Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksAn Giang 190 năm

Chào mừng quý vị đến với Cổng thông tin điện tử Đảng bộ tỉnh An Giang!
 
An Giang 190 năm
 
 
 
  
Phân loại
  
  
  
  
  
Tóm tắt
  
  
  
  
Nội dung
Tác giả Lê Diệu Hiền (tỉnh Cà Mau) đạt giải nhất Cuộc thi sáng tác bài ca cổ “190 năm An Giang hình thành và phát triển”An Giang 190 nămTinTác giả Lê Diệu Hiền (tỉnh Cà Mau) đạt giải nhất Cuộc thi sáng tác bài ca cổ “190 năm An Giang hình thành và phát triển”/SiteAssets/Giai-caco-ag190nam-1.jpg
06/12/2022 10:45 SANoĐã ban hành

Giai-caco-ag190nam-1.jpg

Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Thái Thúy Xuân trao giải Nhất cho tác giả Lê Diệu Hiền (tỉnh Cà Mau) với tác phẩm "Đồng nước nổi"

(TUAG) Vào tối ngày 05-12, tại Trung tâm Văn hóa Nghệ thuật tỉnh, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh An Giang long trọng tổ chức Lễ tổng kết, phát thưởng Cuộc thi sáng tác bài ca cổ "190 năm An Giang hình thành và phát triển".

Dự lễ tổng kết, phát thưởng có Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở VHTT&DL Nguyễn Khánh Hiệp - Trưởng Ban Tổ chức cuộc thi; Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Thái Thúy Xuân - Phó Ban Tổ chức cuộc thi; các đồng chí thành viên Ban Tổ chức và Ban Giám khảo cuộc thi; đại diện lãnh đạo các Sở, ban ngành, đoàn thể tỉnh; các đồng chí lãnh đạo các đơn vị trực thuộc Sở VHTT&DL và đặc biệt là các soạn giả, tác giả đến từ các tỉnh, thành phố trên cả nước có tác phẩm tham gia cuộc thi.

Theo Ban Tổ chức cuộc thi, với quy mô phát động trên toàn quốc qua thời gian hơn 4 tháng, cuộc thi sáng tác bài ca cổ "190 năm An Giang hình thành và phát triển" đã thu hút 123 tác giả đến từ các tỉnh, thành phố như: Cà Mau, Long An, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Kiên Giang, Đồng Tháp, Tiền Giang, Bình Thuận, Hoà Bình, … với 277 tác phẩm tham dự, trong đó có 80 tác phẩm của các tác giả trong tỉnh An Giang. "Điều đó đã đem lại cho cuộc thi nhiều tác phẩm đa dạng màu sắc viết về vùng đất, con người xinh tươi, hiền hoà, thuỷ chung, nhân hậu và sự phát triển, đổi mới của quê hương An Giang ngày càng giàu đẹp và văn minh" - ông Trương Bá Trạng, Phó Giám đốc Sở VHTT&DL tỉnh, Phó Ban Tổ chức cuộc thi nhận định.

Giai-caco-ag190nam-2.jpg 

Đại biểu thưởng thức các tiết mục đạt giải

Để công tác đánh giá, chấm chọn các tác phẩm tham gia cuộc thi công bằng, khách quan và đảm bảo chất lượng nghệ thuật, Ban Tổ chức cuộc thi đã mời Ban Giám khảo là những soạn giả có năng lực, kinh nghiệm và uy tín gồm: Thạc sĩ - Nhạc sĩ - Soạn giả Huỳnh Khải, Trưởng khoa Âm nhạc Dân tộc - Nhạc viện thành phố Hồ Chí Minh (Trưởng BGK); Soạn giả - Nhạc sĩ Nguyễn Minh Tuấn, Ủy viên BCH Hội Liên hiệp VHNT tỉnh Long An, Liên chi hội phó Hội nghệ sĩ sân khấu Việt Nam chi nhánh đồng bằng sông Cửu Long, nguyên Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Long An (Thành viên BGK); Thạc sĩ - Soạn giả Huỳnh Thanh Tuấn, Liên Chi Hội phó Liên Chi Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam. Với tinh thần làm việc trách nhiệm, khách quan, khoa học của Ban Giám khảo, đến nay Ban tổ chức cuộc thi đã chọn ra được 16 tác phẩm xuất sắc nhất để tiến hành trao giải. Theo đánh giá của Soạn giả Huỳnh Khải, Trưởng khoa Âm nhạc Dân tộc - Nhạc viện thành phố Hồ Chí Minh, Trưởng Ban Giám khảo: "Nhiều tác phẩm tham gia có giá trị nghệ thuật cao, sáng tạo trong sử dụng chất liệu ngôn ngữ và văn học, phản ánh chân thật về đời sống vùng đất, con người An Giang – quê hương Chủ tịch Tôn Đức Thắng. Đây là nguồn tài sản âm nhạc có giá trị để tỉnh An Giang sử dụng trong các hoạt động nghệ thuật của địa phương trong thời gian tới, đặc biệt là dịp kỷ niệm 10 năm (2013-2023) nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ được UNESCO vinh danh là Di sản phi vật thể đại diện của nhân loại trong năm 2023".

Giai-caco-ag190nam-3.jpg 

Đại diện Ban Tổ chức cuộc thi trao hoa cảm ơn Ban Giám khảo

Tại buổi lễ, Ban Tổ chức đã trao 01 giải Nhất, 02 giải Nhì và 03 giải Ba và 10 giải Khuyến khích cho 16 tác phẩm xuất sắc nhất của 14 tác giả tham gia cuộc thi. Tác giả Lê Diệu Hiền (Cà Mau) được trao giải Nhất cho tác phẩm "Đồng nước nổi" với giá trị giải thưởng 30 triệu đồng/giải; 02 giải Nhì cùng giá trị giải thưởng 20 triệu đồng/giải được trao cho tác giả Nguyễn Phương Thảo (tỉnh Hậu Giang) với tác phẩm "Con chữ nghĩa nhân" và tác giả Thái Chí Nguyện (tỉnh Bạc Liêu) với tác phẩm "Bức tâm thư"; 03 giải Ba cùng giá trị giải thưởng 10 triệu đồng/giải được trao cho tác giả Lưu Tuyết Phượng (tỉnh Bạc Liêu) với tác phẩm "Bóng núi", tác giả Lê Thanh Tịnh (tỉnh Cà Mau) với tác phẩm "Dốc Bà Đắc) và tác giả Trương Huy Hoàng (Tp. Cần Thơ) với tác phẩm "Chan chứa tình quê". Ngoài ra, Ban Tổ chức còn trao 10 giải Khuyến khích với giá trị giải thưởng 5 triệu đồng/giải cho 8 tác giả, trong đó tác giả Minh Tuấn (tỉnh Đồng Tháp) và tác giả Lưu Thị Ngọc Anh (tỉnh An Giang) mỗi người có 02 tác phẩm được trao giải Khuyến khích. Kinh phí tổ chức, trao giải được sử dụng từ nguồn ngân sách và vận động xã hội hóa từ Tập đoàn THACO Trường Hải An Giang.

 Giai-caco-ag190nam-4.jpg

Soạn giả Huỳnh Khải trao giải Nhì cho tác giả Nguyễn Phương Thảo (tỉnh Hậu Giang) và tác giả Thái Chí Nguyện (tỉnh Bạc Liêu)

 Giai-caco-ag190nam-6.jpg

Chủ tịch Liên hiệp các Hội VHNT tỉnh An Giang Bùi Quang Vinh trao giải Ba cho các tác giả

Giai-caco-ag190nam-5.jpg 

Phó Giám đốc Sở VHTT&DL tỉnh An Giang Trương Bá Trạng trao giải Khuyến khích cho các tác giả

 Giai-caco-ag190nam-7.jpg

Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở VHTT&DL tỉnh An Giang Nguyễn Khánh Hiệp trao quà cảm ơn Tập đoàn THACO Trường Hải An Giang đã tài trợ cho cuộc thi

Cuộc thi sáng bài ca cổ với chủ đề "190 năm An Giang hình thành và phát triển" đã diễn ra thành công tốt đẹp, góp phần tôn vinh nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ - Di sản phi vật thể đại diện của nhân loại; phản ánh về giá trị lịch sử truyền thống hào hùng của dân tộc và những đóng góp to lớn của vùng đất và con người An Giang trong tiến trình lịch sử,... góp phần giáo dục nâng cao nhận thức và nhu cầu hưởng thụ văn hóa tinh thần cho cán bộ, đảng viên và Nhân dân trong công tác tuyên truyền kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang (1832-2022).

THANH HẢI, QUANG TRẠNG

Lễ kỷ niệm 190 năm Ngày truyền thống thành lập tỉnh An Giang (22/11/1832 - 22/11/2022)An Giang 190 nămTinHòa BìnhLễ kỷ niệm 190 năm Ngày truyền thống thành lập tỉnh An Giang (22/11/1832 - 22/11/2022)/SiteAssets/Le-ki-niem-190nam-ag-3.jpg
22/11/2022 9:05 CHNoĐã ban hành

(TUAG)- Tối ngày 22/11, tại quảng trường Trưng Nữ Vương (phường Mỹ Long, TP Long Xuyên), Tỉnh ủy, HĐND, UBND, UBMTTQVN tỉnh An Giang long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm 190 năm Ngày truyền thống thành lập tỉnh An Giang (22/11/1832 - 22/11/2022).

Le-ki-niem-190nam-ag-7.jpg

Le-ki-niem-190nam-ag-6.jpg

Đại biểu tham dự Lễ kỷ niệm 190 năm Ngày truyền thống thành lập tỉnh An Giang (22/11/1832 – 22/11/2022).

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng; Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ; Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc; Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính gửi lẵng hoa chúc mừng.

Đến dự có: Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương Trần Tuấn Anh; nguyên Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng; nguyên Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Nguyễn Thị Kim Ngân; Đại tướng Lê Hồng Anh, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng; nguyên Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình; nguyên Phó Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Trương Mỹ Hoa; nguyên Phó Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Đặng Thị Ngọc Thịnh; các đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng; đại diện các bộ, ban, ngành Trung ương, Quân khu 9; lãnh đạo các tỉnh, thành phố bạn cùng tham dự sự kiện.

Về phía lãnh đạo tỉnh An Giang có: Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy An Giang Lê Hồng Quang; Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh An Giang Lê Văn Nưng; Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh An Giang Nguyễn Thanh Bình; các đồng chí nguyên lãnh đạo tỉnh qua các thời kỳ; các đồng chí lão thành cách mạng, Mẹ Việt Nam anh hùng, Anh hùng Lực lượng vũ trang, Anh hùng Lao động; các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy An Giang; lãnh đạo các sở, ban, ngành và các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh.

Le-ki-niem-190nam-ag-8.JPG

Le-ki-niem-190nam-ag-14.jpg

Tiết mục văn nghệ chào mừng

IMG_3311.JPG

Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh An Giang Nguyễn Thanh Bình đọc diễn văn khai mạc Lễ kỷ niệm

Trình bày diễn văn Lễ kỷ niệm, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Nguyễn Thanh Bình đã ôn lại những dấu mốc nổi bật trong chặng đường 190 năm kể từ khi thành lập tỉnh An Giang vào ngày mùng 1 tháng 10 năm Nhâm Thìn (1832) nhằm ngày 22/11/1832 (dương lịch) cho đến nay.

Le-ki-niem-190nam-ag-3.jpg

Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương Trần Tuấn Anh trao Quyết định của Thủ tướng Chính phủ công nhận ngày 22 tháng 11 hàng năm là “Ngày truyền thống tỉnh An Giang” cho Bí thư Tỉnh ủy An Giang Lê Hồng Quang

Le-ki-niem-190nam-ag-1.jpg

Thay mặt lãnh đạo Đảng, nhà nước, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương Trần Tuấn Anh phát biểu chỉ đạo tại Lễ kỷ niệm 190 năm Ngày truyền thống thành lập tỉnh An Giang

Phát biểu tại Lễ kỷ niệm, đồng chí Trần Tuấn Anh, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, nhiệt liệt chúc mừng, ghi nhận và biểu dương những thành tựu to lớn, rất đáng tự hào của Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân An Giang đã đạt được trong suốt quá trình hình thành và phát triển, đóng góp quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa!

Nhân buổi Lễ, đồng chí trao đổi một số vấn đề để Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân An giang cùng suy ngẫm, quyết tâm, đồng lòng vượt qua thử thách, tận dụng cơ hội mới để phát triển nhanh và bền vững trong thời gian tới:

Thứ nhất, để tiếp tục phát triển và có đóng góp to lớn hơn nữa vào sự phát triển chung của đất nước và cho chính tỉnh nhà, An Giang cần thúc đẩy mạnh mẽ quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng thâm dụng công nghệ, tri thức, đổi mới sáng tạo, hài hòa với thiên nhiên.  Cần đánh giá đúng tiềm năng, vị trí, vai trò của tỉnh trong tổng thể phát triển chung của vùng Đồng bằng sông Cửu Long và của cả nước; xác định đúng các tiềm năng, thế mạnh, cũng như những cơ hội và thách thức của tỉnh; khai thác, huy động những dư địa mới, nguồn lực mới để tạo bước phát triển đột phá trong phát triển ở thời kỳ mới.

Từ đó, xây dựng các kịch bản, lựa chọn phương án phát triển và các định hướng phát triển ngành, lĩnh vực quan trọng; bố trí, sắp xếp các không gian phát triển mới của tỉnh; vừa cụ thể hóa quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch vùng ở cấp tỉnh về không gian các hoạt động kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, hệ thống đô thị và phân bố dân cư nông thôn, kết cấu hạ tầng, phân bổ đất đai, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường trên cơ sở kết nối quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch đô thị, quy hoạch nông thôn; xác định các nhiệm vụ trọng tâm, các giải pháp đột phá để tỉnh có thể đạt được các mục tiêu, khát vọng, hướng đến phát triển nhanh, bền vững, bao trùm và thịnh vượng.

Cùng với đó cần khẩn trương hơn nữa để hoàn thiện và triển khai thực hiện có hiệu quả Quy hoạch phát triển tỉnh An Giang thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 làm cơ sở để triển khai thực hiện các giải pháp phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian tới. Nắm bắt cơ hội và chủ động xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện tốt Nghị quyết số 13-NQ/TW, ngày 02/4/2022 của Bộ Chính trị "Về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045". Từng bước hiện thực hoá mục tiêu để An Giang trở thành tỉnh phát triển toàn diện, hiện đại, văn minh, sinh thái, bền vững và mang bản sắc văn hóa sông nước của vùng đất đầu nguồn sông Mê Kông.

Thứ hai, trước yêu cầu tăng tốc phát triển của tỉnh trong giai đoạn mới, đồng chí đề nghị các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội của tỉnh An Giang tiếp tục giữ gìn, củng cố và vun đắp cho sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng bộ, chính quyền và các tầng lớp nhân dân; lấy đoàn kết trong Đảng bộ làm trung tâm, đoàn kết toàn dân làm động lực, lấy mục tiêu phát triển làm điểm tương đồng để đưa phong trào chung của tỉnh đi lên.

Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức nghiên cứu học tập, quán triệt, xây dựng kế hoạch cụ thể của địa phương, đơn vị mình để thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả các chủ trương, nghị quyết của Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nhất là thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khoá XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và tấm gương đạo đức của Chủ tịch Tôn Đức Thắng - Người con ưu tú của quê hương An Giang, nhà lãnh đạo mẫu mực, người cộng sản kiên trung, người bạn chiến đấu thân thiết của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

Kiên định thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc xây dựng Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình. Phát huy hơn nữa tinh thần dân chủ trong Đảng và xã hội gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương và trách nhiệm nêu gương của mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức thực sự năng động, sáng tạo, chuyên nghiệp, tận tụy, trách nhiệm, liêm chính, kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ. Đề cao trách nhiệm người đứng đầu năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm gắn với cơ chế bảo vệ cán bộ theo Kết luận 14 của Bộ Chính trị.

Tiếp tục hoàn thiện bộ máy chính quyền tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, gần dân, trọng dân, biết lắng nghe tiếp thu những ý kiến xác đáng của Nhân dân, vì Nhân dân phục vụ, vì quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của Nhân dân. Quyết tâm thực hiện có hiệu quả những nhiệm vụ, mục tiêu cụ thể được đề ra trong Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh An Giang lần thứ XI, nhiệm kỳ 2020 - 2025.

Thứ ba, phát triển kinh tế, tỉnh phải chú trọng lĩnh vực văn hóa - xã hội, coi đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Đồng chí đề nghị các cấp uỷ, chính quyền, ban, ngành, đoàn thể địa phương phát huy tốt các giá trị truyền thống, văn hóa, con người mang "đặc sắc" An Giang để bảo đảm phát triển bao trùm, bền vững và hướng tới thịnh vượng; chăm lo bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa tốt đẹp của các dân tộc trên địa bàn; xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh trong Đảng, hệ thống chính trị và xã hội; chú trọng nâng cao hình ảnh quê hương và con người An Giang; có kế hoạch thật tốt để phát triển văn hóa, xã hội hài hoà với phát triển kinh tế, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của Nhân dân; tiếp tục khơi dậy và phát huy tinh thần tương thân ương ái trong cộng đồng để chung tay thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững; khơi dậy và phát huy truyền thống văn hóa của con người An Giang "năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm" vì lợi ích chung; đặc biệt coi trọng phát triển giáo dục và đào tạo, nhất là chăm lo cho con người theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng: "Phát triển con người toàn diện và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa, con người Việt Nam thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc".

Thứ tư, "Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh và giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại" phải được thực hiện chặt chẽ, thường xuyên, liên tục. Cần tăng cường lãnh đạo củng cố quốc phòng, an ninh kết hợp chặt chẽ với phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn. Xây dựng, củng cố thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận lòng dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, biên phòng toàn dân vững mạnh về mọi mặt; kiên quyết giữ vững ổn định chính trị để phát triển. Đồng thời, tăng cường công tác đối ngoại, thực hiện tốt chương trình hợp tác với các tỉnh biên giới Campuchia…

Đồng chí tin tưởng rằng, sự kế thừa và phát huy truyền thống lịch sử, văn hoá, cách mạng của quê hương An Giang sẽ là nguồn sức mạnh, động lực tinh thần to lớn để Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân An Giang chung tay, đoàn kết, phát huy ý chí tự lực tự cường, khát vọng phát triển quê hương An Giang ngày càng phồn vinh, hạnh phúc.

Le-ki-niem-190nam-ag-2.jpg

Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy An Giang Lê Hồng Quang tiếp thu phát biểu chỉ đạo của lãnh đạo Trung ương

Phát biểu đáp từ, đồng chí Lê Hồng Quang, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy An Giang thay mặt  Đảng bộ, Chính quyền và Nhân dân tỉnh An Giang bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Bộ Chính trị, Ban Bí thư; Chủ tịch nước; Quốc hội; Chính phủ; các ban, bộ, ngành Trung ương và các tỉnh, thành bạn đã kịp thời lãnh đạo, chỉ đạo, hỗ trợ, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để An Giang vượt qua khó khăn, thách thức, đạt được thành tựu to lớn như hôm nay.

Đồng chí khẳng định: An Giang tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước; luôn nêu cao truyền thống đoàn kết, ý chí tự lực, tự cường; chung sức, đồng lòng xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; xây dựng An Giang - quê hương Chủ tịch Tôn Đức Thắng kính mến ngày càng giàu đẹp, văn minh. Không phụ sự kỳ vọng của đồng chí Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhân dịp về thăm, làm việc tại An Giang năm 2018. Qua 4 tứ thơ đề tặng:

Bac-Trong-tang-tho.jpg

Le-ki-niem-190nam-ag-4.jpg

Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Kinh tế Trung ương Trần Tuấn Anh tặng quà Đảng bộ, chính quyền và nhân dân An Giang

Sau phần nghi lễ là Chương trình nghệ thuật có chủ đề “190 năm - An Giang hành trình cùng đất nước” với các tiết mục nghệ thuật đặc sắc và bắn pháo hoa chào mừng.

Le-ki-niem-190nam-ag-9.jpg

Le-ki-niem-190nam-ag-10.jpg

Le-ki-niem-190nam-ag-11.jpg

Le-ki-niem-190nam-ag-12.jpg

Le-ki-niem-190nam-ag-13.jpg

Le-ki-niem-190nam-ag-15.jpg

Le-ki-niem-190nam-ag-16.jpg

Hòa Bình


Việc thành lập tỉnh An Giang năm 1832 qua sử liệu Quốc sử quán triều NguyễnAn Giang 190 nămBài viếtTTCTTTViệc thành lập tỉnh An Giang năm 1832 qua sử liệu Quốc sử quán triều Nguyễn/SiteAssets/Lists/thoisu01/EditForm/190nam-tinh-ag.jpg
22/11/2022 10:00 SANoĐã ban hành

(TUAG)- Để thực hiện chính sách Trung ương tập quyền, từ năm 1831 vua Minh Mạng cho thành lập các tỉnh phía Bắc từ Lạng Sơn đến Quảng Trị, xóa bỏ chức Tổng trấn Bắc thành. Ở Nam Bộ do Tổng trấn Gia Định thành Lê Văn Duyệt còn đương chức chưa thực hiện được, đến tháng 7 năm 1832, Lê Văn Duyệt qua đời. Chớp lấy cơ hội này, thông qua đề xuất của Bộ Lại, vua Minh Mạng quyết định xóa Gia Định thành và 5 trấn, cho chủ trương thành lập 12 tỉnh từ Quảng Nam vào Nam Bộ trong đó có tỉnh An Giang. Đây là một đợt cải cách hành chính lớn thời Minh Mạng.


Việc thành lập tỉnh An Giang được các sách sử do Quốc sử quán triều Nguyễn ghi nhận như sau:

Sách Đại Nam nhất thống chí, tập 5 có ghi: “Xưa là vùng đất Tầm Phong Long, năm Đinh Sửu thứ 19 (1757) đời Thế Tông, quốc vương Chân Lạp Nặc Tôn dâng đất này, đặt làm đạo Châu Đốc; vì đất ấy nhiều chỗ bỏ hoang, đầu đời Gia Long mộ dân đến ở, gọi là Châu Đốc tân cương, đặt quản đạo, lệ vào tỉnh Vĩnh Long; năm Minh Mạng thứ 13, lấy đất này cùng với huyện Vĩnh An đặt làm hai phủ Tuy Biên và Tân Thành, đặt 4 huyện là Tây Xuyên, Phong Phú, Đông Xuyên và Vĩnh An (Tây Xuyên và Phong Phú thuộc phủ Tuy Biên; Đông Xuyên và Vĩnh An thuộc phủ Tân Thành), lập tỉnh An Giang, đặt chức An Hà tổng đốc, thống lãnh 2 tỉnh An Giang và Hà Tiên...”(1).

Qua đoạn tư liệu trên ghi nhận tỉnh An Giang được thành lập vào năm 1832, nhưng chưa xác định cụ thể được ngày tháng.

Sách Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sử Lệ, tập III: “Minh Mạng năm thứ 13 (1832), trích đồn Châu Đốc ở tỉnh Vĩnh Long đặt làm tỉnh An Giang; đem 2 huyện Vĩnh An, Vĩnh Định thuộc phủ Định Viễn, tỉnh Vĩnh Long lệ thuộc vào. Năm ấy đặt thêm 2 huyện: Tây Xuyên, Phong Phú(2)…”.

Đoạn sách ghi chép trên cũng chỉ xác định năm thành lập tỉnh An Giang là năm 1832, chưa ghi ngày tháng cụ thể.

Sách Minh Mệnh chính yếu, chép như sau: “Kế đến năm thứ 13 lại chia đặt từ Quảng Nam trở về Nam làm 12 tỉnh là: Quảng Nam, Quảng Nghĩa, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận, Biên Hòa, Phiên An, Vĩnh Long, Định Tường, An Giang và Hà Tiên; liệu đặt các chức Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chánh sứ, Án sát sứ và Lãnh ninh như trên”(3).

Sách này cũng ghi nhận việc lập 12 tỉnh năm 1832, nhưng chưa có ngày cụ thể.

Sách Đại Nam thực lục chính biên, Đệ nhị kỷ VII, ghi nhận như sau: Năm Nhâm Thìn, Minh Mệnh thứ 13 (1832) mùa Đông tháng 10 ngày mùng 1… làm lễ đông hưởng(4)…Bắt đầu chia hạt, đặt quan từ Quảng Nam trở vào Nam.

Vua Minh Mệnh dụ Bộ Lại rằng: “Việc chia hạt đặt quan ở Bắc kỳ, hiện đã quy định xếp đặt thi hành rồi, vậy Nam kỳ từ Quảng Nam đến Gia Định cũng nên theo các tỉnh từ Quảng Trị trở ra Bắc, đặt các chức tổng đốc, tuần phủ, bố chánh, án sát và lãnh binh để tỏ ra có sự thống nhất”(5).

Bộ Lại trình tấu đề xuất lập tỉnh An Giang như sau: “... Gia Định thành, tổng trấn và các chức trấn thủ, hiệp trấn, tham biện ở các trấn đều nên bỏ đi, vả lại một hạt Gia Định gần thì liền với Chân Lạp là thuộc quốc, xa thì lân cận với Xiêm La là láng giềng, mà đất Châu Đốc lại là nơi xung yếu. Nhưng dân cư chưa được đông đúc, địa lợi chưa được mở mang, gần đấy có Vĩnh Long, đất rộng, dân giàu, hơn cả mọi hạt. Vậy xin tách lấy hai huyện Vĩnh An và Vĩnh Định thuộc Vĩnh Long, gộp với đất Châu Đốc, lập làm tỉnh An Giang; đặt một viên tổng đốc đại thần kiêm lãnh quả ấn bảo hộ nước Chân Lạp. Phàm các công việc vỗ về người xa, phòng ngừa giặc ngoài đều giao cho cả. Đã có trọng binh để mạnh về mặt quân sự, có nhiều kho tàng đề phòng lúc cần dùng, lại tuyên dương đức ý triều đình để vỗ về dân chúng, sửa việc quân chính để trấn áp kẻ địch, thì bờ cõi ta được bền vững, thuộc quốc càng tin theo, nước láng giềng lại càng sơ phục”. Rồi Bộ Lại đem những điều nghĩ định kê rõ tâu lên(6).

Trên cơ sở trình tấu của Bộ Lại, Vua Minh Mệnh chỉ dụ cho thành lập 12 tỉnh từ Quảng Nam đến Hà Tiên cùng thời điểm, trong đó có tỉnh An Giang như sau: “Tỉnh An Giang: Thống trị 2 phủ Tân Thành, Tuy Biên và 4 huyện Vĩnh An, Vĩnh Định, Đông Xuyên, Tây Xuyên. Nguyên đất Châu Đốc và lấy hai huyện Vĩnh An, Vĩnh Định, ở phủ Định Viễn thuộc Vĩnh Long đổi làm tỉnh An Giang, ở mé đông sông Hậu Giang đặt huyện Đông Xuyên, lấy những thôn ấp mới lập đặt làm 1 tổng, lại lấy 2 tổng thuộc huyện Vĩnh Định cho lệ thuộc vào. Ở mé Tây sông Hậu Giang đặt huyện Tây Xuyên, trích lấy 4 tổng huyện Vĩnh An cho lệ thuộc vào. Lấy hai huyện Đông Xuyên và Tây Xuyên đặt làm phủ Tuy Biên; hai huyện Vĩnh An và Vĩnh Định đặt làm phủ Tân Thành”(7).

Như vậy, vào ngày mùng 1 tháng 10 năm Nhâm Thìn (1832), tên tỉnh An Giang xuất hiện theo đề xuất của bộ Lại và được vua Minh Mạng chỉ dụ cho thực hiện. Còn việc bổ nhiệm, sắp đặt quan chức, chia cắt địa giới...các bộ chủ quản thực hiện sau đó.

Nếu căn cứ vào ngày mùng 1 tháng 10 Nhâm Thìn và đối chiếu lịch Vạn niên cho ta biết chính xác ngày 22 tháng 11 năm 1832 (Dương lịch) là ngày lập tỉnh An Giang.


TRẦN VĂN ĐÔNG
Hội Khoa học Lịch sử tỉnh

_________

(1).  Quốc sử quán triều Nguyễn , Đại Nam nhất thống chí tập 5, NXB Thuận Hóa Huế- 1992, trang 158.
(2).  Trung tâm  KHXH và Nhân Văn Quốc Gia- Viện Sử học, Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sử Lệ, NXB Thuận Hóa- 2005, trang 31.
(3).  Quốc sử quán triều Nguyễn, Minh Mệnh chính yếu, NXB Thuận Hóa- 2010, trang 175.
(4).  Đại Nam thực lục tập XI, Chính biên đệ nhị kỷ VII, NXB Khoa Học Hà Nội- 1964.
(5).  Đại Nam thực lục tập 11, Chính Biên Đệ nhị kỷ, NXB Khoa học  Hà Nội- 1964, trang 201.
(6).  Đại Nam thực lục tập 11, Chính Biên Đệ nhị kỷ, NXB Khoa học  Hà Nội- 1964, trang 201, 202.
(7).  Đại Nam thực lục tập 11, Chính Biên Đệ nhị kỷ, NXB Khoa học  Hà Nội- 1964, trang 203, 204.

An Giang - truyền thống 190 năm và tầm nhìn trên đường phát triểnAn Giang 190 nămBài viếtHoàng KỳAn Giang - truyền thống 190 năm và tầm nhìn trên đường phát triển/SiteAssets/Long-Xuyen-khonggian.jpg

​HOÀNG KỲ (*)

21/11/2022 2:00 CHNoĐã ban hành

​(TUAG)- Nằm ở hạ nguồn sông Mê Kông, thượng nguồn dòng Cửu Long, giáp Vương quốc Campuchia, An Giang là tỉnh có địa chính trị, địa kinh tế, văn hoá - xã hội và quốc phòng - an ninh quan trọng. Với bề dày lịch sử, văn hóa, giàu truyền thống yêu nước và cách mạng, trải qua 190 năm hình thành và phát triển (1832 - 2022), qua nhiều thăng trầm lịch sử, các thế hệ lãnh đạo và Nhân dân An Giang luôn phát huy ý chí tự lực, tự cường, khát vọng đổi mới sáng tạo, xây dựng tỉnh biên giới Tây Nam Tổ quốc ngày càng giàu đẹp, văn minh, hiện đại.

Bản_đồ_hành_chính_tỉnh_An_Giang.jpeg

Lược sử hình thành

Vào năm Đinh Sửu (1757), Nặc Tôn Quốc vương Chân Lạp đã dâng đất Tầm Phong Long (vùng đất nằm giữa sông Tiền và sông Hậu, ngày nay có một phần thuộc tỉnh An Giang) cho chúa Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát để đền ơn trong lúc hoạn nạn, giúp giành lại vương triều. Sau khi tiếp nhận, chúa Nguyễn đã nhập đất Tầm Phong Long vào dinh Long Hồ, đặt thành 3 đạo gồm: Xứ Sa Đéc - đặt làm đạo Đông Khẩu, xứ Cù lao Giêng - đặt làm đạo Tân Châu và xứ Châu Đốc - đặt làm đạo Châu Đốc, rồi lấy binh dinh Long Hồ trấn giữ nơi địa đầu trọng yếu này. Cũng từ năm 1757, vùng đất sau cùng của Nam Bộ (một phần là An Giang ngày nay) trở thành bộ phận không thể chia cắt của nước Việt Nam về mặt pháp lý.

Năm 1780, chúa Nguyễn Ánh cải tên dinh Long Hồ thành dinh Vĩnh Trấn, sau đó đổi thành dinh Trấn Vĩnh. Sau khi thống nhất đất nước, năm 1808, vua Gia Long lập Gia Định thành trên vùng đất Nam Bộ, chia thành ngũ trấn: Biên Hòa, Phiên An, Định Tường, Vĩnh Thanh và Hà Tiên. Trấn Vĩnh Thanh khi đó bao gồm 2 tỉnh Vĩnh Long và An Giang, là vùng biên giới tiếp giáp Vương quốc Chân Lạp, giao thương rất khó khăn. Vì thế, vua Gia Long, sau đó là vua Minh Mạng (Minh Mệnh) đã cho đào kinh Thoại Hà, kinh Vĩnh Tế để thuận tiện trong giao thương, phòng thủ biên giới.

Sách “Đại Nam thực lục chính biên” ghi nhận vào ngày mùng 1 tháng 10 năm Nhâm Thìn (1832), năm Minh Mệnh thứ 13, trong buổi thiết triều, sau khi nghe Bộ Lại trình tấu, vua Minh Mạng đã chỉ dụ bãi bỏ Gia Định Thành, đổi “ngũ trấn” thành “lục tỉnh”, quyết định thành lập 12 tỉnh từ Quảng Nam đến Hà Tiên cùng thời điểm, trong đó có tỉnh An Giang. Đối chiếu với lịch vạn niên, ngày mùng 1 tháng 10 năm Nhâm Thìn (1832) nhằm ngày 22/11/1832 (dương lịch). Với ý nghĩa là vùng đất có những dòng sông hiền hòa và an bình, tên gọi An Giang ra đời vào năm 1832.

Truyền thống yêu nước, kiên cường chống ngoại xâm

Năm 1833, quân Xiêm tấn công Hà Tiên, ngược dòng lên Châu Đốc, tàn phá dọc kinh Vĩnh Tế và Tân Châu. Quân triều đình và người dân đã anh dũng chiến đấu, đánh thắng địch trên sông Vàm Nao. Năm 1842, quân Xiêm lại đánh phá dọc kinh Vĩnh Tế, Bảy Núi. Quân triều đình do Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Tri Phương chỉ huy kết hợp cùng Nhân dân An Giang đánh tan địch ở Bảy Núi, đuổi chúng ra khỏi bờ cõi.

Ngày 22/6/1867, thực dân Pháp chiếm thành Châu Đốc, Nhân dân An Giang tiếp tục đứng lên đấu tranh chống quân xâm lược. Nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra như: Khởi nghĩa của Trần Văn Thành, Ngô Lợi, Phan Xích Long, Nguyễn Hữu Trí,… Tuy nhiên, các cuộc đấu tranh đều bị thực dân Pháp đàn áp, thất bại do không có đường lối đúng đắn, chưa tập hợp được đông đảo quần chúng nhân dân.

Cot-day-thep-cm.jpg

Di tích lịch sử cách mạnh Cột Dây Thép, nơi lá cờ búa liềm vàng tung bay trên dây thép giăng ngang sông Tiền làm xôn xao lòng dân và làm kẻ thù khiếp sợ.

Giai đoạn 1924 - 1926, dưới tác động của phong trào để tang cụ Phan Chu Trinh, đòi ân xá cụ Phan Bội Châu, đòi thả Nguyễn An Ninh,… những luồng tư tưởng tiến bộ thâm nhập vào An Giang, thúc đẩy các phong trào yêu nước phát triển, bắt đầu đón nhận những hạt giống đỏ cách mạng. Tháng 02/1928, Tỉnh bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên tỉnh Long Xuyên được thành lập, đồng chí Châu Văn Liêm được chỉ định làm Bí thư. Cuối tháng 3/1930, Ban Chấp ủy lâm thời tỉnh Long Xuyên ra đời, tiến hành xây dựng các chi bộ Đảng, lấy Chợ Mới làm trung tâm phát triển tổ chức. Đầu tháng 4/1930, Chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam đầu tiên của Long Xuyên, Châu Đốc được thành lập ở Long Điền (Chợ Mới). Từ cuối tháng 4/1930, hạt giống cách mạng được nhân rộng khắp nơi với nhiều chi bộ Đảng được hình thành. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, chỉ trong 7 ngày (từ ngày 22 - 28/8/1945), Nhân dân Long Xuyên, Châu Đốc đã giành chính quyền trong cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đánh đổ ách áp bức, thống trị của bọn thực dân, phong kiến.

Ngày 23/9/1945, thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn Gia Định, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược đất nước ta lần thứ hai. Ngày 03/02/1946, quân Pháp tái chiếm toàn bộ 2 tỉnh Long Xuyên, Châu Đốc. Cùng với cả nước, quân và dân trong tỉnh đã nhất tề đứng lên chống giặc ngoại xâm. Phong trào kháng chiến bùng lên mạnh mẽ với nhiều xã chiến đấu được thành lập dọc hai bờ sông Tiền, sông Hậu. Nhân dân An Giang đã anh dũng chiến đấu, góp phần ngăn chặn âm mưu “đánh nhanh, thắng nhanh” của quân Pháp, cùng cả nước trường kỳ kháng chiến và giành thắng lợi vang dội trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954.

Trong suốt 21 năm kháng chiến chống đế quốc Mỹ, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân An Giang kiên cường bám đất, giữ làng, đánh bại các âm mưu, thủ đoạn thâm độc của kẻ thù, cùng với cả nước Đại thắng Mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Thắng lợi của cuộc kháng chiến trường kỳ 21 năm ở một địa bàn biên giới, dân tộc, tôn giáo rất phức tạp như An Giang đã mang lại nhiều ý nghĩa và kinh nghiệm quý báu. Qua đó, khẳng định vai trò lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng bộ cũng như truyền thống yêu nước, chống ngoại xâm của quân và dân tỉnh nhà.

Tháng 02/1976, thực hiện Nghị quyết số 19/NQ, ngày 20/12/1975 của Bộ Chính trị và Nghị định của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, tỉnh An Giang được tái lập (gồm 8 huyện là: Châu Thành, Huệ Đức, Chợ Mới, Phú Tân, Châu Phú, Phú Châu, Tri Tôn, Tịnh Biên và 2 thị xã Long Xuyên, Châu Đốc với 124 xã, phường, thị trấn). Đảng bộ và Nhân dân An Giang bắt tay khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh, dồn sức khôi phục, phát triển sản xuất, ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, xây dựng lại quê hương.

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, tập đoàn phản động Pôn Pốt - Iêng Xari đã mở hàng loạt cuộc đánh chiếm trực tiếp 20 xã biên giới ở tỉnh An Giang, gây ra chiến tranh biên giới Tây Nam, san bằng thị trấn Tịnh Biên, pháo kích 10 xã, trong đó, thị xã Châu Đốc bị thiệt hại nặng nề nhất. Ngày 01/01/1979, quân ta tổng phản công, đến ngày 07/01/1979 giúp nước bạn giải phóng tỉnh Kandal và Tà Keo. Sau khi đất nước Campuchia được giải phóng, An Giang đã thành lập các đoàn chuyên gia sang giúp tỉnh Tà Keo truy quét tàn quân Pôn Pốt, xây dựng lực lượng vũ trang địa phương, chính quyền các cấp, ổn định sản xuất, đời sống nhân dân nước bạn; tổ chức cho cán bộ, Nhân dân, trẻ em được học hành.

Năng động, sáng tạo, đột phá trong sản xuất nông nghiệp
Chiến tranh bảo vệ biên giới kết thúc, tỉnh An Giang đối mặt với nhiều khó khăn  như: Tháo gỡ bom, mìn; phục hóa những vùng đất bỏ hoang; xây dựng lại nhà cửa, trường học, trạm y tế…; phát triển nông nghiệp, ổn định cuộc sống người dân;… Năm 1980, Tỉnh ủy An Giang có chủ trương sáng tạo, phù hợp lợi ích của người dân là thực hiện cơ chế giá trong mua bán sản phẩm nông nghiệp. Qua thực tế thị trường, tỉnh điều chỉnh chủ trương “mua cao bán cao” thành “mua đúng bán đúng”. Sau đó, thực hiện Chỉ thị số 100-CT/TW, ngày 13/01/1981, của Ban Bí thư Trung ương Đảng về “Cải tiến công tác khoán, mở rộng” “khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp”, tỉnh chủ trương đưa đất về hộ nông dân, biến “hộ nông dân thành hộ sản xuất cơ bản”. Những chủ trương, chính sách trên đã giúp giải phóng sức sản xuất, tạo bước ngoặt quan trọng cho sản xuất nông nghiệp có bước phát triển mới. An Giang từ vùng đất còn nhiều hoang hóa, thiếu đói đã nhanh chóng phục hồi, phát triển; nông dân bội thu trong sản xuất, đời sống nâng lên rõ rệt.

LTH_3385.JPG

Cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp. Ảnh: Trung Hiếu.

Trên cơ sở bám sát thực tiễn, tôn trọng quy luật khách quan, Đảng bộ, chính quyền tỉnh An Giang xác định nông nghiệp là nền tảng, là mặt trận hàng đầu; nông dân là chủ thể của quá trình đổi mới, nông thôn là địa bàn chiến lược. Thực tiễn chứng minh “Chính sách Tam nông” của Trung ương mà An Giang thực hiện đã giải quyết đồng bộ, hiệu quả các vấn đề về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của Nhân dân, nhất là nông dân. Trong đó, nổi bật là một số chủ trương sáng tạo, đột phá như: Đẩy mạnh đầu tư vào thủy lợi, chuyển đổi từ lúa mùa 1 vụ sang lúa thần nông 2 vụ/năm, 3 vụ/năm (thời gian canh tác ngắn và năng suất cao hơn); xóa bỏ các trạm “ngăn sông cấm chợ”; chương trình khai thác vùng Tứ giác Long Xuyên (năm 1988); chương trình khuyến nông (năm 1989); chương trình phát triển nông thôn (năm 1992); chương trình khuyến công (năm 1996); chương trình khai thác lợi ích từ các công trình thoát lũ ra biển Tây; xây dựng cụm, tuyến dân cư vượt lũ; chương trình trồng và bảo vệ rừng; chương trình phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; mô hình “Cánh đồng lớn”,… Chính những chủ trương, chính sách linh hoạt, đúng đắn, sáng tạo, mang tính đột phá, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của tỉnh đã góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển nhanh; đời sống người dân ngày càng cải thiện. Từ tỉnh đứng trước ngưỡng thiếu lương thực, đến năm 1988 sản lượng lúa của An Giang vượt qua mức 1 triệu tấn; đến năm 1994 vượt mức 2 triệu tấn; năm 2000 đạt 2,5 triệu tấn và hiện nay đạt trên 4 triệu tấn. An Giang trở thành một trong những tỉnh dẫn đầu cả nước về sản lượng lương thực, trung bình mỗi năm xuất khẩu khoảng 1,5 triệu tấn gạo.

Sau thời gian phát triển mạnh mẽ, ngành Nông nghiệp An Giang bộc lộ hạn chế về tính bền vững và suy giảm tốc độ tăng trưởng, do phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, khai thác tài nguyên thiên nhiên và lao động trình độ thấp. Hệ quả là từ năm 2012 trở đi, tốc độ tăng trưởng kinh tế hằng năm của tỉnh thấp hơn mức tăng trưởng bình quân chung của vùng Đồng bằng sông Cửu Long và cả nước. Để tìm hướng phát triển mới, Tỉnh ủy An Giang đề ra chủ trương đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ gắn với tổ chức lại sản xuất theo chuỗi giá trị làm nền tảng để cơ cấu lại ngành Nông nghiệp. Năm 2012, Tỉnh ủy ban hành Nghị quyết số 09-NQ/TU về “Phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tỉnh An Giang giai đoạn 2012 - 2020 và tầm nhìn đến năm 2030”. Sau 10 năm triển khai thực hiện, đến nay đã xuất hiện ngày càng nhiều mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, hiệu quả rõ nét như: Trồng lúa chất lượng cao, sản xuất rau màu trong nhà lưới, mô hình trồng nắm, chăn nuôi gia súc, gia cầm an toàn sinh học, sản xuất giống cá tra 3 cấp chất lượng cao,… Lĩnh vực nông nghiệp tiếp tục tăng trưởng và khẳng định vai trò nền tảng của nền kinh tế, nhất là trong những giai đoạn khó khăn. Ngoài sản xuất lúa gạo, nuôi trồng thủy sản, những năm gần đây, An Giang thực hiện nhiều chính sách khuyến khích phát triển cây ăn trái, rau màu theo hướng chuyên canh để tăng giá trị và hiệu quả kinh tế. Trên địa bàn tỉnh đã hình thành các vùng sản xuất chuyên canh, tập trung quy mô lớn như: Trái cây (Tri Tôn, Chợ Mới, Tịnh Biên, An Phú), rau màu (Châu Phú, Chợ Mới, An Phú, Long Xuyên, Châu Đốc), lúa nếp (Phú Tân, Châu Phú) gắn với liên kết, tiêu thụ theo chuỗi giá trị nông sản, bảo đảm chất lượng và nhu cầu thị trường.

Tuong-dai-BacTon-Thanh-Hung1.jpg

Tượng đài Chủ tịch Tôn Đức Thắng tại TP Long Xuyên. Ảnh: Thanh Hùng.

Song song đó, với quyết tâm đẩy mạnh quảng bá hình ảnh du lịch và con người An Giang; tăng cường liên kết vùng, trong và ngoài nước nhằm khai thác tốt tiềm năng, thế mạnh du lịch, tỉnh đã tập trung triển khai Chương trình phát triển hạ tầng du lịch, ưu tiên đầu tư hệ thống giao thông kết nối các khu, điểm du lịch; mời gọi nhiều nhà đầu tư vào các khu du lịch: Núi Sam, núi Cấm, rừng tràm Trà Sư... góp phần đa dạng hóa sản phẩm du lịch, tăng số lượng du khách và doanh thu dịch vụ. Hoạt động kết nối tour tuyến, công tác truyền thông, quảng bá hình ảnh du lịch, văn hóa và con người An Giang được chú trọng, ngày càng thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước.
Với sự nỗ lực, phấn đấu bền bĩ, phát huy tinh thần tự lực, tự cường, linh hoạt, chủ động, sáng tạo trong vận dụng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân An Giang đã đạt được những thành tựu to lớn và toàn diện. Trong giai đoạn 2000 - 2020, tốc độ tăng trưởng kinh tế duy trì mức bình quân 7,3%/năm, cao hơn mức bình quân chung của cả nước (6,4%/năm); GRDP bình quân đầu người từ 0,65 triệu đồng/năm (1990) tăng lên 15,8 triệu đồng/năm (2010) và 48,9 triệu đồng/năm (2021); tỷ lệ hộ nghèo từ 7,84% (2011) giảm còn 1,93% (2020),… Sản xuất kinh doanh phát triển, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện và nâng cao, nông thôn từng bước đổi mới, nội bộ đoàn kết thống nhất, quốc phòng - an ninh được đảm bảo.
Hướng đến năm 2030 và tầm nhìn 2050
Bên cạnh những thành tựu đạt được, An Giang còn đối mặt với không ít khó khăn, thách thức. Các chỉ tiêu kinh tế - xã hội quan trọng nhiều năm chỉ đạt mức trung bình, tỉnh vừa phải tập trung phát triển nông nghiệp đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và xuất khẩu, vừa phát triển nhanh để theo kịp trình độ phát triển chung cả nước. Chất lượng nguồn nhân lực còn hạn chế; ứng dụng khoa học - công nghệ chưa tạo nhiều động lực cho tăng trưởng kinh tế; quy mô nông nghiệp vẫn còn manh mún; công nghiệp chậm phát triển; du lịch tuy có khởi sắc nhưng chưa đủ sức trở thành mũi nhọn của nền kinh tế; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhất là giao thông, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển; thu hút đầu tư còn nhiều khó khăn,…
Để phát huy những thành tựu đạt được, sớm vượt qua những khó khăn, thách thức, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XI, nhiệm kỳ 2020-2025, đề ra mục tiêu tổng quát là: “Nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng bộ và hiệu quả quản lý của chính quyền; phát huy dân chủ, kỷ cương; khai thác mạnh mẽ lợi thế so sánh của địa phương trong liên kết vùng và hội nhập quốc tế. Phát triển hài hòa giữa kinh tế với văn hóa xã hội, bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân; giữ vững quốc phòng, an ninh. Phấn đấu đến năm 2025 kinh tế An Giang thuộc nhóm đầu khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và đạt mức trung bình cả nước; đến năm 2030 đạt trên mức trung bình cả nước”.
Đảng bộ tỉnh xác định đến năm 2030 phấn đấu đưa An Giang trở thành tỉnh phát triển khá trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long; kinh tế phát triển năng động, hài hòa, bền vững trên cơ sở đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo để nâng cao chất lượng phát triển, năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế; không gian kinh tế - xã hội được tổ chức hợp lý gắn với đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, trọng tâm là phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, thương mại và du lịch; hình thành hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, hạ tầng số đồng bộ, tích hợp, hiện đại; chất lượng nguồn nhân lực và đời sống mọi mặt của Nhân dân không ngừng được nâng cao; an sinh và phúc lợi xã hội được đảm bảo, từng bước cải thiện; các giá trị văn hóa truyền thống, tốt đẹp của đồng bào các dân tộc được gìn giữ, bảo tồn và phát huy; chất lượng môi trường được đảm bảo; tiềm lực quốc phòng được củng cố, vùng phòng thủ quốc phòng ngày càng vững chắc; chính trị ổn định; an ninh trật tự được đảm bảo.

QNM8731.jpg

Đền thờ Chủ tịch Tôn Đức Thắng tại xã Mỹ Hòa Hưng, TP Long Xuyên. Ảnh: Ngọc Minh.

Tầm nhìn đến năm 2050, An Giang đề ra mục tiêu trở thành tỉnh phát triển toàn diện, hiện đại, văn minh, sinh thái, bền vững và mang bản sắc văn hóa sông nước của vùng đất đầu nguồn sông Cửu Long; có trình độ phát triển khá so với cả nước; chất lượng cuộc sống của người dân ở mức cao; là điểm đến hấp dẫn cho người dân và du khách từ mọi miền đất nước; có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ, hiện đại, thích ứng với biến đổi khí hậu; kết nối thông suốt với các địa phương trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long, các nước lân cận trong khu vực ASEAN và quốc tế. An Giang cũng hướng đến là thủ phủ của ngành Công nghiệp chế biến nông sản, thực phẩm tinh của cả nước; là đích đến của các nhà đầu tư sản xuất, kinh doanh nông nghiệp, chế biến thực phẩm lớn của thế giới; là đầu mối giao thương hàng hóa, dịch vụ của vùng với thị trường Campuchia và các nước khu vực ASEAN. An Giang phấn đấu là địa phương gìn giữ và phát huy tốt các giá trị văn hóa, truyền thống lịch sử, đa dạng sinh học, phát triển bền vững mô hình kết hợp giữa du lịch tâm linh, du lịch sinh thái với thương mại hàng hóa, dịch vụ đặc trưng của địa phương. Quốc phòng và an ninh được tăng cường, trật tự, an toàn xã hội được bảo đảm.

Đặc biệt, Nghị quyết số 13-NQ/TW, ngày 02/4/2022 của Bộ Chính trị về “Phương hướng phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” xác định phát triển tỉnh An Giang trở thành trung tâm đầu mối nông nghiệp gắn với vùng nguyên liệu về thủy sản nước ngọt, trái cây, lúa gạo.  

An Giang là vùng đất địa linh nhân kiệt - là tỉnh đa dân tộc, đa tôn giáo, nơi khởi nguồn của Phật giáo Hòa Hảo, Bửu Sơn Kỳ Hương và Phật giáo Tứ Ân Hiếu Nghĩa. Các dân tộc Kinh, Hoa, Chăm, Khmer… cùng chung sống hòa thuận lâu đời, cùng hệ thống di tích lịch sử, văn hóa phong phú với 88 di tích được xếp hạng, trong đó có 02 di tích cấp quốc gia đặc biệt (khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng và khu Di tích khảo cổ Óc Eo), 28 di tích cấp quốc gia và 58 di tích cấp tỉnh. An Giang còn vinh dự, tự hào là quê hương Chủ tịch Tôn Đức Thắng, nơi có dãy Thất sơn hùng vĩ, tỉnh đầu nguồn của dòng Cửu Long cuồn cuộn đổ về Đông. Với bề dày lịch sử - văn hóa, truyền thống cách mạng kiên cường, suốt chặng đường lịch sử 190 năm hình thành và phát triển, con người An Giang có truyền thống yêu nước, chống ngoại xâm; cần cù, sáng tạo trong lao động; đoàn kết, nhân ái, giản dị, thuỷ chung trong cuộc sống. Những thành tựu mà Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân An Giang đạt được trong thời gian qua là kết tinh của truyền thống đoàn kết, quyết tâm của cả hệ thống chính trị.

Tiếp nối truyền thống vẻ vang đó, trong chặng đường phát triển mới, Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân An Giang sẽ tiếp tục phát huy các giá trị lịch sử, văn hóa, truyền thống yêu nước, sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức, phát huy ý chí tự lực, tự cường, năng động, đổi mới sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, quyết tâm xây dựng quê hương Bác Tôn ngày càng giàu đẹp, văn minh, hiện đại./.


______________

(*) TS. Lê Hồng Quang, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy An Giang.


Ngày 22/11 hàng năm là Ngày truyền thống tỉnh An GiangAn Giang 190 nămTinThu ThảoNgày 22/11 hàng năm là Ngày truyền thống tỉnh An Giang/SiteAssets/Lists/thoisu01/EditForm/190nam-tinh-ag.jpg
21/11/2022 1:10 CHNoĐã ban hành

(TUAG)- Ngày 21/11, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã ký Quyết định 1447/QĐ-TTg lấy ngày 22/11 hàng năm là "Ngày truyền thống tỉnh An Giang".

 190nam-tinh-ag.jpg

Theo sách Đại Nam thực lục ghi nhận, 190 năm trước, vào ngày mùng 1 tháng 10 năm Nhâm Thìn (1832), năm Minh Mệnh thứ 13, trong buổi thiết triều, sau khi nghe Bộ Lại trình tấu, vua Minh Mệnh đã chỉ dụ bãi bỏ Gia Định Thành, đổi "ngũ trấn" thành "lục tỉnh". Cùng thời điểm, vua Minh Mệnh đã quyết định thành lập 12 tỉnh từ Quảng Nam đến Hà Tiên, trong đó có tỉnh An Giang.

Đối chiếu với lịch vạn niên, ngày mùng 1 tháng 10 năm Nhâm Thìn, nhằm ngày 22/11/1832 dương lịch. Từ cơ sở khoa học và thực tiễn có thể khẳng định, tỉnh An Giang được vua Minh Mệnh quyết định thành lập vào ngày 22/11/1832. 

Kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang, vào lúc 19 giờ, ngày 22/11, tại Công trường Trưng Nữ Vương (phường Mỹ Long, TP Long Xuyên), Tỉnh ủy, HĐND, UBND, UBMTTQVN tỉnh An Giang long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm chào mừng 190 năm thành lập tỉnh An Giang (1832 – 2022). Chương trình, gồm: Phần lễ và chương trình nghệ thuật, bắn pháo hoa. Dự kiến, trong phần lễ của chương trình kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang sẽ chiếu phim tư liệu "An Giang 190 năm hình thành và phát triển", lãnh đạo tỉnh An Giang phát biểu ôn lại chặng đường vẻ vang của tỉnh.

Riêng chương trình nghệ thuật có chủ đề "190 năm - An Giang hành trình cùng đất nước", được dàn dựng công phu, hoành tráng với các tiết mục nghệ thuật đặc sắc chia thành 3 chương. Chương 1: Nhớ về nguồn cội; Chương 2: Truyền thống chống giặc ngoại xâm và xây dựng đất nước; Chương 3: An Giang ngày mới (chương trình nghệ thuật được truyền hình trực tiếp trên sóng Đài Truyền hình Việt Nam (VTV9) và Đài Phát thanh - Truyền hình An Giang).

Đặc biệt, sau chương trình nghệ thuật sẽ diễn ra hoạt động bắn pháo hoa, với thời lượng 15 phút để chào mừng kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang.

THU THẢO

Lễ kỷ niệm chào mừng 190 năm thành lập tỉnh An Giang diễn ra vào lúc 19 giờ ngày 22/11/2022TinNgọc HânLễ kỷ niệm chào mừng 190 năm thành lập tỉnh An Giang diễn ra vào lúc 19 giờ ngày 22/11/2022/SiteAssets/Hopbao-le-190nam-4.jpg
18/11/2022 7:00 SANoĐã ban hành

(TUAG)- Chiều ngày 17/11, Ban Tổ chức các hoạt động kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang (1832 - 2022) tổ chức Họp báo thông tin Lễ kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang (22/11/1832 - 22/11/2022). Đồng chí Trần Anh Thư, TUV, Phó Chủ tịch UBND tỉnh dự và chủ trì họp báo.

Hopbao-le-190nam-1.jpg 

Toàn cảnh buổi họp báo

Thông tin tại Họp báo, đồng chí Trương Bá Trạng, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cho biết: Nhằm thiết thực chào mừng 190 năm thành lập tỉnh An Giang (1832 - 2022), Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh An Giang long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm chào mừng 190 năm thành lập tỉnh An Giang (22/11/1832 - 22/11/2022). Lễ kỷ niệm diễn ra tại Quảng trường Trưng Nữ Vương, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang, được truyền hình trực tiếp trên sóng Đài Truyền hình Việt Nam (VTV9) và Đài Phát thanh - Truyền hình An Giang tiếp sóng, vào lúc 19 giờ 00 phút ngày 22/11/2022.

 Hopbao-le-190nam-2.jpg

Đồng chí Trương Bá Trạng, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thông tin về Lễ kỷ niệm

Nội dung Lễ kỷ niệm bao gồm: Phần nghi lễ dự kiến thời lượng 60 phút, từ 19h00 đến 20h05; Chương trình nghệ thuật và bắn pháo hoa với chủ đề "An Giang - 190 năm hành trình cùng đất nước", dự kiến thời lượng 60 phút, từ 20h05 đến 21h05. Chương trình nghệ thuật được dàn dựng với các tiết mục nghệ thuật đặc sắc chia thành 3 chương: Chương 1: Nhớ về nguồn cội; Chương 2: Truyền thống chống giặc ngoại xâm và xây dựng đất nước; Chương 3: An Giang ngày mới. Nội dung chương trình nhằm tôn vinh giá trị truyền thống tốt đẹp "uống nước nhớ nguồn" của dân tộc Việt Nam, ghi nhớ công ơn các bậc tiền nhân dày công mở cõi, tạo dựng vùng đất An Giang phù sa màu mỡ, giàu truyền thống anh hùng. Qua đó, cổ vũ tinh thần đoàn kết "ý Đảng lòng dân" trong quá trình xây dựng và phát triển quê hương An Giang.

Chương trình bắn pháo hoa 15 phút, từ 21h05 đến 21h20 (ngoài sóng trực tiếp) từ  nguồn kinh phí xã hội hóa.

 Hopbao-le-190nam-3.jpg

Phóng viên ý kiến tại buổi họp báo

Một số hoạt động, sự kiện quan trọng, tiêu biểu do Ban Tổ chức cấp tỉnh chủ trì tổ chức chào mừng Kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang (1832-2022): Hội thảo khoa học, chủ đề "An Giang 190 năm hình thành và phát triển"; khởi công xây dựng cầu Châu Đốc, thành phố Châu Đốc và thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang; Ngày Hội Mắm Châu Đốc, An Giang - Đặc sản các vùng miền năm 2022; Lễ Hội Văn hóa Truyền thống huyện Thoại Sơn lần thứ 21 năm 2022 (kỷ niệm 200 năm Danh thần Thoại Ngọc Hầu dựng bia, lập làng Thoại Sơn); khai mạc Đại hội Thể dục, Thể thao tỉnh An Giang lần thứ XI năm 2022; Tuần lễ văn hóa, thể thao, du lịch; tổ chức sáng tác ca khúc về An Giang; Cuộc thi sáng tác bài ca cổ "190 năm An Giang hình thành và phát triển"; thi Ảnh nghệ thuật; Liên hoan tuyên truyền ca khúc cách mạng; Hội thi Tiếng hát công nhân lao động với ca khúc quê hương, cách mạng;…

Thông qua các hoạt động và Lễ kỷ niệm nhằm tôn vinh những giá trị lịch sử truyền thống hào hùng của dân tộc, vai trò và những đóng góp to lớn của vùng đất Nam bộ và con người An Giang trong tiến trình lịch sử; khơi dậy khát vọng vươn lên mạnh mẽ của cán bộ, Đảng viên và Nhân dân tiếp tục phấn đấu không ngừng, quyết tâm vượt qua khó khăn, xây dựng và phát triển An Giang - quê hương Chủ tịch Tôn Đức Thắng ngày càng văn minh, giàu đẹp. Đồng thời, đây cũng là dịp để giới thiệu tiềm năng, lợi thế và hình ảnh vùng đất, con người An Giang đến với bạn bè trong nước và ngoài nước. Bên cạnh đó, góp phần cổ vũ, động viên toàn Đảng, toàn dân và toàn quân tích cực thi đua lao động sản xuất, công tác, học tập góp phần thực hiện thành công mục tiêu, nhiệm vụ mà Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh An Giang lần thứ XI đã đề ra.

Hopbao-le-190nam-4.jpg 

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Trần Anh Thư kết luận buổi họp báo

Phát biểu kết luận, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Trần Anh Thư nhấn mạnh: Lễ kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang (1832 - 2022) là sự kiện chính trị quan trọng có ý nghĩa to lớn của tỉnh An Giang, nhằm khơi dậy khát vọng, niềm tự hào, quảng bá hình ảnh của An Giang đến bạn bè trong nước và quốc tế. Qua đó thu hút đầu tư, phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Đồng chí mong các cơ quan thông tấn, báo chí sẽ đồng hành với tỉnh, thông tin đậm nét, toàn diện các hoạt động trước, trong và sau Lễ Kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang; thông tin những thành tựu đạt được trên các lĩnh vực của tỉnh qua 190 năm hình thành và phát triển; quảng bá, giới thiệu tiềm năng, lợi thế và hình ảnh vùng đất, con người An Giang…. Qua đó, góp phần vào sự thành công của Lễ kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang.

Đề nghị Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Sở Thông tin và Truyền thông, các cơ quan, đơn vị liên quan tạo điều kiện tốt nhất để các cơ quan thông tấn, báo chí tác nghiệp trong suốt quá trình diễn ra Lễ kỷ niệm. Đồng thời, đề nghị các cơ quan, đơn vị địa phương trong tỉnh phối hợp, hỗ trợ các cơ quan thông tấn, báo chí để tuyên truyền sâu sắc hơn trên các lĩnh vực…/.

NGỌC HÂN

Đảm bảo chu đáo công tác lễ tân, hậu cần, y tế phục vụ Lễ kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnhAn Giang 190 nămTinThu ThảoĐảm bảo chu đáo công tác lễ tân, hậu cần, y tế phục vụ Lễ kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh/SiteAssets/Hop-haucan-190nam-3.jpg
15/11/2022 3:45 CHNoĐã ban hành

(TUAG)- Chiều 15/11, UBND tỉnh tổ chức buổi làm việc để rà soát công tác lễ tân, hậu cần, y tế tổ chức Lễ kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang (1832-2022). Phó Chủ tịch UBND tỉnh An Giang Nguyễn Thị Minh Thúy, Trưởng Tiểu ban Lễ tân, Hậu cần, Y tế chủ trì.

 Hop-haucan-190nam-1.jpg

Quang cảnh cuộc họp

Hop-haucan-190nam-2.jpg

Thành viên tiểu ban báo cáo tiến độ chuẩn bị theo nhiệm vụ được phân công

Hop-haucan-190nam-3.jpg

Phó Chủ tịch UBND tỉnh An Giang Nguyễn Thị Minh Thúy, Trưởng Tiểu ban Lễ tân, Hậu cần, Y tế phát biểu chỉ đạo

Tại buổi làm việc, thành viên của tiểu ban đã báo cáo tiến độ thực hiện nhiệm vụ đã triển khai theo phân công nhiệm vụ, liên quan đến: Dự kiến danh sách khách mời; lập kế hoạch bố trí nơi ăn, nghỉ các đoàn khách, đại biểu và đơn vị mời tham gia lễ kỷ niệm; bố trí xe đưa đón đại biểu; bố trí các điểm trực y tế, kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm; đảm bảo việc cung cấp điện, nước; quà tặng... Đồng thời, triển khai các công việc tiếp theo trong công tác lễ tân, hậu cần, y tế tổ chức Lễ kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang.

Sau khi nghe ý kiến đóng góp của các thành viên trong Tiểu ban Lễ tân, Hậu cần, Y tế, Phó Chủ tịch UBND tỉnh An Giang Nguyễn Thị Minh Thúy yêu cầu các đơn vị thành viên khẩn trương hoàn thiện các công việc còn lại của đơn vị mình theo chức năng, nhiệm vụ được phân công; đồng thời, phối hợp với các đơn vị liên quan hoàn thành tốt công tác phục vụ đảm bảo công tác lễ tân, hậu cần, y tế chu đáo, khoa học, thể hiện sự thân thiện, hiếu khách nhằm để lại ấn tượng tốt đẹp đối với đại biểu tham dự, góp phần vào sự thành công tốt đẹp của Lễ kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang.

Lễ kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang (1832-2022) diễn ra lúc 19 giờ, ngày 22/11, tại quảng trường Trưng Nữ Vương (TP. Long Xuyên). Chương trình lễ kỷ niệm được truyền hình trực tiếp trên sóng Đài Truyền hình Việt Nam (VTV) và Đài Phát thanh - Truyền hình An Giang tiếp sóng (dự kiến từ 20 đến 21 giờ).

THU THẢO

 

TP Long Xuyên thực hiện 48 công trình chào mừng kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh TinGia KhánhTP Long Xuyên thực hiện 48 công trình chào mừng kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh /SiteAssets/LX-congtrinh-chaomung190.JPG
09/11/2022 2:00 CHNoĐã ban hành

(TUAG)- Từ đầu năm, Thành ủy, UBND TP Long Xuyên đã ban hành các kế hoạch phát động phong trào thi đua chào mừng kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang (1832-2022). Qua đó, cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân và các cơ quan, đơn vị trực thuộc thành phố thực hiện 48 công trình, mô hình.

 LX-congtrinh-chaomung190.JPG

Trao giải hội thi tìm hiểu nội dung tác phẩm Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng

Đối với các sự kiện hoạt động, địa phương phối hợp Đài Phát thanh - Truyền hình An Giang, Báo An Giang tuyên truyền đậm nét về quá trình hình thành, phát triển của tỉnh, những đóng góp quan trọng của thành phố qua 190 năm; tuyên truyền trực quan 586 pa-nô, tổng kinh phí trên 500 triệu đồng từ nguồn xã hội hóa. Các hoạt động văn hóa, thể dục thể thao được tổ chức sôi nổi, như: Hội thi tiếng hát từ quê hương Bác Tôn; thi sáng tác biểu trưng (logo) thành phố; Hội thi "Quá trình hình thành và quá trình phát triển vùng đất An Giang, giai đoạn 1832-2022)"; hội thi tìm hiểu tác phẩm "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam" của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Đối với các công trình phúc lợi xã hội, khánh thành đưa vào hoạt động "Hồ bơi 500m" và công trình nâng cấp đường Ung Văn Khiêm (đoạn từ Võ Thị Sáu, đường số 2, phường Mỹ Xuyên, Mỹ Phước); trang trí các cụm hoa tươi ở tượng đài bông lúa, vòng xoay đèn bốn ngọn; lắp đặt 18 trụ màn hình Led trên dãy phân cách tuyến đường Trần Hưng Đạo, tổng kinh phí trên 12,1 tỷ đồng; trang trí khánh tiết cho tượng đài Bác Tôn…

G.K

Công nhận và trao giải thưởng cho 15 tác phẩm đạt chất lượng tốt nhất  trong đợt sáng tác ca khúc về An GiangTinThanh HảiCông nhận và trao giải thưởng cho 15 tác phẩm đạt chất lượng tốt nhất  trong đợt sáng tác ca khúc về An Gianghttps://www.angiang.dcs.vn/SiteAssets/Logo-AG.jpg
09/11/2022 9:00 SANoĐã ban hành

(TUAG)- Ngày 7/11/2022, đồng chí Trần Anh Thư, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Phó trưởng Ban Tổ chức sáng tác ca khúc về An Giang đã ký ban hành Thông báo số 07-TB/BTC về kết quả sáng tác ca khúc về An Giang.


Theo đó, sáng tác ca khúc về An Giang được phát động từ ngày 15/7 đến hết ngày 15/10/2022. Ban Tổ chức đã nhận được 526 tác phẩm của 280 tác giả/nhạc sĩ trong tỉnh An Giang (với 48 tác giả/nhạc sĩ) và đến từ 46 tỉnh, thành phố trên cả nước (với 232 tác giả nhạc sĩ) tham gia; không có tác giả/ nhạc sĩ ngoài nước. Tác giả gửi tham gia nhiều tác phẩm nhất là 23 tác phẩm. Trong số 526 tác phẩm tham gia có 313 ca khúc gửi kèm bản âm thanh đã được tác giả/ nhạc sĩ hòa âm phối khí.

Để đánh giá các tác phẩm tham gia, Ban Tổ chức đã thành lập Hội đồng Giám khảo là những nhạc sĩ có uy tín và kinh nghiệm do Hội Nhạc sĩ Việt Nam giới thiệu. Chủ tịch Hội đồng là Thiếu tướng, Nhạc sĩ Nguyễn Đức Trịnh, Chủ tịch Hội Nhạc sĩ Việt Nam; Phó Chủ tịch Hội đồng là PGS.TS, Nhạc sĩ Võ Văn Thắng, Hiệu trưởng Trường Đại học An Giang - ĐHQG TPHCM. 03 thành viên Hội đồng là: Nhạc sĩ Trần Vương Thạch, Phó Chủ tịch Hội Nhạc sĩ Việt Nam phụ trách khu vực phía Nam, Giám đốc Nhà hát Giao hưởng Nhạc Vũ kịch Thành phố Hồ Chí Minh; PGS.TS, Nhạc sĩ Thế Bảo và Nhạc sĩ Hồ Trọng Tuấn, Phó Hiệu trưởng trường Đại học Văn hóa Nghệ thuật Quân đội, Phó Chủ tịch Hội Âm nhạc Hà Nội.

Kết quả qua hai vòng chấm chọn sơ khảo và chung khảo, Hội đồng Giảm khảo, Ban Tổ chức thống nhất không có tác phẩm nào đạt giải A theo cơ cấu giải thưởng; không trao giải Khuyến khích mà thay thế bằng giải thưởng cho "Tác phẩm đạt chất lượng tốt nhất trong đợt sáng tác ca khúc về An Giang" với 15 tác phẩm được chọn.

Các tác giả/nhóm tác giả có tác phẩm đạt chất lượng tốt nhất trong đợt sáng tác ca khúc về An Giang được Ban Tổ chức trao Giấy chứng nhận kèm theo mức tiền thưởng 50.000.000 đồng/tác phẩm. Tổng kinh phí khen thưởng 750.000.000 đồng từ nguồn vận động xã hội hóa do Tập đoàn Sao Mai An Giang và Tập đoàn Lộc Trời tài trợ.

Theo đánh giá của Hội đồng Giám khảo, đây là những tác phẩm tốt nhất trong đợt sáng tác ca khúc về An Giang, đáp ứng đầy đủ tiêu chí của Ban Tổ chức cả về nội dung và nghệ thuật. Là những tác phẩm phản ánh tương đối đầy đủ các mặt của quê hương An Giang từ truyền thống đến hiện đại, truyền tải tình cảm, tình yêu của người dân An Giang với đất nước, với cuộc sống, lịch sử và hôm nay. Về âm nhạc tương đối đa dạng, từ dòng chính thống - âm hưởng dân ca đến tiết tấu, giai điệu mang tính đột phá, tiếp cận với ngôn ngữ âm nhạc hiện đại, ca từ đẹp, chặt chẽ, trong sáng; cấu trúc tác phẩm gọn gàng, logic...

Qua đợt sáng tác ca khúc về An Giang lần này, Hội đồng Giám khảo và Ban Tổ chức đánh giá cao sự nhiệt tình hưởng ứng và tham gia của các tác giả, nhạc sĩ - nhà thơ, đồng tác giả và kỳ vọng các tác phẩm được chọn trao giải thưởng sẽ phát huy giá trị nghệ thuật và tìm được chỗ đứng trong lòng công chúng. Đồng thời, góp phần bồi đắp tâm hồn, nhân cách con người mới, làm đẹp thêm cuộc sống; có sức lay động, lan tỏa, truyền cảm hứng để khích lệ người dân thêm yêu mến và tự hào về vùng đất, con người An Giang.

 Lễ tổng kết và trao giải thưởng sáng tác ca khúc về An Giang dự kiến tổ chức vào trung tuần tháng 11/2022 và được truyền hình trực tiếp trên sóng Đài Phát thanh - Truyền hình An Giang nhân kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang (1832-2022).

Đính kèm file:

1. Thông báo số 07-TB/BTC, ngày 07/11/2022 về kết quả sáng tác ca khúc về An Giang:

 [07-TB-BTC]-thong bao ket qua sang tac ca khuc ve An Giang.pdf

THANH HẢI

Lễ kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang có nhiều nội dung ý nghĩaAn Giang 190 nămTinH.TLễ kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang có nhiều nội dung ý nghĩa/SiteAssets/Phaohoa-190.jpg
08/11/2022 2:00 CHNoĐã ban hành

Vào lúc 19 giờ, ngày 22/11/2022, tại quảng trường Trưng Nữ Vương (phường Mỹ Long, TP. Long Xuyên) sẽ diễn ra Lễ kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang (1832 – 2022), gồm: Phần lễ và chương trình nghệ thuật, bắn pháo hoa.

Phaohoa-190.jpg

Ảnh minh họa

Dự kiến, trong phần lễ của chương trình kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang sẽ chiếu phim tư liệu “An Giang 190 năm hình thành và phát triển”, lãnh đạo tỉnh An Giang phát biểu ôn lại chặng đường hình thành và phát triển của tỉnh.

Riêng chương trình nghệ thuật có chủ đề “190 năm - An Giang hành trình cùng đất nước”, được dàn dựng với các tiết mục nghệ thuật đặc sắc chia thành 4 chương. Chương 1: Nhớ về nguồn cội, Chương 2: Truyền thống cách mạng của Đảng bộ và nhân dân An Giang, Chương 3: Thời hoa lửa, Chương 4: An Giang ngày mới.

Nội dung chương trình nhằm tôn vinh giá trị truyền thống tốt đẹp “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam, ghi nhớ công ơn các bậc tiền nhân dày công mở cõi, tạo dựng vùng đất An Giang phù sa màu mỡ, giàu truyền thống anh hùng. Qua đó, cổ vũ tinh thần đoàn kết “ý Đảng lòng dân” trong quá trình xây dựng và phát triển quê hương An Giang.

Đặc biệt, sau chương trình nghệ thuật sẽ diễn ra hoạt động bắn pháo hoa, với thời lượng 15 phút để chào mừng kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang.

P.V

Lễ kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang phải diễn ra trang trọng, chu đáoAn Giang 190 nămTinMỹ LinhLễ kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang phải diễn ra trang trọng, chu đáo/SiteAssets/BTCL-hop-chuanbi-2.JPG
08/11/2022 1:00 CHNoĐã ban hành

(TUAG)- Sáng 8/11, Ban Chỉ đạo Tổ chức các hoạt động kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang tổ chức cuộc họp để rà soát các mặt công tác, các đầu công việc chuẩn bị tổ chức lễ kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang (1832 - 2022). Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy An Giang Lê Hồng Quang, Trưởng ban Chỉ đạo; Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh An Giang Lê Văn Nưng; Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh An Giang Nguyễn Thanh Bình chủ trì cuộc họp.

BTCL-hop-chuanbi-1.JPG
Quang cảnh cuộc họp

Lễ kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang sẽ diễn ra lúc 19 giờ, ngày 22/11/2022, tại quảng trường Trưng Nữ Vương (phường Mỹ Long, TP Long Xuyên), với chủ đề “An Giang hành trình cùng đất nước”. Chương trình gồm: Phần lễ và chương trình nghệ thuật, bắn pháo hoa, nội dung tôn vinh giá trị truyền thống tốt đẹp “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam, ghi nhớ công ơn các bậc tiền nhân dày công mở cõi, tạo dựng vùng đất An Giang phù sa màu mỡ, giàu truyền thống anh hùng. Qua đó, cổ vũ tinh thần đoàn kết “ý Đảng lòng dân” trong quá trình xây dựng và phát triển quê hương An Giang.

BTCL-hop-chuanbi-2.JPG
Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy An Giang Lê Hồng Quang, Trưởng Ban Chỉ đạo Tổ chức các hoạt động kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang phát biểu chỉ đạo tại cuộc họp

Phát biểu chỉ đạo tại cuộc họp, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy An Giang Lê Hồng Quang, Trưởng ban Chỉ đạo Tổ chức các hoạt động kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang ghi nhận sự nỗ lực của Ban Chỉ đạo, Ban Tổ chức các hoạt động kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang trong thời gian qua. Đồng thời, đề nghị các tiểu ban khẩn trương hoàn thành các bước còn lại của công tác chuẩn bị lễ kỷ niệm  đảm bảo trang trọng, đúng quy định của Đảng và nhà nước, có ý nghĩa chính trị sâu sắc. Nội dung sự kiện phải thiết thực, nêu bật những thành tựu trong quá trình hình thành, phát triển tỉnh An Giang.

Đồng chí Lê Hồng Quang lưu ý, đối với công tác tuyên truyền phải thực hiện bằng nhiều hình thức, sinh động, thiết thực, đảm bảo đúng sự chỉ đạo, định hướng chính trị, tư tưởng của Tỉnh ủy và Ban Chỉ đạo Tổ chức các hoạt động kỷ niệm 190 thành lập tỉnh An Giang. Đặc biệt, phải có kế hoạch đảm bảo an ninh trật tự, đảm bảo an toàn trước, trong và sau khi diễn ra sự kiện, cũng như chuẩn bị chu đáo công tác y tế, lễ tân, hậu cần…thể hiện sự thân thiện, hiếu khách của tỉnh….

 MỸ LINH, TRUNG HIẾU

An Giang trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)An Giang 190 nămBài viếtTrúc QuỳnhAn Giang trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)/SiteAssets/Doi-tuc-dup-ag.jpg
02/11/2022 4:00 CHNoĐã ban hành

(TUAG)- Sau khi nhảy vào xâm lược miền Nam Việt Nam, dựng lên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm. Cả miền Nam nước ta, trong đó có tỉnh An Giang chìm trong khói lửa chiến tranh. Mặc dù bị quân thù đàn áp khốc liệt, phong trào cách mạng ở An Giang gặp nhiều khó khăn nhưng với truyền thống yêu nước, trung thành với Đảng, với dân tộc, quân và dân An Giang đã kiên cường vượt qua biết bao khó khăn, gian khổ, hy sinh, chiến đấu anh dũng lập nhiều chiến công oanh liệt, cùng quân dân cả nước làm thất bại hoàn toàn các chiến lược: "Chiến tranh đơn phương", "Chiến tranh đặc biệt", "Chiến tranh cục bộ" và chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" của đế quốc Mỹ. Đặc biệt, trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968, quân và dân An Giang đã cùng quân dân cả nước đánh đòn quyết định làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc Mỹ phải đơn phương xuống thang chiến tranh. Kết quả thắng lợi quân sự của quân và dân ta trên chiến trường buộc đế quốc Mỹ phải ký "Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam", khởi đầu cho một quá trình đi xuống về mặt chiến lược của Mỹ - ngụy. 

Nam-bo-danh-dq-My.jpg

Dân quân tải đạn, phục vụ chiến dịch trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Thực hiện sự chỉ đạo của Xứ ủy Nam Bộ, các cấp ủy Đảng tỉnh Long Châu Hà và Long Châu Sa tiến hành khẩn trương và bí mật sắp xếp tổ chức, phân công cán bộ. Năm 1954, Xứ ủy Nam Bộ lập lại 2 tỉnh Long Xuyên và Châu Đốc.

Trong lúc ta chấp hành nghiêm lệnh ngừng bắn, chuyển quân về các vị trí tập kết thì địch ngoan cố phá hoại Hiệp định, khủng bố nhân dân,…

Từ đầu năm 1955, phong trào đấu tranh đòi địch thi hành Hiệp định Genève, đòi dân sinh, dân chủ diễn ra liên tục rộng khắp tỉnh như cuộc biểu tình của đồng bào Khmer đòi "trả lại Việt Minh" tại tỉnh lỵ Châu Đốc (đầu năm 1955); các cuộc đấu tranh đòi đổi bạc "xé hai" (tháng 7/1955), chống địch bắt lính, cướp đất làm căn cứ quân sự (năm 1957)… Nổi nhất là hai cuộc biểu tình của hàng ngàn đồng bào kéo đến trụ sở Ủy hội quốc tế ở Tân Châu ngày 20/7/1955 và 02/9/1955, đưa kiến nghị tạo tiếng vang cả nước.

Để tập trung quản lý, cuối năm 1956 địch nhập Long Xuyên, Châu Đốc thành tỉnh An Giang. Giữa năm 1957, ta cũng lập tỉnh An Giang. Căn cứ Tỉnh ủy, Huyện ủy đều ở trong vùng địch tạm chiếm trước đây, cán bộ lãnh đạo được nhân dân nuôi chứa, bảo vệ an toàn.

Trước tình hình địch liên tiếp mở các cuộc bố ráp, đánh điểm làm cho phong trào cách mạng gặp nhiều khó khăn, tổn thất... và đường lối đấu tranh chính trị đơn thuần không còn phù hợp. Tư tưởng bạo lực vũ trang nổi dậy mạnh mẽ. Đúng lúc đó, Trung ương ra Nghị quyết 15 (tháng 01/1959) hợp thức hóa việc vũ trang tự vệ. Cách mạng An Giang cùng cả miền Nam chuyển sang giai đoạn mới.

Ngày 09/9/1960, Hội nghị Tỉnh ủy mở rộng tổ chức tại Gò Ổi Sáu Bền (Núi Tô - Tri Tôn) bàn kế hoạch thực hiện đợt Đồng khởi toàn Miền theo chỉ đạo của Xứ ủy. Vùng Bảy Núi là trọng điểm, Tân Châu và An Phú là điểm phụ, các nơi khác là diện căng kéo địch. Phương thức khởi nghĩa là dùng áp lực quân sự kết hợp nội tuyến, binh vận gỡ đồn bót hoặc hỗ trợ quần chúng, gia đình binh sĩ bao vây, gọi hàng. Thời điểm khởi nghĩa của tỉnh là ngày kỷ niệm Nam Bộ kháng chiến 23/9/1960.

Đêm 23/9/1960, quân dân An Giang chính thức tiến hành Đồng khởi và cho đến đầu tháng 10/1960 đã giành được quyền làm chủ nhiều vùng nông thôn rộng lớn ở Bảy Núi, Châu Thành, Châu Phú, Núi Sập, Tân Châu, An Phú.

Cuối năm 1960, Ủy ban Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tỉnh An Giang được thành lập tại núi Tô và ra mắt đồng bào vào tháng 02/1961.

Hưởng ứng lời kêu gọi của Mặt trận, đêm 18/3/1961 đồng bào xã Hội An (Chợ Mới) nổi dậy giải phóng gần hết xã. Cuộc nổi dậy giành quyền làm chủ từng phần của nhân dân Hội An là sự kiện kết thúc phong trào Đồng khởi ở An Giang kể từ tháng 9/1960 đến tháng 3/1961 trên cả hai vùng "chiến lược" của tỉnh là vùng biên giới, đồi núi và vùng đồng bằng nông thôn, tôn giáo. Các vùng "giải phóng", "tranh chấp", "quốc gia" đan xen nhau, tạo thế cho hình thái "chiến tranh nhân dân" hình thành và phát triển trên phạm vi toàn tỉnh. Các lực lượng vũ trang An Giang cùng quân giải phóng miền Nam bước vào giai đoạn đấu tranh chống các chiến lược "chiến tranh đặc biệt", "chiến tranh cục bộ" Mỹ - ngụy.

Để thực hiện chiến lược chiến tranh mới, ngụy quyền ở An Giang tập trung nhiều tiền của, công sức với quyết tâm chỉ trong năm 1962 sẽ lùa hết dân nông thôn vào các ấp chiến lược. Ở các ấp chiến lược kiểu mẫu, còn gọi là ấp trù mật, địch chú trọng phần xây dựng hình thức như trạm xá, trường học, mở rộng nông tín cuộc cho vay vốn, đưa giống mới, máy móc phục vụ nông nghiệp… tạo cảnh phồn vinh giả tạo để lôi kéo quần chúng.

Giữa năm 1962, Đảng bộ An Giang có chủ trương cụ thể về phát triển chiến tranh du kích; tăng cường mũi vũ trang, binh vận tập trung phá ấp chiến lược. Đồng thời, mở rộng hoạt động đánh vào các trung tâm, tiêu diệt sinh lực địch để chúng bị động đối phó, giảm tập trung vào ấp chiến lược.

Bộ đội tỉnh cùng lực lượng vũ trang huyện và xã lập nhiều chiến công như: hỗ trợ nhân dân phá tan hàng trăm ấp chiến lược (1962 - 1964); đánh chìm tàu địch ở thị xã Long Xuyên (ngày 06/12/1962), tập kích thị xã Châu Đốc (ngày 21/7/1963 và ngày 12/10/1967), diệt viện ở Lê Trì, Tri Tôn (ngày 18/9/1964), đánh tiêu diệt Chi khu Kiên Lương, Hà Tiên (ngày 06/10/1964), đánh trả những trận bom pháo ác liệt của địch tấn công vào căn cứ Ô Tà Sóc (tháng 9/1969), đánh tan 1 tiểu đoàn chủ lực ngụy ở Hội An, Chợ Mới (ngày 12/12/1964) diệt 3 cố vấn Mỹ,… Lực lượng vũ trang và nhân dân bám trụ giữ vững căn cứ Bảy Núi trước hàng chục cuộc hành quân cấp sư đoàn và bom pháo ác liệt của địch trong cuộc "chiến tranh cục bộ".


Di tích lịch sử cách mạng Ô Tà Sóc[1]

Trên lĩnh vực đấu tranh chính trị, phong trào chống, phá ấp chiến lược ở An Giang quyết liệt hơn khi địch thay đổi chủ trương gom dân từ diện rộng sang có trọng điểm.

Từ giữa năm 1962, phong trào đấu tranh chính trị đã diễn ra với nhiều hình thức, từ những hình thức đấu tranh đơn lẻ cho đến những cuộc biểu tình hàng trăm người đòi dân sinh, dân chủ... Tiêu biểu nhất là các cuộc đấu tranh liên tục của đồng bào Bảy Núi khiêng người chết, người bị thương kéo ra quận lỵ buộc địch chấm dứt càn quét, bắn phá, bồi thường nhân mạng. Ngày 25/8/1964, hơn 2.000 đồng bào kéo đến trại Đống Đa tỉnh lỵ Long Xuyên giành lại được 100 thanh niên bị bắt lính. Từ ngày 17 đến 21/7/1965 đám tang anh Bảo bị cảnh sát Tân Châu đánh chết trở thành cuộc đấu tranh của 3.000 đồng bào khiến ngụy quyền hoang mang, bối rối… Nhiều tổ chức, phong trào công khai phát triển ở đô thị như: Hội bảo vệ quyền lợi và nhân phẩm phụ nữ (tháng 12/1965), Hội Ái hữu cựu học sinh Thoại Ngọc Hầu, Học sinh Thoại Ngọc Hầu (Long Xuyên) treo biểu ngữ kỷ niệm Trần Văn Ơn, bãi khóa chống hiệu trưởng tay sai CIA (tháng 01/1966), chống bắt lính ở trường Thủ Khoa Nghĩa (Châu Đốc), Huỳnh Văn Nhất (Long Xuyên).

Lực lượng binh vận, nội tuyến phục vụ đắc lực cho đấu tranh chính trị, vũ trang. Hội gia đình binh sĩ yêu nước Châu Thành - Huệ Đức nhiều lần dẫn đầu đoàn đấu tranh đòi bồi thường nhân mạng ở Vĩnh Hanh, Vọng Thê; binh lính nhiều đồn bót Bảy Núi đi theo đoàn biểu tình đòi bồi thường nhân mạng, lên án bom pháo Mỹ giết dân Việt Nam; ngày 03/5/1962, nội tuyến đồn Cản Dừa phối hợp lực lượng bên ngoài phá hủy đồn, thu 24 súng; ngày 08/6/1962, quân giải phóng diệt gọn trung đội dân vệ biệt kích tại kinh Bốn Tổng do nội tuyến cung cấp tình hình địch; ngày 06/7/1966, nội tuyến trong C.52 lãnh đạo anh em tân binh khởi nghĩa ở trung tâm huấn luyện Chi Lăng, rút ra 175 người và 40 súng; ngày 19/6/1968, Trung úy Quang khởi nghĩa tiêu diệt căn cứ biệt kích Phổ Đà (Ba Chúc)…

Năm 1968, hưởng ứng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân, quân và dân An Giang đã tích cực chuẩn bị lực lượng. Thị xã Châu Đốc được chọn là mục tiêu chính, Châu Thành - Long Xuyên là mục tiêu phụ, thị trấn Tri Tôn, Tân Châu là diện căng kéo địch.

Chiều 30 Tết, lễ xuất quân được tổ chức trọng thể tại núi Dài lớn. Tối mùng 1 Tết, toàn bộ lực lượng hơn 2.000 người vượt kinh Trà Sư, hành quân thần tốc vòng qua núi Sam đến điểm tập kết "chòm gáo cò kêu" cách thị xã Châu Đốc khoảng 2 km.

Hai giờ sáng ngày 31/01/1968 (mùng 2 Tết), quân giải phóng nổ súng tấn công vào thị xã Châu Đốc. Đến sáng cùng ngày, địch chỉ còn giữ được dinh Tỉnh trưởng, thành PC và nhà Phủ Vị (nơi đóng quân của Đại đội bảo an 686) chờ viện binh tiếp cứu.

Ngày mùng 2 Tết, quân giải phóng tiếp tục củng cố các vị trí chiếm được trong đêm, đánh tan 3 đợt phản kích của địch ở khu vực Ty cảnh sát.

Trên mặt trận Châu Thành - Long Xuyên, đêm 30/01/1968, lực lượng ta pháo kích tấn công đồn Trà Kiết (Vĩnh Hanh), phát loa gọi hàng, đồng thời huy động trên 10 gia đình binh sĩ kêu gọi chồng, con, em họ trong đồn đầu hàng. Nhưng bọn chỉ huy ác ôn khống chế, ra lệnh binh sĩ trong đồn bắn trả lại ta. Gần sáng, lực lượng ta rút về cánh đồng Năm Xã. Cùng đêm, các bộ phận khác vũ trang tuyên truyền, giáo dục quần chúng ở các xã trong huyện Châu Thành và thị xã Long Xuyên.

 Ở Tri Tôn, ta đánh chiếm quận lỵ chỉ còn dinh quận và chi khu quân sự, cắt đứt lộ tẻ ở cầu kinh 13.

Tổng kết mặt trận Châu Đốc và Tri Tôn, quân giải phóng đã phá hủy, đánh chiếm 21 địa điểm, căn cứ địch, loại hàng trăm tên, thu nhiều vũ khí và đồ dùng quân sự, xóa sổ cả Đại đội 810 bảo an Châu Đốc. Theo báo cáo của địch: 70 người chết, 116 bị thương, mất 99 súng, cháy 10 xe.

Ngày 05/5/1968, quân dân An Giang mở đợt II cuộc tổng tiến công và nổi dậy với mục tiêu chính là vùng ven Châu Đốc. Vài ngày sau, ta phải rút quân.

Cuộc tổng tấn công và nổi dậy của quân dân An Giang đã giáng một đòn bất ngờ vào quân ngụy An Giang, Châu Đốc với phạm vi của chiến dịch trải rộng trên 1 thị xã, 5 thị trấn, 50 xã, khiến địch phải bị động đối phó. Châu Đốc trở thành một trong hai nơi bị thiệt hại nặng nhất ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đợt I đánh vào Châu Đốc ta đã giành được thắng lợi lớn mà thương vong rất thấp. Nhưng khi tiến hành đợt II không còn yếu tố bất ngờ, mục tiêu không quan trọng mà thương vong rất lớn. Đó cũng là một bài học quý báu của Đảng bộ về chỉ đạo chiến lược.

Thất bại trong chiến lược "chiến tranh cục bộ", Mỹ - ngụy quyết tâm bình định để chiếm đoạt, khai thác sức người, sức của phục vụ cho chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh". Địch ra sức tiến hành âm mưu bình định cấp tốc, bình định đặc biệt trong năm l968, 1969 nhằm chiếm lại những vùng đã mất.

Ngày 17/11/1968, địch mở cuộc hành quân tổng lực, huy động khoảng 18.000 quân các loại thay phiên nhau đánh vào núi Tô, Tức Dụp.

Doi-tuc-dup-ag.jpg

Di tích lịch sử cách mạng đồi Tức Dụp[2]

Ngày 26/3/1969, địch loan tin chiến thắng và tất nhiên chúng phải lờ đi con số hàng ngàn sinh linh địch bị tiêu hao, tiêu diệt với nhiều triệu đô la chiến phí. Quân dân Tri Tôn đã giam chân lực lượng địch đông gấp 50 - 70 lần bằng tinh thần chiến đấu kiên cường trong suốt 128 ngày đêm, làm nên 8 chữ vàng "Kiên cường bám trụ giữ vững núi Tô".

 Chiến trường Tức Dụp gây thối động lớn trong hàng ngũ địch, là nơi vang dậy chiến công tiêu biểu của An Giang cũng như trên toàn miền Tây lúc bấy giờ. Quân dân Tri Tôn góp phần tạo nên tám chữ vàng "Kiên cường bất khuất giữ vững Thất Sơn" cho các lực lượng đứng chân ở vùng Bảy Núi.

Song song với chiến trường Bảy Núi, chiến trường vùng địch hậu cũng đầy sôi động. Từ sau cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968, nơi đây đã diễn ra cuộc đấu tranh quyết liệt giữa ta và địch.

Phong trào chống bình định gom dân, đuổi nhà, bắn giết đồng bào ngày càng sôi nổi và quyết liệt hơn với khẩu hiệu "một tấc không đi, một ly không rời" với nhiều hình thức phong phú.

Năm 1971, Trung ương Cục quyết định lập tỉnh mới là Châu Hà và tỉnh An Giang.

Phong trào đô thị phát triển mạnh mẽ, nhất là phong trào sinh viên học sinh ở thị xã, thị trấn liên tục đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ, chống bắt lính, chống thảm sát… buộc địch luôn bị động đối phó ngay trung tâm đầu não của chúng.

Phong trào sinh viên, học sinh đã thể hiện vai trò xung kích trong đấu tranh, làm nòng cốt nâng khẩu hiệu, hình thức đấu tranh chung với quy mô lớn và sáng tạo, đồng thời chủ động tổ chức các hình thức đấu tranh riêng quyết liệt của giới mình (đêm không ngủ, hội lửa trại...). Cuộc đấu tranh đã tôi luyện và biểu hiện sự trưởng thành của cán bộ chỉ đạo trực tiếp cơ sở và lực lượng nòng cốt công khai: chủ động tổ chức đội ngũ tham gia, chủ động chi phối từ tổ chức điều khiển đến khẩu hiệu và hình thức đấu tranh, xoay hướng cuộc đấu tranh từ mục đích cục bộ sang liên kết rộng rãi để đạt đến những thắng lợi cao hơn, triệt để hơn.

Tháng 3/1972, hưởng ứng cuộc tiến công chiến lược Xuân Hè 1972 toàn Miền, quân dân hai tỉnh đã phá vỡ tuyến phòng thủ biên giới của địch, làm tuyến bên trong suy yếu, lỏng lẻo không đủ sức giữ đất, đóng đồn, đã tạo điều kiện cho lực lượng cán bộ bất hợp pháp, bán hợp pháp bám dân, khôi phục lại cơ sở vùng yếu, phát triển thêm đội ngũ nòng cốt công khai. Phong trào sinh viên, học sinh tiếp tục sôi nổi cổ vũ phong trào chống bình định ở nông thôn, lôi cuốn quần chúng tín đồ, chức sắc tôn giáo, binh tề ngụy ở cơ sở đồng tình ủng hộ hoặc tham gia cuộc đấu tranh phá kiềm, bao vây đồn bót, phá rã nhiều toán phòng vệ dân sự; chống đôn quân, giành lại hàng ngàn thanh niên bị bắt lính, đòi các quyền dân sinh dân chủ.

Giữa năm 1974, diễn biến chiến trường xuất hiện nhiều khả năng mới. Trung ương Đảng nhận định: "thế ta mạnh hơn hẳn địch". Bộ Chính trị chủ trương động viên sự nỗ lực cao nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân cả 2 miền trong thời gian 1974 - 1975 bằng mọi hình thức hoạt động giải phóng miền Nam.

Thực hiện Nghị quyết 21 của Trung ương Đảng về việc đẩy mạnh công tác giành dân, giành quyền làm chủ ở phía trước, đặc biệt, trong những vùng có đồng bào theo đạo Hòa Hảo, Hội nghị đại diện Trung ương Cục với đại biểu các tỉnh Châu Hà, Vĩnh Long, An Giang, Kiến Phong họp từ ngày 25 đến 27/5/1974 bàn về việc điều chỉnh địa dư và thành lập tỉnh Long Châu Tiền và tỉnh Long Châu Hà.

Thực hiện đợt tiến công chiến lược mùa khô 1974 - 1975, quân dân hai tỉnh đã giải phóng nhiều vùng rộng lớn, diệt và làm tan rã trên 10.000 tên địch các loại, làm tư tưởng phản chiến của ngụy quân lên cao, ngụy quyền cơ sở rệu rã…

Tây Nguyên được giải phóng, cùng cả miền Nam, An Giang mở đợt Tổng công kích - Tổng khởi nghĩa. Hưởng ứng chiến dịch Hồ Chí Minh, hai tỉnh giải phóng nhiều vùng nông thôn trong ngày 30/4/1975, đưa lực lượng về thị trấn, thị xã. Trong ngày 01/5/1975 ta giải phóng Tri Tôn, Châu Đốc, Tân Châu, An Phú, thị xã Long Xuyên, Châu Thành, Tịnh Biên, Huệ Đức (Thoại Sơn). Ngày 02/5/1975, ta giải phóng khu vực chợ Cái Dầu, Châu Phú, tiếp quản Trung tâm huấn luyện Chi Lăng. Ngày 03/5/1975, giải phóng trung tâm Phú Tân và ngày 06/5/1975 cứ điểm cuối cùng của địch ở Tây An cổ tự Chợ Mới buông súng đầu hàng cách mạng.

Ở vào một tình thế đặc biệt đầy khó khăn, phức tạp trong những ngày cuối tháng 4 đầu tháng 5/1975, nhưng Đảng bộ, quân và dân tỉnh Long Châu Hà và Long Châu Tiền vẫn nỗ lực vượt qua để hoàn thành nhiệm vụ lịch sử vẻ vang của mình góp phần vào thắng lợi chung của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc…

Suốt 21 năm kháng chiến chống Mỹ, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, nhân dân An Giang quyết tâm giữ đất, giữ làng kiên cường đánh bại các âm mưu, thủ đoạn thâm độc của kẻ thù để cùng cả nước đi đến ngày toàn thắng. Thắng lợi của cuộc kháng chiến trường kỳ trên một địa bàn biên giới, dân tộc, tôn giáo rất phức tạp đã mang lại nhiều kinh nghiệm quý báu mà qua đó, thể hiện đầy đủ và sinh động sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng bộ cũng như tinh thần yêu nước cao độ của các tầng lớp nhân dân An Giang.

T.Q

____________

[1] Ô Tà Sóc (theo dân tộc Khmer có nghĩa là suối Ông Sóc) là tên con suối nước ngọt bắt nguồn từ đỉnh ngọn núi Dài (Ngọa Long Sơn cao 554 m), mang dòng nước chảy ngoằn ngèo theo triền núi, tạo thành nhiều rãnh nước nhỏ chảy qua các hốc đá xuống tận chân núi, tưới mát cây trái ruộng vườn. Ô Tà Sóc có vị trí địa thế chiến lược đặc biệt quan trọng, nằm ở điểm cao chạy dọc trên sườn núi Dài, xung quanh là rừng cây um tùm che chắn, nhiều hang động, dốc đá, cheo leo gập ghềnh nguy hiểm. Địa hình tự nhiên hiểm trở nhưng rất thuận lợi để xây dựng căn cứ đảm bảo cho các tổ chức cách mạng dừng chân chiến đấu, chống đế quốc Mỹ và tay sai. Nơi đây từng là căn cứ của Tỉnh ủy, gồm có các cơ quan - đơn vị như: Văn phòng Tỉnh ủy, chốt tiền tiêu bảo vệ, đội Hỏa tốc, hang An ninh, Tuyên huấn, Quân y, Hậu Cần, Công binh xưởng, hang Tỉnh Đội, Huyện ủy… Sau năm 1967, Tỉnh ủy dời căn cứ khỏi Ô Tà Sóc. Ô Tà Sóc là điểm dừng chân, hợp đồng tác chiến của trung đoàn chủ lực Trung ương từ miền Đông chi viện vào các tỉnh miền Tây.

[2] Tức Dụp - tên một ngọn đồi của núi Tô nằm trong vùng Thất Sơn thuộc xã An Tức, huyện Tri Tôn. Người dân tộc Khmer gọi là Tức Chúp, nghĩa là đồi có nước chảy triền miên (nước thần). Tức Dụp có độ cao khoảng 300 m, chu vi chân đồi khoảng 2000 m, nhiều hang sâu, động lớn (dân địa phương gọi là Lò Ảng) ăn thông với nhau rất chằng chịt, tạo nên một địa thế rất hiểm trở, thuận lợi cho việc xây dựng căn cứ quân sự. Vì thế, qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, đồi Tức Dụp là căn cứ địa cách mạng vững chắc của huyện Tri Tôn, An Giang.

 

An Giang trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1930 - 1954)An Giang 190 nămBài viếtTrúc QuỳnhAn Giang trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1930 - 1954)/SiteAssets/Nam-bo-danh-td-phap.jpg
28/10/2022 4:00 CHNoĐã ban hành

(TUAG)- Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929 - 1933) làm Pháp điêu đứng. Chúng trút gánh nặng đó lên đầu các nước thuộc địa, nhân dân Việt Nam đã đói khổ nay càng đói khổ hơn.

 Nam-bo-danh-td-phap.jpg

Chặn đánh quân địch, ảnh tư liệu.

Từ năm 1930, trên địa bàn tỉnh đã nổ ra nhiều cuộc đấu tranh, tiêu biểu cuộc đấu tranh ngày 09/5/1930 và sáng ngày 28/5/1930. Tháng 9/1930, phong trào cách mạng cả nước lên cao với sự ra đời của các Xô Viết Nghệ Tĩnh. Địch tiến hành khủng bố trắng. Đến cuối năm 1931, phong trào cách mạng ở Long Xuyên, Châu Đốc tuy bị thiệt hại, nhưng nhìn chung các cơ sở Đảng vẫn được duy trì.

Cuộc đấu tranh trong những năm 1930 - 1931 là trận thử thách đầu tiên của lực lượng cách mạng với thực dân Pháp. Nó chứng tỏ sức sống mãnh liệt của mình trong khi Đảng bộ còn rất non trẻ về kinh nghiệm đấu tranh. Đây cũng là lần đầu tiên những người lao khổ ở Long Xuyên, Châu Đốc biểu dương sức mạnh và nhìn thấy sức mạnh của chính mình.

Phong trào cách mạng 1930 - 1931 đã giáng cho thực dân Pháp và tay sai những đòn choáng váng, buộc chúng phải tìm mọi cách đối phó để dập tắt những lò lửa đấu tranh đang rực cháy khắp nơi. Ở Long Xuyên, Chợ Mới là trọng điểm đánh phá của địch vì đó là ngọn cờ đầu của phong trào đấu tranh trong vùng.

Từ năm 1932 đến cuối năm 1933, dù trong hoàn cảnh khó khăn nhưng nhiều chi bộ đã tổ chức được các cuộc mít - tinh, diễn thuyết, treo cờ, rải truyền đơn... để kỷ niệm các ngày lễ trong năm. Cùng với phong trào đấu tranh bên ngoài, cuộc đấu tranh của tù chính trị ở Châu Đốc cũng diễn ra quyết liệt.

Trong giai đoạn 1932 - 1935, Đảng bộ Long Xuyên, Châu Đốc đã đấu tranh duy trì được tổ chức và phong trào quần chúng. Từ Chợ Mới, nơi địch tập trung đánh phá tổ chức Đảng đã lan rộng ra nhiều nơi và ăn sâu bám rễ trong sự bảo vệ của quần chúng. Thắng lợi đó đã tạo cơ sở tư tưởng và tổ chức một cách vững chắc cho phong trào cách mạng 1936 - 1939 ở Long Xuyên, Châu Đốc; làm nòng cốt cho sự nghiệp cách mạng cả miền Tây Nam Kỳ trong thời điểm khó khăn, ác liệt.

Phong trào đấu tranh của nhân dân An Giang đã gây tiếng vang rộng lớn trong và ngoài nước. Ngày 03/7/1937, nhiều cán bộ Đảng và hàng ngàn đồng bào đã công khai tiếp đón Honel - đảng viên Đảng Cộng sản Pháp, nghị sĩ Quốc hội trong phái đoàn điều tra tình hình Đông Dương đến Chợ Mới thu thập dân nguyện và biểu dương phong trào. Honel được nghe và hứa sẽ báo cho chính phủ Pháp tất cả những gì được biết. Tuy nhiên, tháng 4/1938, bọn cực hữu lên cầm quyền ở Pháp, hủy bỏ các chính sách của Chính phủ Bình dân, ban hành ngay những đạo luật hà khắc. Cách mạng nước ta gặp khó khăn, nhưng phong trào đấu tranh vẫn tiếp tục được duy trì.

Trong giai đoạn 1936 - 1939, Đảng bộ Long Xuyên, Châu Đốc đã kịp thời phát động quần chúng nổi dậy đấu tranh, cùng cả nước dấy lên phong trào cách mạng vang dội vào những năm 1936 - 1939. Tuy các Ủy ban hành động tồn tại không lâu (chỉ có từ tháng 8/1936 đến đầu năm 1937 cơ bản bị địch giải tán) nhưng nó đã thể hiện vai trò lịch sử rất quan trọng. Tại các trụ sở hợp pháp đó, tiếng nói của Đảng được phát đi và cũng chính những nơi ấy quần chúng ngày càng nhận thức sâu sắc hơn về đấu tranh và đoàn kết để chống lại những âm mưu, thủ đoạn lừa mị, mua chuộc, đàn áp của kẻ thù.

Phong trào đấu tranh dân chủ 1936 - 1939 ở Long Xuyên, Châu Đốc đã tạo nên một đội ngũ cán bộ lãnh đạo kiên cường, có bản lĩnh, được quần chúng tin yêu, hết lòng ủng hộ. Mặc dù phong trào đấu tranh công khai bị đàn áp, nhưng thế và lực mới của Đảng được củng cố, phát triển nhiều hơn trước, tiếp tục đưa cách mạng tiến vào giai đoạn mới cao hơn.

Năm 1939, thực dân Pháp tham gia chiến tranh thế giới thứ hai. Chúng thực hiện một chính sách hết sức tàn bạo đối với nhân dân ta về các mặt hòng vơ vét sức người, sức của để cung cấp cho chiến tranh, đồng thời cố bóp chết cách mạng Việt Nam.

Tháng 11/1939, Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp và quyết định chuyển hướng chỉ đạo chiến lược. Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6, căn cứ tình hình thực tế ở Nam kỳ, tháng 3/1940, Xứ ủy Nam kỳ thông báo đến các địa phương chủ trương chuẩn bị khởi nghĩa.

Đêm 22 rạng 23/11/1940, Sài Gòn và các nơi khởi nghĩa. Liên Tỉnh ủy Long Xuyên nhận lệnh khởi nghĩa trễ 7 ngày[1], liền cấp tốc triệu tập cuộc họp vào ngày 28 - 29/11/1940. Cuộc họp thống nhất tiến hành khởi nghĩa toàn tỉnh vào lúc 0 giờ ngày 02/12/1940. Trọng điểm tấn công chính của Long Xuyên là Chợ Mới, của Châu Đốc là Tân Châu.

Cuộc khởi nghĩa nổ ra đã biểu dương ý chí thống nhất, kiên cường của người cộng sản. Những người cộng sản và quần chúng yêu nước ở Long Xuyên, Châu Đốc đã góp máu của mình cùng 19 tỉnh Nam kỳ viết lên những trang sử vẻ vang của dân tộc. Cuộc khởi nghĩa còn giúp cho Đảng bộ Long Xuyên, Châu Đốc những kinh nghiệm quý báu về vấn đề thời cơ, lực lượng… để tổ chức khởi nghĩa và lãnh đạo nhân dân giành chính quyền sau này.

Sau khởi nghĩa Nam Kỳ năm 1940, phần lớn các cơ sở ở Long Xuyên, Châu Đốc bị lộ, các tổ chức Đảng đều bị mất liên lạc.

Thực hiện chỉ đạo của Xứ ủy, ngày 13/02/1941, các đồng chí còn lại trong Liên Tỉnh ủy Long Xuyên và Liên Tỉnh ủy Cần Thơ họp, thành lập Liên Tỉnh ủy Hậu Giang. Chủ trương của Liên Tỉnh ủy chuyển trọng tâm hoạt động về nông thôn, củng cố xây dựng lại cơ sở Đảng.

Những tháng đầu năm 1943, ở Chợ Mới, Tân Châu, Hồng Ngự, Tịnh Biên đã tổ chức thanh niên thành từng tổ tham gia các đội banh, đội văn nghệ, nhóm học nghề võ công khai… Cuối năm 1943, các đoàn thể Cứu quốc ra đời ở nhiều nơi. Có nơi tổ chức được Phật giáo cứu quốc, Công giáo cứu quốc.

Cuối năm 1944, nhiều xã đã có chi bộ. Ban cán sự Đảng Long Xuyên, Châu Đốc và tổ chức quần chúng đã được khôi phục, phong trào được củng cố và phát triển, đang chuẩn bị bước vào giai đoạn cách mạng mới.

Ngày 15/8/1945, phát xít Nhật đầu hàng Liên Xô và đồng minh vô điều kiện. Bộ máy chính quyền, quân đội của địch ở tỉnh lỵ Long Xuyên hoang mang, rệu rã.

Ở Long Xuyên, bọn Nhật về tập trung ở nhà thờ Cù lao Giêng (Chợ Mới). Ở Châu Đốc chúng tập trung vào thành PC[2], bộ máy chính quyền tay sai hầu như ngừng hoạt động.

Ngày 25/8/1945, nhân dân Long Xuyên đã tổng khởi nghĩa giành chính quyền toàn tỉnh. Sáng ngày 26/8/1945, đồng chí Nguyễn Văn Thôi đại diện Đảng bộ Đảng Cộng sản Đông Dương tỉnh Châu Đốc trân trọng tuyên bố trước đồng bào: "Cách mạng đã thành công, chính quyền cũ được xóa bỏ, kể từ đây chính quyền thuộc về tay nhân dân".

Ngày 28/8/1945, ta giành chính quyền ở Tịnh Biên. Ngay sau đó, một bộ phận từ Tịnh Biên kéo về Tri Tôn tiếp quản chính quyền.

Trong vòng 7 ngày (từ ngày 22 - 28/8/1945), nhân dân Long Xuyên, Châu Đốc dưới sự lãnh đạo của Đảng đã đạp đổ ách thống trị của thực dân Pháp, phát xít Nhật và hàng ngàn năm phong kiến để đứng lên làm chủ cuộc đời, làm chủ quê hương, góp phần mở ra trang sử mới cho dân tộc.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám ở Long Xuyên, Châu Đốc là sự tiếp nối và phát huy truyền thống yêu nước của tổ tiên trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước. Đó là thắng lợi qua 15 năm đấu tranh kiên cường bất khuất của quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng đã được tôi luyện và thử thách của các thời kỳ 1930 - 1931, 1936 - 1939 và khởi nghĩa năm 1940. Đó cũng là thắng lợi của ý chí, sự bền bỉ trung kiên, sự hy sinh vô bờ bến của những người cộng sản và quần chúng yêu nước đã đối mặt với bao hiểm nguy nhưng với sức mạnh của niềm tin tất thắng, đã vượt qua tất cả.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đã giúp cho Đảng bộ và nhân dân Long Xuyên, Châu Đốc càng khẳng định thêm niềm tin: tin ở sức mạnh chân lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, tin ở sự lãnh đạo của Đảng và tin ở chính bản thân mình. Từ những cuộc đấu tranh chính trị đến đấu tranh vũ trang với giáo mác, tầm vông, súng kíp với đội dân quân chân đất đầu trần đã chiến thắng mọi kẻ thù giành độc lập tự do. Đó là thành quả to lớn nhất, có ý nghĩa sâu sắc nhất, đã góp phần cùng cả nước làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám vẻ vang, đưa dân tộc Việt Nam tiến vào kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 giành thắng lợi, Đảng bộ Long Xuyên, Châu Đốc đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình, để lại cho thế hệ kế tiếp những kinh nghiệm quý trong quá trình 15 năm lãnh đạo sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc trên vùng đất An Giang.

Trước hết, trên nền tảng của chủ nghĩa yêu nước, những người cộng sản Long Xuyên, Châu Đốc đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin trong công tác xây dựng Đảng trên vùng đất nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu rất xa các trung tâm công nghiệp. Về tổ chức, Đảng bộ đã xác định đúng đắn vai trò quan trọng của tầng lớp thợ thủ công, xem đó là lực lượng cách mạng tiên tiến nhất của Long Xuyên, Châu Đốc lúc bấy giờ.

Thứ hai, chấp hành đường lối chiến lược của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng bộ Long Xuyên, Châu Đốc đã chủ động đề ra những biện pháp, chủ trương linh hoạt phù hợp với tình hình, với yêu cầu cách mạng và nguyện vọng của nhân dân lao động.

Sau Cách mạng Tháng Tám, chính quyền cách mạng ở Long Xuyên, Châu Đốc được thành lập từ tỉnh đến xã. Chính quyền các cấp được thống nhất dưới tên gọi Ủy ban nhân dân. Thành phần bao gồm đại diện các nhân sĩ, trí thức, tôn giáo, công chức kể cả những người đã làm việc cho chế độ cũ ở làng, xã... trong đó, đảng viên đóng vai trò nòng cốt[3].

Lực lượng vũ trang các cấp được quan tâm xây dựng phát triển. Ngày 26/8/1945, tại thành PC, lực lượng Cộng hòa vệ binh tỉnh Châu Đốc được thành lập. Tháng 9/1945, Đại đội Cộng hòa vệ binh tỉnh Long Xuyên được thành lập.

Ngày 06/01/1946, lần đầu tiên người dân Long Xuyên, Châu Đốc được trực tiếp bầu cử Quốc hội khóa I. Hơn 95% cử tri đã tham gia bầu cử. Nhân dân Long Xuyên, Châu Đốc đã chọn được 7 đại biểu của mình tại Quốc hội khóa I[4].

Ngày 09/01/1946, quân Pháp chính thức đánh chiếm tỉnh lỵ Long Xuyên; ngày 20/01/1946, chiếm tỉnh lỵ Châu Đốc; ngày 03/02/1946, chiếm quận lỵ Chợ Mới, hoàn thành việc tái chiếm toàn bộ hai tỉnh Long Xuyên, Châu Đốc.

 

Nồi bánh tét Quân - Dân

Thực hiện Chỉ thị số 50 ngày 11/9/1947 của Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ, ngày 06/3/1948 chia hai tỉnh Long Xuyên, Châu Đốc thành hai tỉnh Long Châu Tiền (thuộc Chiến khu 8) và Long Châu Hậu (thuộc Chiến khu 9). Cuối năm 1950, Long Châu Hậu nhập với tỉnh Hà Tiên thành tỉnh Long Châu Hà. Giữa năm 1951, Long Châu Tiền nhập với tỉnh Sa Đéc thành tỉnh Long Châu Sa.

Năm 1950, Khu 9 chọn chiến trường Long Châu Hậu làm nơi mở chiến dịch được mang tên Long Châu Hậu[5]. Năm 1951, ta tiếp tục mở chiến dịch Long Châu Hà II[6]. Cùng với Khu 9, ngày 16/3/1951, Khu 8 mở chiến dịch "Phá ngụy" ở Phú Châu thuộc Long Châu Tiền.

Trong những năm 1952 - 1953 ta tiếp tục đẩy mạnh công tác địch ngụy vận, Hòa Hảo vận, Khmer vận; đánh phá giao thông, mở rộng căn cứ kháng chiến; củng cố tình đoàn kết chiến đấu hai dân tộc Việt - Miên vùng ven biên giới…

Hưởng ứng chiến dịch Đông Xuân 1953 - 1954 và Điện Biên Phủ, quân dân hai tỉnh bao vây bức rút nhiều đồn bót địch ở Bảy Núi, Châu Thành, Lai Vung, Hồng Ngự, Phú Châu… góp phần buộc địch ký kết Hiệp định Genève.

Thực hiện Hiệp định, từ ngày 20/8/1954, Đảng bộ lãnh đạo tốt việc chuyển quân về vị trí tập kết 100 ngày ở Cao Lãnh, 200 ngày ở Cà Mau; tổ chức học tập, sắp xếp tổ chức, bố trí lực lượng ở lại chuẩn bị cho cuộc đấu tranh mới.

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược đã kết thúc thắng lợi là thử thách khốc liệt đối với cả nước cũng như đối với Đảng bộ và nhân dân Long Xuyên, Châu Đốc. Trong cuộc kháng chiến thần thánh này, Đảng bộ và quân dân trong tỉnh đã đạt được nhiều thành tích vẻ vang.

Từ thực tiễn lãnh đạo kháng chiến, Đảng bộ đã rút được những kinh nghiệm quý báu, thiết thực:

(1) Xây dựng Đảng bộ thật sự trong sạch, vững mạnh; đoàn kết nhất trí trong Đảng bộ mới làm tốt được vai trò lãnh đạo phong trào cách mạng sâu rộng, toàn diện.

(2) Phát huy truyền thống yêu nước, tập hợp, đoàn kết các tầng lớp nhân dân, dân tộc, tôn giáo vào Mặt trận, tạo sức mạnh tổng hợp.

(3) Vừa kháng chiến, vừa xây dựng thực lực kháng chiến.

(4) Ổn định biên giới, đoàn kết chiến đấu giữa 2 dân tộc Việt Nam - Campuchia.

(5) Không ngừng củng cố chính quyền dân chủ nhân dân, đáp ứng yêu cầu của cuộc kháng chiến.

 Trúc Quỳnh

_____________

[1] Do tên Nguyễn Văn Cự (Chà) nhận được lệnh khởi nghĩa nhưng hắn ém lại để báo cho địch có thời gian đối phó.

[2] Thành Sơn Đá, nay là Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng An Giang.

[3] Tỉnh Long Xuyên, đồng chí Nguyễn Văn Nhung giữ chức Bí thư kiêm Chủ tịch Ủy ban nhân dân. Tỉnh Châu Đốc, đồng chí Nguyễn Văn Thôi - Bí thư, đồng chí Mai Phương (Lê Thuần Dương) - Chủ tịch Ủy ban nhân dân.

[4] Long Xuyên có các ông: Ung Văn Khiêm, Dương Văn Ân (sau bị truất quyền đại biểu), Nguyễn Văn Hưởng, Nguyễn Hữu Nghi. Ở Châu Đốc có các ông: Trương Tấn Phát, Hồ Thiếu Ngạn, Dương Kim Chung (Kim Chourk).

[5] Về sau chiến dịch này được gọi là Long Châu Hà I. Trọng điểm của chiến dịch là 2 huyện Tri Tôn, Tịnh Biên. Chiến dịch được chia làm 2 đợt. Đợt I từ ngày 03/10/1950 và đợt II từ ngày 09/10/1950. Chiều ngày 12/10/1950, chiến dịch kết thúc thắng lợi.

[6] Chiến dịch được bắt đầu đêm 9 rạng 10/02/1951 và được chia làm 3 đợt. Đợt I từ ngày 10 - 12/02/1951. Đợt II từ ngày 19 - 20/02/1951. Đợt III từ đêm 11/3 - 13/3/1951. Chiến dịch kết thúc thắng lợi.

 

Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thanh Bình chủ trì họp rà soát công tác tổ chức Lễ kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An GiangTinNgọc HânChủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thanh Bình chủ trì họp rà soát công tác tổ chức Lễ kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang/SiteAssets/Ra-soat-le-kn-190nam-2.JPG
27/10/2022 4:00 CHNoĐã ban hành

(TUAG)- Chiều ngày 27/10, tại Hội trường Văn phòng UBND tỉnh, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thanh Bình cùng Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Văn Phước; Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thị Minh Thúy chủ trì cuộc họp rà soát công tác tổ chức Lễ kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh.

Ra-soat-le-kn-190nam-4.JPG

Toàn cảnh cuộc họp

Tại Cuộc họp, các tiểu ban: Nội dung; Lễ Tân, Hậu cần, Y tế; Tuyên truyền; An ninh, Trật tự báo cáo tiến độ triển khai các nhiệm vụ chuẩn bị Lễ kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh.

Ra-soat-le-kn-190nam-3.JPG

Đại diện Tiểu ban Nội dung báo cáo tiến độ

 Ra-soat-le-kn-190nam-1.JPG

Đại diện Tiểu ban Tuyên truyền báo cáo tiến độ

Lễ kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang (1832-2022) diễn ra vào ngày 22/11/2022. Dự kiến nội dung chương trình phần nghi lễ với thời lượng 60 phút, từ 19h00 đến 20h00, bao gồm các phần: Chiếu phim tư liệu "An Giang 190 năm hình thành và phát triển"; tiết mục nghệ thuật chào mừng; chào cờ; tuyên bố lý do, giới thiệu đại biểu; lãnh đạo tỉnh đọc diễn văn chào mừng Lễ Kỷ niệm; phát biểu của Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới hoặc phát biểu của đại diện Thế hệ trẻ; phát biểu của lãnh đạo Đảng, Nhà nước; lãnh đạo tỉnh tăng hoa; phát biểu cảm ơn và tiếp thu ý kiến chỉ đạo; khen thưởng. Chương trình nghệ thuật và bắn pháo hoa: Dự kiến trực tiếp truyền hình chương trình nghệ thuật, với thời lượng 60 phút, từ 20h00 đến 21h00; chương trình bắn pháp hoa 15 phút, từ 21h00 đến  21h15 (ngoài sóng trực tiếp).

Ra-soat-le-kn-190nam-2.JPG

Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thanh Bình phát biểu kết luận cuộc họp

Phát biểu kết luận cuộc họp, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thanh Bình nhấn mạnh: Mục đích tổ chức Lễ kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh là sự kiện nhằm giáo dục truyền thống lịch sử, văn hóa, khơi dậy niềm tự hào, tình yêu quê hương An Giang; cổ vũ, động viên cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang, các tầng lớp nhân dân trong tỉnh tích cực thi đua lao động sản xuất, công tác và học tập, góp phần xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp. Qua đó tiếp tục bảo tồn, phát huy giá trị lịch sử, truyền thống cách mạng của quê hương An Giang. Quảng bá, giới thiệu với bạn bè trong nước và quốc tế về tiềm năng, thế mạnh của An Giang nhằm thu hút đầu tư, thu hút khách tham quan trong và ngoài nước.

Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu các đơn vị, địa phương chuẩn bị đầy đủ các điều kiện cơ sở vật chất để đón tiếp các đại biểu, khách mời đến An Giang tham dự Lễ kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh. Đảm bảo công tác lễ tân, hậu cần, y tế chu đáo, khoa học, thể hiện sự thân thiện, hiếu khách, nhằm để lại ấn tượng tốt đẹp của tỉnh đối với đại biểu đến tham dự, góp phần để Lễ kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh được tổ chức trang trọng, đúng quy định của Đảng và Nhà nước; có ý nghĩa chính trị sâu sắc; nội dung thiết thực, phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương, tạo không khí vui tươi, phấn khởi tin tưởng trong các tầng lớp nhân dân, từ đó trở thành động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội toàn tỉnh, chung tay thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ, chỉ tiêu của tỉnh trong tình hình mới hiện nay. Các sự kiện được tổ chức phải trên tinh thần tiết kiệm, không phô trương hình thức, lãng phí đảm bảo phục vụ đông đảo quần chúng nhân dân trong tỉnh. Đảm bảo công tác phòng, chống dịch COVID-19.

NGỌC HÂN

Sự ra đời các tổ chức Đảng Cộng sản đầu tiên của tỉnh An Giang Bài viếtHòa BìnhSự ra đời các tổ chức Đảng Cộng sản đầu tiên của tỉnh An Giang /SiteAssets/Binhminh-trensong-NgNham.jpg
27/10/2022 2:05 CHNoĐã ban hành

(TUAG)- Ngày 3/2/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đánh dấu một móc son chói lọi trên con đường phát triển của dân tộc, chấm dứt tình trạng khủng hoảng về đường lối, về giai cấp lãnh đạo cách mạng diễn ra cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Từ đây, nhân dân ta tập hợp dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng, cùng chung tư tưởng và hành động để tiến hành cuộc cách mạng vĩ đại giành những thắng lợi to lớn sau này. Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, chi bộ Đảng các tỉnh lần lượt ra đời. Ở An Giang, Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên ra đời ở Chợ Mới.


Di tích lịch sử cách mạng cột Dây Thép[1]

Trong những năm 1924 - 1926, dưới sự tác động của phong trào để tang cụ Phan Chu Trinh, đòi ân xá cụ Phan Bội Châu, đòi thả Nguyễn An Ninh… những luồng tư tưởng tiến bộ tràn về An Giang tạo ra nhiều nhân tố tích cực trong phong trào yêu nước. Mảnh đất sục sôi đấu tranh từ bao đời đang chờ hạt giống đỏ cách mạng.

Cuối năm 1924, Châu Văn Liêm (xuất thân trong gia đình Nho giáo ở Ô Môn, Cần Thơ) sớm tiếp thu truyền thống yêu nước của cha, anh và tiếp xúc với sách báo tiến bộ) về dạy lớp nhứt trường Nữ Long Xuyên. Năm 1926, anh về dạy trường sơ học Chợ Thủ (Chợ Mới) tại đây anh có điều kiện tiếp xúc, tuyên truyền, vận động quần chúng chống lại những luật lệ bất công.

Tháng 6/1925, Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên được thành lập ở Quảng Châu. Tháng 8/1927, Kỳ bộ Nam kỳ cử Nguyễn Ngọc Ba về Long Xuyên hoạt động với bí danh là thầy giáo Sinh dạy học ở trường Trần Minh (khu vực trường Nguyễn Trãi hiện nay) và tìm đến Châu Văn Liêm, Ung Văn Khiêm... tuyên truyền đường lối cách mạng của Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên. Gần cuối năm 1927, đồng chí Nguyễn Ngọc Ba kết nạp Châu Văn Liêm và Ung Văn Khiêm vào Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên.

Cuối năm 1927, Chi bộ Thanh niên đầu tiên của Long Xuyên, Châu Đốc ra đời tại Long Điền (Chợ Mới). Tháng 02/1928, Tỉnh bộ Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên tỉnh Long Xuyên được thành lập. Cuối năm 1929, các chi bộ và tiểu tổ Thanh niên phát triển dọc theo tuyến giao thông chính, nơi tập trung dân cư.

Tổ chức Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên ra đời đánh dấu bước ngoặt quan trọng trên con đường đấu tranh cách mạng của nhân dân Long Xuyên, Châu Đốc.

Sau hơn 60 năm chống thực dân và tay sai, giờ đây mới có một tổ chức cách mạng có đường lối cứu nước và phương pháp đấu tranh phù hợp với yêu cầu lịch sử lúc bấy giờ.

Mùa Xuân năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập. Cuối tháng 3/1930, các đồng chí lãnh đạo Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên ở Long Xuyên, Châu Đốc như Nguyễn Văn Cưng, Bảy Xuyến... được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam, cùng đồng chí Lưu Kim Phong (cán bộ Đặc ủy) hình thành "Ban Chấp ủy lâm thời" tỉnh Long Xuyên. Sau đó, Tỉnh ủy chủ trương tiến hành xây dựng các chi bộ Đảng, lấy Chợ Mới làm trung tâm phát triển tổ chức.

Đầu tháng 4/1930, Chi bộ Đảng đầu tiên của Long Xuyên, Châu Đốc được thành lập ở Long Điền (Chợ Mới).

Đến cuối tháng 4/1930, các chi bộ Kiến An, Bình Thành, An Phong... (Chợ Mới); Tân Huề, Long Thuận, Long Sơn... (Tân Châu - Hồng Ngự); Long Xuyên, Lấp Vò... lần lượt ra đời, đánh dấu sự phát triển tất yếu của phong trào cách mạng của nhân dân Long Xuyên, Châu Đốc.

Đảng bộ Long Xuyên, Châu Đốc ra đời sớm ở miền Tây Nam kỳ là một sự kiện có ý nghĩa quan trọng góp phần làm sáng tỏ về mặt lý luận và thực tiễn đối với quy luật thành lập Đảng ở Việt Nam.

Song-Hau-va-Ho-NguyenDu.jpg

Là một vùng đất thuộc địa bị thực dân Pháp khai thác và bóc lột kiểu phong kiến, cho đến cuối năm 1930 giai cấp công nhân hầu như không có. Vì vậy, việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, hệ tư tưởng của giai cấp công nhân hiện đại, thâm nhập vào đây không phải là điều dễ dàng, đòi hỏi những người hội viên Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên đầu tiên của Long Xuyên, Châu Đốc phải biết phát huy tính tích cực, chủ động của mình trong suốt quá trình vận động thành lập Đảng, quá trình chuẩn bị đầy đủ về mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức để đưa phong trào cách mạng phát triển đúng quỹ đạo của cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội.

Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên sớm thấy được vị trí đặc biệt của thợ thủ công, tầng lớp có mối quan hệ với nông dân và công nhân hiện đại và đã biết chọn địa bàn thích hợp để xây dựng, phát triển tổ chức. Vùng Chợ Mới đất hẹp, người đông, tập trung nhiều mâu thuẫn đối kháng gay gắt: mâu thuẫn giữa toàn thể nhân dân với đế quốc; giữa nông dân với địa chủ, quan làng; giữa thợ thủ công và chủ xưởng... Chợ Mới còn là nơi có truyền thống đấu tranh lâu đời và đội ngũ trí thức ở đây sớm có điều kiện tiếp thu những tư tưởng tiến bộ trong phong trào dân chủ. Việc đi lại ở đây tương đối thuận tiện, nhất là bằng đường bộ, đường thủy, làm cho tổ chức cách mạng dễ dàng lan rộng ra các nơi khác.

Bên cạnh các tổ chức công khai, Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên còn bí mật xây dựng Nông hội, Công hội làm nòng cốt cho phong trào. Chủ trương "Vô sản hóa" cũng được các đồng chí hội viên vận dụng sáng tạo bằng cách đi vào nông thôn với các hình thức như làm mướn... để giác ngộ quần chúng và tự rèn luyện mình.

Ở vùng đất miền Tây Nam Bộ xa xôi, trên nền tảng của chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa cộng sản nhanh chóng nảy mầm, bám rễ và Đảng bộ Long Xuyên, Châu Đốc là một trong những Đảng bộ ra đời sớm nhất ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long, là một trong những chiếc nôi cách mạng của Đảng bộ Nam kỳ.

Đảng bộ Long Xuyên, Châu Đốc ra đời là sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào yêu nước. Nó càng chứng minh một cách cụ thể sự sáng tạo tuyệt vời của đồng chí Nguyễn Ái Quốc và những người cộng sản đầu tiên trong việc xây dựng thành công một Đảng Cộng sản ngay trên đất nước nông nghiệp nghèo nàn và lạc hậu./.

Hòa Bình

____________

[1] Tháng 4/1930, chi bộ cử Lê Văn Đỏ, một quần chúng trung kiên đã treo lá cờ của Đảng Cộng sản trên Cột Dây Thép

 

Các phong trào yêu nước ở An Giang trước khi Đảng ra đời An Giang 190 nămBài viếtP.NCác phong trào yêu nước ở An Giang trước khi Đảng ra đời /SiteAssets/Di-tich-cot-day-thep-CM.jpg
25/10/2022 11:00 SANoĐã ban hành

(TUAG)- Ngay sau khi thực dân Pháp chiếm tỉnh An Giang (ngày 22/6/1867), người dân với tinh thần "quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh", "thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ" đã đứng dậy đấu tranh bằng mọi hình thức với nhiều cuộc khởi nghĩa tiêu biểu như khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực, Trần Văn Thành, Ngô Tự Lợi, phong trào "Hội kín" của Phan Xích Long, Nguyễn Hữu Trí... nhưng tất cả đều bị thực dân Pháp đàn áp và tan rã vì thiếu một đường lối cứu nước đúng đắn, thiếu một giai cấp lãnh đạo phù hợp với cách mạng đương thời.


Ngày 22/6/1867, thực dân Pháp chiếm thành Châu Đốc. Nhân dân An Giang liên tiếp đấu tranh để giành lại quê hương ngay từ những ngày đầu mất đất. Người dân tích cực tham gia các cuộc khởi nghĩa của Thiên Hộ Dương (Đồng Tháp), Nguyễn Trung Trực (Rạch Giá)…

Trong cuộc chiến chống thực dân Pháp xâm lược còn có khởi nghĩa Bảy Thưa do Trần Văn Thành lãnh đạo (1867 - 1873); khởi nghĩa dưới sự lãnh đạo của Ngô Lợi; khởi nghĩa của Phan Xích Long, Nguyễn Hữu Trí, mang màu sắc thần bí của Thiên Địa Hội với các hình thức biến tướng như "kèo xanh, kèo vàng"; ở núi Cấm đã có cuộc khởi nghĩa lớn của người Việt và Khmer, tháng 3/1917, thực dân Pháp triệt hạ chùa Phật Lớn, bắt được "ông thầy núi Cấm" mà chúng cho là người cầm đầu…

Đến những năm đầu thế kỷ XX, các cuộc đấu tranh dưới sự lãnh đạo của giai cấp phong kiến hoặc mang màu sắc tôn giáo đều bị thực dân Pháp đàn áp, tan rã. Xã hội bị phân hóa sâu sắc, người dân bị bóc lột, bần cùng.

Con đường đấu tranh bế tắc, cuộc sống người dân An Giang càng lâm vào cảnh khốn cùng, đời sống bị đảo lộn dữ dội trong cơn lốc "thực dân hóa" của Pháp. Trong cơn khủng hoảng của xã hội đương thời, lịch sử lại sản sinh ra những anh hùng cho Tổ quốc. Năm 1911, bến cảng Nhà Rồng tiễn người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước. Đến năm 1916, người con ưu tú của quê hương An Giang, người thợ máy Tôn Đức Thắng xuống tàu đi Pháp, để đến 1919, Tôn Đức Thắng giương cao lá cờ phản chiến trên Biển Đen. Đây là sự kiện rất có ý nghĩa. Bởi vì Tôn Đức Thắng là người Việt Nam đầu tiên biểu thị tinh thần yêu nước bằng hành động dũng cảm của mình cùng đồng đội trực tiếp tham gia bảo vệ nước Nga Xôviết, con đẻ của Cách mạng Tháng Mười vào thời điểm rất quan trọng, làm thất bại âm mưu xóa bỏ nước Nga Xôviết của bọn đế quốc hiếu chiến.

Năm 1927, Nguyễn Ngọc Ba về tỉnh Long Xuyên hoạt động, tìm những thanh niên tích cực trong phong trào yêu nước như: Châu Văn Liêm, Ung Văn Khiêm… để tuyên truyền đường lối cách mạng của Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên. Cuối năm, Nguyễn Ngọc Ba đã kết nạp Châu Văn Liêm và Ung Văn Khiêm vào Hội. Cũng trong năm này, Châu Văn Liêm kết nạp thêm hai hội viên mới là Bùi Trung Phẩm và Lâm Văn Cẩn và lập ra Chi bộ hội Việt Nam cách mạng Thanh niên đầu tiên ở Long Điền. Tổ chức Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên ra đời đánh dấu bước ngoặt quan trọng trên con đường đấu tranh cách mạng của nhân dân Long Xuyên, Châu Đốc. Sau hơn 60 năm chống đế quốc và tay sai, giờ đây mới có một tổ chức cách mạng có đường lối cứu nước và phương pháp đấu tranh phù hợp với yêu cầu lịch sử lúc bấy giờ. Từ Long Điền, Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên phát triển khắp các xã trong vùng Chợ Mới, Tân Châu, Lấp Vò…

Tháng 02/1928, Tỉnh bộ Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên tỉnh Long Xuyên được thành lập, Châu Văn Liêm được chỉ định làm Bí thư. Hạt giống cách mạng đã nhanh chóng nảy mầm và phát triển mạnh mẽ với sự tham gia của Nguyễn Văn Cưng, Trần Văn Thạnh, Nguyễn Văn Tây (Thanh Sơn). Các đồng chí đã tuyên truyền, vận động, mở các lớp huấn luyện ngắn ngày cho người dân hiểu nguyên nhân nghèo đói và chỉ rõ con đường cho họ tự giải thoát là phải đứng lên làm cách mạng như Cách mạng Tháng Mười Nga.

Can-cu-quan-su-O-Ta-Soc.jpg

Căn cứ cách mạng O Tà Sóc.

Hoạt động của Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên từ năm 1925 đến 1929 đã đưa chủ nghĩa Mác - Lênin thâm nhập vào quần chúng và trở thành đường lối của phong trào yêu nước. Với phong trào yêu nước và phong trào công nhân ngày càng phát triển cả về số lượng và chất lượng, đòi hỏi phải có chính đảng của giai cấp vô sản lãnh đạo. Trước tình hình đó, các tổ chức Cộng sản: Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn lần lượt ra đời. Tuy nhiên, các tổ chức cộng sản hoạt động riêng lẻ, không tập hợp được sức mạnh, ảnh hưởng đến phong trào cách mạng cả nước. Do đó, Nguyễn Ái Quốc đã chủ trì Hội nghị từ ngày 6/01 đến ngày 03/02/1930 hợp nhất ba tổ chức cộng sản thành lập Đảng Cộng sản duy nhất, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tháng 3/1930, các đồng chí lãnh đạo Hội Thanh niên ở Long Xuyên như Nguyễn Văn Cưng, Bảy Xuyến… được kết vào Đảng Cộng sản Việt Nam, cùng Lưu Kim Phong (cán bộ Đặc ủy) hình thành Ban Chấp ủy lâm thời tỉnh Long Xuyên do đồng chí Nguyễn Văn Cưng làm Bí thư. Tỉnh ủy chủ trương xây dựng các chi bộ Đảng, lấy Chợ Mới làm trung tâm phát triển tổ chức với lý do: Chợ Mới đất hẹp, người đông, tập trung nhiều mâu thuẫn đối kháng gay gắt: mâu thuẫn giữa toàn thể nhân dân với thực dân Pháp, giữa nông dân với địa chủ, giữa thợ thủ công và chủ xưởng. Chợ Mới còn là nơi có truyền thống đấu tranh lâu đời và đội ngũ trí thức ở đây sớm có điều kiện tiếp thu những tư tưởng tiến bộ trong phong trào dân chủ. Việc đi lại nơi đây tương đối thuận tiện, nhất là bằng đường bộ, đường thủy, làm cho tổ chức cách mạng dễ dàng lan rộng ra các nơi khác.

Di-tich-cot-day-thep-CM.jpg

Cột dây thép - Di tích lịch sử cấp quốc gia

Đầu tháng 4/1930, Chi bộ Đảng ở Long Điền (Chợ Mới) được thành lập gồm có 3 đồng chí: Lưu Kim Phong, Bùi Trung Phẩm và Đoàn Thanh Thủy. Đây là Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của tỉnh An Giang. Để chào mừng sự kiện lịch sử đó, Chi bộ Đảng giao cho Lê Văn Đỏ - một quần chúng trung kiên treo lá cờ Đảng trên Cột dây thép xã Long Điền. Cuối tháng 4/1930, các Chi bộ Kiến An, Bình Thành, An Phong... (Chợ Mới); Tân Huề, Long Thuận, Long Sơn... (Tân Châu - Hồng Ngự); Long Xuyên, Lấp Vò... lần lượt ra đời, đánh dấu sự phát triển tất yếu của phong trào cách mạng của nhân dân Long Xuyên, Châu Đốc. Tuy mới ra đời nhưng các chi bộ đã chứng minh được sự trỗi dậy của một tổ chức cách mạng dù còn non trẻ. Đêm 28 rạng 29/4/1930, trên đường phố tỉnh lỵ Long Xuyên, lần đầu tiên xuất hiện nhiều truyền đơn kêu gọi nhân dân nổi dậy chống chính quyền thực dân.

Sự ra đời Ban Chấp ủy lâm thời tỉnh Long Xuyên và Chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam đầu tiên đã tạo ra một bước ngoặt quan trọng cho phong trào cách mạng An Giang tiến lên một bước mới, hòa nhịp và có ý nghĩa lớn đối với phong trào cách mạng cả nước; góp phần làm sáng tỏ về mặt lý luận và thực tiễn đối với quy luật thành lập Đảng ở Việt Nam./.

P.N

Quá trình khẩn hoang, lập ấp ở An Giang trước khi thực dân Pháp xâm chiếm (1833 - 1867)An Giang 190 nămBài viếtHòa BìnhQuá trình khẩn hoang, lập ấp ở An Giang trước khi thực dân Pháp xâm chiếm (1833 - 1867)/SiteAssets/PSA-thanh-hung-6.jpg
18/10/2022 10:55 SANoĐã ban hành

(TUAG)- "Nhìn lại chặng đường 190 năm hình thành, phát triển, Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân An Giang luôn vinh dự, tự hào và mãi ghi ơn các bậc tiền nhân đã khai khẩn, bảo vệ, xây dựng và phát triển vùng đất An Giang. Đây là dịp để chúng ta tìm hiểu, nghiên cứu đầy đủ, sâu sắc hơn quá trình hình thành, những giá trị và đóng góp của An Giang trong tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước" - Bí thư Tỉnh ủy An Giang Lê Hồng Quang nhấn mạnh tại Hội thảo khoa học "An Giang 190 năm hình thành và phát triển".

Hành trình về địa chỉ đỏ tại Khu căn cứ Di tích lịch sử cách mạng Ô Tà Sóc.

Theo Ðịa bạ triều Nguyễn (lập năm 1836) tình hình ruộng đất ở An Giang được ghi nhận như sau: toàn tỉnh An Giang lúc bấy giờ đo đạc được 97.407 mẫu (47.674 ha) trong đó diện tích sử dụng được là 96.865 mẫu (47.409 ha) gồm đất canh tác 47.264 ha và đất thổ cư 145 ha, còn lại 265 ha là đất bỏ hoang. Riêng 47.264 ha đất sử dụng được thì có 35.489 ha dùng để cấy lúa (75%), và 11.775 ha đất vườn (25%). Nếu chỉ tính riêng đất thực canh của 2 huyện Ðông Xuyên và Tây Xuyên tức thuộc địa phận An Giang ngày nay thì Địa bạ năm 1836 chỉ thấy ghi có 16.495 ha trong đó huyện Ðông Xuyên chiếm 12.315 ha (74,6%) và huyện Tây Xuyên chỉ có 4.180 ha. Phủ Tuy Biên có tỷ lệ đất ruộng chiếm 72,62%, đất vườn chiếm 27,38%, trong đó huyện Ðông Xuyên có 66,78% đất ruộng, 33,22% đất vườn là huyện có tỷ lệ đất vườn cao nhất 4 huyện của tỉnh. Huyện Tây Xuyên có tỷ lệ đất ruộng 89,81%, đất vườn 10,19% và là huyện có tỷ lệ đất ruộng lúa cao nhất[1].

Thực tế vùng biên giới Châu Ðốc diện tích khẩn hoang còn ít vì thời tiết khó khăn, vốn liếng, nông cụ có hạn, nên số người trụ lại không nhiều. Triều Nguyễn phải triển hạn[2] thuế nhiều lần. Ngay cả đất gần thành Châu Đốc nhiều chỗ tốt năm 1839 đã đắp được đê vệ nông, bắt lính khai khẩn thành điền được 770 mẫu, thu được 9.000 hộc thóc được thưởng 600 quan tiền nhưng đến giữa năm 1840 chỗ chưa khai khẩn còn ước độ 200 mẫu nữa. Vì vậy, việc khai hoang lập ấp dưới thời triều Nguyễn ngoài việc khuyến khích bằng các hình thức mộ dân, binh lính và cả tù phạm cũng được sử dụng để lập đồn điền ở những nơi trọng yếu. Hình thức đồn điền được tổ chức như lực lượng bán quân sự, theo phiên hiệu quân đội như: Quản cơ, Phó Quản cơ, Suất đội. Khi thời bình họ sẽ khai hoang cày cấy, lúc chiến tranh họ là những người lính bảo vệ đất nước.

Dưới triều vua Minh Mạng chính sách đồn điền đã được thiết lập. Nhiều tù phạm khắp Nam Kỳ được đưa đến biên giới. Vào năm 1840, Minh Mạng cho lấy lại một phần đất đã được khai phá trong các đồn điền để cấp cho các tù phạm hoặc giao cho dân cày cấy. Năm 1850, vua Tự Ðức cử Nguyễn Tri Phương giữ chức Kinh lược sứ Nam Kỳ trông coi việc xây dựng các đồn điền dọc theo biên giới, trong đó có kinh Vĩnh Tế.

Tính đến tháng 5 (âm lịch) năm 1851, số ruộng bỏ hoang ở An Giang lên đến 44.784 mẫu. Trước thực trạng như vậy, Nguyễn Tri Phương tấu trình về nhân lực khai khẩn:"Tỉnh An Giang tiếp giáp với nước Miên, đất bỏ hoang còn nhiều, xin từ nay trở đi, phàm những tên can tội trộm cắp, cướp vặt và các tên du côn không rõ lai lịch ở sáu tỉnh Nam Kỳ mà tội chỉ mãn đồ (đồ là 3 năm) trở xuống đều phát giao cho các đồn, bảo tỉnh An Giang sai phái. Tên nào dân xã xin không muốn nhận lĩnh, thì lựa lại đồn điền làm lính, tùy tiện để khai khẩn cày cấy. Ðợi số ruộng khai khẩn được bao nhiêu, cho giữ làm sản nghiệp đời đời"[3].

Theo báo cáo của Nguyễn Tri Phương vào năm 1854, đợt khai hoang lập ấp này ở Nam Kỳ được 124 ấp, trong đó, An Giang lập thêm 23 ấp mới. Sách Ðại Nam Nhất Thống Chí cho biết trong thời kỳ này, An Giang đã khai phá được 88.336 mẫu trong tổng số 568.840 mẫu (tương đương 278.413 ha) của toàn miền Nam, chiếm tỷ lệ 15,5% chỉ sau Gia Ðịnh, Ðịnh Tường, Vĩnh Long…

Dưới triều Nguyễn hình thức người dân tự phát khai phá được xem là hình thức chủ yếu trong công cuộc khẩn hoang thời bấy giờ. Phần lớn lưu dân đến vùng đất mới này chủ yếu sống bằng nghề nông. Số ruộng đất khai phá lớn hay nhỏ tuỳ thuộc vào khả năng của mỗi gia đình hoặc sự kết nối giữa các quan hệ họ hàng thân thuộc với nhau. Họ tự do được lựa chọn nơi ở và nơi khai khẩn. Người đi khai hoang còn được nhà nước giúp đỡ về dụng cụ, thóc giống, trâu bò bằng hình thức cho vay hoặc cấp phát.

Chính quyền nhà Nguyễn không đưa ra một quy định hạn chế hoặc ràng buộc gì trong việc lưu dân khai khẩn đất hoang vì lúc ấy đất hoang còn rất nhiều mà dân cư thưa thớt. Triều đình vẫn tiếp tục chính sách khuyến khích lưu dân đi khẩn hoang bằng các thủ tục dễ dãi, không hạn chế nơi khai thác và diện tích, chỉ cần khai báo và nộp thuế sau thời gian 3 năm đầu hoặc lâu hơn được miễn thuế, sau đó được công nhận quyền sở hữu trên phần đất tự khai thác.

Cho-Long-Xuyen.jpg

Chợ Long Xuyên (An Giang) ngày nay.

Trong quá trình khai phá đất hoang ở An Giang dưới thời các Chúa Nguyễn và triều Nguyễn, lưu dân người Việt đã đưa phần lớn diện tích được khẩn hoang sang trồng lúa là chính. Ngoài ra, còn trồng một số hoa màu và cây ăn trái. Việc canh tác chủ yếu là nhờ nước mưa. Những năm hạn hán như năm 1865 ruộng đất ở An Giang bỏ hoang rất lớn. Nông dân chỉ biết cầu khẩn, cầu bảo, vì chưa có những công trình thủy nông phục vụ sản xuất. Những kinh đào như kinh Thoại Hà, kinh Vĩnh Tế lúc bấy giờ phục vụ cho việc giao thông là chủ yếu, tác dụng về dẫn thủy nhập điền còn nhiều hạn chế.

Chính sách khẩn hoang lập làng từ thời Tự Ðức (1848) đến khi De La Grandière ký sắc lệnh (ngày 20/9/1867) giải tán tất cả đồn điền, thì các hình thức khẩn hoang có kết quả khá tốt. Diện tích cày cấy nhiều hơn trước. Theo thống kê triều Nguyễn thời bấy giờ, so với cả nước, sản lượng lúa ở An Giang nhiều nhất. Nhiều thôn ấp được thành lập. Cộng đồng cư dân người Việt, Hoa, Khmer, Chăm trở nên đông đúc. Một số trung tâm mua bán, trao đổi hàng hoá được hình thành ven bờ sông và ngày càng sung túc như chợ Châu Ðốc, Ðông Xuyên (Long Xuyên), Tú Ðiền (Chợ Mới), Vĩnh Phước (Sa Ðéc), Bình Thành Tây (Lấp Vò), An Thạnh (Tịnh Biên), Thái An Ðông (Ô Môn).

Công cuộc khẩn hoang khai thác ruộng đất được tiếp tục cho đến khi thực dân Pháp chiếm An Giang (1867). Theo số liệu của Niên giám Nam Kỳ công bố năm 1868 thì vào năm này, An Giang đã khai thác thêm 22.864 ha, trong đó Châu Ðốc 13.419 ha, Long Xuyên 9.445 ha, đa số diện tích khai phá nằm dọc theo bờ Tây sông Hậu...

H.B

_____________

[1] Nguyễn Ðình Ðầu, Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn - An Giang, Nxb Tp.HCM, 1995.

[2] Kéo dài thêm khoảng thời gian đã định.

[3] Đại Nam thực lục, Chính biên, Đệ tứ kỷ, Quyển VI, Viện Sử học.

 

Tỉnh An Giang được thành lập vào ngày 22/11/1832An Giang 190 nămBài viếtTrúc QuỳnhTỉnh An Giang được thành lập vào ngày 22/11/1832/SiteAssets/Lehoi-ViaBaChuaXu-2.jpg
10/10/2022 10:25 SANoĐã ban hành

(TUAG)- Đây là khẳng định của Ban Tổ chức Hội thảo khoa học "An Giang 190 năm hình thành và phát triển (1832-2022)" trong thông cáo báo chí gửi đến các cơ quan thông tấn báo chí về kết quả của hội thảo.

Theo Châu bản triều Nguyễn ghi chép lại, năm 1832, triều thần nhà Nguyễn tấu trình: "… đất Châu Đốc lại là nơi rất xung yếu. Nhưng dân cư chưa được đông đúc, địa lợi chưa được mở mang, gần đây có Vĩnh Long, đất rộng, dân giàu, hơn cả mọi hạt. Vậy xin tách lấy 2 huyện Vĩnh An và Vĩnh Định thuộc Vĩnh Long, gộp với đất Châu Đốc, lập làm tỉnh An Giang".

Sách Đại Nam thực lục chính biên cũng ghi nhận 190 năm trước, vào ngày mùng 1 tháng 10 năm Nhâm Thìn (1832), năm Minh Mạng thứ 13 trong buổi thiết triều, sau khi nghe bộ lại tấu trình, vua Minh Mạng đã chỉ dụ bãi bỏ Gia Định thành, đổi "ngũ trấn" thành "lục tỉnh", quyết định thành lập 12 tỉnh từ Quảng Nam đến Hà Tiên cùng thời điểm, trong đó có tỉnh An Giang.

Đối chiếu với lịch vạn niên, ngày mùng 1 tháng 10 năm Nhâm Thìn (1832) nhằm ngày 22/11/1832 (dương lịch) tỉnh An Giang chính thức được thành lập gồm 2 phủ và 4 huyện, tỉnh thành đặt tại Châu Đốc.


Tỉnh An Giang được thành lập tạo điều kiện cho công cuộc khai phá đất đai được đẩy mạnh, dẫn đến việc ra đời của nhiều thôn ấp. Đến năm 1836, theo Địa bạ triều Nguyễn, chỉ riêng hai huyện Tây Xuyên và Đông Xuyên (là địa phận chủ yếu của tỉnh An Giang ngày nay) lập được 7 tổng, 91 làng.

Là đất khai phá sau cùng ở Nam Bộ, so với các nơi khác điều kiện sinh sống ở An Giang không được thuận lợi cho lắm. Triều đình chú ý khẩn hoang, lập ấp chủ yếu để phục vụ cho kế hoạch an ninh quốc phòng. Cư dân sống bằng nghề làm ruộng, đánh bắt cá, tôm… dần dần một số nghề thủ công được ra đời như: dệt, mộc, đan lát, nắn nồi, chạm khắc đá.

Ở vùng cù lao đất giồng, nước ngập không đáng kể, việc canh tác tương đối dễ dàng. Từ cây lúa, con cá, cư dân tiến dần qua trồng trọt hoa màu, cây ăn trái và phát triển các ngành nghề thủ công cổ truyền của dân tộc.

Nghề trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ, dệt lụa khá phổ biến, tập trung nhiều nhất ở vùng Tân Châu, Chợ Mới. Đến đầu thế kỷ XX, lụa Tân Châu đã nổi tiếng khắp vùng vừa bền, vừa đẹp.

Nghề mộc cũng sớm phát triển trên đất Chợ Mới. Ở An Giang và cả miền Tây đều biết đến những người thợ Chợ Thủ (Chợ Mới) qua những sản phẩm thủ công tinh xảo có tính nghệ thuật cao, từ đơn giản đến cầu kỳ, phức tạp.

Ở núi Sam, núi Sập do nhu cầu tiêu dùng của xã hội, dần dần hình thành từng lớp "thợ" chuyên khai thác đá. Ngoài đá xây dựng ra, họ còn làm ra những đồ dùng như cối giã gạo, chày đâm tiêu, cối xay bột, mặt bàn và cả đồ trang sức bằng đá quý.

Nghề đan bàng, đưng tập trung ở vùng Tịnh Biên, Tri Tôn. Đặc biệt là cây bàng đã tạo ra chiếc nóp kỳ diệu để sau này cùng với cây tầm vông đi vào lịch sử đấu tranh oai hùng của dân tộc, in đậm trong ký ức của người dân vùng đồng bằng châu thổ.

Từ chỗ cùng nhau khai khẩn đất hoang dựng lên làng mạc, dân cư An Giang (bao gồm người Việt, Khmer, Hoa, Chăm...) sống chan hòa trong sự hòa hợp giữa các nền văn hóa, hình thành tính cách, thói ăn, nết ở. Những người Việt đi đến đây đa số là những người không chịu được áp bức, bóc lột, yêu tự do, giàu lòng nhân ái, đùm bọc lẫn nhau khẩn hoang, lập ấp. Người Khmer cần cù lao động, quây quần bám đất, kính Phật, thật thà, chất phác. Người Hoa chịu cực, chịu khó giúp đỡ lẫn nhau, chuyên mua bán, dễ dàng hòa hợp. Người Chăm ươm tơ, dệt vải, chài lưới, mua bán đổi chác đều thành thạo.

Từ những điều kiện đặc thù của nền kinh tế, văn hóa, xã hội ở một vùng đất mới đã sản sinh ra những tính cách của con người An Giang thích tự do, phóng khoáng. Họ gắn bó với nhau để sống bằng tấm lòng vị tha, chân thật, hào hiệp, ngang tàng. Đại Nam Nhất Thống Chí đã viết về những cư dân đầu tiên của An Giang: "Học trò hơi biết chữ, nhà nông chăm làm ăn... tính cách nhẹ nhõm, ham thích phong lưu... không ai gian tham, không ai trộm cướp, phần nhiều hào phóng..."[1].

Trúc Quỳnh

___________

[1] Phan Quang, Đồng bằng sông Cửu Long, Văn hóa, HN, 1981.

 

Lược sử hình thành vùng đất An GiangAn Giang 190 nămBài viếtPhan NguyênLược sử hình thành vùng đất An Giang/SiteAssets/AG-190-longxuyen-ho-NgDu.jpg
05/10/2022 9:00 SANoĐã ban hành

(TUAG)- An Giang tọa lạc ở vị trí địa lý tương đối đặc biệt, ở địa đầu biên giới Tây Nam của Tổ quốc, nơi đầu nguồn sông Mê Kông chảy vào lãnh thổ Việt Nam. Tỉnh An Giang chính thức được ghi vào hệ thống hành chính năm 1832. Trải qua 190 năm hình thành và phát triển (1832 - 2022), với nhiều thăng trầm, An Giang là địa phương có bề dày lịch sử, văn hóa, giàu truyền thống yêu nước và cách mạng.

AG-190-longxuyen-ho-NgDu.jpg

Hồ Nguyễn Du ngày nay.

Người Việt di cư vào vùng đất Nam Bộ từ đầu thế kỷ XVII sau khi Chúa Nguyễn Hoàng vào phương Nam và lập phủ Phú Yên năm 1611. Nông dân và ngư dân vùng Thanh Nghệ, Thuận Quảng vào Mô Xoài (Bà Rịa) làm ăn. Sau cuộc hôn nhân của công nữ Ngọc Vạn và vua Chey Chetta II của Vương quốc Chân Lạp, vào năm 1620, làn sóng di dân hợp pháp diễn ra mạnh mẽ hơn. Những di dân Việt đã có mặt trên nhiều vùng đất thuộc miền Đông Nam Bộ như Biên Hòa, Đồng Nai, Sài Gòn…

Năm 1679, Tổng binh Long Môn Dương Ngạn Địch và Tổng binh Cao Lôi Liêm Trần Thượng Xuyên (dư đảng của Trịnh Thành Công lãnh đạo phong trào "phản Thanh phục Minh" ở Đài Loan thất bại) đem binh lính và quyến thuộc hơn 3.000 người và 50 chiến thuyền ghé vào Đà Nẵng xin hàng. Chúa Nguyễn Phúc Tần cho Trần Thượng Xuyên vào Bàn Lân xứ Đồng Nai (nay là Biên Hòa), Dương Ngạn Địch vào Mỹ Tho, vùng đất Nam Bộ có thêm cộng đồng người Hoa.

Năm 1692, vua nước Chiêm là Bà Tranh đem quân đắp lũy, cướp giết nhân dân phủ Diên Ninh (dinh Bình Khang). Chúa Nguyễn Phúc Chu sai Cai cơ Nguyễn Hữu Cảnh làm Thống binh đi đánh dẹp. Năm 1693, Nguyễn Hữu Cảnh bắt được vua Chiêm. Chúa Nguyễn bèn sáp nhập nước Chiêm vào xứ Đàng Trong (Đại Việt) và đặt làm một trấn, tên là Thuận Thành.

Sau khi thôn tính hết nước Chiêm, Chúa Nguyễn quan tâm đến vùng đất Nam Bộ, lúc đó thuộc Vương quốc Chân Lạp. Năm 1698, Chúa Nguyễn Phúc Chu sai Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược đất Đồng Nai, lập huyện Phước Long với dinh Trấn Biên và huyện Tân Bình với dinh Phiên Trấn, đặt phủ Gia Định. Trên vùng đất đai nghìn dặm từ Mô Xoài - Bà Rịa (tiếp giáp với phủ Bình Thuận) tới bờ sông Tiền chỉ có hơn bốn vạn hộ dân người Việt và một ít dân tộc thiểu số bản địa (Stiêng, Chơro, cả người Khmer). Dân cư ở vùng đất giữa sông Tiền và sông Hậu còn ít hơn. Phần lớn là người Khmer, một ít là cư dân vùng Ngũ Quảng, theo đường biển vào (theo các cửa Ba Lai, cửa Đại… của sông Tiền), sống bằng nghề trồng lúa và chài lưới.


Đầu thế kỷ XVIII, sau khi Mạc Cửu dâng đất Hà Tiên, xin thần phục Chúa Nguyễn và được phong làm Tổng binh trấn Hà Tiên, một bộ phận lưu dân Việt đã tìm đến sinh cơ lập nghiệp ở vùng đất mới cùng với người Hoa (theo chân Mạc Cửu), người Khmer (từ Lục Chân Lạp theo sông Mê Kông xuống). Năm 1757, Chúa Nguyễn đưa Nặc Tôn lên ngôi vua ở Vương quốc Chân Lạp, Nặc Tôn cắt đất Tầm Phong Long cho Chúa Nguyễn (thông qua Mạc Thiên Tứ) để đền ơn cứu giúp trong lúc hoạn nạn và giành lại ngôi vua. Chúa Nguyễn cử Nguyễn Cư Trinh và Trương Phúc Du tiếp nhận và cho lệ vào dinh Long Hồ, rồi đặt 3 đạo: đạo Châu Đốc, đạo Tân Châu[1] và đạo Đông Khẩu[2] để bảo vệ vùng biên giới. Năm 1779, Chúa Nguyễn Ánh bắt đầu quan tâm phân chia địa giới ba dinh Trấn Biên, Phiên Trấn và Long Hồ. Chế độ thuế khóa đã được đặt ra nhưng rất nhẹ so với các nơi khác. Năm 1780, Chúa Nguyễn Ánh cải tên dinh Long Hồ thành dinh Vĩnh Trấn sau đó lại đổi thành dinh Trấn Vĩnh. Sau khi thống nhất đất nước, năm 1808, vua Gia Long lập Gia Định thành trên vùng đất Nam Bộ và chia thành ngũ trấn: Biên Hòa, Phiên An, Định Tường, Vĩnh Thanh và Hà Tiên. Trấn Vĩnh Thanh có 1 phủ Định Viễn và 4 huyện:

+ Huyện Vĩnh Bình có 2 tổng: tổng Vĩnh Trường (52 thôn ấp), tổng Bình Chính (48 thôn).

+ Huyện Vĩnh An có 2 tổng: tổng Vĩnh Trinh (29 thôn), tổng An Trung (52 thôn phường).

+ Huyện Vĩnh Định chưa chia tổng (có 37 thôn xóm).

+ Huyện Tân An có 2 tổng: tổng Tân Minh (72 thôn), tổng An Bảo (63 thôn trại).

Trấn Vĩnh Thanh khi ấy rất lớn, bao gồm 2 tỉnh Vĩnh Long và An Giang, đi lại còn rất khó khăn, lại có vùng biên giới quan trọng, tiếp giáp Vương quốc Chân Lạp, một vương quốc đang lệ thuộc Việt Nam và đang bị tranh chấp rất gay gắt của Xiêm La. Do đó, vua Gia Long và sau đó là vua Minh Mạng đã quan tâm đào các con kinh như: Kinh Thoại Hà, kinh Vĩnh Tế… để thuận tiện trong việc giao thông, phòng thủ biên giới.

Như vậy, tỉnh An Giang là vùng đất cuối cùng được sáp nhập vào bản đồ Đại Việt (xứ Đàng Trong) vào năm Đinh sửu (1757). Trước đó vùng đất này tên gọi là Tầm Phong Long thuộc Thủy Chân Lạp của Vương quốc Chân Lạp. Theo tập quán sinh sống và cư trú của người Khmer, họ không ở, gần như bỏ hoang. Theo Chu Đạt Quan mô tả trong sách "Chân Lạp phong thổ ký" (vào thế kỷ XIII), ông đến vùng đất Nam Bộ ngày nay chỉ thấy "toàn là cây mây cao vút, cổ thụ, cát vàng, lau sậy trắng" và "xa hơn tầm mắt chỉ toàn là cỏ kê đầy rẩy, hàng trăm, hàng ngàn trâu rừng tụ họp từng bầy". Ba bốn thế kỷ sau, cảnh quan miền đất này cũng không thay đổi, vẫn hoang vu, rậm rạp, sình lầy, vắng bóng con người, là nơi trú ngụ của côn trùng, thú dữ, rắn rết, cá sấu... Đến nửa sau thế kỷ XVIII, Lê Quí Đôn ghi nhận trong sách Phủ Biên tạp lục: "Ở phủ Gia Định, đất Đồng Nai từ các cửa biển Cần Giờ, Lôi Lạp, Cửa Đại, Cửa Tiểu trở vào toàn là rừng rậm hàng ngàn dặm". Miền hoang địa gần như vô chủ ấy thực sự được đánh thức khi lưu dân người Việt đặt chân đến cư trú và khai mở.

Những người đầu tiên vào khai phá vùng đất này phần lớn là dân nghèo vùng Ngũ Quảng, Bình Định - Phú Yên, không chịu nổi ách áp bức của chế độ đương thời. Họ lần lượt tiến vào đây bằng đường biển với phương tiện chủ yếu là thuyền buồm và ghe bầu. Có một ít cư dân người Việt, người Hoa từ Biên Hòa, Gia Định, Mỹ Tho chuyển cư đến vùng đất mới. Đầu tiên, họ cư ngụ ở vùng đất nay là huyện Chợ Mới, xứ Sa Đéc (và tự nhận là dân "hai huyện") rồi đến vùng Châu Đốc, Tân Châu, sau đó mới hình thành các làng xã bờ Tây sông Hậu vào đầu thế kỷ XIX. Lúc đó ở Châu Đốc, Tân Châu dân cư cũng còn rất thưa thớt, cho nên vua Gia Long gọi là "Châu Đốc tân cương". Sau khi hoàn thành đào kinh Thoại Hà và kinh Vĩnh Tế, Nguyễn Văn Thoại mộ dân, lập làng Thoại Sơn ở bờ kinh Thoại Hà, cạnh Núi Sập năm 1822; lập 5 làng cặp bờ kinh Vĩnh Tế (Vĩnh Nguơn, Vĩnh Tế, Vĩnh Lạc, Vĩnh Gia, Vĩnh Điều), hình thành phủ Tĩnh Biên vào giữa thế kỷ XIX. Ở Đông Xuyên (nay là thành phố Long Xuyên), năm 1789, Chúa Nguyễn Ánh cho lập thủ Đông Xuyên một thời gian rồi bỏ, việc thành lập 2 thôn Bình Đức và Mỹ Phước cũng xảy ra vào đầu thế kỷ XIX, đồng thời với các thôn lập ở bờ Tây sông Hậu. Khi thành lập tỉnh An Giang, sách Đại Nam nhất thống chí ghi nhận số dân đinh tỉnh An Giang có 25.645 người.

Người Khmer có mặt ở An Giang sớm hơn người Việt. Thế kỷ XIII, Vương quốc Chân Lạp suy yếu luôn chịu sự tấn công, uy hiếp của vương triều Ayuthaya (Xiêm), đến nổi họ phải rời bỏ kinh đô Xiêm Riệp. Thế kỷ XIV, có những dòng di dân theo sông Mê Kông từ Lục Chân Lạp đến Thủy Chân Lạp. Đó là những cuộc di dân của sư sãi, quan chức, dân thường tránh loạn lạc, chiến tranh, nhất là khi vương triều Angkor tan vỡ trước sự xâm lược của vương triều Xiêm. Tỉnh An Giang hiện nay có vùng núi, không sình lầy ở các huyện Tri Tôn, Tịnh Biên, Thoại Sơn, phù hợp với tập quán cư trú và sinh sống của người Khmer nên có nhiều người Khmer dừng lại sinh sống, tạo nên cộng đồng người Khmer ở An Giang ngày nay.

Người Chiêm (Chăm) đến An Giang hơi muộn hơn người Việt. Năm 1757, Nguyễn Cư Trinh đã quan tâm xây đồn bảo ở đạo Châu Đốc và chiêu mộ người Côn Man (người Chiêm Islam di cư sang Chân Lạp) về trấn giữ biên thùy. Đây là nhóm người Chăm đầu tiên ở Châu Đốc và họ là hạt nhân thu hút những người anh em của họ ở Chân Lạp theo về trong hai thập kỷ đầu thế kỷ XIX. Triều Nguyễn thu nhận những người Chăm (có cả người Malaysia) bố trí ở 7 làng (Châu Giang, Katambong, Phũm Soài, Lama, Kacôi, Ka Coki, Sabâu) gần Châu Đốc với khoảng 5.000 người. Đến giữa thế kỷ XIX, người Chăm (có người Malaysia) còn vài đợt di cư về Châu Đốc do bất bình về sự phân biệt đối xử, bị khủng bố của vương triều Chân Lạp, tạo ra cộng đồng người Chăm (Chiêm) ở An Giang.

Người Hoa đến An Giang cùng thời gian với người Chăm. Người Hoa ở An Giang đến từ Mỹ Tho, Hà Tiên sau khi đất Tầm Phong Long được vua Nặc Tôn của Chân Lạp dâng nộp cho chúa Võ vương Nguyễn Phúc Khoát. Cuối thế kỷ XVIII, vùng Châu Đốc còn hoang vu, chưa có tổ chức xã thôn, dân chúng thưa thớt, chỉ có một vài sóc của người Khmer, một ít xóm Chăm. Đến năm 1808, vua Gia Long lập trấn Vĩnh Thanh, tháng 02/1816, lập đồn Châu Đốc và cho trấn thủ Vĩnh Thanh Lưu Phước Tường trông coi việc xây dựng đồn. Khoảng một năm sau, tháng 02/1817, đồn Châu Đốc được xây dựng xong. Đây là nơi quan trọng để bảo vệ Hà Tiên và hỗ trợ phòng thủ Nam Vang (của Chân Lạp). Bôn ba ở Nam Bộ nhiều năm, vua Gia Long đã từng nhận xét: "Châu Đốc, Hà Tiên bờ cõi không kém Bắc thành". Lúc đó cư dân ở Châu Đốc cũng còn rất ít. Sau khi đắp đồn Châu Đốc xong, Gia Long bổ nhậm Diệp Hội, một người Hoa có tài, mẫn cán, làm Cai phủ Châu Đốc, khiến chiêu tập người Việt, người Hoa vào đó cho đông. Tháng 11/1821, vua Minh Mạng sai giải những tù phạm bị sung quân và bị lưu (trên 130 người) ở Bắc Thành đi Gia Định. Chuẩn cho đến thành Gia Định thì được bỏ xiềng khóa rồi phát đi Châu Đốc cho theo Nguyễn Văn Thoại sai phái tạp dịch, hàng tháng cấp cho tiền gạo để nuôi. Sau khi đào xong kinh Vĩnh Tế, đến năm 1830, tổng trấn Gia Định thành báo: "Đồn Châu Đốc lập được 41 xã thôn phường, có 800 dân đinh, địa lợi chưa khẩn hết".

Tỉnh An Giang là địa bàn cuối cùng sáp nhập vào bản đồ Đại Việt, khi Nguyễn Cư Trinh tiếp nhận, cho lệ vào dinh Long Hồ, ranh giới hành chính lúc đó không rõ ràng. Thời kỳ đầu cũng chưa hình thành các xã, ấp, thôn. Cho đến khi vua Gia Long thống nhất đất nước mới có thôn ấp được lập nhưng còn rất thưa thớt./.

P.N

_______

[1] Ở Cù lao Giêng, huyện Chợ Mới ngày nay.

[2] Ở Sa Đéc.

 

Cao điểm tuyên truyền kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang 190 nămTinNgọc HânCao điểm tuyên truyền kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh /SiteAssets/HN-dinhthuong-q422-2.JPG
27/09/2022 11:00 SANoĐã ban hành
(TUAG)- Sáng ngày 27/9, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy phối hợp với Sở Thông tin và Truyền thông và Hội Nhà báo tỉnh tổ chức Hội nghị định hướng tuyên truyền quý IV/2022. Đồng chí Trần Thị Thanh Hương, UVBTVTU, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh; đồng chí Nguyễn Thanh Hải, Phó Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông; đồng chí Tân Văn Ngữ, Chủ tịch Hội Nhà báo tỉnh đồng chủ trì Hội nghị.

Toàn cảnh Hội nghị

Hội nghị tiến hành kiểm điểm tình hình dư luận xã hội và công tác tuyên truyền báo chí quý III, đề ra nhiệm vụ trọng tâm quý IV/2022. Trong quý, các cơ quan báo chí, truyền thông đã thực hiện nghiêm túc sự lãnh đạo, chỉ đạo, định hướng thông tin của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, quản lý nhà nước của Sở Thông tin và Truyền thông, bám sát mục tiêu giữ vững ổn định chính trị, tạo sự đồng thuận của xã hội và niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và chế độ; thông tin kịp thời, trung thực, toàn diện đời sống chính trị, kinh tế, xã hội ở trong nước, trong tỉnh.

Báo chí tiếp tục triển khai tốt, đúng tiến độ công tác tuyên truyền kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh và Hội nghị xúc tiến đầu tư tỉnh năm 2022. Làm tốt công tác tuyên truyền góp phần vào sự thành công chung của các sự kiện quan trọng của tỉnh như: Hội thảo Khoa học, chủ đề “An Giang – 190 năm hình thành và phát triển”; Chương trình “Khúc tráng ca hòa bình” tại điểm cầu An Giang; Hội đàm song phương ký kết bản ghi nhớ hợp tác giữa hai tỉnh An Giang và Champasak (Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào), qua đó góp phần quảng bá hình ảnh, quê hương con người An Giang...

PGĐ Sở Thông tin và Truyền thông Nguyễn Thanh Hải phát biểu


Chủ tịch Hội Nhà báo tỉnh Tân Văn Ngữ phát biểu

Công tác nắm bắt, phản ánh, phản hồi, định hướng dư luận tiếp tục phát huy hiệu quả, chất lượng ngày càng được nâng cao, thiết thực. Các vấn đề, vụ việc gây bức xúc, quan tâm của Nhân dân được phản ánh, giải quyết kịp thời, qua đó góp phần định hướng dư luận, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên địa bàn tỉnh.

Đại biểu tham gia thảo luận

Các đại biểu đã tập trung trao đổi, thảo luận những vấn đề xoay quanh các kết quả đạt được trong công tác tuyên truyền, phản ánh dư luận xã hội quý III/2022; những tồn tại trong công tác tuyên truyền, nắm tình hình dư luận xã hội; trách nhiệm của đội ngũ những người làm báo khi tham gia mạng xã hội; tiến độ tham gia Giải Búa liềm vàng tỉnh An Giang lần thứ II/2022; việc cung cấp thông tin chính thống đối với vấn đề dư luận quan tâm để các cơ quan báo chí thực hiệm nhiệm vụ tuyên truyền, định hướng dư luận xã hội;...

Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Trần Thị Thanh Hương kết luận Hội nghị

Phát biểu kết luận Hội nghị và định hướng tuyên truyền quý IV/2022, đồng chí Trần Thị Thanh Hương, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy biểu dương nỗ lực, sự quyết tâm của lực lượng báo chí đã thực tốt nhiệm vụ tuyên truyền trong quý III vừa qua.

Đồng chí Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy nhấn mạnh, qúy IV là khoảng thời gian diễn ra nhiều ngày lễ lớn và sự kiện lịch sử rất quan trọng của đất nước, của tỉnh, đồng chí đề nghị công tác tuyên truyền tập trung bám sát định hướng của Trung ương, của tỉnh, các công văn định hướng, chỉ đạo của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy.

Trên cơ sở các nội dung định hướng tuyên truyền đã nêu rõ trong báo cáo tình hình dư luận xã hội và công tác tuyên truyền báo chí quý III, nhiệm vụ trọng tâm quý IV/2022, đồng chí đề nghị quan tâm một số nội dung chính sau:

Thứ nhất, tuyên truyền Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh đồng chí Võ Văn Kiệt, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (23/11/1922 – 23/11/2022); đẩy mạnh tuyên truyền các sự kiện chào mừng kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang (1832-2022) và hướng đến Hội nghị Xúc tiến đầu tư tỉnh. Tuyên truyền sáng tác ca khúc về An Giang, thông qua hoạt động quan trọng và ý nghĩa này để tuyên truyền ca ngợi và lan tỏa rộng rãi, sâu sắc hình ảnh và những giá trị đặc sắc của vùng đất con người An Giang đến với bạn bè trong nước và quốc tế; tuyên truyền kết quả Giải Búa liềm vàng tỉnh An Giang lần thứ II/2022. Quan tâm tuyên truyền sự kiện “Hội thi Nhà nông đua tài” toàn quốc lần thứ V tổ chức tại An Giang diễn ra vào ngày 29/9 và 01/10.

Thứ hai, đăng tải các bài viết phân tích, tuyên truyền những kết quả nổi bật về phát triển kinh tế - xã hội trong 9 tháng đầu năm và cả năm 2022; đánh giá, phân tích làm rõ những cố gắng, nỗ lực của các cấp, các ngành, nêu bật quyết tâm của tỉnh trong việc triển khai thực hiện các chương trình, kế hoạch trọng điểm trong năm 2022. Tuyên truyền các vấn đề liên quan đến đời sống xã hội như: Biến đổi khí hậu; tình hình diễn biến thời tiếc phức tạp; công tác chăm lo sức khỏe cho Nhân dân;…

Quan tâm tuyên tuyên truyền triển khai thực hiện Dự án tuyến đường bộ cao tốc Châu Đốc – Cần Thơ – Sóc Trăng (giai đoạn 1) đoạn đi qua địa phận tỉnh An Giang, qua đó nâng cao nhận thức tạo sự đồng thuận của người dân trong việc phối hợp để dự án hoàn thành đúng tiến độ thời gian.

Tiếp tục tuyên truyền việc triển khai Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XI đi vào cuộc sống, các văn bản chỉ đạo về công tác xây dựng Đảng của Trung ương, của tỉnh, chính sách, pháp luật của Nhà nước mới ban hành; Kế hoạch của Ban Thường vụ Tỉnh ủy thực hiện Kế hoạch số 156-KH/BTGTW, ngày 14/6/2022 của Ban Tuyên giáo Trung ương về tăng cường công tác chỉ đạo, quản lý, chấn chỉnh hoạt động báo, tạp chí, trang thông tin điện tử, mạng xã hội trong giai đoạn hiện nay.

Thứ ba, tăng cường các tuyến tin, bài về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực gắn với định hướng dư luận xã hội về công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Thông tin, tuyên truyền về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, tiếp tục được duy trì và nâng chất, gắn kết chặt chẽ giữa đấu tranh trên báo chí với các loại hình truyền thông khác.

Để thực hiện tốt nhiệm vụ tuyên truyền, đồng chí đề nghị các cơ quan báo chí tuyên truyền quan tâm nội dung định hướng tuyên truyền hằng tuần, tháng, quý của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy. Tăng cường các thông tin tích cực, đăng tải có liều lượng phù hợp các tin, bài có nội dung phản ánh những hạn chế, bất cập, nhắc nhở và các vấn đề dư luận quan tâm.

Đề nghị Sở Thông tin và Truyền thông phối hợp với Công an tỉnh tăng cường giám sát các thông tin trên không gian mạng, kịp thời ngăn chặn, đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc trên mạng xã hội./.
NGỌC HÂN
Châu Thành thi đua chào mừng kỷ niệm 190 năm ngày thành lập tỉnh An GiangAn Giang 190 nămBài viếtTrung HiếuChâu Thành thi đua chào mừng kỷ niệm 190 năm ngày thành lập tỉnh An Giang/SiteAssets/CT-190nam-a.jpg
26/09/2022 10:00 SANoĐã ban hành

(TUAG)- Hướng đến kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang (1832 - 2022), Đảng bộ, chính quyền huyện Châu Thành (tỉnh An Giang) phát động phong trào thi đua, tích cực triển khai nhiều công trình, với sự đồng lòng, hưởng ứng tích cực của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân.

 CT-190nam-a.jpg

Khởi công xây dựng cầu nông thôn

Phó Chủ tịch UBND huyện Châu Thành Hồ Hữu Tài cho biết, cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương và ban, ngành, đoàn thể huyện đăng ký thực hiện nhiều công trình tiêu biểu chào mừng phù hợp với điều kiện, nhiệm vụ chính trị của từng địa phương, đơn vị. Đồng thời, đẩy mạnh tuyên truyền, hướng dẫn trang trí khẩu hiệu, chỉnh trang đô thị, vệ sinh môi trường; ra quân phòng, chống tội phạm, đảm bảo an ninh trật tự, an toàn giao thông, phòng, chống cháy nổ, an toàn vệ sinh thực phẩm; phòng, chống dịch bệnh hiệu quả…

Đảng bộ huyện Châu Thành tập trung triển khai sâu rộng, hiệu quả Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XIII). Đồng thời, thực hiện hiệu quả diễn đàn "Lắng nghe dân nói", "Đi tận ngõ, rõ từng nhà", nhằm lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của người dân để tháo gỡ khó khăn, giải quyết kịp thời những vấn đề bức xúc, nổi cộm trên các lĩnh vực được đông đảo người dân quan tâm. Qua đó, tạo được niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, quản lý điều hành của nhà nước.

Phong trào thi đua trong các cơ quan Đảng, đoàn thể được đẩy mạnh, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, tạo đồng thuận cao trong thực hiện nhiệm vụ chính trị của huyện. Trưởng ban Dân vận Huyện ủy, Chủ tịch UBMTTQVN huyện Châu Thành Đoàn Hồng Danh cho biết: "Các phong trào thi đua kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh do MTTQVN và tổ chức đoàn thể, chính trị - xã hội thực hiện đều được tổ chức có trọng tâm, trọng điểm, bằng những công trình, phần việc cụ thể, thiết thực".

UBMTTQVN các cấp trên địa bàn huyện cùng tổ chức thành viên tích cực vận động Quỹ Vì người nghèo - An sinh xã hội; huy động hiệu quả nguồn lực chăm lo đời sống vật chất cho hộ nghèo, cận nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn, với phương châm "Công khai, minh bạch, kịp thời và đúng đối tượng", trên tinh thần "Không để ai bị bỏ lại phía sau". Các hoạt động sửa chữa, cất nhà Tình thương, Tình nghĩa, Đại đoàn kết; tặng quà, cứu trợ người nghèo, trao tặng học bổng cho học sinh nghèo; xây dựng cầu, đường nông thôn; cấp thuốc miễn phí cho bà con nghèo… nhận được sự quan tâm của toàn xã hội.

 CT-190nam-b.jpg

Khánh thành công trình "Năng lượng xanh thắp sáng lộ giao thông nông thôn" tại xã Bình Thạnh

Phong trào thi đua "Dân vận khéo" đã huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị. Năm 2022, huyện Châu Thành có 26 cơ quan, địa phương đăng ký thực hiện 409 mô hình thi đua "Dân vận khéo" và "Dân vận khéo trong xây dựng nông thôn mới (NTM)". Trong đó, 136 mô hình tập thể và 98 mô hình cá nhân "Dân vận khéo" của Đảng; 111 mô hình tập thể và 64 mô hình cá nhân "Dân vận khéo trong xây dựng NTM" trên các lĩnh vực: Kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh, xây dựng hệ thống chính trị.

Xác định xây dựng NTM là nhiệm vụ chính trị quan trọng, huyện Châu Thành huy động nguồn lực đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng tại khu vực nông thôn gắn với xây dựng NTM bằng nhiều hình thức phong phú. "Hầu hết công trình điểm được xã, thị trấn đăng ký thực hiện chào mừng kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh đều liên quan đến lĩnh vực xây dựng hạ tầng giao thông và chỉnh trang diện mạo đô thị, nông thôn. Trong đó, tập trung vào công trình trọng điểm, quan trọng, có sức lan tỏa, tạo đột phá lớn, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội của địa phương và huyện phát triển" - ông Hồ Hữu Tài chia sẻ.

CT-190nam-c.jpg 

Bàn giao nhà Đại đoàn kết cho người nghèo

Huyện Châu Thành thực hiện các công trình kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang trên tinh thần tiết kiệm, đảm bảo chất lượng và đúng tiến độ đề ra. Qua đó, tạo không khí phấn khởi, hăng say thi đua trong lao động, sản xuất, học tập của cán bộ, nhân dân toàn huyện, phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ huyện trong năm 2022. Ngoài các công trình tiêu biểu của xã, thị trấn, huyện Châu Thành đăng ký thực hiện 2 công trình cấp huyện, gồm: Xây dựng cảnh quan phía trước trụ sở Trung đoàn Cảnh sát cơ động Tây Nam Bộ (xã Bình Hòa); xây dựng nâng cấp Tỉnh lộ 947, dài hơn 2km (đoạn qua thị trấn Vĩnh Bình).

Thiết thực lập thành tích chào mừng kỷ niệm 190 năm ngày thành lập tỉnh An Giang, ngoài các công trình tiêu biểu của các xã, thị trấn trên địa bàn, huyện Châu Thành đăng ký thực hiện 2 công trình cấp huyện, gồm: Xây dựng cảnh quan phía trước trụ sở Trung đoàn Cảnh sát cơ động Tây Nam Bộ (xã Bình Hòa) và xây dựng nâng cấp tuyến Tỉnh lộ 947, với chiều dài hơn 2km (thị trấn Vĩnh Bình).

Trung Hiếu

Khai mạc trại thực tế sáng tác ca khúc về An GiangAn Giang 190 nămTinThanh HảiKhai mạc trại thực tế sáng tác ca khúc về An Giang/SiteAssets/Khaimactraisangtac-cakhuc-1.jpg
21/09/2022 5:00 CHNoĐã ban hành

(TUAG) Chiều ngày 21/9, tại Nhà khách Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố Long Xuyên, Ban Tổ chức sáng tác ca khúc về An Giang long trọng tổ chức khai mạc trại thực tế sáng tác.

 Khaimactraisangtac-cakhuc-1.jpg

Quang cảnh khai mạc trại thực tế sáng tác

 Khaimactraisangtac-cakhuc-2.jpg

Đại biểu dự khai mạc trại thực tế sáng tác

Tham dự khai mạc có Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Lê Hồng Quang - Trưởng Ban Tổ chức; Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Trần Anh Thư - Phó Ban Tổ chức; Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Thái Thúy Xuân - Phó Ban Tổ chức; cùng các đồng chí thành viên Ban Tổ chức và 30 nhạc sĩ đến từ các tỉnh, thành khu vực phía Nam và hội viên Chi hội Nhạc sĩ Việt Nam tỉnh An Giang cùng tham dự.

Trại thực tế sáng tác ca khúc về An Giang diễn ra từ ngày 20 - 23/9/2022 với sự tham dự của 30 nhạc sĩ trong và ngoài tỉnh. Các nhạc sĩ tham gia trại được Ban Tổ chức tạo điều kiện tham quan các danh lam, thắng cảnh và di tích văn hóa - lịch sử tiêu biểu như: Khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng, Cù Lao Giêng, di tích cột Dây Thép - huyện Chợ Mới, An Hòa Tự, Tổ đình Phật giáo Hòa Hảo - huyện Phú Tân, Giồng Thành, làng Chăm - xã Châu Phong, thị xã Tân Châu, Rừng Tràm Trà Sư, Lâm viên núi Cấm, Miếu bà Chúa xứ Núi Sam, làng bè Châu Đốc, lăng Thoại Ngọc Hầu, Đồi Tức Dụp - huyện Tri Tôn, Óc Eo - Ba Thê, huyện Thoại Sơn… Đây là hoạt động thiết thực giúp các nhạc sĩ có điều kiện thâm nhập thực tế để tìm chất liệu, nguồn cảm hứng sáng tác những ca khúc ca ngợi nét đẹp về văn hóa, con người An Giang; thành quả sáng tạo trong lao động, sản xuất, xây dựng quê hương.

Khaimactraisangtac-cakhuc-3.jpg 

Đồng chí Lê Hồng Quang, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy - Trưởng Ban Tổ chức phát biểu

Phát biểu chỉ đạo định hướng cho trại thực tế sáng tác, đồng chí Lê Hồng Quang, Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy - Trưởng Ban Tổ chức cảm ơn các nhạc sĩ đã dành sự quan tâm và tham gia trại. Đồng thời chúc các nhạc sĩ sẽ có nhiều năng lượng, nguồn cảm hứng và thăng hoa cảm xúc, sáng tác những ca khúc mang tính nghệ thuật cao về An Giang - quê hương chủ tịch Tôn Đức Thắng. Đồng chí tin tưởng qua trại sáng tác sẽ để lại có nhiều ca khúc có giá trị để đời, ca ngợi vẻ đẹp quê hương đất nước nói chung, vùng đất An Giang nói riêng để qua đó góp phần quảng bá hình ảnh địa phương, khơi dậy niềm tự hào và khát vọng của Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân tỉnh An Giang trong quá trình đổi mới, phát triển nhân sự kiện kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh.

 Khaimactraisangtac-cakhuc-4.jpg

Lãnh đạo tỉnh An Giang chụp hình lưu niệm với các nhạc sĩ tham gia trại thực tế sáng tác

Sáng tác ca khúc về An Giang được Ban Thường vụ Tỉnh ủy An Giang chỉ đạo tổ chức nhân kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh (1832-2022) và chính thức phát động từ ngày 15/7/2022; hạn chót nhận tác phẩm vào ngày 15/10/2022; thời gian đánh giá tác phẩm tham gia từ ngày 16-23/10/2022; dự kiến lễ tổng kết và trao thưởng diễn ra vào trung tuần tháng 11.2022 và được truyền hình trực tiếp trên sóng Đài Phát thanh và Truyền hình An Giang. Tiền thưởng cho tác phẩm đạt giải A lên đến 200 triệu đồng. Ngoài ra còn có 10 giải Khuyến khích có giá trị 50 triệu đồng/giải. Nguồn kinh phí tổ chức và trao thưởng cho các tác phẩm sử dụng từ nguồn ngân sách địa phương và các nguồn xã hội hóa. Đến nay, Ban Tổ chức đã tiếp nhận được 294 ca khúc của 170 nhạc sĩ trong và ngoài tỉnh gửi tham gia.

THANH HẢ

Họp báo thông tin tổ chức sáng tác ca khúc về An GiangTinNgọc HânHọp báo thông tin tổ chức sáng tác ca khúc về An Giang/SiteAssets/Hopbao-sangtac-cakhucag-1.JPG
16/09/2022 5:00 CHNoĐã ban hành

(TUAG)- Chiều ngày 16/9, Ban Tổ chức sáng tác ca khúc về An Giang tổ chức Họp báo thông tin tổ chức sáng tác ca khúc về An Giang. Đồng chí Nguyễn Khánh Hiệp, TUV, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Phó Trưởng Ban tổ chức sáng tác ca khúc về An Giang; đồng chí Thái Thúy Xuân, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Phó Trưởng Ban tổ chức sáng tác ca khúc về An Giang; cùng thành viên Ban tổ chức: Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông Lê Quốc Cường; Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Bùi Quang Vinh, đồng chủ trì họp báo.

Hopbao-sangtac-cakhucag-1.JPG

Quang cảnh buổi họp báo

Hopbao-sangtac-cakhucag-2.JPG

Đồng chí Thái Thúy Xuân, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Phó Trưởng Ban tổ chức phát biểu

Phát biểu tại buổi Họp báo, Phó Trưởng Ban Tổ chức sáng tác ca khúc về An Giang Thái Thúy Xuân nhấn mạnh chủ trương tổ chức sáng tác ca khúc về An Giang của Ban Thường vụ Tỉnh ủy An Giang, với mong muốn thông qua hoạt động quan trọng và ý nghĩa này để có nhiều hơn nữa các tác phẩm âm nhạc có chất lượng, ca ngợi và lan tỏa rộng rãi, sâu sắc hình ảnh và những giá trị đặc sắc của vùng đất con người An Giang đến với bạn bè gần xa, qua đó tạo thành động lực, khơi lên khát vọng của Đảng bộ, chính quyền, quân và dân An Giang cùng chung sức, đồng lòng xây dựng và phát triển quê hương.

Hopbao-sangtac-cakhucag-4.JPG

Đồng chí Nguyễn Khánh Hiệp, TUV, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Phó Trưởng Ban tổ chức phát biểu

Hopbao-sangtac-cakhucag-5.JPG

PGS.TS, Nhạc sĩ Võ Văn Thắng - TUV, Hiệu trưởng Trường Đại học An Giang, thành viên Ban Tổ chức phát biểu

Hopbao-sangtac-cakhucag-3.JPG

Phóng viên đặt câu hỏi với Ban tổ chức

Qua 02 tháng phát động, Ban Tổ chức đã tiếp nhận 285 tác phẩm tham gia dự thi, để sáng tác ca khúc về An Giang lan tỏa nhiều hơn nữa, đảm bảo mục đích, yêu cầu đề ra, đồng chí Thái Thúy Xuân kêu gọi các nhà báo, phóng viên tham dự buổi họp báo, từ những thông tin thu nhận được, tích cực viết bài lan toả rộng rãi thông tin về sự kiện, giúp cho sáng tác ca khúc về An Giang nhận được sự hưởng ứng rộng rãi, đông đảo hơn nữa của các tác giả trong, ngoài tỉnh.

Phó Trưởng Ban Tổ chức sáng tác ca khúc về An Giang Thái Thúy Xuân cũng đề nghị các thành viên trong Ban Tổ chức, Tổ Thư ký giúp việc; lãnh đạo các địa phương, cơ quan, đơn vị trong tỉnh quan tâm thực hiện một số nhiệm vụ:

Thứ nhất, cung cấp đầy đủ các nội dung thông tin liên quan cho đội ngũ phóng viên, nhà báo tham dự buổi họp báo; đồng thời tạo điều kiện thuận lợi nhất có thể, giúp lực lượng phóng viên, nhà báo tiếp cận khai thác dữ liệu để viết tin bài thông tin, tuyên truyền, quảng bá sáng tác ca khúc về An Giang trên các phương tiện truyền thông trong và ngoài tỉnh để lan tỏa, tạo sự đồng thuận, hưởng ứng của văn nghệ sỹ và bạn yêu nhạc gần xa.

Thứ hai, quan tâm triển khai thật chu đáo công tác tổ chức trại thực tế sáng tác ca khúc về An Giang theo kế hoạch, đảm bảo theo tiến độ, nội dung, đáp ứng các mục đích, yêu cầu đề ra.

Thứ ba, các cơ quan báo chí trong tỉnh, các địa phương, đơn vị đẩy mạnh hơn nữa công tác thông tin, tuyên truyền; giới thiệu, quảng bá về các giá trị lịch sử, văn hoá truyền thống; những thành tựu của địa phương, đơn vị; những danh lam thắng cảnh; tiềm năng, thế mạnh của các địa phương, đơn vị… tạo cảm hứng sáng tác cũng như quảng bá, nâng cao vị thế, hình ảnh của tỉnh trong mắt bạn bè gần xa.

Nội dung Thông cáo báo chí nêu rõ: Tác phẩm tham sáng tác ca khúc về An Giang yêu cầu phải có nội dung tư tưởng phù hợp với truyền thống văn hóa, giá trị lịch sử của cuộc cách mạng giải phóng quê hương An Giang và những thành tựu, giá trị cao đẹp của cuộc sống, con người, cảnh quan thiên nhiên riêng có về vùng đất An Giang trong quá trình xây dựng, phát triển kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Các tác phẩm được lựa chọn phải có sức lay động, lan tỏa, truyền cảm hứng để khích lệ người dân thêm yêu mến và tự hào về vùng đất, con người An Giang - quê hương Chủ tịch Tôn Đức Thắng.

Đối tượng tham gia là các nhạc sĩ chuyên nghiệp, không chuyên nghiệp trong và ngoài tỉnh, các tác giả là công dân Việt Nam đang sinh sống, làm việc ở trong và ngoài nước. Ngoài ra, Ban Tổ chức còn mời nhạc sĩ chuyên nghiệp của Hội Nhạc sĩ Việt Nam để đặt hàng sáng tác ca khúc về An Giang. Không giới hạn số lượng tác phẩm.

Về nội dung tác phẩm, các tác phẩm tham gia sáng tác ca khúc về An Giang tập trung phản ánh về các nội dung: Ca ngợi, nâng cao nhận thức về lòng tự hào dân tộc, truyền thống quê hương An Giang, tinh thần yêu nước, biết quý trọng độc lập tự do, sự hy sinh lớn lao của các thế hệ đi trước cũng như những thành tựu Đảng bộ tỉnh và Nhân dân tỉnh An Giang đạt được trong 190 năm qua; ca ngợi thành tựu và kết quả đạt được của quá trình xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng; công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong thời gian qua; ca ngợi tình yêu lứa đôi, tình yêu thương con người và tình yêu quê hương An Giang. Giới thiệu, quảng bá hình ảnh con người, nét đẹp thiên nhiên, văn hóa của các dân tộc cùng nhau đoàn kết, sinh sống và góp phần xây dựng, phát triển tỉnh An Giang - quê hương Chủ tịch Tôn Đức Thắng ngày càng phồn vinh, hạnh phúc.

Ban Tổ chức trao thưởng cho các tác phẩm tham gia sáng tác ca khúc về An Giang được chọn gồm: 01 Giải A: 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng); 10 Giải Khuyến khích: Mỗi giải 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng).

Ban Tổ chức sẽ lựa chọn một số tác phẩm đạt giải, dàn dựng tiết mục biểu diễn tại buổi tổng kết, trao giải và sử dụng các tác phẩm có chất lượng tốt vào các hoạt động của tỉnh An Giang.

Thời gian phát động sáng tác ca khúc về An Giang từ ngày 15/7/2022. Hạn chót nhận tác phẩm tham gia: đến hết ngày 15/10/2022.

Dự kiến thời gian tổ chức tổng kết và trao giải vào trung tuần tháng 11/2022. Lễ tổng kết và trao giải được truyền hình trực tiếp tại Phim trường 4, Đài Phát thanh - Truyền hình An Giang.

Thông tin Thể lệ tham gia sáng tác ca khúc về An Giang được đăng tải công khai trên Báo An Giang, Đài Phát thanh - Truyền hình An Giang, Cổng Thông tin điện tử Đảng bộ tỉnh An Giang; Cổng Thông tin điện tử của các đơn vị: Hội Nhạc sĩ Việt Nam, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Thông tin và Truyền thông, Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật.

Với sự quyết tâm của lãnh đạo tỉnh, sự chuẩn bị chu đáo của Ban Tổ chức, sự đồng hành của cơ quan báo chí, truyền thông trong và ngoài tỉnh, tin tưởng rằng, sáng tác ca khúc về An Giang sẽ thành công tốt đẹp, có sức lan tỏa sâu rộng và đạt hiệu quả như mong muốn là chọn ra những tác phẩm tiểu biểu, có sức mạnh lay động, lan tỏa, truyền cảm hứng để khích lệ người dân thêm yêu mến và tự hào về vùng đất, con người An Giang - quê hương Chủ tịch Tôn Đức Thắng./.

NGỌC HÂN

Gia hạn thời gian nhận tác phẩm tham gia sáng tác ca khúc về An GiangAn Giang 190 nămTinTrúc LinhGia hạn thời gian nhận tác phẩm tham gia sáng tác ca khúc về An Giang/SiteAssets/Logo-AG.jpg
13/09/2022 4:30 CHNoĐã ban hành

(TUAG)- Ngày 13/9/2022, Ban Tổ chức sáng tác ca khúc về An Giang ra thông báo gia hạn thời gian nhận tác phẩm tham gia sáng tác ca khúc về An Giang.


Theo đó, thời gian nhận tác phẩm tham gia đến hết ngày 15/10/2022. Thời gian đánh giá tác phẩm từ ngày 16/10 - 23/10/2022. Thời gian tổng kết và trao giải vào trung tuần tháng 11/2022.

Tác giả gửi hồ sơ tham gia về Ban Tổ chức theo địa chỉ mail: sangtaccakhucangiang@gmail.com . Nội dung mail ghi rõ: "Tác phẩm tham gia sáng tác ca khúc về An Giang".

Tác giả có thể gửi trực tiếp hoặc qua đường bưu điện theo địa chỉ: Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy An Giang, số 6, Nguyễn Đăng Sơn, phường Mỹ Bình, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Ngoài bìa hồ sơ ghi rõ: "Tác phẩm tham gia sáng tác ca khúc về An Giang".

Chi tiết thể lệ tham gia sáng tác ca khúc về An Giang đã được đăng tải trên Báo An Giang, Đài Phát thanh - Truyền hình An Giang, Cổng thông tin điện tử Đảng bộ tỉnh, Cổng thông tin điện tử của các đơn vị: Hội Nhạc sĩ Việt Nam, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Thông tin và Truyền thông, Liên hiệp các hội văn học nghệ thuật tỉnh.

Chi tiết thông báo thể lệ: [02-TB_BTC]-Thể lệ tham gia sáng tác ca khúc về An Giang_15.7.2022.pdf

Trúc Linh

Mặt trận Tổ quốc thi đua chào mừng kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An GiangAn Giang 190 nămBài viếtTrung HiếuMặt trận Tổ quốc thi đua chào mừng kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang/SiteAssets/MTTQ-tinh-thidua-190tinh-1.jpg
07/09/2022 9:00 SANoĐã ban hành

(TUAG)- Từ đầu năm đến nay, UBMTTQVN các cấp trong tỉnh đã tập trung đẩy mạnh và nâng cao chất lượng các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội với nhiều đổi mới, mang lại hiệu quả thiết thực. Qua đó, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giữ vững quốc phòng, an ninh tại địa phương.

Lãnh đạo UBMTTQVN tỉnh trao bảng tượng trưng nhà Đại Đoàn kết cho người dân

UBMTQVN và các tổ chức chính trị xã hội, đoàn thể trong tỉnh đã tăng cường tổ chức thực hiện, vận động cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động do MTTQVN phát động, như: Phong trào “Cả nước chung tay vì người nghèo, không để ai bị bỏ lại phía sau”, gắn với Cuộc vận động “Toàn xây đoàn kết xây dựng nông thôn mới (NTM), đô thị văn minh”, Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, gắn với việc đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh…

Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng NTM, đô thị văn minh” đã được triển khai sâu rộng đến các khu dân cư trên địa bàn toàn tỉnh với những tiêu chuẩn, tiêu chí cụ thể. Ban Thường trực UBMTTQVN các huyện, thị xã, thành phố tổ chức tuyên truyền trong nhân dân thực hiện các tiêu chí về xây dựng NTM, đô thị văn minh trên địa bàn, nhất là ở các xã đang xây dựng NTM, NTM nâng cao. MTTQ các cấp và các tổ chức thành viên đã tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân cùng nhau đoàn kết phát triển kinh tế, giúp đỡ nhau giảm nghèo, vươn lên làm giàu chính đáng với các việc làm cụ thể, như: Hỗ trợ vốn vay ưu đãi, vật tư, cây, con giống, kinh nghiệm sản xuất; ứng dựng tiến bộ khoa học - kỹ thuật để chuyển đổi cơ cấu sản xuất, cơ cấu cây trồng, vật nuôi; huy động các nguồn lực xã hội để hỗ trợ người nghèo xóa nhà tạm, nhà dột nát…

Thực hiện cuộc vận động “Cả nước chung tay vì người nghèo - không để ai bị bỏ lại phía sau”, UBMTTQVN các cấp trong tỉnh tổ chức hiệp thương, phối hợp các đoàn thể đăng ký hỗ trợ, giúp đỡ hộ nghèo có địa chỉ. Đồng thời, phối hợp với các tổ chức thành viên, vận động các doanh nghiệp trong tỉnh thiết thực chăm lo, đảm bảo đời sống cho các đối tượng chính sách, người có công, hưởng trợ cấp xã hội, người nghèo, các đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh.

Ban Thường trực UBMTTQVN tỉnh đã đăng ký công trình chào mừng kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang với nội dung: “UBMTTQVN các cấp trong tỉnh cất mới 1.000 căn nhà Đại đoàn kết với tổng giá trị 50 tỷ đồng từ nguồn vận động xã hội hóa của công ty, doanh nghiệp,… thông qua hoạt động của Quỹ “Vì người nghèo” các cấp. Trong đó, cấp tỉnh thực hiện 400 căn, cấp huyện, thị xã, thành phố thực hiện 600 căn”.

Tính từ đầu năm đến ngày 10/8/2022, Ban Vận động Quỹ “Vì người nghèo” các cấp trong tỉnh đã vận động nguồn lực thực hiện cất mới được 1.484 căn nhà, với tổng số tiền là 75,340 tỷ đồng. Cụ thể, Ban Thường trực UBMTTQVN và Ban Vận động Quỹ “Vì người nghèo” tỉnh đã vận động nguồn lực từ các tổ chức, công ty, doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh hỗ trợ cất mới 583 căn nhà Đại đoàn kết, trị giá 28,150 tỷ đồng. Ban Thường trực UBMTTQVN và Ban Vận động Quỹ “Vì người nghèo” các huyện, thị xã, thành phố phối hợp với các xã, phường, thị trấn tổ chức cất mới được 901 căn nhà Đại đoàn kết, trị giá 47,190 tỷ đồng. Mỗi căn nhà được cất mới đảm bảo tiêu chí “3 cứng”, có giá trị tối thiểu 50 triệu đồng/căn. Trong đó, các đơn vị tài trợ từ 40 - 50 triệu đồng/căn, phần còn lại do các địa phương vận động và gia đình đối ứng.

Ngoài ra, nhiều địa phương đã phát huy được tinh thần tương thân tương ái của cộng đồng, xây dựng được nhiều tổ chức cất nhà từ thiện, như: “Đội cất nhà từ thiện” ở thị xã Tân Châu; “Hội Mái ấm tình thương” ở huyện Thoại Sơn và Châu Thành; “Tổ cất nhà từ thiện” ở huyện Châu Phú, Chợ Mới,... Qua đó, đóng góp hàng ngàn ngày công làm giảm chi phí công thợ, bên cạnh còn vận động tiền và hiện vật hỗ trợ thêm cho những gia đình quá khó khăn.

Trao nhà Đại đoàn kết cho các hộ nghèo

Phó Chủ tịch Thường trực UBMTTQVN tỉnh Nguyễn Thị Tuyết Minh cho biết: Nhờ sự quan tâm lãnh chỉ đạo thường xuyên của cấp ủy Đảng, sự phối hợp nhịp nhàng với chính quyền và các ngành ở địa phương trong quá trình triển khai thực hiện, nên công tác xây dựng nhà Đại đoàn kết mang lại kết quả thiết thực, góp phần quan trọng trong thực hiện công tác an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh. Chất lượng xây dựng nhà ở cho hộ nghèo được khang trang, đảm bảo theo tiêu chí “3 cứng” và các công trình phụ đảm bảo theo quy cách, với chất lượng cao nhất.

Phó Chủ tịch Thường trực UBMTTQVN tỉnh Nguyễn Thị Tuyết Minh đề nghị: Thời gian tới, UBMTTQVN các cấp phối hợp với các tổ chức chính trị, đoàn thể trong tỉnh tếp tục đổi mới nội dung, hình thức và phương pháp tổ chức các phong trào thi đua gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị của Mặt trận Tổ quốc các cấp gắn với hoạt động kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang (1832-2022) và các nhiệm vụ chính trị của địa phương. Bên cạnh đó, kịp thời phát hiện, biểu dương gương điển hình, nhân rộng các mô hình, cách làm hay, hiệu quả; phát huy tinh thần đoàn kết, “Tương thân tương ái” của cộng đồng, góp phần nâng cao đời sống người dân, thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội địa phương…

TRUNG HIẾU

Những biến đổi xã hội ở An Giang khi thực dân Pháp đẩy mạnh chính sách khai thác thuộc địa trong những năm 1920 - 1930An Giang 190 nămBài viếtP.NNhững biến đổi xã hội ở An Giang khi thực dân Pháp đẩy mạnh chính sách khai thác thuộc địa trong những năm 1920 - 1930/SiteAssets/tong-khoi-nghia-g.jpg
25/08/2022 5:00 CHNoĐã ban hành

(TUAG)- Sau chiến tranh thế giới thứ I (1914 - 1918), thực dân Pháp tiến hành khai thác thuộc địa lần II, chủ yếu chiếm đoạt ruộng đất, mở rộng diện tích và vơ vét lúa gạo xuất khẩu. Tính đến năm 1930, số diện tích khai thác ở Châu Đốc 87.200 ha và Long Xuyên 105.000 ha([1]). Quá trình chiếm đoạt ruộng đất của điền chủ diễn ra ác liệt với kiểu khẩn đất theo lối "chồng bộ", "úp bộ" khiến người nông dân trắng tay trở thành tá điền. Năm 1930, tư bản Pháp và Nhà chung (giáo hội địa phận - nhà thờ) ở Long Xuyên, Châu Đốc sở hữu 1/5 diện tích canh tác. Số đất còn lại, điền chủ có từ 50 ha trở lên chiếm 50% diện tích trong khi họ chỉ chiếm 4,3% dân số ở Long Xuyên và 0,6% dân số ở Châu Đốc([2]).

tong-khoi-nghia-g.jpg

Sự phân hóa các giai tầng xã hội

Chính sách khai thác lần II của thực dân Pháp đã làm cho các tầng lớp nhân dân An Giang có sự phân hóa rõ nét:

- Tầng lớp địa chủ hình thành từ nhiều thành phần khác nhau như quan lại phong kiến (Huyện Chơn, Phủ Vị); tay sai Pháp (Cai tổng Cần, Hương quản Linh); công chức (Đốc Định, Trường tiền Son, Cò Noblet); tư sản thương nghiệp, cho vay (Từ Vạn Khương, Tăng Kim Tiệt)... Dù xuất thân từ nguồn gốc nào, họ vẫn là thành phần đặc quyền, đặc lợi gắn bó chặt chẽ với chính quyền thực dân Pháp cả về kinh tế lẫn chính trị và họ tồn tại, làm giàu bằng sự bóc lột, vơ vét tá điền bởi các loại tô, tức, lao dịch, cống nạp v.v...

- Tầng lớp tư sản dân tộc ở An Giang chưa hình thành độc lập vì bị tư sản Pháp và Hoa kiều chèn ép. Họ chỉ hoạt động ở một số ngành phụ thuộc như mua bán, xay xát, dệt, mộc, gạch ngói, nước mắm...

- Tầng lớp tiểu tư sản trí thức phần lớn xuất thân từ Nho học, có mối quan hệ gắn bó với người lao động, sớm tiếp thu tinh thần yêu nước của các phong trào Văn Thân, Cần Vương, Đông Du, Duy Tân... Họ nhạy bén với thời cuộc, có khả năng tiếp thu và truyền bá những tư tưởng tiến bộ vào nhân dân, nhất là từ sau năm 1925, bắt đầu từ phong trào đòi ân xá Phan Bội Châu, phong trào để tang Phan Chu Trinh.

- Giai cấp nông dân là lực lượng đông đảo và bị áp bức, bóc lột nặng nề nhất ở An Giang bởi địa chủ (tô, tức), thực dân (sưu, thuế) và luôn bị thiên tai, dịch bệnh đe dọa cuộc sống. Với truyền thống yêu nước, nông dân An Giang đã không ngừng chống Pháp dưới ngọn cờ phong kiến nhưng vẫn chưa tìm ra được con đường giải thoát kiếp trâu cày, ngựa cỡi của mình.

- Do đặc điểm lịch sử và nền kinh tế nông nghiệp kiểu phong kiến chi phối, ở An Giang không có giai cấp công nhân, mà hầu hết là tầng lớp thợ thủ công xuất thân từ giai cấp nông dân, từ những người bị bần cùng hóa không còn tư liệu sản xuất. Đa số thợ thủ công vào xưởng trại làm công nhật (như xưởng dệt tay, trại cưa, trại mộc...). Do điều kiện lao động tương đối tập trung (như mộc, dệt ở Chợ Mới, Tân Châu; đập đá ở núi Sam, núi Sập v.v...) là lao động có kỹ thuật, kỷ luật nên họ được xem là lực lượng tích cực và tiến bộ ở nông thôn lúc bấy giờ.

Cũng như nhiều nơi khác ở miền Tây Nam Kỳ trong những năm 1920 – 1930, ở An Giang, thực dân Pháp đề ra các chính sách, biện pháp khắc nghiệt như ngu dân, chia để trị, đầu độc người dân bằng rượu cồn, thuốc phiện v.v... để đối phó với những làn sóng tư tưởng tiến bộ tràn vào. Nhưng những việc làm đó cũng không thể nào ngăn chặn được hạt giống cách mạng nảy mầm và nhanh chóng bén rễ trên vùng đất đã từng liên tục đối mặt với nạn ngoại xâm, bắt đầu với những thanh niên yêu nước như Tôn Đức Thắng, Châu Văn Liêm, Ung Văn Khiêm, Nguyễn Văn Cưng, Trần Văn Thạnh...

Những biến chuyển của phong trào yêu nước

Đầu thế kỷ XX, làn tư tưởng dân chủ tư sản tràn vào nước ta và có ảnh hưởng mạnh mẽ đối với những người trí thức yêu nước Việt Nam. Hàng loạt tổ chức, đảng phái chính trị ra đời ở Nam Kỳ làm cho phong trào yêu nước mang đủ các màu sắc và hoạt động khá sôi nổi: dân tộc - đề huề, cách mạng - cải lương, bạo động - ôn hòa, chính đảng - tôn giáo...nổi bật trong số người chủ xướng phong trào theo xu hướng dân chủ tư sản là Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn An Ninh.

Hoạt động của các phong trào này đã, tác động đến tinh thần đấu tranh của nhân dân Long Xuyên - Châu Đốc, lôi kéo nhiều trí thức, thanh niên, học sinh tham gia.

Vào những năm 1925 - 1926, phong trào hội kín Nguyễn An Ninh, còn gọi là "Thanh niên cao vọng Đảng", thu hút một bộ phận thanh niên trí thức Long Xuyên - Châu Đốc, trong đó có Lê Triệu Kiết hoạt động mạnh ở vùng Kiến An, Chợ Mới.

Lê Triệu Kiết sau khi lập gia đình, chịu ảnh hưởng tư tưởng của cha vợ (ông Triệu Hiển Diệu, tự Đạt - một thầy thuốc có chân trong phong trào Cần Vương) nên ông sớm có ý thức chống Pháp. Lê Triệu Kiết cùng một số thanh niên yêu nước khác như Lê Văn Khiết, Lê Duy Hinh... lập ra hiệu thuốc bắc "Bảo Hòa Đường" nhằm nghi trang làm điểm liên lạc, hội họp. Hoạt động của hội chủ yếu là bàn luận về thời sự, đọc các sách báo tiến bộ, đặc biệt là tờ "Tiếng chuông rè" (La cloche fêlée) của Nguyễn An Ninh và những bài hịch tâm huyết của Phan Bội Châu. Thời gian sau, hội thành lập thêm hai tiệm "Bảo An Đường" và "Lão Thọ Đường" để mở rộng hoạt động. Bằng những hoạt động tích cực, tổ chức này khá phát triển và gây ảnh hưởng đáng kể.

Trong khoảng thời gian này, phong trào đòi thả Phan Bội Châu, để tang Phan Chu Trinh rầm rộ khắp nơi đã tác động, lôi cuốn nhiều giáo viên, học sinh Long Xuyên - Châu Đốc tích cực tham gia. Hạt nhân nòng cốt có nhiều uy tín trong giới thanh niên, trí thức hoạt động tích cực trong phong trào là Châu Văn Liêm.

Sinh ra trong một gia đình nho giáo ở Ô Môn (Cần Thơ), Châu Văn Liêm sớm tiếp thu truyền thống yêu nước của gia đình. Những năm học ở trường Sư phạm Sài Gòn (1923 - 1924), Châu Văn Liêm được tiếp xúc với sách báo tiến bộ và những người yêu nước, ông tham gia phong trào đấu tranh của sinh viên chống lại luật lệ thi cử bất công của Nha Học chính Pháp.

Cuối năm 1924, Châu Văn Liêm ra trường được bổ về dạy tại trường Nữ Long Xuyên. Thầy giáo Liêm thường đấu tranh với tên Đốc học về quan điểm và lề lối giảng dạy nên bị bọn cầm quyền đổi về dạy trường Chợ Thủ (Long Điền, Chợ Mới).

Đến nơi mới, thầy giáo Liêm càng có điều kiện vận động quần chúng lao động chống lại lề thói bất công của quan làng địa chủ và đả kích hủ tục phong kiến. Thầy đã giáo dục cho học sinh của mình có tinh thần yêu quý cội nguồn, truyền bá những sách báo tiến bộ. Tất cả những việc làm ấy đã khắc sâu vào lòng học sinh tinh thần yêu nước, truyền thống bất khuất, anh hùng của dân tộc chống giặc ngoại xâm.

Ngày 24/3/1926, Châu Văn Liêm được giới trí thức trong vùng cử làm đại biểu đi dự lễ truy điệu cụ Phan Chu Trinh ở Sài Gòn. Khi về Long Xuyên, ông cùng một số người có tư tưởng tiến bộ vận động quần chúng tổ chức lễ truy điệu Phan Chu Trinh tại Mỹ Luông (Chợ Mới) gợi lòng yêu nước và kêu gọi mọi tầng lớp nhân dân địa phương hãy đoàn kết đấu tranh chống áp bức bất công.

Sau đó, Châu Văn Liêm tập hợp số học sinh trường trung học Cần Thơ tham gia bãi khóa, số bị đuổi về quê như Ung Văn Khiêm, Nguyễn Văn Cưng, Trần Văn Thạnh... thành nhóm thanh niên yêu nước hoạt động theo xu hướng tiến bộ.

Các hoạt động yêu nước nói trên đã góp phần vào phong trào đấu tranh chung của nhân dân, là đòn đả kích mạnh mẽ vào chế độ thuộc địa của thực dân Pháp. Tuy nhiên, các hoạt động này chỉ theo xu hướng tự phát rộng rãi, chưa được hướng dẫn bởi một đường lối cứu nước đúng đắn, chưa đặt dưới sự lãnh đạo của một giai cấp tiên tiến. Dù vậy, phong trào cũng đã tập hợp được lực lượng trí thức yêu nước có khả năng vận động quần chúng hoạt động theo chiều hướng tích cực đấu tranh chống bất công, nô dịch.

Cơ sở của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ra đời và hoạt động ở An Giang

Từ những năm 1926 - 1927, Sài Gòn và các tỉnh Nam Bộ nổi lên phong trào yêu nước mang màu sắc mới, hoạt động thông qua một tổ chức có tên gọi Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên do Nguyễn Ái Quốc sáng lập vào tháng 6/1925 tại Quảng Châu (Trung Quốc). Đây là tổ chức của những thanh niên yêu nước theo xu hướng mácxít, có nhiệm vụ truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào cách mạng ở nước ta.

Giữa năm 1927 được cơ sở Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã xây dựng khắp lục tỉnh. Kỳ bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên được thành lập tại Sài Gòn trong đó có các ông Phan Trọng Bình, Nguyễn Văn Lợi, Tôn Đức Thắng, Ngô Thêm, Nguyễn Văn Phát.

Tháng 8/1927, ông Nguyễn Ngọc Ba, một cán bộ Kỳ bộ, đến Long Xuyên xây dựng cơ sở. Ông dạy học tại trường Trần Minh, hoạt động công khai nơi đây, và tìm đến những hạt nhân tích cực trong phong trào yêu nước tuyên truyền đường lối của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Một thời gian ngắn, ông kết nạp vào tổ chức hai ông Châu Văn Liêm và Ung Văn Khiêm tại Tấn Mỹ (Chợ Mới). Cũng trong thời gian này, hai thanh niên yêu nước có nhiều hành động chống Pháp là Nguyễn Văn Cưng và Trần Văn Thạnh cùng 7 thanh niên các tỉnh miền Tây khác lên đường sang Quảng Châu học tại trường của Tổng bộ (khóa III).

Cuối năm1927, chi bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đầu tiên của Long Xuyên - Châu Đốc hình thành tại xã Long Điền (Chợ Mới, Long Xuyên) có Châu Văn Liêm, Bùi Trung Phẩm và Lâm Văn Cẩn.

Tháng 2/1928, Long Xuyên lập Tỉnh bộ Việt Nam Cách mạng Thanh niên gồm Châu Văn Liêm, Nguyễn Văn Tây, Nguyễn Văn Cưng, Trần Văn Thạnh... do Châu Văn Liêm làm bí thư ([3]). Tỉnh bộ lấy tiệm Mỹ Quang (nay là căn nhà số 16 đường Phạm Hồng Thái, thị xã Long Xuyên) làm cơ sở liên lạc.

Thực hiện chủ trương "vô sản hóa" của Việt Nam Cách mạng Thanh niên, các hội viên thâm nhập vào các tầng lớp nhân dân lao động, để giác ngộ cách mạng và xây dựng, phát triển tổ chức. Công tác vận động là tuyên truyền, giáo dục bí mật lẻ tẻ hoặc thông qua các hình thức hội công khai như Ban cứu tế, Hội đá banh, Vạn vần đổi công... Một thời gian, tổ chức đã phát triển dọc theo trục lộ giao thông và những vùng đông dân cư ở Chợ Mới, Tân Châu, Hồng Ngự, Lấp Vò, tỉnh lỵ Châu Đốc, Tịnh Biên...

Mặt khác, Tỉnh bộ chủ trương đào tạo, bồi dưỡng cấp tốc cho số thanh niên tốt, tiến bộ trong phong trào quần chúng để đưa họ vào tổ chức. Lớp huấn luyện đầu tiên ở căn phố của ông Phán Trà (nay là đường Bạch Đằng, Long Xuyên) và các lớp tiếp theo ở Lấp Vò, Tấn Đức (Chợ Mới)..., nội dung huấn luyện lấy từ trong cuốn "Đường Kách Mệnh" và "Điều lệ Việt Nam Cách mạng Thanh niên".

Đến cuối năm 1929, tổ chức và phong trào tuy chưa đều khắp nhưng đã có tác dụng lớn. Nó là đốm lửa lóe sáng trong đêm. Đó là niềm hy vọng của nhân dân lao động bị áp bức, bóc lột, khát khao độc lập tự do.

 

(Nguồn: Địa chí An Giang,

năm 2013)

_______________

([1]) Huỳnh Lứa, Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ, Sđd, tr 207.

([2]) Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh An Giang - Lịch sử Đảng bộ tỉnh An Giang 1927 – 1945, Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng An Giang, XB 1986, trang 31, 36.

([3]) Tháng 2/1929 Châu Văn Liêm được rút về Sài Gòn, Nguyễn Văn Cưng thay làm Bí thư Tỉnh Bộ.

Chợ Mới 105 năm hình thành và phát triểnBài viếtHạnh ChâuChợ Mới 105 năm hình thành và phát triển/SiteAssets/CM-105-nam-ptrien-1.jpg
18/08/2022 7:00 CHNoĐã ban hành

(TUAG)- Cách đây 105 năm, Chợ Mới - đơn vị hành chính cấp quận trực thuộc tỉnh Long Xuyên (nay là An Giang) đã được thành lập (1917-2022). Với sứ mệnh được lịch sử trao cho, trong chặng đường hơn 320 năm hình thành và phát triển, 105 năm thiết lập đơn vị hành chính cấp quận, đến nay Chợ Mới luôn giữ vị trí quan trọng về chính trị, quân sự và kinh tế trong sự nghiệp đấu tranh, xây dựng và phát triển quê hương An Giang. Đây còn là vùng đất "địa linh nhân kiệt" phát tiết nhiều giá trị truyền thống lịch sử, văn hóa, anh hùng cách mạng và cũng là quê hương của những cán bộ cách mạng tiền bối, nhân sĩ, trí thức nổi tiếng trong tỉnh và cả nước.

 CM-105-nam-ptrien-1.jpg

Năm 1917, quận Chợ Mới thuộc tỉnh Long Xuyên; đến tháng 3/1948 thuộc tỉnh Long Châu Tiền, đến tháng 6/1951 thuộc tỉnh Long Châu Sa. Từ năm 1957-1975 quận Chợ Mới thuộc tỉnh An Giang của chính quyền Sài Gòn, duy trì đến năm 1975 kể cả khi An Giang tách thành 2 tỉnh An Giang và Châu Đốc từ năm 1964. Sau ngày giải phóng miền Nam tháng 2/1976 Chợ Mới trở về thuộc tỉnh An Giang với 12 xã, 1 thị trấn. Từ năm 2003 đến nay Chợ Mới có 16 xã, 2 thị trấn.

Chợ Mới là chiếc nôi cách mạng của tỉnh An Giang-nơi ra đời Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên ở An Giang. Trong 15 năm đấu tranh giành chính quyền (1930-1945) Chợ Mới luôn là vùng điểm chỉ đạo của tỉnh trong các cao trào đấu tranh cách mạng. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) quân dân Chợ Mới đã bền bỉ đấu tranh đến thắng lợi cuối cùng. Trong 21 năm (1954-1975) cùng nhân dân cả nước chống Mỹ xâm lược, nhân dân Chợ Mới đã làm thất bại mọi âm mưu của địch, lập nên những chiến công góp phần thắng lợi của dân tộc. Ghi nhận những đóng góp to lớn của quân và dân Chợ Mới, nhà nước đã phong tặng Chợ Mới danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân" năm 2014 và 84 danh hiệu "Mẹ Việt Nam anh hùng".

CM-105-nam-ptrien-3.jpg

Sau giải phóng, nền kinh tế huyện Chợ Mới xác định nông nghiệp là lĩnh vực phát triển hàng đầu, bằng sự nỗ lực của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân từ một huyện phải nhờ tỉnh cứu đói (năm 1975), Chợ Mới đã khắc phục những khó khăn vươn lên ổn định cuộc sống nhân dân. Huyện tập trung phát triển sản xuất nông nghiệp toàn diện, chủ yếu là tăng vụ, thâm canh mở rộng diện tích lúa 2 vụ trồng các loại cây lương thực và hoa màu được nhân dân hưởng ứng sôi nổi và thực hiện có kết quả rõ rệt. Năm 1979, tổng sản lượng lương thực đạt đến 99.500 tấn (tăng hơn năm 1977 là 30.000 tấn và tăng gấp đôi năm 1975). Chợ Mới đã tự túc về lương thực, bình quân lương thực đầu người đạt 350 kg/người/năm (sau giải phóng là 130 kg) và còn làm nghĩa vụ đối với Nhà nước gần 20.000 tấn lúa.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ IV của Đảng bộ tỉnh An Giang, huyện Chợ Mới nhanh chóng tiến hành thực hiện chính sách đổi mới kinh tế, trước hết là nông nghiệp chia làm 3 vùng, tăng vòng quay đất... Nhờ đó, năm 1988 tổng sản lượng lương thực đạt 106.092 tấn. Đến năm 1990, cơ cấu kinh tế của huyện chuyển biển theo hướng kinh tế nông nghiệp gắn với công nghiệp chế biến và dịch vụ. Thu nhập bình quân đầu người 1,64 triệu đồng (so năm 1985 1,15 triệu đồng/người/năm).

Điều đáng tự hào trong giai đoạn này, huyện Chợ Mới đã xây dựng hệ thống đê bao ngăn lũ để phát triển kinh tế. Đây là công trình thế kỷ của huyện mang lại nhiều ý nghĩa cho nhân dân về kinh tế, tạo thuận lợi trong sản xuất nông nghiệp. Công trình giúp người dân sản xuất quanh năm không phải nghỉ vào những tháng lũ về như trước, đời sống nâng lên, bộ mặt nông thôn khởi sắc.

Sau 35 năm đổi mới, kinh tế-xã hội của huyện phát triển ổn định, chuyển đổi nhiều mô hình sản xuất hiệu quả. Năm 2021, sản lượng lúa Chợ Mới đã đạt hơn 232.500 tấn. Giá trị sản xuất nông nghiệp bình quân cây hàng năm đạt 326,58 triệu đồng/ha. Chợ Mới đi đầu của tỉnh trong chuyển dịch từ lúa sang rau màu, cây ăn trái với hơn 9.064 ha. Bên cạnh sản xuất nông nghiệp, Chợ Mới có thế mạnh lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp với tổng giá trị sản xuất trong năm đạt hơn 9.667 tỷ đồng; 13/16 xã đạt chuẩn nông thôn mới; 13 làng nghề công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp truyền thống được công nhận, 5 cụm công nghiệp được quy hoạch; đã kêu gọi đầu tư nhiều dự án lớn tạo đòn bẫy cho điạ phương phát triển vượt bậc.

CM-105-nam-ptrien-2.jpg

Lịch sử Đảng bộ huyện Chợ Mới 92 năm hình thành và phát triển (2022-1930) đến nay, nhiệm vụ then chốt xuyên suốt mà Đảng bộ huyện tập trung thực hiện là xây dựng Đảng; thường xuyên chăm lo củng cố hệ thống chính trị, xây dựng chính quyền nhân dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Số lượng, chất lượng đảng viên và tổ chức cơ sở đảng được nâng lên. Đến nay, Đảng bộ huyện Chợ Mới đã có trên 7.278 đảng viên với 60 Chi, Đảng bộ cơ sở. Đảng bộ huyện Chợ Mới từ khi thành lập đến nay đã trải qua 12 kỳ Đại hội. Mỗi kỳ Đại hội là một sự kiện trọng đại trong đời sống chính trị của cán bộ, đảng viên và nhân dân huyện nhà, là mốc son đánh dấu quá trình phát triển và trưởng thành của Đảng bộ huyện cả về tổ chức, bộ máy, nhận thức chính trị, đến vai trò lãnh đạo đối với quá trình xây dựng, phát triển của huyện như ngày hôm nay. Ghi nhận những đóng góp của Đảng bộ, nhân dân huyện nhà trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, Đảng, Nhà nước đã trao tặng Chợ Mới danh hiệu danh hiệu "Anh hùng lao động trong thời kỳ đổi mới" và "Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân" cho nhân dân và Đảng bộ huyện Chợ Mới.

Chợ Mới hôm nay đang vươn tới một tầm cao mới với thế và lực mới. Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện Chợ Mới tiếp tục kế thừa và phát huy truyền thống quê hương anh hùng, phát huy hiệu quả những thành tựu và kinh nghiệm đã có; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh. Đồng thời, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết, đổi mới, sáng tạo, khơi dậy ý chí khát vọng, quyết tâm thực hiện thắng lợi các mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng huyện Chợ Mới đã đề ra, đưa Chợ Mới phát triển nhanh, bền vững.

HẠNH CHÂU

Tịnh Biên vươn mình tiến lên thị xã, thành công từ sự đồng thuận của ý Đảng - lòng Dân An Giang 190 nămBài viếtNguyễn HảoTịnh Biên vươn mình tiến lên thị xã, thành công từ sự đồng thuận của ý Đảng - lòng Dân /SiteAssets/TB-vuon-len-thixa-1.jpg
18/08/2022 4:00 CHNoĐã ban hành
(TUAG)- An Giang là một tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm vùng Đồng bằng sông Cửu Long, nằm trong vùng đô thị Tây Nam với trên 3.500 km2 diện tích tự nhiên, đường biên giới dài, nhiều sông núi và nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, vị trí và điều kiện tự nhiên thuận lợi, cùng với hệ thống giao thông đường bộ và đường thủy phát triển đồng bộ đã tạo cho tỉnh nhiều tiềm năng và lợi thế kinh tế phong phú, đa dạng.
 

Trung tâm hành chính huyện Tịnh Biên (ảnh: Nguyễn Nhậm)

Tịnh Biên là 01 trong 11 đơn vị hành chính cấp huyện của tỉnh An Giang, có 14 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, bao gồm 03 thị trấn: Tịnh Biên, Nhà Bàng, Chi Lăng và 11 xã: An Phú, Thới Sơn, Núi Voi, Nhơn Hưng, Văn Giáo, Vĩnh Trung, An Cư, An Hảo, An Nông, Tân Lập và Tân Lợi.

Đây là một vùng đất có bề dày lịch sử khai phá, Nhân dân giàu lòng yêu nước và tinh thần đấu tranh cách mạng đã không ngừng đứng lên chống ngoại xâm trong suốt quá trình hàng trăm năm mở đất và giữ đất.

Trước các cuộc chiến tranh xâm lược, bất kể thời kỳ nào, Tịnh Biên luôn là một địa bàn rất quan trọng của vùng biên cương Tây Nam đất nước, là nơi đối đầu quyết liệt của quân, dân An Giang với các loại kẻ thù, từ phong kiến Xiêm cho đến bọn diệt chủng Pôn-pốt, để bảo vệ vững chắc cửa ngõ phía Tây của Đồng bằng sông Cửu Long phì nhiêu, trù phú.
 
Ngày 6/11/1978, Chủ tịch Tôn Đức Thắng tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân” cho lực lượng vũ trang nhân dân huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang vì đã lập được nhiều thành tích đặc biệt xuất sắc về chiến đấu và phục vụ chiến đấu, góp phần cùng toàn dân đưa sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, quân dân Tịnh Biên kiên cường chiến đấu, người trước ngã xuống người sau tiến lên, nối tiếp nhau để giành từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, hoàn thành mọi nhiệm vụ mà Đảng và Nhân dân giao phó.

Trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc 30 năm chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, trước bom đạn ác liệt của kẻ thù, Đảng bộ và quân dân Tịnh Biên sẵn sàng chấp nhận gian khổ, hy sinh để giữ vững vị trí đầu cầu chiến lược nối liền sự chi viện của Trung ương về miền Tây Nam bộ. Trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam chống bọn phản động Khmer đỏ, một lần nữa, vùng đất này lại đứng trên đầu sóng, ngọn gió giữ gìn từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc. Những chiến công, những hy sinh anh dũng trong công cuộc đấu tranh giữ gìn bờ cõi ấy của huyện Tịnh Biên cũng đã ghi dấu góp nên trang sử hào hùng, oai tráng trong trang sử 190 năm thành lập tỉnh An Giang (1832-2022).
 

Các chiến sĩ luôn chắc tay súng, giữ gìn an ninh biên giới (ảnh: Nguyễn Nhậm)

Kế thừa và phát huy truyền thống đấu tranh bất khuất của cha ông chống giặc ngoại xâm, bảo vệ và xây dựng quê hương, trải qua hơn 92 năm từ ngày Tịnh Biên có chi bộ Đảng đầu tiên (tháng 7-/930), đến nay Đảng bộ huyện Tịnh Biên đã trưởng thành và lớn mạnh không ngừng. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, Đảng bộ và quân dân Tịnh Biên tiếp tục vượt qua bao khó khăn, thách thức để đưa vùng đất đã bị chiến tranh tàn phá nặng nề từng bước đi lên, xứng đáng là một trong những cửa ngõ quốc tế phía Tây Nam của Tổ quốc. Trong đó có Đề án thành lập thị xã Tịnh Biên thuộc tỉnh An Giang và thành lập các phường thuộc thị xã Tịnh Biên.
 

Tịnh Biên quan tâm phát triển kinh tế vùng biên giới (ảnh: Nguyễn Nhậm)

Với đường biên giới chung với Vương quốc Campuchia dài gần 20 km, Tịnh Biên có lợi thế và tiềm năng rất lớn để phát triển kinh tế cửa khẩu, du lịch thông qua cửa khẩu quốc tế Tịnh Biên và tuyến quốc lộ 91, quốc lộ N1, đường tỉnh 948, 955A, 949… chạy ngang địa bàn. Đây là cầu nối giao thương quan trọng nối huyện Tịnh Biên nói riêng và tỉnh An Giang nói chung với các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long và các nước trong khu vực Đông Nam Á, tạo nên điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập nhanh cùng vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.

Đến nay, Tịnh Biên đã bảo đảm các điều kiện và đạt đủ các tiêu chuẩn thành lập thị xã theo quy định tại Nghị quyết số 1211/2016/UBTVQH13 ngày 25/5/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về tiêu chuẩn của đơn vị hành chính và phân loại đơn vị hành chính. Theo đó, tại Kỳ họp thứ 7 (chuyên đề) Hội đồng nhân dân tỉnh khóa X tổ chức vào ngày 20/5/2022. Hội đồng nhân dân tỉnh An Giang đã thông qua Nghị quyết tán thành chủ trương thành lập thị xã Tịnh Biên thuộc tỉnh An Giang và thành lập các phường thuộc thị xã Tịnh Biên.

Với định hướng xây dựng Tịnh Biên là đô thị trực thuộc tỉnh An Giang, là trung tâm kinh tế, văn hóa, hành chính, thương mại, du lịch, công nghiệp có vai trò thúc đẩy sự phát triển vùng phía Tây tỉnh An Giang. Thời gian qua, Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân huyện Tịnh Biên đã nỗ lực không ngừng, thay đổi bộ mặt huyện miền núi ngày càng văn minh, phát triển, nâng cao đời sống người dân, đẩy mạnh thực hiện nông thôn mới, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực, từng bước xây dựng nếp sống văn hóa, văn minh đô thị và thay đổi bộ mặt đô thị Tịnh Biên.
 

Tịnh Biên lấy nông nghiệp làm nền móng cho sự phát triển (ảnh: Nguyễn Nhậm)

Trong giai đoạn 2016 - 2020, thực hiện Nghị quyết số 01-NQ/HU ngày 14 tháng 8 năm 2015 của Huyện ủy Tịnh Biên và Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện Tịnh Biên khóa XI, nhiệm kỳ 2015 - 2020 và Quyết định số 2564/QĐ-UBND ngày 14 tháng 4 năm 2016 của Ủy ban nhân dân huyện về ban hành Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 05 năm 2016 - 2020, kết quả thực hiện có 14/14 chỉ tiêu đạt, vượt Nghị quyết.
 

Bí thư Tỉnh ủy An Giang Lê Hồng Quang cùng đoàn công tác khảo sát thực tế, sâu sát với các địa phương trong công tác phòng chống dịch bệnh COVID-19 (ảnh: Nguyễn Nhậm)

Năm 2021 là năm đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Tịnh Biên khóa XII, nhiệm kỳ 2020 - 2025. Mặc dù gặp nhiều khó khăn và chịu ảnh hưởng nặng nề của đại dịch COVID-19 nhưng dưới sự quyết tâm cao của Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân trong huyện, cũng như sự quan tâm, chỉ đạo của lãnh đạo tỉnh và các ngành, các cấp, với tinh thần quyết liệt “chống dịch như chống giặc”, thực hiện hiệu quả “mục tiêu kép” vừa phòng, chống dịch, vừa phát triển kinh tế - xã hội nên nền kinh tế của huyện vẫn tiếp tục phát triển ổn định. Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2021 đạt 12,59%; cơ cấu kinh tế dịch chuyển đúng hướng, đời sống Nhân dân được nâng cao, tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện còn 1,07%. Hệ thống các công trình hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội như: Hệ thống đường giao thông, điện lưới quốc gia, trường học, bệnh viện, nhà văn hóa,... được đầu tư xây dựng khá đồng bộ, hiện đại, đáp ứng các yêu cầu về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh và cải thiện, nâng cao đời sống Nhân dân.
 

Thường trực Tỉnh ủy An Giang làm việc với Huyện ủy Tịnh Biên

Phát biểu tại buổi làm việc với Huyện ủy Tịnh Biên ngày 12/04/2022 nhằm đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị năm 2021 và định hướng nhiệm vụ năm 2022, Bí thư Tỉnh ủy An Giang Lê Hồng Quang cũng đã ghi nhận, biểu dương, đánh giá cao kết quả đạt được của huyện Tịnh Biên trong năm 2021. Đồng thời yêu cầu thời gian tới, Ban Thường vụ Huyện ủy cần bám sát các nghị quyết chuyên đề của Tỉnh ủy, các chủ trương, kết luận của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Thường trực Tỉnh ủy; chủ động, quyết liệt trong chỉ đạo, điều hành thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm tận dụng thời cơ, lợi thế, khai thác tốt các tiềm năng sẵn có, nhất là tập trung khai thác thế mạnh kinh tế biên giới và du lịch, để tạo ra sức bật mới trên tất cả các lĩnh vực, tạo tiền đề thực hiện đạt chỉ tiêu nghị quyết của Đảng bộ huyện đã đề ra; chủ động làm tốt công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí; triển khai quán triệt và tổ chức thực hiện tốt Kế hoạch số 33 của Tỉnh ủy An Giang về xây dựng, chỉnh đốn đảng và hệ thống chính trị, kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến, tự chuyển hóa”; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên thật sự tiên phong, gương mẫu, đủ phẩm chất, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ…

Theo đó, tiếp tục phát huy thế mạnh, điều chỉnh những thiếu sót, thực hiện nghiêm túc các chỉ đạo của Thường trực Tỉnh ủy. Năm 2022, hòa chung khí thế kỷ niệm 190 thành lập tỉnh An Giang (1832-2022), Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân huyện Tịnh Biên tiếp tục ra sức thi đua lập thành tích, phấn đấu thực hiện đạt, vượt các chỉ tiêu Nghị quyết đã đề ra. Nỗ lực đẩy mạnh phục hồi, phát triển kinh tế, đảm bảo thích ứng an toàn, linh hoạt và kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19; triển khai các nhiệm vụ giải pháp thực hiện có hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia; triển khai thực hiện các giải pháp thực hiện giảm nghèo bền vững; giữ vững an ninh biên giới; tăng cường các giải pháp thực hiện Kế hoạch cải cách hành chính; tiếp tục thực hiện theo lộ trình lập Đề án thành lập thị Tịnh Biên và thành lập các phường thuộc thị xã Tịnh Biên v.v.

Trong 06 tháng đầu năm 2022, cả hệ thống chính trị và nhân dân huyện Tịnh Biên đã tập trung phấn đấu với nhiều giải pháp đồng bộ nhằm đẩy mạnh phục hồi phát triển kinh tế - xã hội sau đại dịch COVID -19, đạt được nhiều kết quả tích cực.

Là người dân ở xã Nông thôn mới nâng cao Thới Sơn (huyện Tịnh Biên), cô Nguyễn Thị Quang, người dân ấp Thới Thuận chân tình nói: “Xã Thới Sơn bây giờ thì điện, đường, trường, trạm đã khang trang hơn, chỗ y tế có bác sĩ chăm sóc, khám chữa bệnh cho Nhân dân rất là yên tâm. Còn trường học thì cao lớn hơn, đẹp lắm chứ không còn lụp xụp như ngày xưa nữa, cho nên Nhân dân xã Thới Sơn cũng rất là tâm huyết cho con em tới trường ăn học đến nơi đến chốn. Địa phương cũng không dừng lại đó, tiếp tục để vận động xóa nhà tre lá, tạm bợ, lo cuộc sống cho Nhân dân được hoàn chỉnh, thậm chí tới gạo thóc cũng không bỏ sót một ai, chăm lo cho bà con rất đầy đủ. Cho nên từ chỗ đó mà Nhân dân xã Thới Sơn rất là đồng thuận, cùng địa phương thực hiện chính sách mở rộng đường xá liên xã, liên huyện. Những chỗ ngõ ngách ngày xưa là đường là dân sinh đi bộ thì bây giờ cũng được mở lớn khang trang, khi mà người dân muốn chở vật tư nông nghiệp đến ruộng hay mua bán hàng hóa không phải gánh vác như ngày xưa. Bản thân là người dân của xã Thới Sơn, tôi rất là vui mừng phấn khởi vì Đảng bộ cùng bà con ở xã đã làm được những điều này cho quê hương ngày thêm đổi mới, giàu đẹp”.

Phát biểu tại Kỳ họp lần thứ 7 HĐND huyện Tịnh Biên khóa XII, nhiệm kỳ 2021-2026, đồng chí Phan Văn Cường - Tỉnh ủy viên, Bí thư Huyện ủy Tịnh Biên nhấn mạnh: “Mặc dù gặp khó khăn nhiều mặt, nhưng với sự quyết tâm tích cực của cả hệ thống chính trị, đến nay toàn huyện đã thực hiện đạt nhiều kết quả khả quan. Nổi bật là sự phối hợp nhịp nhàng của các ngành, các cấp với quyết tâm đẩy nhanh tiến độ thực hiện các nhiệm vụ các chỉ tiêu năm 2022 hoàn thành sớm nhất”.

“Thực hiện 14 chỉ tiêu kinh tế - xã hội năm 2022, kết quả 06 tháng đầu năm có 04 chỉ tiêu đạt và vượt Nghị quyết gồm: Số trường đạt chuẩn quốc gia, số bác sĩ trên mười ngàn dân, xây dựng nông thôn mới, tuyển quân. Các chỉ tiêu còn lại có 03 chỉ tiêu đạt 80% (chuyển đổi cây trồng, bảo hiểm y tế, phát triển thủy kế); 07 chỉ tiêu đang tiếp tục thực hiện lộ trình đến cuối năm 2022” - đồng chí Phan Văn Cường - Bí thư Huyện ủy Tịnh Biên cho biết.
 

Huyện Tịnh Biên từng bước phát triển kinh tế - xã hội, tiến lên thị xã (ảnh: Nguyễn Nhậm)

Là người dân ở xã nông thôn mới An Phú, cô Nguyễn Thị Giác phấn khởi cho biết: “Trên loa, đài của xã hàng ngày luôn phát thanh kêu gọi người dân cùng chung tay xây dựng nông thôn mới, rồi thông tin huyện Tịnh Biên sẽ tiến lên thành thị xã trong tương lai, tôi rất là mừng và phấn khởi. Người dân chúng tôi lo làm ăn, cũng không biết gì rành, chỉ biết là mình tuân thủ theo chủ trương của Đảng, không làm việc trái với pháp luật, ủng hộ các chương trình, phòng trào của địa phương, vậy là đã góp một phần cùng với huyện mình tiến lên thành thị xã. Huyện tiến lên thị xã, sau này mua bán, giao thương sẽ còn phát triển thêm rất nhiều, bà con ai cũng cảm thấy vui và ủng hộ”.

Tổng hợp sức mạnh từ sự đồng thuận của toàn Đảng, toàn dân, huyện Tịnh Biên từng bước tiến tới nâng huyện lên thị xã. Thị xã Tịnh Biên được thành lập có ý nghĩa quan trọng về mặt chính trị, thể hiện chủ trương phát triển kinh tế - xã hội, chăm lo đời sống Nhân dân, tạo sự cân đối về phát triển đô thị giữa các khu vực, vùng miền trong cả nước, thể hiện quyết tâm xây dựng thị xã Tịnh Biên giàu mạnh, văn minh, hiện đại như Nghị quyết đại hội Đảng bộ tỉnh An Giang lần thứ XI, nhiệm kỳ 2020 - 2025 và Nghị quyết đại hội Đảng bộ huyện Tịnh Biên lần thứ XII, nhiệm kỳ 2020 - 2025 đã đề ra. Đồng thời thành lập thị xã Tịnh Biên sẽ là cơ sở để tiếp tục hoàn chỉnh quy hoạch chung xây dựng đô thị Tịnh Biên đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 cũng như thu hút các dự án đầu tư để mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng đô thị và hiệu quả quản lý đô thị, đồng thời để định hướng đầu tư và phát triển đảm bảo tính bền vững, phù hợp với định hướng quy hoạch tổng thể phát triển đô thị Việt Nam đến năm 2020 và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh An Giang đến năm 2025.
Nguyễn Hảo
Phong trào yêu nước ở An Giang trước khi có Đảng (1867 - 1930)An Giang 190 nămBài viếtP.NPhong trào yêu nước ở An Giang trước khi có Đảng (1867 - 1930)/SiteAssets/Phongtraoyeunuoc-1.jpg
12/08/2022 5:00 CHNoĐã ban hành

(TUAG)- Ngày 1/9/1858, liên quân Pháp - Tây Ban Nha đánh vào bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng) mở đầu quá trình xâm lược nước ta. Sau đó, chúng đánh vào Gia Định. Đại đồn Chí Hòa thất thủ, quân Pháp chiếm Gia Định (1861), Biên Hòa, Định Tường (1862). Nhằm nhanh chóng đánh chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ, thực dân Pháp tìm cách gây rối loạn ba tỉnh miền Tây. Ở An Giang, quân triều đình xúc tiến đắp đồn Tráng Biên (Tịnh Biên) phòng thủ. Tháng 2 năm 1860, quân Pháp xúi giục bọn thổ phỉ do tên Hoàng Quốc Lập cầm đầu gây rối và cướp bóc ở An Giang, Hà Tiên. Tháng 7 năm ấy "quan quân An Giang đánh tan quân Cao Man (Khmer) ở Thất Sơn, chém được giặc, bắn chết bọn giặc 133 đứa"([1]).

Phongtraoyeunuoc-1.jpg

Quân Pháp làm chủ Gia Định, Tự Đức lo lắng cho các tỉnh còn lại, xuống dụ cho Tổng đốc An Hà Trương Văn Uyển và Tuần phủ Nguyễn Khắc Thân "chiêu mộ nghĩa dõng". Triều đình cho người tuyển mộ các thợ đúc và làm súng, thợ máy bắn đá, thành lập "cục các thợ". Tỉnh An Giang phải cung cấp cho triều đình mỗi hạng 15 người và cử viên quan Tượng mục ở Vũ Khố đến hướng dẫn đào tạo([2]).

Trước sức tiến công của Pháp, triều đình Huế bất lực. Từ thế "thủ để hòa" chuyển sang "chủ động giảng hòa". Hòa ước ngày 5/6/1862 được ký kết, triều Nguyễn giao 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ cho quân Pháp.

Khắp Nam Kỳ lục tỉnh thành lập các đội quân "ứng nghĩa", dấy động phong trào chống Pháp. Cần Giuộc có Quản Là, Đồng Tháp Mười có Võ Duy Dương; Nguyễn Trung Trực đánh chìm tàu L'Espérance trên vàm Nhật Tảo (Tân An), Trương Định chọn Gò Công làm trung tâm kháng chiến. Nhưng vua Tự Đức chủ động cầu hòa với giặc, ra lệnh giải tán các lực lượng dân binh chống Pháp.

Tháng 9/1862, Đô đốc Bonard sang Campuchia để bàn kế hoạch chống Việt Nam. Cuối cùng, Hiệp ước Pháp-Campuchia được ký kết (18/11/1863), Campuchia chấp nhận quyền bảo hộ của Pháp. Ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ: An Giang, Vĩnh Long và Hà Tiên bị cô lập.

Sau hòa ước 1862, nhân sĩ Nam Kỳ bị phân hoá; có kẻ theo giặc như Tôn Thọ Tường, Huỳnh Công Tấn, Trần Bá Lộc; một bộ phận lại ủng hộ hòa nghị của triều đình Huế; nhưng xu hướng chủ yếu là đứng lên chống xâm lược "Tỵ địa": đem cả gia đình, mồ mả cha ông sang ba tỉnh miền Tây hoặc miền Nam Trung kỳ. An Giang là nơi trú ngụ của nhiều sĩ phu yêu nước như Phan Văn Trị, Nguyễn Hữu Huân. Đặc biệt là căn cứ Thất Sơn trở thành nơi hoạt động của Hoàng thân A-Soa- thể hiện mối quan hệ liên minh chiến đấu của nhân dân Việt - Khmer, mở đầu cho tình đoàn kết chiến đấu giải phóng dân tộc.

Hoạt động chống Pháp của Nguyễn Hữu Huân ở An Giang và khởi nghĩa A-Soa ở Thất Sơn (1864 - 1866)

Trong thời gian này, Nguyễn Hữu Huân đến An Giang liên kết với Hoàng thân A-Soa ở Thất Sơn và tiếp tục hoạt động ở Đồng Tháp Mười, Châu Đốc, Vĩnh Tế. Chính quyền thực dân ở Sài Gòn yêu cầu triều đình Huế bắt Nguyễn Hữu Huân giao cho chúng. Lúc đầu, triều đình Huế làm ngơ vì muốn duy trì thực lực chống Pháp, nhưng về sau, do ảo tưởng "chuộc đất" nên tháng 1/1864, Tự Đức chỉ dụ cho các tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên "Có ai mượn tiếng mộ nghĩa, thì không được đưa vào địa giới, mà các quan Phủ, Huyện trông thấy tức thời bắt ngay đem giải"([3]). Do chính sách thỏa hiệp của triều Nguyễn, cùng năm ấy, Nguyễn Hữu Huân bị bắt tại Châu Đốc giao cho Pháp.

Sau hiệp ước 1863, vương triều Nôrôđom (Campuchia) phụ thuộc hoàn toàn vào thực dân Pháp. Nội bộ vương triều chia rẽ sâu sắc. Hoàng thân Sivotha, A-Soa đứng về phía nhân dân chống thực dân Pháp. Hoàng thân A-Soa([4]) bí mật xây dựng căn cứ Thất Sơn (An Giang) mở rộng địa bàn chống Pháp vùng Đông Nam Campuchia. Thực dân Pháp thừa nhận "A-Soa được những kẻ thù địch Pháp (ý chỉ triều Nguyễn) bí mật ủng hộ và những ý nguyện của ông là một điều trở ngại cho sự bình định Khmer"([5]). Chúng tìm cách tiêu diệt lực lượng A-Soa. Tháng 7/1865, Đô đốc hải quân De la Grandière gởi thư đến Tuần phủ An Giang là Phan Khắc Thân với lời lẽ trách móc "Lề mề, thờ ơ, không chịu dẹp quân phiến loạn Cao Miên (ý chỉ A-Soa) đang quấy rối phía Nam Campuchia. Bọn này luôn đột nhập vào, quan quân thành An Giang lại lơ là, mặc cả"([6]). Trước sự kiện tàu chiến Pháp uy hiếp thành Châu Đốc, Tự Đức chỉ dụ cho Tổng đốc An Hà "Phải nghiêm nhặt bọn Man tù Ong - Bướm chớ cho vào trông cõi. Tên Bướm mộ dân dựng đồn, cùng với Ong Lẳn đánh nhau, Lẳn cầu cứu chủ súy Pháp, chủ súy Pháp yêu cầu ta bắt giao cho, nếu trước cho tên Bướm đến nương tựa, mà nay thì nghiêm nhặt cự tuyệt"([7]). Tháng 4/1866, Phan Thanh Giản báo cáo hoạt động A-Soa ở Thất Sơn. Tự Đức cách chức Phan Khắc Thân và án sát Nguyễn Ích Nhượng, rồi bất ngờ đánh úp quân A-Soa ở núi Tốn (núi Tô).

Thực dân Pháp chiếm An Giang, xây dựng bộ máy cai trị

Sau khi thực dân Pháp ổn định việc cai trị ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ, chúng xúc tiến công việc chuẩn bị đánh chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ. Chúng đổ lỗi cho triều đình Huế ủng hộ phong trào chống Pháp ở Nam Kỳ. Trước tình hình trên Tự Đức chỉ còn hy vọng Phan Thanh Giản cầu hòa. Phan Thanh Giản đến nhận chức Kinh lược sứ ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ.

Nắm chắc tình thế và chủ động, Đô đốc Hải quân De la Grandière vạch kế hoạch đánh chiếm Vĩnh - An – Hà (Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên) Pháp kéo tàu chiến đến Vĩnh Long. Phan Thanh Giản giao thành cho Pháp ([8]).

Sau khi chiếm Vĩnh Long, quân Pháp huy động lực lượng gồm: Trung tá Hải quân Galey (Giám đốc Nội vụ), Thiếu tá Paul Vial (pháo binh), thiếu tá Guicfe Boverany (công binh), thiếu tá Domange (lính thủy đánh bộ) với tàu chiến Le Bien Hoa (Aviso), pháo hạm Le Bourdais, La Fusée, L'Alarme cùng 1.000 quân. Quân Pháp đến thành Châu Đốc, các viên chức triều đình hoang mang cực độ. Quân Pháp đòi Tuần vũ Nguyễn Hữu Cơ xuống tàu nhận thư của Phan Thanh Giản. Sau một thời gian lưỡng lự, cuối cùng, lúc 23 giờ, Nguyễn Hữu Cơ đích thân xuống tàu Pháp. "Galey trao cho ông bức thư đóng dấu đỏ. Ông mở ra, tay ngập ngừng, đọc thầm rồi cuối cùng hắt ra hai, ba hơi thở"([9]). Đúng 12 giờ đêm ngày 22/6/1867, quân Pháp đem 1.000 quân tiến vào thành Châu Đốc, giải giáp khí giới quân triều đình. Chúng đốt kho lúa gạo và tịch thu 12 súng bắn đá đổ muối vào họng súng rồi đẩy xuống sông. An Giang thất thủ([10]).

Ngày 24/6/1867, quân Pháp chiếm Hà Tiên. Thế là chưa đầy một tuần lễ, quân Pháp chiếm trọn ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ. Ngày 26/6/1867 Đô đốc De La Grandière tuyên bố ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ thuộc Pháp.

Giai đoạn đầu, thực dân Pháp chủ yếu bình định, củng cố bộ máy cai trị, tạo điều kiện khai thác sau này. Nguồn ngân sách đầu tư của tư bản Pháp rút từ nguồn tài chính chính quốc. Ở An Giang, chúng xây dựng các ty, bệnh viện, cầu đường, nạo vét kênh mương v.v.. tạo cơ sở hạ tầng cho tư bản Pháp đầu tư khai thác.

Nông thôn An Giang cuối thế kỷ XIX đã diễn ra nạn chiếm đoạt ruộng đất của tư bản Pháp và điền chủ, nông dân bị bần cùng hóa vì nạn sưu thuế, lao dịch, lụt lội, hạn hán. Mâu thuẫn giữa thực dân, phong kiến với nông dân càng gay gắt. Rõ ràng, việc mất nước là mất luôn ruộng đất, mất quyền độc lập dân tộc, là mất quyền làm người. Chính vì vậy, ngay sau khi Pháp chiếm An Giang, các cuộc khởi nghĩa, các phong trào yêu nước ở đây liên tục diễn ra với nhiều mức độ, sắc thái khác nhau.

Các cuộc khởi nghĩa và phong trào yêu nước ở An Giang cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

a- Hoạt động chống Pháp của quan lại và sĩ phu

Sau tháng 6/1867, nhân dân ba tỉnh miền Tây phất cao ngọn cờ kháng chiến chống xâm lược.

Các tổ chức chống Pháp từ Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, Sóc Trăng đến Châu Đốc như Phan Tôn, Phan Liêm (con Phan Thanh Giản). Năm 1868, Nguyễn Trung Trực đánh chiếm thành Kiên Giang, lập căn cứ Hòn Chông, gây cho Pháp nhiều thiệt hại.

                           Hỏa hồng Nhật Tảo oanh thiên địa

                           Kiếm bạt Kiên Giang khấp quỷ thần

                                                               (Huỳnh Mẫn Đạt)

Ở Châu Đốc có lãnh binh Lê Văn Sanh, Đỗ Đăng Tàu đứng về phía nhân dân chống Pháp. Hai ông bí mật tổ chức đội thuyền ở núi Sam hoạt động ở Mương Vệ Thủy (Mương Thủy, Vĩnh Mỹ, Châu Đốc) kéo dây ngang sông Hậu ngăn tàu giặc. Quân Pháp phản công. Hai ông rút vào Ô Long Vĩ nhận chìm thuyền rồi đi vào Bảy Thưa([11]). Khi người Pháp đặt chân đến Châu Đốc đã ghi nhận "Trong nhân dân, người ta mong chờ kháng chiến. Điều chắc là ở giáp biên cảnh, lúc này tinh thần thượng võ lúc nào cũng cao trong thành, người ta luôn luôn luyện tập nhân dân sử dụng vũ khí"([12]).

Cuối tháng 11 năm 1867, quân khởi nghĩa tập trung hoạt động mạnh ở ven sông Hậu từ Cần Thơ đến Châu Đốc. Quân của Galey dùng thuyền máy hành quân. Chúng chạy theo các con rạch bắn phá. Trong khi đó, thiếu tá Domange đem bộ binh đánh chiếm Thất Sơn, bắt và đày nhiều người ra Côn Đảo.

b- Trần Văn Thành và cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa (1867 - 1873)

Từ những biến cố lịch sử bi thảm của dân tộc, tai họa đã ập đến vùng đất An Giang. Người nông dân vừa tạo được những thành quả lao động, giờ thực dân Pháp đã đẩy nông dân vào vòng nô lệ. Nhân dân vẫn thiết tha với mảnh đất đã bao đời khai khẩn nay rơi vào tay giặc.

Giữa lúc công cuộc khai khẩn đất đai ở Bình Thạnh Đông và Láng Linh chưa đi đến đâu thì giặc Pháp kéo đến. Quân Pháp chiếm thành An Giang, Trần Văn Thành với lực lượng vũ trang đã tổ chức nhân dân lập bè cản ngăn tàu chiến của giặc tại Cồn Nhỏ (Phú Bình, Phú Tân), đánh phá các đồn lẻ của giặc, chuẩn bị lực lượng tấn công thành Châu Đốc nhưng không thành. Sau những lần giao chiến với quân Pháp, ông cùng gia đình và nghĩa quân rút vào rừng Bảy Thưa - Láng Linh xây dựng căn cứ kháng chiến.

Láng Linh là cánh đồng rộng, xưa kia gọi là vùng "nê địa", nhiều rừng rậm, bùn lầy, rắn độc. Phía bắc giáp núi Sam, phía đông nằm kề sông Hậu, phía Tây dựa vào Thất Sơn. (Ngày nay, Láng Linh thuộc phạm vi huyện Châu Phú, Châu Thành và Tri Tôn).

Quản cơ Trần Văn Thành quy tụ nhiều nông dân yêu nước khắp Nam Kỳ lục tỉnh. Trong Láng Linh có đến 1.200 nghĩa quân.

Công cuộc xây dựng đồn lũy được xúc tiến. Căn cứ chính của ông đặt tại Hưng Trung (gần Nam Long Tự, xã Đào Hữu Cảnh, Châu Phú), xung quanh thiết lập các đồn "Hờ" làm tuyến ngăn giặc: Đồn Cái Môn (Cái Dầu), đồn Giồng Nghệ (Mặc Cần Dưng), trạm canh Ông Tà (Tri Tôn), đồn Hàng Tràm (Bình Thạnh Đông)... Mỗi đồn được trang bị súng thần công, súng điễu thương, hỏa hổ với 150 nghĩa quân phụ trách phòng thủ([13]). Trước tình hình trên chủ tỉnh Long Xuyên là Emille Puech gởi báo cáo về Sài Gòn: "Ông (tức Trần Văn Thành) lập ra một đạo gọi là "Đạo Lành" trong hầu hết các tỉnh ở Gia Định đều có tín đồ. Tín đồ từ các nơi tới mật khu mang theo lúa gạo, sắt để rèn khí giới. Dân ở làng lân cận bảo vệ căn cứ, giữ mật, không ai đi lọt vào vùng cấm địa"([14]). Nghĩa quân tổ chức thành nhiều đội. Mỗi đội có người chỉ huy, đội Nhất: Nguyễn Văn Năng, Lê Văn Vang, đội Nhì: Nhiều (Lượng), đội Tư: Đinh Văn Hiệp... Trong lực lượng nghĩa quân còn có bà Nguyễn Thị Thạnh (vợ Trần Văn Thành) và các con: Trần Văn Nhu, Trần Văn Chái (tư Chái)...

Năm 1872, thực dân Pháp phát hiện kế hoạch khởi nghĩa. Chúng cho mật thám vào Láng Linh để điều tra hoạt động của Đạo Lành. Biết căn cứ bại lộ, Trần Văn Thành phất cờ khởi nghĩa, lấy danh hiệu "Binh Gia Nghị" tuyên bố đánh Pháp.

Tháng 6 năm 1872, quân Pháp mở cuộc tiến công vào căn cứ Bảy Thưa. Chúng dùng thuyền nhỏ từ Long Xuyên tiến vào rạch Mặc Cần Dưng đánh đồn Giồng Nghệ và chiếm được đồn này nửa tháng. Sau đó, quân Pháp rút lui vì không chịu nỗi kiểu đánh du kích của nghĩa quân. Tháng giêng năm 1873, tay sai Pháp là Tôn Thọ Tường ra lời dụ hàng, nhưng không thuyết phục được Trần Văn Thành. Chúng buộc phải đánh tiếp.

Tháng 3 năm 1873, quân Pháp mở cuộc tấn công lớn vào Bảy Thưa. Tên  E.Puech và đại úy Gayen chỉ huy với sự giúp sức của Tri huyện Trần Bá Tường (em ruột Trần Bá Lộc) và Phó quản Hiếm. E.Puech được lính Pháp hộ tống hành quân vào Bảy Thưa. Giặc chiếm đồn Giồng Nghệ. Cánh quân Pháp từ Châu Đốc đánh xuống chiếm đồn Hàng Tràm (Phú Bình, Phú Tân). Sau đó chúng đẩy lùi nghĩa quân khỏi đồn Hờ ở Cái Dầu (Châu Phú).

Sau vài trận giao chiến, nghĩa quân rút lui để bảo toàn lực lượng. Cuối cùng, đồn Hưng Trung thất thủ, đội chín Văn tử trận, đội nhất Năng tự sát. Trần Văn Chái bị thương nơi đùi rồi sa vào tay giặc([15]).

Ngày 20/3/1873 (nhằm 21/2 - Âl), quân Pháp tấn công vào căn cứ chính Hưng Trung. Trần Văn Thành bình tĩnh đối phó. Tuy bị bao vây nhưng ông vẫn đứng sau phòng tuyến làm bằng ván với những bao gạo chồng chất, thách thức bọn Pháp, dùng ống loa chửi Pháp thậm tệ. Ông hướng về phía binh sĩ khích lệ tinh thần, quân sĩ hò reo vang rền, chửi rủa bọn Pháp, trống đánh liên hồi([16]). Cuộc chiến diễn ra ác liệt từ sáng đến tối. Trước hỏa lực của giặc, số nghĩa quân chết và bị thương khá nhiều. Đến tối, đồn Hưng Trung thất thủ, khi quân Pháp vào đồn thấy có 10 xác nghĩa quân, 5 người khác bị thương. Chúng bắt thêm 13 người chưa kịp rút lui. Quân Pháp thu được 16 đại bác bắn đá, 70 cây đao và một số giấy tờ xác nhận Trần Văn Thành có liên hệ nhiều nơi Nam Kỳ lục tỉnh. Chúng ước lượng nghĩa quân có chừng 400 - 500 người và than phiền không tiêu diệt hoàn toàn, vì cánh quân Châu Đốc chưa đến kịp. Trần văn Thành hy sinh trong chiến đấu.

Ngày 22/4/1873, Đô đốc Nam Kỳ ra nghị định "nghiêm cấm không cho dân chúng được theo đạo Lành, vì theo đạo này xúi dục dân chúng đi lạc khỏi đường ngay nẻo chánh"([17]). Nhiều nhà yêu nước như Nguyễn Văn Tư, Trần Văn Tuấn (quê Long Xuyên), bị án tù chung thân (3/5/1873), đày ra đảo Réunion; Phan Văn Trang 60 tuổi quê ở Thạnh Mỹ Tây (Châu Đốc) làm xã trưởng, can án "đồng lõa làm loạn", xét xử ngày 6/9/1875 cũng bị đày đi Côn Đảo([18]).

Khởi nghĩa Bảy Thưa nổ ra trong điều kiện khó khăn vì hầu hết các phong trào chống Pháp ở Nam Kỳ bị đánh dẹp nên thực dân Pháp rảnh tay tập trung lực lượng đàn áp.

c- Ngô Lợi và đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa

Sau cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa (1873), chính sách bình định của thực dân Pháp tiến hành chặt chẽ, không ngoài mục đích đàn áp phong trào yêu nước. Nhưng không vì thế mà tinh thần yêu nước của nhân dân An Giang bị sa sút. Hoạt động đó phải kể đến Ngô Lợi  ở Thất Sơn.

Sau cuộc khởi nghĩa ở Mỹ Tho thất bại, Ngô Lợi bí mật đến núi Tượng (Tri Tôn, An Giang) lập căn cứ chiêu mộ nghĩa binh, lấy thuyết "Hội Long Hoa" và giáo lý "Tứ Ân Hiếu Nghĩa" để che mắt giặc. Mật thám Pháp ở Châu Đốc theo dõi chặt chẽ hoạt động của Ngô Lợi. Chúng nhiều lần tiến hành bình định làng An Định, bao vây núi Tượng tìm bắt Ngô Lợi, nhưng không thành. Chúng bắt nhiều người có liên quan đến cuộc khởi nghĩa ở Mỹ Tho.

Khoảng năm 1884, Ngô Lợi trở lại núi Tượng dựng chùa Tam Bửu (Tam Bửu thường trụ).

Năm 1885, Ngô Lợi ở núi Tượng đánh chiếm hai bờ kênh Vĩnh Tế và làm chủ Tịnh Biên. Chủ tỉnh Châu Đốc Le Brun báo cáo tin tức về Sài Gòn: "Sự thật là làng An Định là bọn cướp bóc, lý lịch thiếu minh bạch, phản loạn. Theo ý tôi, hễ họ quấy phá thì nhà nước chẳng nên đối xử dễ dãi như trước nữa"([19]).

Quân Pháp ở Châu Đốc do Đại úy Ferussac đem quân đánh vào dọc kênh Vĩnh Tế và làng An Định. Lực lượng nghĩa quân rút về Vườn Dầu (Campuchia). Giặc Pháp đốt chùa, lúa gạo và bố trí đồn bót dọc kênh Vĩnh Tế. Ngày 2/6/1886, quân Pháp mở cuộc hành quân sang Campuchia, đánh vào Vườn Dầu nhưng thất bại. Chúng đánh giá tình hình: "Uy tín tinh thần của ông (ý chỉ Ngô Lợi) còn mạnh. Ông là giáo chủ tôn giáo mới", và chúng cho rằng "chống sự khai hóa của người Pháp thì chùa nói trên là trung tâm điểm để phát khởi một phong trào phục hưng cho người An Nam"([20]).

Năm 1887, quân Pháp do thiếu tá Peiqnaux ở Châu Đốc chỉ huy, cùng sự hướng dẫn của tên Việt gian Trần Bá Lộc và cai tổng Trương Văn Keo kéo quân vào làng An Định. Chúng gặp sự kháng cự của nghĩa quân tại núi Trà Sư. Sau đó giặc tràn vào An Định đốt sạch nhà cửa, chùa chiền, bắt nhiều người tra tấn để tìm Ngô Lợi. Thực dân Pháp ra lệnh giải tán làng An Định, nhập vào làng Vĩnh Lạc (tức Lạc Quới) và cấm giáo phái Tứ Ân Hiếu Nghĩa hoạt động. Chúng cưỡng chế 407 gia đình (1994 người) trở về quê quán. Trong số họ có người tìm cách ở lại bám trụ vùng đất vừa khai phá và tiếp tục ủng hộ thủ lĩnh của mình. Bản thân Trần Bá Lộc trực tiếp theo dõi vây bắt Ngô Lợi và triệt phá chùa chiền. Chúng bắt cai tổng Lê Văn Nuôi, người nuôi dưỡng che chở phong trào, đày đi Côn Đảo. Năm 1890, Ngô Lợi mất, phong trào dần tan rã([21]).


d- Các hoạt động yêu nước ở An Giang

Đầu thế kỷ XX, tư tưởng dân chủ tư sản đã ảnh hưởng mạnh mẽ trong nước với các cuộc vận động như phong trào Đông Du, Duy Tân của Phan Bộ Châu, Phan Chu Trinh. Năm 1904, Phan Bội Châu đến Thất Sơn để liên kết với những nhà yêu nước ở An Giang. Trong thời gian này, Nguyễn Quang Diêu gia nhập phong trào Đông Du. Tháng 7/1913, Nguyễn Quang Diêu xuất dương sang Nhật, nhưng bị bắt ở Trung Quốc. Thực dân Pháp kết án 10 năm tù khổ sai, đày sang Guyane (Nam Mỹ). Sau đó ông vượt ngục đi qua nhiều nước Âu, Á rồi trở về nước. Cuối cùng trú ngụ ở làng Vĩnh Hòa (Tân Châu) làm thơ, dạy học, mất năm 1936.

Đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp bước vào công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai làm thay đổi căn bản đời sống kinh tế xã hội An Giang. Hình thức đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân cũng thay đổi cho phù hợp tình hình. Nhiều người còn mang nặng tinh thần chống Pháp với hình thức thần bí. Ở Châu Đốc lập ra Hàn Lâm Miếu, thực chất tập hợp nhiều hội viên bàn về thời cuộc chính trị. Phong trào "Hội Kín" mang màu sắc "Thiên địa hội" Trung Quốc phát triển (như Kèo xanh, Kèo vàng). Cuối năm 1909, ở Long Xuyên, chính quyền thực dân đưa ra Tòa tiểu hình 309 người để truy tố về tội "làm loạn".

Phong trào Hội Kín diễn ra khắp Nam Kỳ. Những người lãnh đạo phong trào như Phan Phát Sanh (Phan Xích Long), Nguyễn Hữu Trí có mối quan hệ gắn bó với các nhà yêu nước ở Thất Sơn. Trong số các lãnh tụ Hội kín ở An Giang có Cao Văn Long (tự Bảy Đỏ). Ông dựng chùa Phật Lớn ở núi Cấm và đi khắp nơi khuyến giáo, bắt liên lạc với các tổ chức, thu nạp hội viên, trong đó có cả người Khmer.

Sau sự kiện đánh vào dinh Thống đốc Nam Kỳ ở Sài Gòn (1913) thất bại, các lãnh tụ Hội Kín định tổ chức cuộc khởi nghĩa mới, trung tâm đặt tại chùa Phật Lớn núi Cấm (Tịnh Biên, An Giang). Nhưng sự việc không thành, Cao Văn Long bị Pháp bắt. Lực lượng còn lại do Nguyễn Hữu Trí lãnh đạo tổ chức cuộc khởi nghĩa phá khám lớn Sài Gòn (12/12/1916) nhằm giải thoát cho Phan Xích Long, nghĩa quân bị đàn áp tàn khốc. Năm 1917, Hội Kín tan rã([22]).

Tại Láng Linh (Thạnh Mỹ Tây, Châu Phú) tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương do Trần Văn Nhu (còn gọi là ông Hai Nhà Láng) - con trưởng Quản cơ Trần Văn Thành - chủ trương bất hợp tác với giặc, lập trại ruộng, hốt thuốc trị bệnh và phát "Phù điều"([23]) thu nạp tín đồ khắp lục tỉnh. Chính quyền thực dân ở Châu Đốc lo ngại cho một cuộc khởi nghĩa mới. Nhân ngày 22 tháng 2 Âl (1913), Trần Văn Nhu cùng dân Láng Linh đứng ra kỷ niệm lần thứ  40 ngày khởi nghĩa Bảy Thưa. Quân Pháp ở Châu Đốc được mật báo, kéo quân vào vây Bửu Hương Tự (Thạnh Mỹ Tây) bắt 83 người, Trần Văn Nhu trốn thoát. Thực dân Pháp triệt hạ Bửu Hương Tự. Sau đó, ở Châu Đốc chúng kết án 56 người, trong đó có 20 người bị đày đi Côn Đảo ([24]).

Năm 1907, Tôn Đức Thắng lên Sài Gòn để học ở trường Cao Thắng. Sau đó làm thợ máy cho Hải quân Pháp. Năm 1919 kéo lá cờ đỏ phản chiến trên biển Hắc Hải, trở thành một trong những tấm gương tiêu biểu cho tinh thần bất khuất Việt Nam.

Những năm đầu thế kỷ XX, phong trào Duy Tân khởi xướng, nhằm vận động cải tạo văn hóa, xã hội, động viên tinh thần yêu nước trong nhân dân, đấu tranh chống ách thống trị của ngoại bang. Trương Gia Mô cùng Nguyễn Lộ Trạch, Phan Chu Trinh, Nguyễn Sinh Sắc (thân sinh Bác Hồ) vận động Duy Tân.

Sau việc mưu sát tên Toàn quyền Pasquier không thành, năm 1924, Trương Gia Mô bất đắc chí đi về các tỉnh miền Tây Nam Kỳ. Cuối năm 1929, ông đến núi Sam (Châu Đốc) chọn con đường quyên sinh ([25]).

Đành yên một giấc nghìn thu, Châu Đốc há rằng quê quán khách

Trót hẹn chiếc thân bốn bể, Việt Nam đâu cũng nước non nhà

                                               (Lời điếu của thi sĩ Đông Hồ)

Từ năm 1921 đến năm 1929, cụ Nguyễn Sinh Sắc có những hoạt động yêu nước ở Mỹ Tho, Tân An, Bến Tre, Long Xuyên, Châu Đốc ... với nghề hốt thuốc Bắc. Cụ nhiều lần đến chùa Giồng Thành (7/1927) thuộc xã Long Sơn (Phú Tân, nay là TX. Tân Châu), chùa Hòa Thạnh xã Nhơn Hưng (Tịnh Biên) khơi dậy tinh thần yêu nước của nhân dân trong vùng.


(Nguồn: Địa chí An Giang,

năm 2013)

___________________

([1])  Đại Nam thực lục, tập 29, Tr. 156

([2]) Dương Kinh Quốc, Việt Nam những sự kiện lịch sử, tập 1 (1858 - 1898), sđd, Tr.76

([3]) Đại Nam thực lục, tập 33, Tr. 163

([4]) A-Soa còn gọi là A chars a, sách triều Nguyễn ghi là Ong - Bướm…

([5]) Lịch sử Việt Nam, 1858 cuối thế kỷ XIX, Q.3, tập 1, NXB GD, 1979, tr.94

([6]) Lịch sử thế giới cận đại, Q.3, NXB Hà Nội, 1985, Tr.219

([7]) Đại Nam Thực lục, tập 30, Tr.255

([8]) Sau khi giao thành Phan Thanh Giản tuyệt thực suốt 17 ngày, rồi uống thuốc độc tự tử vào ngày 4-8-1867, thọ 71 tuổi.

([9]) Trương Bá Cần, các tác giả - Kỷ niệm 100 năm ngày Pháp chiếm Nam Kỳ. Trình Bày, S.Gòn, 1967, Tr.186.

([10]) Võ Thành Phương, Trở lại sự kiện mất thành Châu Đốc (1867). Văn nghệ Châu Đốc 1993, Tr 38-41.

([11]) Liêm Châu, Biên Thuỳ truyện ký, Khai phá, Sài Gòn, 1973, Tr.38 – 39.

([12]) P.Vial, Q2, Tr.134

([13]) Nguyễn Văn Hầu, Đức Cố Quản hay cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa, Tân Sanh, Sài Gòn, 1956, Tr.85

([14]) Báo Le Courrier de Sài Gòn (5/4/1873)

([15]) Quân Pháp bắt Tư Chái về Châu Đốc. Ông quyết giữ khí tiết, không khuất phục nên tự sát tại khám Châu Đốc.

([16]) Báo Le Courrier De Sài Gòn (5/4/1873)

([17]) Sociétés secretes, Diverses Provinces (1875 - 1882)

([18]) Sơn Nam, Lịch sử An Giang, Sđd, Tr.75

([19]) Sơn Nam, Lịch sử An Giang, Sđd, Tr. 89

([20]) Rapports mensuels de services (1887 - 1888)

([21]) Theo hệ phái Tứ Ân Hiếu Nghĩa, các cuộc đàn áp vào núi Tượng, họ gọi: "Pháp nạn". Từ năm 1879 đến khi Ngô Lợi mất có 5 lần "Pháp nạn".

([22]) M.F.Baudoin le Cambodge de 1914 à 1916, Phnompenh, 1917 (theo Tạp chí Lịch sử quân sự, số 19 năm 1987)

([23]) Chữ Bửu Sơn kỳ Hương bằng son tàu. "Phù điều" còn gọi là "lòng phái". "Phù điều" được làm bằng giấy vàng hoặc trắng, bên trong in 4 phái.

([24]) Lời kể của ông Nguyễn Chí Thiện (Thạnh Mỹ Tây, Châu Phú)

([25]) Nguyễn Nam, Cụ Nghè Trương Gia Mô, NXB Tổng hợp An Giang, 1989.

Tân Châu triển khai các công trình trọng điểm, lập thành tích chào mừng kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang Bài viếtVăn PhôTân Châu triển khai các công trình trọng điểm, lập thành tích chào mừng kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang /SiteAssets/TC-chaomung-190nam-congtrinh-1.jpg
08/08/2022 11:00 SANoĐã ban hành
(TUAG)- Thiết thực lập thành tích chào mừng kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang (1832-2022). Thời gian gần đây, sau khi dịch bệnh COVID-19 được kiểm soát, Đảng bộ, Chính quyền và Nhân dân thị xã Tân Châu đã và đang nêu cao quyết tâm chính trị, dồn sức tập trung mời gọi đầu tư, thực hiện nhiều công trình trọng điểm, trong đó đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông là mục tiêu quan trọng, nhằm kết nối thị xã với các tỉnh trong khu vực, đưa Tân Châu phát triển nhanh và bền vững, tiến tới trở thành thành phố trực thuộc tỉnh.


Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Lê Văn Nưng cắt băng khánh thành Nhà thi đấu thể thao TX Tân Châu

Với vị trí, tính chất là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của thị xã Tân Châu. Là đô thị trung tâm thương mại, dịch vụ, sản xuất quan trọng của Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Vĩnh Xương (Khu kinh tế vùng tỉnh An Giang - Campuchia). Là đầu mối giao thông thủy, bộ của khu vực, điểm trung chuyển hàng hóa giao thương qua biên giới Campuchia và các nước ASEAN. Hiện tại, thị xã Tân Châu đã và đang tập trung đẩy mạnh quy hoạch và mời gọi đầu tư mạnh về cơ sở hạ tầng, trong đó bố trí lại dân cư, sắp xếp hình thành các cụm công nghiệp, ngành sản xuất để thúc đẩy kinh tế; đặc biệt là quan tâm đẩy mạnh mở rộng địa giới hành chính, mở rộng không gian đô thị, thành lập mới 5 phường gồm Châu Phong, Phú Vĩnh, Long An, Tân An, Vĩnh Xương, hình thành đô thị trung tâm trên 65% là phường. Song song đó, thị xã Tân Châu quan tâm sớm triển khai dự án Khu đô thị mới Sao Mai 99,8 hec do Tập đoàn Sao Mai đầu tư; dự án san lắp kênh Vĩnh An (giai đoạn 2), hình thành các khu dân cư mới; công trình Tuyến kè đầu kênh Vĩnh An (từ bờ kè đến chùa Ông). Tiếp tục mời gọi đầu tư các dự án thuộc khu vực cửa khẩu Quốc tế Vĩnh Xương như: Khu cửa khẩu Quốc tế Vĩnh Xương (đường bộ), Khu Thương mại và vui chơi giải trí khu vực cửa khẩu Vĩnh Xương, Khu tái định cư Vĩnh Xương mở rộng.


Dự án tuyến đường liên kết vùng (ảnh đồ họa, nguồn Internet)

Đối với dự án tuyến đường liên kết vùng đoạn từ thị xã Tân Châu đến TP Châu Đốc, kết nối với tỉnh Đồng Tháp, An Giang và Kiên Giang (gọi là đường N1) có chiều dài dài 21 km, vốn đầu tư khoảng 2.100 tỷ đồng. Dự án song song tỉnh lộ 953, điểm đầu tại nút giao đường tỉnh 954 (phường Long Sơn, thị xã Tân Châu) và điểm cuối tại nút giao với quốc lộ 91 (phường Vĩnh Mỹ, TP Châu Đốc). Trên tuyến còn xây cầu Châu Đốc dài 667 mét (đã khởi công ngày 28/3/2022), thay thế phà Châu Giang và 2 cầu Mương Tri và Thần Nông. Trong tổng vốn đầu tư, chi phí bồi thường, giải tỏa hơn 400 tỷ đồng, khoảng 1.300 tỷ đồng chi phí xây dựng, còn lại dành cho phần việc khác. Công trình sử dụng cả ngân sách Trung ương và địa phương, dự kiến hoàn thành năm 2024. Dự án ngoài rút ngắn thời gian từ Châu Đốc đi thị xã Tân Châu cũng như từ miền Tây đến TP HCM còn thúc đẩy phát triển kinh tế, du lịch vùng biên giới. Hiện tại, thị xã đang phối hợp các ngành tỉnh và nhà đầu tư tập trung thực hiện công tác giải phóng mặt bằng tạo quỹ đất, phối hợp thực hiện dự án cầu Châu Đốc bắc qua sông Hậu, kè Châu Phong,…


Hàng hóa, nông sản tập kết tại tuyến đường bộ Cửa khẩu Quốc tế Vĩnh Xương, xuất khẩu sang Campuchia

Cùng với đó, thị xã Tân Châu còn quan tâm đề xuất tỉnh sớm triển khai dự án nâng cấp tỉnh lộ 952 lên Quốc lộ 80B kết nối Cửa khẩu Quốc tế Vĩnh Xương với Vương Quốc Campuchia; nâng cấp mở rộng đường Tỉnh 953; triển khai dự án đường Lương Đình Của nối dài giáp đường Nguyễn Thị Định, Nguyễn Tri Phương nhằm từng bước tạo ra một hệ thống giao thông đồng bộ. Quy hoạch xây dựng khu thương mại - dịch vụ chính cặp sông Tiền, các siêu thị bố trí trên trục trung tâm hoặc các giao lộ chính, khu xuất nhập khẩu, các dịch vụ hỗ trợ tại cửa khẩu quốc tế Vĩnh Xương. Hình thành chuỗi Khu dịch vụ - du lịch và các trung tâm chuyên ngành khai thác tiềm năng lợi thế của từng địa phương gồm có: Trung tâm giáo dục; các trung tâm y tế; trung tâm văn hoá, thể dục thể thao và câu lạc bộ thể thao sẽ làm tăng chỉ tiêu đất dân dụng. Phát triển mạng lưới chợ, siêu thị, trung tâm thương mại trên địa bàn thị xã. Đổi mới cơ chế chính sách phù hợp, thu hút nguồn nhân lực từ các vùng phụ cận, tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển đổi lao động tại chỗ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng Thương mại - Dịch vụ - Công nghiệp - Xây dựng - Nông nghiệp công nghệ cao. Đây là những mục tiêu, dự án trọng điểm, sau khi hoàn thành sẽ là đòn bẫy để thị xã Tân Châu chuyển mình lên thành phố trực thuộc, là một trong ba trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội phía bắc của tỉnh An Giang.  


Đẩy mạnh thi công các công trình giao thông trọng điểm

Để thị xã Tân Châu sớm trở thành thành phố trực thuộc tỉnh An Giang, hiện tại, tỉnh và thị xã cũng đã quy hoạch từng giai đoạn để thực hiện. Cụ thể, giai đoạn 2021 - 2022, tỉnh điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thị xã đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Đồng thời, tỉnh tiến hành điều chỉnh nhiều nội dung khác: Quy hoạch chung thị xã đến năm 2040, quy chế quản lý quy hoạch - kiến trúc đô thị thị xã, chương trình phát triển đô thị thị xã đến năm 2040. Giai đoạn 2022 - 2023, tỉnh lập nhiệm vụ quy hoạch phân khu cho các khu vực đô thị hóa cao có khả năng trở thành phường trong tương lai. Giai đoạn 2023 - 2025, tỉnh lập các đồ án quy hoạch phân khu cho các khu vực đô thị hóa cao có khả năng trở thành phường (bao gồm 5 xã: Tân An, Long An, Phú Vĩnh, Vĩnh Xương, Châu Phong). Giai đoạn 2024 - 2025, tỉnh lập đề án đề nghị công nhận thị xã Tân Châu là đô thị loại III (phạm vi nội thị mở rộng để lên thành phố). Đồng thời, An Giang triển khai đầu tư xây dựng hạ tầng các phường dự kiến và lập đề án đề nghị thành lập thành phố Tân Châu và các phường trực thuộc thành phố (khi đủ điều kiện) trong giai đoạn này.

Ngoài triển khai Dự án xây dựng tuyến đường liên kết vùng N1, Quốc lộ 80B, xây dựng tuyến đường bộ qua cửa khẩu Vĩnh Xương, đường nối từ đường tỉnh 952 đến bến tàu, giao thông nội bộ và bãi xe trong khu thương mại, dịch vụ Cửa khẩu Quốc tế Vĩnh Xương và cầu Châu Đốc - Tân Châu, san lấp kênh Vĩnh An giai đoạn 2,… tỉnh và thị xã sẽ tiếp tục mời gọi đầu tư xây dựng cầu Tân Châu - Hồng Ngự, cảng Tân Châu, bến tàu Vĩnh Xương trên sông Tiền… Đây là những dự án trọng điểm, sẽ tiếp tục góp phần tạo ra một mạng lưới giao thông thông thoáng để thị xã Tân Châu tiếp tục thu hút đầu tư, đưa thị xã phát triển, trở thành vùng kinh tế động lực phía Bắc của tỉnh, lập thành tích chào mừng kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang (1832-2022).

Văn Phô
1 - 30Next