõ hơn về quá trình hình thành, phát triển của tỉnh nói riêng và vùng Nam bộ nói chung; về truyền thống văn hóa và cách mạng, về thành tựu phát triển kinh tế - xã hội mà Đảng bộ và Nhân dân An Giang đạt được; đây cũng là dịp để quảng bá tuyên truyền về tỉnh An Giang

Nguyễn Lam

Tỉnh ủy An Giang tổ chức sáng tác ca khúc về An Giang nhân sự kiện kỷ kiệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang 190 nămTinTỉnh ủy An Giang tổ chức sáng tác ca khúc về An Giang nhân sự kiện kỷ kiệm 190 năm thành lập tỉnh /SiteAssets/Lists/TuTuongVanHoa/EditForm/Sangtac-ca-khuc-ve-ag22.jpg
08/07/2022 7:00 SANoĐã ban hành
(TUAG)- Chiều ngày 7/7, tại Văn phòng Tỉnh ủy, Ban Tổ chức sáng tác ca khúc về An Giang (gọi tắt là Ban Tổ chức) họp cho ý kiến về các nội dung liên quan đến công tác tổ chức, phát động sáng tác ca khúc về An Giang. Đồng chí Lê Hồng Quang, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy An Giang, Trưởng Ban Tổ chức chủ trì cuộc họp.

Cuộc họp đã thông qua quyết định của Ban Thường vụ Tỉnh ủy thành lập Ban Tổ chức sáng tác ca khúc về An Giang với 15 thành viên do đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Lê Hồng Quang làm Trưởng ban; các đồng chí Trần Anh Thư - Phó Chủ tịch UBND tỉnh, đồng chí Nguyễn Khánh Hiệp - Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng đồng chí Thái Thúy Xuân - Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy làm Phó Trưởng ban; thông qua Quyết định của Ban Tổ chức thành lập Tổ Thư ký giúp việc với 07 thành viên do đồng chí Thái Thúy Xuân - Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Phó Trưởng Ban Tổ chức làm Tổ trưởng.


Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Thái Thúy Xuân - Phó Trưởng Ban Tổ chức thông qua dự thảo các văn bản triển khai tổ chức sáng tác ca khúc về An Giang

Tại cuộc họp, đồng chí Thái Thúy Xuân - Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Phó Trưởng Ban Tổ chức đã thông qua dự thảo các văn bản triển khai và các nội dung liên quan đến công tác chuẩn bị tổ chức sáng tác ca khúc về An Giang. Các thành viên Ban Tổ chức đều thống nhất và đánh giá cao việc tỉnh có chủ trương tổ chức sáng tác ca khúc về An Giang để tìm ra tác phẩm âm nhạc có thể gọi là “tỉnh ca” cho địa phương trong một dịp đặc biệt, nhiều ý nghĩa nhân kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh. Bên cạnh đó, các đại biểu đã cho ý kiến góp ý tâm huyết, trách nhiệm với nhiều đề xuất cụ thể cho dự thảo các văn bản triển khai và các nội dung liên quan đến công tác tổ chức sáng tác ca khúc về An Giang để đảm bảo đạt kết quả cao nhất.

Bí thư Tỉnh ủy An Giang Lê Hồng Quang - Trưởng Ban Tổ chức sáng tác ca khúc về An Giang phát biểu kết luận cuộc họp

Phát biểu kết luận cuộc họp, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Ban Tổ chức sáng tác ca khúc về An Giang Lê Hồng Quang cho rằng: “An Giang là vùng đất địa linh nhân kiệt, nơi hội tụ nhiều điểm sáng và tiềm năng khai phá còn rất lớn. Muốn vậy cần tăng cường quảng bá hình ảnh của tỉnh thông qua nhiều kênh, việc tổ chức sáng tác tác phẩm âm nhạc về An Giang nhân kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh cũng nhằm mục đích đó. Chủ trương này đã được Ban Thường vụ Tỉnh ủy đồng tính và nhất trí cao”. Đồng chí cũng mong muốn qua tổ chức sáng tác ca khúc lần này, sẽ có một tác phẩm âm nhạc xứng tầm để có thể gọi là “tỉnh ca” cho An Giang và nhiều tác phẩm âm nhạc có giá trị khác để lan tỏa hình ảnh về con người, về lịch sử, về địa lý và lợi thế của quê hương An Giang để kêu gọi đầu tư, khai phá hết tiềm năng mà trước đây chưa khai thác hết để phát triển kinh tế - xã hội. Đây là điều mà bất kỳ người con nào đang sinh sống trên mảnh đất An Giang này cũng mong muốn. “Để có một tác phẩm xứng tầm và để đời là một việc khó, gian nan và thời gian để đánh giá nhưng tôi tin tưởng qua đợt tổ chức sáng tác ca khúc lần này chúng ta sẽ đạt được điều đó, đây là một quyết tâm chính trị của địa phương cần có sự thống nhất, đồng lòng để cùng nhau bắt tay thực hiện”, đồng chí Lê Hồng Quang chia sẻ.

Đồng chí cũng đề nghị Ban Tổ chức, Tổ Thư ký giúp việc tiếp thu đầy đủ các ý kiến góp ý để hoàn chỉnh các văn bản triển khai và các nội dung liên quan đến công tác tổ chức sáng tác ca khúc, nhất là hoàn chỉnh thể lệ để sớm tham mưu cho Ban Tổ chức tiến hành họp báo tổ chức sáng tác ca khúc về An Giang; tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, quảng bá trên các phương tiện truyền thông trong và ngoài tỉnh; quan tâm công tác tổ chức trại sáng tác ca khúc để các nhạc sĩ tiếp cận thực tế đời sống, tạo cảm hứng sáng tác tác phẩm tham gia; lập dự toán kinh phí trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt để triển khai thực hiện.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Trần Anh Thư - Phó Trưởng Ban Tổ chức sáng tác ca khúc về An Giang phát biểu tại cuộc họp

Hoạt động tổ chức sáng tác ca khúc về An Giang được Ban Thường vụ Tỉnh ủy thống nhất chỉ đạo tổ chức nhân sự kiện An Giang kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh (1832-2022). Thông qua hoạt động nhằm tuyển chọn tác phẩm hay, mang tính biểu tượng về vùng đất, con người An Giang; hướng tới phục vụ đời sống văn hóa tinh thần, sự hưởng thụ về âm nhạc cho công chúng tỉnh nhà và giới thiệu, quảng bá cho công chúng cả nước về An Giang - quê hương chủ tịch Tôn Đức Thắng qua 190 năm hình thành và phát triển. Dự kiến thời gian phát động trong tháng 7/2022; thời gian tiếp nhận và hoàn thành đánh giá tác phẩm trong tháng 10/2022; lễ tổng kết và trao giải thưởng cho tác phẩm được chọn dự kiến tổ chức vào đầu tháng 11/2022 và được Truyền hình trực tiếp trên sóng Đài Phát thanh - Truyền hình An Giang. Ban Tổ chức cũng dự kiến mời những nhạc sĩ chuyên nghiệp của Hội Nhạc sĩ Việt Nam tham gia Hội đồng Giám khảo đánh giá tác phẩm tham gia sáng tác ca khúc về An Giang do Thiếu tướng, Nhạc sĩ Nguyễn Đức Trịnh, Chủ tịch Hội Nhạc sĩ Việt Nam làm Chủ tịch Hội đồng. Cơ cấu giải thưởng dự kiến có 01 Giải A trị giá 200.000.000 đồng; 10 Giải Khuyến khích mỗi giải trị giá 50.000.000 đồng. Những ca khúc được chọn sẽ được tỉnh tổ chức thu âm, dàn dựng và mời ca sĩ nổi tiếng trình bày trong lễ tổng kết và trao giải; tiến tới phục vụ Hội nghị Xúc tiến đầu tư, Lễ kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang.

THANH HẢI
Cuộc thi tìm hiểu “Quê hương An Giang - 190 năm hình thành và phát triển” được phát động trong tháng 7/2022An Giang 190 nămTinNguyễn LamCuộc thi tìm hiểu “Quê hương An Giang - 190 năm hình thành và phát triển” được phát động trong tháng 7/2022/SiteAssets/Cuoc-thi-190nam-ag.jpg
28/06/2022 8:00 SANoĐã ban hành

(TUAG)- Chiều ngày 27/6, Ban Tổ chức Cuộc thi tìm hiểu “Quê hương An Giang - 190 năm hình thành và phát triển” năm 2022 tổ chức cuộc họp rà soát nội dung liên quan đến việc phát động Cuộc thi.

Đồng chí Thái Thúy Xuân - Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy và đồng chí Trương Bá Trạng - Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Phó Trưởng Ban Tổ chức Cuộc thi đồng chủ trì cuộc họp.

Thiết thực lập thành tích chào mừng kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang, chào mừng kỷ niệm 134 năm Ngày sinh Chủ tịch Tôn Đức Thắng (20/8/1888 – 20/8/2022), 77 năm Ngày Cách mạng Tháng Tám thành công (19/8/1945 - 19/8/2022) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945 - 02/9/2022), Sở Văn hóa Thể Thao và Du lịch tỉnh An Giang tổ chức Cuộc thi tìm hiểu “Quê hương An Giang – 190 năm hình thành và phát triển” năm 2022.

Thông qua Cuộc thi nhằm tuyên truyền, giáo dục cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ trên địa bàn hiểu rõ hơn về lịch sử hình thành và phát triển tỉnh An Giang. Qua đó góp phần nâng cao nhận thức trong việc giữ gìn và phát huy các giá trị truyền thống lịch sử và văn hoá của quê hương, đất nước; nâng cao hơn nữa niềm tin và lòng tự hào về truyền thống cách mạng của quê hương. Cuộc thi cũng là dịp để quảng bá, giới thiệu tiềm năng, lợi thế và hình ảnh vùng đất, con người An Giang đến với bạn bè trong nước và quốc tế.

Theo Ban Tổ chức, Cuộc thi dự kiến phát động từ ngày 20/7/2022 đến 15/9/2022.

Nguyễn Lam
An Giang đồng hành cùng cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hộiBài viếtTrung ThànhAn Giang đồng hành cùng cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội/SiteAssets/Nha-san-Bac-Ton-900.jpg
25/06/2022 10:00 SANoĐã ban hành

(TUAG)- An Giang vốn là địa phương sản xuất lúa nổi tiếng trong cả nước từ bao đời. Nhưng sau giải phóng, do chiến tranh biên giới Tây Nam nên trong 4 năm 1976 - 1979 sản lượng lương thực dẫm chân tại con số 500 ngàn tấn, có năm thiên tai như 1978 sụt giảm, còn trên 369 ngàn tấn (dân đói); từ 1980 đến 1986 do hậu quả của cải tạo nông nghiệp và phong trào tập thể hóa một cách máy móc, quan liêu nên sản lượng lương thực lại cũng bị dẫm chân, từ 741 ngàn tấn (1980) đến 855 ngàn tấn (1986).

Tuvan-GaoVN5-4.jpg

Tính chung, 10 năm sau giải phóng, mặc dù toàn Đảng bộ và Nhân dân tập trung cho sản xuất lương thực, nhưng chỉ tăng được 400 ngàn tấn, bình quân tăng 40 ngàn tấn/năm, chỉ mới giải quyết được từ chỗ đói (Trung ương cứu trợ) đến chưa no! Một khi cái ăn không no thì tất nhiên là mặc không lành, thiếu thuốc trị bệnh…; trường học, cầu đường, điện và nước sạch là ước mơ, là một thứ gần như là "xa xỉ". Đây là hậu quả của cơ chế quản lý tập trung, quan liêu, bao cấp.

Mười năm sau giải phóng (1975 - 1985), với việc thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược là bảo vệ Tổ quốc (chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam và làm nghĩa vụ quốc tế, đẩy lùi bọn phản động - tàn quân Pônpốt) và xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH) (với 2 cuộc cải tạo quan hệ sản xuất trong công - thương nghiệp và nông nghiệp), quản lý theo cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, tuy ta có giành được thắng lợi chính trị to lớn là bảo vệ toàn vẹn biên giới, giữ vững ổn định chính trị và trật tự xã hội, nhưng về kinh tế - xã hội (KT-XH) trước nhất là mục tiêu nâng cao đời sống nhân dân đã phải trả giá quá đắt.

RA SỨC ĐỔI MỚI CƠ CHẾ QUẢN LÝ KINH TẾ

An Giang là một trong những địa phương dũng cảm đi đầu, đặc biệt có một số chủ trương cụ thể về giá, về lưu thông phân phối đã "xé rào" rất sớm từ những năm 1979 - 1980. Đến Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IV tháng 10/1986 quyết tâm đổi mới cơ chế quản lý càng quyết liệt hơn. Tỉnh chủ trương phải tháo gỡ ngay mọi ách tắc, rào cản, kềm hãm lực lượng sản xuất… Một loạt giải pháp đột phá được đặt ra và liên tục hoàn thiện, nhiều giải pháp đã được Trung ương nhân ra cả nước, đã đi vào cuộc sống đầy sức thuyết phục. Điển hình là từ bao cấp giá đi đến 2 giá, rồi 1 giá - thị trường; xóa bỏ mọi rào cản từ sản xuất đến lưu thông (xóa cắt xâm canh, xóa các trạm kiểm soát ngăn sông cấm chợ); bù giá vào lương, xóa bỏ cấp lương bằng hiện vật; thay việc nộp ngân sách bằng thu thuế - nhất là ngoài quốc doanh; đổi mới tín dụng Nhà nước; tách ngân khố quốc gia ra khỏi ngân hàng…

Đặc biệt nhất là chủ trương đưa đất đai về cho nông dân làm chủ, kể cả đất có khả năng trồng rừng; máy móc được trả về cho người chủ biết sử dụng; ai có khả năng tổ chức cơ sở sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp (CN-TTCN) đều được khuyến khích giúp đỡ vì mục tiêu "Ích nước (giải quyết lao động) lợi nhà (dân giàu)". An Giang luôn quán triệt phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm" trên mọi lĩnh vực. "Chương trình khuyến nông" ra đời (1988 - 1989); rồi "Chương trình phát triển nông thôn" được phát động năm 1992; tiếp đó là chương trình khuyến công (5/1996)...

Một loạt hệ thống tổ chức được xác lập và hoàn chỉnh dần, đó là: Tách hệ thống thuế ra khỏi ngành tài chính, các hệ thống ngân hàng thương mại tách ra khỏi ngân hàng Nhà nước (bắt đầu từ ngân hàng phát triển nông nghiệp), hệ thống kho bạc được định hình và ổn định chức năng (7/1989). Ngoài ra, từng lúc do yêu cầu, lập ra các Ban chỉ đạo có tầm chiến lược của địa phương để thúc đẩy nhanh công việc như "Chương trình khai thác Tứ giác Long Xuyên", "Chương trình trồng và bảo vệ rừng", mà sau đó được Chính phủ triển khai ra cả nước (Chương trình 327 và nay là "Chương trình trồng 5 triệu ha rừng"…).

Một loạt hệ thống tư tưởng, quan điểm, chủ trương, chính sách và giải pháp  được Tỉ nh ủy khởi xướng và tiếp tục hoàn chỉnh dần, có sự hỗ trợ của TW và Chính phủ. Kết quả là An Giang đã bứt phá đi lên ngoạn mục, là tỉnh luôn luôn dẫn đầu về năng suất và sản lượng lương thực cũng như một số lĩnh vực khác, đời sống nhân dân được cải thiện, bộ mặt nông thôn không ngừng đổi mới. Sau 10 năm đổi mới (1986 - 1996): GDP tăng trưởng liên tục, đặc biệt là từ 1992 - 1995 tăng trên 2 con số; sản lượng lương thực tăng 1,3 triệu tấn, bình quân tăng 130 ngàn tấn/năm; xuất khẩu từ 10 triệu USD lên 155 triệu; thu ngân sách trên địa bàn từ 2,23 tỷ lên 725 tỷ, bảo đảm tự cân đối ngân sách, chi thường xuyên, đồng thời còn đóng góp về ngân sách trung ương.

Giai đoạn 1996 - 2000, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt 6,88%, trong đó nông, lâm, thủy sản tăng 2%, công nghiệp - xây dựng tăng 11,4 %, các ngành dịch vụ tăng 11,6%. GDP năm 2000 tăng gấp 1,4 lần so năm 1995. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch tích cực. Giai đoạn 2001-2005, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt 8,94%, GDP bình quân đầu người từ 1,1 triệu năm 1991 lên 5,2 triệu năm 2000 và 8,53 triệu năm 2005, gấp 7,75 lần so năm 1991. Tốc độ tăng GDP của An Giang ngày càng cao hơn và nhanh hơn so cả nước, các thế mạnh tỉnh nhà được phát huy cao và hiệu quả.

Giai đoạn 2006 - 2010, cùng với cả nước, nền kinh tế An Giang phải đối mặt với cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới từ cuối năm 2008, kéo dài đến năm 2010. Tuy nhiên, tỉnh vẫn đạt được tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 10,18%, GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt 21,938 triệu đồng; kim ngạch xuất khẩu đạt 600 triệu USD. Giai đoạn 2011 - 2015 tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 8,63% (theo giá so sánh năm 1994), giá trị tuyệt đối tăng thêm 8.640 tỷ đồng; cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng giảm mạnh khu vực nông nghiệp (giảm 8,43%), tăng khu vực dịch vụ (tăng 6,94%); thu nhập bình quân đầu người năm 2015 đạt 39,274 triệu đồng/người/năm (theo giá hiện hành), tăng 1,32 lần so với năm 2010.

Tốc độ tăng trưởng GRDP giai đoạn 2015 - 2020 đạt 5,25%. Quy mô nền kinh tế tăng khá - năm 2020 đạt 89.362 tỉ đồng; cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực - đến năm 2020, khu vực I chiếm 32,86%, khu vực II chiếm 14,4%, khu vực III chiếm 49,09%; môi trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện, các chỉ số cải cách hành chính, quản trị và hành chính công, năng lực cạnh tranh cấp tỉnh đều tăng qua từng năm. Chương trình xây dựng nông thôn mới hoàn thành sớm 01 năm so chỉ tiêu Nghị quyết - hiện có 61 xã và 03 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn. Đời sống người dân không ngừng cải thiện, GRDP bình quân đầu người năm 2020 đạt trên 46,8 triệu đồng, tương đương 1.910 USD (tăng 16 triệu đồng so năm 2015); tỉ lệ hộ nghèo đa chiều đến năm 2020 giảm còn 1,93% (giảm bình quân 1,5%/năm).

PHÁT TRIỂN VĂN HÓA - XÃ HỘI

Nắm vững quan điểm: "Phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hoá - nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng và an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên". Mặc dù kinh tế gặp khó khăn nhưng Tỉnh luôn quan tâm kết hợp nhiều nguồn lực ngân sách và xã hội triển khai đồng bộ các chính sách phúc lợi, an sinh xã hội, trước hết là giáo dục, y tế, việc làm, giảm nghèo, bảo hiểm, nhà ở, tập trung cho vùng khó khăn, các đối tượng bị ảnh hưởng bởi thiên tai, sạt lở, hộ chính sách, hộ khó khăn, hộ nghèo, góp phần tạo nên nét văn hóa riêng cho tỉnh - nét văn hóa về an sinh xã hội vì cộng đồng. Cụ thể là chủ trương:Đổi mới mạnh mẽ giáo dục - đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Kết quả tỉ lệ đỗ tốt nghiệp trung học phổ thông quốc gia đứng top 10 cả nước và đứng đầu đồng bằng sông Cửu Long 04 năm liền 2017 - 2020. Mạng lưới, quy mô phát triển ở tất cả bậc học phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, phủ khắp các xã, phường, thị trấn, đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời của Nhân dân, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực xã hội. Chương trình phát triển nguồn nhân lực phục vụ các ngành kinh tế mũi nhọn được quan tâm triển khai, đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội.

Luôn quan tâm vấn đề quản lý phát triển xã hội; thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội. Triển khai đồng bộ các giải pháp đào tạo nghề, giải quyết việc làm, giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội, góp phần cải thiện đời sống người có công, đối tượng bảo trợ xã hội, hộ nghèo, cận nghèo, hộ khó khăn, đồng bào dân tộc thiểu số. Công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe Nhân dân được chú trọng. Dịch vụ y tế phát triển khá. Nâng cao năng lực y tế dự phòng, ngăn chặn nhiều dịch bệnh nguy hiểm. Cơ sở vật chất phục vụ khám, chữa bệnh được tăng cường; nguồn nhân lực y tế phát triển về số lượng và chất lượng, đạo đức nghề nghiệp, thái độ ứng xử, phục vụ Nhân dân tốt hơn.

Tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức toàn xã hội về vị trí, vai trò của văn hóa đối với sự nghiệp phát triển. Đẩy mạnh phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" ở cơ sở, xây dựng nông thôn mới và văn minh đô thị; đấu tranh ngăn chặn các sản phẩm văn hóa độc hại. Bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, đặc trưng các dân tộc. Đầu tư xây dựng, phát triển các thiết chế văn hóa cơ sở; phát triển mạnh các phong trào thể dục, thể thao quần chúng, trong học đường, củng cố, nâng chất thể thao thành tích cao.

ĐẢM BẢO AN NINH QUỐC PHÒNG

Là một trong những Tỉnh trọng điểm về quốc phòng - an ninh của Khu vực Tây Nam Bộ, các cấp ủy đảng, chính quyền quan tâm lãnh đạo thực hiện có hiệu quả Nghị quyết của Tỉnh ủy về lãnh đạo củng cố quốc phòng, an ninh kết hợp phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2016 - 2020. Tăng cường tiềm lực quân sự, quốc phòng, xây dựng công trình, khu vực phòng thủ vững chắc kết hợp phát triển kinh tế - xã hội, nhất là vùng biên giới, vùng dân tộc. Chú trọng công tác xây dựng lực lượng, huấn luyện sẵn sàng chiến đấu. Hoạt động hiệp đồng, phối hợp giữa các lực lượng vũ trang chặt chẽ, hiệu quả, hoàn thành tốt nhiệm vụ quân sự, quốc phòng địa phương.

Công tác quản lý trật tự xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm được tăng cường, nhất là tội phạm hình sự, tín dụng đen, ma túy, buôn lậu. Tăng cường ứng dụng công nghệ vào quản lý trật tự xã hội, an toàn giao thông; an toàn, an ninh thông tin được chú trọng.

PHẤN ĐẤU XÂY DỰNG ĐẢNG BỘ TRONG SẠCH VỮNG MẠNH

Các cấp ủy, tổ chức đảng đổi mới nội dung, hình thức công tác chính trị, tư tưởng, triển khai thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI, XII) về xây dựng Đảng gắn với Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về "Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh". Đẩy mạnh thông tin tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, những thành tựu phát triển của đất nước, chú trọng quảng bá hình ảnh, con người An Giang, góp phần khơi dậy khát vọng vươn lên trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân. Thường xuyên bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, nâng cao hiệu quả việc học tập lý luận chính trị trong cán bộ, đảng viên theo Chỉ thị số 17-CT/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về "Chấn chỉnh những hạn chế, yếu kém trong triển khai, quán triệt chỉ thị, nghị quyết của Đảng".

Đẩy mạnh công tác giáo dục, nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên, tăng cường quan hệ mật thiết giữa cấp ủy, chính quyền với Nhân dân. Chủ động đấu tranh phản bác những luận điệu xuyên tạc, âm mưu "diễn biến hoà bình", phòng ngừa suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, phát huy sức mạnh tổng hợp của Nhân dân trong thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị.

Luôn cố gắng đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy; đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ. Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của tổ chức cơ sở đảng và đảng viên.

Thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 6 (khóa XII) về sắp xếp tổ chức bộ máy, kiện toàn, nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị. Nhiều cấp ủy, chính quyền, nhất là cấp huyện, cấp xã triển khai thí điểm các mô hình sáp nhập tổ chức, nhất thể hóa chức danh lãnh đạo, mang lại kết quả tích cực, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan, đơn vị, giảm đầu mối, cấp trung gian, giảm lãnh đạo cấp phòng, giảm biên chế, giảm chi phí hành chính...

Công tác cán bộ được chú trọng và có nhiều đổi mới, từng bước xây dựng đội ngũ cán bộ có trình độ, năng lực ngang tầm nhiệm vụ. Đẩy mạnh phân cấp quản lý, thực hiện quy trình công tác cán bộ chặt chẽ, dân chủ, minh bạch. Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo tiêu chuẩn chức danh, cơ bản đáp ứng yêu cầu trước mắt và chuẩn bị nguồn cán bộ lâu dài, tăng cường sử dụng, bố trí cán bộ trẻ, nữ, củng cố, nâng chất cán bộ ở cơ sở gắn với sắp xếp tổ chức bộ máy. Làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, phục vụ yêu cầu quy hoạch, tạo nguồn, bố trí, sử dụng cán bộ.


Các cấp ủy tập trung củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu và hiệu quả hoạt động của tổ chức cơ sở đảng. Kiện toàn, sắp xếp tổ chức đảng đồng bộ với sắp xếp tổ chức bộ máy. Tăng cường chỉ đạo đổi mới nội dung, hình thức, chất lượng sinh hoạt chi bộ, tạo chuyển biến tích cực về nhận thức, trách nhiệm của đảng viên. Phát huy vai trò tự kiểm tra, giám sát, phát hiện và xử lí sai phạm của các tổ chức cơ sở đảng. Công tác kết nạp đảng viên chú trọng về chất lượng, đồng thời, rà soát, phân loại, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên gắn với sàng lọc, kiên quyết đưa những đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng.

Phấn đấu nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng. Đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí: Công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng được các cấp ủy, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra các cấp tiến hành thường xuyên theo chương trình, kế hoạch hằng năm, nội dung tập trung vào việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, quy chế làm việc, việc khắc phục những hạn chế, khuyết điểm sau kiểm điểm tự phê bình và phê bình. Kịp thời giải quyết đơn, thư khiếu nại, tố cáo, tăng cường kiểm tra tổ chức đảng, đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm, đảm bảo theo quy trình, quy định. Mở rộng đối tượng, phạm vi giám sát, tập trung vào những lĩnh vực, địa bàn quan trọng, dễ phát sinh tiêu cực. Xem xét, kết luận nhiều vụ việc phức tạp, dư luận quan tâm, xử lí nghiêm những tổ chức đảng, đảng viên vi phạm, góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị.

Các cấp ủy lãnh đạo triển khai đồng bộ các chủ trương, chính sách về công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, đạt nhiều kết quả tích cực. Hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát, điều tra, truy tố, xét xử các hành vi tham nhũng, tiêu cực được thực hiện thường xuyên, phát huy tốt vai trò giám sát của mặt trận, đoàn thể, báo chí và Nhân dân, nâng cao hiệu quả giáo dục, ngăn ngừa sai phạm, đề cao ý thức, trách nhiệm các cấp ủy, chính quyền, từng cơ quan, đơn vị và cán bộ, đảng viên, củng cố lòng tin trong nội bộ và Nhân dân.

Về thăm An Giang gần đây, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh vai trò, vị trí chiến lược quan trọng của An Giang trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long- một vùng đất giàu truyền thống cách mạng, kiên cường trong kháng chiến, trong công cuộc đổi mới; đang có khát vọng, quyết tâm vươn lên mạnh mẽ.

Thời gian qua, An Giang đạt nhiều thành tích quan trọng, bộ mặt đô thị, nông thôn có nhiều đổi mới, hạ tầng giao thông được cải thiện, đời sống nhân dân được nâng cao hơn, công bằng xã hội cơ bản được bảo đảm, các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế có nhiều tiến bộ, tỷ lệ hộ nghèo còn ít. Quốc phòng an ninh, đối ngoại được giữ vững,… Tổng Bí thư khẳng định: An Giang có triển vọng phát triển tươi sáng khi đã xác định rõ được hướng đi. Đó là nông nghiệp theo hướng hiện đại, công nghệ cao, với mô hình sản xuất liên kết 4 nhà (Nhà nông, Nhà doanh nghiệp, Nhà khoa học, Nhà nước) để cho ra đời các sản phẩm hàng hóa có giá trị cao, phục vụ xuất khẩu.

Một tín hiệu đáng mừng gần đây là môi trường đầu tư, kinh doanh của tỉnh An Giang không ngừng được cải thiện, Chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh trong 5 năm liên tiếp đều tăng điểm và tăng hạng. Có nhiều điểm sáng nổi lên trong năm 2021 như: (1) Sự năng động, tính tiên phong và hiệu quả giải quyết công việc của lãnh đạo tỉnh tiếp tục phát huy và được cộng động doanh nghiệp đánh giá cao trong bối cảnh các hoạt động kinh tế - xã hội bị ảnh hưởng nghiêm trọng của đại dịch COVID-19. Có thể nói đây được xem như một "phép thử" đối với khả năng quản trị của lãnh đạo tỉnh; (2) Chi phí không chính thức có xu hướng giảm so với các năm trước đó, tình trạng nhũng nhiễu khi giải quyết thủ tục cho doanh nghiệp đã giảm đáng kể, ít phổ biến hơn; (3) Hiệu quả giải quyết thủ tục hành chính cho doanh nghiệp có bước cải thiện, đơn giản, thuận lợi và thông thoáng hơn; (4) Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đã đi vào thực tiễn và có tác động rất lớn đối với khu vực kinh tế tư nhân, đồng thời trở thành động lực quan trọng cho phát triển kinh tế. Kết quả năm 2021, PCI tỉnh An Giang đạt 66,48 điểm, tăng 1,76, xếp thứ 17/63 tỉnh, thành cả nước, tăng 02 bậc so với năm 2020 và thuộc nhóm điều hành "khá", cách khu vực điều hành "tốt" là thành phố Cần Thơ 1,58 điểm và 05 bậc (năm 2020 cách khu vực điều hành "tốt" đến 2,02 điểm và 09 bậc). So với các tỉnh, thành phố thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, An Giang đứng thứ 4/13, tăng 02 bậc so với năm 2020; sau Đồng Tháp, Cần Thơ, Long An và xếp trên Bến Tre, Vĩnh Long, Cà Mau, Tiền Giang, Hậu Giang, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Kiên Giang.

Đảng bộ và Nhân dân An Giang cố gắng xây dựng quê hương Bác Tôn ngày càng giàu đẹp; góp phần thực hiện thắng lợi khát vọng xây dựng đất nước ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn!

Trung Thành

Tiếp tục chủ động thực hiện hoạt động tuyên truyền Kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh và Hội nghị Xúc tiến đầu tư tỉnh năm 2022TinNgọc HânTiếp tục chủ động thực hiện hoạt động tuyên truyền Kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh và Hội nghị Xúc tiến đầu tư tỉnh năm 2022/SiteAssets/20-6-Hop-tieuban-tuyentruyen-1.jpg
20/06/2022 2:00 CHNoĐã ban hành

(TUAG)- Sáng ngày 20/6, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy tổ chức họp Tiểu ban Tuyên truyền Kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh và Hội nghị Xúc tiến đầu tư tỉnh An Giang năm 2022. Đồng chí Trần Thị Thanh Hương, UVBTVTU, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh chủ trì cuộc họp.

20-6-Hop-tieuban-tuyentruyen-1.jpg

Cuộc họp nhằm thống nhất các hoạt động tuyên truyền Kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh và Hội nghị Xúc tiến đầu tư tỉnh An Giang năm 2022 sau chủ trương sáp nhập Tiểu ban tuyên truyền Kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh và Tiểu ban tuyên truyền Hội nghị Xúc tiến đầu tư tỉnh năm 2022.

Hoạt động tuyên truyền Kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh và Hội nghị Xúc tiến đầu tư tỉnh năm 2022 nhằm mục đích tôn vinh những giá trị lịch sử truyền thống hào hùng của dân tộc; khẳng định chủ quyền quốc gia, vai trò và những đóng góp to lớn của vùng đất Nam Bộ và con người An Giang trong tiến trình lịch sử.

20-6-Hop-tieuban-tuyentruyen-2.jpg

Khơi dậy khát vọng vươn lên mạnh mẽ của cán bộ, đảng viên và Nhân dân, tiếp tục phấn đấu không ngừng, quyết tâm vượt qua khó khăn, xây dựng và phát triển An Giang - quê hương Chủ tịch Tôn Đức Thắng ngày càng văn minh, giàu đẹp; đồng thời, là dịp để quảng bá, giới thiệu tiềm năng, lợi thế và hình ảnh vùng đất, con người An Giang đến với bạn bè trong nước và ngoài nước.

Tuyên truyền nỗ lực của các cấp các ngành; kết quả trong thu hút đầu tư trên địa bàn tỉnh những năm qua; đặc biệt là mục đích, ý nghĩa và kết quả đạt được từ Hội nghị Xúc tiến đầu tư tỉnh An Giang năm 2022.

20-6-Hop-tieuban-tuyentruyen-3.jpg

Cổ vũ, động viên toàn Đảng, toàn dân và toàn quân tích cực thi đua lao động sản xuất, công tác học tập, góp phần thực hiện thành công các mục tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XI đã đề ra.

Công tác tuyên truyền Kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh và Hội nghị Xúc tiến đầu tư tỉnh năm 2022 được tiến hành xuyên suốt trong năm 2022, cao điểm từ đầu quý II đến hết quý IV/2022, được chia thành 3 đợt: Đợt 1 (từ tháng 4 đến tháng 8/2022); đợt 2 (cao điểm từ tháng 9 đến tháng 11/2022): đợt 3 là công tác tuyên truyền sau sự kiện.

20-6-Hop-tieuban-tuyentruyen-5.jpg

Kết luận cuộc họp, đồng chí Trần Thị Thanh Hương, UVBTVTU, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh ghi nhận nỗ lực của các đơn vị thành viên Tiểu ban Tuyên truyền trong việc chủ động triển khai các nhiệm vụ tuyên truyền kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh và Hội nghị Xúc tiến đầu tư tỉnh năm 2022.

Đồng chí đề nghị đơn vị Sở Kế hoạch và Đầu tư với trách nhiệm Phó Trưởng Tiểu ban Tuyên truyền phát huy vai trò, trách nhiệm đồng hành cùng các thành viên Tiểu ban trong việc triển khai các hoạt động tuyên truyền, đề nghị Sở Thông tin và Truyền thông là đầu mối kết nối hai hoạt động tuyên truyền Kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh và Hội nghị Xúc tiến đầu tư tỉnh năm 2022.

Đồng chí cũng đề nghị sau cuộc họp, trên cơ sở đề xuất của từng đơn vị thành viên, thành lập Tổ giúp việc Tiểu ban Tuyên truyền kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh và Hội nghị Xúc tiến đầu tư tỉnh năm 2022. Tổ giúp việc có nhiệm vụ rà soát các nội dung công việc, hoàn chỉnh Kế hoạch tổ chức các hoạt động tuyên truyền của Tiểu ban để trình Ban tổ chức các hoạt động kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh. 

Các thành viên Tiểu ban Tuyên truyền và các đơn vị có liên quan trên cơ sở chức năng nhiệm vụ được giao, tiếp tục chủ động triển khai các hoạt động tuyên truyền đảm bảo đúng đính hướng và tiến độ. Trên tinh thần: “Sáp nhập 02 tiểu ban, nhân lên sức mạnh trong hoạt động tuyên truyền”.

Về phía Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, đồng chí sẽ đồng hành cùng các thành viên trong các hoạt động tuyên truyền và có những đề xuất, kiến nghị Ban tổ chức các hoạt động Kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc Tiểu ban Tuyên truyền đang gặp phải./.

NGỌC HÂN

An Giang cùng cả nước trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nướcAn Giang 190 nămBài viếtTrung ThànhAn Giang cùng cả nước trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước/SiteAssets/Lists/thoisu01/EditForm/Bac-Ton-quantruong.jpg
16/06/2022 9:00 SANoĐã ban hành

(TUAG)- An Giang là vùng đất giàu truyền thống anh hùng, kiên cường, bất khuất,… trải qua nhiều cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do; bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. An Giang còn là vùng đất giàu truyền thống cách mạng. Sau khi Kỳ bộ Hội Thanh niên Nam kỳ được thành lập năm 1927, tháng 02/1928, Tỉnh bộ Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên tỉnh Long Xuyên được thành lập. Sau Hội nghị hợp nhất ngày 03/02/1930 thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, đến đầu tháng 4/1930, chi bộ Đảng đầu tiên của Long Xuyên, Châu Đốc được thành lập ở Long Điền (Chợ Mới).

Long-Xuyen-thoi-chong-Phap.jpg

Khu phố Long Xuyên xưa

CÁC PHONG TRÀO CÁCH MẠNG TỪ NĂM 1930 - 1945

Ngay sau khi ra đời, các chi bộ đã chứng minh được vai trò của một tổ chức cách mạng. Đêm 28 rạng 29/4/1930, trên đường phố tỉnh lỵ Long Xuyên, lần đầu tiên xuất hiện nhiều truyền đơn kêu gọi Nhân dân nổi dậy chống chính quyền thực dân. Cùng với cả nước, cao trào cách mạng 1930 - 1931 ở An Giang đã giáng cho thực dân Pháp và tay sai những đòn chí tử, buộc chúng phải tìm mọi cách đối phó để dập tắt những lò lửa đấu tranh đang rực cháy khắp nơi. Trong báo cáo gởi Thống đốc Nam kỳ ngày 12/5/1930, Chủ tỉnh Long Xuyên đã tỏ ra lo ngại: "...Cách tổ chức tuyệt vời đã thể hiện trong cuộc biểu tình, giữ đươc bí mật đến giờ chót… Điều đó đã chứng tỏ sự đoàn kết của những người tham gia bạo động, cũng như quyền lực rất lớn của những người chỉ huy họ...".

Nó còn là trận thử thách đầu tiên của lực lượng cách mạng mới với đế quốc Pháp; nó đã chứng tỏ sức sống mãnh liệt của một Đảng bộ còn rất non trẻ. Đây cũng là lần đầu tiên những người lao khổ ở Long Xuyên, Châu Đốc biểu dương sức mạnh và nhìn thấy sức mạnh của chính mình. Nói về giai đoạn này một nhà nghiên cứu lịch sử Pháp nhận định: "Cùng với Mỹ Tho, Đức Hòa, vùng Chợ Mới, Cao Lãnh là một trong những lò lửa nóng bỏng của phong trào nông dân ở Nam kỳ...".

Tiếp theo đó, phong trào đấu tranh dân chủ 1936 - 1939 ở Long Xuyên - Châu Đốc đã xây dựng nên một đội ngũ cán bộ lãnh đạo kiên cường, có bản lĩnh, được quần chúng tin yêu, hết lòng ủng hộ. Mặc dù phong trào đấu tranh công khai bị đàn áp, nhưng thế và lực mới của Đảng được củng cố phát triển nhiều hơn trước, tiếp tục đưa cách mạng tiến vào giai đoạn mới cao hơn.

Măm 1940, Nhân dân An Giang đã cùng cả Nam kỳ viết lên những trang sử vẻ vang của Khởi nghĩa Nam Kỳ, tuy không giành được thắng lợi nhưng đã giúp cho Đảng bộ nhiều kinh nghiệm quý báu về các điều kiện, yếu tố để tổ chức khởi nghĩa và lãnh đạo Nhân dân giành chính quyền.

Sau nhiều thời gian kiên trì khôi phục tổ chức, chuẩn bị lực lượng. Từ tháng 5/1945 trở đi, phong trào cách mạng có bước phát triển nhảy vọt. Vì thế hệ thống chính quyền tay sai nhất là ở cấp xã đã hoang mang có nơi nằm im không hoạt động hoặc tự giải tán. Các tổ chức quần chúng được xây dựng đều khắp, lực lượng võ trang ngày đêm luyện tập. Ta đã tổ chức được lực lượng trong lòng địch ở nhiều nơi. Tình thế cách mạng đã đến lúc chín muồi.

Trong lúc Đảng bộ đang chuẩn bị cướp chính quyền thì ngày 15 tháng 8 phát xít Nhật đầu hàng. Ngày 23 Tỉnh ủy Long Xuyên nhận được chỉ thị của Xứ ủy cướp chính quyền. Đêm 24 tháng 8, lực lượng cách mạng hầu như làm chủ hoàn toàn tỉnh lỵ 12 giờ ngày 25/8/1945 tại cuộc mít tinh, đồng chí Nguyễn Văn Nhung đại diện cho Đảng bộ Đảng Cộng sản Đông Dương tỉnh Long Xuyên trân trọng tuyên bố trước đồng bào xóa bỏ chính quyền cũ và "kể từ ngày giờ này, chính quyền thuộc về cách mạng, thuộc về Nhân dân". Sáng ngày 26/8, đồng chí Nguyễn Văn Thôi đại diện Đảng bộ Đảng Cộng sản Đông Dương tỉnh Châu Đốc trân trọng tuyên bố trước đồng bào: "Cách mạng đã thành công, chính quyền cũ được xóa bỏ, kể từ đây chính quyền thuộc về tay Nhân dân".

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám ở Long Xuyên, Châu Đốc là sự kế thừa và phát huy truyền thống yêu nước dân tộc; là thắng lợi của 15 năm đấu tranh kiên cường bất khuất của quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nó là sự phát triển cao của các thời kỳ 1930 - 1931, 1936 - 1939 và khởi nghĩa năm 1940. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đã giúp cho Đảng bộ và Nhân dân tỉnh nhà khẳng định thêm niềm tin về mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Nó còn tạo điều kiện cho cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ sau này.

Chau-Doc-Khong-Anh-Aerial-1960s.jpg

Không ảnh Châu Đốc xưa

CÁC CUỘC KHÁNG CHIẾN GIẢI PHÓNG DÂN TỘC, THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC

Chín năm Kháng chiến chống Pháp (1945-1954)

Cách mạng Tháng Tám thành công, từ cuộc đời nô lệ, Nhân dân ta đã vươn lên địa vị người dân tự do, làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh mình. Nhưng nền độc lập dân tộc vừa mới giành được đã phải đương đầu với những thách thức tưởng chừng không thể vượt qua.

Tỉnh ủy chỉ đạo tiếp tục củng cố và mở rộng Mặt trận Việt Minh và các đoàn thể cứu quốc. Một số nơi như ở Chợ Mới có thêm các hội Phật giáo cứu quốc, Cao Đài cứu quốc... Sự ủng hộ của Nhân dân đối với chính quyền cách mạng là câu trả lời đanh thép với kẻ thù về quyết tâm bảo vệ nền độc lập tự do của đất nước. Bên cạnh, lực lượng vũ trang các cấp đều được tổ chức, ở các huyện, xã đều có lực lượng dân quân tự vệ.

Dựa vào chương trình 10 điểm của Việt Minh và 6 nhiệm vụ khẩn cấp của chính phủ, chính quyền cách mạng tỉnh đã tập trung giải quyết những vấn đề cấp thiết về dân sinh, dân chủ.

Ngày 23/9/1945, thực dân Pháp đã nổ súng đánh chiếm Sài Gòn, mở đầu quá trình xâm lược nước ta lần thứ hai. Ủy ban nhân dân Nam Bộ ra lời kêu gọi Nhân dân Nam Bộ kiên quyết đứng lên chống lại giặc Pháp, bảo vệ nền độc lập và cuộc sống tự do.

Ngày 25/10/1945, Xứ ủy đã họp Hội nghị mở rộng tại Thiên Hộ (Cái Bè, Mỹ Tho). Hội nghị đã bàn nhiều vấn đề chuẩn bị kháng chiến lâu dài. Cách mạng vừa mới thành công, nhưng Nhân dân Long Xuyên, Châu Đốc đã cảm nhận thật rõ giá trị của cuộc sống tự do trong một quốc gia độc lập. Vì vậy, cùng với đồng bào cả nước, Nhân dân An Giang sẵn sàng hy sinh xương máu để bảo vệ những gì đã giành được.

Thực hiện sự chỉ đạo của Xứ ủy Nam Bộ, Đảng bộ Long Xuyên, Châu Đốc đã lãnh đạo việc thành lập Ủy ban kháng chiến trong toàn tỉnh. Các đơn vị vũ trang được củng cố lại.

Tháng 11/1945, quân Pháp tiến chiếm một số tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long. Đầu tháng 01/1946, quân Pháp cho tàu chiến từ Cần Thơ lên bắn phá, mở đường thăm dò. Phân đội vũ trang tỉnh do đồng chí Bùi Văn Danh chỉ huy, đã phục kích từ Mỹ Thới đến Mỹ Phước. Khi tàu địch lọt vào trận địa ở vàm Cái Sao. Ta nổ súng tấn công tàu bị thiệt hại buộc chúng phải tháo chạy. Ngày 09/01/1946, sau thời gian bắn phá, thăm dò, quân Pháp chính thức đánh chiếm tỉnh lỵ Long Xuyên.

Tỉnh ủy Long Xuyên chủ trương rút đại bộ phận cán bộ và lực lượng vũ trang về căn cứ U Minh nhằm bảo tồn lực lượng. Ta chỉ để lại một bộ phận nhỏ hoạt động bí mật làm nòng cốt để giữ vững phong trào. Sau đó, Pháp tiến quân về hướng Châu Đốc. Nhưng chúng vấp phải sự chống trả quyết liệt. Đến 20/01/1946, bọn chúng mới chiếm được Châu Đốc, cuối tháng 01/1946, đánh chiếm các quận Tân Châu, Hồng Ngự, Tịnh Biên, Tri Tôn. Riêng quận Chợ Mới (Long Xuyên), dân quân du kích đã liên tục đánh trả địch suốt một tuần lễ mãi đến ngày 03/02/1946, Pháp mới chiếm được quận lỵ, tái chiếm toàn bộ hai tỉnh Long Xuyên, Châu Đốc.

Quân và dân Long Xuyên, Châu Đốc đã góp phần cùng quân dân các tỉnh Nam Bộ làm thất bại kế hoạch "Chiếm lại Nam Kỳ trong vòng 18 ngày" của LơcLéc (Leclerc).

Theo lệnh của Tỉnh ủy, các cơ quan của tỉnh Châu Đốc đã rút về U Minh và về Tân Châu, Hồng Ngự để lập căn cứ kháng chiến. Trong vùng tạm chiếm, cơ sở và cán bộ ta đã rút vào hoạt động bí mật.

Đến cuối tháng 6/1946, hầu hết các huyện, xã đều có lực lượng du kích dân quân tự vệ. Các đội quân này đã kết hợp tốt với bộ đội chống càn, đánh lẻ, trừ gian. Trung bình mỗi xã có từ 1 tiểu đội đến 1 trung đội dân quân tự vệ, trang bị tuy còn thô sơ nhưng cũng đã có bước trưởng thành trong chiến đấu và bám trụ trên địa bàn.

Chín năm kháng chiến là thử thách khốc liệt đối với cả nước cũng như đối với Đảng bộ và Nhân dân Long Xuyên - Châu Đốc. Trong cuộc kháng chiến thần thánh này, Đảng bộ và quân dân trong tỉnh đã đạt được nhiều thành tích vẻ vang. Từ thực tiễn lãnh đạo kháng chiến, Đảng bộ đã rút được những kinh nghiệm quý báu, thiết thực. Trong đó: Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng bộ là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến ở địa phương. Công tác xây dựng Đảng phải luôn là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của Đảng bộ. Thứ hai là phải ra sức phát huy truyền thống yêu nước, tập hợp, đoàn kết các tầng lớp nhân dân, dân tộc, tôn giáo vào Mặt trận, tạo ra sức mạnh tổng hợp. Chính nhờ sức mạnh này mà Đảng bộ và quân dân trong tỉnh đã bền bỉ chiến đấu vượt qua những gian lao, thử thách đi đến chiến thắng vẻ vang. Ba là phải kết hợp vừa kháng chiến, vừa xây dựng thực lực kháng chiến. Bốn là phải ra sức giữ vững ổn định biên giới, tình đoàn kết chiến đấu giưa 2 dân tộc Việt Nam - Campuchia. Năm là, không ngừng củng cố chính quyền dân chủ nhân dân, đáp ứng yêu cầu của cuộc kháng chiến.

Những vấn đề được rút ra từ chín năm kháng chiến là những bài học quý giá cho Đảng bộ, quân dân trong tỉnh. Những kinh nghiệm vô giá ấy tiếp tục được bổ sung, làm phong phú thêm trong giai đoạn lịch sử kế tiếp. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, quân dân trong tỉnh dũng cảm, kiên cường vượt qua gian khổ, viết tiếp những trang sử mới đầy hào hùng.

Chợ_Long_Xuyên_bên_sông_Hậu.jpg

Chợ Long Xuyên ngày nay

Kháng chiến chống Mỹ (1954-1975)

Thực hiện sự chỉ đạo của Xứ ủy Nam bộ (Trung ương cục giải thể tháng 10/1954 thành lập Xứ ủy), các cấp ủy Đảng tỉnh Long Châu Hà, Long Châu Sa tiến hành khẩn trương và bí mật sắp xếp tổ chức, phân công cán bộ. Hầu hết cán bộ Đảng và dân vận các cấp đều được phân công ở lại. Đến giữa tháng 10/1954, Tỉnh ủy, Huyện ủy bí mật được thành lập xong theo đơn vị hành chánh của ngụy quyền ở 4 tỉnh Long Xuyên, Châu Đốc, Sa Đéc, Rạch Giá.

Thực hiện sự chỉ đạo của Xứ ủy Nam Bộ, hai tỉnh Long Châu Sa và Long Châu Hà được giải thể để lập lại hai tỉnh Long Xuyên và Châu Đốc theo địa giới hành chánh của chính quyền Sài Gòn. Sau khi sắp xếp, ổn định tổ chức, nhiệm vụ chủ yếu của Tỉnh ủy Long Xuyên, Châu Đốc là bám đất, bám dân, lãnh đạo quần chúng đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Genève, đòi dân sinh, dân chủ để bảo vệ thành quả kháng chiến; đẩy mạnh công tác binh chánh vận tranh thủ đưa người vào hàng ngũ địch; xây dựng cơ sở gắn với phong trào đấu tranh chính trị, chuẩn bị lực lượng về mọi mặt, chủ động đối phó với địch dù chúng có thi hành hay phá hoại Hiệp định Genève...

Các tổ chức và cán bộ của Long Xuyên, Châu Đốc lần lượt chuyển về vùng tạm chiếm, đô thị vừa tránh mũi nhọn kẻ thù chỉa vào vùng kháng chiến, vừa bám được dân, nhất là quần chúng tín đồ Hòa Hảo và người Khmer. Từ đó, tuyên truyền, giáo dục giác ngộ căm thù Diệm đàn áp tín đồ, đàn áp người Khmer và hướng dẫn quần chúng đấu tranh đòi quyền lợi. Phần lớn cán bộ, đảng viên được tăng cường cho vùng yếu, vùng đô thị.

Thực hiện sự chỉ đạo của Xứ ủy, giữa năm 1957 tỉnh Long Xuyên, Châu Đốc họp liên tịch để lập tỉnh An Giang theo địa giới hành chính của địch. Đến cuối năm 1957, tình hình vùng núi gặp nhiều khó khăn vì sự lùng sục của quân ngụy lẫn hoạt động của bọn cướp làm cản trở việc ăn ở, đi lại của cán bộ. Đồng chí Vũ Hồng Đức (Bí thư Huyện ủy) phải chỉ đạo đồng chí Lâm Minh Thái (Phó Bí thư Huyện ủy) bí mật tập hợp anh em lại, moi súng lên. Lần này đội võ trang mang tên "Quân đội Thất Sơn" để ngụy trang, quân số có 24 người tập trung ở khu vực Núi Cấm với nhiệm vụ làm cái "thế" cho công tác vận động quần chúng và trấn áp bọn ác ôn, bảo vệ căn cứ.

Ngay từ đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ, khi chuyển phương châm và địa bàn hoạt động, Đảng bộ luôn xác định đúng vai trò to lớn của quần chúng nhân dân dù đại đa số sống ở vùng bị tạm chiếm trong những năm chống Pháp, và là tín đồ các tôn giáo. Tư cách và phẩm chất cao quý của người cách mạng một lòng vì nước, vì dân đã tạo nên niềm tin và lòng cảm phục trong các tầng lớp nhân dân, khiến đồng bào hết lòng hết dạ nuôi chứa, che giấu, bảo vệ cán bộ, đảng viên dù biết có thể sẽ lâm vào cảnh tù đày, chết chóc… "Căn cứ nhân tâm" trong thời kỳ này đã chứng minh chân lý: "Một khi Đảng vì lợi ích thật sự của Nhân dân, của Tổ quốc thì Nhân dân tin Đảng, theo Đảng, bảo vệ Đảng tới cùng, tính mạng cũng không màng kể chi tài sản, tiền bạc".

Vấn đề lực lượng vũ trang gắn liền với căn cứ, với sự tồn tại của phong trào cách mạng của Bảy Núi, đã mang lại cho Đảng bộ An Giang những kinh nghiệm quý báu, đồng thời tạo ra những tiền đề cần thiết cho Bảy Núi trở thành căn cứ địa vững chắc và lâu dài của tỉnh và nhiều huyện sau này.

Ngay sau khi tiếp thu nội dung tinh thần Nghị quyết 15 của Trung ương, trong tháng 8/1959 Tỉnh ủy An Giang đã họp đánh giá tình hình, kiểm điểm lực lượng và đề ra một số nhiệm vụ và biện pháp cấp bách, trong đó đặc biệt chú trọng đến việc xây dựng lực lượng vũ trang các cấp gắn liền với việc xây dựng các căn cứ địa, tạo thế liên hồn từ sông Tiền qua đến Bảy Núi.

Ngay-mua-ag-2.jpg

Vào mùa thu hoạch lúa hôm nay

Suốt 21 năm kháng chiến chống Mỹ, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, Nhân dân An Giang đã chịu đựng bao gian khổ, hiểm nguy quyết tâm bám giữ đất, giữ làng kiên cường đánh bại các âm mưu, thủ đoạn thâm độc của kẻ thù để cùng cả nước đi đến ngày toàn thắng. Thắng lợi của cuộc kháng chiến trường kỳ trên một địa bàn biên giới, dân tộc, tôn giáo rất phức tạp đã mang lại nhiều kinh nghiệm quý báu mà qua đó, thể hiện đầy đủ và sinh động sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng bộ cũng như tinh thần yêu nước cao độ của các tầng lớp nhân dân An Giang.

Kết quả đó trước nhất là bắt nguồn từ tính chủ động sáng tạo của Đảng bộ trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chiến lược của Đảng qua những chủ trương, biện pháp sát hợp với tình hình thực tế của địa phương; nó là nhân tố quyết định đưa phong trào cách mạng An Giang phát triển liên tục, vững vàng vượt qua những thời điểm khó khăn, ác liệt nhất.

Vấn đề bạo lực cách mạng luôn được Đảng bộ quán triệt một cách sâu sắc. Ngay khi lãnh đạo cuộc đấu tranh chính trị đòi thi hành Hiệp định, đòi dân sinh, dân chủ rầm rộ An Giang là một trong những điểm nổi bật ở Nam Bộ vẫn tìm cách duy trì lực lượng vũ trang bằng nhiều hình thức để làm nòng cốt xây dựng lực lượng vũ trang chuẩn bị cho nhiệm vụ cơ bản lâu dài.

Nắm vững quan điểm quần chúng, Đảng bộ đã đề ra những chủ trương, biện pháp về công tác tôn giáo, dân tộc một cách chủ động, linh hoạt phù hợp với đặc điểm phức tạp của địa bàn, xây dựng được khối đồn kết tồn dân cùng chống Mỹ - ngụy.

Vấn đề biên giới cũng được Đảng bộ quan tâm thực hiện tốt nghĩa vụ quốc tế với tinh thần đòan kết, hỗ trợ. Đảng bộ chủ trương cho các ngành, các cấp ra sức xây dựng lực lượng chính trị, vũ trang các mặt cho bạn và cố gắng kềm chế tránh xảy ra những xung đột lớn khi Khmer Đỏ lộ dần bộ mặt phản bội.

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở An Giang còn là kết tinh biết bao công lao xương máu của đồng bào, đồng chí chấp nhận hy sinh, tù đày, gian khổ, kiên cường bám giữ đất, bám dân, quyết tâm chiến đấu vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Bên cạnh những người trực tiếp cầm súng đánh địch, còn biết bao con người phục vụ tuyến sau với những công việc âm thầm, lặng lẽ nhưng cũng đầy gian khổ, hy sinh. Đó là những người chiến sĩ nội tuyến, binh vận sống cuộc đời hai mặt trong lòng kẻ thù mà có lúc mạng sống và sự tư do chỉ được tính từng giờ, từng ngày mà đến lúc này còn một số người vẫn chưa được xác nhận. Đó là những người cán bộ du kích xã, ấp vùi mình bên bờ ruộng, mé vườn, nằm hầm bí mật... kiên cường bám trụ sống chết với quê hương. Nhiều chiến sĩ quê ở những vùng miền khác đã chiến đấu và lập nên chiến công hiển hách trên đất An Giang, và không ít người đã anh dũng ngã xuống.

Hơn tất cả, đó là công lao của các tầng lớp nhân dân An Giang luôn sẳn sàng hy sinh tính mạng, tài sản của mình trong quá trình nuôi chứa, che giấu, bảo vệ cán bộ cách mạng, đồng thới đấu tranh trực diện với kẻ thù... Biết bao người mẹ, người chị, người cha âm thầm hy sinh cả cuộc đời cho đàn con, đàn em tứ xứ mà không bao giờ nghĩ gì đến sự đền đáp. Nhiều tập thể và cá nhân vinh dự được Chủ tịch nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân./.

TRUNG THÀNH

Rà soát, ưu tiên các nhiệm vụ trọng tâm của hoạt động tuyên truyền 190 năm thành lập tỉnhTinNgọc HânRà soát, ưu tiên các nhiệm vụ trọng tâm của hoạt động tuyên truyền 190 năm thành lập tỉnh/SiteAssets/Hop-tieuban-tuyentruyen-4.jpg
25/05/2022 11:00 SANoĐã ban hành

(TUAG)- Sáng 25/5, Tiểu ban Tuyên truyền Kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang (1832-2022) tổ chức cuộc họp để rà soát, thống nhất nội dung, đề xuất kinh phí thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền Kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh. Đồng chí Thái Thúy Xuân, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy chủ trì cuộc họp, đồng chí Nguyễn Thị Ngọc Lan, Phó Giám đốc Sở Tài chính cùng dự họp.

Hop-tieuban-tuyentruyen-2.jpg

Hop-tieuban-tuyentruyen-1.jpg

Tại cuộc họp, từng  đơn vị  thành viên Tiểu ban Tuyên truyền đã rà soát thông tin đề xuất, bổ sung, điều chỉnh các nội dung tuyên truyền 190 năm, đồng thời đề nghị Trưởng Tiểu ban Tuyên truyền, Sở Tài chính sớm xét duyệt kinh phí để các đơn vị thực hiện và hoàn thành nhiệm vụ tuyên truyền. Đồng chí Nguyễn Thị Ngọc Lan, Phó Giám đốc Sở Tài chính góp ý, trao đổi thống nhất cách thức trình và thẩm định kinh phí cho các đơn vị Tiểu ban Tuyên truyền.

Hop-tieuban-tuyentruyen-3.jpg

Kết luận cuộc họp, trên cơ sở góp ý của đại diện lãnh đạo Sở Tài chính, đồng chí Thái Thúy Xuân, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy đề nghị các thành viên Tiểu ban Tuyên truyền căn cứ chức năng, nhiệm vụ được phân công, tranh thủ rà soát các đầu công việc, đề xuất những nhiệm vụ ưu tiên, cấp bách để Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy tổng hợp, thống nhất với Sở Tài chính bố trí kinh phí thực hiện trên tinh thần tập trung ưu tiên những nhiệm vụ trọng tâm, cần thiết.

 Đồng chí lưu ý, trong công tác tuyên truyền, cần chủ động, linh hoạt, nghiên cứu đổi mới nội dung, hình thức tuyên truyền theo hướng thiết thực, hiệu quả, đa dạng, sinh động, thuyết phục. Công tác tuyên truyền cần bám sát chỉ đạo, định hướng của Tỉnh ủy, đảm bảo mục đích, yêu cầu đề ra.

Theo kế hoạch của Tiểu ban Tuyên truyền, công tác tuyên truyền kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang được tiến hành theo 3 đợt: Đợt 1 từ tháng 4 đến tháng 8/2022; đợt 2 từ tháng 9 đến tháng 11/2022 (cao điểm tuyên truyền); đợt 3 là tuyên truyền sau Lễ kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang và Hội nghị Xúc tiến đầu tư tỉnh An Giang năm 2022. /.

NGỌC HÂN

Họp đánh giá công tác chuẩn bị kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An GiangAn Giang 190 nămTinBAGHọp đánh giá công tác chuẩn bị kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang/SiteAssets/Hop-190-nam-1.jpg
24/05/2022 4:00 CHNoĐã ban hành

Chiều 24/5, Ban Chỉ đạo Tổ chức các hoạt động kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang đã tổ chức cuộc họp ban chỉ đạo và các tiểu ban chuyên môn nhằm đánh giá kết quả thực hiện các hoạt động, sự kiện chào mừng kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang (1832-2022); báo cáo công tác chuẩn bị các hoạt động, sự kiện chào mừng trong thời gian tới. Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy An Giang Lê Hồng Quang; Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh An Giang Lê Văn Nưng; Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh An Giang Nguyễn Thanh Bình chủ trì cuộc họp.

Hop-190-nam-1.jpg

Bí thư Tỉnh ủy An Giang Lê Hồng Quang trao đổi tại cuộc họp

Hop-190-nam-6.jpg
Các đại phát biểu ý kiến tại cuộc họp

Tại cuộc họp, đại diện các tiểu ban: Tuyên truyền; Nội dung; Hậu cần, Lễ tân, Tài chính; An ninh trật tự đã báo cáo các nội dung, phần việc theo nhiệm vụ được phân công.

Theo đánh giá, đến nay, tỉnh đã tổ chức xong nhiều sự kiện trọng điểm chào mừng kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang, tạo không khí vui tươi, phấn khởi trong quần chúng nhân dân. Trong đó, đã tổ chức thành công lễ khởi công cầu Châu Đốc (nối bờ Châu Đốc – Tân Châu, thay thế phà Châu Giang hiện hữu); Lễ hội Văn hóa truyền thống huyện Thoại Sơn lần thứ XXI năm 2022 - kỷ niệm 200 năm danh thần Thoại Ngọc Hầu dựng bia, lập làng Thoại Sơn (1822-2022); Ngày hội mắm Châu Đốc, An Giang - Đặc sản các vùng miền năm 2022; khai hội Lễ hội cấp quốc gia Vía Bà Chúa Xứ núi Sam.

Các đơn vị đang khẩn trương chuẩn bị tổ chức Hội thảo 190 năm thành lập tỉnh An Giang (do Tỉnh ủy chủ trì), dự kiến tháng 6/2022; khai mạc Đại hội Thể dục - thể thao tỉnh và Tuần lễ Văn hóa – Thể thao và Du lịch, dự kiến tháng 10/2022. Đầu tháng 11, tỉnh kết hợp tổ chức Lễ kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang và Hội nghị Xúc tiến đầu tư tỉnh An Giang năm 2022 vào 2 ngày liên tục. Trong Hội nghị xúc tiến đầu tư sẽ có nội dung công bố Quy hoạch tỉnh An Giang giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Lễ kỷ niệm và Hội nghị xúc tiến đầu tư là 2 hoạt động quan trọng, dự kiến có sự tham gia của lãnh đạo Trung ương, các bộ, ngành, đại diện các tỉnh, thành phố, các tập đoàn, doanh nghiệp lớn…

Kết luận cuộc họp, Bí thư Tỉnh ủy An Giang Lê Hồng Quang yêu cầu các thành viên ban chỉ đạo, các tiểu ban chuyên môn tập trung thực hiện tốt các nhiệm vụ được phân công cho các hoạt động kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang; chú ý lồng ghép, gắn kết hoạt động ở các địa phương với hoạt động của tỉnh. Đối với công tác tổ chức, phân công rõ trách nhiệm tổ chức Hội nghị Xúc tiến đầu tư tỉnh An Giang năm 2022, đặc biệt là hiệu quả thu hút đầu tư, xem đây là nội dung rất quan trọng trong chuỗi sự kiện. Trong công tác tuyên truyền, chú ý đẩy mạnh tuyên truyền, quảng bá, giới thiệu hình ảnh, lịch sử, vùng đất, con người An Giang trên các phương tiện thông tin đại chúng của tỉnh và Trung ương.

Đối với Lễ kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang và Hội nghị Xúc tiến đầu tư tỉnh An Giang năm 2022, cần xây dựng sớm kịch bản, nội dung chương trình; lên danh sách khách mời, chuẩn bị tốt khâu hậu cần, khánh tiết, đảm bảo chu đáo, an toàn; tổ chức trên tinh thần tiết kiệm, hiệu quả, thiết thực…

NGÔ CHUẨN

An Giang: Quá trình mở đất và giữ đất dưới thời nhà Nguyễn (1757 - 1867)An Giang 190 nămBài viếtP.NAn Giang: Quá trình mở đất và giữ đất dưới thời nhà Nguyễn (1757 - 1867)/SiteAssets/Bando-Namkyluctinh-1836.jpg
23/05/2022 4:50 CHNoĐã ban hành

(TUAG)- Sách Đại Nam nhất thống chí viết về An Giang như sau: "Xưa là đất Tầm Phong Long, năm Đinh Sửu thứ 19 (1757) đời Thế Tông, quốc vương Chân Lạp Nặc Tôn dâng đất nầy, đặt làm đạo Châu Đốc, vì đất ấy có nhiều chỗ bỏ hoang, đầu đời Gia Long mộ dân đến ở, gọi là Châu Đốc Tân Cương". Trong thời kì các chúa Nguyễn và vua Nguyễn, quá trình mở đất và giữ đất được chia thành 2 gia đoạn: Thời kỳ các chúa Nguyễn (1757 - 1802); Thời kỳ triều Nguyễn (1802 - 1867).

Thời kỳ các chúa Nguyễn (1757 - 1802)

1- Xác lập chủ quyền vùng đất An Giang

Vào thế kỷ XVII, cuộc xung đột Trịnh - Nguyễn diễn ra tàn khốc, nhân dân đói khổ cùng cực. Họ rời bỏ quê hương làng mạc đi vào phía Nam tìm kế sinh nhai, trong đó chủ yếu là nông dân nghèo ở miền Trung.

Vùng đất định cư đầu tiên là Biên Hòa, Gia Định. Về sau, lưu dân đến định cư dọc sông Cửu Long, khai phá ruộng đất ven theo bờ sông hay cù lao. Năm 1679, một số quan lại người Hán có tư tưởng "phản Thanh phục Minh" đem 3.000 quân cùng gia đình đến Đàng Trong xin cư trú. Chúa Nguyễn cho họ trú ngụ ở Mỹ Tho và Đồng Nai. Năm 1680, Mạc Cửu cùng 200 người đến cửa biển Péam (còn gọi là Mang Khảm, tức Hà Tiên) lập phố chợ, chiêu mộ lưu dân, lập được 7 thôn. Đến năm 1698, Nguyễn Hữu Cảnh vâng lệnh chúa Nguyễn vào Nam kinh lược, lập phủ Gia Định với hai huyện Phước Long và Tân Bình.

Lúc này, vua Chân Lạp là Nặc Thu dựa vào Xiêm tìm cách chống phá chúa Nguyễn. Dân buôn bán trên sông Cửu Long thường bị cướp bóc. Tháng 7 năm 1699, chúa Nguyễn Phúc Chu sai Nguyễn Hữu Cảnh cùng Phạm Cẩm Long đem binh từ Quảng Nam, Bình Khang (Khánh Hòa) hiệp cùng quân lưu thủ Nguyễn Hữu Khánh ở Trấn Biên kéo quân vào Tân Châu đánh dẹp. Ngày 16 tháng 5 (âm lịch) năm Canh Thìn (1700), trên đường về Gia Định, ông mất ở Sầm Giang (Rạch Gầm, Mỹ Tho), thọ 51 tuổi.

Nguyễn Hữu Cảnh là người có công mở mang vùng đất Nam Bộ. Công đức của Ông được nhân dân An Giang mến mộ và lập miếu thờ ở Chợ Mới, Châu Đốc, Long Xuyên...

Từ 1705 đến 1757, quân Xiêm thường xuyên cướp phá Hà Tiên. Trước tình thế đó, từ năm 1708, Mạc Cửu xin thần phục chúa Nguyễn. Năm 1714, chúa Nguyễn Phúc Chu chấp thuận và phong cho Mạc Cửu chức Tổng binh cai quản Hà Tiên. Năm 1755, Nặc Nguyên quấy phá vùng Gia Định, chúa Nguyễn Phúc Khoát sai Nguyễn Cư Trinh điều khiển quan binh đánh dẹp. Nặc Nguyên phải nhờ Mạc Thiên Tứ xin cầu hòa chúa Nguyễn.

Tình hình Chân Lạp chưa yên do cuộc tranh giành quyền lực trong nội bộ vương triều. Nặc Tôn được chúa Nguyễn giúp đỡ trở lại nắm quyền ở Chân Lạp. Để tạ ơn chúa Nguyễn, năm 1757, Nặc Tôn hiến đất Tầm Phong Long. Nguyễn Cư Trinh lấy đất Tầm Phong Long tức "Xứ Sa Đéc đặt làm đạo Đông Khẩu, xứ cù lao ở Tiền Giang đặt làm đạo Tân Châu, xứ Châu Đốc ở Hậu Giang đặt làm đạo Châu Đốc. Đem binh dinh Long Hồ đến trấn thủ chặn chủ yếu hai nơi địa đầu"[1]. Thời gian này, Mạc Thiên Tứ xin chúa Nguyễn lập đạo Kiên Giang (Rạch Giá) và đạo Long Xuyên (Cà Mau) thuộc Hà Tiên.

Thế là trong vòng hơn nửa thế kỷ (1698 - 1757), về cơ bản chúa Nguyễn đã thiết lập xong bộ máy hành chánh trên vùng đất Nam Bộ. Người Việt và các dân tộc anh em đoàn kết, gắn bó trong công cuộc bảo vệ và xây dựng vùng đất mới.

2- Cư dân vùng đất mới

Ngay khi Nguyễn Cư Trinh đến An Giang, ông đã thực hiện chính sách khẩn hoang. Sử triều Nguyễn ghi nhận một số đồn, bảo thủ ở An Giang thời bấy giờ: thủ Đông Xuyên (đặt tại rạch Long Xuyên), thủ Vĩnh Hùng (đặt tại Hồng Ngự), thủ Thuận Tấn (đặt tại Vàm Nao). Việc khai khẩn chung quanh các đồn, bảo của Nguyễn Cư Trinh nhằm tự túc lương thực cho binh lính, giảm bớt một phần gánh nặng cho chính quyền, cũng tạo điều kiện cho "các thôn ấp lẻ tẻ đó đây bấy giờ cũng được lập lên chung quanh các doanh trại, các đồn, bảo, bờ rạch, ven sông, khu tập trung là Châu Đốc, Hồng Ngự, Tân Châu và Sa Đéc"[2].

Khi đặt chân đến An Giang xưa, lưu dân thường chọn những khu đất tương đối cao ráo, đủ nước sinh hoạt, trồng trọt, chăn nuôi và đi lại thuận lợi. Nhưng do điều kiện khí hậu khắc nghiệt thường gây dịch bệnh, lại phải chống chọi với thú dữ nên hiệu quả việc khai phá chưa cao. Cư dân mới chưa được "an cư, lạc nghiệp" thì cuộc chiến tranh giữa Tây Sơn với Nguyễn Ánh diễn ra quyết liệt. Nhân đó, quân Xiêm sang cướp phá, giết chóc dân ta (1784), đúng như sử chép: "Quân Xiêm tàn bạo, đến đâu là cướp phá bóc lột đến đấy, dân ta oán rất nhiều"[3].

Dưới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát (1750) chính sách cấm đạo gay gắt. Một số giáo sĩ, giáo dân bị giết, bị trục xuất. Nhiều người từ miền Trung chạy vào Nam lánh nạn. Nhiều tín đồ Thiên chúa giáo đến đất An Giang, trú ngụ ở vùng Cái Đôi, cù lao Giêng (1778), Bò Ót (còn gọi là Lò Ót, nay thuộc huyện Thốt Nốt, Cần Thơ) (1779). Họ khai hoang lập ấp và mở giáo đường, xây dựng họ đạo.

Phía Hậu Giang, dân sống rải rác ở Năng Gù, Mỹ Đức, Châu Đốc. Năm 1783, Dương Văn Hóa lập thôn Bình Lâm (nay thuộc xã Bình Thủy, Châu Phú) bao quát cù lao Năng Gù xưa kia. Trịnh Hoài Đức đến đây ghi chép: "Cù lao Năng Gù, phía trước hạ khẩu phiếm hào thuộc Hậu Giang, dài chín dặm có thôn Bình Lâm ở đấy, nơi đây rừng tre rậm rịt, ao cá dầy đặc, dân ở thượng lưu sông Hậu Giang, trước hết là nhờ tre cây, cá tôm nơi ấy, sau là trồng bông vải, sau nữa là lúa thóc cung nhật dụng"[4].

Dọc sông Tiền "khi làm lúa thì bừa ruộng vải lúa mà khi thu hoạch bội đến phần trăm. Còn trong vườn thì có cau trầu, dưa quả, dầu gai, mương ngòi thì đầy cá tôm, lươn trạch, những vật ấy đã làm gia dụng, khỏi mua nơi chợ, dân ra trước vườn sau ruộng đều có sản nghiệp làm ăn quanh năm, quả là một nơi trù phú"[5]. Chỉ tính châu Định Viễn (gồm một phần Vĩnh Long, An Giang) có ruộng đất 7.000 sở, gieo một hộc thóc giống thì thu hoạch 300 hộc.

Cộng đồng dân tộc buổi ban sơ giữa người Việt, người Khmer trở nên gắn bó nhau nơi đất An Giang. Nơi ven sông Hậu, "người Kinh, người Khmer nhà ở xen lẫn nhau. Họ cùng nhau khai khẩn ruộng cỏ, nuôi cá bán tươi, hoặc muối mắm và phơi măng khô, đốn tre, đem bán làm kế sinh nhai"[6].

Đất An Giang là điểm dừng chân cuối cùng của lưu dân người Việt trên đồng bằng sông Cửu Long. An Giang thường bị chiến tranh, dịch bệnh... nhưng vẫn là vùng đất đầy sức sống. Sức sống đó bắt nguồn từ truyền thống đoàn kết đấu tranh, mở đất và giữ đất của người Việt Nam. Công cuộc khẩn hoang dù có hạn chế, thành quả lao động chưa nhiều, nhưng bước đầu đã tạo được những tiền đề cần thiết cho giai đoạn khẩn hoang lập ấp qui mô hơn dưới thời triều Nguyễn.

Bando-Namkyluctinh-1836.jpg 

Thời kỳ triều Nguyễn (1802 - 1867)

1- Chính sách khẩn hoang lập làng

a- Dưới thời Gia Long (1802 - 1820)

Năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi vua lấy hiệu Gia Long, thiết lập chính quyền phong kiến trung ương tập quyền chuyên chế cả nước. Ngay buổi đầu, vua Gia Long đã chủ trương đẩy mạnh khai hoang nhằm giải quyết các khó khăn kinh tế - xã hội. Bấy giờ, An Giang thuộc trấn Vĩnh Thanh, cư dân thưa thớt, đất hoang còn nhiều, nhất là vùng bờ tây sông Hậu.

Triều Nguyễn dùng nhiều biện pháp khác nhau. Các chỉ dụ 1802, 1803 khuyến khích mọi người đi khai hoang với thủ tục dễ dãi như cho tự chọn đất khẩn hoang, cho vay thóc giống... Đặc biệt, đối với vùng biên giới, có hai biện pháp: Chiêu mộ dân cường tráng, lập thành cơ đội để phòng thủ trong trấn và xúc tiến việc đào kênh. Trọng trách đó được giao cho vị công thần Nguyễn Văn Thoại[7]. Năm 1817, khi làm Trấn thủ Vĩnh Thanh, Nguyễn Văn Thoại kiến nghị lên vua Gia Long việc đào kênh Đông Xuyên, nối vàm rạch Đông Xuyên (tức Long Xuyên ngày nay) với ngọn Giá Khê (Rạch Giá). Triều đình chấp thuận.

Tháng 11 năm Đinh Sửu (1817), công việc đào kênh được chuẩn bị. Đến mùa xuân năm Mậu Dần (1818) thì tiến hành. Nguyễn Văn Thoại điều động dân Việt và Khmer khoảng 1.500 người, cấp cho gạo, tiền đến chặt cây cối, đào vét bùn lầy. Công việc tiến hành hơn một tháng là xong. Kênh nối liền từ Long Xuyên đến Rạch Giá, kích thước được mô tả bề ngang 12 tầm (30m), sâu 4 thước (2m), chiều dài một vạn hai nghìn bốn trăm mười tầm (khoảng 30km). Sau khi kênh đào xong, Nguyễn Văn Thoại cho vẽ họa đồ kênh và núi Sập dâng trình lên vua. Để ghi công lao Nguyễn Văn Thoại, Gia Long đặt tên cho kênh mới đào là Thoại Hà và Sạp Sơn (núi Sập) là Thoại Sơn. Sau đó, Nguyễn Văn Thoại được phong Thống chế án thủ đồn Châu Đốc, lãnh ấn Bảo hộ Cao Miên và kiêm Quản biên vụ trấn Hà Tiên. Năm 1822, Nguyễn Văn Thoại cho khắc và dựng bia Thoại Sơn.

Sau công cuộc đào kênh, triều đình khuyến khích dân chúng đến khai phá đất đai và lập thôn ấp.

Vùng biên giới từ Châu Đốc đến Hà Tiên giáp Chân Lạp (Campuchia) có vị trí chiến lược quan trọng ở biên giới Tây Nam nước ta. Cư dân thưa thớt, đường thông thương giữa Châu Đốc - Hà Tiên gặp không ít khó khăn khi xảy ra chiến tranh. Nhằm giải quyết yêu cầu quốc phòng thời bấy giờ, vua Gia Long cho đào kênh Vĩnh Tế.

Sau khi đào xong kênh Thoại Hà, Nguyễn Văn Thoại xúc tiến việc đào kênh từ Châu Đốc đến Hà Tiên. Tháng 9 năm 1819, Nguyễn Văn Thoại điều động dân binh khắp trấn Vĩnh Thanh đến Châu Đốc. Cùng với Nguyễn Văn Thoại còn có Chưởng cơ Tuyên trung hầu Nguyễn Văn Tuyên, huy động mỗi phiên 5.000 người, thêm 500 binh đồn Oai Viễn (Vĩnh Long). Nguyễn Văn Tồn huy động người Khmer, cũng mỗi phiên 5.000 người. Ngày 15 tháng 2 năm Kỷ Mão (1819) kênh đào được khởi công. Kênh đào bắt đầu từ bờ sông Châu Đốc, nằm phía phải hào thành Châu Đốc. Giai đoạn đầu, kênh đào được khoảng 63km. Dân binh được cấp 6 quan tiền và 1 vuông gạo mỗi tháng. Đến ngày 15 tháng 3 năm 1820, công việc bị đình trệ vì gặp khó khăn trong việc nuôi nhân công: "khoản tiền chi phí rất lớn, cho nên khiến thành thần Gia Định mua thóc của dân với giá phải chăng, để kho tàng được đầy đủ"[8]. Đến tháng 10/1822, Minh Mạng ra lệnh cho Tổng đốc Gia Định Lê Văn Duyệt bắt dân đinh Oai Viễn, Vĩnh Thanh, Định Tường, số người lên đến 39.000 người Việt và 16.000 người Khmer chia làm 3 phiên. Tháng 3 năm sau, do hạn hán công việc đình lại. Năm 1824, Minh Mạng chỉ dụ cho Nguyễn Văn Thoại tiếp tục tiến hành công việc bỏ dở. Tháng 2 năm ấy, trấn thủ Vĩnh Thanh Trần Văn Năng điều dân binh 25.000 người (trong đó có người Khmer) làm việc suốt ngày đêm. Tháng 5 năm 1824, kênh được hoàn thành. dài 205 dặm rưỡi (gần 100km). Tổng số người được huy động lên đến 80.000 lượt người.

Sau khi kênh hoàn thành, vua Minh Mạng ban lệnh đặt tên: Kênh Vĩnh Tế (phu nhân Nguyễn Văn Thoại là bà Châu Thị Tế). Tháng 9 năm 1828, bia Vĩnh Tế được dựng bên bờ sông. Đến năm 1836 triều đình Huế cho khắc hình kênh Vĩnh Tế vào Cao Đỉnh. Kênh Vĩnh Tế là công trình thủy lợi qui mô lớn nhất ở miền Nam thực hiện đầu thế kỷ XIX. Kênh Vĩnh Tế thực sự là công trình có tính chiến lược về kinh tế, quốc phòng, trong đó có sự đóng góp công lao to lớn của nhân dân An Giang.

Sau khi kênh Vĩnh Tế hoàn thành, Nguyễn Văn Thoại cho chiêu mộ dân đến lập ấp, lập được 20 thôn xã. Cùng thời gian ấy, ông cho đắp con lộ từ Châu Đốc đến núi Sam, sử cũ gọi là Thổ Yên dài 8 dặm, đắp cao 2 thước 3 tấc, mặt rộng 1 trượng 2 thước, chân rộng 3 trượng[9]. Số người được huy động 4.400 người làm việc suốt 7 tháng. Trên đường có 4 cây cầu gỗ. Năm 1828, Nguyễn Văn Thoại cho dựng bia "Tân lộ kiều lương" tại núi Sam[10]. Người Việt đến cư ngụ ở núi Sam ngày càng đông.

Ở giữa hữu ngạn sông Hậu, nhiều thôn mới được thành lập như Bình Trung, Bình Lâm (thuộc Châu Phú), Bình Đức, Mỹ Phước, Mỹ Thạnh (nay thuộc thành phố Long Xuyên). Dọc kênh Vĩnh Tế, các thôn mới lập: Vĩnh Tế, Thới Hưng, An Quới, Thân Nhơn, Vĩnh Bảo, Long Thạnh, Toàn Thạnh, Vĩnh Gia, Vĩnh Lạc. Tính đến năm 1819, toàn đất Gia Định Thành có 97.000 dân đinh, trong đó trấn Vĩnh Thanh có 37.000 người[11] chiếm 38,1% dân số Nam Bộ.

Nhìn chung, dưới triều Gia Long, nhờ chủ trương đào kênh đắp lộ của Thoại Ngọc Hầu, nên phần lớn đất cù lao, ven sông Hậu, bờ kênh Thoại Hà, Vĩnh Tế được khai khẩn. Đất đai canh tác được mở rộng, dân đinh đông hơn, thôn ấp thành lập khá hơn. So với nền kinh tế nông nghiệp cả nước lúc bấy giờ, An Giang có phần khởi sắc hơn.

b- Chính sách đồn điền dưới thời Minh Mạng, Thiệu Trị (1820 - 1847)

Ngoài những kết quả đạt được sau việc đào kênh Thoại Hà, Vĩnh Tế, còn rất nhiều vấn đề phức tạp cần phải giải quyết nhất là tình hình an ninh biên giới. Triều Nguyễn cho rằng:"cây cối rậm rạp, thuận cho trộm cướp tụ tập". Quân Xiêm lăm le xâm lược cướp phá. Lời tâu của Tôn Thất Phan về việc tổ chức khai hoang và xây dựng biên phòng: "Nay nên cho đóng quân đồn điền, dựng kho chứa thóc ở địa bàn tỉnh ấy (tức An Giang, Hà Tiên), một là dự trù quân lương cho đủ, hai là để giữ vững biên phòng, rồi nhân ấy chiêu tập dân phiêu bạt, xây dựng thôn ấp, đây là điểm mấu chốt nhất cho việc chỉnh đốn công việc ngoài biên giới ngày nay"[12] đã nói lên yêu cầu cấp bách của công cuộc bảo vệ biên cương.

Ngay khi Minh Mạng lên ngôi, Tổng trấn Gia Định Lê Văn Duyệt tấu trình xin dựng một cái kho ở Châu Đốc (còn gọi là kho Vĩnh Viễn). Ngày 16 tháng 2 năm 1821, Minh Mạng chuẩn y kho Châu Đốc để chứa tiền gạo cấp phát cho viên quân lưu trú và dự trữ quân lương.

Năm 1821, Nguyễn Văn Thoại khôn khéo chiêu mộ dân địa phương, những người buôn bán đến Châu Đốc lập làng, mở chợ. Dân đinh tăng lên, ruộng đất mở mang. Bấy giờ, tình hình biên phòng có biến động nên triều đình chuyển số dân đồn điền vào ngạch lính, đồn điền biến thành các phiên hiệu quân đội. Hình thức đồn điền chỉ tái lập lại kể từ năm 1828. Minh Mạng khuyến khích dân đến vùng đất mới để khai hoang bằng cách miễn thuế đinh, thuế điền ba năm.

Trên thực tế, số diện tích khai hoang không đáng kể. Công việc rất khó khăn, do thiếu vốn và công cụ, thời tiết khí hậu lại khắc nghiệt, nên số người đến tuy nhiều; nhưng số người bỏ đi cũng không ít. Sau ba năm, Minh Mạng phải gia hạn thuế nhiều lần.

Năm 1820, quan Thống đốc người Chăm ở Cao Miên tên Saet A Bubaca bị tố cáo là phiến loạn, bị vua Cao Miên xử tử ở Ou dong. Con ông và một số người khác bị cầm tù. Nhờ sự che chở của người Mã Lai ở Ou dong, họ trốn thoát về và trú ngụ ở Châu Đốc (người Mã Lai gốc gác ở Malacca, còn người Chăm phần lớn từ Bình Thuận) được chính quyền sở tại chọn Châu Giang và Khánh Hòa cho họ định cư [13]. Năm 1840, phần lớn số thân binh người Chăm sau khi giải ngũ đến trú ngụ ở Cù lao Katambon (Cỏ Tầm Bon). Họ tổ chức làm phiên đội đồn điền, do quan Hiệp Quản người Chăm Châu Giang cai quản.

Giữa làng Bình Lâm và rạch Cái Dầu có thôn trưởng Nguyễn Long Hưng kê khai đất công thổ trong làng là 23 khoảnh. Nhưng thực tế chỉ khai thác được 5 khoảnh, 18 khoảnh còn hoang, xin giao lại cho 5 người dân trưng khẩn, mỗi người một mẫu "làng Bình Đức dân xin khẩn thêm 3 khoảnh đất là 3 mẫu ruộng gò 3 khoảnh đất cao dành làm nghĩa địa, 3 mẫu trồng màu"[14].

Năm 1840, diện tích phục hóa ở An Giang được 260 mẫu. Riêng ở Châu Đốc khai khẩn thêm 7.700 mẫu. Số đất chưa khai khẩn còn 200 mẫu, đất ruộng cỏ rậm  lầy  lội [15].

Những năm tiếp theo, thôn Bình Lâm có nhóm giáo dân theo đạo Thiên Chúa đến khai khẩn ruộng đất. Năm 1845, Linh mục Jacques Dương về lập họ đạo Năng Gù, là họ đạo lớn nhất ở An Giang lúc bấy giờ.

c- Chính sách đồn điền dưới thời Tự Đức (1848 - 1867)

Do thực trạng đất đai ở An Giang còn bị bỏ hoang nhiều, vua Tự Đức đã ban bố nhiều biện pháp khuyến khích khẩn hoang, tổ chức lại đồn điền và lập ấp. Nơi biên giới giáp Chân Lạp (Campuchia) đất rộng, dân thưa nên cần lực lượng bố phòng. Nơi đây cũng chứa đựng một tiềm năng kinh tế cần thiết để bảo vệ biên giới.

Năm 1849, vua Tự Đức cử Nguyễn Tri Phương làm Kinh lược sứ Nam Kỳ. Khi làm Tổng đốc An Giang, Nguyễn Tri Phương kiến nghị với Triều đình Huế cho phép dân chúng đến An Giang khẩn hoang để sinh kế. Tính đến tháng 5 năm 1851, số ruộng bỏ hoang ở An Giang lên đến 44.784 mẫu. Trước thực trạng như vậy, Nguyễn Tri Phương tấu trình về nhân lực khai khẩn "Tỉnh An Giang tiếp giáp với nước Miên, đất bỏ hoang còn nhiều, xin từ nay trở đi, phàm những tên can tội trộm cắp, cướp vặt và các tên du côn không rõ lai lịch ở sáu tỉnh Nam Kỳ mà tội chỉ mãn đồ (đồ là 3 năm) trở xuống đều phát giao cho các đồn, bảo tỉnh An Giang sai phái. Tên nào dân xã xin không muốn nhận lĩnh, thì lựa lại đồn điền làm lính, tùy tiện để khai khẩn cày cấy. Đợi số ruộng khai khẩn được bao nhiêu, cho giữ làm sản nghiệp đời đời"[16].

Năm 1851, Tự Đức chỉ dụ Nguyễn Tri Phương đưa tù phạm từ miền Trung vào khai hoang các tỉnh Nam Kỳ "trừ ra những tên nguyên can điều cấm theo đạo Gia Tô"[17]. Thành phần này được cấp lương thực, nông cụ và trâu bò để cày cấy.

Sau bốn năm thực hiện, số người đến khai hoang ở An Giang không nhiều. Triều Nguyễn lại tiếp tục tuyển mộ thêm cư dân ở Bình Thuận trở ra, đưa họ vào vùng Vĩnh Tế, Tịnh Biên thuộc tỉnh An Giang. Đến năm 1853, Nguyễn Tri Phương lập được 124 ấp, trong đó An Giang có 23 ấp. Ở địa phận kênh Vĩnh Tế thành lập được 5 cơ: Ninh Biên, Nhất, Nhị, Tam, Tứ.

Từ năm 1855 đến 1862, chính sách bóc lột, đàn áp của chính quyền phong kiến đã làm nổ ra nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân khắp cả nước. Chiến tranh liên miên, dân làng bỏ ruộng, giá gạo tăng vọt, nạn đói xảy ra. Tháng 8 năm 1863, "An Giang, Hà Tiên, Vĩnh Long dân khó kiếm gạo ăn, sai phát thóc kho để phát chẩn"[18]. Năm 1864, tình hình An Giang ổn định. Năm 1866, Nha Đinh Điền xứ An Giang là Trần Hoàn và Phạm Hữu Chính ghi nhận "chiêu mộ được 1.646 người, khai khẩn được 8.333 mẫu, thành lập 149 thôn, ấp". Theo Đại Nam thực lục, ở An Giang số điền thổ 88.336 mẫu, ngạch trưng thuế lúa 55.660 hộc, thuế tiền 121.471 quan, thuế bạc 2.421 lượng.

Nhìn chung, chính sách khẩn hoang lập làng từ thời Tự Đức (1848) đến trước khi Đô đốc De La Grandière ký sắc lệnh (20/9/1867) giải tán tất cả mọi tổ chức đồn điền, thì rõ ràng hình thức đồn điền có kết quả, diện tích cày cấy nhiều hơn trước. Theo thống kê, số lúa ở An Giang nhiều nhất so với các tỉnh. Nhiều thôn ấp được thành lập. Cộng đồng cư dân người Việt, người Hoa, Khmer, Chăm trở nên đông đúc. Họ buôn bán, làm ruộng, đánh cá, chăn nuôi. Chính quyền phong kiến chỉ kiểm soát và thu thuế.

2- Chiến đấu giữ đất

a- Việc phòng thủ biên giới

An Giang là tỉnh có biên giới giáp Chân Lạp, mối đe dọa thường xuyên là quân Xiêm. Mặc dù trước đây, Nguyễn Ánh và Xiêm có mối quan hệ tốt đẹp, nhưng càng về sau nảy sinh mâu thuẫn gay gắt, nhất là thời Minh Mạng, Thiệu Trị.

An Giang được bố trí hàng loạt đồn bảo dọc sông Tiền, sông Hậu, biên giới từ Châu Đốc đến Hà Tiên. Tại Châu Đốc, năm Gia Long thứ 14 (1815) trấn thủ Vĩnh Thanh là Lưu Phước Tường huy động dân binh trong hạt khoảng 3.000 người, đắp đồn Châu Đốc.

Ngày 4 tháng 12 năm 1815, công việc xây dựng đồn Châu Đốc được tiến hành. Theo Gia Định Thành Thông chí mô tả, đồn hình lục giác dài từ trước tới sau 324 tầm (789m) từ tả đến hữu có hai cửa, mặt sau một cửa, bề cao 7 thước (3,5m), chân đồn dài 6 tầm (14,5m), tựa hướng Kiền (tây-bắc), ngó tới hướng Tốn (đông-nam), phía tả giáp với sông lớn (còn gọi là Đại Giang) ba phía tiền, hữu, hậu có hào rộng 20 tầm (49m), sâu 10 thước (4,5m) lưu thông với sông cái. Trong đồn có phòng lính ở, kho tích trữ súng lớn và quân khí đầy đủ, lấy quân bốn trấn và đồn Oai Viễn mỗi phiên 500 người lưu trú(1). Địa thế đồn Châu Đốc được nhà Nguyễn đánh giá "thật là một yếu địa biên phòng" có tính chiến lược. Châu Đốc có vị trí tiền tiêu ở đồng bằng sông Cửu Long thời bấy giờ.

Ở vùng biên giới An Giang và Chân Lạp xảy ra nhiều cuộc xung đột giữa quân đội triều Nguyễn với quân Xiêm - Chân Lạp. Do đồn Châu Đốc đã cũ, không tiện việc phòng thủ. Nên năm 1834, Minh Mạng cho triệt phá đồn cũ xây dựng đồn mới kiên cố hơn.

Ở sông Hậu, triều Nguyễn cho thiết lập đồn Châu Giang. Đồn Châu Giang trước thuộc Châu Đốc, lâu ngày nước lụt làm sụp lở. Năm 1818, Trấn thủ Vĩnh Thanh cho di dời.

Phía sông Tiền được xem là nơi trọng yếu, thiết lập đến 3 đạo: Tân Châu, Chiến Sai và Hùng Ngự (Hồng Ngự). Đồn chính đặt tại cù lao Giêng. Theo cách bố trí của Nguyễn Văn Xuân, phía đông là đạo Chiến Sai (Chợ Thủ), phía tây có đạo Hùng Ngự (thuộc trấn Định Tường). Năm 1818, đạo Tân Châu dời về cù lao Long Sơn. Hình thể giống hình bát giác. Đạo Hùng Ngự chưa được xây dựng, chỉ làm nơi trú ngụ cho việc tuần tra. Vùng biên giới giáp Chân Lạp được triều Nguyễn bố trí đồn bảo dày đặc, nhằm đối phó với quân Xiêm. Chỉ tính thời Thiệu Trị, có 30 đồn lớn nhỏ từ  Châu Đốc đến Hà Tiên: bảo đất Vĩnh Tế (1834), Vĩnh Thông (1835), Vĩnh Lạc (Thân Nhơn) (1842), Vĩnh Gia (1847), Giang Nông, Vĩnh Thành (1842)... Từ Châu Đốc đến Tân Châu có 7 đồn: An Lạc (1840), Tân Châu (1845), Châu Giang, Bình Di (1841), Cần Thăng (1844), Bắc Nam (1845), Nhơn Hội (1846)[19].

Quân Xiêm bấy giờ ở đất Chân Lạp vẫn thường tràn xuống quấy phá ta. Năm 1843, Thiệu Trị chỉ dụ cho Đốc bộ Châu Đốc là Nguyễn Công Nhàn đốc suất chỉ huy đào kênh từ Châu Đốc đến Tân Châu. Dân phu được điều động khắp tỉnh Vĩnh Long, Bến Tre và An Giang. Công việc tiến hành hai đợt. Đến tháng 4 năm 1844, kênh đào xong, đặt tên là Long An Hà. Sau đổi thành Tân Châu Hà (dân địa phương gọi là kênh Vĩnh An).

b- Chiến đấu chống quân Xiêm xâm lược (1833)

Sau khi Tổng trấn Lê Văn Duyệt mất, triều Nguyễn vừa phải đối phó với nhiều cuộc nổi loạn của nông dân vừa phải lo ngăn chặn cuộc xâm lược của quân Xiêm.

Năm 1833, mượn cớ cầu viện của Lê văn Khôi, quân Xiêm sang xâm lược nước ta. Chúng chia làm 5 đạo quân bằng nhiều hướng đánh vào một số tỉnh miền Trung, Châu Đốc và Hà Tiên. Vua Minh Mạng chỉ dụ cho quan chức Vĩnh Long, an Giang và Hà Tiên lập kế hoạch đánh trả; đồng thời tăng cường cho An Giang 10 chiến thuyền, 2.000 cân thuốc súng, 10 cổ súng quá sơn, cấp 80 - 100 viên đạn cho mỗi khẩu. An Giang chọn thêm 100 Hương dõng[20] vừa phòng thủ vừa chi viện cho Hà Tiên. Nguyễn Văn Xuân đến An Giang với số Hương dõng 1.500 người do Thái Công Triều chỉ huy. Riêng Vĩnh Long chuẩn bị cho 5.000 phương thóc vận chuyển đến An Giang.

Vàm Nao được chọn là nơi quyết chiến chiến lược với quân Xiêm. Thái Công Triều cho rằng: chiếm được chỗ hiểm ấy (Vàm Nao) thì giặc không thể tung hoành được. Theo ông, nếu mất Vàm Nao thì đồn Chợ Thủ sẽ không giữ được. Quân giặc có thể đe dọa Vĩnh Long, Định Tường.

Ngày 28 tháng 11 năm 1833, quân Trương Minh Giảng trên đường đến Vàm Nao thì hay tin Hà Tiên thất thủ. Quân Xiêm theo đường kênh Vĩnh Tế chiếm Châu Đốc. Quân ta rút về Đông Khẩu (Sa Đéc) để bảo toàn lực lượng. Trước tình hình nguy ngập, Trương Minh Giảng, Nguyễn Văn Xuân tức tốc chiếm giữ Vàm Nao và cho người cấp báo về Huế xin viện binh. Quân  ở Vĩnh Long, Định Tường được điều đến ứng phó. Ở Gia Định, Trần Văn Năng để lại 4.000 đến 5.000 quân vây hãm thành Phiên An, số còn lại khoảng 1.000 giao cho Tống Phước Lương và Trần Văn Trí đến tiếp viện An Giang.

Quân ta được bố trí hai bên bờ sông Tiền truớc vàm đồn Hồi Oa[21], phía dưới có Chiến Sai đạo thủ (Chợ Thủ) và Dinh Châu (Cù lao Giêng) làm thế ngăn giặc. Vàm Nao có vị trí chiến lược quan trọng về quân sự và giao thông.

Sau khi đánh chiếm Châu Đốc, quân Xiêm chuẩn bị kế hoạch vượt sông Vàm Nao đánh Đông Khẩu và Long Hồ (Vĩnh Long) với một lực lượng gồm 350 chiếc thuyền, 20.000 quân, nhưng phần lớn là quân ô hợp. Ngày mùng 4 tháng chạp năm 1833, quân ta đến Vàm Ông Chưởng dọ thám tình hình. Chiều hôm đó, Trương Minh Giảng lợi dụng rừng rậm phức tạp hai bên bờ sông, cho quân chiếm đóng và sẵn sàng ứng chiến. Ta bắn đại bác vào thuyền giặc. Tướng Xiêm là Liêm-Cầm-Hen chết tại trận.

Đúng canh tư, quân ta bất ngờ đánh úp quân giặc. Với sự tiếp sức của Phó vệ úy Nguyễn Văn Tình kéo quân từ Gia Định xuống, chẳng bao lâu, quân ta đẩy lùi được quân Xiêm. 15 chiến thuyền của giặc bị nhấn chìm. Ta thu nhiều súng ống, đạn dược. Quân Xiêm rút khỏi Vàm Nao. Ta tiếp tục truy kích giặc khỏi Châu Đốc, Hà Tiên.

Trận chiến tiêu diệt quân Xiêm trên sông Vàm Nao thể hiện tinh thần bất khuất của nhân dân ta. Dù thế giặc mạnh gấp đôi, nhưng quân triều đình và nhân dân đã sáng tạo cách đánh, nắm chắc địa hình, với lòng gan dạ dũng cảm, đánh được kẻ thù hùng mạnh thời bấy giờ. Chiến thắng này, một lần nữa khẳng định nhân dân vùng sông nước quyết tâm giữ thành quả lao động của mình trên mảnh đất vừa khai phá.

Năm 1842, quân Xiêm do tướng Phi Nhã Chất Tri cầm đầu lại gây hấn biên giới An Giang, xâm chiếm vùng kênh Vĩnh Tế, Bảy Núi. Quân triều đình do Phạm Văn Điển, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Tri Phương chỉ huy kết hợp cùng nhân dân An Giang đã đánh tan địch ở Bảy Núi, đuổi chúng ra khỏi biên giới.


(Trích: Địa chí An Giang, năm 2013)

____________

([1]) Gia Định Thành Thông chí, tập trung, quyển 3, sđd, tr.16.

([2]) Nguyễn Văn Hầu, Sự thôn thuộc và khai phát đất Tầm Phong Long. Sử Địa – Sài Gòn, số 19, 20. 1970, tr12

([3]) Đại Nam Thực lục, tập 2, tr.57.

([4]) Gia Định Thành Thông chí, tập thượng, sđd, tr.100.

([5]) Gia Định Thành Thông chí, tập thượng, sđd, tr. 76.

([6]) Gia Định Thành Thông chí, tập thượng, sđd, tr. 90.

([7]) Gia Định Thành Thông chí, tập thượng, sđd, tr. 90.

([8]) Minh Mệnh chính yếu (tập 2) Q5,6,7. Sài Gòn, 1972, tr52

([9]) Đại Nam nhất Thống chí, tập hạ, tr. 37

([10]) Bia Tân Lộ Kiều Lương nay không còn. Trước năm 1972, ông Nguyễn Văn Hầu và nhân dân xã Vĩnh Tế tìm thấy một gốc bia. Hiện còn lưu giữ tại lăng Thoại Ngọc Hầu (Núi Sam).

([11]) Đại Nam Thực lục, tập 16, tr. 285.

([12]) Nghề nông cổ truyền Việt Nam, tập I, Ban Hán Nôm, 1978.

([13]) Địa phương chí xã Châu Giang (1961 - 1963), Cục lưu trữ TW.2/Tp.HCM.

([14]) Sơn Nam, Lịch sử An Giang, trang 40 – 41.

([15]) Đại Nam thực lục, tập 22, trang 115.

([16]) Đại Nam thực lục, tập 27, trang 331, 332.

([17]) Đại Nam thực lục, tập 27, trang 248

([18]) Trịnh Hoài Đức, GĐTTC, tập hạ, sđd, trang 124 (các số liệu được ghi trong ngoặc do tác giả tính toán theo số liệu và cách tính như trình bày ở phần trước)

([19]) Đại nam nhất thống chí, tập hạ, sđd, tr. 110.

([20]) Đại Nam Thực lục, tập 22, sđd, tr 129 và 205.  

([21]) Đại Nam Thực lục, tập 22, sđd, tr 129 và 205.  

Trường tiểu học Nguyễn Du đoạt giải nhất Hội thi 190 năm quá trình hình thành và phát triển vùng đất An GiangAn Giang 190 nămTinNguyễn HưngTrường tiểu học Nguyễn Du đoạt giải nhất Hội thi 190 năm quá trình hình thành và phát triển vùng đất An Giang/SiteAssets/Phuong-MB-hoithi-ag-4.jpg
19/05/2022 4:00 CHNoĐã ban hành

(TUAG)- Sáng 19/5, Đảng ủy phường Mỹ Bình, TP Long Xuyên tổ chức Hội thi “Tìm hiểu 190 năm quá trình hình thành và phát triển vùng đất An Giang (1832 - 2022)”. Đại diện các sở, ban ngành tỉnh, lãnh đạo thành phố và 5 đội khóm Bình Long 1, Bình Long 2, Trường Tiểu học Lê Lợi, Tiểu học Nguyễn Du và Mẫu giáo Hướng Dương được chọn vào vòng chung kết xếp hạng.

Phuong-MB-hoithi-ag-1.jpg 

Tặng hoa cho Ban giám khảo

Hội thi “Tìm hiểu 190 năm quá trình hình thành và phát triển vùng đất An Giang” của phường Mỹ Bình được tổ chức với 2 hình thức: thi trắc nghiệm trực tuyến và thi tiểu phẩm. Sau thời gian phát động, Ban tổ chức hội thi đã nhận được trên 20 bài tham gia viết tự luận và đã chấm chọn được 5 tác phẩm xuất sắc vào vòng thi tiểu phẩm bằng hình thức sân khấu hóa. Hội thi hướng đến các nội dung chủ yếu xoay quanh về quá trình lịch sử hình thành vùng đất An giang; truyền thống yêu nước và đấu tranh anh dũng của quân dân An Giang; kinh tế An Giang qua từng giai đoạn; các tín ngưỡng tôn giáo, dân tộc tốt đẹp của con người An Giang; tính cách người, phẩm chất con người An Giang cũng như những thành tựu, bài học kinh nghiệm trong 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, tiềm năng, lợi thế và triển vọng phát triển của tỉnh An Giang. Qua đó, nhằm tuyên truyền giáo dục cho cán bộ, đảng viên, đoàn viên thanh niên và nhân dân trên địa bàn phường hiểu rõ hơn về lịch sử hình thành và phát triển của tỉnh An Giang.

 Phuong-MB-hoithi-ag-2.jpg

Tái hiện hình ảnh thời thực dân xâm lược của khóm Bình Long 2

Phuong-MB-hoithi-ag-3.jpg 

Hai tiểu phẩm tái hiện về cuộc chiến tranh đồi Tức Dụp của khóm Bình Long 1

 Phuong-MB-hoithi-ag-4.jpg

Màn trình diễn áo dài về nét đặc trưng con người An Giang của Trường Tiểu học Lê Lợi

 Phuong-MB-hoithi-ag-5.jpg

Tiết mục múa thể hiện 4 dân tộc Kinh, Hoa, Chăm, Khmer trên vùng đất An Giang của học sinh Trường Tiểu học Nguyễn Du

Kết thúc hội thi, Chi bộ Trường tiểu học Nguyễn Du đã xuất sắc đoạt giải nhất của hội thi. Bên cạnh đó, Ban tổ chức cũng trao tặng 1 giải nhì, 1 giải ba và 2 giải khuyến khích cho các chi bộ còn lại. Cũng trong dịp này, Ban tổ chức trao giải thưởng cho 8 thí sinh đoạt giải trong phần thi trắc nghiệm trực tuyến.

Phuong-MB-hoithi-ag-6.jpg 

Trao giải nhất, nhì, ba và khuyến khích phần thi sân khấu hóa

NGUYỄN HƯNG

Ủy ban nhân dân tỉnh họp với Tiểu ban Nội dung và Tiểu ban Tuyên truyền kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An GiangTinNgọc HânỦy ban nhân dân tỉnh họp với Tiểu ban Nội dung và Tiểu ban Tuyên truyền kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang/SiteAssets/Hop-kyniem190-noidung-tuyentruyen-1.jpg
06/05/2022 8:00 SANoĐã ban hành

(TUAG)- Chiều 05/5, Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức làm việc với Tiểu ban Nội dung và Tiểu ban Tuyên truyền các hoạt động kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang (1832 - 2022). Đồng chí Trần Anh Thư, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh chủ trì.

 Hop-kyniem190-noidung-tuyentruyen-1.jpg

Tại cuộc họp với Tiểu ban Nội dung, theo báo cáo của Tiểu ban, đến nay, các sự kiện nằm trong chuỗi hoạt động hướng đến kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang đã thực hiện hoàn thành 3 sự kiện, gồm: Khởi công xây dựng cầu Châu Đốc, Lễ hội Văn hóa truyền thống và kỷ niệm 200 năm danh thần Thoại Ngọc Hầu dựng bia, lập làng Thoại Sơn lần thứ XXI năm 2022; Ngày hội mắm Châu Đốc, An Giang - Đặc sản các vùng miền năm 2022.

Hiện, đang tiếp tục chuẩn bị các hoạt động để tổ chức Hội thảo khoa học chủ đề "An Giang 190 năm hình thành và phát triển"; Khai mạc Đại hội Thể dục – Thể thao tỉnh An Giang lần thứ IX 2022; Lễ công bố quy hoạch tỉnh An Giang thời kỳ 2021-2030 và tầm nhìn đến 2050; Hội nghị Xúc tiến đầu tư tỉnh An Giang năm 2022; Lễ kỷ niệm chào mừng 190 năm thành lập tỉnh An Giang;…

Riêng đối với các hoạt động tuyên truyền kỷ niệm 190 năm thành tỉnh An Giang sẽ được tiến hành từ đầu quý II đến quý IV năm 2022, chia thành 2 đợt: Đợt 1 từ tháng 4 đến tháng 8 và đợt 2 cao điểm từ tháng 9 đến tháng 11. Nội dung tuyên truyền toàn diện, sâu rộng bằng nhiều hình thức về ý nghĩa lịch sử của sự kiện 190 năm thành lập tỉnh An Giang; quảng bá, giới thiệu tiềm năng, lợi thế và hình ảnh vùng đất, con người An Giang; thành tựu trên các lĩnh vực của tỉnh An Giang qua 190 năm hình thành và phát triển…

Hop-kyniem190-noidung-tuyentruyen-2.jpg

Tại cuộc họp với Tiểu ban Tuyên truyền, các đơn vị thành viên Tiểu ban Tuyên truyền báo cáo tiến độ tổ chức các hoạt động tuyên truyền kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang (1832 - 2022). Đến thời điểm hiện tại, Tiểu ban Tuyên truyền đã ban hành Kế hoạch tuyên truyền, tổ chức Hội nghị triển khai Kế hoạch và tổ chức Hội nghị định hướng tuyên truyền về sự kiện kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh, triển khai một số hoạt động tuyên truyền như: Biên soạn tài liệu tuyên truyền; chuẩn bị các nội dung tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề "An Giang 190 năm hình thành và phát triển (1832 - 2022); tổ chức Cuộc thi trực tuyến "Tìm hiểu tỉnh An Giang - 190 năm hình thành và phát triển (1832 - 2022)" trong lực lượng đoàn viên, thanh niên; tổ chức một số hoạt động tuyên truyền cổ động trực quan và các hoạt động văn hóa, văn nghệ; tuyên truyền thông qua báo chí, truyền thông;…tăng cường nắm bắt tình hình tư tưởng, dư luận xã hội, kịp thời đấu tranh phản bác những hành vi tuyên truyền, xuyên tạc, chống phá liên quan đến sự kiện. Nhìn chung, công tác tuyên truyền đến thời điểm hiện tại bảo đảm đúng sự chỉ đạo, định hướng chính trị, tư tưởng của Tỉnh ủy, của Ban Tổ chức các hoạt động kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang (1832 - 2022) và đảm bảo các nội dung theo mốc thời gian nêu trong Kế hoạch của Tiểu ban Tuyên truyền, hình thức phong phú, sinh động, thiết thực, không phô trương lãng phí, tạo không khí phấn khởi, vui tươi, tin tưởng, đồng thuận trong các tầng lớp nhân dân.

Trên cơ sở báo cáo của Tiểu ban Nội dung và Tiểu ban Tuyên truyền, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Trần Anh Thư đề nghị, các đơn vị tiếp tục rà soát lại kế hoạch của tiểu ban mình để triển khai thực tốt các nhiệm vụ được phân công. Kế hoạch tổ chức các hoạt động hướng đến kỷ niệm 190 thành lập tỉnh phải hợp lý, chu đáo, tạo điểm nhấn quảng bá hình ảnh An Giang. Riêng đối với các đơn vị thành viên Tiểu ban Tuyên truyền cần rà soát các nội dung tuyên truyền, làm rõ các đầu công việc đơn vị nào phụ trách, đơn vị nào phối hợp, từng đơn vị hoàn chỉnh bảng dự trù kinh phí gửi Sở Tài chính thẩm định xét duyệt theo quy định./.

NGỌC HÂN 

An Giang: Lịch sử định cư và phân bố dân cư từ khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến nayBài viếtQ.HAn Giang: Lịch sử định cư và phân bố dân cư từ khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến nay/SiteAssets/Noi%20banh%20tet%20QuanDan%20(%20DANG%20HAI%20).jpg
05/05/2022 10:00 SANoĐã ban hành

(TUAG)- Khi bắt đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, dân số Long Xuyên và Châu Đốc có 550.000 người trong đó Long Xuyên 280.000 người và Châu Đốc 270.000 người với 20 tổng và 120 làng.

Noi banh tet QuanDan ( DANG HAI ).jpg

Nồi bánh tét Quân - Dân, ảnh Đăng Hải.

Giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954)

Phân bố dân cư thời gian này có thể chia thành ba vùng: Vùng giữa sông Tiền và sông Hậu dân cư đông đúc, kinh tế phát triển; còn vùng tả ngạn sông Tiền và hữu ngạn sông Hậu dân cư thưa thớt, sống rải rác dọc theo các bờ kênh như kênh Bốn Tổng, kênh xáng Vịnh Tre, kênh Mạc Cần Dưng...

Trước sự đàn áp dã man của thực dân Pháp, một bộ phận đồng bào ta với ý chí căm thù giặc sâu sắc, đã bỏ vùng tạm chiếm, kéo vô vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới theo quân giải phóng. Ngoài nông dân, còn có những nhà tư sản, trí thức, văn nghệ sĩ, học sinh theo về với cách mạng, họ sẵn sàng từ bỏ cuộc sống thành thị, thoát ly gia đình, chấp nhận cuộc sống gian khổ để đi theo cách mạng cứu dân, cứu nước. Dân cư trong vùng được cách mạng cấp đất để tăng gia sản xuất, và một việc có ý nghĩa to lớn là đời sống của người dân trong vùng giải phóng không còn bị bọn ác ôn làng xã, địa chủ áp bức, bóc lột. Mọi hình thức tô tức bị xóa bỏ, nhân dân được yên tâm sản xuất.

Tỉnh An Giang lúc đó gồm Long Xuyên và Châu Đốc, bao gồm luôn một phần của tỉnh Đồng Tháp ngày nay, nên diện tích rất lớn mà chỉ có khoảng nửa triệu dân. Vì vậy dân cư rất thưa thớt cả trong vùng địch tạm chiếm và vùng giải phóng, ngoại trừ các khu vực thành thị và tụ điểm dân cư lớn.

Giai đoạn kháng chiến chống đế quốc Mỹ (1954 - 1975)

Ngày 20-7-1954, Hiệp định Genève được ký kết. Thi hành Hiệp định, một bộ phận lực lượng cách mạng bao gồm lưc lượng vũ trang, bán vũ trang và cán bộ (lúc đó là hai tỉnh Long Châu Sa và Long Châu Hà) tập kết ra Bắc.

Dân số Long Xuyên và Châu Đốc năm 1954 có khoảng 536.000 người, đến năm 1975 (tức 21 năm sau) đã tăng lên 1.360.000 người.

Đế quốc Mỹ đặc biệt quan tâm đến vùng đất An Giang; mặt khác Long Xuyên là quê quán của phó tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ nên chúng ra sức đầu tư xây dựng, coi Long Xuyên là một  trong những  thành phố quan trọng của miền Tây. Lúc bấy giờ, lực lượng lao động khu vực thành thị trong tỉnh tăng lên nhanh chóng cùng với cường độ mở rộng các khu trù mật, ấp chiến lược, đặc biệt là thực hiện chính sách lợi dụng tôn giáo chống cách mạng; mặt khác, dùng bom pháo "tát dân" ở các vùng nông thôn, nhất là địa bàn biên giới và các vùng căn cứ kháng chiến. Hàng vạn người dân phải từ bỏ quê hương thân yêu của mình chạy vào thành phố kiếm sống. Vào thành phố, họ kiếm sống bằng đủ các ngành nghề như lao động tự do, khuân vác, đạp xe lôi, làm nghề thủ công... Họ là nạn nhân của chương trình "Bình định nông thôn" mà Mỹ Ngụy đang  tiến hành. Đội ngũ lao động này thường xuyên trực tiếp đương đầu với mọi thủ đoạn bóc lột của chế độ thực dân kiểu mới của Mỹ nên sớm nhận thấy bộ mặt thật của chúng, họ thấy cần thiết phải đấu tranh để tiến tới giải phóng quê hương.

Phân bố dân cư trong giai đoạn này có sự chênh lệch rất lớn về mật độ dân số giữa thành thị và nông thôn, giữa vùng ngoài và vùng sâu, thậm chí ngay trong một huyện cũng có sự chênh lệch, nhất là trong những năm chiến tranh ác liệt, dân chúng phải co cụm lại để bảo vệ, đùm bọc nhau.

Dân cư phân bố chủ yếu tập trung dọc sông Tiền và sông Hậu, từ Tân Châu xuống Chợ Mới và từ Châu Đốc xuống Long Xuyên. Vùng Bảy Núi có dân Khmer sinh sống theo các phum sóc rải rác quanh chân núi và các cánh đồng gần núi. Dân tộc Chăm sống tập trung vùng An Phú, Tân Châu, đối diện Châu Đốc ở khu vực Cồn Tiên, Đa Phước ngày nay. Ở các vùng sâu, dân cư rất thưa thớt, nhất là các lũng phèn vùng tứ giác.

Giai đoạn sau Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước đến nay

Sau ngày giải phóng, nhân dân trở về quê cũ sửa sang và tạo dựng lại nhà cửa, ruộng vườn đã bị đạn bom tàn phá bao năm qua nhất là ở các vùng sâu, vùng giải phóng. Nhân dân ra sức đẩy mạnh sản xuất, đời sống được cải thiện dần, mức sống cao hơn trước, ở các vùng dân tộc, mức sống của nhân dân tăng lên rõ rệt. Các cánh đồng lúa được mở ra nhất là vùng các huyện phía tây sông Hậu, mạng lưới thủy lợi đã được triển khai đào vét khắp cánh đồng, đem phù sa vào đồng ruộng và xổ phèn, làm cho đồng ruộng càng thêm phì nhiêu, lúa thóc đầy bồ, nhân dân vô cùng phấn khởi.

Tỉnh kết hợp việc mở mang thủy lợi và đê bao chống lũ dài 3.800km với việc bố trí lại dân cư. Gần 10.000 hộ ở rải rác trong vùng ngập lũ, trong đó tỉnh cho xây dựng 84 cụm dân cư và 35 tuyến dân cư với chiều dài gần 100km, không còn phải lo cảnh chạy lụt hàng năm. Phân bố dân cư lúc này tương đối đều khắp trong toàn tỉnh. Các vùng giải phóng, vùng sâu, vùng núi đã có dân về sống nhiều, xóm làng được ổn định. Vài năm đầu sau ngày giải phóng, dân cư hồ hởi vui mừng, dựng vợ gả chồng nhiều và nhất là vợ chồng được sum vầy sau bao năm xa cách nên tốc độ phát triển dân số thời gian này tăng khá nhanh; tuy nhiên về sau, tốc độ tăng dân số giảm dần, đạt yêu cầu giảm tỉ lệ tăng dân số của tỉnh.

Suốt hàng trăm năm ra sức khai phá vùng đất An Giang hoang vu này, lưu dân bằng bàn tay và khối óc, bằng mồ hôi, nước mắt, và cả xương máu nữa, họ đã biến miền đất hoang sơ,  thành đồng ruộng phì nhiêu, phố phường đông đúc, mở mang một vùng đất biên giới Tây Nam mênh mông trở nên giàu đẹp của tổ quốc. Công  đầu của cuộc mở mang  bờ cõi  này là thuộc về các  lưu  dân  ngày xưa, đã không quản ngại hy sinh gian khổ cho đất nước được rộng lớn thêm, cho con cháu sau này được hưởng một vùng đất phù sa màu mỡ, đảm bảo cuộc sống ấm no muôn đời về sau./.

(Trích: Địa chí An Giang, năm 2013)

Lịch sử định cư của người Việt ở đất An Giang dưới thời phong kiến nhà NguyễnAn Giang 190 nămBài viếtQ.HLịch sử định cư của người Việt ở đất An Giang dưới thời phong kiến nhà Nguyễn/SiteAssets/V%C3%A0o%20T%E1%BA%BFt.jpg
05/05/2022 8:00 SANoĐã ban hành

(TUAG)- Người Việt bắt đầu đến vùng đất An Giang từ lúc nào thì cho đến nay, chưa thấy sử sách ghi chép rõ ràng. Tuy nhiên, theo truyền thuyết dân gian và một số vết tích còn lại đến ngày nay thì đã có một số nhóm người Việt gốc miền Trung vào đây từ rất lâu. Nhưng do điều kiện sống khắc nghiệt nên dân cư còn thưa thớt. Chỉ khi thấy khói vương tỏa qua cây lá chỗ nào thì mới biết có người ở nơi đó.

 

Cuộc sống của lưu dân bấy giờ luôn bị đe doạ:

    Chèo ghe sợ sấu cắn chưn,

    Xuống bưng sợ đỉa, lên rừng sợ ma.

Sự lo âu khắc khoải lúc nào cũng canh cánh trong lòng:

   Đến đây xứ sở lạ lùng,

   Con chim kêu cũng sợ, con cá vùng cũng kinh.

Mặc dù cuộc sống gặp nhiều khó khăn, nguy hiểm nhưng người Việt vẫn kiên trì tìm đất sống. Họ ở rải rác dọc theo bờ sông Tiền và sông Hậu.

Khi Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lược, đã thấy có người Việt ở vùng Bình Mỹ (Châu Phú), vùng Châu Đốc và vùng cù lao Cây Sao (cù lao Ông Chưởng ngày nay). Tương truyền khi thuyền quân xuôi dòng Cửu Long (1700), Nguyễn Hữu Cảnh ghé lại những nơi có người Việt ở để thăm hỏi và khích lệ mọi người  giữ tình thân thiện dù không cùng chủng tộc.

Ông cũng cho phép một số binh phu được ở lại nơi này tìm đất cày cấy làm ăn. Họ sống rải rác theo ven sông ở vùng Châu Phú, Châu Đốc, Tân Châu và Chợ Mới.

Lưu dân ở vùng cù lao Ông Chưởng (An Giang) được gọi là dân "hai Huyện" (Phước Long và Tân Bình). Họ được xem là mẫu mực về thuần phong mỹ tục, vẫn giữ được nếp ăn, nếp nghĩ của người Việt. Từ Chợ Mới đến Cái Hố theo lòng rạch Ông Chưởng, ta gặp một số gia đình cố cư, ông bà của họ đến cư ngụ nơi đây từ đời Gia Long, Minh Mạng hoặc lâu hơn (quá 6 đời).

Ở cù lao Giêng, có một địa danh xưa là bến đò Phủ Thờ. Phủ Thờ này là của họ Nguyễn từ Bình Định vào, con cháu ngày nay ở vào đời thứ 7, thứ 8, cư ngụ kề nhau, đông đúc. Có thể nói đây là một trong những họ đến lập nghiệp đầu tiên trong vùng.

Điều đáng chú ý là người Việt đi vào phương Nam khai hoang lập nghiệp với cả gia đình cha mẹ, vợ con, chứ không đợi khi khá giả rồi mới về quê rước vợ con vào. Những người đã đến đây là không thể về, vì quá xa và ngoài đó (Ngũ Quảng) điều kiện sống quá khó khăn, đói khổ, nên đành phải bỏ xứ.

Chính sách cưỡng bức di dân của Nguyễn Phúc Tần và chính sách chiêu mộ di dân của Nguyễn Phúc Chu mở ra từ cuối thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XVIII trên quy mô ngày càng lớn. Nhờ các chính sách của chúa Nguyễn mà công cuộc khai hoang và mở mang bờ cõi phương Nam của dân Việt ngày càng nhanh chóng hơn.

Khi tỉnh An Giang mới được thành lập, dọc theo hữu ngạn sông Tiền, dân cư khá đông, tập trung ở cù lao Ông Chưởng. Một số thôn xã được thành lập. Riêng cù lao Giêng không rộng lắm nhưng sanh kế dễ dàng, quy tụ được bốn thôn.

Phía hữu ngạn sông Hậu, dân cư thưa thớt. Từ biên giới Việt Miên xuống Long Xuyên chỉ có các làng Bình Thạnh Tây (đối diện Bình Thạnh Đông bây giờ), Bình Đức, Mỹ Phước. Hai  làng  Bình Đức và Mỹ Phước  kề sát nhau, cách con rạch Long Xuyên.

Vùng An Giang gồm 2 khu vực mới và cũ riêng biệt:

- Phía Tân Châu, Ông  Chưởng,  Chợ Mới  dễ canh tác, dân đông, làng cũ, vì đã lập từ lâu.

- Phía hữu ngạn sông Hậu, là vùng rừng núi hoang vu, đất khó canh  tác, dân thưa thớt, làng mới lập.

Hồi đầu thế kỷ XVII, phía sông Hậu từ Châu Đốc xuống Năng Gù dân cư thưa thớt. Đầu nguồn, lòng sông hẹp, lượng nước phù sa không đủ sức tạo được giồng cao như sông Tiền. Chỉ có mấy khu vực cao ráo như khu chợ Châu Đốc, Mỹ Đức, Cái Dầu... dân đến ở  khá đông. Họ cất nhà sàn để ở, mùa nước nổi khai thác cá linh, làm lúa mùa, cuộc sống còn nghèo.

Từ xa xưa, chợ Thủ (huyện Chợ Mới) là một điểm dân cư tập trung bên cạnh điểm dân cư cù lao Giêng. Dân cư đông đảo, nhà cửa khang trang. Chùa, miếu được xây dựng để làm nơi cầu nguyện, thờ phụng cho nhân dân trong vùng. Nghề thủ công phát triển từ lâu như nghề ươm tơ dệt lụa, nhất là nghề mộc của dân chợ Thủ đã nổi tiếng khắp vùng Đồng bằng sông Cửu Long, và còn lưu truyền đến ngày nay. Dân cư từ những nơi này phát triển nhanh chóng. Từ đây, từng lớp lưu dân đã ổn định và bắt đầu phân tán đi khai phá các  vùng  đất  mới  khác  trong vùng  như: Long Xuyên, Châu  Đốc, Tân Châu...

Dần dần, dân cư đông đúc. Những nhóm quần cư lần hồi nâng lên thành các đơn vị nhỏ về hành chánh là lân, phường, thôn, làng, hoặc những ấp đông đúc gọi là giáp (tương đương với làng). Các vị trí then  chốt  về an  ninh gọi là điếm. Dân mới đến chưa vào sổ bộ hoặc cư ngụ tạm thời thì gom lại lập đơn vị mới gọi là tứ chiếng thôn, tứ chiếng điếm.

Bấy giờ, số dân đứng tên chính thức trong bộ đinh của làng không cần nhiều, chừng chục người hoặc ít hơn, nếu chịu trách nhiệm đóng thuế với quan trên thì việc đăng ký thành lập làng được nhìn nhận ngay. Dân đứng tên trong bộ ở làng chỉ gồm điền chủ lớn nhỏ, trung nông, thương buôn. Tá điền và lớp nghèo thành thị có quyền không ghi tên vào sổ bộ, sống theo quy chế dân ngoại, dân lậu tùy thích. Nhưng đã là dân lậu, họ không được vào ban hương chức hội tề, không được dự tiệc đình làng, không được kiện cáo bất cứ ai khi bị ức hiếp và nếu bị tố cáo dẫu là oan ức thì họ cũng bị xem là có lỗi. Lực lượng di dân này sống rày đây mai đó, làm ruộng, làm mướn, thay đổi nơi cư trú luôn. Có thể lúc đó vùng đất này tương đối dễ sống, đất ruộng hoang vu còn nhiều chỗ dung thân, nên, nơi này sống không được, họ bỏ đi nơi khác. Họ có thể thay đổi ngành nghề nhanh chóng như làm ruộng chuyển sang đánh bắt cá, hoặc chuyển sang làm nghề gỗ, đốn củi.

Việc di dân lập ấp ở An Giang có công đóng góp rất lớn của Thoại Ngọc Hầu, bắt đầu từ năm Đinh Sửu 1817.  Lúc bấy giờ, nhiều nhà cửa của nông dân đã được dựng lên, các đình chùa cũng  bắt đầu được xây cất.

Năm 1818, được lệnh Triều đình, Nguyễn Văn Thoại đốc suất đào kênh Đông Xuyên ra đến Rạch Giá tạo điều kiện canh tác thuận lợi cho dân khẩn hoang hai bên bờ con kênh.

Năm 1821, khi Thoại Ngọc Hầu đến thủ đồn Châu đốc, ông tiếp tục cho di dân lập ấp, xây dựng nhiều làng người Việt ở đây. Những nơi cỏ cây rậm rạp, đều được ông khuyến khích dân khai phá. Trong bia Vĩnh Tế Sơn còn ghi: "Lão thần Thoại Ngọc Hầu... muốn nơi đồng hoang bát ngát này trở thành làng mạc trù phú, yên vui, dân cư đông đúc, sum vầy".

Đào kênh Vĩnh Tế xong, Nguyễn Văn Thoại cho đắp con đường từ Châu Đốc đến núi Sam mà trước kia phải đi bộ hoặc đi đò chèo. Từ đó, ngựa xe qua lại dễ dàng, đường cao khoảng 3 mét để ngừa nước lụt, cho dựng bia "Châu Đốc tân lộ kiều lương" (1828). Dân cư nhờ đó mà từ Châu đốc vào Núi Sam khẩn ruộng, lần hồi tiến vô khai phá đến vùng Tịnh Biên.

Lúc bấy giờ, trên cánh đồng An Giang rộng lớn và hoang vu, hàng năm đều ngập trong nước lũ nhiều tháng trời Mạng lưới sông rạch tự nhiên rất nhiều. Đường bộ hầu như chưa có, đường thủy là tuyến giao thông gần như duy nhất trừ vùng Bảy Núi. Cho nên dân cư sinh sống dọc theo các con kênh và bờ sông là điều tự nhiên. Đây là các tuyến chủ yếu tiếp nhận di dân. Lúc đầu, chỉ mới hình thành những tuyến mỏng, dọc ven theo kênh rạch. Khi dân cư đông hơn, họ ở có dạng quây quần chứ không còn đơn thuần theo tuyến dọc nữa. Trong bước đầu đến khai hoang vùng đất An Giang, sự phân bố dân cư nơi đây đã diễn ra một cách tự phát theo lối đất lành chim đậu, nơi nào dễ làm ăn thì dân cư sẽ qui tụ lại ở thành xóm làng. Ngoài ra, một số người có trình độ và có tiền của đứng ra chiêu dân lập làng để khai phá thêm các vùng đất mới còn hoang vu. Các vùng mới khai phá, dân cư quần tụ lại cất nhà kề nhau quay mặt ra sông, sau nhà là vườn, sau vườn là ruộng đồng bát ngát, xa nữa là đồng cỏ và rừng cây hoang vu, có nghĩa là ai có sức lao động và có vốn, thì có thể vỡ hoang đến đâu cũng được và không phải tranh giành với ai. Những nơi giáp nước hoặc ngã ba, ngã tư sông, dân cư thường tập trung ở đông đúc, dần dần hình thành nên quán xá, hiệu buôn, chợ búa để trao đổi mua bán, trên bến dưới thuyền.

Đầu thế kỷ XIX, đã nhiều lần quân Xiêm xâm lấn nước ta. Hà Tiên, Châu Đốc là những vùng bị thiệt hại trước tiên và nặng nhất. Năm 1833, giặc Xiêm xâm lăng, tàn phá dọc kênh Vĩnh Tế, chiếm Châu Đốc và tràn luôn qua cả Tân Châu. Nhưng chỉ năm năm sau (1838), dân cư đã quy tụ trở lại, thành lập hàng chục thôn rải rác từ núi Sam dọc theo hai bờ kênh Vĩnh Tế qua phía Hà Tiên.

Vùng Châu Đốc là biên cương hiểm trở, vừa sản xuất vừa phải đối phó với ngoại xâm. Mỗi người dân khẩn hoang quả là một lính thú vô danh nơi biên cương xa xôi này. Trong Gia Định Thành thông chí danh mục thôn xã không ghi lại làng nào ở vùng "Châu Đốc Tân Cương", chỉ xác nhận từ biên giới đến biển Đông chỉ thành lập vỏn vẹn được một huyện là huyện Vĩnh Định với 27 thôn, chạy suốt theo hữu ngạn Hậu Giang, với lời giải thích "Huyện Vĩnh Định địa giới tuy rộng nhưng dân cư chưa đông nên chưa chia ra thành tổng". Một huyện mà chỉ có 27 thôn là quá ít, nếu so với các huyện đương thời như huyện Tân An (135 thôn), huyện Kiến Hòa (151 thôn).

Gia tộc Lê Công gốc Thanh Hóa là một trong những nhóm di dân đến khai phá vùng Châu Đốc (khoảng năm 1785-1837). Hiện con cháu đời thứ 7 còn sống và cư ngụ tại đây.

Một gia tộc thứ hai cũng đã có công khai phá vùng Châu Đốc hoang sơ buổi ban đầu là dòng Nguyễn Khắc, thuộc dòng con cháu của Nguyễn Văn Thoại. Hiện nay, gia đình cháu đời thứ 7 của ông vẫn còn cư ngụ tại thị xã Châu Đốc.

Thời Gia Long, Minh Mạng, dân cư vùng An Giang còn ít, nhiều đất hoang chưa có người khai thác.

Dân xã, thôn ghi vào bộ đinh là đàn ông, không ghi đàn bà, trẻ con. Để thành lập một xã chỉ cần vài người dân đinh đứng đơn, bảo đảm với triều đình về nghĩa vụ thuế đinh, thuế điền. Người xin lập làng được quan phủ cấp cho con dấu nhỏ, bằng gỗ (dân quen gọi là con mộc).

Những người đi khai phá đến sau, phần lớn là dân nghèo, dân lậu, xin khai khẩn vùng đất gọi là "hoang nhàn dư địa" (đất chưa khai phá).

Dưới đời Minh Mạng, tội phạm lưu đày phần lớn gom về vùng Vĩnh Tế để lập các xóm dọc bờ kênh, dần dần hình thành nên các vùng dân cư. Nguyễn Tri Phương khi làm kinh lược sứ ở miền Nam, đã có sáng kiến lập đồn điền biên giới nhằm ngăn giặc, yên dân, tập trung vùng Châu Đốc và Hà Tiên, đặc biệt là ở vùng Vĩnh Tế.

Năm 1854, Nguyễn Tri Phương báo cáo đã thành lập được 21 cơ đồn điền. Hai năm sau, tỉnh An Giang và Hà Tiên báo cáo đã chiêu mộ được 1.646 dân đinh, lập 159 thôn ấp.

Trong thời gian này, người Chăm ở ngang chợ Châu Đốc (Đa Phước, Châu Phong) cũng gom lại từng đội, do một viên hiệp quản đứng đầu. Từ bên Chân Lạp, người Chăm rút về, nương náu trong lãnh thổ Việt Nam để tránh loạn lạc nội chiến bên Chân Lạp, rồi định cư luôn ở Việt Nam (Tân Châu, An Phú ngày nay).

Song song đó, người theo đạo Thiên Chúa lánh nạn kỳ thị tôn giáo của vua quan nhà Nguyễn từ miền ngoài đến ở khá sớm ở cù lao Giêng (1778), Bò Ót (1779) và Năng Gù (1845) đã làm tăng dân số vùng đất An Giang ngay từ buổi đầu.

Vào Tết.jpg

Về nguồn gốc các dân tộc, các tư liệu trước đây ghi nhận như sau:

- Người Khmer: Đây là dân bản địa kỳ cựu, hầu hết đều sinh đẻ ở Việt Nam nên gọi là người Việt gốc Khmer, tập trung nhiều nhất ở các quận Tri Tôn và Tịnh Biên. Phong tục và tiếng nói của họ cũng không khác người Khmer ở chánh quốc. Họ rất sùng bái đạo Phật, tôn kính các Sư Sãi và sẵn sàng dâng cúng cho chùa những huê lợi do họ cực nhọc làm ra để mong được phước cho kiếp sau.

- Người Chăm và người Mã Lai đến sanh cư lập nghiệp hẳn ở vùng Châu Đốc từ năm 1840. Trước kia, họ sống ở Cao Miên.

- Người Chăm Châu Giang rất siêng năng, tiết kiệm. Nhà cửa thường cất tương tợ kiểu Cao Miên, sàn cao, cách mặt đất từ 1 thước rưỡi đến 2 thước. Họ đoàn kết với nhau rất chặt chẽ nên ít khi bọn trộm cướp dám quấy phá.

- Người Hoa: Theo dụ số 48 ngày 21/8/1956 của chính quyền Ngô Đình Diệm sửa đổi bộ Luật Quốc tịch Việt Nam thì những người Hoa sinh đẻ tại Việt Nam kể như dân Việt Nam. Họ cũng lãnh thẻ kiểm tra, có bổn phận và hưởng quyền lợi như công dân Việt Nam.

Trong tỉnh An Giang, tính đến ngày 15/9/1959 có tất cả 1.748 người Hoa sinh đẻ ở Việt Nam đã lãnh thẻ kiểm tra nhập Việt tịch. Người Hoa sinh sống bằng nghề buôn bán ở thành thị cả ở thôn quê.

Để củng cố công tác quản lý hành chánh, kiểm tra và khuyến khích dân cư đến lập nghiệp vùng hoang địa, nhà Nguyễn cho tiến hành lập làng, nhất là vùng biên cương như Châu Đốc. Thủ tục xin lập làng tương đối dễ. Do đó, trước năm 1831, lưu dân đã thành lập làng An Nông. Đến tháng 3-1831, làng An Nông từ núi Chân Tầm Lon tới núi Tà Béc còn nhiều đất hoang, một nhóm dân cư xin lập làng Phú Cường tách ra từ làng An Nông, gồm 15 người đến ở (chỉ tính đàn ông) do Trương Văn Nghĩa, Nguyễn Văn Chiêu, Lê Văn Huệ đứng đầu. Theo nhà văn Sơn Nam, lưu dân đến vùng biên giới Tây Nam này lúc bấy giờ gồm những người từ vùng Gia Đình, Tân An, Mỹ Tho. Ở làng Vĩnh Hội, cạnh làng Vĩnh Ngươn (Châu Đốc), có một thợ săn đến ở, dẫn theo 7 người trong đó có 1 người ở Sóc Trăng, 1 người ở Chợ Gạo (Định Tường), 1 người ở Mỹ Đức Đông (Cái Bè).

Gia Định Thành thông chí của Trịnh Hoài Đức cũng có ghi sự hiện diện của những người Việt đến sinh sống vùng Bảy Núi để tu hành, khai thác nguồn lợi thiên nhiên, không làm giàu nhưng có thể sống qua ngày. Họ lập vườn cây ăn trái, trồng hoa màu, tìm dược thảo, làm ruộng ở chân núi, bắt cá vào mùa hạn ở các ao đìa, sống hòa nhập với người Khmer. Sau khi thành lập địa bộ, dân cư trong vùng đã lập được nhiều thôn theo bờ kênh Vĩnh Tế như Vĩnh Tế Sơn thôn, Nhơn Hòa, An Quí, Thần Nhơn, Vĩnh Bảo, Long Thạnh, Toàn Thạnh, Vĩnh Gia, Vĩnh Lạc. Phần lớn diện tích được trồng khoai, trồng đậu; trong bộ điền gọi là vu đậu thổ (đất trồng hoa màu).

Năm Minh Mạng thứ 11 (1830), quan Tổng trấn Gia Định tâu: "Đồn Châu Đốc mới lập được 41 làng, dân đinh chỉ hơn 800 người". Như vậy, nếu kể cả dân lậu, phụ nữ và trẻ em trong làng thì dân cư Châu Đốc lúc đó có thể lên đến vài ngàn.

Đơn vị hành chánh nhỏ nhất lúc bấy giờ là xã (thôn). Làng xã thời trước lập ra không cần dân số đông mà chỉ chú trọng vào số thuế đóng của những người đứng tên cam kết sẽ nộp. Từ các làng này mới thu hút nhiều lưu dân đến sinh sống, như làng Phú Cường. Năm Tự Đức thứ 10 (1857), làng Châu Phú vẫn còn nhiều ruộng chưa khẩn, có 2 người dân đinh đứng tên xin thành lập làng gọi là làng Châu Quới, tách từ làng Châu Phú ra, sau đó thu hút thêm được 5 người dân lậu.

Triều đình nhà Nguyễn rất quan tâm đến việc củng cố biên giới phía Nam, "vì địa thế Châu Đốc, Hà Tiên cũng không kém Bắc Thành" (vua Gia Long). Năm 1830, vua Minh Mạng phán cho bộ Hộ rằng: "Đồn Châu Đốc lúc đó chưa có tỉnh là vùng địa đầu quan yếu, ta đã từng xuống chỉ chiêu tập dân buôn bán, cho vay tiền gạo để lập ấp khẩn điền, quây quần sinh nhai. Đó là ý niệm quan trọng của ta trong vấn đề củng cố biên cương". Buổi đầu, việc khai khẩn còn khó khăn, thuế khóa đã được miễn nhiều lần. Trong thực tế triều đình đã dùng nhiều biện pháp để chiêu dụ, thu nạp dân, để cho đồng áng ngày càng mở mang, cuộc sống người dân càng được nâng lên.

Như vậy, đến khai phá đất An Giang, ngoài dân lưu tán tự phát vào khai khẩn, còn có một bộ phận dân hưởng ứng chính sách khuyến khích khai hoang của nhà Nguyễn nên số lưu dân đến tăng lên khá nhanh. Một thuận lợi cho An Giang nữa là lúc đó miền Long An, Mỹ Tho đất tốt hầu như không còn cho dân khai khẩn, nên dân di cư tràn xuống miền sông Hậu, đến khai phá cánh đồng hoang vu mênh mông ở tỉnh An Giang.

Vào nửa sau thế kỷ XIX, nhất là sau khi Pháp chiếm 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ, chế độ đồn điền trì trệ. Quân lính trong các đồn điền chuyển sang chiến đấu chống Pháp, nhà Nguyễn buộc phải chuyển sang hình thức doanh điền tiến hành thực hiện ở các tỉnh. Các nhà doanh điền ở An Giang và Hà Tiên được thành lập. Đến năm 1866,  doanh điền sứ An Giang - Hà Tiên là Trần Hoàn  báo cáo đã mộ được 1.646 dân đinh,  thành lập 149 thôn, khẩn được 8.333 mẫu ruộng.

Đến An Giang, còn có những người theo đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa. Lực lượng này gồm dân các tỉnh chung quanh (Gia Định, Mỹ Tho, Vĩnh Long) theo về với đạo, phần lớn tập trung khai phá vùng Thất Sơn rừng núi hoang vu.

Như vậy, các luồng di dân vào An Giang chủ yếu là người miền Trung, thường  gọi là dân Ngũ Quảng. Các luồng di dân khác từ một số tỉnh như Biên Hòa, Gia Định, Mỹ Tho... đến khai khẩn đất hoang theo bờ các kênh xáng mới đào.

Năm 1862, Pháp chiếm ba tỉnh miền Đông, rồi năm 1867 chiếm luôn ba tỉnh miền Tây.

Theo thống kê sơ bộ do y sĩ người Pháp Vantalon ghi lại trong chuyến đi trồng trái (chủng đậu) năm 1881, dân số Long Xuyên là 88.631 người, Châu Đốc là 105.182 dân, phần lớn tập trung ở phía sông Tiền vùng Tân Châu, Chợ Mới.

Khoảng giữa thế kỷ XIX, An Giang còn là nơi quy tụ những đoàn người theo đạo hoặc núp dưới ngọn cờ tôn giáo để kháng chiến chống thực dân Pháp. Nhân cơ hội Kinh lược xứ Nam Kỳ là Nguyễn Tri Phương khuyến khích việc chiêu mộ dân đến khai hoang vùng biên giới, giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương đưa người đến khẩn hoang vùng Thất Sơn, Láng Linh, Cái Dầu và bên bờ sông Tiền.

Năm 1851, ông Đoàn Minh Huyên chia nhiều đoàn tín đồ đi khai khẩn:

- Đoàn thứ nhất vào Thất Sơn, bên chân núi Két, một nơi còn hoang vu. Đoàn chia làm hai nhánh, một do cụ Bùi Văn Thân tức tăng chủ Bùi Thiền Sư hướng dẫn, và một đoàn do cụ Bùi Văn Tây tức Đình Tây chỉ huy, cùng nhau góp sức lập nên các trại ruộng Hưng Thới và Xuân Sơn, sau này hợp thành xã Thới Sơn (Tịnh Biên).

- Đoàn thứ hai do cụ Quản cơ Trần Văn Thành dẫn dắt. Đoàn này đến Láng Linh, một vùng đầm lầy, thuộc huyện Châu Phú.

- Đoàn thứ ba do cụ Nguyễn Văn Xuyến tức "Đạo Xuyến" đưa tín đồ về Cái Dầu (Bình Long) thuộc huyện Châu Phú ngày nay.

Cụ Ngô Lợi, người khởi xướng đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa, cũng đã đưa hàng trăm lượt tín đồ từ khắp nơi về vùng núi Tượng lập làng An Định, di  dân mở đất khai hoang vùng biên giới.

Báo cáo của Chủ tỉnh Châu Đốc Bocquet gởi Giám đốc Nội an Sài Gòn ngày 14-3-1886 ghi: "Sổ bộ làng An Định có ghi 422 dân đinh, trừ một số người vắng mặt, nhà chức trách chỉ kiểm tra được 342 người gồm dân các tỉnh đến như: Thủ Dầu Một 25 người, Chợ Lớn 64 người, Tân An 18 người, Gò Công 26 người, Vĩnh Long 24 người, Mỹ Tho 33 người, Bến Tre 25 người, Cần Thơ 13 người, Sa Đéc 33 người, Long Xuyên 30 người, Châu Đốc 33 người, Sóc Trăng 2 người, Trà Vinh 3 người, Hà Tiên 3 người và Phnom Pênh 10 người. Người ở lâu năm nhất trong làng là 13 năm (1875) có 1 người, 12 năm có 4 người, 10 năm có 2 người, 9 năm có 13 người, 8 năm có 34 người, 7 năm có 76 người, 6 năm có 54 người, 5 năm có 65 người, số người còn lại ở từ 14 năm...". Như vậy, làng An Định dân cư đa số từ các tỉnh khác đến, nhất là các tỉnh miền trên như: Thủ Dầu Một, Chợ Lớn, Tân An, Mỹ Tho. Pháp cho giải tán làng An Định, nhập vào làng Vĩnh Lạc (Vĩnh Lạc và Vĩnh Quới là hai làng xưa, nhập lại là Lạc Quới thuộc huyện Tri Tôn ngày nay). Tháng 6 1887, Pháp buộc tất cả 407 gia đình gồm 1994 người phải xuống tàu thủy để về quê quán, nhưng dọc đường nhiều người đã tìm cách quay trở lại núi Tượng.

Trong khoảng thời gian hơn nửa thế kỷ (từ 1880 đến 1937), qua chính sách khai hoang và đào kênh của thực dân Pháp ở Đồng bằng sông Cửu Long, tình hình dân số và ruộng đất có sự thay đổi lớn (qua số liệu thống kê chưa đầy đủ của thực dân Pháp).

DÂN SỐ TỈNH LONG XUYÊN TỪ 1874 ĐẾN 1914

NămDân sốChia ra ​ ​
ViệtKhmerHoa
187452.15745.1076.700350
187969.57265.3283.604640
188468.41266.0041.2721.136
1889101.74699.0711.5321.137
189494.44591.1301.8581.452
1904152.378149.0252.0001.341
1909142.185138.3392.5141.309
1914150.113144.9282.3691.936

(Theo Monographie de la province de Long Xuyên xuất bản năm 1929 của Victor Duvernoy)

Theo Quốc triều chính biên toát yếu của Quốc sử quán triều Nguyễn, năm 1847 tỉnh An Giang, số đinh theo báo cáo của bộ Hộ có 22.998 người (cả nước Việt Nam khi đó số đinh chỉ có 1.024.388 người).

Đến năm 1930, chấm dứt các chính sách di dân khẩn hoang vào miền Nam nói  chung và tỉnh An Giang nói riêng. Qua số liệu Niên giám thống kê của Pháp năm 1921, dân số hai tỉnh Long Xuyên và Châu Đốc cộng lại đông đứng thứ nhất đồng bằng sông Cửu Long.

Đây là điều phải lưu ý vì Long Xuyên và Châu Đốc là vùng đất “sinh sau đẻ muộn” so với các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long.

(Trích: Địa chí An Giang, năm 2013)

Giới thiệu về địa lý hành chính tỉnh An GiangAn Giang 190 nămBài viếtHT-TTGiới thiệu về địa lý hành chính tỉnh An Giang/Imagesnews/bando_An_Giang.jpeg
03/05/2022 11:00 SANoĐã ban hành

(TUAG)- An Giang là tỉnh ở miền Tây Nam Bộ, thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long, một phần nằm trong vùng Tứ giác Long Xuyên, là tỉnh biên giới có nhiều dân tộc và tôn giáo, nhân dân giàu lòng yêu nước, được Nhà nước phong tặng danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân" ngày 02/10/2000.

An Giang có diện tích tự nhiên 3.424km2 (353.676 ha), dân số 2.083.571 người (năm 2000). Năm 2019, dân số của tỉnh là 1.907.401 người.

An Giang có 11 đơn vị hành chính (ĐVHC) trực thuộc gồm: 02 thành phố (Long Xuyên, Châu Đốc); 01 thị xã (Tân Châu) và 08 huyện (An Phú, Tịnh Biên, Tri Tôn, Châu Phú, Châu Thành, Thoại Sơn, Chợ Mới, Phú Tân); trong đó 07 đơn vị loại I và 04 đơn vị loại II. Có 156 ĐVHC cấp xã gồm 21 phường; 16 thị trấn; 119 xã (trong đó có 127 ĐVHC loại I và 29 đơn vị hành chính loại II) và 888 khóm, ấp.

Phía Bắc - Tây Bắc giáp Campuchia dài 104 km([1]), Tây Nam giáp tỉnh Kiên Giang 69,789km, Nam giáp tỉnh Cần Thơ 44,734km, Đông giáp tỉnh Đồng Tháp 107,628km. Gồm 420 tuyến địa giới hành chính cấp xã dài 1.694,463km, trong đó: 259 tuyến xã trong nội huyện dài 1.159,079km, 21 tuyến huyện dài 313,233km và 3 tuyến tỉnh dài 222,151km; được xác định bằng 461 mốc địa giới hành chính các cấp gồm 39 mốc cấp tỉnh, 89 mốc cấp huyện và 333 mốc cấp xã.

Điểm cực Bắc trên vĩ độ 10057' (xã Khánh An, huyện An Phú), cực Nam trên vĩ độ 10012' (xã Thoại Giang, huyện Thoại Sơn), cực Tây trên kinh độ 104046' (xã Vĩnh Gia, huyện Tri Tôn), cực Đông trên kinh độ 105035' (xã Bình Phước Xuân, huyện Chợ Mới).

Chiều dài nhất theo hướng Bắc Nam là 86km và Đông Tây là 87,2km.

Ủy ban Dân tộc Miền núi của Chính phủ đã công nhận 21 xã vùng núi thuộc 2 huyện Tri Tôn (9 xã) và Tịnh Biên (12 xã) theo quyết định 42/UBQĐ ngày 23 tháng 5 năm 1997 và công nhận khu vực vùng dân tộc đồng bằng gồm xã Lương An Trà huyện Tri Tôn và 5 xã: Đa Phước, Khánh Bình, Quốc Thái, Nhơn Hội, Vĩnh Trường của huyện An Phú theo Quyết định 21/1998/UBQĐ ngày 25 tháng 02 năm 1998. Có 17 xã biên giới thuộc 5 huyện, thị giáp Campuchia. An giang là tỉnh có khá nhiều di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh nổi tiếng.

Chai-luoi.jpg

Địa bàn An Giang qua các thời kỳ lịch sử

- Thời kỳ phong kiến nhà Nguyễn (từ thế kỷ XVIII đến 1867)

Sách Đại Nam nhất thống chí viết về An Giang như sau: "Xưa là đất Tầm Phong Long, năm Đinh Sửu thứ 19 (1757) đời Thế Tông, quốc vương Chân Lạp Nặc Tôn dâng đất này, đặt làm đạo Châu Đốc, vì đất ấy có nhiều chỗ bỏ hoang, đầu đời Gia Long mộ dân đến ở, gọi là Châu Đốc Tân Cương".

Năm Mậu Thìn 1808, Gia Long đổi Gia Định trấn thành Gia Định thành. Gia Định thành thống quản 5 trấn: Phiên An, Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Thanh và Hà Tiên. Tỉnh An Giang (ngày nay) lúc bấy giờ thuộc trấn Vĩnh Thanh.

Năm Nhâm Thìn 1832, Minh Mạng đổi "Ngũ trấn" thành "Lục tỉnh" gồm: Phiên An([2]), Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên.

Sách Đại Nam nhất thống chí viết: "Năm Minh Mạng thứ 13 (1832) lấy đất này cùng với huyện Vĩnh An tỉnh Vĩnh Long đặt làm phủ Tuy Biên và Tân Thành; đặt bốn huyện là Tây Xuyên, Phong Phú, Đông Xuyên và Vĩnh An lập tỉnh An Giang, đặt chức An Hà Tổng đốc, thống lãnh hai tỉnh An Giang và Hà Tiên, lại đặt hai ty Bố chánh, Án sát".

Như vậy, tỉnh An Giang được thành lập từ năm 1832, gồm có 2 phủ, 4 huyện. Lỵ sở của tỉnh An Giang đặt tại Châu Đốc, nơi tổng đốc An Hà trú đóng cai quản hai tỉnh An Giang, Hà Tiên. Tỉnh An Giang ngày nay gần khớp với địa bàn hai huyện Đông Xuyên và Tây Xuyên xưa (tức phủ Tuy Biên).

Năm 1835, Minh Mạng cho lấy đất Ba Thắc đặt thêm phủ Ba Xuyên, đặt hai huyện Phong Nhiêu, Phong Thạnh và lấy huyện Vĩnh Định tỉnh Vĩnh Long nhập vào tỉnh An Giang.

Năm Minh Mạng thứ 17 (Bính Thân 1836), vua cho đạc điền lập địa bạ cả Nam Kỳ lục tỉnh. Địa bạ An Giang lần đầu tiên được xác lập ngày mùng 3 tháng 6 năm 1836, ghi nhận lúc bấy giờ có 2 phủ, 4 huyện, 18 tổng, 167 làng.

Đến thời Tự Đức, sau nhiều lần tách nhập, thêm phủ, huyện, An Giang có 3 phủ, 10 huyện (Đại Nam nhất thống chí liệt kê chỉ có 9 huyện).([3])

- Dưới chế độ thực dân Pháp (1867–1945)

Theo Nghị định ngày 05/01/1876 của Thống đốc Dupré, Pháp bỏ hệ thống Nam Kỳ lục tỉnh mà chia thành 4 khu vực (circonscription administrative): Sài Gòn, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Bassac; bao gồm 19 hạt. Tỉnh An Giang (Nam Kỳ lục tỉnh) được chia thành 5 hạt (Châu Đốc, Long Xuyên, Cần Thơ, Sóc Trăng, Sa Đéc), tỉnh Hà Tiên chia thành 2 hạt (Hà Tiên, Rạch Giá). Khu vực Bassac (Hậu Giang) gồm 6 hạt: Châu Đốc, Long Xuyên, Hà Tiên, Trà Ôn, Sóc Trăng, Rạch Giá, (hạt Sa Đéc thuộc khu vực Vĩnh Long). Địa bàn An Giang ngày nay nằm trên 2 hạt Châu Đốc (10 tổng, 91 thôn) và Long Xuyên  (8 tổng, 55 thôn).

Theo Nghị định ngày 20/12/1899, Pháp bãi bỏ các hạt đổi thành tỉnh.

Năm 1917, tỉnh Châu Đốc gồm 4 quận (Châu Thành, Tân Châu, Tịnh Biên, Tri Tôn) 12 tổng, 98 xã và tỉnh Long Xuyên gồm 3 quận (Châu Thành, Thốt Nốt, Chợ Mới) 8 tổng, 58 xã. Tương ứng địa bàn An Giang ngày nay chỉ có 6 quận, 16 tổng, 116 xã. Năm 1930, tỉnh Châu Đốc nhận thêm quận Hồng Ngự, tỉnh Long Xuyên vẫn như cũ.

- Thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954)

Thời kỳ này, chính quyền tay sai tiếp tục duy trì các đơn vị hành chính như cũ. Cả nước có 69 đơn vị hành chính cấp tỉnh. Năm 1945, Nam Kỳ có 21 tỉnh, trong đó tỉnh Châu Đốc gồm 5 quận là Tri Tôn, Tịnh Biên, Hồng Ngự, Tân Châu, Châu Phú và tỉnh Long Xuyên gồm 3 quận là Chợ Mới, Thốt Nốt, Châu Thành. Năm 1953, tỉnh Long Xuyên gồm 5 quận (thành lập thêm quận Núi Sập và Lấp Vò), tỉnh Châu Đốc vẫn như cũ (5 quận).

Đêm 22 tháng 9 năm 1945, Ủy ban Kháng chiến hành chính Nam Bộ được thành lập và cuộc Kháng chiến Nam Bộ bắt đầu, Hồ Chủ tịch ký Sắc lệnh thành lập các chiến khu trong toàn quốc. Tỉnh Long Xuyên, Châu Đốc thuộc chiến Khu 9.

Để thuận lợi trong việc lãnh đạo địa bàn kháng chiến, ngày 12 tháng 9 năm 1947, Ủy ban Kháng chiến hành chính Nam Bộ ra Chỉ thị số 50/CT phân chia lại địa giới hai tỉnh Long Xuyên và Châu Đốc thành hai tỉnh mới là Long Châu Tiền thuộc Khu 8 và Long Châu Hậu thuộc Khu 9. Ngày 06 tháng 3 năm 1948, hai tỉnh Long Xuyên và Châu Đốc tổ chức hội nghị để thực hiện chỉ thị trên.

- Tỉnh Long Châu Tiền có 5 quận là Tân Châu, Hồng Ngự, Chợ Mới, Châu Phú B (An Phú ngày nay) và Lấp Vò.

- Tỉnh Long Châu Hậu có 6 quận là Tịnh Biên, Tri Tôn, Thốt Nốt, Thoại Sơn, Châu Phú A và Châu Thành (bao gồm hai tỉnh lỵ là Long Xuyên và Châu Đốc).

Ngày 07 tháng 02 năm 1949, tỉnh Long Châu Hậu giao quận Thốt Nốt về tỉnh Cần Thơ và ngày 14 tháng 5 năm 1949, tỉnh Long Châu Tiền giao quận Lấp Vò về tỉnh Sa Đéc.

Tháng 5 năm 1949, tỉnh Long Châu Hậu tiếp nhận 3 xã Nam Thới Sơn, Bình Sơn và Thổ Sơn của quận Châu Thành (Rạch Giá) cho nhập vào quận Tri Tôn và tiếp nhận 2 xã Mỹ Hiệp Sơn (trừ 2 ấp Mỹ Phú, Mỹ Quới) và Tân Hội cùng 4 ấp của xã Tân Hiệp nằm về phía Bắc lộ Cái Sắn vào quận Thoại Sơn.

Tháng 6 năm 1949, chia quận Tân Châu của tỉnh Long Châu Tiền thành 2 quận mới là quận Phú Châu gồm 17 xã và quận Tân Châu gồm 10 xã.

Theo Nghị định 58/TTg ngày 30 tháng 10 năm 1950 của Thủ tướng Chính phủ chấp thuận đề nghị của Ủy ban Kháng chiến hành chính Nam Bộ, 2 tỉnh Long Châu Hậu và Hà Tiên được sáp nhập thành tỉnh Long Châu Hà, gồm 8 quận: Tịnh Biên, Tri Tôn, Châu Phú A, Châu Thành, Thoại Sơn, Thốt Nốt, Giang Châu (quận Giang Thành và Châu Thành của Hà Tiên nhập lại là huyện Hà Tiên ngày nay) và Phú Quốc. Tháng 7 năm 1951, sáp nhập 2 quận Tri Tôn, Tịnh Biên thành quận Tịnh Biên; 2 quận Châu Thành, Thoại Sơn thành quận Châu Thành.

Ngày 27 tháng 6 năm 1951, theo Nghị định 173/NB51 của Ủy ban Kháng chiến hành chính Nam Bộ, tỉnh Long Châu Sa được thành lập trên cơ sở nhập tỉnh Sa Đéc vào tỉnh Long Châu Tiền, có 7 huyện: Châu Thành (Sa Đéc), Lai Vung, Cao Lãnh, Tân Hồng, Tân Châu, Phú Châu và Chợ Mới. Lúc này, 2 huyện Hồng Ngự và Tân Châu của Long Châu Tiền chia ranh giới lại thành 2 huyện Tân Hồng và Tân Châu. Đến tháng 7 năm 1951, nhập huyện Lấp Vò vào tỉnh Long Châu Sa.

Nghị định 252/NB51 ngày 12 tháng 10 năm 1951 của Ủy ban Kháng chiến hành chính Nam Bộ chia liên khu Nam Bộ thành hai phân liên khu: Phân liên khu Miền Đông gồm 6 tỉnh: Gia Định, Thủ Biên, Bà Rịa, Chợ Lớn, Mỹ Tho, Long Châu Sa và Phân liên khu Miền Tây gồm 6 tỉnh: Bến Tre, Vĩnh Trà, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Long Châu Hà. Hai tỉnh Long Châu Hà và Long Châu Sa tồn tại đến năm 1954.

- Thời kỳ kháng chiến chống đế quốc Mỹ (1954 - 1975)

Năm 1955, tỉnh Châu Đốc có 5 quận: Châu Phú, Tân Châu, Tri Tôn, Tịnh Biên, Hồng Ngự, với 70 xã và tỉnh Long Xuyên có 5 quận: Châu Thành, Chợ Mới, Núi Sập, Thốt Nốt, Lấp Vò, với 47 xã.

Ngày 22 tháng 10 năm 1956, theo Sắc lệnh 143/VN của Ngô Đình Diệm, địa phận Nam Việt Nam gồm Đô thành Sài Gòn và 22 tỉnh. Tỉnh An Giang (tỉnh lỵ Long Xuyên) gồm tỉnh Châu Đốc và tỉnh Long Xuyên cũ. Bấy giờ, An Giang có 8 quận (Châu Thành, Châu Phú, Chợ Mới, Tân Châu, Thốt Nốt, Tịnh Biên, Tri Tôn, Núi Sập) với 16 tổng, 96 xã. Đến ngày 06 tháng 8 năm 1957, thành lập quận An Phú từ 13 xã của quận Châu Phú.

Ngày 08 tháng 9 năm 1964, theo Sắc lệnh 246/NV (chính quyền Sài Gòn), tỉnh An Giang được tách thành 2 tỉnh: Tỉnh Châu Đốc (5 quận, 10 tổng, 57 xã) và tỉnh An Giang (4 quận, 6 tổng, 38 xã). Tỉnh Long Xuyên cũ được đặt tên là tỉnh An Giang cho đến năm 1975.

Về phía chính quyền Cách mạng, tháng 10 năm 1954, Xứ ủy Nam Bộ lập lại hai tỉnh Long Xuyên và Châu Đốc. Tỉnh Long Xuyên gồm các quận: Châu Thành, Chợ Mới, Lấp Vò, Thốt Nốt, Phong Thạnh Thượng và tỉnh Châu Đốc gồm các quận: Tân Châu, Hồng Ngự, Tri Tôn, Tịnh Biên, Châu Phú.

Theo sự chỉ đạo của Xứ ủy Nam Bộ, giữa năm 1957, tỉnh Long Xuyên, Châu Đốc hợp nhất lại thành tỉnh An Giang gồm 9 quận: Chợ Mới, Thốt Nốt, Núi Sập, Châu Thành, Châu Phú, An Phú, Tân Châu, Tịnh Biên, Tri Tôn. Giao Hồng Ngự về tỉnh Kiến Phong và giao Lấp Vò về tỉnh Sa Đéc.

Để đối phó với tình hình mới, tháng 10 năm 1961, Tỉnh ủy An Giang quyết định thành lập các liên huyện Tịnh Biên - Tri Tôn lấy tên Tịnh Biên, liên huyện Châu Thành - Huệ Đức lấy tên Châu Thành, liên huyện Tân Châu - An Phú lấy tên Tân Châu. Cuối năm 1962, Tỉnh ủy chỉ đạo tách liên huyện Tịnh Biên - Tri Tôn trở lại hai huyện như trước.

Năm 1963, giao Thốt Nốt về tỉnh Cần Thơ và nhận thêm huyện Hà Tiên của tỉnh Kiên Giang. Tháng 12 năm 1965, giao Chợ Mới về tỉnh Kiến Phong và năm 1967, trả Hà Tiên về tỉnh Kiên Giang.

Thực hiện yêu cầu của Trung ương Cục về việc thành lập tỉnh mới giữ vai trò đầu cầu hành lang từ trung ương về miền Tây Nam Bộ, tháng 8 năm 1971, An Giang chia thành 2 tỉnh An Giang và Châu Hà:

-Tỉnh An Giang gồm 5 huyện: Châu Phú, Châu Thành X, An Phú, Tân Châu, Phú Tân,  bao gồm cả hai nơi mà nay gọi là thành phố Long Xuyên và thị xã Châu Đốc.

-Tỉnh Châu Hà gồm 6 huyện: Tịnh Biên, Tri Tôn, Huệ Đức, Hà Tiên, Phú Quốc và Châu Thành A của Kiên Giang.

Tháng 5 năm 1974, Trung ương Cục phân chia lại địa bàn các tỉnh, tỉnh An Giang, Châu Hà và Kiến Phong chuyển thành tỉnh Long Châu Tiền và Long Châu Hà:

-Tỉnh Long Châu Tiền gồm 6 huyện: Tân Châu, An Phú, Phú Tân A, Phú Tân B, Hồng Ngự và Tam Nông (nay là Thanh Bình thuộc tỉnh Đồng Tháp).

-Tỉnh Long Châu Hà gồm có các huyện: Châu Thành X, Châu Phú, Tri Tôn, Tịnh Biên, Huệ Đức, Châu Thành A (Rạch Giá), Phú Quốc và 2 thị xã Long Xuyên và Châu Đốc.

- Sau ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (từ 1975 đến 2000)

Những tháng đầu sau ngày giải phóng là thời kỳ quân quản. Khi có Nghị quyết số 19 /NQ-TW ngày 20 tháng 12 năm 1975 của Bộ Chính trị, tỉnh An Giang được thành lập bao gồm tỉnh Long Xuyên và tỉnh Châu Đốc cũ, trừ huyện Thốt Nốt. Tỉnh An Giang lúc này có 8 quận, 84 xã.

Tháng 02 năm 1976, Nghị định của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam giải thể khu hợp nhất tỉnh, bỏ danh xưng "quận" có từ thời Pháp và lấy lại danh xưng "huyện"; "quận" và "phường" dành cho các đơn vị tương xứng với huyện và xã khi đã đô thị hóa. Miền Nam có 21 đơn vị hành chính cấp tỉnh thuộc trung ương. Tỉnh An Giang có 10 huyện, thị là: Châu Thành, Huệ Đức, Chợ Mới, Phú Tân, Châu Phú, Phú Châu, Tri Tôn, Tịnh Biên, thị xã Long Xuyên và thị xã Châu Đốc.

Ngày 11 tháng 3 năm 1977, Quyết định 56/CP của Chính phủ hợp nhất huyện Huệ Đức và Châu Thành thành huyện Châu Thành; huyện Tri Tôn và Tịnh Biên thành huyện Bảy Núi.

Ngày 23 tháng 8 năm 1979, Quyết định số 300/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng điều chỉnh địa giới một số huyện thuộc tỉnh An Giang: Huyện Bảy Núi được chia thành 2 huyện Tri Tôn và Tịnh Biên; huyện Châu Thành chia thành 2 huyện Châu Thành và Thoại Sơn. An Giang có 8 huyện và 2 thị xã.

Ngày 13 tháng 11 năm 1991, Quyết định số 373/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng chia huyện Phú Châu thành 2 huyện Tân Châu và An Phú.

Quyết định số 669/TTg ngày 12 tháng 11 năm 1994 của Thủ tướng Chính phủ đã giải quyết việc xác định ranh giới hành chính giữa hai tỉnh An Giang và Kiên Giang.

Năm 1996, tỉnh An Giang hoàn thành việc giải quyết những tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới hành chính và thành lập bộ hồ sơ, bản đồ và mốc địa giới hành chính các cấp trong tỉnh theo Chỉ thị 364/CT ngày 06 tháng 11 năm 1991 của Hội đồng Bộ trưởng, được tổ chức nghiệm thu ngày 02 tháng 5 năm 1996 tại An Giang. Đây là bộ hồ sơ đầy đủ tính pháp lý, khoa học, thống nhất và đủ điều kiện đưa vào quản lý, khai thác sử dụng theo Nghị định 119/CP của Chính phủ.

Ngày 01 tháng 3 năm 1999([4]), Nghị định 09/NĐCP của Chính phủ thành lập thành phố Long Xuyên. Tỉnh An Giang hiện nay gồm các đơn vị hành chính trực thuộc là: thành phố Long Xuyên, thị xã Châu Đốc và 9 huyện: Châu Thành, Thoại Sơn, Chợ Mới, Phú Tân, Châu Phú, Tân Châu, An Phú, Tri Tôn, Tịnh Biên; với 140 đơn vị hành chính cơ sở gồm 11 phường, 11 thị trấn và 118 xã.

- Ngày 24/8/2009, Thủ tướng Chính phủ ký Nghị quyết số 40/NQ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính xã thuộc huyện Tân Châu, huyện An Phú, huyện Phú Tân; thành lập thị xã Tân Châu, thành lập các phường thuộc thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

- Ngày 19/7/2013, Thủ tướng Chính phủ ký Nghị quyết số 86/NQ-CP thành lập phường Vĩnh Ngươn thuộc thị xã Châu Đốc và thành lập thành phố Châu Đốc thuộc tỉnh An Giang.

Như vậy đến nay, tỉnh An Giang có 11 đơn vị hành chính cấp huyện trực thuộc, bao gồm 2 thành phố, 1 thị xã và 8 huyện với 156 đơn vị hành chính cấp xã, bao gồm 21 phường, 19 thị trấn và 116 xã được chia thành 879 khóm - ấp. Hai huyện Tịnh Biên và Tri Tôn được Chính phủ công nhận là huyện miền núi. Đến cuối năm 2021, An Giang có 3 đơn vị cấp huyện được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới là: Thành phố Châu Đốc; Thành phố Long Xuyên và huyện Thoại Sơn./.


_____________

[1] Theo Hiệp ước hoạch định biên giới Việt Nam - Campuchia ký ngày 27/12/1985. (Tổng cục Địa chính khảo sát năm 1993 dài 94,8 km)

[2] Tháng 8 năm Quý Tỵ (1833) đổi tỉnh Phiên An thành tỉnh Gia Định.

[3] Phủ Tuy Biên gồm huyện Tây Xuyên, Phong Phú, Hà Dương, Hà Âm; Phủ Tân Thành gồm huyện Vĩnh An, An Xuyên, Đông Xuyên (trước thuộc phủ Tuy Biên, từ năm 1839 thuộc phủ Tân Thành). Phủ Ba Xuyên gồm huyện Phong Nhiêu, Vĩnh Định.

[4] Ngày 22 tháng 3 năm 2002 Nghị định 29/NĐ-CP của Chính phủ về điều chỉnh địa giới hành chính để thành lập phường Núi Sam thuộc thị xã Châu Đốc, thị trấn Phú Hòa và đổi tên xã Phú Hòa thành xã Phú Thuận thuộc huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang, tổng cộng có 142 đơn vị hành chính cơ sở gồm 12 phường, 12 thị trấn, 118 xã.

Ngày 19 tháng 5 năm 2003 Nghị định 53/NĐ-CP của Chính phủ về điều chỉnh địa giới hành chính để thành lập xã, phường, thị trấn thuộc các huyện Thoại Sơn (thị trấn Óc Eo và xã Bình Thành), Phú Tân (xã Long Hòa), Tân Châu (điều chỉnh địa giới hành chính giữa xã Long An và thị trấn Tân Châu) và thị xã Châu Đốc (phường Vĩnh Mỹ) tỉnh An Giang, tổng cộng có 146 đơn vị hành chính cơ sở gồm 13 phường, 13 thị trấn, 120 xã.

Ngày 17 tháng 10 năm 2003 Nghị định 119/NĐ-CP của Chính phủ về điều chỉnh địa giới hành chính để thành lập xã, thị trấn thuộc các huyện Chợ Mới (thị trấn Mỹ Luông), Tri Tôn (thị trấn Ba Chúc), Tịnh Biên (xã Núi Voi) và Phú Tân (xã Tân Trung) tỉnh An Giang, tổng cộng có 150 đơn vị hành chính cơ sở gồm 13 phường, 15 thị trấn, 122 xã.

Ngày 12 tháng 4 năm 2005 Nghị định 52/NĐ-CP của Chính phủ về điều chỉnh địa giới hành chính để thành lập phường, xã, thị trấn thuộc thành phố Long Xuyên (phường Đông Xuyên và phường Mỹ Hòa) và các huyện Tịnh Biên (thị trấn Tịnh Biên), An Phú (thị trấn Long Bình), Thoại Sơn (xã An Bình), Tân Châu (xã Tân Thạnh) tỉnh An Giang, tổng cộng có 154 đơn vị hành chính cơ sở gồm 15 phường, 17 thị trấn, 122 xã.

Ngày 24 tháng 8 năm 2009 Nghị Quyết 40/NQ-CP của Chính phủ về điều chỉnh địa giới hành chính xã thuộc huyện Tân Châu, huyện An Phú, huyện Phú Tân; thành lập thị xã Tân Châu, thành lập các phường (Long Thạnh, Long Hưng, Long Châu, Long Phú, Long Sơn) thuộc thị xã Tân Châu tỉnh An Giang, tổng cộng có 156 đơn vị hành chính cơ sở gồm 20 phường, 16 thị trấn, 120 xã.

Như vậy đến năm 2010 tỉnh An Giang có 11 đơn vị hành chính cấp huyện gồm 01 thành phố (Long Xuyên), 02 thị xã (Châu Đốc và Tân Châu), 08 huyện (Châu Thành, Châu Phú, An Phú, Phú Tân, Chợ Mới, Thoại Sơn, Tri Tôn, Tịnh Biên) và 156 đơn vị hành chính cấp xã gồm 20 phường, 16 thị trấn, 120 xã.

 

 

Long Xuyên nhiều công trình hưởng ứng kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An GiangBài viếtHà NgânLong Xuyên nhiều công trình hưởng ứng kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang/SiteAssets/Bac-ton-TH.jpg
27/04/2022 11:00 SANoĐã ban hành

(TUAG)- Năm 2022, là năm chào mừng nhiều sự kiện quan trọng, đặt biệt là chào mừng kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh (1832 - 2022). Đây là sự kiện lớn, quan trọng của Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân trên địa bàn tỉnh. Để chào mừng sự kiện quan trọng này, cũng như kỷ niệm 47 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước 30/4/1975-30/4/2022, những ngày này, TP Long Xuyên đã khẩn trương triển khai các hoạt động và các công trình hướng đến sự kiện chính trị đầy ý nghĩa này.

Bac-ton-TH.jpg

Bà Võ Thị Xuân Kiều - Phó Chủ tịch UBND TP Long Xuyên nhấn mạnh thêm: Để chào mừng sự kiện quan trọng này TP Long Xuyên đã triển khai các hoạt động và các công trình chào mừng kỷ niệm 190 năm trên địa bàn thành phố với các sự kiện và công trình như: Hội thi giới thiệu câu chuyện lịch sử với chủ đề "Tự hào quê hương An Giang"; Hội thi bút ký với chủ đề "An Giang ngày mới"; thi trang trí góc triển lãm và khu vui chơi trong các cơ sở giáo dục với chủ đề "Yêu quê hương An Giang"; Hội thi tiếng hát từ quê hương Bác Tôn. Ngoài ra, thành phố phối hợp với Đài Phát thanh - Truyền hình An Giang thực hiện phim tư liệu "Sự đóng góp của Long Xuyên trong quá trình hình thành và phát triển của tỉnh An Giang", chuyên mục "Long Xuyên trên đường phát triển".

Là một trong 4 công trình cấp tỉnh được TP Long Xuyên chọn chào mừng sự kiện kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang (1832 - 2022), Đảng ủy phường Mỹ Bình luôn xác định đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng, góp phần tuyên truyền giáo dục cho cán bộ, đảng viên, đoàn viên thanh niên và Nhân dân trên địa bàn phường hiểu rõ hơn về lịch sử hình thành và phát triển tỉnh An Giang; nâng cao niềm tin, khơi dậy lòng tự hào về truyền thống của quê hương, qua đó cổ vũ quyết tâm chính trị của mỗi người dân trong công cuộc xây dựng và phát triển tỉnh An Giang trong tình hình mới. Vì vậy, để công trình đạt kế hoạch mục tiêu đề ra, những ngày này, Đảng uỷ phường tập trung chỉ đạo và triển khai phát động Hội thi tìm hiểu "Quá trình hình thành và phát triển vùng đất An Giang giai đoạn (1832-2022)". Ông Phạm Hồng Sang - Phó Bí thư Thường trực Đảng uỷ Phường Mỹ Bình, TP Long Xuyên cho biết: Hội thi được tổ chức 2 vòng. Đối với vòng 1, thi t luận, thi viết các nội dung trọng tâm về chủ đề nhận thức của bản thân đối với các sự kiện, dấu ấn về lịch sử, quá trình hình thành và phát triển vùng đất An Giang; vòng 2 thi tiểu phẩm bằng hình thức sân khấu hóa.

Thành phố Long Xuyên còn có thêm 3 công trình đăng ký với tỉnh hưởng ứng chào mừng sự kiện 190 năm thành lập tỉnh An Giang như: Hội thi sáng tác biểu trưng (logo) thành phố; biên soạn tập kỷ yếu "Thành phố Long Xuyên - Quê hương Chủ tịch Tôn Đức Thắng vươn mình phát triển trở thành đô thị loại 1, giai đoạn 2009 - 2019", thời gian thực hiện từ tháng 01 đến tháng 6/2022; công trình nâng cấp đường Ung Văn Khiêm (đoạn từ đường Võ Thị Sáu - đường số 02, phường Mỹ Xuyên và Đông Xuyên), thực hiện từ tháng 02 đến tháng 9/2022. TP Long Xuyên đã chỉ đạo cho các phòng, ban, ngành triển khai tổ chức các hoạt động và thực hiện các công trình chào mừng hoàn thành theo kế hoạch đề ra. Cụ thể, công trình nâng cấp đường Ung Văn Khiêm, Ban Quản lý dự án đang thực hiện và khẩn trương hoàn thành để đưa vào sử dụng, đến nay tiến độ thi công công trình đạt 10% và đang triển khai thi công một số hạng mục còn lại, dự kiến sẽ bàn giao đưa vào sử dụng ngày 07/9/2022; Hội thi sáng tác biểu trưng (logo) thành phố, hiện nay đã nhận được 05 tác phẩm, dự kiến tổ chức lễ trao giải vào tháng 10/2022; biên soạn tập kỷ yếu "Thành phố Long Xuyên - quê hương Chủ tịch Tôn Đức Thắng vươn mình phát triển trở thành đô thị loại 1, giai đoạn 2009 - 2019", hiện đang vào giai đoạn biên tập, dự kiến sẽ phát hành vào ngày 19/5. Về tổ chức và phát động Hội thi tìm hiểu "Quá trình và hình thành vùng đất An Giang, giai đoạn 1832 - 2022", Đảng uỷ Phường Mỹ Bình đã thực hiện được giai đoạn 1 chấm chọn bài thi, đang thực hiện giai đoạn 2 sân khấu hóa và tập dợt các chương trình, dự kiến tổ chức Hội thi vào ngày 19/5/2022.

Bên cạnh chuỗi những hoạt động tổ chức chào mừng sự kiện 190 năm thành lập tỉnh, những ngày này, TP Long Xuyên như tưng bừng hơn rộn ràng hơn với sự kiện kỷ niệm 47 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước 30/4/1975 - 30/4/2022. TP Long Xuyên quê hương Bác Tôn đã và đang trở lại nhịp sống bình thường mới. Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân thành phố đang hướng đến niềm tự hào của vùng đất An Giang có bề dày lịch sử 190 năm thành lập. Đây sẽ là cơ hội để giới thiệu, quảng bá những tiềm năng, lợi thế của thành phố nhằm thu hút ngày càng nhiều khách du lịch, các doanh nghiệp, tổ chức cá nhân trong và ngoài tỉnh tìm hiểu, đầu tư, phát triển, góp phần thực hiện thành công các mục tiêu, nhiệm vụ mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XI và Nghị quyết thành phố Long Xuyên lần thứ XII đề ra.

Hà Ngân

Phó Chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân dự khai mạc Lễ hội Văn hóa truyền thống huyện Thoại Sơn, An GiangAn Giang 190 nămTinCông MạoPhó Chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân dự khai mạc Lễ hội Văn hóa truyền thống huyện Thoại Sơn, An Giang/SiteAssets/200-nam-TS-lehoi-0.jpg

(TUAG)- Tối ngày 10/4, Phó Chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân dự khai mạc Lễ hội Văn hóa truyền thống huyện Thoại Sơn lần thứ XXI năm 2022 tại Quảng trường Thoại Ngọc Hầu, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang, nhân kỷ niệm 200 năm danh thần Thoại Ngọc Hầu dựng bia, lập làng Thoại Sơn (1822-2022).

11/04/2022 10:00 SANoĐã ban hành

200-nam-TS-lehoi-0.jpg

Cùng dự có Bí thư Tỉnh ủy An Giang Lê Hồng Quang; lãnh đạo tỉnh An Giang, huyện Sơn Trà (thành phố Đà Nẵng) và huyện Vũng Liêm (tỉnh Vĩnh Long) - hai địa phương kết nghĩa với huyện Thoại Sơn và đông đảo bà con nhân dân huyện Thoại Sơn.

200-nam-TS-lehoi-1.jpg

200-nam-TS-lehoi-7.jpg

200-nam-TS-lehoi-2.jpg

200-nam-TS-lehoi-3.jpg

200-nam-TS-lehoi-4.jpg

Lễ hội Văn hóa truyền thống huyện Thoại Sơn lần thứ XXI năm 2022 được huyện Thoại Sơn (tỉnh An Giang) tổ chức vào ngày 10/3 âm lịch hàng năm nhằm tri ân  công đức của danh thần Thoại Ngọc Hầu và các bậc tiền nhân đã có công khai mở vùng đất Thoại Sơn của tỉnh An Giang. Đây còn là dịp tôn vinh những thành tựu của Đảng bộ và Nhân dân huyện Thoại Sơn trong quá trình xây dựng, phát triển.

Lễ hội Văn hóa truyền thống huyện Thoại Sơn trùng với ngày Giỗ Tổ Hùng Vương nên rất đông những người con của vùng đất Thoại Sơn và du khách thập phương về dự Lễ Kỳ Yên kỷ niệm 200 năm Danh thần Thoại Ngọc Hầu dựng bia, lập làng Thoại Sơn (1822 - 2022).

Từ năm 2002, huyện Thoại Sơn đã tổ chức Lễ hội Văn hóa truyền thống nhằm phục vụ bà con nhân dân. Với chủ đề “Thoại Sơn, sáng danh tên làng - vươn tầm cao mới” - Lễ hội Văn hóa truyền thống huyện Thoại Sơn năm 2022 là sự kiện văn hóa nổi bật, chào mừng kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang. Đây được xem là lễ hội văn hóa truyền thống lớn bậc nhất của vùng đất Thoại Sơn.

Lễ Kỳ Yên với đầy đủ các nghi thức: Túc yết, xây chầu, đại bội, chương trình sân khấu hóa và dâng hương. Cùng với các hoạt động văn hóa, thể thao trước, trong và sau lễ hội; hội thi tìm hiểu cuộc đời, sự nghiệp thân thế của danh thần Thoại Ngọc Hầu - Nguyễn Văn Thoại, còn diễn ra các giải thi đấu thể thao ở các trung tâm văn hóa - học tập cộng đồng, điểm sinh hoạt văn hóa - thể thao của các xã, thị trấn và tại Trung tâm Văn hóa -Thể thao -Du lịch và Truyền thanh huyện Thoại Sơn; hoạt động giới thiệu, quảng bá du lịch Thoại Sơn, tuyên truyền xây dựng huyện nông thôn mới nâng cao...

200-nam-TS-lehoi-6.jpg

Bí thư Huyện ủy Thoại Sơn Nguyễn Thị Minh Kiều phát biểu.

Phát biểu tại buổi lễ, Bí thư Huyện ủy Thoại Sơn (An Giang) Nguyễn Thị Minh Kiều cho biết, năm 2021, dịch COVID-19 diễn biến phức tạp, nhưng kinh tế - xã hội của huyện Thoại Sơn vẫn phát triển ổn định và đạt được kết quả khá toàn diện. Trong 21 chỉ tiêu về phát triển kinh tế xã hội thì có 14 chỉ tiêu vượt, 6 chỉ tiêu đạt, 1 chỉ tiêu cơ bản đạt. Đặc biệt, Thoại Sơn đã thực hiện thắng lợi 2 chỉ tiêu quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội là nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp từ 180 triệu đồng/ha năm 2020 lên 196 triệu đồng/ha và nâng cao thu nhập bình quân từ 54 triệu đồng/người (năm 2020) lên gần 65 triệu đồng/người (năm 2021). Quý I/2022, kinh tế - xã hội huyện Thoại Sơn tiếp tục tăng trưởng khá so cùng kỳ.

Hướng về tương lai với nhiều kỳ vọng, Bí thư Huyện ủy Thoại Sơn Nguyễn Thị Minh Kiều khẳng định, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân quê hương Thoại Sơn quyết tâm đẩy mạnh đổi mới, sáng tạo, phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn theo hướng văn minh, hiện đại, hoàn thành xây dựng “Huyện nông thôn mới nâng cao” trước năm 2025, phấn đấu phát triển Thoại Sơn đạt chuẩn đô thị loại 3 vào năm 2029 nhằm thiết thực chào mừng kỷ niệm 50 năm ngày tái lập huyện Thoại Sơn.

200-nam-TS-lehoi-5.jpg

Dịp này, Phó Chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân đã trao tặng 50 phần quà cho các gia đình chính sách tiêu biểu của huyện Thoại Sơn.

Danh thần Thoại Ngọc Hầu (tên thật Nguyễn Văn Thoại), người mà tên tuổi đã gắn liền với cư dân vùng đất Nam Bộ, đặc biệt là trên vùng đất Thoại Sơn; người đã “thay trời mở đất mênh mông”. Công đào kênh Thoại Hà và dựng bia, lập làng Thoại Sơn của Danh thần Thoại Ngọc Hầu trải qua 200 năm vẫn còn nguyên giá trị. Tưởng nhớ đến công lao to lớn của Ông Thoại, nhân dân huyện Thoại Sơn lập đình thờ ông là thần Thành hoàng bổn cảnh, tại thị trấn Núi Sập, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

Lễ hội Văn hóa truyền thống huyện Thoại Sơn mang đậm dấu ấn truyền thống của lễ hội đình làng Nam Bộ, thu hút đông đảo người dân trong và ngoài tỉnh đến chiêm bái. Lễ hội còn mang trong mình nhiều giá trị và tiềm năng phục vụ cho việc phát triển du lịch bền vững ở địa phương.

Ngày diễn ra Lễ hội Văn hóa truyền thống huyện Thoại Sơn là một trong những lễ lớn nhất trong năm của huyện, đây cũng là ngày diễn ra Lễ hội Kỳ Yên tại đình thần Thoại Ngọc Hầu. Với giá trị tiêu biểu, Lễ hội Kỳ Yên Đình thần Thoại Ngọc Hầu được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Bên cạnh đó, Tổ chức Kỷ lục Việt Nam - VietKings cũng đã xác lập kỷ lục Việt Nam đối với Đình thần Thoại Ngọc Hầu. Đây là ngôi đình chứa 3 thiết chế văn hóa vật thể và phi vật thể, gồm Bia Thoại Sơn; Ngôi đình và Lễ hội Kỳ Yên được xếp hạng Di tích quốc gia. Ngôi đình được giữ gìn, trùng tu khang trang và trở thành điểm tựa tâm linh của người dân Thoại Sơn./.

Công Mạo

Tập trung tuyên truyền chuỗi sự kiện chào mừng kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh (1832 - 2022)An Giang 190 nămTinNgọc HânTập trung tuyên truyền chuỗi sự kiện chào mừng kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh (1832 - 2022)/SiteAssets/HN-BCV-quy2-2.jpg
29/03/2022 11:00 SANoĐã ban hành
(TUAG)- Sáng ngày 29/3, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy phối hợp với Sở Thông tin và Truyền thông, Hội Nhà báo tỉnh tổ chức Hội nghị định hướng tuyên truyền quý II/2022. Đồng chí Trần Thị Thanh Hương, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng Ban Tuyên giáo, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh; đồng chí Lê Quốc Cường, Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông; đồng chí Tân Văn Ngữ, Chủ tịch Hội Nhà báo tỉnh đồng chủ trì Hội nghị.
Quang cảnh hội nghị.

Hội nghị đã nghe báo cáo tình hình dư luận xã hội và công tác tuyên truyền báo chí quý I, nhiệm vụ trọng tâm quý II/ 2022, Hội nghị cũng tiến hành trao đổi, thảo luận nhiều vấn đề xoay quanh các kết quả đạt được trong công tác tuyên truyền, phản ánh dư luận xã hội 3 tháng đầu năm.

Phát biểu gợi ý thảo luận, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Trần Thị Thanh Hương nêu bật những kết quả tuyên truyền trong những tháng đầu năm, biểu dương các cơ quan báo chí, truyền thông trong tỉnh đã có nhiều nỗ lực trong công tác tuyên truyền.

Thời gian trước Tết, báo chí đã làm tốt công tác tuyên truyền, phản ánh sinh động các hoạt động mừng Đảng, mừng xuân, nhất là các hoạt động chăm lo Tết cho gia đình chính sách, người có công với cách mạng; cán bộ, chiến sĩ, người lao động; những người có hoàn cảnh khó khăn. Qua đó cho thấy một địa phương An Giang vừa vượt qua khó khăn do đại dịch nhưng không để ai bị bỏ lại phía sau.

Chủ tịch Hội Nhà báo tỉnh An Giang Tân Văn Ngữ phát biểu.

Công tác tuyên truyền các sự kiện khởi công, khánh thành các dự án, công trình trọng điểm có tác động lớn đến sự phát triển của tỉnh được báo chí quan tâm vào những tháng đầu năm. Thông qua các sự kiện góp phần quảng bá hình ảnh, quê hương con người An Giang.

Báo chí cũng đã phản ánh rõ nét khí thế làm việc trong những ngày đầu năm mới; chuyển biến tích cực của tình hình phòng, chống dịch COVID-19 trên địa bàn tỉnh; hoạt động sản xuất, kinh doanh trên đà phục hồi,… tất cả vẽ lên bức tranh của một năm mới đầy triển vọng, qua đó thể hiện quyết tâm của cả hệ thống chính trị và Nhân dân An Giang trong thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2022 đã đề ra.

Công tác tuyên truyền kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh (1832 - 2022) được các cơ quan báo chí chủ động triển khai ngay từ đầu năm. Công tác thông tin, tuyên truyền về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch tiếp tục được duy trì và nâng chất, gắn kết chặt chẽ giữa đấu tranh trên báo chí với các loại hình truyền thông khác, mang lại kết quả rõ nét.

Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông An Giang Lê Quốc Cường  phát biểu.

Hoạt động phát ngôn và cung cấp thông tin tiếp tục phát huy hiệu quả, các sở, ngành, địa phương đã chủ động trong phát ngôn, cung cấp thông tin kịp thời cho báo chí khi có vụ việc liên quan tới ngành, lĩnh vực, địa phương mình phụ trách, các phát ngôn này đều rất kịp thời định hướng dư luận xã hội, ổn định tình hình tư tưởng trong Nhân dân.

Đối với công tác nắm bắt, phản ánh, phản hồi, định hướng dư luận tiếp tục phát huy hiệu quả, chất lượng được nâng lên rõ nét. Các vấn đề, vụ việc gây bức xúc, quan tâm của Nhân dân được phản ánh, giải quyết kịp thời. Cơ chế nắm bắt, phản ánh, phản hồi dư luận xã hội tiếp tục được thực hiện bài bản qua đó, góp phần định hướng tuyên truyền, ổn định dư luận, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên địa bàn.

Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Trần Thị Thanh Hương kết luận hội nghị.

Định hướng tuyên truyền quý II/2022, đồng chí Trần Thị Thanh Hương cho rằng đây là khoảng thời gian diễn ra nhiều các ngày lễ lớn và sự kiện lịch sử quan trọng của đất nước, của tỉnh, đây cũng là khoảng thời gian tập trung tuyên truyền đợt 1 kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh, chuỗi hoạt động với nhiều sự kiện chào mừng kỷ niệm 190 năm thành tỉnh sẽ diễn ra. Để công tác tuyên truyền đi vào chiều sâu, có sức lan tỏa và tạo sự đồng thuận xã hội. Đồng chí đề nghị các cơ quan báo chí, các đơn vị, địa phương quan tâm các nội dung:

Thứ nhất, bám sát Hướng dẫn của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy tuyên truyền các ngày lễ kỷ niệm, các sự kiện chính trị, xã hội quan trọng trong quý II/2022 như: Giỗ Tổ Hùng Vương (mùng 10 tháng 3 âm lịch); Kỷ niệm 47 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2022); Kỷ niệm 132 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2022); Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam (21/6);…

Bám sát Hướng dẫn của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, tập trung tuyên truyền nội dung đợt 1 kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang (1832 - 2022), trong đó quan tâm tuyên truyền chuỗi sự kiện chào mừng diễn ra trong quý II theo Kế hoạch số 139/KH-UBND, ngày 16/3/2022 của Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức các hoạt động kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang (1832 - 2022). Nội dung tuyên truyền cần đạt mục đích tôn vinh những giá trị lịch sử truyền thống hào hùng của dân tộc; khẳng định chủ quyền quốc gia, vai trò và những đóng góp to lớn của vùng đất Nam Bộ và con người An Giang trong tiến trình lịch sử. Khơi dậy khát vọng vươn lên mạnh mẽ của cán bộ, đảng viên và Nhân dân, tiếp tục phấn đấu không ngừng, quyết tâm vượt qua khó khăn, xây dựng và phát triển An Giang - quê hương Chủ tịch Tôn Đức Thắng ngày càng văn minh, giàu đẹp; đồng thời, là dịp để quảng bá, giới thiệu tiềm năng, lợi thế và hình ảnh vùng đất, con người An Giang đến với bạn bè trong nước và ngoài nước.

Thứ hai, tuyên truyền phát triển kinh tế - xã hội, bám sát Kế hoạch số 31/UBND-UBND, ngày 19/01/2022 của Ủy ban nhân dân tỉnh về Kịch bản tăng trưởng kinh tế năm 2022 tỉnh An Giang; những kết quả nổi bật trong phát triển kinh tế - xã hội quý I/2022; đánh giá, phân tích làm rõ những cố gắng, nỗ lực của các cấp, các ngành, nêu bật quyết tâm của tỉnh trong việc triển khai thực hiện các chương trình, kế hoạch trọng điểm trong năm 2022, gắn với tuyên truyền sự kiện Hội nghị xúc tiến đầu tư tỉnh. Tăng cường quảng bá hình ảnh, tiềm năng, thế mạnh của An Giang, các lễ hội văn hóa, thể thao, du lịch địa phương.

Thứ ba, tiếp tục đẩy mạnh tuyên về phòng, chống dịch COVID-19 và các loại dịch bệnh khác như: Sốt xuất huyết; Tay chân miệng, tuyên truyền việc đẩy nhanh tiến độ tiêm vaccine COVID-19 cho người dân, cập nhật, tuyên truyền thường xuyên các chủ trương, quy định mới nhất về công tác phòng, chống dịch COVID-19 của Trung ương, của tỉnh.

Thứ tư, tuyên truyền việc triển khai Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XI đi vào cuộc sống, các văn bản chỉ đạo về công tác xây dựng Đảng: Kế hoạch số 33-KH/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh thực hiện Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi và xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến” “tự chuyển hóa”; Kế hoạch số 30-KH/TU, ngày 21/12/2021 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh năm 2022. Chuyên đề học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh năm 2022 về “Xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên thật sự tiên phong, gương mẫu, đủ phẩm chất uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”.

Tiếp tục lan tỏa, nhân rộng gương “người tốt, việc tốt” trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh ở từng địa phương, cơ quan, đơn vị và trong xã hội. Tuyên truyền Giao lưu gương điển hình trong “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” năm 2022 (sẽ được tổ chức vào tháng 5/2022)  kết hợp phát động Cuộc thi sáng tác, quảng bá các tác phẩm văn học, nghệ thuật và báo chí về chủ đề “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” năm 2022 - 2023; tuyên truyền, quảng bá Giải Búa liềm vàng tỉnh An Giang lần thứ II/2022 (sẽ phát động vào tháng 4/2022).

Ngoài các nội dung trên đồng chí Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Trần Thị Thanh Hương đề nghị các cơ quan báo chí, các đơn vị quan tâm tuyên truyền về tình hình thời sự, thời cuộc thế giới, trong nước, trong tỉnh; các vấn đề liên quan đến đời sống xã hội; công tác đối ngoại;…

Đặc biệt là quan tâm đẩy mạnh tuyên truyền về trách nhiệm các ngành, các cấp  trong ứng xử với báo chí, truyền thông khi phát sinh các vấn đề, vụ việc liên quan đến địa phương, đơn vị mình./.

Ngọc Hân
Giồng Trà Dên hôm nay An Giang 190 nămBài viếtVăn PhôGiồng Trà Dên hôm nay /SiteAssets/Giong-Tra-Den-1.jpg
19/03/2022 4:00 CHNoĐã ban hành
(TUAG)- Từng là khu căn cứ cách mạng, bị tàn phá bởi 2 cuộc chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, vậy mà Giồng Trà Dên, thuộc xã Tân Thạnh, thị xã Tân Châu hôm nay đã vững chãi phát triển đi lên với chiếc áo mới đầy sắc màu rực rỡ; những con đường, những cây cầu mới được nâng cấp rộng mở; những căn nhà mới, trường học mới được xây dựng khang trang,… điều đó, đã minh chứng cho cuộc sống ấm no, tươi đẹp của người dân nơi đây.  


Khu di tích lịch sử cách mạng Giồng Trà Dên

Được biết, cái tên Giồng Trà Dên đã có từ thời Pháp. Xưa kia, Giồng Trà Dên là một cánh rừng, hoang vắng, tre rừng dày đặc chằng chịt…. chạy dài hàng chục cây số. Cũng chính từ địa thế hiểm trở, nên Gồng Trà Dên được huyện ủy Tân Châu dùng làm căn cứ địa cách mạng, đồng thời cũng là điểm dừng chân, chiến đấu của các lực lượng vũ trang địa phương, Trung ương. Để giữ lại mảnh đất quê hương, đã có biết bao thế hệ ông cha, chiến sĩ đã nằm lại. Riêng tại Giồng Trà Dên này, có hơn 120 chiến sĩ đã hy sinh, trở thành những liệt sĩ anh hùng.

Chiến tranh đã lùi xa, đất nước được hoà bình, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân đều đồng lòng, tăng gia lao động sản xuất. Qua mấy mươi năm bám đất, xây dựng giờ đây cuộc sống của bà con Giồng Trà Dên đã có nhiều thay đổi, phát triển. Nhà cửa khang trang, đường sá thông thoáng, rộng mở, người dân sống sung túc, đủ đầy, hiện thu nhập bình quân đầu người đạt trên 44,8 triệu đồng/năm. Ông Dương Văn Cảnh, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã Tân Thạnh cho biết: “Thời gian lịch sử để lại, do đó, Đảng bộ, Chính quyền xã Tân Thạnh phải ra sức, quyết tâm để làm sao xây dựng xã Tân Thạnh phát triển toàn diện về mọi mặt kinh tế - văn hóa – xã hội, an ninh – quốc phòng; đồng thời, xác định thế mạnh và tiềm năng của địa phương, để xây dựng chương trình, kế hoạch phát triển cho phù hợp với lợi thế, để nhân dân có cuộc sống ấm no, giàu đẹp hơn”.


Cầu nông thôn Tân Thạnh được xây mới khang trang

Vươn lên từ trong gian khó, nhờ thế mà mỗi vụ mùa, mỗi chặng đường đi qua, người dân Giồng Trà Dên, xã Tân Thạnh luôn kiên trì, không quản nắng mưa, cần cù và sáng tạo trong lao động, sản xuất. Điều đó được chứng minh từ việc sản xuất lúa mùa, sang 2 vụ, rồi 3 vụ, sản lượng theo đó cũng tăng dần, hiện nay đã đạt 6,5 tấn/hecta. Cái đói đã bị lùi xa, giờ đây người dân đã hướng đến cánh đồng lớn, sản xuất sạch… nhằm nâng cao chất lượng hạt gạo, nâng cao chất lượng đời sống. Được biết cách làm kinh tế tập thể này đã được địa phương áp dụng nhiều năm nay. Chính nhờ vậy mà bà con tham gia sản xuất ai ai cũng an tâm, kinh tế ngày thêm khắm khá. Như vụ thu đông vừa qua, toàn xã xuống giống gần 800 hecta, trong đó, Hợp tác xã đã bao tiêu trên 50%. Lợi nhuận mỗi hecta trên 15 triệu đồng.

Ngoài những cánh đồng lúa trải rộng hàng ngàn hecta, Giồng Trà Dên hôm nay còn được phủ xanh bởi những ruộng màu, nương rẫy non tơ, mơn mởn. Nào là bắp, là đậu, là cà,… tất cả đã và đang trở thành những nông sản, mang lại giá trị kinh tế ổn định cho bà con nông dân trên vùng đất căn cứ xưa. Hiện nay, toàn xã  Tân Thạnh có gần 400 hecta rau, màu các loại. Riêng mỗi hộ nông dân có ít nhất 3 ngàn mét vuông để trồng trọt. Tùy vào từng vụ mùa, mà người dân chọn trồng ớt, khoai, sắn, hay đậu. Và mỗi năm có tới 3-4 vụ rau màu. Cứ xong vụ màu này, người dân lại chuyển sang vụ màu khác,… nhờ vậy mà cánh đồng ở Tân Thạnh quanh năm luôn được phủ xanh, và cũng từ đây đã giúp đổi đời bao thế hệ. Theo nhiều nông dân cho biết, thành quả đó cũng nhờ chính quyền địa phương đã làm tốt đê bao khép kính, mở mới những kinh mương nội đồng, dẫn nguồn nước tưới tiêu cho nương rẫy, ruộng. Anh Trần Văn Tấn, ngụ ấp Hòa Thạnh, xã Tân Thạnh chia sẻ: “Bây giờ các kênh, mương được khai thông, dẫn nước tới ruộng, rẫy; điện kéo tới chỗ; đường giao thông nội đồng được bê-tông nâng cấp, vận chuyển nông sản rất thuận tiện, nông dân chúng tui vui mừng lắm, cảm ơn Đảng và Nhà nước quan tâm”.

Cũng nhờ những con kênh, tuyến đường mới mở mà vùng đất cát ở ấp Hòa Thạnh được nguồn nước tưới tiêu đầy đủ. Riêng vào những mùa mưa lại được khai thông thoát nước, thuận tiện, điều kiện đủ đầy nên nhiều nông dân đã an tâm sản xuất. Riêng đối với hộ gia đình anh Trần Văn Tấn, hằng năm anh tham gia sản xuất được 1.200 mét vuông rau màu. Cứ hết vụ bắp nếp, anh chuyển sang trồng hành tím, rồi đậu bắp,… Vụ màu này đa phần anh dành diện tích để trồng cà. Tuy vất vả, quanh năm bám đồng, bám nương rẫy, nhưng đổi lại những vụ mùa bội thu, được giá, đã giúp cho gia đình anh Tấn có thu nhập ổn định, cuộc sống an nhàn hơn.


Nông dân thu hoạch lúa bằng cơ giới

Giờ đây vùng đất cách mạng Giồng Trà Dên, xã Tân Thạnh không còn là vùng quê nghèo, với những con đường đất lầy lội, nhà tranh lá lụp xụp khi xưa, mà nay được thay mới bằng con đường láng nhựa, nhà mái ngói, nhà tường khang trang và diện mạo mới khởi sắc của một vùng quê giàu truyền thống cách mạng luôn được người dân xây dựng và vun đắp. Những năm qua, lãnh đạo địa phương đã không ngừng đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; mở rộng và phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập, nâng cao đời sống nhân dân.

Về Giồng Trà Dên hôm nay, ngoài được thấy, được cảm nhận sự chuyển mình đi lên của mảnh đất đầu nguồn biên giới, từng lắm khó khăn gian khổ, chúng tôi còn được nghe nhiều câu chuyện hay về cách xây dựng NTM của địa phương này. Với quan điểm “của dân, do dân và vì dân”, cả hệ thống chính trị bắt tay vào thực hiện. Còn riêng người dân, khi đã thấy rõ vai trò chủ thể của mình, họ cũng tiên phong, nhiệt thành tham gia trong mọi phong trào. Nhờ vậy, đến nay xã Tân Thạnh đã hoàn thành trên 60% tiêu chí và chỉ tiêu xây dựng, theo lộ trình, đến năm 2023 Tân Thạnh sẽ đạt chuẩn NTM. Ông Trần Minh Gom, Ấp Giồng Trà Dên, xã Tân Thạnh chia sẻ: “Về nông thôn mới xã Tân Thạnh hiện nay; thứ nhất về đường, phải nói các tuyến đường đường khang trang được nhựa hóa, người dân đi lại rất dễ dàng; Thứ hai, Trường học được xây dựng khang trang, đáp ứng nhu cầu dạy và học; Thứ ba, về nhà ở của nhân dân được xây dựng khang trang, nhất là đối với hộ nghèo, cận nghèo được Chính quyền, Mặt trận Tổ quốc xã quan tâm xây dựng nhà Đại đoàn kết, hỗ trợ vốn vay làm kinh tế nhỏ, hướng dẫn mô hình làm ăn,…. từ đó, cuộc sống người dân trên địa bàn từng bước ổn định hơn so với trước”.

Hôm nay, Giồng Trà Dên đã khoác trên mình chiếc áo mới đầy sắc màu rực rỡ; bằng sự đổi mới, năng động, tiên phong và sáng tạo, từ suy nghĩ và cách làm của Cấp ủy Đảng, Chính quyền địa phương và sự quan tâm của lãnh đạo cấp trên, đã mang lại cho nhân dân vùng đất cách mạng Giồng Trà Dên có cuộc sống tươi đẹp hơn, khang trang hơn và tiếp tục phát triển đi lên trong tương lai.
Văn Phô
Hoạt động tuyên truyền kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh cần thực hiện trên tinh thần phối hợp đồng bộ, nhịp nhàng, hiệu quảAn Giang 190 nămTinNgọc HânHoạt động tuyên truyền kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh cần thực hiện trên tinh thần phối hợp đồng bộ, nhịp nhàng, hiệu quả/SiteAssets/Hop-tuyentruyen-190nam-4.jpg
14/03/2022 4:00 CHNoĐã ban hành
(TUAG)- Chiều ngày 14/3, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy chủ trì tổ chức họp Tiểu ban Tuyên truyền để trao đổi, thống nhất kế hoạch tổ chức các hoạt động tuyên truyền kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang (1832 - 2022). Đồng chí Trần Thị Thanh Hương - UVBTV, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh, Trưởng Tiểu ban Tuyên truyền chủ trì cuộc họp.
Phát biểu mở đầu cuộc họp, đồng chí Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Trần Thị Thanh Hương, Trưởng Tiểu ban Tuyên truyền nhấn mạnh kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang là sự kiện có ý nghĩa quan trọng của tỉnh trong năm 2022, tạo tiền đề thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trong năm 2022 và những năm tiếp theo, đây cũng là dịp để quảng bá, giới thiệu tiềm năng, lợi thế và hình ảnh vùng đất, con người An Giang đến với bạn bè trong nước và quốc tế. Các hoạt động của Tiểu ban Tuyên truyền phải bám sát định hướng Ban Chỉ đạo Tổ chức các hoạt động kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh, trên tinh thần phối hợp đồng bộ, nhịp nhàng, hiệu quả đảm bảo sự đổi mới, với nhiều hình thức phong phú, sinh động, thiết thực, tạo không khí phấn khởi, đồng thuận trong các tầng lớp nhân dân và đảm bảo các quy định về phòng, chống dịch COVID-19.
Trên tinh thần đó, đồng chí đề nghị tại cuộc họp, các thành viên Tiểu ban Tuyên truyền, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và các tổ chức chính trị - xã hội tỉnh (các đơn vị đồng hành với Tiểu ban Tuyên truyền) quan tâm ba nội dung:

Thứ nhất, các đơn vị cần nêu cao tinh thần trách nhiệm nghiên cứu góp ý hoàn chỉnh dự thảo Kế hoạch của Tiểu ban Tuyên truyền đã được dự thảo sơ nét ban đầu. Đồng thời chia sẻ những thuận lợi, khó khăn của các đơn vị khi triển khai hoạt động tuyên truyền.

Thứ hai, trong việc xây dựng và triển khai kế hoạch tuyên truyền của các đơn vị cần lưu ý, quan tâm phân rõ hoạt động nào là nhiệm vụ chính trị thường xuyên, đâu là hoạt động phát sinh cần nguồn kinh phí thực hiện để Tiểu ban Tuyên truyền tổng hợp trình Ban Chỉ đạo Tổ chức các hoạt động kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh phê duyệt từ đó tạo thuận lợi cho các đơn vị triển khai hoạt động tuyên truyền đảm bảo hiệu quả và đảm bảo tiến độ về mặt thời gian.

Thứ ba, ngay sau cuộc họp, các thành viên Tiểu ban Tuyên truyền và các đơn vị đồng hành cùng Tiểu ban Tuyên truyền truyền bắt tay ngay vào thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh, qua đó góp phần giúp cho Tiểu ban Tuyên truyền hoàn thành nhiệm vụ được Ban Chỉ đạo Tổ chức các hoạt động kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh giao.

Theo dự thảo Kế hoạch tuyên truyền, công tác tuyên truyền chào mừng kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang được tiến hành từ đầu quý II đến hết quý IV/2022, trong đó cao điểm từ tháng 9 đến tháng 11 năm 2022.

Hình thức tuyên truyền tập trung vào các hoạt động: Tuyên truyền trên báo chí, các website, cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử các sở, ban, ngành, địa phương, đài truyền thanh huyện, truyền thanh cơ sở. Phối hợp với các cơ quan báo chí Trung ương giới thiệu, quảng bá tuyên truyền về tỉnh An Giang, những thành tựu của tỉnh sau 190 năm thành lập tỉnh.

Tuyên truyền trên Internet, mạng xã hội, thuê bao di động; phát hành bộ tài liệu tuyên truyền 190 năm phát triển An Giang; điều chỉnh, bổ sung, tái bản bộ “Địa chí An Giang”.

Tổ chức hội nghị báo cáo viên, sinh hoạt của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp… thông tin, tuyên truyền Kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh; tổ chức và phát động Cuộc thi trực tuyến “Tìm hiểu tỉnh An Giang - 190 năm hình thành và phát triển (1832 - 2022)”; tổ chức hội thảo, tọa đàm, diễn đàn khoa học để làm sâu sắc, sáng rõ hơn về quá trình hình thành, phát triển của tỉnh; về truyền thống văn hoá và cách mạng; về thành tựu phát triển kinh tế - xã hội mà Đảng bộ và Nhân dân An Giang đạt được.

Tuyên truyền thông qua các hình thức cổ động trực quan; thông qua việc tổ chức phát động các phong trào thi đua yêu nước, thiết thực chào mừng Kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh gắn với kỷ niệm các ngày lễ lớn và sự kiện lịch sử quan trọng của đất nước, của tỉnh. Tập trung biểu dương, tôn vinh mô hình hay, cách làm sáng tạo và những điển hình tiên tiến trên các lĩnh vực của đời sống xã hội; tổ chức tuyên truyền thông qua các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao từ tỉnh đến cơ sở để chào mừng dịp Kỷ niệm.

Tăng cường công tác nắm bắt tình hình tư tưởng, dư luận xã hội; kịp thời định hướng đấu tranh phản bác những hành vi tuyên truyền, xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước liên quan đến sự kiện./.

NGỌC HÂN
Tự hào Căn cứ cách mạng Ô Tà Sóc quê tôi Bài viếtHồng ĐăngTự hào Căn cứ cách mạng Ô Tà Sóc quê tôi /SiteAssets/O-ta-soc-1.jpg
13/03/2022 4:00 CHNoĐã ban hành

(TUAG)- Những ai yêu thích sự mạo hiểm, say mê với núi non với cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp, hoang sơ cùng những di tích văn hóa, lịch sử cách mạng hào hùng thì hãy đến mảnh đất An Giang xinh đẹp, nơi đây được xem là vùng đất ưu ái nhất miền Tây khi nói đến Bảy Núi. Ở An Giang núi có, rừng có, sông có, hồ cũng có mà kiến trúc đẹp cũng có. Để tìm cho mình phút giây thư giãn cũng như tìm hiểu, khám phá những vùng đất mới và lưu lại những bức ảnh ấn tượng, thì hãy ngừng suy nghĩ mà hãy vác balo lên đường khám phá vùng đất An Giang các bạn nhé.

Tri Tôn là một huyện dân tộc, miền núi, tôn giáo, biên giới nằm phía Tây tỉnh An Giang và có đường biên giới giáp với Campuchia về phía tây bắc, với chiều dài 15 km và có cửa khẩu phụ Vĩnh Gia tại xã Vĩnh Gia. Huyện Tri Tôn sở hữu 4 ngọn núi trong dãy Thất Sơn huyền bí. Tri Tôn tuy bé nhỏ nhưng lại có nhiều địa danh ghi dấu nhiều chiến công hiển hách trong lịch sử như Đồi Tức Dụp, Nhà mồ Ba Chúc, ngoài ra có khu du lịch Suối Vàng, Núi Tô, Hồ Tà Pạ gắn liền với các ngôi chùa Khmer với nét kiến trúc, điêu khắc độc đáo, đặc biệt là Căn cứ cách mạng Ô Tà Sóc thuộc xã Lương Phi vừa được đầu tư, cải tạo khang trang, đây sẽ là điểm đến lý tưởng, là trải nghiệm thú vị cho những ai thích khám phá vùng đất mới với cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ nơi đây.

O-ta-soc-1.jpg

Đường vào Ô Tà Sóc

Trong kháng chiến, vùng đất Lương Phi gắn liền với địa danh Ô Tà sóc - căn cứ kháng chiến của Tỉnh ủy An Giang, là quê hương của nhiều anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân như: Trần Thanh Lạc, Phan Thị Ràng, 17 mẹ Việt Nam Anh hùng, 143 liệt sĩ và trên 360 gia đình có công với cách mạng cùng hàng ngàn đồng bào, cán bộ, chiến sĩ tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu, nhiều người bị địch bắt, tra tấn, tù đày, bị thương tật vì bom đạn của kẻ thù. Với những đóng góp đó, ngày 20/12/1994, Nhà nước đã tặng thưởng danh hiệu cao quý: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho Nhân dân và Lực lượng vũ trang nhân dân xã Lương Phi, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang đã đạt thành tích đặc biệt xuất sắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Các bạn biết không? Ô Tà Sóc là một quần thể thiên nhiên với dòng suối quanh năm nước chảy, với nhiều hang động được thiên nhiên tạo ra bằng những tảng đá hàng chục, hàng trăm tấn chồng chất lên nhau, có các gộp đá, các hốc đá dọc theo bờ suối, xen kẻ là nhiều loại cây rừng hoang dại mọc lên từ chân đá. Toàn cảnh rừng cây và núi đá là địa hình phức tạp. Ô Tà Sóc là nơi Tỉnh ủy An Giang xây dựng thành một tuyến phòng thủ đủ sức mạnh bằng những hàng rào bãi chông, trái nổ, cùng lòng can đảm của cán bộ, chiến sĩ dựa vào địa hình hiểm trở của rừng núi để bám trụ chiến đấu và chỉ đạo phong trào cách mạng trong toàn tỉnh. Ngày 28/12/2001, Căn cứ cách mạng Ô Tà Sóc được công nhận là Di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia.

Tại đây, hiện còn giữ nguyên trạng các hang đá mang tên: Quân y, Phụ nữ, Hậu cần, Tuyên huấn, Điện trời gầm, Bụng ông địa và Bia tưởng niệm đồi Ma thiên lãnh… đóng rải rác trong các hang động, trong các hang có đường mòn trên núi nối liền nhau, có bán kính khoảng 3 km. Lợi thế của những hang động trên Ô Tà Sóc là rất hiểm trở và chắc chắn, đặc biệt chứa được rất nhiều người. Nơi đây từng là căn cứ địa vững chắc, là nơi diễn ra những trận đánh oanh liệt làm cho quân thù phải khiếp sợ… thật tuyệt vời nếu được cùng bạn bè, người thân cùng khám phá một địa điểm du lịch và tìm hiểu di tích văn hóa, lịch sử cách mạng hào hùng cũng như chiêm ngưỡng sự kỳ vĩ, huyền bí như chốn mê cung của hệ thống hang động nơi đây sau những ngày làm việc căng thẳng, thì đây sẽ là một trải nghiệm khá thú vị đúng không các bạn.

24-O-ta-soc-5.jpg

Bí thư Tỉnh ủy dự khánh thành công trình cải tạo và nâng cấp Khu di tích lịch sử cách mạng Ô Tà Sóc

Đến thăm Căn cứ cách mạng Ô Tà Sóc, các bạn đừng bỏ qua Đồi Ma Thiên Lãnh, đây là nơi 7 chiến sỹ bộ đội đã chiến đấu anh dũng và hy sinh trong lòng núi mà mãi đến 36 năm sau, đồng đội mới tìm được hài cốt và quy tập về quê hương miền Bắc xa xôi. Chuyện kể rằng: Vào năm 1969, khi Tỉnh ủy An Giang rút đi, Đồi Ma Thiên Lãnh được tiểu đội Đoàn 61 trú đóng. Một hôm, máy bay địch ném bom đánh sập cửa hang, 7 chiến sĩ bị kẹt trong đó. Khói bom tan, các chiến sĩ cùng đơn vị tìm cách mở miệng hang nhưng không được. Để giúp 7 chiến sĩ cầm cự chờ được cứu, đơn vị đã tiếp lương thực bằng cách dùng ống tre đưa cháo và sữa vào. Mấy ngày sau, địch tiến đánh Đồi Ma Thiên Lãnh ác liệt, đơn vị phải lùi về rừng U Minh. Vậy là, 7 chiến sĩ của đơn vị vĩnh viễn nằm lại trong hang. Hiện nay, trên ngọn đồi cao 80m này có tấm bia kỷ niệm, bên dưới bia là bàn thờ 7 liệt sĩ. Đây sẽ là nơi tuyên truyền ý nghĩa lịch sử, giáo dục truyền thống cách mạng, cũng như là nơi để mỗi thế hệ người dân Việt Nam, nhất là thế hệ trẻ tìm về cội nguồn cách mạng, để vun đắp tình yêu quê hương đất nước, truyền thống lịch sử của dân tộc ta, khơi dậy niềm tự hào, niềm tin cho thế hệ trẻ vững bước đi theo con đường vinh quang mà biết bao thế hệ cha anh đã dựng xây. Đây sẽ là động lực để thế hệ trẻ ngày nay nguyện cống hiến nhiều hơn cho đất nước và dân tộc Việt Nam.

Nhân dịp kỷ niệm Ngày Thương binh liệt sĩ 27/7 hằm năm, các bạn sinh viên Trường Đại học An giang đã về Căn cứ cách mạng Ô Tà Sóc du khảo về nguồn để cùng tìm hiểu lịch sử và cảnh đẹp thiên nhiên ở đây. Bạn Trần Thanh Vân, sinh viên năm II, khoa Sư phạm Ngữ văn, chia sẻ cảm nghĩ của mình tại chuyến du khảo về nguồn: "Sau chuyến du khảo về nguồn tại căn cứ cách mạng Ô Tà Sóc là một trãi nghiệm đáng nhớ của nhóm chúng em. Tại đây chúng em đã được nghe kể về những trận đánh oanh liệt năm xưa. Qua chuyến du khảo về nguồn tại Căn cứ cách mạng Ô Tà Sóc, xã Lương Phi chúng em rất tự hào về truyền thống cách mạng của ông cha và xin hứa sẽ phấn đấu học tập và rèn luyện, để mai này cùng nhau bảo vệ và xây dựng quê hương phát triển giàu đẹp".

Sau khi vòng quanh khám phá trong các hang động và đến thăm ngọn Đồi Ma Thiên Lãnh, thì còn ngại gì khi đã rất gần để đứng trên đỉnh núi Ô Tà Sóc, để thấy hết được sự tươi đẹp, hùng vĩ của thiên nhiên, một bức tranh sơn thủy khổng lồ của một xã miền núi dân tộc đã từng trãi qua hơn nửa thế kỷ đấu tranh và xây dựng quê hương. Qua từng ấy thời gian, địa phương đã phát triển rõ rệt với nhà cửa khang trang, cây cối, ruộng nương tốt tươi, xanh mướt, cùng những con đường quanh co chạy xuyên qua những vườn cây trái như những mạch máu nối liền nhau đầy sức sống. Lương Phi ngày nay đã thay da đổi thịt và tự hào đón nhận danh hiệu xã đạt chuẩn Nông thôn mới năm 2019. Ngoài ra, dưới chân núi là lòng Hồ Ô Tà Sóc có diện tích khoảng 30 héc-ta, nước trong mát, sạch do nước từ các khe đá trên núi xuống chảy xuống. Mặt cắt của con đập được tráng nhựa, tạo thuận lợi cho người dân canh tác hoa màu, vườn cây ăn trái trên núi dễ dàng đi lại, vận chuyển nông sản, hàng hóa. Với đặc thù đồi núi kết hợp đồng bằng, cảnh đẹp tự nhiên của hồ chứa nước, vườn trái cây kết hợp tham quan khám phá Căn cứ cách mạng Ô Tà Sóc và những món ăn đặc sản nơi đây sẽ trở thành điểm đến thu hút khách du lịch, trở thành một trong những khu du lịch trọng điểm của Tỉnh, góp phần phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương Lương Phi Anh hùng.

24-O-ta-soc-5.jpg

Việc đầu tư khu di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia Căn cứ cách mạng Ô Tà Sóc khang trang hơn là rất cần thiết để nơi đây thực sự trở thành điểm đến thu hút khách tham quan, đồng thời phục vụ hiệu quả công tác giáo dục thế hệ trẻ, tạo ấn tượng đẹp đối với người dân, du khách về công trình lịch sử cách mạng cũng như tri ân, tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ trên quê hương An Giang. Do đó, Liên đoàn Lao động tỉnh, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch An Giang, cùng Ủy ban nhân dân huyện Tri Tôn phối hợp thực hiện nâng cấp cải tạo, xây dựng thêm nhiều công trình như: Sơn mới lại bức phù điêu, bảng ghi địa điểm tại các khu căn cứ trong di tích; xây dựng quảng trường sinh hoạt cộng đồng trước bức phù điêu; xây dựng mới nhà truyền thống, nhà trưng bày; xây dựng Đài Vinh danh và Bảng Vinh danh Sư đoàn 1 anh hùng...

Với mong muốn, công trình sau khi được trùng tu, cải tạo khang trang, đồng thời giới thiệu trưng bày hình ảnh và hiện vật thời chiến tranh, tại đây sẽ là điểm đến thu hút khách đến tham quan cũng như là một địa điểm du khảo về nguồn lý tưởng bởi nơi đây chứa đựng sự hấp dẫn, kỳ bí với bao câu chuyện lạ thường về những con người đã sống, chiến đấu rất gian lao mà anh dũng để giành lấy sự bình yên, độc lập, hạnh phúc ngày hôm nay. Tuy nhiên, để Khu di tích lịch sử Căn cứ cách mạng Ô Tà Sóc phát huy được tiềm năng, thì cần có nhà đầu tư thêm các hạng mục như khu vui chơi giải trí dành cho trẻ em, nơi phục vụ ăn uống giới thiệu các món ăn đặc sản văn hóa đặc trưng của địa phương. Ngoài ra, nên mở rộng du lịch sinh thái vì dọc chân núi là các vườn cây ăn trái là đặc sản của địa phương như xoài cát, mãng cầu, bơ… Có như vậy, nơi đây mới thực sự là điểm tham quan thú vị thu hút nhiều du khách tìm hiểu lịch sử và khám phá cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp tại đây.

Xã Lương Phi anh hùng gắn liền với khu Căn cứ cách mạng Ô Tà Sóc là quê hương tôi đó và thật tự hào khi mình là người con của nơi đây, tôi nguyện phấn đấu sống thật tốt, cống hiến sức trẻ của mình cho quê hương để xứng đáng là người con quê hương An Giang, của dân tộc Việt Nam. Và ngày hôm nay, Lương Phi đã phát triển bền vững như những ngọn núi đá sừng sững, xứng danh Bảy Núi. Ngay bây giờ, những ai chưa đến nơi đây hãy cho mình một chuyến đi gần nhất nhé. Nào, xin trân trọng kính mời du khách gần xa…

Hồng Đăng
Chỉ thị về việc tổ chức kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang (1832 - 2022)An Giang 190 nămAdminChỉ thị về việc tổ chức kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang (1832 - 2022)/SiteAssets/AnGiang190nam-bando.jpg
12/03/2022 11:00 SANoĐã ban hành
(TUAG)- Ngày 11/8/2021, Ban Thường vụ Tỉnh ủy An Giang ban hành Chỉ thị số 09-CT/TU về việc tổ chức kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang (1832 - 2022). Cổng TTĐT Đảng bộ tỉnh đăng toàn văn chỉ thị.

Năm 2022, cùng với việc tổ chức kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước, Đảng bộ, Chính quyền và Nhân dân An Giang sẽ long trọng tổ chức kỷ niệm 190 năm thành lập Tỉnh (1832 - 2022). Đây là sự kiện lịch sử có ý nghĩa hết sức quan trọng, vừa mang tính chính trị, tôn vinh và khơi dậy những giá trị lịch sử truyền thống tự hào dân tộc, vừa khẳng định chủ quyền quốc gia, vai trò và những đóng góp to lớn của vùng đất Nam Bộ và con người An Giang trong tiến trình lịch sử. Từ đó, khơi dậy khát vọng vươn lên mạnh mẽ của cán bộ, đảng viên và nhân dân, tiếp tục phấn đấu không ngừng, quyết tâm vượt qua khó khăn, xây dựng và phát triển An Giang - quê hương Chủ tịch Tôn Đức Thắng ngày càng văn minh, giàu đẹp; đồng thời, là dịp để quảng bá, giới thiệu tiềm năng, lợi thế và hình ảnh vùng đất, con người An Giang đến với bạn bè trong nước và ngoài nước.
Để việc tổ chức các hoạt động chào mừng kỷ niệm 190 năm thành lập Tỉnh (1832 - 2022) được trọng thể, thiết thực, hiệu quả, Ban Thường vụ Tỉnh ủy yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trong Tỉnh tập trung thực hiện tốt một số nội dung như sau:

1. Tổ chức đợt tuyên truyền, giáo dục sâu rộng trong toàn thể cán bộ, đảng viên và Nhân dân trong và ngoài tỉnh về lịch sử truyền thống 190 năm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, quê hương An Giang; những thành tựu, bài học kinh nghiệm trong 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, tiềm năng, lợi thế và triển vọng phát triển của Tỉnh. Khẳng định chủ quyền quốc gia, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, những giá trị tinh thần đoàn kết dân tộc và tôn giáo; đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động, sản xuất; tinh thần quật cường, anh dũng trong chiến đấu; tấm lòng nhân ái, thủy chung trong ứng xử, khoan dung, nhân hậu trong lối sống của người dân quê hương Chủ tịch Tôn Đức Thắng.

Đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân trong Tỉnh gắn với thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, tổ chức các hoạt động “Uống nước nhớ nguồn”, tôn vinh, tri ân những cống hiến, đóng góp của Nhân dân, những người có công với cách mạng; phát hiện và nhân rộng tập thể, cá nhân tiêu biểu trong thi đua học tập, lao động, sản xuất; cổ vũ, động viên cán bộ, đảng viên và Nhân dân phát huy cao độ tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng vươn lên thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XI.

2. Tập trung chỉ đạo và tổ chức thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch năm 2021, năm 2022 và tạo động lực phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ cả nhiệm kỳ 2020 - 2025. Đẩy nhanh tiến độ triển khai các công trình, dự án trọng điểm, các chương trình mục tiêu quốc gia trên địa bàn Tỉnh và các địa phương để sớm hoàn thành đưa vào sử dụng, phát huy hiệu quả; phấn đấu mỗi địa phương, đơn vị trong toàn Tỉnh có các công trình chào mừng kỷ niệm.

3. Tổ chức trọng thể lễ mít tinh kỷ niệm quy mô cấp tỉnh tại thành phố Long Xuyên; tổ chức hội thảo khoa học cấp tỉnh để làm sáng tỏ thêm những giá trị lý luận và thực tiễn quá trình hình thành và phát triển tỉnh An Giang; gặp mặt truyền thống, biểu dương các điển hình tiên tiến và các hoạt động kỷ niệm phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương, đơn vị. Quá trình tổ chức phải trang trọng, tiết kiệm, tránh phô trương, hình thức, lãng phí; đồng thời, thực hiện tốt các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19.

4. Ban Thường vụ Tỉnh ủy thành lập Ban Chỉ đạo các hoạt động kỷ niệm 190 năm thành lập Tỉnh, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy làm Trưởng Ban.

Ban cán sự đảng Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo thành lập Ban Tổ chức do đồng chí Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh làm Trưởng Ban và xây dựng kế hoạch tổng thể tổ chức các hoạt động thiết thực kỷ niệm 190 năm thành lập Tỉnh (1832 - 2022) gắn kết phát động phong trào thi đua yêu nước trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân để lập thành tích chào mừng.

Các huyện, thị, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trong Tỉnh, căn cứ kế hoạch tổ chức các hoạt động kỷ niệm của Tỉnh và tình hình thực tế của địa phương, đơn vị, lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng kế hoạch và triển khai các hoạt động với hình thức phù hợp, thiết thực; hưởng ứng thi đua lập thành tích chào mừng kỷ niệm.

Về kinh phí tổ chức kỷ niệm và xây dựng các công trình chào mừng, ngoài ngân sách nhà nước bố trí theo kế hoạch, cần huy động các nguồn lực xã hội tham gia.

5. Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy chủ trì biên soạn tài liệu tuyên truyền; chỉ đạo, hướng dẫn tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng và hệ thống báo cáo viên. Các cơ quan báo chí, truyền thông trong Tỉnh... mở chuyên trang, chuyên mục tuyên truyền sâu rộng về hoạt động kỷ niệm 190 năm thành lập Tỉnh.

6. Các ban đảng, Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy, Văn phòng Tỉnh ủy, ban cán sự đảng, đảng đoàn, các đoàn công tác thực hiện nhiệm vụ chỉ đạo, kiểm tra, giám sát, đôn đốc việc thực hiện Chỉ thị này tại địa phương; định kỳ tổng hợp tình hình báo cáo Ban Thường vụ Tỉnh ủy.

Chỉ thị này được quán triệt đến cán bộ, đảng viên và tuyên truyền phổ biến sâu rộng trong Nhân dân.

T/M BAN THƯỜNG VỤ
BÍ THƯ            
Lê Hồng Quang (đã ký)