Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksChính trị

Chào mừng quý vị đến với Cổng thông tin điện tử Đảng bộ tỉnh An Giang!
 
Chính trị
 

​HOÀNG KỲ (*)

 
 
 
 
  
  
  
  
  
Tóm tắt
  
  
  
  
Nội dung
  
  
Phân loại
  
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng gửi Thông điệp tới Hội thảo quốc tế thường niên “Các chính đảng và một xã hội mới” TinĐảng Cộng sản VNTổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng gửi Thông điệp tới Hội thảo quốc tế thường niên “Các chính đảng và một xã hội mới” /SiteAssets/tbt1-NgPhuTrong.jpg
22/10/2021 9:00 SANoĐã ban hành
(ĐCSVN) - Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, sau 25 năm hình thành và phát triển, nhờ những nỗ lực to lớn của Đảng Lao động và cá nhân đồng chí Tổng Bí thư An-béc-tô A-na-gia, Hội thảo "Các chính đảng và một xã hội mới" thực sự trở thành một diễn đàn có ý nghĩa và vị trí quan trọng, ngày càng thu hút sự tham gia đông đảo của các lực lượng cánh tả, tiến bộ ở khu vực Mỹ La tinh và trên thế giới; góp phần thúc đẩy cuộc đấu tranh chung vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác, phát triển và tiến bộ xã hội.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng gửi Thông điệp tới Hội thảo quốc tế thường niên “Các chính đảng và một xã hội mới” 

Nhân dịp Hội thảo quốc tế thường niên “Các chính đảng và một xã hội mới” lần thứ XXV do Đảng Lao động (PT) Mê-hi-cô tổ chức tại thủ đô Mê-hi-cô trong các ngày từ 21 đến 23/10, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có Thông điệp gửi đồng chí An-béc-tô A-na-gia Gu-tia-rết, Tổng Bí thư Đảng Lao động Mê-hi-cô.

Đánh giá về ý nghĩa của Hội thảo, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, sau 25 năm hình thành và phát triển, nhờ những nỗ lực to lớn của Đảng Lao động và cá nhân đồng chí Tổng Bí thư An-béc-tô A-na-gia, Hội thảo "Các chính đảng và một xã hội mới" thực sự trở thành một diễn đàn có ý nghĩa và vị trí quan trọng, ngày càng thu hút sự tham gia đông đảo của các lực lượng cánh tả, tiến bộ ở khu vực Mỹ La tinh và trên thế giới; góp phần thúc đẩy cuộc đấu tranh chung vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác, phát triển và tiến bộ xã hội.

Tổng Bí thư chân thành cảm ơn Đảng Lao động Mê-hi-cô, các chính đảng cánh tả, tiến bộ Mỹ La tinh và Ca-ri-bê cũng như các chính đảng bè bạn trên thế giới đã luôn ủng hộ, đồng hành với Đảng Cộng sản Việt Nam trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày nay; khẳng định mong muốn tiếp tục làm sâu sắc hơn nữa quan hệ hữu nghị, đoàn kết và hợp tác giữa Đảng Cộng sản Việt Nam với Đảng Lao động Mê-hi-cô, với các chính đảng, tổ chức cánh tả, tiến bộ tại Mê-hi-cô, Mỹ La tinh và trên toàn thế giới./.

Mạnh Hùng - ĐCSVN
FalseChính trị
Lữ đoàn 962: Thông báo nhanh kết quả Hội nghị lần thứ 4, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIIITinThành TâmLữ đoàn 962: Thông báo nhanh kết quả Hội nghị lần thứ 4, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII/SiteAssets/Ludoan962-tbnhanhtw4.jpg
18/10/2021 11:00 SANoĐã ban hành
(TUAG)- Sáng ngày 18/10, Đảng ủy Lữ đoàn 962 tổ chức Hội nghị thông báo nhanh kết quả Hội nghị Trung ương 4 (khoá XIII) đến toàn thể sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp trong toàn Lữ đoàn.


Hội nghị được nghe Đại tá Lê Thanh Nhã, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Lữ đoàn thông báo nhanh kết quả Hội nghị Trung ương 4 (khoá XIII) và định hướng công tác tuyên truyền. Theo đó, Hội nghị lần này, Trung ương tập trung thảo luận, cho ý kiến về: Tình hình phòng, chống đại dịch COVID-19 và quan điểm, chủ trương về phòng, chống dịch trong tình hình mới; tình hình kinh tế - xã hội năm 2021, dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2022; tình hình thực hiện ngân sách nhà nước năm 2021, dự toán ngân sách nhà nước năm 2022 và kế hoạch tài chính - ngân sách nhà nước 3 năm 2022 - 2024; chủ trương lùi thời điểm thực hiện cải cách chính sách tiền lương theo Nghị quyết số 27-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 7 (khoá XII); tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ; sửa đổi, bổ sung Quy định số 47-QĐ/TW, ngày 01/11/2011 của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm và một số vấn đề quan trọng khác.
 
Ludoan962-tbnhanhtw4.jpg
Quang cảnh các đại biểu dự Hội nghị

Cũng tại Hội nghị các đồng chí sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp được nghe đồng chí Đại tá Lê Thanh Nhã quán triệt, hướng dẫn các cơ quan, đơn vị tổ chức học tập nội dung Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII) cho 100% cán bộ, đảng viên, chiến sĩ; cùng với đó là đẩy mạnh tuyên truyền kỷ niệm 60 năm Ngày mở đường Hồ Chí Minh trên biển (23/10/1961 – 23/10/2021).

Tin, ảnh: Thành Tâm
FalseĐưa Nghị quyết vào cuộc sống
An Giang dự Hội nghị trực tuyến thông báo nhanh Kết quả Hội nghị Trung ương 4, khóa XIIITinNgọc HânAn Giang dự Hội nghị trực tuyến thông báo nhanh Kết quả Hội nghị Trung ương 4, khóa XIII/SiteAssets/HN-BCV-nqtw4-2.jpg
11/10/2021 4:00 CHNoĐã ban hành

(TUAG)- Chiều ngày 11/10, Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức Hội nghị trực tuyến thông báo nhanh Kết quả Hội nghị lần thứ 4, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII (Hội nghị Trung ương 4, khóa XIII). Đồng chí Lại Xuân Môn, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì Hội nghị.

HN-BCV-nqtw4-2.jpg

Đồng chí Trần Thị Thanh Hương - Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh chủ trì tại điểm cầu tỉnh. An Giang tham dự có 01 điểm cầu cấp tỉnh, 14 điểm cầu cấp huyện, 71 điểm cầu cấp xã, với tổng số 1.595 đại biểu tham dự.

Hội nghị đã nghe đồng chí Lại Xuân Môn, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương thông báo nhanh Kết quả Hội nghị Trung ương 4, khóa XIII. Hội nghị diễn ra từ ngày 04/10 đến ngày 07/10/2021, tại Thủ đô Hà Nội, Hội nghị đã họp bàn, cho ý kiến về các nội dung sau: (1) Báo cáo tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2021, dự kiến Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2022; đánh giá tình hình thực hiện ngân sách nhà nước năm 2021 và dự toán ngân sách nhà nước năm 2022; Kế hoạch tài chính - ngân sách nhà nước 3 năm 2022 - 2024; về việc lùi thời điểm thực hiện cải cách chính sách tiền lương theo Nghị quyết số 27-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 7 khoá XII. (2) Báo cáo kết quả công tác phòng, chống dịch COVID-19 thời gian qua; quan điểm, chủ trương, nhiệm vụ, giải pháp trong thời gian tới. (3) Báo cáo kết quả 5 năm thực hiện Nghị quyết số 04-NQ/TW, ngày 30/10/2016 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ. (4) Quy định về những điều đảng viên không được làm. (5) Báo cáo các công việc quan trọng Bộ Chính trị đã giải quyết từ sau Hội nghị Trung ương 3 đến Hội nghị Trung ương 4 và các nhiệm vụ trọng tâm từ Hội nghị Trung ương 4 đến Hội nghị Trung ương 5.

Hội nghị Trung ương 4, khóa XIII thành công tốt đẹp,  đã tạo hai dấu ấn đậm nét trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo về nội dung thúc đẩy việc hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ phòng, chống dịch bệnh COVID-19, phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an sinh xã hội và đời sống của Nhân dân và xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh.

HN-BCV-nqtw4-1.jpg

Kết luận và định hướng tuyên truyền thới gian tới: Đồng chí Lại Xuân Môn, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương đề nghị báo cáo viên các cấp tuyên truyền sâu rộng các nội dung Hội nghị Trung ương 4, khóa XIII, trong đó nhấn mạnh thông điệp của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong bài phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 4 “Để thực hiện có hiệu quả các nghị quyết, kết luận của Hội nghị Trung ương lần này thì nhận thức của chúng ta phải chín, tư tưởng phải thông, quyết tâm phải lớn và phương pháp phải đúng, góp phần làm chuyển biến tình hình thật sự, có kết quả rõ ràng”.

Bên cạnh tuyên truyền nội dung Hội nghị Trung ương 4, khóa XIII, đồng chí đề nghị đẩy mạnh tuyên truyền các sự kiện chính trị, lịch sử trong thời gian tới: Kỷ niệm 60 năm Ngày mở đường Hồ Chí Minh trên biển (23/10/1961 - 23/10/2021); kỷ niệm 104 năm Ngày Cách mạng Tháng Mười Nga (7/11/1917 - 7/11/2021); kỷ niệm 201 năm Ngày sinh Ph.Ăng-ghen (28/11/1820 - 28/11/2021);…/.

 Ngọc Hân

FalseĐưa Nghị quyết vào cuộc sống
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIIIBài viếtHòa BìnhTổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII/SiteAssets/HNTW4-13-toancanh-bm.jpg
07/10/2021 2:00 CHYesĐã ban hành

​(TUAG)- Sau gần 4 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII đã hoàn thành toàn bộ nội dung chương trình đề ra và bế mạc vào sáng 7/10.

HNTW4-13-TBT-bm.jpg

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu bế mạc Hội nghị.

Cổng Thông tin điện tử Đảng bộ tỉnh An Giang trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng bế mạc Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII.


Kính thưa Trung ương,

Thưa các đồng chí tham dự Hội nghị,

Sau hơn 3 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc và đầy tinh thần trách nhiệm, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương của chúng ta đã hoàn thành toàn bộ nội dung chương trình đề ra. Các đồng chí Uỷ viên Trung ương và các đồng chí tham dự Hội nghị đã thể hiện tinh thần trách nhiệm cao, phát huy dân chủ, trí tuệ, thẳng thắn thảo luận sôi nổi, đóng góp nhiều ý kiến rất tâm huyết và quan trọng vào các Báo cáo và Đề án do Bộ Chính trị và Ban cán sự đảng Chính phủ trình Trung ương. Bộ Chính trị đã tiếp thu những ý kiến xác đáng và giải trình những vấn đề còn có ý kiến khác nhau; Ban Chấp hành Trung ương đã thống nhất cao thông qua các nghị quyết, kết luận của Trung ương. Để kết thúc Hội nghị, tôi xin thay mặt Bộ Chính trị phát biểu, làm rõ thêm một số vấn đề và khái quát lại những kết quả chủ yếu mà Hội nghị đã đạt được.

1. Về kinh tế - xã hội năm 2021 - 2022

Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, xem xét, phân tích, đánh giá một cách khách quan, toàn diện các vấn đề, Ban Chấp hành Trung ương đã thống nhất cao cho rằng, năm 2021 là năm đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; thành công của Đại hội đã tạo ra xung lực mới và khí thế mới cho sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sau Đại hội Đảng, Trung ương đã tổ chức tốt 3 hội nghị Trung ương; lãnh đạo tiến hành thành công Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026; sớm kiện toàn các cơ quan và nhân sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước; tổ chức thành công nhiều hội nghị toàn quốc và sự kiện chính trị quan trọng khác; đồng thời đã chỉ đạo khẩn trương, nghiêm túc nghiên cứu, xây dựng và tích cực tổ chức thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2021 và 5 năm 2021 - 2025; cách làm rất bài bản, hợp lý, khoa học, như nhiều lần tôi đã nói: "Nhất hô bá ứng", "tiền hô hậu ủng", "trên dưới đồng lòng" và "dọc ngang thông suốt".

Với tinh thần đổi mới mạnh mẽ, năng động, quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện, và sự nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, chúng ta đã kế thừa, phát huy tốt những thành tựu, kết quả đã đạt được, khắc phục những hạn chế, yếu kém còn tồn tại và bình tĩnh, tỉnh táo xử lý kịp thời, đúng đắn những vấn đề khó, chưa có tiền lệ, mới phát sinh trong phòng, chống dịch bệnh; hỗ trợ cho người dân và doanh nghiệp từng bước vượt qua khó khăn, duy trì, phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ và đời sống nhân dân, chăm lo việc học hành của học sinh, sinh viên... Tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, truyền thống đoàn kết, yêu nước, "thương người như thể thương thân", "lá lành đùm lá rách, lá rách ít đùm lá rách nhiều" của dân tộc ta lại tiếp tục được phát huy cao độ. Nhờ đó, đã kiểm soát được đợt dịch bùng phát lần thứ 3; kinh tế 6 tháng đầu năm vẫn tăng trưởng khá, ở mức 5,64%, cao hơn cùng kỳ năm trước. Trong 9 tháng qua, kinh tế vĩ mô tiếp tục ổn định, lạm phát được kiểm soát, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) chỉ tăng 1,82% so với cùng kỳ; các cân đối lớn của nền kinh tế cơ bản được bảo đảm; tổng thu ngân sách đạt 80,2% dự toán; thị trường tiền tệ, thị trường chứng khoán cơ bản ổn định; xuất khẩu hàng hoá tăng 24,4% so với cùng kỳ. Đặc biệt là, đã kịp thời ứng phó và thực hiện các chính sách hỗ trợ để khắc phục, giải quyết khó khăn cho người dân và doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh. An ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội được giữ vững; công tác quốc phòng, an ninh, đối ngoại đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia; tiếp tục nâng cao uy tín và vị thế của nước ta trên trường quốc tế.

Ban Chấp hành Trung ương hoan nghênh, biểu dương, đánh giá cao và trân trọng cảm ơn những nỗ lực, đóng góp to lớn, những nghĩa cử cao đẹp của đồng bào, đồng chí, chiến sĩ và cộng đồng các doanh nghiệp cả nước; cảm ơn sự ủng hộ, giúp đỡ có hiệu quả của đồng bào ta ở nước ngoài và bạn bè quốc tế trong phòng, chống đại dịch Covid-19 thời gian qua. Đồng thời, chia sẻ sâu sắc những tổn thất, mất mát về người và của mà nhân dân ta đã phải gánh chịu; ghi công, tôn vinh những đồng bào, cán bộ, chiến sĩ các lực lượng nơi tuyến đầu chống dịch, nhất là ngành Y tế, các lực lượng vũ trang và cán bộ cơ sở đã dũng cảm hy sinh quên mình vì sinh mệnh, sức khoẻ và cuộc sống yên bình của nhân dân.

HNTW4-13-toancanh-bm.jpg

Các đại biểu dự phiên bế mạc Hội nghị.

Mặt khác, Trung ương cũng đã tập trung phân tích những ảnh hưởng nặng nề, nhiều mặt của đợt bùng phát dịch lần thứ 4 với biến chủng Delta lây lan rất nhanh, hết sức nguy hiểm; và bàn về những chủ trương, chính sách đúng đắn, tổng thể, căn cơ, bài bản hơn để quyết liệt phòng, chống, kiểm soát dịch bệnh, định hướng phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian tới. Hội nghị thống nhất nhận định: Do hậu quả nặng nề bởi đợt bùng phát dịch lần thứ 4 gây ra, kinh tế quý III tăng trưởng âm 6,17% so với cùng kỳ năm 2020, làm cho tăng trưởng kinh tế 9 tháng đầu năm chỉ đạt 1,42%, là mức thấp nhất từ năm 2000 đến nay; dự báo cả năm chỉ đạt khoảng 3%, thấp xa so với mục tiêu Quốc hội đề ra (6%). Kinh tế - xã hội cả nước đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức lớn, và có thể còn tiếp tục kéo dài trong những tháng cuối năm 2021 và năm 2022. Các hoạt động sản xuất kinh doanh, việc học tập, nhất là học trực tuyến của học sinh, sinh viên và đời sống của người lao động trên hầu hết các lĩnh vực gặp nhiều khó khăn; không ít doanh nghiệp phải dừng hoạt động, thậm chí bị giải thể, phá sản. Nợ xấu ngân hàng có khả năng tăng cao; tiềm ẩn nhiều rủi ro đối với thị trường tài chính - tiền tệ, thị trường lao động, ổn định kinh tế vĩ mô, môi trường đầu tư kinh doanh. Đời sống của nhân dân, sức chống chịu của người lao động ở vùng dịch bị ảnh hưởng rất nặng nề; nẩy sinh nhiều vấn đề phức tạp về tâm lý, tâm trạng xã hội, an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Dự báo, không hoàn thành được nhiều mục tiêu, chỉ tiêu chủ yếu đã đề ra cho năm 2021.

Ngoài nguyên nhân khách quan do tác động của dịch bệnh là chủ yếu, cũng có nguyên nhân chủ quan trong phòng, chống dịch bệnh; có lúc, có nơi còn lơ là, chủ quan, bị động, lúng túng hoặc cứng nhắc, thiếu thống nhất, đồng bộ trong lãnh đạo, chỉ đạo xử lý các tình huống cụ thể, đột xuất; còn hạn chế, bất cập trong dự báo, phân tích tình hình để xây dựng và triển khai thực hiện có bài bản các phương án ngắn hạn cũng như dài hạn, vừa phòng, chống dịch bệnh, vừa phát triển kinh tế - xã hội.

Trong những tháng cuối năm 2021, cần phải khẩn trương xây dựng và tổ chức thực hiện các phương án, kịch bản cụ thể, sát hợp hơn với thực tế tình hình hiện nay và có tính khả thi cao để tiếp tục tập trung ưu tiên phòng, chống dịch bệnh và khắc phục có hiệu quả ảnh hưởng của dịch bệnh; tuyệt đối bình tĩnh, tỉnh táo, không quá hốt hoảng, nhưng cũng không được lơ là, chủ quan, nóng vội, phấn đấu kiểm soát về cơ bản được dịch bệnh trên phạm vi toàn quốc trong thời gian sớm nhất có thể để khôi phục, phát triển kinh tế - xã hội. Tập trung ưu tiên triển khai thực hiện các cơ chế, chính sách, giải pháp hỗ trợ thiết thực, có hiệu quả cho nhân dân, người lao động và doanh nghiệp; nâng cao sức chống chịu, vượt qua khó khăn, thách thức; ổn định đời sống và phục hồi sản xuất kinh doanh. Giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; ổn định kinh tế vĩ mô; kiểm soát giá cả, thị trường, bảo đảm cung ứng, lưu thông hàng hoá và các cân đối lớn của nền kinh tế. Tập trung tháo gỡ các khó khăn, điểm nghẽn, khơi thông mọi nguồn lực cho phòng, chống dịch và phát triển kinh tế - xã hội.

Dự báo, trong năm 2022, tình hình dịch bệnh trên thế giới và ở nước ta còn diễn biến phức tạp, khó lường; có thể còn bùng phát các đợt dịch mới với những biến chủng mới, lây lan nhanh hơn và nguy hiểm hơn. Thế giới khó có thể kiểm soát dịch bệnh một cách tuyệt đối; do đó cần phải có chính sách, biện pháp phù hợp để phòng, chống, "thích ứng an toàn, linh hoạt" hoặc "sống chung" với dịch bệnh. Vì vậy, Hội nghị đặc biệt nhấn mạnh: Từ bài học kinh nghiệm trong nước và quốc tế đúc rút được thời gian qua, cần phải đổi mới tư duy, nhận thức đúng đắn hơn về phòng, chống, kiểm soát dịch bệnh gắn với duy trì, phục hồi, phát triển sản xuất kinh doanh để xây dựng các phương án, kịch bản phù hợp đưa vào Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính - ngân sách nhà nước, đầu tư công năm 2022 sao cho sát hợp, khả thi nhất có thể. Trên cơ sở kế hoạch kinh tế - xã hội năm 2022 và chủ trương, định hướng phòng, chống dịch trong tình hình mới, kịp thời điều chỉnh chính sách tài chính - tiền tệ linh hoạt, hiệu quả, tạo nguồn lực để bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, các cân đối lớn của nền kinh tế, phục hồi sản xuất kinh doanh, lưu thông hàng hoá, lao động, nhất là ở các địa phương đã thực hiện giãn cách xã hội trong thời gian dài, thúc đẩy xuất khẩu và tiêu dùng nội địa, đẩy mạnh đầu tư, bao gồm cả đầu tư công và đầu tư tư nhân. Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành thực hiện các giải pháp phát triển kinh tế - xã hội; tập trung ưu tiên bổ sung, hoàn thiện thể chế, tháo gỡ khó khăn, xử lý có hiệu quả các vấn đề tồn đọng, các nút thắt và điểm nghẽn cho đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh; cơ cấu lại một số ngành, lĩnh vực quan trọng và doanh nghiệp đang bị tác động trực tiếp bởi dịch Covid-19, như: Thương mại, dịch vụ, hàng không, du lịch,... để thích ứng với trạng thái bình thường mới, tạo nền tảng cho giai đoạn phục hồi các ngành, lĩnh vực và doanh nghiệp này từ năm 2022 trở đi. Có giải pháp bảo vệ các doanh nghiệp trong các lĩnh vực chủ đạo của nền kinh tế, cũng như tránh sự đổ vỡ của các tập đoàn kinh tế lớn (cả nhà nước và tư nhân), có thể dẫn đến sự đổ vỡ dây chuyền trong nền kinh tế; không để nền kinh tế bị lỡ nhịp trong xu hướng hồi phục kinh tế thế giới cũng như quá trình tái cấu trúc chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu. Chỉ đạo quyết liệt đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công, nhất là các dự án lớn, trọng điểm quốc gia. Sớm nghiên cứu, xây dựng kịch bản tăng trưởng mới cho thời kỳ "hậu Covid-19", các giải pháp tổng thể kích thích nền kinh tế, hỗ trợ và tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và người lao động, không để suy giảm các động lực tăng trưởng trong dài hạn. Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội; khẩn trương rà soát, không để sót, để lọt đối tượng, địa bàn cần hỗ trợ. Kịp thời đề xuất khen thưởng đối với các tổ chức, cá nhân tham gia tuyến đầu hoàn thành tốt nhiệm vụ. Chăm lo sức khoẻ, đời sống nhân dân, bảo đảm an sinh - phúc lợi xã hội, phát triển văn hoá, giáo dục; chỉ đạo, hướng dẫn và có giải pháp phù hợp cho việc đi học bình thường của học sinh, sinh viên. Thực hiện tốt công tác dự báo và phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu.

Với tinh thần nói trên, Ban Chấp hành Trung ương đồng tình về cơ bản với mục tiêu tổng quát và những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cho năm 2022 do Ban cán sự đảng Chính phủ đề xuất, trong đó có việc lùi thời điểm thực hiện lộ trình cải cách chính sách tiền lương mà Nghị quyết Trung ương 7 khoá XII đã nêu. Đồng thời, yêu cầu tiếp tục rà soát, tính toán kỹ lưỡng, chuẩn xác hoá lại các mục tiêu, chỉ tiêu và nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu để trình Quốc hội xem xét, quyết định, bảo đảm đáp ứng yêu cầu vừa tiếp tục phòng, chống, kiểm soát có hiệu quả dịch bệnh, vừa phục hồi phát triển kinh tế - xã hội trong năm 2022 và các năm tiếp theo. Tập trung ưu tiên thực hiện có hiệu quả các giải pháp bảo đảm an sinh xã hội, hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi sản xuất kinh doanh; đồng thời xử lý những hạn chế, yếu kém tồn đọng từ lâu của nền kinh tế, nhất là trong việc giải ngân vốn đầu tư công; cải cách doanh nghiệp nhà nước và xử lý vấn đề các dự án thua lỗ lớn, chậm tiến độ kéo dài; các ngân hàng thương mại mua bắt buộc 0 đồng... Tăng cường các giải pháp bảo đảm chất lượng giáo dục và đào tạo; bảo đảm quốc phòng, an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội; nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại trong tình hình mới; tăng cường sự thống nhất, đồng thuận của nhân dân cùng chia sẻ, khắc phục những khó khăn chung của đất nước.

2. Về xây dựng, chỉnh đốn Đảng

Ban Chấp hành Trung ương khẳng định, hơn 90 năm qua, Đảng ta đã xác lập, củng cố và ngày càng nâng cao vai trò lãnh đạo, sức mạnh và uy tín của mình bằng chính bản lĩnh, nghị lực, trí tuệ, lý luận tiên phong; bằng đường lối đúng đắn mang lại lợi ích thiết thân cho nhân dân, cho đất nước; bằng sự nêu gương, hy sinh quên mình, phấn đấu không mệt mỏi của đội ngũ cán bộ, đảng viên; bằng một tổ chức đoàn kết, thống nhất chặt chẽ, vững chắc; bằng mối liên hệ máu thịt với nhân dân, được nhân dân hết lòng tin yêu, ủng hộ và bảo vệ. Thực tế từ ngày có Đảng, nhân dân ta đã có người lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt, và nhờ thế đã giành được hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, lập nên những kỳ tích trong thế kỷ XX. Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thách thức và đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Chúng ta hoàn toàn có quyền tự hào về bản chất tốt đẹp, truyền thống anh hùng và lịch sử vẻ vang của Đảng ta - Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sáng lập và rèn luyện, đại biểu của dân tộc Việt Nam anh hùng.

HNTW4-13-daibieu-bm.jpg

Các đại biểu tại Hội nghị.  

Ngày nay, trong điều kiện mới, đứng trước yêu cầu của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới, với quy mô, tầm vóc lớn lao, có nhiều khó khăn, thách thức mới, hơn bao giờ hết, chúng ta càng cần phát huy hơn nữa truyền thống và bản chất tốt đẹp của Đảng, chăm lo xây dựng Đảng ta thật sự vững vàng về chính trị, tư tưởng; thống nhất cao về ý chí, hành động; trong sạch về đạo đức, lối sống; chặt chẽ về tổ chức; gắn bó mật thiết với nhân dân, đủ sức lãnh đạo đưa đất nước ta vượt qua mọi khó khăn, ngày càng phát triển. Đại hội XIII của Đảng đã đề ra yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng với 10 giải pháp cơ bản, đồng bộ, trong đó nhấn mạnh phải tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khoá XII với trọng tâm là ngăn chặn, đẩy lùi, kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm minh sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những hành vi tham nhũng, tiêu cực và những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ.

Cái mới của lần này là Trung ương đã mở rộng phạm vi, không chỉ trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng mà còn bao gồm cả trong xây dựng hệ thống chính trị đúng theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; cùng với ngăn chặn, đẩy lùi thì phải chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những hành vi tham nhũng, tiêu cực... Đồng thời, bổ sung, làm rõ hệ thống những biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá", "tiêu cực" sát hợp tình hình mới. Trong đó nhấn mạnh, nguy hiểm nhất là sự phai nhạt lý tưởng cách mạng, không kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, mơ hồ, dao động, thiếu niềm tin; nói trái, làm trái quan điểm, đường lối của Đảng; sa sút về ý chí chiến đấu, thấy đúng không dám bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh; thậm chí còn phụ hoạ theo những nhận thức, quan điểm sai trái, lệch lạc; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn bổn phận, chức trách được giao; không thực hiện đúng các nguyên tắc xây dựng Đảng và tổ chức sinh hoạt đảng. Sự suy thoái về đạo đức, lối sống thể hiện ở chỗ: Sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi, hám danh, hám quyền lực, tham nhũng, tiêu cực; bè phái cục bộ, mất đoàn kết; quan liêu, xa dân, vô cảm trước những khó khăn, bức xúc của dân.

Từ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, cơ hội, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.

Trung ương khẳng định, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, tiêu cực, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó nguyên nhân chủ quan là chủ yếu, bắt nguồn từ chủ nghĩa cá nhân, từ việc bản thân cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện; lập trường tư tưởng không vững vàng; sa vào chủ nghĩa cá nhân, quên mất trách nhiệm, bổn phận trước Đảng, trước dân. Nguyên tắc tập trung dân chủ bị buông lỏng, nguyên tắc tự phê bình và phê bình thực hiện không nghiêm. Việc nghiên cứu, sửa đổi, ban hành cơ chế, chính sách, luật pháp thích ứng với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa kịp thời; nhiều văn bản quy định thiếu chế tài cụ thể, thực hiện không nghiêm. Quản lý cán bộ, đảng viên còn lỏng lẻo. Đánh giá, sử dụng, bố trí cán bộ còn nể nang, cục bộ. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên chưa được coi trọng đúng mức, chậm đổi mới, kém hiệu quả. Công tác kiểm tra, giám sát, giữ gìn kỷ cương, kỷ luật ở nhiều nơi chưa thường xuyên, không nghiêm túc. Chưa phát huy đầy đủ, hiệu quả vai trò của nhân dân trong việc giám sát, phản biện, góp ý kiến xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền thông qua Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và các hình thức khác.

Về nhiệm vụ, giải pháp trong thời gian tới, Trung ương thống nhất cao phải tiến hành đồng bộ và quyết liệt hơn nữa nhiều công việc cụ thể, thiết thực, tập trung vào 4 nhóm nhiệm vụ, giải pháp mà Hội nghị Trung ương 4 khoá XII đã đề ra; đồng thời bổ sung nhấn mạnh thêm 2 nhóm nhiệm vụ, giải pháp là: Xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, xử lý nghiêm cán bộ sai phạm. Theo đó, phải chú trọng nêu gương những người tốt, việc tốt; ngăn ngừa, cảnh báo, phê phán những việc làm sai trái. Đấu tranh mạnh mẽ chống chủ nghĩa cá nhân, thói ích kỷ vụ lợi, "lợi ích nhóm". Rà soát, hoàn thiện, thực hiện nghiêm cơ chế kiểm soát việc thực thi quyền lực của người có chức, có quyền. Xử lý nghiêm những hành vi vi phạm kỷ luật đảng, pháp luật của Nhà nước; kiên quyết chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí. Thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng; công tác cán bộ, công tác kiểm tra; công tác giáo dục, rèn luyện, quản lý đảng viên. Phát huy vai trò giám sát của nhân dân, của báo chí, của công luận. Trung ương đặc biệt nhấn mạnh, muốn Nghị quyết và Kết luận này đi vào cuộc sống, tạo ra chuyển biến rõ rệt thì cả hệ thống chính trị phải vào cuộc. Từng tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ cấp cao, cán bộ chủ chốt, người đứng đầu các cấp, các ngành phải nhận thức sâu sắc, đầy đủ trách nhiệm của mình trước nhân dân, đất nước, trước Đảng để tự giác, gương mẫu thực hiện. Ở đây, sự gương mẫu của Trung ương là cực kỳ quan trọng, có ý nghĩa quyết định. Từng đồng chí Uỷ viên Trung ương, Uỷ viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, từng đồng chí đứng đầu cấp uỷ, chính quyền các cấp phải tự giác, gương mẫu thực hiện nghị quyết, nói đi đôi với làm, chỉ đạo quyết liệt với quyết tâm rất cao, sự nỗ lực rất lớn. Đặc biệt, phải thực hiện nghiêm, có hiệu quả cụ thể hơn nữa Quy định về những điều đảng viên không được làm mà Kỳ họp này Trung ương mới bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện thêm theo đúng tinh thần, nội dung của các nghị quyết, chỉ thị, Điều lệ của Đảng và pháp luật của Nhà nước; khắc phục bằng được những hạn chế, bất cập, thiếu sót trong chỉ đạo, tổ chức thực hiện, đáp ứng được yêu cầu của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong tình hình mới.

Hội nghị đã thống nhất cao ban hành Quy định mới về những điều đảng viên không được làm; coi đây là căn cứ, cơ sở quan trọng để xem xét, xử lý các vi phạm của cán bộ, đảng viên. Trung ương cho rằng, tổ chức thực hiện tốt Quy định mới và Kết luận của Hội nghị Trung ương lần này, tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khoá XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng sẽ có tác động tích cực, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác giáo dục, rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất, đạo đức, lối sống, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên; chấn chỉnh tác phong, lề lối làm việc; ngăn chặn, đẩy lùi, kiên quyết đấu tranh, xử lý thật nghiêm các hành vi tham nhũng, tiêu cực, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ; góp phần tăng cường kỷ luật, kỷ cương, nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng, kiên quyết đấu tranh quét sạch chủ nghĩa cá nhân trong toàn Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh toàn diện.

Thưa các đồng chí,

Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII đã thành công tốt đẹp. Tổ chức thực hiện có kết quả các nghị quyết, kết luận của Trung ương tại Hội nghị lần này sẽ góp phần quan trọng đưa Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng vào cuộc sống, thúc đẩy việc hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ phòng, chống dịch bệnh, phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an sinh xã hội và đời sống của nhân dân, giữ vững ổn định chính trị - xã hội và xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh. Để thực hiện có hiệu quả các nghị quyết, kết luận của Hội nghị Trung ương lần này thì nhận thức của chúng ta phải chín, tư tưởng phải thông, quyết tâm phải lớn và phương pháp phải đúng, góp phần làm chuyển biến tình hình thật sự, có kết quả rõ ràng, cụ thể. Tôi đề nghị, mỗi đồng chí Uỷ viên Trung ương, trên cương vị công tác của mình, hãy phát huy tốt hơn nữa vai trò trách nhiệm cá nhân, cùng với cấp uỷ, chính quyền lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện thật tốt Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và các nghị quyết, kết luận của Trung ương.

Với tinh thần đó, tôi xin tuyên bố bế mạc Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII. Chúc các đồng chí mạnh khoẻ, hoàn thành tốt trọng trách của mình trước Đảng, trước Nhân dân và Đất nước, góp phần tiếp tục làm vẻ vang cho Dân tộc, cho Giống nòi.

Xin trân trọng cảm ơn các đồng chí!

_______

True
Những vấn đề rất quan trọng đối với việc thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của ĐảngBài viếtP.NNhững vấn đề rất quan trọng đối với việc thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng/SiteAssets/HNTW4-13-TBT.jpg
04/10/2021 10:00 SANoĐã ban hành
(TUAG)- Ngày 4/10, Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã khai mạc trọng thể tại Thủ đô Hà Nội. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì, phát biểu khai mạc Hội nghị. Cổng Thông tin điện tử Đảng bộ An Giang trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu khai mạc Hội nghị.

“Kính thưa Trung ương,

Thưa các đồng chí tham dự Hội nghị,

Thực hiện Chương trình làm việc toàn khóa của Trung ương, hôm nay, Ban Chấp hành Trung ương bắt đầu họp Hội nghị lần thứ tư khóa XIII để thảo luận, cho ý kiến về các vấn đề sau: Tình hình phòng, chống đại dịch COVID-19 và quan điểm, chủ trương về phòng, chống dịch trong tình hình mới; Tình hình kinh tế - xã hội năm 2021 và dự kiến Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2022; Tình hình thực hiện ngân sách nhà nước năm 2021, dự toán ngân sách nhà nước năm 2022 và Kế hoạch tài chính - ngân sách nhà nước 3 năm 2022 - 2024; Chủ trương lùi thời điểm thực hiện cải cách chính sách tiền lương theo Nghị quyết số 27-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 7 khóa XII; Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ; Sửa đổi, bổ sung Quy định số 47-QĐ/TW, ngày 01/11/2011 của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm; và một số vấn đề quan trọng khác.

Trước hết, tôi xin được thay mặt Bộ Chính trị và Ban Bí thư, nhiệt liệt chào mừng các đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, các đại biểu khách mời đã về dự Hội nghị; xin gửi tới các đồng chí lời thăm hỏi chân tình và lời chúc tốt đẹp nhất.

Thưa các đồng chí,

Để chuẩn bị cho Hội nghị, thời gian qua, Bộ Chính trị đã chỉ đạo Ban cán sự đảng Chính phủ, các Ban Đảng và các cơ quan hữu quan tích cực chuẩn bị các Báo cáo, các Đề án và các Tờ trình. Theo Quy chế làm việc, Văn phòng Trung ương Đảng đã gửi tài liệu để các đồng chí nghiên cứu trước. Để tiết kiệm thời gian và phù hợp với tình hình dịch bệnh đang diễn biến hết sức phức tạp hiện nay, xin phép Hội nghị của chúng ta sẽ không nghe đọc lại các Tờ trình tại Hội trường để dành nhiều thời gian cho việc thảo luận. Sau đây, tôi xin phát biểu, lưu ý thêm một số vấn đề liên quan đến các nội dung và nhiệm vụ của Hội nghị, có tính chất gợi mở, nêu vấn đề, mong được các đồng chí quan tâm trong quá trình nghiên cứu, thảo luận, xem xét và quyết định. Tựu trung có hai Nhóm vấn đề lớn:

1. Một số vấn đề về kinh tế - xã hội năm 2021 - 2022

Việc Ban Chấp hành Trung ương xem xét, cho ý kiến chỉ đạo, hoàn thiện các nội dung liên quan đến quan điểm, chủ trương phòng, chống dịch bệnh COVID-19, phát triển kinh tế - xã hội, tài chính - ngân sách nhà nước, thời điểm thực hiện chính sách cải cách tiền lương năm nay có ý nghĩa quan trọng đặc biệt do bối cảnh, tình hình diễn biến phức tạp, biến động bất thường; bên cạnh thời cơ, thuận lợi, cũng đã xuất hiện nhiều khó khăn, thách thức mới, gay gắt và nặng nề hơn so với dự báo. Năm 2021 là năm đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, tạo ra xung lực mới và khí thế mới cho việc thực hiện thắng lợi Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025; Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030; và tầm nhìn đến năm 2045. Tuy nhiên, từ đầu năm 2021 đến nay, đại dịch COVID-19 với những biến chủng mới, lây lan nhanh hơn và nguy hiểm hơn, tiếp tục diễn biến phức tạp, khó kiểm soát, tác động tiêu cực, kéo dài đến kinh tế thế giới, trong đó có khu vực Đông Nam Á và nước ta; làm thay đổi sâu sắc trật tự, cấu trúc kinh tế, phương thức quản trị, tổ chức hoạt động kinh tế và đời sống xã hội toàn cầu, buộc nhiều nước phải điều chỉnh định hướng, chiến lược phòng, chống dịch bệnh gắn với phát triển kinh tế - xã hội theo hướng: Nâng cao nội lực, chú trọng phát triển thị trường trong nước, phát triển kinh tế số, xã hội số, thương mại điện tử... Kinh tế thế giới phục hồi, tăng trưởng trở lại nhưng còn chậm, không đồng đều, chưa thật sự vững chắc, còn tuỳ thuộc vào diễn biến của dịch bệnh và khả năng phòng, chống, thích ứng an toàn với dịch COVID-19; nợ công toàn cầu tăng mạnh, thị trường tài chính - tiền tệ thế giới tiềm ẩn nhiều rủi ro.

Hình ảnh tại Hội nghị.

Sau thành công rất tốt đẹp của Đại hội lần thứ XIII của Đảng, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã lãnh đạo tiến hành rất thành công Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026; sớm kiện toàn các cơ quan lãnh đạo của Đảng và Nhà nước; khẩn trương xây dựng các Chương trình và Kế hoạch thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII và tích cực tổ chức một số Hội nghị toàn quốc để triển khai thực hiện, trong đó có Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính - ngân sách nhà nước, đầu tư công năm 2021 và 5 năm 2021 - 2025. Toàn hệ thống chính trị đã chủ động, tích cực vào cuộc; kế thừa, phát huy những thành tựu, kết quả đã đạt được; khắc phục những hạn chế, yếu kém còn tồn tại; và bình tĩnh, tỉnh táo đề ra nhiều chủ trương, chính sách, biện pháp để xử lý kịp thời, đúng đắn những vấn đề mới phát sinh do tác động bất lợi của đại dịch COVID-19 gây ra. Tuy nhiên, đợt bùng phát dịch lần thứ tư từ cuối tháng tư đến nay, với biến chủng mới - Delta, lây lan rất nhanh, hết sức nguy hiểm, khó kiểm soát đã ảnh hưởng lớn, hết sức tiêu cực đến mọi mặt của đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội nước ta; đến đời sống vật chất cũng như tinh thần của nhân dân ta và tâm lý, tâm trạng xã hội; đặc biệt là đã cướp đi sinh mạng của hàng nghìn đồng bào ta, trong đó có cả cán bộ, chiến sĩ các lực lượng vũ trang, các y, bác sĩ, nhân viên y tế và cán bộ cơ sở nơi tuyến đầu chống dịch.

Vì vậy, cùng với Tờ trình tổng hợp chung, Ban cán sự đảng Chính phủ đã nghiên cứu, xây dựng các báo cáo về tình hình phòng, chống đại dịch COVID-19; quan điểm, chủ trương và giải pháp về phòng, chống dịch trong tình hình mới; tình hình kinh tế - xã hội năm 2021, dự kiến Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2022; tình hình thực hiện ngân sách nhà nước năm 2021, dự toán ngân sách nhà nước năm 2022 và Kế hoạch tài chính - ngân sách nhà nước 3 năm 2022 - 2024; cũng như việc lùi thời điểm thực hiện cải cách chính sách tiền lương theo Nghị quyết số 07-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 7 khóa XII. Các báo cáo này có quan hệ hữu cơ, mật thiết với nhau; đề nghị các đồng chí dành thời gian nghiên cứu thật kỹ các tài liệu đã gửi và căn cứ vào thực tế tình hình ở các ngành, lĩnh vực, địa phương mình để thảo luận, đánh giá một cách khách quan, toàn diện tình hình phòng, chống dịch bệnh, phát triển kinh tế - xã hội 9 tháng đầu năm, dự báo đến hết năm 2021, nhất là dự báo về tình hình đại dịch COVID-19 trên thế giới và ở nước ta trong thời gian tới. Chú ý tổng kết, đánh giá sự cần thiết, đúng đắn, hiệu lực, hiệu quả, cũng như những hạn chế, bất cập trong việc ban hành và tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách, biện pháp mới để xử lý các vấn đề thực tiễn đặt ra trong quá trình vừa phòng, chống dịch bệnh, khắc phục những hậu quả do dịch bệnh gây ra, vừa duy trì, phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian qua. Chỉ rõ những kết quả, thành tích đã đạt được, những khó khăn, thách thức mới đang đặt ra, những hạn chế, yếu kém cần khắc phục; phân tích làm rõ các nguyên nhân, nhất là nguyên nhân chủ quan. Đối chiếu, phân tích khả năng hoàn thành những mục tiêu, nhiệm vụ đã dự kiến cho năm 2021, nhất là mục tiêu, nhiệm vụ sớm kiểm soát được dịch bệnh, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, hỗ trợ người lao động và doanh nghiệp duy trì, phục hồi, phát triển các hoạt động sản xuất kinh doanh, chăm lo đời sống nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội; bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia, an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội; giữ vững môi trường hòa bình và ổn định để phát triển đất nước trong tình hình mới.

Trên cơ sở phân tích, dự báo các khả năng có thể xảy ra, nhất là tình hình dịch bệnh trên thế giới và ở nước ta trong thời gian tới; nắm bắt thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức, xác định rõ quan điểm, chủ trương về phòng, chống dịch và phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội trong tình hình mới; mục tiêu tổng quát, các chỉ tiêu cơ bản, quan trọng nhất; các định hướng, chủ trương, chính sách, nhiệm vụ, giải pháp và kế hoạch, lộ trình triển khai thực hiện cụ thể cho năm 2022, bảo đảm sát với thực tiễn, có tính khả thi cao, đáp ứng được yêu cầu của Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính - ngân sách nhà nước hằng năm, gắn với việc phòng, chống, kiểm soát dịch bệnh và thực hiện lộ trình cải cách chính sách tiền lương theo tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, thực sự khách quan, công tâm, không né tránh, không bi quan nhưng cũng không tô hồng để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện từ nay đến cuối năm 2021 và trong cả năm 2022.

2. Một số vấn đề về xây dựng, chỉnh đốn Đảng

Như chúng ta đều đã biết, sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam; xây dựng, chỉnh đốn Đảng luôn luôn là nhiệm vụ then chốt, đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng ta, chế độ ta. Không phải ngẫu nhiên mà Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ này. Chỉ tính riêng 10 năm gần đây, Trung ương đã bàn và ban hành nhiều nghị quyết, quyết định quan trọng và tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện một cách ráo riết, quyết liệt, có hiệu quả: Ngày 31/12/2011, Hội nghị Trung ương 4 khoá XI đã ban hành Nghị quyết "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay" (gọi tắt là Nghị quyết Trung ương 4 về xây dựng Đảng). Sau đó, ngày 27/02/2012, Bộ Chính trị đã tổ chức Hội nghị cán bộ toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết (họp 2 ngày rưỡi). Ngày 13/8/2012, họp Hội nghị toàn quốc để hướng dẫn việc tiến hành kiểm điểm tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4. Thực hiện Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25/3/2012 của Hội nghị Trung ương 5 khóa XI, tháng 02/2013, Bộ Chính trị quyết định thành lập "Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng" trực thuộc Bộ Chính trị, do Tổng Bí thư làm Trưởng ban; đồng thời lập lại Ban Nội chính Trung ương, làm cơ quan thường trực; và mới đây, ngày 16/9/2021, Bộ Chính trị quyết định bổ sung chức năng, nhiệm vụ phòng, chống tiêu cực cho Ban Chỉ đạo. Ngày 30/10/2016, Ban Chấp hành Trung ương khóa XII tiếp tục ra Nghị quyết Trung ương 4 "Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ". Ngày 09/12/2016, Bộ Chính trị đã tổ chức Hội nghị cán bộ toàn quốc (trực tuyến) để triển khai thực hiện Nghị quyết này với sự tham dự của tất cả các đồng chí Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của các ban, bộ, ngành, đoàn thể ở Trung ương và các tỉnh, thành phố trong cả nước, thể hiện tinh thần nghiêm túc và quyết tâm rất cao của toàn Đảng ta trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Ngày 01/11/2011, Hội nghị Trung ương 3 khóa XI đã ban hành Quy định số 47 về 19 điều đảng viên không được làm. Ngày 15/5/2016, Bộ Chính trị khoá XII đã ban hành Chỉ thị số 05 "Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh". Sau 5 năm thực hiện, mới đây, ngày 18/5/2021, Bộ Chính trị khóa XIII này đã chỉ đạo sơ kết việc thực hiện Chỉ thị số 05 và tổ chức Hội nghị toàn quốc để phổ biến kết quả, và quyết định ban hành Kết luận số 01 về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05.

Thực hiện các Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, khóa XII và các quyết định, quy định của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, trong thời gian qua, chúng ta đã đạt được những kết quả bước đầu rất quan trọng, tạo ra sự chuyển biến rõ rệt trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, được toàn Đảng, toàn dân đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao. Tuy nhiên, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" vẫn chưa được ngăn chặn, đẩy lùi một cách căn bản, thậm chí có mặt còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn, có thể gây ra những hậu quả khôn lường. Đại hội XIII của Đảng đã đề ra những nhiệm vụ cơ bản để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh toàn diện; trong đó khẳng định tiếp tục kiên trì, kiên quyết thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Để triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII, Hội nghị Trung ương 4 lần này sẽ tiếp tục thảo luận, tạo sự thống nhất cao về các chủ trương, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp nhằm "Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ".

Tờ trình của Bộ Chính trị và các tài liệu liên quan gửi Trung ương đã nêu khá đầy đủ các nội dung của Đề án. Đề nghị các đồng chí cho ý kiến về sự cần thiết, đúng đắn của việc ban hành Kết luận của Hội nghị Trung ương lần này về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII với tên gọi, chủ đề và phạm vi mới của dự thảo Kết luận. Chỉ rõ có gì cần bổ sung, điều chỉnh; nên chăng phải gắn xây dựng, chỉnh đốn Đảng với xây dựng hệ thống chính trị theo đúng tinh thần Đại hội XIII của Đảng; cùng với ngăn chặn, đẩy lùi thì phải tích cực phòng ngừa và chủ động, kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm minh sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những hành vi tham nhũng, tiêu cực... Từ đó, đánh giá đúng tình hình và nguyên nhân; xác định rõ mục tiêu, quan điểm, tư tưởng chỉ đạo và những chủ trương, biện pháp phù hợp đối với từng nội dung, vấn đề, nhất là những giải pháp có tính đột phá trong nhiệm kỳ này. Trên cơ sở kế thừa các nghị quyết của Trung ương trước đây, nhất là Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI và XII, đề nghị các đồng chí nghiên cứu, bổ sung, làm rõ hơn nữa yêu cầu phòng, chống không chỉ tham nhũng mà còn cả đối với tiêu cực; nhưng biểu hiện tiêu cực là thế nào? Mức độ đến đâu? Nguyên nhân là gì? Tác hại ra sao?

Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, đề nghị các đồng chí đi sâu phân tích, mổ xẻ, làm rõ, chỉ ra đúng căn nguyên, đề ra các biện pháp chữa trị hữu hiệu. Cho ý kiến cụ thể đối với việc Đề án kiến nghị: Tiếp tục thực hiện có hiệu quả cao nhất Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII; đồng thời tập trung ưu tiên thực hiện các nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm về xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu, có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác tư tưởng chính trị, tự phê bình và phê bình; về tập trung hoàn thiện luật pháp, cơ chế, chính sách; về tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; về phát huy vai trò, trách nhiệm của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân tham gia xây dựng Đảng. Những nhóm giải pháp nêu trên đã chính xác, đủ mạnh và khả thi để làm chuyển biến tình hình chưa? Cần bổ sung thêm giải pháp nào, nội dung từng nhóm giải pháp cần lưu ý thêm vấn đề gì? Những giải pháp nào chúng ta có thể tổ chức thực hiện ngay; những giải pháp nào cần có thêm quy định, hướng dẫn; và cách thức tổ chức thực hiện thế nào?...

Về việc sửa đổi, bổ sung Quy định về những điều đảng viên không được làm: Để góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần trên đây, từ thực tiễn 4 năm thực hiện Quy định số 115, ngày 07/12/2007 của Bộ Chính trị khóa X, Hội nghị Trung ương 3 khóa XI đã ban hành Quy định số 47, ngày 01/11/2011 của Ban Chấp hành Trung ương khoá XI về những điều đảng viên không được làm (như trên đã nói). Thực tế gần 10 năm triển khai thực hiện vừa qua cho thấy, các quy định này là rất cần thiết; những nội dung của Quy định đến nay cơ bản vẫn còn phù hợp và đáp ứng được yêu cầu quản lý, giáo dục và rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên. Tuy nhiên, trước yêu cầu mới, cần tiếp tục bổ sung, hoàn thiện thêm một số nội dung quan trọng về rèn luyện tư tưởng chính trị, giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, góp phần ngăn ngừa và khắc phục một cách mạnh mẽ hơn và quyết liệt hơn những biểu hiện suy thoái, tiêu cực; giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương của Đảng. Ngoài ra, có một số điều qua thực tiễn thấy chưa đủ rõ, có nội dung khó áp dụng, gây khó khăn khi phải xem xét vi phạm của đảng viên; hoặc có nội dung đến nay quy định của Đảng và Nhà nước đã thay đổi thì cũng cần phải được bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với tình hình mới.

Đề nghị các đồng chí Uỷ viên Trung ương và các đại biểu tham dự Hội nghị với kinh nghiệm và thực tiễn phong phú ở địa phương, cơ quan, đơn vị mình đang công tác, đóng góp ý kiến cụ thể, thiết thực, có tính khả thi, sửa trực tiếp vào dự thảo Quy định, tạo sự thống nhất cao trong Trung ương để ban hành Quy định mới về những điều đảng viên không được làm, đáp ứng yêu cầu chính xác, đầy đủ, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện và dễ kiểm tra, giám sát, góp phần điều chỉnh nhận thức và hành vi của cán bộ, đảng viên theo hướng tích cực, đúng đắn, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, rõ rệt hơn nữa trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong thời gian tới (Như vậy là 3 khóa liên tục Đại hội XI, XII, XIII đều chọn Hội nghị Trung ương 4 là Hội nghị đầu mỗi khoá để bàn về công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị - điều đó hoàn toàn không phải ngẫu nhiên. Mỗi Hội nghị đều có sự kế thừa và phát triển mới).

Thưa các đồng chí,

Những nội dung trình Hội nghị Trung ương lần này là những vấn đề rất quan trọng đối với việc thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, bao gồm cả việc thực hiện nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế - xã hội và việc thực hiện nhiệm vụ then chốt là xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đề nghị các đồng chí phát huy cao độ tinh thần trách nhiệm, nghiên cứu, thảo luận sôi nổi, đóng góp ý kiến để hoàn thiện các báo cáo, đề án, dự thảo các nghị quyết, kết luận của Trung ương và xem xét, quyết định vào cuối kỳ họp.

Với tinh thần đó, tôi xin tuyên bố khai mạc Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII; chúc Hội nghị của chúng ta thành công tốt đẹp, và nhất định phải thành công tốt đẹp, để lại một dấu ấn mới trên con đường phát triển và trưởng thành của Đảng ta, của đất nước ta, dân tộc ta.

Xin trân trọng cảm ơn”


FalseĐưa Nghị quyết vào cuộc sống
Đồng chí Lê Đức Thọ với cách mạng miền Nam Bài viếtNguyễn LamĐồng chí Lê Đức Thọ với cách mạng miền Nam /SiteAssets/Le-Duc-Tho-mien-Nam.jpg
04/10/2021 9:00 SANoĐã ban hành
(TUAG)- Sinh ra trong một gia đình nho giáo, ở vùng đất có truyền thống văn hóa, yêu nước và cách mạng - làng Địch Lễ, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định (nay là xã Nam Vân, TP Nam Định), đồng chí Lê Đức Thọ, tên thật là Phan Đình Khải (10/10/1911 - 13/10/1990) sớm giác ngộ, tham gia phong trào cách mạng từ khi 15 tuổi, đến năm 18 tuổi đồng chí được kết nạp vào Đông Dương Cộng sản Đảng.

Là chiến sĩ cộng sản trưởng thành từ phong trào cách mạng, lăn lộn, xông pha trên nhiều trận tuyến, đồng chí Lê Đức Thọ được Bác Hồ và Trung ương Đảng giao nhiều nhiệm vụ quan trọng. Đồng chí là một trong những nhà lãnh đạo chủ chốt của Đảng ở Nam Bộ giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1948-1954).  

Đồng chí Lê Đức Thọ tại căn cứ Trung ương Cục miền Nam năm 1968


Năm 1948, nhận rõ những khó khăn phức tạp của chiến trường Nam Bộ, Ban Thường vụ Trung ương Đảng quyết định cử đồng chí Lê Đức Thọ lãnh đạo một phái đoàn Đảng và Chính phủ vào Nam kiểm tra và tăng cường cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược ở Nam Bộ. Theo yêu cầu của Đảng bộ Nam Bộ và được sự đồng ý của Trung ương, đồng chí Lê Đức Thọ ở lại tham gia lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở Nam Bộ. Trên cương vị là Phó Bí thư Xứ ủy Nam Bộ và sau đó là Bí thư, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Cục miền Nam, đồng chí có công lớn trong việc xây dựng, kiện toàn bộ máy lãnh đạo của Đảng ở Nam Bộ như: Kiện toàn bộ máy lãnh đạo của Xứ ủy, trong đó có việc kiện toàn lại Văn phòng Xứ ủy, các ban đảng vụ, các ban chuyên môn: Ban Dân vận, Ban Công vận, Nông vận, Tôn giáo... Nhờ đó, các hoạt động chỉ đạo của Đảng có sự thống nhất, thông suốt, chặt chẽ và hiệu quả.

Về quân sự, đồng chí Lê Đức Thọ đã chấn chỉnh những sai lầm chủ quan, duy ý chí và giáo điều cả về công tác tổ chức lực lượng vũ trang và quan điểm xây dựng phương thức tác chiến thiên về “tập trung quân” thành trung đoàn và liên trung đoàn, dốc lực lượng vũ trang để “ăn to đánh lớn” không phù hợp với hoàn cảnh cụ thể và tính đặc thù của chiến trường Nam Bộ. Nhờ tổ chức lại lấy tiểu đoàn và đại đội làm đơn vị chủ công, kết hợp vận động chiến với chiến tranh du kích của các địa phương, quân và dân Nam Bộ đã giành lại thế chủ động trên chiến trường cùng Nhân dân cả nước đánh bại Kế hoạch Nava, giam chân địch tại chỗ, góp phần quan trọng vào chiến thắng Điện Biên Phủ.

Về kinh tế, đồng chí Lê Đức Thọ đã chỉ đạo xóa bỏ chủ trương “bao vây vùng kinh tế địch” - cấm lưu thông hàng hóa giữa những vùng nông thôn giải phóng của ta với các đô thị và những vùng địch hậu - nơi còn đang bị địch tạm thời chiếm đóng, thực hiện chính sách kinh tế mới cho phép giao lưu buôn bán giữa hai vùng. Nhờ vậy, kinh tế ở các khu căn cứ địa kháng chiến ở Đồng Tháp Mười cũng như tại vùng bán đảo Cà Mau và Tây Sông Hậu phát triển, đời sống Nhân dân được cải thiện rõ rệt, tạo điều kiện thuận lợi cho xây dựng căn cứ địa cách mạng ở chiến khu U Minh. Với tình hình cụ thể, đặc thù của nông thôn Nam Bộ, Bí thư Trung ương Cục miền Nam Lê Đức Thọ đã chỉ đạo không thực hiện cải cách ruộng đất ở Nam Bộ như ở miền Bắc, vừa tránh được tổn thất, vừa tạo điều kiện phát triển kinh tế, tập hợp lực lượng cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước sau này.

Trong công tác an ninh, đồng chí Lê Đức Thọ chỉ đạo sát sao “Giám đốc Sở Công an Nam Bộ”. Là một trong những nhà lãnh đạo chủ yếu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở Nam Bộ, đồng chí Lê Đức Thọ có công lớn trong quá trình đưa cuộc kháng chiến của Nhân dân Nam Bộ phát triển, giành được những chiến thắng vẻ vang, xứng danh “Thành đồng Tổ quốc” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh phong tặng.

Trước khi ta mở chiến dịch Điện Biên Phủ, đồng chí Lê Đức Thọ đã tiên liệu, dự báo trước tình hình, trực tiếp giao nhiệm vụ mới cho nhà tình báo chiến lược Phạm Xuân Ẩn, góp phần quan trọng chuẩn bị mạng lưới tình báo chiến lược cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước sau này. Khi chuẩn bị tập kết, đồng chí Lê Đức Thọ đã đề xuất kế hoạch đưa hàng vạn con em cán bộ miền Nam ra miền Bắc học tập, đào tạo để trở về xây dựng miền Nam sau này.

Sau cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968, đồng chí được Bộ Chính trị cử vào miền Nam làm Phó Bí thư Trung ương Cục miền Nam. Từ tháng 5/1968, đồng chí làm cố vấn đặc biệt của Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa tại Hội nghị Paris, trực tiếp đàm phán với Mỹ về việc chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Với 64 năm hoạt động cách mạng liên tục, đồng chí Lê Đức Thọ đã đem tâm sức, tài năng và trí tuệ của mình cống hiến cho sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và Nhân dân ta, là một trong những học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Tên tuổi và sự nghiệp của đồng chí gắn liền với những giai đoạn của cách mạng Việt Nam, gắn liền với những thành quả cách mạng vĩ đại của dân tộc, là một trong những đồng chí lãnh đạo có nhiều cống hiến lớn cho sự nghiệp cách mạng, để lại cho đồng bào, đồng chí những tình cảm vô cùng quý mến. Đảng và Nhà nước ta đã trao tặng Đồng chí Huân chương Sao vàng và nhiều Huân chương cao quý khác; Đảng và Nhà nước Liên Xô tặng Huân chương Cách mạng Tháng Mười; Đảng và Nhà nước Campuchia tặng Huân chương Ăngco. Đồng chí đã được tặng Giải thưởng Nobel Hòa bình năm 1973, nhưng đã từ chối vì khi đó nước nhà chưa được hòa bình, thống nhất. Tên tuổi và sự nghiệp cách mạng của đồng chí Lê Đức Thọ sẽ sống mãi trong lòng Tổ quốc và Nhân dân, sống mãi trong những trang vàng chói lọi của lịch sử cách mạng Việt Nam

Kỷ niệm 110 năm Ngày sinh đồng chí Lê Đức Thọ, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Đảng là dịp để chúng ta tôn vinh và tri ân những cống hiến to lớn của đồng chí Lê Đức Thọ đối với cách mạng Việt Nam. Đồng thời, khích lệ, cổ vũ các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ noi gương đồng chí Lê Đức Thọ và các đồng chí lãnh đạo cách mạng tiền bối tiêu biểu, tích cực học tập, lao động, cống hiến trí tuệ, sức lực để xây dựng đất nước ngày càng phồn vinh, hạnh phúc.

Nguyễn Lam
_______________
Tài liệu tham khảo: Chương trình sưu tầm tài liệu, viết tiểu sử các đồng chí lãnh đạo tiền bối tiêu biểu của Đảng và cách mạng Việt Nam: Lê Đức Thọ - tiểu sử, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2020.
False
Khai mạc trọng thể Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII TinQ.HKhai mạc trọng thể Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII /SiteAssets/HNTW4-13-TBT.jpg
04/10/2021 8:55 SAYesĐã ban hành
Sáng 4/10, tại Trụ sở Trung ương Đảng, đã diễn ra phiên khai mạc Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì và phát biểu khai mạc Hội nghị.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu khai mạc Hội nghị. (Ảnh: Phạm Cường) 

Trước khi tiến hành chương trình Hội nghị, Trung ương đã dành 1 phút mặc niệm đồng bào, đồng chí, chiến sĩ hy sinh, từ trần vì dịch bệnh COVID - 19 vừa qua.

Tại Hội nghị này, Trung ương sẽ xem xét, thảo luận, cho ý kiến về các nội dung: tình hình phòng, chống đại dịch COVID-19 và quan điểm, chủ trương về phòng, chống dịch trong tình hình mới; tình hình kinh tế - xã hội năm 2021, dự kiến Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2022; tình hình thực hiện ngân sách nhà nước năm 2021, dự toán ngân sách nhà nước năm 2022 và Kế hoạch tài chính - ngân sách nhà nước 3 năm 2022 - 2024; chủ trương lùi thời điểm thực hiện cải cách chính sách tiền lương theo Nghị quyết số 27-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 7 khoá XII; tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ; sửa đổi, bổ sung Quy định số 47-QĐ/TW, ngày 01/11/2011 của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm và một số vấn đề quan trọng khác.

Đồng chí Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư thông qua Chương trình Hội nghị. (Ảnh: Phạm Cường) 

Phát biểu khai mạc Hội nghị, Tổng Bí Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho biết, để chuẩn bị cho Hội nghị, thời gian qua, Bộ Chính trị đã chỉ đạo Ban cán sự đảng Chính phủ, các ban đảng và các cơ quan hữu quan tích cực chuẩn bị các báo cáo, các đề án và các tờ trình. Đồng thời, Tổng Bí thư lưu ý thêm một số vấn đề liên quan đến các nội dung và nhiệm vụ của Hội nghị, có tính chất gợi mở để các đồng chí Trung ương quan tâm trong quá trình nghiên cứu, thảo luận, xem xét và quyết định.

Hình ảnh tại Hội nghị. (Ảnh: Phạm Cường) 

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, những nội dung trình Hội nghị Trung ương lần này là những vấn đề rất quan trọng đối với việc thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, bao gồm cả việc thực hiện nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế - xã hội và việc thực hiện nhiệm vụ then chốt là xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề nghị các đồng chí phát huy cao độ tinh thần trách nhiệm, nghiên cứu, thảo luận sôi nổi, đóng góp ý kiến để hoàn thiện các báo cáo, đề án, dự thảo các nghị quyết, kết luận của Trung ương và xem xét, quyết định vào cuối kỳ họp.

Theo chương trình, Hội nghị diễn ra đến ngày 7/10./.

H.H (ĐCSVN)

TrueChính trị
Tọa đàm đóng góp, bổ sung sơ thảo sách Tóm tắt Lịch sử Đảng bộ tỉnh An Giang (1927 - 2005)TinNgọc HânTọa đàm đóng góp, bổ sung sơ thảo sách Tóm tắt Lịch sử Đảng bộ tỉnh An Giang (1927 - 2005)/SiteAssets/Toadam-LSDB.JPG
01/10/2021 11:00 SAYesĐã ban hành

(TUAG)- Sáng ngày 01/10, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy tổ chức Tọa đàm đóng góp, bổ sung sơ thảo sách "Tóm tắt Lịch sử Đảng bộ tỉnh An Giang 1927-2005". Đồng chí Thái Thúy Xuân, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, đồng chí Nguyễn Hữu Thịnh, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy chủ trì hội nghị.

Quang cảnh buổi tọa đàm

Toadam-LSDB-1.JPG

Đồng chí Lâm Văn Giàu, Trưởng phòng Lý luận chính trị và Lịch sử Đảng, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, thay mặt tổ biên soạn giới thiệu nội dung bản sơ thảo.

Đại biểu tham dự buổi Tọa đàm được nghe giới thiệu sơ lược về bố cục, cách trình bày Sơ thảo sách “Tóm tắt Lịch sử Đảng bộ tỉnh An Giang 1927 - 2005”; trình bày công tác tổ chức lấy ý kiến bản thảo lần một, lần hai, nội dung đóng góp bản sơ thảo, trong đó tiếp thu chỉnh sửa lần một, lần hai, những vấn đề cần xin ý kiến để thống nhất, những vấn đề giải trình.

Buổi Tọa đàm nhận được 09 ý kiến thảo luận đóng góp sơ thảo sách “Tóm tắt Lịch sử Đảng bộ tỉnh An Giang 1927 - 2005” ở cả hai mặt hình thức và nội dung: Cách thức trình bày; cách hành văn, nội dung của sách; bổ sung những thông tin được nghiên cứu, phát hiện mới so với các ấn phẩm lịch sử Đảng bộ đã xuất bản,…

Toadam-LSDB-4.JPG

Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử tỉnh An Giang Đặng Hoài Dũng phát biểu góp ý.

Toadam-LSDB-5.JPG

Đại diện Sở Giáo dục và Đào tạo An Giang phát biểu góp ý.

Sách “Tóm tắt Lịch sử Đảng bộ tỉnh An Giang 1927 - 2005” với độ dày 300 trang trên cơ sở tập hợp nội dung  của 3 quyển Lịch sử Đảng bộ tỉnh đã xuất bản gồm: Lịch sử Đảng bộ tỉnh An Giang, tập I (1927 - 1954); Lịch sử Đảng bộ tỉnh An Giang, tập II (1954 - 1975); Lịch sử Đảng bộ tỉnh An Giang, tập III (1975 - 2005) nhằm giúp người đọc nắm khái quát, các nội dung chủ yếu lịch sử Đảng bộ tỉnh 1927 - 2005.

Toadam-LSDB-3.JPG

Đồng chí Nguyễn Hữu Thịnh, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy phát biểu.

Buổi Tọa đàm là một bước quan trọng góp phần vào thành công của  quyển sách, nhằm tiếp tục lấy ý kiến, bổ sung hoàn chỉnh sơ thảo sách trước khi trình Ban Thường vụ Tỉnh ủy và đảm bảo được tính hiệu quả, chất lượng của quyển sách trước khi phát hành. Dự kiến sách “Tóm tắt lịch sử Đảng bộ tỉnh An Giang 1927 - 2005" phát hành vào quý I/2022, nhân kỷ niệm 92 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2022), 190 năm  thành lập tỉnh An Giang (1832 - 2022), việc xuất bản quyển sách này góp phần giáo dục đạo đức cách mạng, truyền thống yêu nước, yêu quê hương cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ; từ đó, nâng cao niềm tin vào sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, ra sức học tập, phấn đấu để góp phần xây dựng, phát triển đất nước, quê hương ngày thêm giàu đẹp.


Đồng chí Thái Thúy Xuân, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy phát biểu.

Phát biểu kết thúc buổi tọa đàm, đồng chí Thái Thúy Xuân, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy trân trọng, ghi nhận những ý kiến đóng góp của đại biểu tham dự buổi Tọa đàm. Đồng chí đề nghị ngoài các ý kiến góp ý tại buổi Tọa đàm đề nghị các đại biểu góp ý thêm các ý kiến vào phiếu góp ý và gửi lại cho Ban Biên tập, Tổ biên soạn để Ban Biên tập, Tổ biên soạn nghiên cứu, bổ sung hoàn chỉnh dự thảo sách trước khi trình Ban Thường vụ Tỉnh ủy.

 Ngọc Hân

True
HÀO KHÍ NAM BỘ KHÁNG CHIẾN SỐNG MÃIBài viếtHoàng KỳHÀO KHÍ NAM BỘ KHÁNG CHIẾN SỐNG MÃI/SiteAssets/23-9-2021-nambokc.jpg

​HOÀNG KỲ (*)

22/09/2021 3:15 CHYesĐã ban hành

(TUAG)- Cách đây 76 năm, ngày 23/9/1945, thực dân Pháp nổ súng tấn công Sài Gòn, quyết trở lại xâm lược nước ta. Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhân dân Nam Bộ đã đồng lòng, quyết tâm, nhất tề đứng lên, mở ra trang sử oanh liệt mới: Nam Bộ kháng chiến.

Đêm 22 rạng ngày 23/9/1945, 6.000 quân Pháp dựa vào hơn 1 vạn quân Anh đã trắng trợn gây hấn ở Sài Gòn, bắt đầu cuộc xâm lược nước ta lần thứ hai, với âm mưu biến Nam Bộ làm bàn đạp đánh chiếm cả nước. Trước tình hình đó, giữ vững lời thề "Độc lập hay là chết", Nhân dân Sài Gòn nói riêng và Nam Bộ nói chung đã anh dũng bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Quân và dân Nam Bộ sục sôi ý chí chiến đấu, đã nhất tề đứng lên, xông pha mặt trận quyết chiến với kẻ thù xâm lược.

Giữa lúc tiếng súng nổ ra nhiều nơi trong thành phố, vào sáng ngày 23/9, Xứ ủy Nam Kỳ, Ủy ban nhân dân và Ủy ban kháng chiến Nam Bộ triệu tập cuộc họp tại nhà số 629 đường Cây Mai (nay là đường Nguyễn Trãi, Quận 5, thành phố Hồ Chí Minh) thông qua "Lời kêu gọi của Ủy ban kháng chiến Nam Bộ" và tuyên bố "Cuộc kháng chiến bắt đầu!"[1].

Dưới sự lãnh đạo của Xứ ủy Nam Kỳ, quân đội cách mạng và Nhân dân Sài Gòn sôi sục xông ra mặt trận quyết chiến với quân xâm lược. Khắp thành phố, lập tức tổng bãi công, bãi khóa, bãi thị, tản cư; mọi sinh hoạt chợ búa, giao thông, trường học đều ngưng hoạt động, công nhân nhà máy nghỉ việc đồng loạt, nhà đèn bị phá. Hàng vạn thanh niên, học sinh, người lao động, thợ thuyền, quần chúng yêu nước tự nguyện xông ra các tuyến đường. Các công sự, chướng ngại vật được Nhân dân đắp lên khắp nơi, bao vây cắt đường giao thông, triệt phá các đường tiếp tế lương thực của địch. Bên trong thành phố, gần 350 đội tự vệ bám sát các vị trí chiến đấu. Bên ngoài các lực lượng vũ trang siết chặt vòng vây, lấy súng địch đánh địch... Ngay ngày 23/9/1945, giặc Pháp đã vấp phải những trận chiến đấu anh dũng, quật cường của quân và dân ta. Tiếng súng kháng chiến ở Sài Gòn chấn động cả nước; nhiều tỉnh Nam bộ đưa lực lượng về góp sức Sài Gòn chống quân xâm lược, mở đầu một trang sử mới oanh liệt. 

Nhận điện báo của Nam Bộ, Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra ngay huấn lệnh: "Hỡi đồng bào Nam Bộ! Lòng cương quyết dũng cảm của Nhân dân Nam Bộ chống lại quân đội xâm lăng của Pháp... làm cho đồng bào toàn quốc cảm phục...Đồng bào phải cương quyết, phải giữ vững sự tin tưởng ở tương lai và lập tức thi hành triệt để những lời thề quả quyết trong Ngày  Độc lập"[2].

Ngày 26/9/1945, trên làn sóng Đài Phát thanh tiếng nói Việt Nam, Chủ tịch  Hồ Chí Minh khen ngợi: "Lòng kiên quyết ái quốc của đồng bào Nam Bộ" và khẳng định: "Chính phủ và toàn quốc đồng bào sẽ hết sức giúp những chiến sĩ và Nhân dân hiện đang hi sinh tranh đấu để giữ vững nền độc lập của nước nhà"[3].

Ðáp lại lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Ðảng, bằng sự kiên cường, bất khuất, quân và dân Nam Bộ nói chung, Nhân dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định nói riêng, tuy chịu nhiều tổn thất hy sinh nhưng với ý chí sắt đá vì độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc, lực lượng vũ trang cùng Nhân dân Nam Bộ đã cầm chân quân viễn chinh Pháp, đánh đòn đầu tiên vào âm mưu đánh nhanh, thắng nhanh của thực dân Pháp, khiến chúng không thể nhanh chóng đưa quân ra chiếm miền Bắc tạo điều kiện cho ta đấu tranh với quân Tưởng. Đồng thời, có thêm thời gian 15 tháng cực kỳ quý báu cho cả nước tiến hành cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên của một nước Việt Nam độc lập và chuẩn bị cho cuộc trường kỳ kháng chiến.

Trong những ngày Sài Gòn "trong đánh, ngoài vây", các tỉnh Nam Bộ một mặt cử quân chi viện cho chiến trường Sài Gòn - Chợ Lớn, mặt khác tiếp đón và giúp đỡ đồng bào từ thành phố tản cư về, đồng thời tích cực chuẩn bị lực lượng, lên kế hoạch sẵn sàng chiến đấu. Tại An Giang, thực hiện sự chỉ đạo của Xứ ủy Nam Kỳ, Đảng bộ Long Xuyên, Châu Đốc đã lãnh đạo việc thành lập Ủy ban kháng chiến trong toàn tỉnh. Ở Long Xuyên, các đơn vị tự vệ chiến đấu quân được tổ chức thành từng trung đội, tiểu đội, được trang bị vũ khí thô sơ, tự tạo và một số khẩu súng thu giữ được của địch; lập phòng tuyến chiến đấu ở rạch Cái Sao, rạch Bà Bầu, xếp Bà Lý; xây dựng các công sự do các tổ tự vệ chiến đấu quân phối hợp cộng hòa vệ binh tỉnh đóng giữ; tổ chức đội cảm tử quân gồm những người dũng cảm, không quản hy sinh. Ở Châu Đốc, thanh niên được vận động tham gia vào lực lượng Cộng hòa vệ binh, Quốc gia tự vệ cuộc hay được tổ chức trong những đội tự vệ chiến đấu quân. Dọc hai bờ sông Tiền, sông Hậu cũng hình thành những xã chiến đấu do quân địa phương đảm nhiệm. Nhân dân được vận động sơ tán khỏi tỉnh lỵ, thực hiện chủ trương "vườn không nhà trống", "bất hợp tác với giặc Pháp", đồng thời, khắp nơi, các ụ chiến đấu được đào đắp, các cây to hai bên đường bị đốn ngã để làm chướng ngại vật ngăn địch,v.v..

Ngày 23/9 đã đi vào lịch sử là "Ngày Nam Bộ kháng chiến", mở đầu cho cuộc chiến đấu "gian lao mà anh dũng" trong suốt 30 năm trường kỳ của Nam Bộ "đi trước về sau". Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp tái xâm lược của quân và dân ta trong những ngày đầu ở Nam Bộ có ý nghĩa to lớn, ngăn chặn một bước xâm lược của thực dân Pháp, đánh đòn mạnh mẽ đầu tiên vào âm mưu đánh nhanh, thắng nhanh, làm tiêu hao một bộ phận sinh lực địch, hoàn thành tốt nhiệm vụ kìm giữ quân địch trong thành phố và các thị xã trong một thời gian dài, góp phần to lớn vào công cuộc đấu tranh giữ vững chính quyền nhân dân, chủ quyền, độc lập dân tộc. Ghi nhận và biểu dương tinh thần chiến đấu kiên cường của quân dân Nam Bộ, tháng 2/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng đồng bào Nam Bộ danh hiệu vẻ vang: "Thành đồng Tổ quốc".

76 năm đã qua đi, nhưng Ngày Nam Bộ kháng chiến mãi là mốc son lịch sử vẻ vang của dân tộc, là bản tráng ca bất hủ của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, động lực vô cùng to lớn, mãi thắp sáng con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhất là trong những hoàn cảnh khó khăn, gian khổ của đất nước.

Bí thư Tỉnh ủy An Giang Lê Hồng Quang dẫn đầu cùng đoàn công tác của tỉnh đến kiểm tra công tác phòng, chống dịch bệnh COVID-19 trên địa bàn thị trấn Phú Mỹ

Ngày nay, những tiếng bom đạn của kẻ thù xâm lược đã lùi vào quá khứ, Nhân dân nước ta được thừa hưởng những giá trị đích thực của hoà bình, độc lập, tự do và hạnh phúc. Song, cũng như nhiều nơi khác trên thế giới, Nam Bộ nói chung và An Giang nói riêng đang đối mặt với một kẻ thù mới, thầm lặng, lạnh lùng, vô hình nhưng vô cùng nguy hiểm. Làn sóng đại dịch COVID-19 lần thứ tư với biến thể Delta siêu lây nhiễm đang áp đặt luật chơi cho loài người, có sức tàn phá nặng nề, gây ra nhiều đau thương, mất mát ngoài sức tưởng tượng cả về tính mạng, tài sản, tinh thần và không gì có thể bù đắp được. Trong cuộc chiến đấu với đại dịch COVID-19, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, kịp thời của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh, sự vào cuộc nhanh chóng, quyết liệt và đồng bộ của các cấp, các ngành, các địa phương và sự đồng tình ủng hộ của mọi tầng lớp nhân dân, chúng ta đã đạt được những kết quả rất quan trọng.

Bí thư Tỉnh ủy An Giang Lê Hồng Quang thăm hỏi, động viên bệnh nhân đang điều trị tại Trung tâm Giáo dục Nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên huyện Phú Tân

Ngay khi dịch COVID-19 mới xuất hiện, lãnh đạo tỉnh đã nghiêm túc đánh giá tình hình, triển khai thực hiện kịp thời, nghiêm túc những chỉ đạo, hướng dẫn của Trung ương; đồng thời lãnh đạo, chỉ đạo các ngành, các cấp, địa phương thực hiện quyết liệt các biện pháp tăng cường như: Chủ động áp dụng sớm Chỉ thị 15/CT-TTg, Chỉ thị 16/CT-TTg trên toàn địa bàn; người dân không ra ngoài từ 18 giờ đến 5 giờ sáng hôm sau; tổ chức tốt việc tiêm ngừa Vaccin theo phân bổ của Trung ương; bố  trí lực lượng kiểm soát tốt tuyến biên giới; huy động và triển khai kịp thời các lực lượng công an, quân sự, biên phòng, y tế... để hỗ trợ các địa phương khoanh vùng, dập dịch; tái bố trí, sắp xếp hệ thống y tế từ tỉnh đến cơ sở nhằm khám và chữa trị cho bệnh nhân; huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho công tác phòng, chống dịch; đảm bảo an ninh trật tự và an sinh xã hội cho người dân,v.v.. từ đó bước đầu tỉnh đã kiểm soát tốt dịch bệnh, hạn chế tốc độ lây lan, giảm thiểu những tổn thất về tính mạng và tài sản của Nhân dân, từng bước khôi phục, phát triển kinh tế - xã  hội, được Nhân dân đồng tình ủng hộ, đánh giá cao.

Bí thư Tỉnh ủy An Giang Lê Hồng Quang tặng quà các lực lượng làm nhiệm vụ tại tuyến biên giới

Tuy nhiên, đại dịch COVID -19 vẫn đang diễn biến rất phức tạp, khó lường. Do đó, với tinh thần Nam Bộ kháng chiến, chúng ta xác định "chống dịch như chống giặc", bảo vệ sức khỏe, tính mạng của Nhân dân là trên hết, trước hết; Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân An Giang tiếp tục phát huy ý chí tự lực, tự cường, tinh thần đoàn kết, lòng quả cảm với phương châm "mỗi người dân là một chiến sĩ; mỗi nhà, cơ quan, đơn vị, địa phương là một pháo đài vững chắc"; chấp hành nghiêm các quy định trong phòng, chống dịch, nhất là các biện pháp "5K"; tuyệt đối không được lơ là, chủ quan, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống; cả hệ thống chính trị và toàn thể Nhân dân phải ưu tiên cao nhất cho phòng, chống dịch, đã cố gắng rồi phải cố gắng hơn nữa, đã đoàn kết thì đoàn kết hơn, đã quyết liệt rồi phải quyết liệt hơn nữa, đã trách nhiệm rồi phải trách nhiệm hơn nữa; quyết tâm ngăn chặn, kiểm soát tốt dịch bệnh, không để lan rộng, bùng phát trong cộng đồng, sớm đưa cuộc sống người dân trở lại trạng thái "bình thường mới". Với nỗ lực đó, chúng ta có niềm hy vọng lớn lao về tương lai tốt đẹp phía trước. Ngày mai, trời lại sáng!

(*) TS Lê Hồng Quang

Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng,

Bí thư Tỉnh ủy An Giang

_________________________

[1] Lịch sử Nam  Bộ kháng chiến, tập I, Nxb CTQG Sự thật, Hà Nội, 2010, tr.237.

[2] Báo Cứu quốc (Hà Nội), số 50, ngày 25/9/1945.

[3] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, tập 4, tr 29.

 

TrueChính trị
Kế thừa và phát huy truyền thống đường Hồ Chí Minh trên biển trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nayBài viếtKế thừa và phát huy truyền thống đường Hồ Chí Minh trên biển trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay/SiteAssets/LD962-tau-khongso-2.jpg
18/09/2021 6:00 CHYesĐã ban hành

​(TUAG)- Xuất phát từ thực tiễn cách mạng miền Nam, ngày 13/01/1959, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (khóa II) ra Nghị quyết 15 với nội dung chuyển từ đấu tranh chính trị tiến lên đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang. Đây là bước ngoặt mới cho cách mạng miền Nam, một trong những nhiệm vụ quan trọng đó là chi viện lực lượng, vũ khí trang bị cho chiến trường miền Nam bằng mở đường Trường Sơn và chuẩn bị mở đường vận tải trên biển “Đường Hồ Chí Minh trên biển”.

Thực hiện Nghị quyết 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (Khóa II), Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định tổ chức tuyến vận tải bộ trên đường Trường Sơn và tuyến vận tải trên biển để chi viện lực lượng, vũ khí trang bị cho miền Nam đánh Mỹ - Ngụy.

Sau Nghị quyết 15, Trung ương Đảng và Bộ Quốc phòng đã triển khai nhiều việc nhằm chi viện lực lượng, phương tiện, vũ khí trang bị cho cách mạng miền Nam. Một trong những việc quan trọng là mở đường vận tải trên biển vào Nam Bộ. Chuyến đi ngày 27/01/1960 của Tiểu đoàn Vận tải thủy 603 dự định vào bến Hố Chuối, chân đèo Hải Vân không thành công, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh chỉ thị cho Tiểu đoàn Vận tải thủy 603 tạm ngừng hoạt động. Bộ Tổng Tham mưu tiến hành nghiên cứu phương án mới.

Đến quý 1 năm 1961 Bộ Tổng Tham mưu đã hoàn thành Đề án về tổ chức con đường vận tải chiến lược trên biển chi viện cho chiến trường miền Nam.

LD962-tau-khongso-1.jpg
Trung đoàn 1 phối hợp với Trung đoàn 962 Quân khu 9 tiến quân ra giải phóng đảo Thổ Chu, tháng 5/1975. Ảnh: Tư liệu

Nội dung đề án nêu rõ:

1. Phương châm tổ chức vận tải: Tận dụng mọi hình thức hợp pháp, bất hợp pháp, bất hợp pháp là chủ yếu; xây dựng khả năng chuyên môn và phương tiện ở miền Bắc, đồng thời tranh thủ sự giúp đỡ của miền Nam; kiên quyết bảo vệ hàng trong mọi trường hợp; khi không bảo vệ được hàng thì triệt để thủ tiêu không để lọt hàng vào tay địch; tuyệt đối giữ bí mật mọi kế hoạch hoạt động của cơ quan, đơn vị.

2. Phương pháp tiến hành: Phải bảo đảm chắc ăn, lợi dụng sơ hở của địch để tổ chức vận chuyển, theo khả năng phương tiện vận tải thô sơ, bán hiện đại; kết hợp mọi hình thức hợp pháp để tổ chức vận chuyển vững chắc, lâu dài.

3. Nguyên tắc xây dựng lực lượng: Gọn, bảo đảm chất lượng, tập trung nhanh chóng xây dựng thuyền buồm kết hợp máy đẩy, nghiên cứu tổ chức thủy đội hải quân để không bị động về thời tiết. Về cán bộ và thủy thủ, yêu cầu tiêu chuẩn, trình độ, giác ngộ chính trị cao, chuyên môn giỏi, sức khỏe tốt.

4. Nhiệm vụ: Nghiên cứu đóng thuyền máy trọng tải từ 15 đến 30 và 50 tấn, tận dụng phương tiện của miền Nam để tăng khả năng vận chuyển. Trước mắt vận chuyển hàng hóa, vũ khí vào chiến trường Nam Bộ.

5. Tổ chức biên chế: Phải hết sức gọn nhẹ, cụ thể gồm cơ quan và khối các đội tàu thuyền. Khối cơ quan có các ban tham mưu, chính trị, hậu cần, hành chính.

Thực hiện đề án trên, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương chỉ thị cho Trung ương Cục miền Nam chỉ đạo cho các tỉnh ven biển ở Nam Bộ chủ động chuẩn bị bến bãi và tổ chức cho thuyền vượt biển ra Bắc, vừa thăm dò, nắm tình hình địch và nghiên cứu tuyến vận chuyển trên biển, vừa nhận vũ khí chở về phục vụ cho chiến trường Nam Bộ. Đầu năm 1961, Trung ương Cục chỉ đạo cho một số tỉnh ven biển ở Nam Bộ gồm: Cà Mau, Trà Vinh (Khu 9), Bến Tre (Khu 8), Bến Rịa (Khu 7) tổ chức lực lượng và tàu thuyền để làm nhiệm vụ quan trọng này.

Từ đề án của Bộ Tổng Tham mưu và qua báo cáo của đồng chí Bông Văn Dĩa vừa từ Cà Mau ra, trung tuần tháng 8 năm 1962, Thường trực Quân ủy Trung ương họp, chính thức thông qua nghị quyết về tổ chức con đường vận tải chiến lược trên biển chi viện cho cách mạng miền Nam. “Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Ủy viên Bộ chính trị, Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tổng Tư lệnh hỏi: “Liệu có thể bảo đảm chắc chắn được 50% những chuyến đi không ?”. Đồng chí Trần Văn Trà trả lời: “Đạt 100% thì khó chứ 50% thì tôi chắc được!”. Đồng chí Nguyễn Chí Thanh - Ủy viên Bộ Chính trị nói: Chỉ cần nửa số chuyến đi vào được bến cũng đã là thắng lợi to rồi. Sau đó mọi việc được khẩn trương triển khai.

Để sớm triển khai nhiệm vụ vận chuyển chi viện cho miền Nam bằng đường biển, Bộ Quốc phòng đã chỉ đạo Đoàn 759 đặt Xưởng đóng tàu 1 Hải Phòng sửa chữa thuyền Trà Vinh ra và đóng mới 4 thuyền gỗ gắn máy theo kiểu thuyền đánh cá của ngư dân miền Nam, có trọng tải 30 tấn. Việc chuẩn bị mọi mặt cho chuyến đi được Đoàn 759 thực hiện khẩn trương, chu đáo. Tàu đầu tiên này được đặt tên là “Phương Đông 1”.

Mọi công tác chuẩn bị xong, tàu “Phương Đông 1” xuất phát lúc 22 giờ 30, ngày 11 tháng 10 năm 1962 chở 30 tấn vũ khí, rời Bến Vạn Sét, Đồ Sơn, Hải Phòng đi theo đường kẻ đã vạch sẵn để vào Bến Cà Mau. Trên đường đi, con thuyền đã vượt qua sự phong tỏa kiểm soát của kẻ thù, đến 6 giờ ngày 17 tháng 10 năm 1962 (nhằm ngày 19 tháng 9 âm lịch), tàu bắt được liên lạc qua ám hiệu với bộ phận Bến của đơn vị HN75, do đồng chí Nguyễn Văn Phán trực tiếp ra đón, đưa tàu vào Vàm Lũng và vào đậu, bốc hàng tại rạch Chùm Gộng, ấp Rạch Gốc, xã Tân Ân, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau an toàn. Sau khi tàu vào đến nơi an toàn, đồng chí Bông Văn Dĩa đã báo cáo ngay với Khu ủy Khu 9. Sáng ngày 19 tháng 10 năm 1962 khi Quân ủy Trung ương đang họp tại Nhà khách 28 Cửa Đông, thì nhận được điện của đồng chí Phạm Thái Bường: “Tàu Lê Văn Một, Bông Văn Dĩa đã đến nơi! An toàn, đầy đủ. Các đồng chí trên tàu đều khỏe mạnh”.

Thắng lợi của Tàu “Phương Đông 1” đã chính thức mở thông tuyến vận chuyển chiến lược trên biển Đông, chi viện cho chiến trường Nam Bộ. Từ thắng lợi này Trung ương Cục chỉ đạo cho các tỉnh Bến Tre, Trà Vinh, Bà Rịa gấp rút xây dựng các Bến, đồng thời quyết định thành lập đơn vị mới, lấy phiên hiệu Đoàn 962 đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Trung ương Cục, với nhiệm vụ “Xây dựng các Bến, đón nhận hàng quân sự do tàu từ miền Bắc chuyển vào, lập kho tàng cất giữ và vận chuyển tới các chiến trường Nam Bộ”. Ngày 19 tháng 9 năm 1962 là ngày thành lập và cũng là ngày truyền thống của Đoàn 962, nay là Lữ đoàn 962 - Quân khu 9.

Như vậy, với sự chỉ đạo sáng suốt của Trung ương Đảng và Bộ Quốc phòng, việc tổ chức chặt chẽ của Đoàn 759 và sự đóng góp rất quan trọng của Đoàn 962, đặc biệt là thuyền do đồng chí Bông Văn Dĩa chỉ huy, tuyến vận tải chiến lược trên biển “Đường Hồ Chí Minh trên biển” đã thông suốt. Chỉ từ tháng 10 đến tháng 12 năm 1962, bốn tàu Phương Đông 1, 2, 3, 4 đã chi viện cho chiến trường Nam Bộ được 113,774 tấn vũ khí, trong lúc Nam Bộ rất thiếu vũ khí và đường Trường Sơn chưa vươn tới, nên giá trị của thắng lợi trên là rất to lớn.

Để đáp ứng yêu cầu mở rộng phạm vi hoạt động, quy mô tổ chức và nhiệm vụ vận chuyển vũ khí chi viện cho chiến trường miền Nam; Bộ Quốc phòng khẩn trương cho đóng mới các con tàu bằng sắt có trọng tải từ 80 - 100 tấn, mã lực mạnh, bảo đảm đi đường xa và sức chịu sóng, gió lớn trang bị cho Đoàn 125 - Quân chủng Hải quân. Còn ở miền Nam, Trung ương Cục chỉ đạo bổ sung, sắp xếp Đoàn 962 với qui mô tương đương cấp Sư đoàn, gồm 4 đơn vị Bến: HN75 - Bến Cà Mau; B22 - Bến Trà Vinh; A101 - Bến Bến Tre và Đoàn 1500 - Bến Bà Rịa.  Sở Chỉ huy của Đoàn đặt tại Cồn Tra, xã Thạnh Phong, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre, với các cơ quan Tham mưu, Chính trị, Hậu cần tinh gọn và các bộ phận trực thuộc Thông tin, Cơ yếu, Quân y, Quân lương, Quân trang, Tài vụ… Như vậy, sau thời gian khẩn trương xây dựng các bến mới, tích cực mở rộng phạm vi hoạt động theo sự chỉ đạo của trên, lớp lớp cán bộ, chiến sĩ của Đoàn 962 đã vượt qua muôn vàn khó khăn, thiếu thốn, gian khổ và ác liệt của chiến trường; với tinh thần tự lực tự cường, chủ động sáng tạo; sự đoàn kết gắn bó của một tập thể đơn vị được quy tụ từ khắp cả nước và sự đoàn kết hiệp đồng lập công tập thể giữa đơn vị Bến và Tàu, giữa Đoàn 962 và các đơn vị của Bộ; với ý chí “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, với quyết tâm “Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”. Đoàn 962 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của Đảng và Quân đội giao, tổ chức tiếp nhận an toàn 124 chuyến tàu, với 6.545 tấn vũ khí từ miền Bắc chi viện cho chiến trường miền Nam; cất giữ, vận chuyển an toàn vũ khí trang bị giao cho các Quân khu 7, 8, 9 và Bộ Chỉ huy Miền, góp phần đánh bại trận càn “Phượng Hoàng GT-1”, các chiến thuật “Sa mù trận”, “Bủa lưới phóng lao”, “Biệt kích rừng xanh” và làm thất bại các chiến lược chiến tranh của Mỹ - Ngụy, tiến tới giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước. Công lao và thành tích của Đoàn 962 đã được Đảng, Nhà nước tuyên dương: Đơn vị anh hùng LLVTND ngày 20/10/1976; được tặng thưởng 169 huân, huy chương các hạng; 04 tập thể thuộc Đoàn 962 được tuyên dương đơn vị anh hùng LLVT nhân dân; Đại đội 169 được tặng danh hiệu “Thành đồng”; 8 đồng chí: Phan Văn Nhờ, Bông Văn Dĩa, Nguyễn Đắc Thắng, Đinh Đức Dừa, Lê Văn Lòng, Chung Thành Châu, Nguyễn Văn Phối, Ngô Văn Tân được tuyên dương Anh hùng LLVT nhân dân, 45 đồng chí được tặng danh hiệu “Dũng sỹ diệt Mỹ”, “Dũng sỹ diệt Ngụy” và hàng trăm cán bộ, chiến sĩ được tặng thưởng huân, huy chương các loại, cùng nhiều phần thưởng cao quý khác.

Kể từ khi thành lập đến nay, Lữ đoàn đã trải qua 59 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành. Lớp lớp cán bộ, chiến sĩ của Lữ đoàn đã không ngừng phát huy truyền thống chiến đấu vẻ vang, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mở đường, mở bến, vận chuyển vũ khí từ Bắc vào Nam phục vụ cho chiến trường Nam bộ. Sau ngày thống nhất đất nước, Lữ đoàn đã sát cánh cùng Nhân dân ĐBSCL chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc và làm tròn nhiệm vụ quốc tế cao cả giúp nước bạn Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng.

Phát huy truyền thống “Đoàn tàu không số”, trước yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới, Đảng ủy, Chỉ huy Lữ đoàn xác định: “Tiếp tục phát huy truyền thống đơn vị anh hùng, tập trung mọi nỗ lực cố gắng của toàn Đảng bộ, phát huy sức mạnh tổng hợp của con người và tổ chức, nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, quản lý tốt nền nếp kỷ luật, củng cố kiện toàn hệ thống tổ chức đảng, tổ chức chỉ huy, tổ chức quần chúng vững mạnh, bồi dưỡng nâng cao năng lực, trình độ cho đội ngũ cán bộ các cấp, chăm lo đời sống vật chất tinh thần cho bộ đội, ra sức khắc phục khó khăn, phấn đấu hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao”.

LD962-tau-khongso-2.jpg
Giáo dục truyền thống cho chiến sĩ mới

Trong những năm qua, Lữ đoàn 962 luôn đạt thành tích cao trong công tác huấn luyện, sẵn dàng chiến đấu; thể hiện tốt vai trò nòng cốt trong công tác phòng, chống, giảm nhẹ thiên tai và tìm kiếm cứu nạn, tạo được niềm tin đối với Nhân dân và chính quyền địa phương nơi đơn vị đóng quân. Lữ đoàn đã tập trung nâng cao chất lượng huấn luyện phòng chống lụt bão, cứu hộ cứu nạn, vì đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng và hết sức phức tạp, đòi hỏi công tác chuẩn bị và thực hành huấn luyện phải tiến hành một cách tĩ mĩ, nghiêm túc. Trong quá trình huấn luyện, đơn vị luôn chú trọng công tác kiểm tra, theo dõi, đánh giá kết quả học tập của bộ đội. Bên cạnh huấn luyện theo kế hoạch chung, Lữ đoàn còn tổ chức huấn luyện bổ sung những nội dung còn yếu, nhất là kỹ thuật, động tác cứu vớt người và tàu, thuyền gặp nạn trên sông, huấn luyện bổ túc tay lái cho đội ngũ cán bộ… qua đó trình độ, kinh nghiệm của bộ đội không ngừng được nâng lên, vững vàng, tự tin hơn trong xử trí các tình huống. Do làm tốt công tác chuẩn bị, trong 5 năm gần đây, Lữ đoàn đã cứu hộ thành công trên 15 xuồng ghe các loại (trong đó có 06 xà lan từ 300 đến 850 tấn) bị chìm, lật và hàng trăm người dân gặp nạn trôi dạt trên sông; tham gia dập tắt 3 đám cháy lớn, kịp thời sơ tán hàng trăm người dân và nhiều tài sản có giá trị đến nơi an toàn; di dời hàng trăm hộ dân ra khỏi khu vực sạt lở tại thành phố Long Xuyên; đắp hàng ngàn mét đê bao ngăn lũ tại các tỉnh An Giang, Đồng Tháp; hoàn thành xuất sắc các đợt Diễn tập phòng chống lụt bão, cứu hộ cứu nạn cấp Quốc Gia tại các tỉnh Đồng Tháp, Trà Vinh, Sóc Trăng; đã có trên 30 lượt cán bộ, chiến sĩ và 12 tập thể được Bộ Quốc phòng; Ủy ban Quốc gia tìm kiếm cứu nạn, Ban Chỉ đạo phòng chống lụt bão Trung ương; Bộ Tư lệnh Quân khu; UBND các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Trà Vinh, Sóc Trăng, Vĩnh Long tặng Bằng khen. Những thành tích trên khẳng định bản lĩnh chính trị vững vàng, khả năng sẵn sàng chiến đấu cao, tinh thần chủ động sáng tạo khắc phục khó khăn và lòng dũng cảm sẵn sàng hy sinh của cán bộ, chiến sĩ đơn vị, tô thắm phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”.

Bên cạnh công tác huấn luyện, Đảng ủy, Chỉ huy Lữ đoàn luôn chú trọng xây dựng nền nếp chính quy, rèn luyện ý thức tổ chức kỷ luật, tính tự giác chấp hành điều lệnh, điều lệ chế độ quy định cho mọi cán bộ, chiến sĩ. Đặc biệt là trong công tác đảng, công tác chính trị và nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, đại đa số cán bộ, chiến sĩ đơn vị có bản lĩnh chính trị, lập trường tư tưởng kiên định vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, lối sống trong sạch, lành mạnh xây dựng và phát huy tinh thần đoàn kết không chỉ trong tình đồng chí, đồng đội mà còn là mối quan hệ gắn bó tình quân dân như cá với nước. Đơn vị còn thường xuyên quan tâm giáo dục đến cán bộ, chiến sĩ đặc biệt là thế hệ trẻ về truyền thống của “Đoàn tàu không số”. Qua đó vun đắp thêm tinh thần yêu nước ý thức cách mạng và niềm tự hào trong từng cán bộ, chiến sĩ hôm nay và mai sau.

Trước diễn biến phức tạp của dịch COVID-19, nhiều phương tiện và hàng chục cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn 962 tình nguyện tăng cường lên biên giới làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát, ngăn chặn xuất nhập cảnh biên trái phép trên các tuyến đường sông, rạch; đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền công tác phòng chống dịch trên tuyến biên giới An Giang, Đồng Tháp. Phối hợp với các lực lượng, tổ chức tuần tra, kiểm soát 76 lượt; kịp thời thông báo cho các lực lượng để ngăn chặn đẩy lùi ngay từ tuyến biên giới được 23 nhà nổi, bè nổi nuôi cá và 111 phương tiện xuồng, ghe, võ lãi lớn, nhỏ các loại. Lữ đoàn đã kịp thời hỗ trợ gia đình quân nhân có hoàn cánh khó khăn do ảnh hưởng của dịch COVID-19; tham gia gian hàng “0 đồng” cùng phường Mỹ Bình, thành phố Long Xuyên và Phụ nữ tỉnh An Giang để hỗ trợ những người dân gặp khó khăn, vượt qua mùa dịch COVID-19 và các lực lượng trên tuyến đầu chống dịch trên địa bàn Long Xuyên và Chợ Mới.

LD962-tau-khongso-3.jpg
Chiến sĩ mới tuyên thệ dưới cờ quyết thắng

Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc hiện nay, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn 962 luôn ra sức phấn đấu, tiếp tục phát huy truyền thống “Đoàn tàu không số”, đơn vị anh hùng LLVTND, lập nên nhiều thành tích xuất sắc. Được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Nhất (2012), Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Ba (2015), Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhất (2017). Từ năm 2010 đến 2016 Đảng bộ luôn đạt TSVM tiêu biểu, Lữ đoàn liên tục được Chính phủ, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư lệnh Quân khu tặng Cờ thi đua xuất sắc, Cờ đơn vị Huấn luyện giỏi, danh hiệu đơn vị Quyết thắng, bằng khen, giấy khen và nhiều hình thức khen thưởng khác của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương. Đặc biệt năm 2020, Lữ đoàn được Nhà nước tuyên dương “Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân” trong thời kỳ đổi mới, giai đoạn 2009 - 2019.

Phát huy truyền thống “Đoàn tàu không số”, đơn vị hai lần anh hùng LLVTND. Thế hệ cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn 962 không quên nhiệm vụ luôn trong tư thế sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc; ý thức và trách nhiệm trong việc giữ gìn và phát huy truyền thống đơn vị Anh hùng; ra sức thi đua xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện; hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ tô đậm thành tích vẻ vang, tự hào của cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn qua bao thế hệ xứng đáng với 16 chữ vàng “Đoàn kết, bí mật - Dũng cảm mở đường - Kiên cường giữ bến - Lập công xuất sắc”.

Đại tá Lê Thanh Nhã

Chính ủy Lữ đoàn 962

TrueChính trị
Nhớ mãi ngày Nam Bộ kháng chiếnBài viếtHòa BìnhNhớ mãi ngày Nam Bộ kháng chiến/SiteAssets/23-9-2021-nambokc.jpg
16/09/2021 9:15 SANoĐã ban hành

​(TUAG)- Cách đây 76 năm, ngày 23/9/1945, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, Xứ ủy, Ủy ban nhân dân và Ủy ban kháng chiến Nam Bộ đã kịp thời phát động quân và dân Nam Bộ mở đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Ngay từ giờ phút đầu tiên quân Pháp tiến công Sài Gòn - Chợ Lớn, bằng mọi thứ vũ khí trong tay, quân và dân ta đã anh dũng chiến đấu, gây khó khăn, tổn thất cho đội quân xâm lược được trang bị hiện đại. Cuộc chiến đấu trong điều kiện không cân sức của quân dân ta ở mặt trận Sài Gòn - Chợ Lớn và các địa phương khác ở Nam Bộ thực sự tiêu biểu cho tinh thần chủ động, sáng tạo, ý chí, quyết tâm “giữ vững nền độc lập” của dân tộc Việt Nam. Nam Bộ trở thành tiền tuyến của cả nước, thể hiện khí phách anh hùng, ý chí quyết tâm bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc, dũng cảm chiến đấu chống lại kẻ thù xâm lược, tạo điều kiện cho Đảng và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có thời gian chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài.

23-9-2021-nambokc.jpg

Lịch sử đã ghi lại, ngay trong ngày 23/9/1945, Xứ ủy và Ủy ban hành chính Nam Bộ (Ủy ban kháng chiến) triệu tập cuộc họp tại nhà số 629 đường Cây Mai (nay là đường Nguyễn Trãi, quận 5, thành phố Hồ Chí Minh). Hội nghị thông qua “Lời kêu gọi của Ủy ban kháng chiến Nam Bộ”, trong đó xác định: “Từ giờ phút này, nhiệm vụ hàng đầu của chúng ta là tiêu diệt giặc Pháp và tay sai của chúng”, và ra tuyên bố: “Cuộc kháng chiến bắt đầu!”. Hội nghị quyết định triệt để tổng đình công, không hợp tác với giặc Pháp, thực hiện chiến tranh du kích, phá hoại đường giao thông tiếp tế, bao vây, tiêu hao, tiêu diệt địch.

Hưởng ứng Lời kêu gọi của Ủy ban kháng chiến Nam Bộ, chiều ngày 23/9/1945, Sài Gòn triệt để tổng đình công, không hợp tác với thực dân Pháp. Các công sở, xí nghiệp, cửa hàng đều đóng cửa, chợ không họp, xe ngừng chạy, chướng ngại vật mọc lên khắp nơi. Các đơn vị xung phong, Công đoàn và Thanh niên tiền phong lập tức chiếm lĩnh vị trí chiến đấu đánh trả quân địch. Đông đảo quần chúng nhân dân Sài Gòn hăng hái tham gia bảo vệ độc lập với tinh thần “độc lập hay là chết”, quyết tâm thực hiện lời thề “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.

Tại Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã triệu tập hội nghị khẩn cấp Thường vụ Trung ương Đảng, nhất trí với chủ trương kháng chiến của Nam Bộ và cử một phái đoàn của Trung ương vào Nam Bộ để cùng Xứ ủy chỉ đạo cuộc kháng chiến. Ngày 26/9/1945, qua Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam, Bác Hồ gửi thư cho đồng bào Nam Bộ, khẳng định quyết tâm kháng chiến của Trung ương Đảng, Chính phủ và nhân dân cả nước. Người nói: “Tôi chắc và đồng bào cả nước đều chắc vào lòng kiên quyết ái quốc của đồng bào Nam Bộ… Tôi chắc và đồng bào Nam Bộ cũng chắc rằng Chính phủ và toàn quốc đồng bào sẽ hết sức giúp những chiến sĩ và nhân dân hiện đang hy sinh tranh đấu để giữ vững nền độc lập của nước nhà…”.

Ngay trong những ngày đầu, nhân dân Sài Gòn đã lập được nhiều chiến công xuất sắc, anh dũng đánh trả quyết liệt, kềm giữ chân địch để các địa phương có thời gian chuẩn bị lực lượng kháng chiến trường kỳ. Từ đó, làm thất bại âm mưu đánh nhanh, thắng nhanh của thực dân Pháp; đồng thời, tỏ rõ lòng yêu nước nồng nàn, ý chí quật cường và tinh thần chiến đấu anh dũng để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chủ quyền của dân tộc ta. Cuộc kháng chiến này còn thực hiện chủ trương của Đảng ta là tập trung đánh mạnh quân Pháp ở Nam Bộ, quyết tâm giành thắng lợi ở chiến trường Nam Bộ để tạo điều kiện cho việc đấu tranh với quân Tưởng ở miền Bắc.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân Nam Bộ sục sôi ý chí chiến đấu, đã nhất tề đứng lên, xông pha mặt trận quyết chiến với kẻ thù xâm lược. Quân và dân Sài Gòn đã thực hiện chiến thuật “trong đánh, ngoài vây”, hình thành 4 mặt trận tiền tuyến ở ngoại thành. Các ụ chiến đấu mọc lên ở khắp phố phường, các đội tự vệ cùng nhân dân canh gác các ngả đường. Quân và dân ta đã thực hiện các cuộc chống trả quyết liệt ở cột cờ Thủ Ngữ, khu vực Tân Định, cầu Thị Nghè, cầu Muối, cầu Chữ Y… Từ đó, làm cho thực dân Pháp lâm vào tình trạng khốn đốn, thiếu quân, thiếu vũ khí, thiếu lương thực, thực phẩm.

Cuộc kháng chiến anh dũng của đồng bào Sài Gòn đã làm rung động cả nước, thanh niên miền Bắc và miền Trung tình nguyện lên đường vào Nam đánh giặc, phong trào “Nam tiến” xuất hiện khắp nơi. Đến tháng 10/1945, cuộc kháng chiến lan rộng khắp đồng bằng Nam Bộ và mở ra đến các tỉnh Nam Trung bộ. Đâu đâu, giặc Pháp cũng vấp phải sức kháng cự quyết liệt của quân và dân ta. Ngày 25/10/1945, Xứ ủy Nam Bộ họp hội nghị mở rộng, quyết định đẩy mạnh chiến tranh du kích, xây dựng căn cứ địa kháng chiến và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong chiến tranh.

23-9-2021-nambokc-a.JPG

Với tinh thần yêu nước nồng nàn, ý chí chiến đấu ngoan cường, bất khuất, sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc của đồng bào Nam Bộ được Bác Hồ tặng danh hiệu “Thành đồng Tổ quốc”, và nhân dịp 100 ngày kháng chiến toàn quốc, Người đã gửi điện khen ngợi: “Sự anh dũng của đồng bào trong đó đã làm gương cho đồng bào toàn quốc noi theo. Chúng ta đồng tâm hiệp lực, không sợ gian nan, kiên quyết tranh đấu đến cùng, thì trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi, thống nhất, độc lập nhất định thành công”. Sự động viên và cũng là lời tiên đoán của Bác đã trở thành sự thật bằng chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” lập lại hòa bình ở miền Bắc, sau đó là Đại thắng mùa Xuân 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

76 năm trôi qua, tinh thần ngày 23/9 vẫn âm vang mãi: "Mùa thu rồi ngày 23 ta đi theo tiếng ca sơn hà nguy biến. Rền khắp trời lời hoan hô dân quân Nam nhịp chân tiến lên trận tiền. Thuốc súng kém, chân đi không mà lòng người giàu lòng vì nước…". Đó là âm vang của Nam Bộ thành đồng giàu lòng vì nước thề quyết chống quân ngoại xâm. Đó là tiếng chân của những đoàn quân Nam tiến nghe theo tiếng kêu sơn hà nguy biến sẵn sàng xả thân vì nước. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cả nước đồng sức đồng lòng "Ta đem thân ta liều cho nước, ta đem thân ta đền ơn trước. Xây giang sơn hạnh phúc muôn đời, nền độc lập khắp nước Nam" như lời bài hát Nam Bộ kháng chiến của cố nhạc sĩ Tạ Thanh Sơn. Đó sẽ là động lực to lớn cổ vũ mỗi cán bộ, đảng viên và Nhân dân đồng tâm nhất trí, năng động, sáng tạo để tiếp tục thắp sáng ngọn lửa Ngày Nam Bộ kháng chiến năm xưa trong công cuộc xây dựng đất nước, quê hương hôm nay ngày càng văn minh và giàu đẹp./.

H.B

Tài liệu tham khảo:

- Lịch sử Việt Nam 1945-2000, Nxb Giáo dục 2006.

- Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 4, 5.

- Hội đồng Chỉ đạo biên soạn Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - Lịch sử Nam Bộ kháng chiến¸ Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010.

False
Tuyên ngôn độc lập - áng văn lập quốc vĩ đại Bài viếtTTCTTTTuyên ngôn độc lập - áng văn lập quốc vĩ đại /SiteAssets/Tuyenngondoclap-vn.jpg
01/09/2021 4:15 CHYesĐã ban hành

(TUAG)- Ngày 02/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Thủ đô Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt quốc dân đồng bào đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á. Bản Tuyên ngôn Độc lập ngắn gọn nhưng chứa đựng những nội dung bất hủ, có giá trị lịch sử đối với dân tộc Việt Nam và ý nghĩa thời đại sâu sắc.

Tuyenngondoclap-vn.jpg

Sau khi khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi ở Hà Nội, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã soạn thảo Tuyên ngôn Độc lập tại nhà số 48 phố Hàng Ngang. Sau này nhớ lại, Người coi những giờ phút viết Tuyên ngôn Độc lập là những giờ phút sung sướng nhất trong sự nghiệp cách mạng của mình. Đó là kết tinh ý chí tự lực, tự cường, khát vọng của dân tộc, đồng thời kế thừa và phát triển những giá trị tiến bộ của nhân loại.

Khẳng định lẽ phải không ai chối cãi được

Tuyên ngôn Độc lập là một áng văn lập quốc vĩ đại, kiệt tác thể hiện sâu sắc quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về độc lập, tự do và hạnh phúc cho Nhân dân. Mở đầu Tuyên ngôn, Chủ tịch Hồ Chí Minh trích dẫn bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ do Thomas Jefferson soạn thảo và công bố ngày 04-7-1776, rằng: "Tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc"[1]. Người tiếp tục đề cập tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái trong bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền năm 1791 của Pháp: "Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi"[2]. Khi nhắc lại hai áng văn bất hủ ấy, cũng là hai giá trị nhân loại đã đạt được trong tiến trình phát triển của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh muốn nhấn mạnh rằng, sự nghiệp cách mạng của Việt Nam, dù là một quốc gia nhỏ bé, lạc hậu nhưng xứng đáng là một tiến trình của sự phát triển, là sự tiếp nối, kế thừa và mang một ý nghĩa to lớn của thời đại.

Từ việc đề cập đến quyền của con người như một tất yếu của tạo hóa, không ai có thể xâm phạm được, là quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khéo léo phát triển sáng tạo, đưa ra một luận đề không thể bác bỏ về quyền của các dân tộc: "Suy rộng ra câu ấy có nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do"[3].

Tố cáo và lên án mạnh mẽ chính sách áp bức của chủ nghĩa thực dân đối với dân tộc Việt Nam

Quyền độc lập dân tộc, quyền sống, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc là những giá trị cơ bản nhất của nhân quyền. Nhưng dưới chế độ thực dân, phong kiến ở Việt Nam, những quyền đó bị tước bỏ và chà đạp.

Trong Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lên án đanh thép tội ác của thực dân Pháp: "Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa"[4].

Chính sách cai trị của chủ nghĩa thực dân đã thể hiện bản chất tàn bạo, phản động của chủ nghĩa đế quốc đối với các dân tộc nhỏ yếu bị cai trị và nô dịch. Đấu tranh chống đế quốc, thực dân để tự giải phóng là yêu cầu tự thân, sống còn để bảo vệ quyền sống chính đáng và quyền tự quyết của dân tộc. Cuộc đấu tranh của dân tộc Việt Nam do Đảng Cộng sản và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo đã giành thắng lợi, với ý chí quật cường "đem sức ta mà tự giải phóng cho ta". Vì thế, Tuyên ngôn không chỉ có ý nghĩa với dân tộc Việt Nam, mà còn có ý nghĩa thời đại sâu sắc.

Tuyenngondoclap-vn3.jpeg

Khẳng định giá trị hiện thực và cơ sở pháp lý của nước Việt Nam độc lập

Tuyên ngôn nêu rõ: "Mùa thu năm 1940, phát xít Nhật đến xâm lăng Đông Dương để mở thêm căn cứ đánh Đồng minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật. Từ đó, dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật. Từ đó, dân ta càng cực khổ, nghèo nàn. Kết quả là cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Quảng Trị đến Bắc Kỳ, hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói"[3]. Ngày 09-3-1945, Nhật đảo chính, tước vũ khí quân đội Pháp, quân Pháp hoặc bỏ chạy hoặc đầu hàng. Khi Nhật đầu hàng Đồng minh, thời cơ Tổng khởi nghĩa đã đến, Nhân dân cả nước Việt Nam đã nổi dậy giành chính quyền. "Sự thực là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam tự tay Nhật, chứ không phải tự tay Pháp. Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa"[4].

Bên cạnh đó, chủ quyền dân tộc Việt Nam được xác lập từ cuộc đấu tranh lâu dài chống thực dân, phát-xít và được bảo đảm bởi những cam kết quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc. "Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập! Vì những lẽ trên, chúng tôi - Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng: "Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy"[5].

Lời thề độc lập sống mãi ngàn năm   

Với lập luận chặt chẽ, sắc bén, lời lẽ đanh thép, đầy sức thuyết phục, gói gọn trong 1.025 từ, Tuyên ngôn Độc lập là một áng hùng văn lập quốc vĩ đại, có thể sánh với những áng hùng văn của các bậc tiền nhân như bài thơ Thần "Nam Quốc Sơn Hà" của Lý Thường Kiệt, "Hịch tướng sĩ" của Trần Quốc Tuấn hay "Bình Ngô đại cáo" của Nguyễn Trãi. Tuyên ngôn là sự kết tinh khát vọng độc lập mấy nghìn năm của dân tộc và cũng tỏ rõ ý chí, quyết tâm giữ vững quyền tự do, độc lập, xứng đáng được xếp vào hàng "thiên cổ hùng văn" của dân tộc ta.

Thực hiện lời thề độc lập, dân tộc Việt Nam do Đảng Cộng sản và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo đã anh dũng chiến đấu suốt 30 năm chống sự xâm lược của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ với tinh thần "Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ", "Không có gì quý hơn độc lập, tự do".

Ngày nay, chủ nghĩa thực dân - một vết nhơ và nỗi đau của lịch sử nhân loại - đã bị xóa bỏ. Các quốc gia, dân tộc trên thế giới đang tham gia vào quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, hợp tác cùng phát triển trong hòa bình và tình thân hữu. Tuy nhiên, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột cục bộ vẫn tiếp tục diễn ra dưới nhiều hình thức; tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo diễn ra căng thẳng, phức tạp, quyết liệt hơn. Hoà bình, ổn định, tự do, an ninh, an toàn hàng hải, hàng không trên Biển Đông đứng trước thách thức lớn, tiềm ẩn nguy cơ xung đột. 

Trong lịch sử, dân tộc Việt Nam phải chống lại nhiều thế lực xâm lược hùng mạnh và tàn bạo để bảo vệ quyền độc lập thiêng liêng. Hơn ai hết, người Việt Nam hiểu rõ giá trị của hòa bình, độc lập, tự do. Dân tộc Việt Nam yêu chuộng hòa bình, trọng sự hòa hiếu, luôn luôn mong muốn là bạn với tất cả các nước trên thế giới, nhưng quyết tâm bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc với lời thề bất hủ: "Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy"./.


NGUYỄN HỮU THỊNH

Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy

_____________

[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.1

[2] Sđd, tr.1

[3] Sđd, tr.1

[4] Sđd, tr.2

[5] Sđd, tr.3



TrueChính trị
Ngày 02/9/1945: Mốc son lịch sử của dân tộc Việt NamBài viếtQuốc HùngNgày 02/9/1945: Mốc son lịch sử của dân tộc Việt Nam/Imagesnews/2021-08/2-9-mocsonhaohung_Key_31082021213418.jpg
31/08/2021 10:00 CHNoĐã ban hành
(TUAG)- Ngày 02/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố với quốc dân đồng bào cả nước và nhân dân trên thế giới, Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra đời (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) - một nhà nước kiểu mới, nhà nước dân chủ đầu tiên ở Đông Nam Á - đưa dân tộc Việt Nam tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do.

Bản Tuyên ngôn độc lập bắt đầu bằng những câu chân lý phổ biến vĩnh cửu: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Đó là một tác phẩm đỉnh cao, tiêu biểu, phản ánh đầy đủ nhất, sâu sắc nhất quan điểm triết học, quan điểm chính trị và cả quan điểm nhân sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong đó chứa đựng cả những giá trị của văn minh nhân loại, những “lẽ phải không ai chối cãi được” về quyền con người, quyền dân tộc. Tuyên ngôn độc lập còn thể hiện mạnh mẽ ý chí và khát vọng của dân tộc Việt Nam, đó là: “…Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Người dân Việt Nam, dù đang sống ở đâu trên trái đất này, vẫn vẹn nguyên niềm xúc động khi nhớ về một kỳ tích lịch sử cả dân tộc giành được nền dân chủ, tự do và độc lập.

Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 là thắng lợi đầu tiên của gần 100 nước thuộc địa trên thế giới trong thời đại đế quốc chủ nghĩa (tính từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX). Điều đặc biệt có ý nghĩa là cuộc cách mạng ấy không chỉ là kết quả của mục tiêu cho nhân dân Việt Nam tự mình giải phóng mà còn góp phần vào sự nghiệp chống phát-xít của loài người tiến bộ trong suốt những năm 1939 - 1945. Lần đầu tiên trong lịch sử loài người, nhân dân lao động đã thiết lập được chính quyền của mình ở một nước thuộc địa. Khẳng định ý nghĩa của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lãnh tụ Hồ Chí Minh viết: “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”.

Đối với dân tộc Việt Nam, đó là thắng lợi lịch sử vĩ đại sau gần 100 năm bền bỉ đấu tranh với hàng triệu người con ưu tú đã ngã xuống, anh dũng hy sinh vì khát vọng độc lập, vì dân chủ, tự do!.

Nói về Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Giáo sư Trần Văn Giàu cho rằng: “Thứ nhất, là một cuộc khởi nghĩa cách mạng mang đầy đủ tính chất dân tộc trên cả hai ý nghĩa lớn: thứ nhất là giải phóng dân tộc giành lại độc lập, tự do; thứ hai là cách mạng đồng loạt, đồng thời trên một đất nước dài gần 2.000 kilômét. Hai là, một cuộc khởi nghĩa mang tính chất nhân dân sâu sắc ở chỗ nó không phải là một hành động thắng lợi của chỉ một chính đảng mà được hoàn thành bởi hàng triệu quần chúng nhân dân trực tiếp tham gia cầm đủ thứ vũ khí từ thô sơ đến hiện đại, đấu tranh bằng các hình thức thích hợp,…”.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, 76 năm qua đất nước ta đã có những bước phát triển toàn diện có ý nghĩa lịch sử trên hầu hết những lĩnh vực của đời sống xã hội. Thể chế, hệ thống chính trị từng bước hoàn thiện và có bước phát triển; xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; dân chủ xã hội chủ nghĩa ngày càng được phát huy. Nền kinh tế thoát khỏi tình trạng trì trệ, khủng hoảng, kém phát triển, đưa nước ta trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình. Văn hóa phát triển đa dạng, phong phú, dân tộc, khoa học, đại chúng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trở thành nguồn lực phát triển đất nước. Hệ thống chính sách xã hội được xây dựng và ngày càng hoàn thiện; giải quyết lao động, việc làm và thu nhập cho người lao động, xóa đói giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội. Công tác y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân được tăng cường. Quy mô giáo dục phát triển nhanh, thực hiện nền giáo dục toàn dân, đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng tăng của nhân dân. Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, lợi ích quốc gia, dân tộc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững an ninh quốc gia, ổn định chính trị - xã hội, trật tự an toàn xã hội và môi trường hòa bình để tập trung xây dựng và phát triển đất nước. Công tác đối ngoại góp phần duy trì, củng cố môi trường hòa bình ổn định, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa…

Bảy mươi sáu năm qua, cách mạng Việt Nam đã đi qua nhiều giai đoạn, nhiều bước ngoặt và vượt qua nhiều thử thách lớn, giành thắng lợi vĩ đại, đưa đất nước phát triển. Việt Nam đã ra khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, có quan hệ quốc tế rộng rãi, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới.

Phát huy tinh thần Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 02/9 bất diệt, là dịp để mỗi cán bộ, đảng viên khơi dậy mạnh mẽ khát vọng phát triển quê hương, đất nước phồn vinh, hạnh phúc, nâng cao trách nhiệm, tinh thần cống hiến, lao động sáng tạo, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, tiếp tục phát triển sự nghiệp cách mạng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại, xây dựng đất nước ngày càng phồn vinh, hạnh phúc.
Quốc Hùng
FalseChính trị
Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc dâng hương tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí MinhTinTTXVNChủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc dâng hương tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh/SiteAssets/Lists/ChinhTri/EditForm/2882021-CTN2.jpg
28/08/2021 2:00 CHNoĐã ban hành

(TUAG)- Sáng 28/8, tại Di tích Nhà 67 trong Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đã dâng hương tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân kỷ niệm 76 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 và 52 năm ngày Bác đi xa và cũng là 52 năm thực hiện Di chúc của Người. Cùng đi có các Ủy viên Bộ Chính trị: Võ Văn Thưởng, Thường trực Ban Bí thư; Phan Đình Trạc, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Nội chính Trung ương. Tham gia Đoàn còn có Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân.

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc và các đồng chí trong Đoàn thành kính dâng hoa, dâng hương tại Nhà 67 vào đúng 9 giờ 47 phút. Đây cũng là thời khắc mà Bác Hồ kính yêu đã đi xa vào ngày mùng 2 tháng 9 năm 1969, tức ngày 21 tháng 7 năm Kỷ Dậu.

Tưởng nhớ công lao trời biển của Chủ tịch Hồ Chí Minh - lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, trước anh linh của Người, thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước và đồng chí, đồng bào cả nước, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc bày tỏ sự xúc động sâu sắc, lòng biết ơn vô hạn đối với công lao vĩ đại của Người đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. 52 năm ngày Bác đi xa và cũng là 52 năm toàn Đảng, toàn dân thực hiện Di chúc thiêng liêng của Người.

2882021-CTN1.jpg

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc và các đồng chí trong Đoàn tại Di tích Nhà 67 trong Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch.

2882021-CTN2.jpg

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc tham quan Triển lãm ảnh "Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh". Ảnh: TTXVN

Năm nay là năm đầu tiên toàn Đảng, toàn dân và toàn quân thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng với khát vọng của dân tộc Việt Nam là đưa đất nước đi tới phồn vinh, hạnh phúc, hùng cường, thịnh vượng, sánh vai với các nước trong khu vực và thế giới, như sinh thời Bác Hồ hằng mong muốn.

Nhà 67 hiện vẫn còn lưu giữ nguyên vẹn những kỷ niệm gắn bó với cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh, đây cũng là nơi thường xuyên diễn ra các cuộc họp của Bộ Chính trị vào những năm ác liệt nhất trong cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ra miền Bắc...

TTXVN

FalseChính trị
Võ Nguyên Giáp - cây đại thụ rợp bóng nhân vănBài viếtAdminVõ Nguyên Giáp - cây đại thụ rợp bóng nhân văn/SiteAssets/25-daituong3.jpg
24/08/2021 9:00 CHYesĐã ban hành

Thời thế tạo ra anh hùng, nhưng anh hùng lại góp phần tạo ra thời thế. Đại tướng - Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp là một trong những trường hợp như vậy. Trong lịch sử quân sự thế giới có lẽ hiếm có một người nào xuất thân từ một nhà giáo dạy sử, chưa từng được kinh qua một trường lớp chính quy nào về quân sự lại được giao sứ mệnh cầm quân, để rồi từ một người yêu nước ngay từ khi còn là một cậu học trò đến một người cộng sản chân chính - chân chính đến tận cuối đời... trở thành một vị tướng xuất chúng như Đại tướng - Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp.

25-daituong1.jpg

Đại tướng Võ Nguyên Giáp thăm lại Mường Phăng (huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên) tháng 4/2004. (Ảnh: Đoàn Hoài Trung)

Với nhiều người, kể cả những người từng một thời là đối thủ bên kia chiến tuyến, thì Võ Nguyên Giáp không chỉ là một danh tướng, một “Nhà chính trị đi trước nhà quân sự”, một “Thống soái quân sự cỡ lớn”... mà còn là một “Cây đại thụ rợp bóng nhân văn”. Đức Nhân trong con người Võ Nguyên Giáp được biểu hiện qua những mối quan hệ chủ yếu: Với nhân dân, với bộ đội , với kẻ thù và với chính bản thân.

Trước hết, với nhân dân. Là một nhà giáo dạy sử, lại là một học trò xuất sắc và gần gũi của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh nên hơn ai hết, Võ Nguyên Giáp hiểu rất rõ và thấm nhuần sâu sắc tư tưởng “trọng dân” của các bậc tiền nhân cũng như “nước lấy dân làm gốc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trên cương vị là Tổng Tư lệnh các lực lượng vũ trang, ông luôn coi yếu tố chính trị quần chúng là chỗ dựa không thể thiếu trong bất kỳ hoạt động quân sự nào của Quân đội cách mạng - Quân đội của nhân dân. Với Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “Lực lượng chính trị quần chúng là cơ sở để xây dựng và phát triển các lực lượng vũ trang cách mạng của nhân dân. Nó là chỗ dựa vững chắc cho lực lượng vũ trang nhân dân tác chiến” (1).

25-daituong2.jpg

Đại tướng Võ Nguyên Giáp trò chuyện với bà con đồng bào các dân tộc tại Cao Bằng, năm 1994. (Ảnh tư liệu/qdnd.vn) 

Trong suốt cuộc đời cầm quân, yếu tố nhân dân luôn luôn bám rễ sâu trong tư duy quân sự của Võ Nguyên Giáp. Ngay từ buổi đầu được Hồ Chí Minh giao tổ chức và thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân - Đội quân chủ lực đầu tiên, Võ Nguyên Giáp đã khởi thảo và huấn thị cho các đội viên thấm nhuần sâu sắc Mười lời thề, trong đó đề cập chủ yếu đến mối quan hệ quân - dân.

Không có nhân dân cách mạng, không có lực lượng chính trị hùng hậu của nhân dân, mà đội quân chủ lực là công - nông do Đảng Cộng sản tổ chức và lãnh đạo thì không thể có lực lượng vũ trang nhân dân lớn mạnh.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Trong suốt hai cuộc kháng chiến, trên cương vị là Tổng Tư lệnh, Bộ trưởng Quốc phòng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp thường xuyên nhắc nhở các mặt trận, các địa phương thà mất đất chứ nhất quyết không để mất dân. Với Đại tướng, để các lực lượng vũ trang nhân dân đánh thắng địch cần phải có hậu phương chiến lược vững mạnh, căn cứ địa cách mạng được xây dựng bằng sức mạnh của “nhân sơn”, “nhân hải”.

Đến thăm các đơn vị, Đại tướng Võ Nguyên Giáp bao giờ cũng căn dặn bộ đội phải thường xuyên chăm lo củng cố và xây dựng mối quan hệ quân - dân cho thật tốt. Sự quan tâm đó của “Người anh cả” đã góp phần làm cho quan hệ “quân - dân như cá với nước” bám rễ, ăn sâu và trở thành nét đẹp truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam cả trong thời chiến lẫn thời bình.

Với quan hệ cán - binh, Võ Nguyên Giáp là một vị tướng tướng bao dung, độ lượng nhưng rất nghiêm khắc; một vị Tổng Tư lệnh được toàn quân mến phục. Không phải ngẫu nhiên mà tướng Navarre - Tổng chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương từng phải thốt lên: “Đã bao lần tôi phát ghen với tướng Giáp”(2). Vị Tổng chỉ huy của Pháp “phát ghen” vì dưới trướng ông ta “không có một đội quân mà mối quan hệ cán - binh, quan hệ đồng chí gắn bó mật thiết như đội quân của Tướng Giáp”.

Trong đội quân dưới quyền chỉ huy của Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã xây dựng được mối quan hệ kiểu mới - quan hệ đồng chí cách mạng giữa cán bộ và chiến sĩ, giữa cấp trên và cấp dưới bình đẳng về chính trị, thương yêu tôn trọng lẫn nhau, hiệp đồng chặt chẽ với nhau để hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. Với Đại tướng, “trong lực lượng vũ trang nhân dân, người cán bộ ở bất kỳ cương vị nào, từ người tiểu đội trưởng cho đến Tổng Tư lệnh, dù là cấp úy, cấp tướng  hay cấp tá thì trước sau vẫn là người lao động bình thường, người chiến sĩ cách mạng vừa là người chỉ huy lại vừa là người bạn chiến đấu của mọi chiến sĩ”.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong một lần đến thăm Bộ đội Trường Sơn. (Ảnh tư liệu/qdnd.vn) 

Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp là người biết trọng dụng và sử dụng nhân tài. Trong hai cuộc kháng chiến có không ít trí thức đủ đức tài mặc dù chưa phải là đảng viên, xuất thân từ tầng lớp tiểu tư sản... nhưng đều được ông trọng dụng giao cho nhiều trọng trách quan trọng và nhiều người trong số đó về sau đều trở thành những tướng lĩnh tài ba của Quân đội. Có lẽ hiếm có một vị Tổng Tư lệnh nào lại được bộ đội trân quý, yêu mến giành cho cho cái tên gần gũi và thân thương: “Anh Văn” như Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp. Nhà trí thức lớn Hoàng Xuân Hãn sau khi dự Hội nghị Đà Lạt (tháng 5/1946) cảm nhận: “Đây là lần đầu tiên tôi biết Võ Nguyên Giáp. Trái với tiếng đồn là người róng riết, Võ Nguyên Giáp là người tỏ thái độ nhã nhặn, có tình cảm nhiều nhưng ý tưởng thì rất kiên quyết”.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp luôn coi trọng yếu tố nhân hòa; biết nhân hòa thì không kiêu căng. Ông luôn giáo dục cấp dưới đã làm cán bộ thì không được kiêu căng với chiến sĩ; kiêu căng ắt tạo ra kiêu binh. Đã coi trọng nhân hòa thì phải biết khiêm nhường; đức khiêm nhường và đức hy sinh đều là những biểu hiện cao cả của nhân hòa và dũng khí. Bởi những kẻ khiếp nhược và đê tiện thì đâu dám hy sinh và khiêm nhường vì nhân dân để có thể hiếu-với-dân. Người cán bộ phải biết thương yêu bộ đội, đồng cam cộng khổ, chia sẻ ngọt bùi với chiến sĩ, làm cho trên dưới một lòng.

Là người cầm quân, ai cũng khát khao chiến thắng nhưng không phải trả bằng mọi giá. Với Đại tướng Võ Nguyên Giáp, là người chỉ huy, cầm quân cần phải biết quý trọng sinh mệnh của cán bộ và chiến sĩ, bởi suy cho cùng quý trọng sinh mệnh của bộ đội cũng tức là quý trọng sinh mệnh của nhân dân. Việc ông quyết định thay đổi phương châm tác chiến trong chiến dịch Điện Biên Phủ, từ “Đánh nhanh, thắng nhanh” sang “Đánh chắc tiến chắc” là một minh chứng; nó vừa bảo đảm yếu tố chắc thắng, lại vừa giảm thiểu đến mức thấp nhất thương vong cho bộ đội. Năm 1984, trong cuộc gặp mặt kỷ niệm 30 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, Đại tướng Lê Trọng Tấn xúc động bày tỏ “nếu ngày đó không có quyết định thay đổi phương châm của anh Văn thì phần lớn cán bộ chúng tôi đã nằm lại cánh đồng Mường Thanh”.

Có thể nói, Võ Nguyên Giáp là một trong những vị tướng “biết đau với từng nỗi đau của người lính, biết trân quý từng giọt máu của mỗi chiến binh”. Tại Hội nghị tổng kết Đợt hai chiến dịch Điện Biên Phủ, khi nghe báo cáo về con số thương vong của bộ đội quá lớn trong trận đánh Đồi A1, Đại tướng đã không kìm được nước mắt. Ông lấy khăn ra lau đồng thời nổi nóng phê bình chỉ huy trận đánh đó. Đây là lần đầu tiên người ta thấy Đại tướng nổi nóng và “lớn tiếng” với một chỉ huy cấp dưới. Tuy nhiên, sau đó khi đã hiểu rõ mọi nguyên nhân, ông đã ôm chầm lấy vị chỉ huy đó với hai hàng nước mắt tiếp tục rơi.

Trên cương vị là Tổng Tư lệnh, bằng cái tâm sáng của người chỉ huy, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nêu một tấm gương sáng và truyền lửa cho các lực lượng vũ trang nhân dân xây dựng được mối quan hệ đoàn kết nội bộ vững chắc, tạo nên một sức mạnh không gì phá vỡ nổi; đồng thời làm cho nó trở thành một nét đẹp truyền thống quý báu của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, của lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam anh hùng.

Với tù hàng binh, Võ Nguyên Giáp là một vị tướng biết thắng địch bằng nhân nghĩa, “biết khoan dung đối với kẻ địch đã đầu hàng”. Là người thấm nhuần sâu sắc tư tưởng nhân nghĩa được kết tinh từ truyền thống nhân văn trong chống giặc ngoại xâm của các bậc tiền nhân trên tinh thần “không vì tư thù, tư oán”. Tư tưởng đó trở thành cẩm nang quan trọng trong cuộc đời cầm quân của Đại tướng Võ Nguyên Giáp; nó vừa là chiến lược, vừa là sách lược nhằm “phá được địch mà không phải đánh”, giành được thắng lợi mà không phải tiêu diệt đến tên địch cuối cùng.

Trong một lần trả lời phỏng vấn nhà báo Pháp Dominique Barri, khi được hỏi: Chiến lược của các ông là gì ? - Đại tướng trả lời: "Chiến lược của chúng tôi là chiến lược hòa bình. Tôi là vị tướng của hòa bình". Trong chiến dịch Biên Giới năm 1950, mặc dù bộ đội ta còn nhiều thiếu thốn, cực khổ nhưng trên cương vị Tư lệnh chiến dịch, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã chỉ thị cho cấp dưới đối xử tử tế với tù hàng binh, đặc biệt là với các tù binh cấp cao của địch như Lơ-pa-giơ, Sác-tông, Duya-rít. Việc làm nhân đạo đó đã có sức lay động lớn, góp phần làm thay đổi thái độ của những binh lính Pháp được phóng thích.

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, ở trận đánh Mường Thanh, tử thương của địch nằm la liệt trên các bờ hào, công sự; theo đề nghị của chỉ huy trưởng trận đánh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đồng ý cho tạm dừng tiếng súng, đồng thời ông chỉ thị cho cấp dưới thảo ngay một bức thư thông báo cho chỉ huy quân Pháp được phép cho người ra lấy tử thương. Sau trận đánh cuối cùng của chiến dịch, ông cho dựng hàng chục chiếc lều vải trên cánh đồng Mường Thanh và dọc hai bên bờ sông Nậm Rốm để cứu chữa cho tù, hàng binh địch bị thương. Chỉ có người như Đại tướng Võ Nguyên  Giáp mới có cách hành xử đầy chất nhân văn đối với tù hàng binh của đối phương như vậy.

Với chính mình, cái tôi trong con người Võ Nguyên Giáp là cái tôi "dĩ công vi thượng". Đại tướng là người luôn biết đề cao vai trò của tập thể. Trước khi đưa ra quyết định bất cứ một việc hệ trọng nào Đại tướng cũng đưa ra bàn bạc, thảo luận dân chủ trong tập thể lãnh đạo, chỉ huy. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, trước khi quyết định thay đổi phương châm tác chiến, Đại tướng đã đưa ra thảo luận, xin ý kiến tập thể Đảng ủy Mặt trận và đoàn cố vấn. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, những quyết định quan trọng mà Đại tướng đưa ra đều được thảo luận, xin ý kiến của Bộ Chính trị, Thường trực Quân ủy.

Tính nhân văn trong con người Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp không dừng lại ở tư tưởng, ở ý chí, ở chỗ giữ cho cá nhân mình được trong sạch; mà trở thành hành động, trở thành phẩm chất, đạo đức và tài năng xuất chúng của một vị tướng. Hình ảnh của Đại tướng Võ Nguyên Giáp sống mãi trong lòng bộ đội, trong lòng nhân dân và nhiều bè bạn quốc tế chính là thước đo chân chính nhất.

---------------

[1] Võ Nguyên Giáp: Chiến tranh giải phóng và chiến tranh bảo vệ tổ quốc. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Sự thật. H. 1979. Tr.121.

[2] H .Navarre: Thời điểm của những sự thật. Nhà xuất bản Plong. Paris. 1979. Tr.285.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp Văn - Võ, Đức - Tài đã trở thành huyền thoại
Chuyện về ngôi nhà bình dị của Đại tướng Võ Nguyên Giáp bên dòng Kiến Giang
Lần sinh nhật đặc biệt của Đại tướng ở quê nhà
Đại tướng Võ Nguyên Giáp - vị Tướng văn võ song toàn
Hình ảnh Đại tướng Võ Nguyên Giáp về thăm lại chiến trường xưa

PGS, TS TRẦN NGỌC LONG

Nguyên Phó Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam

Theo Nhân dân

TrueChính trị
Sống mãi với thu vàngBài viếtHòa BìnhSống mãi với thu vàng/Imagesnews/2021-08/110-nam-ngaysinh-daituong-VNG_Key_22082021105822.jpg

​Kỷ niệm 110 năm Ngày sinh Đại tướng Võ Nguyên Giáp (25/8/1911 - 25/8/2021)

22/08/2021 11:00 SAYesĐã ban hành

​(TUAG)- Mảnh đất Quảng Bình với biết bao thăng trầm, biến cố của lịch sử, là vùng đất nối hai đầu đất nước, nơi giao thoa của những điều kiện tự nhiên, văn hóa, xã hội, có vị trí chiến lược quan trọng trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc. Lịch sử vùng đất Quảng Bình gắn liền với lịch sử của các cuộc chiến đấu chống ngoại xâm, bảo vệ độc lập chủ quyền và vùng lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc. Nơi đây, đã sinh ra một vị tướng huyền thoại, một người con anh hùng của dân tộc Việt Nam. Người anh hùng ấy đã được thế giới công nhận là thiên tài quân sự lớn nhất của thế kỉ XX. Người chính là Đại tướng Võ Nguyên Giáp - một trong những học trò xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là người Đại tướng của Nhân dân, người anh cả của quân đội cách mạng, một nhà văn hóa lớn của Việt Nam…

110-nam-ngaysinh-daituong-VNG.jpg

Người chiến sĩ cách mạng kiên trung, người học trò xuất sắc và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Võ Nguyên Giáp là người học trò xuất sắc và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trước, trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, trong cuộc kháng chiến chín năm, đồng chí được sống và làm việc bên cạnh Bác Hồ, được Bác giáo dục, rèn luyện và trao cho nhiều trọng trách trên các lĩnh vực quân sự, chính trị, ngoại giao... đồng chí đã nỗ lực phấn đấu học tập ý chí, tư tưởng, đạo đức, tác phong, lối sống của vị Lãnh tụ thiên tài Hồ Chí Minh, luôn luôn tu dưỡng rèn luyện, nói và làm theo gương Bác Hồ vĩ đại.

Trong quá trình hoạt động cách mạng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp rất coi trọng tổng kết thực tiễn và chính từ đó đồng chí càng hiểu sâu sắc hơn tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Là một trong những người sớm nghiên cứu và viết về Hồ Chí Minh, tư tưởng Hồ Chí Minh một cách cơ bản, toàn diện, hệ thống, Đại tướng đã có nhiều đóng góp quan trọng trong việc nghiên cứu, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, đặc biệt đã góp phần xây dựng nền móng cho bộ môn khoa học Hồ Chí Minh học. Với ba chuyên luận: “Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam”, “Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh”, “Thế giới đổi thay, tư tưởng Hồ Chí Minh còn sống mãi”, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã góp phần đưa tư tưởng Hồ Chí Minh vào cuộc sống, trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trong thời kỳ mới.

110-nam-ngaysinh-daituong-VNG-1.jpg

Một thiên tài quân sự, đã cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, lập nên những chiến công hiển hách

Đồng chí Võ Nguyên Giáp được phong quân hàm Đại tướng và trở thành vị Đại tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Đảm nhiệm trọng trách lớn lao khi tuổi đời còn khá trẻ (37 tuổi); song với sự học tập, rèn luyện, phấn đấu không ngừng nghỉ, đồng chí luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, xứng đáng với sự tin tưởng của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Nhân dân Việt Nam. Với 30 năm là Tổng Tư lệnh Quân đội, Bí thư Quân ủy Trung ương, Đại tướng luôn tỏ rõ là nhà quân sự xuất chúng, nhà lãnh đạo có uy tín lớn của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta. Trong tất cả những bước ngoặt lịch sử của cách mạng Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và những chiến dịch quân sự trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược; dưới ngọn cờ bách chiến, bách thắng của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp với kiến thức và tài năng quân sự của mình đã góp phần làm nên những chiến thắng vĩ đại, tác động mạnh mẽ vào dòng chảy lịch sử dân tộc; trở thành vị tướng huyền thoại, thiên tài quân sự thời đại… và nhận được sự ngưỡng mộ, kính trọng của nhiều nguyên thủ quốc gia, chính khách, học giả, nhà sử học, nhà báo, nhà văn và đông đảo nhân dân thế giới.

Những kiến thức và tài năng quân sự của Đại tướng đều do tự học từ lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam và lịch sử quân sự thế giới; tự rèn luyện, tự đúc rút kinh nghiệm qua thực tế chiến đấu của quân đội ta mà nên. Chính điều ấy đã làm nên sự khác biệt của Đại tướng, khiến thế giới khâm phục, suy tôn Võ Nguyên Giáp là danh tướng, một trong những thống soái kiệt xuất nhất trong lịch sử nhân loại... là một trong số ít những người có khả năng làm thay đổi dòng chảy lịch sử.

Nhà văn hóa lớn, có những đóng góp quan trọng trên các lĩnh vực giáo dục, báo chí, ngoại giao, lịch sử… và phong trào cách mạng thế giới

Không chỉ tỏa sáng rực rỡ trong lĩnh vực quân sự, Đại tướng còn là một trong những nhà văn hóa lớn của Việt Nam. Đại tướng đã dành nhiều tâm sức cho việc viết hồi ký và lịch sử. Những tác phẩm của Đại tướng, như: “Từ Nhân dân mà ra”, “Những năm tháng không thể nào quên”, “Chiến đấu trong vòng vây”, “Điện Biên Phủ điểm hẹn lịch sử”, “Tổng Hành dinh trong mùa xuân toàn thắng”, “Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam”... đã giúp người đọc cả trong và ngoài nước càng hiểu sâu hơn về bản sắc, truyền thống văn hóa, nguồn gốc sức mạnh của dân tộc Việt Nam, càng thêm yêu mến, cảm phục đất nước và con người Việt Nam.  

Đồng chí Võ Nguyên Giáp không chỉ là một Đại tướng lừng lẫy của Quân đội nhân dân Việt Nam mà trong các lĩnh vực khác, như giáo dục và đào tạo, khoa học và kỹ thuật, báo chí, ngoại giao, văn hóa, lịch sử…, Đồng chí đều có đóng góp quan trọng, thực sự là con người tài - đức vẹn tròn, văn - võ song toàn.

110-nam-ngaysinh-daituong-VNG-2.jpg

Hơn 80 năm hoạt động cách mạng, cuộc đời của Đại tướng Võ Nguyên Giáp gắn liền với sự nghiệp cách mạng của Đảng ta, dân tộc ta và Quân đội ta. Ở Đại tướng luôn sáng ngời những phẩm chất nhân cách của nhà văn hóa lớn, một tấm gương mẫu mực về đạo đức cách mạng: Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư; đặc biệt là 6 đức tính cần phải có của các vị tướng do Bác Hồ chỉ ra “Trí, Dũng, Nhân, Tín, Liêm, Trung” luôn được Đại tướng Võ Nguyên Giáp thực hiện đầy đủ, trọn vẹn. Đại tướng là tấm gương sáng về sự liêm khiết, giản dị, khoan dung, nhân hậu, khiêm tốn, ham học hỏi, đoàn kết, sống có tình nghĩa, hết lòng thương yêu đồng chí, đồng bào, suốt đời tận tụy phục vụ Đảng, phục vụ Nhân dân, phục vụ đất nước, không màng chút danh, lợi riêng tư.

Dân tộc Việt Nam có quyền tự hào đã sinh ra một người con như thế trong một thời đại rực rỡ nhất lịch sử dân tộc: Thời đại Hồ Chí Minh.

H.B

TrueChính trị
Chủ tịch Tôn Đức Thắng - Người con ưu tú của dân tộc và quê hương An GiangBài viếtHoàng KỳChủ tịch Tôn Đức Thắng - Người con ưu tú của dân tộc và quê hương An Giang/Imagesnews/2021-08/BacTon-thamque-1975_Key_11082021082410.jpg

HOÀNG KỲ*

19/08/2021 8:00 SAYesĐã ban hành

(TUAG)- Chủ tịch Tôn Đức Thắng - nhà lãnh đạo mẫu mực, người cộng sản kiên trung, người bạn chiến đấu thân thiết của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, tấm gương đạo đức cách mạng sáng ngời - suốt đời phấn đấu, hy sinh vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Với 92 năm tuổi đời, gần 70 năm hoạt động cách mạng, được Đảng và Nhà nước phân công giữ nhiều trọng trách, Người đã có những cống hiến to lớn cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam, vì độc lập, tự do cho Tổ quốc, vì hạnh phúc của Nhân dân, vì sự phát triển của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.

Chủ tịch Tôn Đức Thắng trở về thăm quê sau ngày thống nhất đất nước, ảnh: Tư liệu.

Chủ tịch Tôn Đức Thắng - Bác Tôn sinh ngày 20/8/1888 tại Cù lao Ông Hổ thuộc làng An Hòa, tổng Định Thành, tỉnh Long Xuyên (nay là xã Mỹ Hòa Hưng, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang) trong một gia đình trung nông. Sinh ra trong hoàn cảnh đất nước bị ngoại xâm, các phong trào yêu nước thất bại và bị đàn áp khốc liệt, không khí chính trị ấy đã tác động rất sâu sắc đến nhận thức của Bác từ thuở thiếu niên. Bên cạnh đó, quê hương An Giang - giàu nghĩa tình và truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm - đã góp phần bồi đắp những phẩm chất cao quý trong tính cách và tâm hồn Tôn Đức Thắng - vĩ đại trong cái bình thường, bình thường một cách vĩ đại.

Lúc thiếu thời, Bác Tôn đã học "nho học", chữ quốc ngữ và trường Pháp. Bài học làm người, về nhân sinh quan, về tinh thần yêu nước, tinh thần dân tộc của Bác được truyền từ người thầy đầu tiên, nhà nho yêu nước Nguyễn Thượng Khách, trong nhóm "Đông Kinh nghĩa thục". Từ khi còn là người thanh niên có học thức của một gia đình trung nông, Bác Tôn không chọn con đường đi làm thầy thông, thầy ký mà quyết định học làm thợ ở trường Bá Nghệ Sài Gòn và trở thành người công nhân Việt Nam. Hoạt động cách mạng ban đầu của Bác Tôn là tập hợp thanh niên, hun đúc tinh thần yêu nước, ý chí chống áp bức, bất công. Khi đứng trong hàng ngũ giai cấp công nhân Pháp, Bác Tôn trở thành người Việt Nam đầu tiên tham gia cuộc phản chiến ở Biển Đen, góp phần bảo vệ Nhà nước Xô Viết non trẻ vừa hình thành sau Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại. Khi trở về nước, Bác Tôn tổ chức Công hội bí mật ở Sài Gòn - Chợ Lớn và được cử làm Hội trưởng.

Tháng 7/1929, Bác Tôn bị thực dân Pháp bắt và giam cầm ở khám lớn Sài Gòn, sau đó bị kết án 20 năm khổ sai. Đầu tháng 7/1930, Bác Tôn bị đày ra Côn Đảo - "địa ngục trần gian" với bao cực hình dã man của chế độ nhà tù thực dân, khi thì làm công việc khổ sai, khi thì bị nhốt vào hầm xay lúa, nhưng không lay chuyển được ý chí kiên trung, bất khuất, một lòng giữ trọn niềm tin vào cách mạng của người cộng sản. Uy tín và ảnh hưởng của Tôn Đức Thắng đã lan tỏa không những trong những người cộng sản mà còn cảm hóa được một số tù Quốc dân Đảng và tù thường phạm. Cũng chính tại nơi "địa ngục trần gian" này, Tôn Đức Thắng đã tham gia thành lập chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên ở Côn Đảo và tích cực đấu tranh chống lại chế độ lao tù hà khắc của thực dân Pháp.

Cách mạng Tháng Tám thành công, từ Côn Đảo trở về, vừa đặt chân lên đất liền, Bác Tôn đã tham gia ngay vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Đầu năm 1946, Bác được điều động ra Hà Nội công tác bên cạnh Bác Hồ, Trung ương Đảng và Chính phủ, với trọng trách Ủy viên Ban Thường trực Quốc hội (tháng 3/1946), Phó Trưởng Ban Thường trực Quốc hội (tháng 11/1946), Bộ trưởng Bộ Nội vụ (tháng 4/1947), Trưởng Ban Trung ương vận động thi đua ái quốc (tháng 01/1948), Quyền Trưởng ban Thường trực Quốc hội (năm 1948). Tháng 01-1948, Bác được bầu bổ sung vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Tại Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa II (tháng 7-1960), Bác Tôn được bầu làm Phó Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu "về cõi vĩnh hằng", tại Kỳ họp thứ năm Quốc hội khóa III đã bầu Bác Tôn làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đồng chí Nguyễn Lương Bằng làm Phó Chủ tịch nước. Tại Kỳ họp này, đồng chí Trường Chinh, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong phát biểu chúc mừng có đoạn khẳng định: "… Cụ Tôn Đức Thắng và đồng chí Nguyễn Lương Bằng là hai chiến sĩ lão thành của cách mạng Việt Nam, những người bạn chiến đấu gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, những người con ưu tú của dân tộc Việt Nam ta…"[1].

Bithu-Tinhuy-viet-luuniem-BacTon.JPG

Bí thư Tỉnh ủy An Giang Lê Hồng Quang ghi cảm tưởng tại đền thờ Chủ tịch Tôn Đức Thắng.

Trải qua nhiều trọng trách được Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó, Bác Tôn luôn nêu cao tấm gương sáng ngời về tinh thần yêu nước; ý chí đấu tranh cách mạng kiên cường; lòng trung thành, tận tụy; đạo đức trong sáng, mẫu mực, đức tính khiêm tốn, giản dị; tình thương yêu đồng chí, đồng bào; tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc và tình đoàn kết quốc tế vô sản, đúng như trong tác phẩm: Tôn Đức Thắng: Một con người bình thường - vĩ đại, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã khẳng định: "… Di sản quý nhất mà đồng chí Tôn Đức Thắng để lại cho Nhân dân là chất người Tôn Đức Thắng, sản phẩm tổng hợp của chất hào hiệp Nam Bộ, chất kiên cường và tài năng sáng tạo Việt Nam, chất tiên phong của giai cấp công nhân, chất cách mạng của người yêu nước, người cộng sản, chất nhân đạo của con người…".

Sớm thoát ly gia đình, xa quê hương hoạt động cách mạng nên tình yêu và nỗi nhớ xứ sở vẫn luôn da diết khôn nguôi trong tâm trí Bác. Lần đầu sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng thống nhất đất nước, Bác về thăm An Giang trong nỗi bùi ngùi xúc động. Mặc dù mấy mươi năm xa quê hương nhưng Bác vẫn giữ nét chân chất của người miệt vườn, luôn ân cần, giản dị, thăm hỏi mọi người. Nhân dân An Giang luôn ghi nhớ lời căn dặn quý báu của Bác: Phải đoàn kết, phấn đấu trở thành một tỉnh giàu mạnh, Nhân dân ấm no, ai cũng được học hành như Bác Hồ mong muốn trong Di chúc lịch sử của Người.

Kỷ niệm 133 năm Ngày sinh Chủ tịch Tôn Đức Thắng, ôn lại cuộc đời hoạt động cách mạng và những cống hiến to lớn của Người, chúng ta càng thêm kính trọng và bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc Chủ tịch Tôn Đức Thắng - một chiến sĩ cách mạng kiên trung của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, người bạn chiến đấu thân thiết của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, nhà lãnh đạo mẫu mực của Đảng, đã hiến dâng cả cuộc đời cho lý tưởng cộng sản, độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đây cũng là dịp để chúng ta học tập, làm theo tấm gương đạo đức Chủ tịch Tôn Đức Thắng - một gương mẫu đạo đức cách mạng; suốt đời cần, kiệm, liêm, chính, suốt đời hết lòng, hết sức phục vụ cách mạng, phụng sự nhân dân.

Tự hào về sự nghiệp và đạo đức cách mạng trong sáng của Chủ tịch Tôn Đức Thắng, Đảng bộ và Nhân dân An Giang nguyện đoàn kết một lòng, ra sức học tập, công tác, nêu cao ý chí tự lực tự cường, phát huy tinh thần năng động, sáng tạo, khai thác tiềm năng thế mạnh, tận dụng thời cơ và các yếu tố "thiên thời, địa lợi, nhân hòa", xây dựng tỉnh An Giang không ngừng phát triển, xứng đáng là quê hương của Chủ tịch Tôn Đức Thắng.

* TS Lê Hồng Quang

Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng,

Bí thư Tỉnh ủy An Giang

_________________

[1] "Bác Tôn - nhà cách mạng bất tử", trong Tôn Đức Thắng, người cộng sản mẫu mực, biểu tượng của đại đoàn kết, Nxb Chính trị quốc gia - Sự Thật, Hà Nội, 2003, tr.24.  

TrueChính trị
Tấm gương đạo đức của Chủ tịch Tôn Đức ThắngBài viếtTTCTTTTấm gương đạo đức của Chủ tịch Tôn Đức Thắng/Imagesnews/2021-08/BacTon-thamque-1975_Key_11082021082410.jpg
11/08/2021 9:00 SAYesĐã ban hành

(TUAG)- Tôn Đức Thắng lúc còn trẻ được gọi là Hai Thắng, sinh ngày 20/8/1888 tại cù lao ông Hổ, làng An Hòa, tổng An Phú, hạt Long Xuyên (nay là xã Mỹ Hòa Hưng, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang), Khi sinh ra đất nước đã là thuộc địa, quá trình trưởng thành của Hai Thắng đúng vào lúc thực dân thực hiện cuộc khai thác thuộc địa lần thứ I (1897-1914). Do đó, Hai Thắng chứng kiến được hết nổi cơ cực, lầm than, bị áp bức của người dân mất nước.

Bí thư Tỉnh ủy An Giang Lê Hồng Quang ghi cảm tưởng tại Đền thờ Chủ tịch Tôn Đức Thắng

Người thầy đầu tiên của Hai Thắng là thầy Năm Khách. Thấy Hai Thắng là một đứa trẻ có tư chất khác thường, thông minh, thương người, nên được thầy Năm Khách đã quan tâm giáo dục đạo làm người, những tấm gương anh hùng chống Pháp, những đạo lý truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Từ đó, đạo đức truyền thống của dân tộc được hình thành trong tâm hồn Hai Thắng. Sau đó Hai Thắng đi học chữ Quốc ngữ và chữ Pháp ở trường tiểu học Long Xuyên. Năm 1906, Hai Thắng học xong tiểu học. Đầu năm 1907, Hai Thắng lên Sài Gòn, bắt đầu từ người thợ, trở thành người cộng sản, được rèn luyện trong nhà tù Côn Đảo, trải qua nhiều chức vụ, nhiều năm sống gần gũi với chủ tịch Hồ Chí Minh.

Cuộc đời 92 năm của chủ tịch Tôn Đức Thắng đã để lại cho chúng ta một nhân cách tuyệt vời, tấm gương đạo đức trong sáng cần nghiên cứu và học tập.

Bác Tôn sớm có lòng yêu nước, thương dân và tinh thần đấu tranh cách mạng, suốt đời hy sinh phấn đấu vì độc lập, tự do của Tổ quốc, hạnh phúc của Nhân dân.

Được thầy Năm Khách thương yêu, giáo dục, lòng yêu nước, thương dân đã sớm hình thành trong nhân cách của Hai Thắng, ngày càng sâu đậm, chính chắn. Từ đó, Tôn Đức Thắng có chí hướng nghiêng về phía nhân dân lao động, lập nghiệp bằng con đường người thợ. Cuộc sống người thợ, sự năng động trong tư duy, nhạy cảm nắm bắt cái mới là nét nổi bật trong tính cách Tôn Đức Thắng. Tôn Đức Thắng sớm tham gia các cuộc bãi công, bãi khóa của công nhân Ba Son và học sinh trường Bá Nghệ. Trước cuộc sống bất công, Tôn Đức Thắng luôn đứng mũi chịu sào, dũng cảm, kiên cường, không khoan nhượng chống lại mọi sự áp bức, cường quyền.

Thời gian bị đọa đày trong địa ngục trần gian Côn Đảo, Tôn Đức Thắng đã tỏ rõ nghị lực phi thường, chí khí quật cường của người công nhân, bản lĩnh của một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, bất khuất, làm tất cả mọi việc có lợi cho Đảng, cho cách mạng, tin tưởng vững chắc vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng.

Cách mạng Tháng Tám thành công, vì nước gác tình nhà, Tôn Đức Thắng tham gia ngay vào cuộc đấu tranh vĩ đại của dân tộc. Ở những cương vị lãnh đạo quan trọng của Đảng và Nhà nước, mặc dù tuổi cao, Bác Tôn đã phấn đấu không mệt mỏi góp phần cùng với Bác Hồ, Trung ương Đảng, Quốc hội và Mặt trận dân tộc thống nhất đưa hai cuộc kháng chiến của dân tộc ta đến thắng lợi vẻ vang.

Căn nhà sàn thời niên thiếu Bác Tôn ở.

Phấn đấu vì sự nghiệp đoàn kết toàn dân, luôn yêu thương, kính trọng Nhân dân, vì Nhân dân mà phục vụ

Từ những cuộc đấu tranh đầu tiên Tôn Đức Thắng đã hiểu rõ rằng đoàn kết làm nên sức mạnh, "Sức mạnh của cách mạng, của Đảng là ở chỗ có tổ chức, có đoàn kết nhất trí". Cuộc đấu tranh trên Biển Đen (4/1919); cuộc đấu tranh của công nhân Ba Son (8/1925), Tôn Đức Thắng trực tiếp tham gia hoặc lãnh đạo giành thắng lợi đều khẳng định chân lý đó.

Trong ngục tù đế quốc, bằng đức độ và uy tín của mình, Tôn Đức Thắng đã đoàn kết được tù nhân, lãnh đạo anh em đấu tranh giành thắng lợi ngay cả trong những điều kiện khó khăn nhất.

Những ngày đầu sau cách mạng Tháng 8 thành công, Bác Tôn đã góp phần quan trọng vào việc đoàn kết tất cả các đảng phái và các đồng bào yêu nước không đảng phái, không phân biệt giai cấp, tôn giáo, xu hướng chính trị, chủng tộc, để làm cho nước Việt Nam "độc lập - thống nhất - dân chủ - phú cường"; tham gia thành lập Hội Liên Việt (6/1946), tiến tới Đại hội thống nhất Mặt trận Việt Minh và Hội Liên Việt (3/1951).

Đặt mục tiêu "giành độc lập cho Tổ quốc, dân chủ cho Nhân dân, hòa bình cho thế giới", Tôn Đức Thắng đã quy tụ được cả một "rừng cây đại đoàn kết". Cống hiến của Tôn Đức Thắng là đã làm rõ được "đại doàn kết là chính sách liên minh giai cấp để kháng chiến". Vì vậy, những mâu thuẫn quyền lợi giữa các giai cấp đều được giải quyết hợp lý. Tôn Đức Thắng đặc biệt chú trọng đến quyền lợi của đông đảo quần chúng lao động vì họ là nền tảng của Mặt trận dân tộc thống nhất, là lực lượng chủ yếu của kháng chiến. Vừa đoàn kết vừa đấu tranh vì thống nhất, độc lập, dân chủ, không phải "dĩ hòa vi quí".

Bí thư Thành ủy Long Xuyên Trần Thị Thanh Hương dâng hương Đền thờ Chủ tịch Tôn Đức Thắng (ngày 20/8/2015).

Một gương mẫu đạo đức cách mạng: Nhân ái, thủy chung, khoan dung, nhân hậu; suốt đời cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; khiêm tốn, giản dị; sống khí phách, hiên ngang, chí nghĩa, chí tình

Khi còn ở tuổi thanh niên, Tôn Đức Thắng đã sớm bộc lộ lòng yêu thương những con người bất hạnh, cùng khổ, thích bênh vực người yếu, chống sự bất công, kể cả việc ra tay trị những kẻ ỷ thế ăn hiếp người khác. Hai Thắng dám bênh cả những bạn bị đốc học người Pháp phạt không căn cứ. Tình thương người đó được mở rộng và nâng lên cùng nhận thức trong quá trình hoạt động thực tiễn.

Lúc ở nhà tù Côn Đảo, bọn quản lý nhà tù phân Tôn Đức Thắng làm "cặp rằng Hầm xay lúa" nhằm mượn tay tù thường phạm (những kẻ lưu manh mạt hạng) giết chết người cặp rằng. Bằng khí phách hiên ngang, lối sống chí nghĩa chí tình, Bác Tôn đã cảm hóa được mọi tù nhân, kể cả những tù thường phạm và kẻ thù Quốc Dân Đảng - đối thủ chính trị trong nhà tù.

Hình ảnh "cặp rằng Hầm xay lúa" Tôn Đức Thắng là tấm gương sáng ngời về đức hy sinh, thương yêu những anh em cùng cảnh ngộ. Bằng trái tim nhân ái, Bác Tôn kiên trì giáo dục, giác ngộ, đoàn kết tù nhân, không phân biệt tù chính trị hay thường phạm. Không khí thương yêu, đoàn kết lẫn nhau đã thay thế bạo lực, thù hằn.

Khi là Phó Chủ tịch rồi Chủ tịch nước, Bác Tôn vẫn luôn giữ lối sống và nếp sống giản dị, nhân ái, thủy chung, tình nghĩa, như là một lẽ tự nhiên, như việc Bác đã mua nệm mút tặng một cựu tù Côn Đảo già yếu vào mùa đông giá rét; trích tiền lương giúp đỡ gia đình một cố bộ trưởng nuôi 2 người con ăn học đến ra trường...

Đối với gia đình, vợ con, Bác Tôn là người chồng, người cha có trách nhiệm, rất mực yêu thương và thủy chung. Bác gái tâm sự: "Tôi với ông gặp nhau mấy mươi năm, nhưng gần nhau có được bao nhiêu ngày. Ông đi như con chim bay không biết mỏi. Tôi với ông như sao Hôm chờ đợi sao Mai. Gặp nhau là lúc ông ở tù, tôi đi thăm. Ra tù nói chuyện với nhau giây lát, nhiều lắm đôi ba ngày, ông lại đi lo việc đại sự quốc gia. Tưởng đâu ông ít nghĩ đến tôi. Đâu phải vậy, càng xa nhau ông càng thương càng nghĩ đến tôi, đậm đà, đằm thắm như tuổi trẻ đầu xanh". Thật xúc động biết bao khi thấy một vị Chủ tịch nước 80 tuổi, ôm hôn vợ thắm thiết như đôi lứa còn xuân xanh, khi Bác Tôn vào thăm bác gái bệnh nằm ở Quân y viện. Một lần nữa chúng ta thấy tình cảm của Bác Tôn đối với gia đình thật là đậm đà, sâu sắc.

Đồng chí Võ Thị Ánh Xuân - Phó Chủ tịch nước cùng đoàn công tác trồng cây tại Khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng.

Tình cảm quốc tế trong sáng, cao cả

Tôn Đức Thắng luôn phấn đấu vì hòa bình, hữu nghị giữa các dân tộc. Tham gia cuộc phản chiến của hải quân Pháp ở Biển Đen, là người kéo cờ đỏ trên chiến hạm France chống lại sự can thiệp vũ trang của đế quốc, ủng hộ Cách mạng Tháng Mười, đó là một biểu tượng của tình đoàn kết quốc tế, đặt nền móng cho tình hữu nghị giữa Nhân dân Việt Nam và nhân dân Nga. Bác Tôn viết: "Tôi tin rằng, bất cứ một người Việt Nam yêu nước nào, đặc biệt là công nhân, có mặt trong giờ phút lịch sử đó trên Biển Đen cũng đều hành động như tôi. Bởi vì, yêu Tổ quốc, căm thù đế quốc, thì trước hết có nghĩa là phải yêu mến cách mạng Tháng Mười và căm thù kẻ nào chống lại cuộc cách mạng ấy".

Cuộc bãi công của công nhân Ba Son (8/1925) do Tôn Đức Thắng lãnh đạo, mở đầu cuộc đấu tranh từ tự phát sang tự giác của giai cấp công nhân Việt Nam, đánh dấu tinh thần đoàn kết quốc tế của công nhân Việt Nam với công nhân và cách mạng Trung Quốc.

Trên đây là khắc họa những nét chính tấm gương đạo đức của Chủ tịch Tôn Đức Thắng, người con ưu tú của đất An Giang, lão đồng chí thân thiết, gắn bó với Chủ tịch Hồ Chí Minh, người cộng sự đắc lực của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ vĩ đại của dân tộc ta, rồi nối tiếp Hồ Chí Minh làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa. Bác Tôn để lại di sản quí báu cho dân tộc, đó là "Tấm gương đạo đức trong sáng, vĩ đại mà dân tộc ta vô cùng trân quí và học tập"./.

ĐẶNG HOÀI DŨNG

Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử tỉnh

True
Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc gửi Thư thăm hỏi các nạn nhân chất độc da cam/dioxinTinH.TChủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc gửi Thư thăm hỏi các nạn nhân chất độc da cam/dioxin/SiteAssets/CTN-Nguyen-Xuan-Phuc-gui-thu-nannhan-dacam.jpg
08/08/2021 12:00 CHNoĐã ban hành

​(TUAG)- Nhân “Ngày vì nạn nhân chất độc da cam/dioxin" (10/8), Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc có Thư gửi các nạn nhân và gia đình các nạn nhân chất độc da cam/dioxin ở Việt Nam. Xin trân trọng giới thiệu toàn văn Thư của Chủ tịch nước.

CTN-Nguyen-Xuan-Phuc-gui-thu-nannhan-dacam.jpg

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc gửi Thư thăm hỏi, động viên các nạn nhân/ gia đình nạn nhân chất độc da cam/dioxin

Nhân “Ngày vì nạn nhân chất độc da cam/dioxin" (10/8), tôi thân ái gửi đến các nạn nhân và gia đình các nạn nhân chất độc da cam/dioxin trong cả nước lời thăm hỏi ân cần với tình cảm sẻ chia sâu sắc nhất.

Đã 60 năm kể từ khi thảm họa da cam/dioxin xảy ra ở Việt Nam (10/8/1961 - 10/8/2021), song những mất mát, đau thương mà thảm họa này gây ra trên đất nước ta còn vô cùng nghiêm trọng, nghiệt ngã, với hậu quả, di chứng nặng nề, ảnh hưởng nhiều thế hệ.

Những năm qua, Đảng, Nhà nước và nhân dân hết sức quan tâm, chia sẻ, cảm thông, mong muốn và hỗ trợ các nạn nhân chất dộc da cam/dioxin vượt qua bệnh tật, khó khăn, nỗ lực vươn lên trong cuộc sống.

Trong đó, tôi đặc biệt biểu dương Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam đã không ngừng nỗ lực, kiên trì, hoạt động hiệu quả, thực sự là nòng cốt trong công cuộc khắc phục hậu quả thảm họa da cam/dioxin, đại diện đấu tranh đòi công lý, công bằng cho các nạn nhân. Tôi cảm phục và biểu dương các nạn nhân và gia đình các nạn nhân da cam/dioxin đã nỗ lực vượt qua di chứng, bệnh tật, hòa nhập vững vàng vào cuộc sống.

Những cảm thông sâu sắc cũng như những hỗ trợ thiết thực từ các tổ chức, các nhà hảo tâm trong và ngoài nước, bạn bè quốc tế, đã dành cho nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam cũng là những hình ảnh nghĩa cử cao đẹp và rất đáng trân trọng.

Tôi mong các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể, các cơ quan tổ chức, cá nhân đồng bào ta ở trong và ngoài nước tiếp tục phát huy truyền thống "tương thân tương ái" tốt đẹp của dân tộc, giúp đỡ và ủng hộ nhiều hơn nữa vào công cuộc khắc phục hậu quả của thảm họa da cam/dioxin, chăm lo cho nạn nhân chất độc da cam/dioxin, nhất là trong giai đoạn cả nước đang nỗ lực vượt qua khó khăn, thách thức đẩy lùi đại dịch Covid-19.

Với niềm tin tưởng vào hiệu quả của sự chung tay khắc phục thảm họa da cam/dioxin, tôi chúc các nạn nhân và gia đình các nạn nhân chất độc da cam/dioxin an toàn trước dịch bệnh, luôn kiên cường, giàu nghị lực để tiếp tục phát huy tinh thần tự lực, phấn đấu vươn lên làm cho cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn.

Thân ái!

NGUYỄN XUÂN PHÚC

False
Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công - vai trò lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định! Bài viếtSự ThậtCách mạng Tháng Tám 1945 thành công - vai trò lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định! /Imagesnews/2021-08/Anh-2-9_Key_04082021195812.jpg
04/08/2021 8:00 CHNoĐã ban hành

(TUAG)- Lâu nay, cứ vào dịp đất nước ta kỷ niệm ngày Cách mạng Tháng Tám năm 1945 (CMTT) thành công, một số người thiếu thiện chí, cơ hội lại nêu lên quan điểm mang tính chất xuyên tạc, sai trái rằng thắng lợi của CMTT ở Việt Nam là “một sự ăn may”. Để chứng minh cho “sự ăn may” này, họ cho rằng từ sau cuộc đảo chính của Nhật (09/3/1945), Đông Dương không còn là thuộc địa của Pháp mà là thuộc địa của Nhật. Không lâu sau, phát xít Nhật đã bị thất bại thảm hại trước quân đồng minh và tuyên bố đầu hàng vô điều kiện (14/8/1945), như vậy ở Đông Dương xuất hiện “khoảng trống quyền lực”, cho nên chỉ cần nổ ra cách mạng là giành thắng lợi.


Thực chất quan điểm của họ là nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, sức mạnh của quần chúng và đi đến phủ nhận sự nghiệp đấu tranh cách mạng vĩ đại của Nhân dân ta. Trước những luận điệu này, cần phải hết sức tỉnh táo nhận thức rõ việc lịch sử đã chứng minh CMTT là đỉnh cao của cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do cho Tổ quốc mà dân tộc Việt Nam đã bền bỉ, anh dũng tiến hành liên tục trong suốt thời gian gần 100 năm đô hộ của thực dân, phát xít, trong đó nhân tố quyết định là sự lãnh đạo của Đảng, là việc Đảng ta đã phát huy được sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc và dự đoán thời cơ chính xác, chớp thời cơ kịp thời để phát động tổng khởi nghĩa thành công.

Cục diện chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945) thay đổi nhanh chóng, đã tác động rất lớn đến tình hình Việt Nam. Đầu năm 1940, chính quyền Pháp sau khi thất trận ở châu Âu đã đầu hàng và để phát xít Nhật vào chiếm đóng Đông Dương. Đầu năm 1945, quân Nhật bắt đầu thua trận ở Thái Bình Dương, chính quyền Pháp tại Đông Dương lại bắt đầu có ý đồ trở cờ chống lại Nhật, tướng Đờ Gôn tìm cách bí mật gây dựng một lực lượng nhằm sẵn sàng lấy lại “miếng mồi ngon” khi có cơ hội. Thời điểm phát xít Nhật đầu hàng quân đồng minh, lực lượng quân sự của chúng ở Việt Nam vẫn rất mạnh, với khoảng 100.000 quân, vũ khí được trang bị đầy đủ, tinh thần tuy bị sa sút không còn ý chí chiến đấu nhưng lính Nhật vẫn sẵn sàng tuân lệnh từ cấp trên. Trong khi đó Việt Nam là “mắt xích” quan trọng tại Đông Nam Á nên Nhật, Pháp quyết giữ bằng được và giành sức ảnh hưởng, hòng cứu vớt danh dự.

Trong sự tính toán, mưu toan của các nước lớn sau Hội nghị Posdam (tháng 7/1945) lực lượng đồng minh sẽ đưa quân vào Đông Dương để giải giáp quân Nhật. Đến ngày 31/8/1945, một đơn vị tiền trạm của Anh tới Sài Gòn, sau đó là 2.500 quân Anh đến sân bay Tân Sơn Nhất, bám gót quân Anh, 2 tiểu đoàn biệt kích của Pháp đổ bộ vào miền Nam. Như vậy, ở nước ta chưa bao giờ có “khoảng trống” nào hết, lúc bấy giờ rõ ràng có rất nhiều lực lượng hiếu chiến sẵn sàng giương súng.

Các phong trào chống thực dân, phát xít ở trong nước phát triển liên tục, giai đoạn sau là bước kế thừa phát triển cao hơn giai đoạn trước và đạt đến đỉnh cao nhất vào thời kỳ 1939-1945. Đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Đông Dương (ĐCSĐD) được xác định từ Hội nghị Trung ương tháng 11/1939 và hoàn chỉnh căn bản trong Hội nghị Trung ương tháng 5/1941. Đảng nhấn mạnh chỉ có thực lực của chúng ta mới quyết định được sự thắng lợi của cuộc đấu tranh cách mạng, nếu không sẽ trở thành công cụ trong tay kẻ khác: “Nhất là đừng có ảo tưởng rằng quân Trung Quốc và quân Anh - Mỹ sẽ mang lại tự do cho ta. Không, trong cuộc chiến đấu giải phóng cho ta, cố nhiên là phải kiếm bạn đồng minh dầu rằng tạm thời, bấp bênh, có điều kiện, nhưng công việc của ta trước hết ta phải làm lấy”. Bằng tư duy chiến lược sắc bén, Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm đề ra đường lối cách mạng đúng đắn, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh lịch sử Việt Nam, đã quyết định giương cao ngọn cờ dân tộc, thành lập Mặt trận Việt Minh (MTVM) với đường lối vận động quần chúng linh hoạt, sáng tạo làm cơ sở cho sự quy tụ sức mạnh vùng lên của toàn dân tộc.

Thắng lợi của cuộc CMTT không phải là một cơ may, một sự tình cờ do kết quả của việc xuất hiện một “khoảng trống quyền lực”. Nếu có xuất hiện một “khoảng trống quyền lực” như vậy, điều kiện đó cũng mở ra cơ hội như nhau trên toàn bán đảo Đông Dương; nhưng trên thực tế, cách mạng chỉ nổ ra ở Việt Nam, trong khi đó ở Campuchia, Lào lại không có quá trình lịch sử tương tự. Thêm nữa, ngay tại Việt Nam, cơ hội cũng mở ra thời cơ như nhau cho nhiều chính đảng và giáo phái, nhưng cuối cùng chỉ có lực lượng cách mạng do ĐCSĐD và MTVM lãnh đạo mới đủ sức chớp thời cơ và giành chính quyền trên quy mô toàn quốc. Những yếu tố chủ quan và bên trong, trong đó nổi bật vai trò lãnh đạo và tổ chức của ĐCSĐD và MTVM, mới thực sự là những yếu tố quyết định nhất đối với thắng lợi của cuộc CMTT.

Thắng lợi của CMTT đã chứng minh rằng Đảng và Nhân dân ta đã có sự chuẩn bị lâu dài, chu đáo. Đó là cuộc chuẩn bị suốt 15 năm kể từ khi Đảng ra đời, các chiến lược, sách lược được xây dựng từng bước thận trọng, được kiểm nghiệm, đánh giá qua các phong trào. Thắng lợi này đã xoá bỏ chế độ phong kiến tồn tại hàng nghìn năm ở nước ta, kết thúc gần 90 năm bị thực dân đô hộ, đưa nước ta bước vào một kỷ nguyên mới từ một nước thuộc địa nửa phong kiến trở thành một nước tự do, độc lập./.

Sự Thật

FalseChính trị
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ra Lời kêu gọi phòng, chống đại dịch COVID-19TinAdminTổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ra Lời kêu gọi phòng, chống đại dịch COVID-19/SiteAssets/TBT-keugoi-toandan-cd.jpg

​(TUAG)- Ngày 29/7, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ra Lời kêu gọi gửi đồng bào, đồng chí, chiến sĩ cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài về công tác phòng, chống đại dịch COVID-19. Cổng TTĐT Đảng bộ An Giang trân trọng gửi tới bạn đọc toàn văn Lời kêu gọi của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

29/07/2021 1:00 CHNoĐã ban hành

TBT-keugoi-toandan-cd.jpg

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ra Lời kêu gọi gửi đồng bào, đồng chí, chiến sĩ cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài về công tác phòng, chống đại dịch COVID-19.

Thưa đồng bào, đồng chí, chiến sĩ cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài,

Trong thời gian qua, trước những diễn biến phức tạp của tình hình dịch bệnh COVID-19, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chỉ đạo về tăng cường công tác phòng, chống dịch, chăm lo đời sống, bảo vệ sức khỏe nhân dân và phát triển kinh tế - xã hội; ban hành kịp thời nhiều chính sách hỗ trợ người dân và doanh nghiệp gặp khó khăn do ảnh hưởng bởi đại dịch COVID-19... Các cấp, các ngành, các địa phương và nhân dân cả nước đã chủ động, kịp thời thực hiện các biện pháp mạnh mẽ, quyết liệt như giãn cách, cách ly xã hội, "chiến lược vắc-xin", "vắc-xin và biện pháp 5K"... để phòng, chống, ngăn chặn dịch bệnh, bước đầu đã thu được một số kết quả tích cực.

Thay mặt lãnh đạo Đảng và Nhà nước, tôi nhiệt liệt hoan nghênh, biểu dương và đánh giá cao sự cố gắng, nỗ lực của nhân dân trong nước, đồng bào ta ở nước ngoài đã phát huy truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái; cảm ơn cộng đồng quốc tế đã đồng hành, ủng hộ, chung tay góp sức cùng Việt Nam trong công tác phòng, chống dịch; biểu dương sự vào cuộc kịp thời, tích cực của cả hệ thống chính trị đã góp phần kiềm chế, ngăn chặn sự bùng phát của dịch bệnh; phát triển kinh tế - xã hội, chăm lo đời sống, bảo vệ sức khoẻ nhân dân.

Hiện nay, tình hình đại dịch COVID-19 vẫn đang diễn biến rất phức tạp, tốc độ lây lan rất nhanh, gây tổn hại lớn về sức khỏe và tính mạng của người dân, ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế - xã hội và mọi mặt của đời sống. Với tinh thần "chống dịch như chống giặc", bảo vệ sức khỏe, tính mạng của nhân dân là trên hết, trước hết, thay mặt lãnh đạo Đảng và Nhà nước, tôi tha thiết kêu gọi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và đồng bào ta ở nước ngoài: Chúng ta đã cố gắng càng cố gắng hơn nữa; đã đoàn kết càng đoàn kết hơn nữa; đã quyết tâm càng quyết tâm cao hơn nữa; toàn dân tộc muôn người như một, đồng lòng cùng Đảng, Chính phủ, các cấp, các ngành tìm mọi cách quyết ngăn chặn, đẩy lùi bằng được, không để dịch lan rộng, bùng phát trong cộng đồng. Tôi yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, ban chỉ đạo phòng, chống dịch COVID-19 từ Trung ương tới cơ sở phải quyết liệt hơn nữa trong lãnh đạo, chỉ đạo; tập trung cao nhất công sức, thời gian, ưu tiên mọi nguồn lực; chủ động nắm chắc và dự báo, kiểm soát tốt tình hình; tuyệt đối không được lơ là, chủ quan, không để bị động, bất ngờ trong ứng phó với diễn biến mới của dịch bệnh; linh hoạt, sáng tạo tổ chức thực hiện có hiệu quả công việc hệ trọng này.

Tôi tin tưởng sâu sắc rằng, cả nước góp sức, toàn Đảng, toàn dân đồng lòng, thống nhất ý chí và hành động, cùng với sự giúp đỡ chí tình của đồng bào ta ở nước ngoài và bạn bè quốc tế, nhất định chúng ta sẽ chiến thắng đại dịch COVID-19 và phải chiến thắng cho bằng được, góp phần xứng đáng vào sự nỗ lực chung của toàn nhân loại vì một thế giới an toàn, lành mạnh, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và thịnh vượng, xứng đáng với truyền thống anh hùng vẻ vang của Đất nước ta, Dân tộc ta!

NGUYỄN PHÚ TRỌNG
Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam

FalseChính trị
Phát huy truyền thống vẻ vang, xây dựng Công đoàn An Giang ngày càng phát triển Bài viếtTrúc LinhPhát huy truyền thống vẻ vang, xây dựng Công đoàn An Giang ngày càng phát triển /SiteAssets/Cong-doanag.jpg

(TUAG)- 92 năm qua, cùng với sự ra đời, phát triển và trưởng thành của giai cấp công nhân và Công đoàn Việt Nam, đội ngũ công nhân và tổ chức Công đoàn An Giang đã phát triển mạnh mẽ, đáp ứng nhu cầu thực tiễn.

28/07/2021 1:05 CHNoĐã ban hành

Từ những năm 1920, cùng với Sài Gòn và một số tỉnh thuộc Nam kỳ, An Giang đã hình thành tổ chức Công hội (tiền thân của tổ chức Công đoàn ngày nay). Tháng 4/1930, chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên được thành lập ở Long Điền (Chợ Mới), từ đây tổ chức Công hội ở An Giang được củng cố, phát triển về mọi mặt, góp phần cùng quân - dân An Giang đấu tranh giải phóng giai cấp, giải phóng quê hương. Từ đó đến nay, vị trí phong trào công nhân và hoạt động Công đoàn ngày càng được xác lập rõ nét, làm nồng cốt cho phong trào cách mạng, đặc biệt đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương.

Trải qua 10 kỳ Đại hội, tổ chức công đoàn An Giang được củng cố và phát triển, số lượng đoàn viên công đoàn tăng nhanh, đội ngũ cán bộ phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng. Đến nay, toàn tỉnh có trên 105.000 công nhân, viên chức, lao động và 99.400 đoàn viên đang sinh hoạt, làm việc tại 1.493 công đoàn cơ sở, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp (tăng 71.300 đoàn viên so với năm 1984), tỉ lệ công đoàn cấp trên cơ sở, công đoàn cơ sở đạt vững mạnh đều tăng lên qua mỗi nhiệm kỳ.

Công đoàn mở rộng hoạt động sang khu vực kinh tế ngoài nhà nước; phối hợp ngày càng hiệu quả với các cấp chính quyền, các tổ chức và người sử dụng lao động, thực hiện tốt hơn nhiệm vụ đại diện chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động, kịp thời giải quyết những vấn đề bức xúc, góp phần xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định tiến bộ trong doanh nghiệp. Công tác tuyên truyền, vận động đoàn viên, người lao động tiếp tục đổi mới, đa dạng hóa, hướng về cơ sở. Các cuộc vận động, phong trào yêu nước được phát động rộng rãi, thu hút, khơi dậy động lực của đoàn viên, người lao động, góp phần tăng năng suất lao động, phát triển kinh tế - xã hội. Công đoàn đã làm tốt vai trò cầu nối của Đảng, Nhà nước với công nhân, người lao động, tích cực tham gia xây dựng Đảng, hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Trong những năm gần đây, các cấp công đoàn từ tỉnh đến cơ sở đã có nhiều đổi mới, sáng tạo trong hoạt động, chủ động tham mưu, đề xuất cấp ủy, chính quyền ban hành nhiều chủ trương, biện pháp chỉ đạo và hỗ trợ; phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, ban ngành, đoàn thể, tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật cho người lao động; tổ chức các phong trào thi đua yêu nước, nhất là thi đua “Lao động giỏi - Lao động sáng tạo”; thi đua “Chung sức xây dựng nông mới - đô thị văn minh” đã có 4.154 công trình thi đua của đoàn viên, người lao động được thực hiện, hơn 19.800 sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, giải pháp quản lý và hơn 400 đề tài mô hình nghiên cứu khoa học, ứng dụng, đổi mới công nghệ được triển khai góp phần làm lợi hàng trăm tỉ đồng cho cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp; đẩy mạnh hoạt động chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng cho đoàn viên, người lao động với nhiều cách làm thiết thực, hiệu quả, như: Chương trình vận động hỗ trợ nhà Mái ấm Công đoàn, đến nay đã cất mới và sửa chữa 846 căn nhà Mái ấm Công đoàn và 33 nhà Mái ấm Công đoàn tập thể giáo viên trị giá trên 47 tỉ đồng, giúp cho trên 1.140 đoàn viên có nơi ở ổn định; Chương trình “Tết sum vầy”; “Phúc lợi đoàn viên”; “Tháng Công nhân”; Sân chơi Công nhân cuối tuần; khám - tầm soát sức khỏe và tham quan học tập kinh nghiệm kết hợp nghỉ mát cho đoàn viên; ký kết thỏa ước lao động tập thể, đối thoại và tổ chức các hoạt động vì người lao động… đã mang lại nhiều lợi ích vật chất và tinh thần cho hàng trăm ngàn lượt đoàn viên, người lao động. Đặc biệt, Ủy ban nhân dân tỉnh và Tổng Liên đoàn đã quan tâm hỗ trợ kinh phí cho Liên đoàn Lao động tỉnh gần 80 tỉ đồng để xây dựng Nhà Văn hóa Lao động tại thành phố Long Xuyên, Trường mầm non và các sân chơi văn hóa, thể thao tại Khu Công nghiệp Bình Hòa (Châu Thành) và Bình Long (Châu Phú), góp phần chăm lo đời sống vật chất, văn hóa tinh thần cho công nhân lao động (CNLĐ).

Với những cống hiến và thành tích đã đạt được trong những năm qua, Công đoàn An Giang đã vinh dự được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhất, Nhì, Ba; Huân chương Độc lập hạng Nhì; được Chính phủ và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tặng Cờ thi đua và nhiều bằng khen; rất nhiều tập thể và cá nhân đoàn viên, CNVCLĐ được tặng thưởng huân chương, cờ thi đua, Bằng khen và nhiều danh hiệu cao quý khác, có trên 5.000 đoàn viên ưu tú ở các công đoàn cơ sở (CĐCS) được giới thiệu cho các cấp ủy xem xét, kết nạp vào Đảng.

Trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ 4 và thực hiện các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, sẽ mang lại những thời cơ, thuận lợi mới, nhưng cũng không ít những khó khăn, thách thức đối với tổ chức Công đoàn Việt Nam nói chung và Công đoàn An Giang nói riêng; đòi hỏi các cấp công đoàn trong tỉnh tiếp tục phát huy truyền thống tự hào của giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn Việt Nam, cùng nhau đoàn kết, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, đổi mới mạnh mẽ hơn nữa nội dung, phương thức hoạt động, hướng mạnh về cơ sở và công nhân, người lao động; tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức chính trị, tác phong lao động, kỹ năng nghề nghiệp cho người lao động; Tổ chức có hiệu quả các phong trào thi đua yêu nước gắn với “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; làm tốt vai trò đại diện, chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của người lao động; xây dựng quan hệ lao động hài hòa ổn định và tiến bộ; tập hợp phát triển đoàn viên, xây dựng đội ngũ cán bộ công đoàn cơ sở có năng lực, bản lĩnh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ; nâng chất hoạt động CĐCS vững mạnh, theo phương châm "Ở đâu có công nhân lao động, ở đó có tổ chức công đoàn", để mỗi đoàn viên, người lao động đều được quan tâm giúp đỡ, ổn định cuộc sống, ra sức cống hiến cho đất nước và địa phương.

Với truyền thống yêu nước, đoàn kết, năng động, sáng tạo của giai cấp công nhân Việt Nam, đội ngũ CNVCLĐ và tổ chức Công đoàn An Giang quyết tâm phấn đấu hoàn thành xuất sắc các mục tiêu đề ra, góp phần xây dựng quê hương Bác Tôn ngày thêm giàu đẹp./.

Trúc Linh
False
Quán triệt Nghị quyết Đại hội XIII cho đội ngũ cán bộ, lãnh đạo Liên hiệp, các hội văn học, nghệ thuật, hội khoa học-kỹ thuật, văn nghệ sĩ, trí thứcTinTGTWQuán triệt Nghị quyết Đại hội XIII cho đội ngũ cán bộ, lãnh đạo Liên hiệp, các hội văn học, nghệ thuật, hội khoa học-kỹ thuật, văn nghệ sĩ, trí thức/SiteAssets/BTGTW-quantriet-nq-vns.jpg
21/07/2021 10:00 SANoĐã ban hành

Ngày 21/7, Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức Hội nghị trực tuyến toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng cho đội ngũ cán bộ, lãnh đạo Liên hiệp, các hội văn học, nghệ thuật, hội khoa học-kỹ thuật và đại biểu văn nghệ sĩ, trí thức. Hội nghị kết nối 40 điểm cầu trong cả nước với tổn số hơn 2.000 đại biểu tham dự. 

BTGTW-quantriet-nq-vns.jpg

Đồng chí Phùng Xuân Nhạ, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì Hội nghị. Phát biểu khai mạc Hội nghị, đồng chí Phùng Xuân Nhạ khẳng định, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã thành công rất tốt đẹp. Thành công của Đại hội có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy mạnh mẽ, toàn diện, đồng bộ quá trình đổi mới đất nước; củng cố, nâng cao niềm tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, vào sự nghiệp đổi mới đất nước; biểu thị sự thống nhất ý chí, quyết tâm chính trị của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phát huy tinh thần yêu nước, khát vọng phát triển đất phồn vinh, hạnh phúc, phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, đưa “nước ta trở thành một nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Để thực hiện mục tiêu trên, cần có sự tham gia của các cấp, các ngành, của hệ thống chính trị, toàn xã hội, trong đó, đội ngũ văn nghệ sĩ, trí thức đóng vai trò rất quan trọng.

“Hội nghị hôm nay tập trung nghiên cứu, học tập, quán triệt chuyên sâu Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng trên các lĩnh vực văn học nghệ thuật, khoa học - kỹ thuật, trên cơ sở đó tuyên truyền sâu rộng tới đội ngũ văn nghệ sĩ, trí thức cả nước, tạo sự thống nhất ý chí, quyết tâm chính trị, thúc đẩy, nâng cao hiệu quả của hoạt động lao động văn hóa, sáng tạo tri thức, tạo ra những sản phẩm, công trình có giá trị cao, thiết thực, góp phần hiện thực hóa một cách sinh động Nghị quyết trong đời sống thực tiễn” – Đồng chí Phùng Xuân Nhạ nhấn mạnh.

Để đảm bảo yêu cầu đặt ra, đồng chí Phùng Xuân Nhạ đề nghị các đại biểu trong quá trình nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, lưu ý một số vấn đề như sau:

Một là, cần nhận thức sâu sắc và nghiêm túc, coi đây là nhiệm vụ chính trị trọng tâm của năm 2021 và là nhiệm vụ, công việc thường xuyên, phải được thực hiện một cách cẩn trọng, bài bản trong suốt cả nhiệm kỳ, nhằm bảo đảm mỗi cán bộ, đảng viên thuộc Liên hiệp các hội văn học nghệ thuật, Liên hiệp các hội khoa học - kỹ thuật đều nắm vững và thực hiện đúng đắn, sáng tạo Nghị quyết Đại hội của Đảng, tạo sự chuyển biến rõ rệt về nhận thức, góp phần tăng cường xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; tăng cường và nâng cao hiệu quả các hoạt động văn học nghệ thuật, khoa học - kỹ thuật, hướng tới các sản phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học - kỹ thuật có chất lượng cao, có tính đảng sâu sắc, thiết thực phục vụ sự nghiệp lãnh đạo của Đảng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới.

Hai là, trong quá trình nghiên cứu, học tập, quán triệt các văn kiện Đại hội XIII, chú ý các nội dung chuyên sâu của Văn kiện Đại hội XIII của Đảng; Những quan điểm của Đại hội XIII về văn hóa, văn nghệ, khoa học - kĩ thuật, đội ngũ văn nghệ sĩ, trí thức những nhiệm vụ trọng tâm thời gian tới. Cụ thể:

Thứ nhất, tập trung nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hoá và chuẩn mực con người gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới. Tập trung nâng cao chất lượng, hiệu quả của các loại hình văn hoá, văn nghệ... Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của các hội văn học, nghệ thuật, tập hợp đông đảo văn nghệ sĩ tham gia; khuyến khích sáng tạo, thực thi quyền tác giả.

Thứ hai, tiếp tục thực hiện nhất quán chủ trương khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Có chiến lược phát triển khoa học và công nghệ phù hợp với xu thế chung của thế giới và điều kiện đất nước, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới, thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Chú trọng phát triển đồng bộ khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn, khoa học lý luận chính trị.

Thứ ba, xây dựng đội ngũ trí thức ngày càng lớn mạnh, có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong tình hình mới. Có cơ chế phát huy dân chủ, tự do sáng tạo và đề cao đạo đức, trách nhiệm trong nghiên cứu khoa học. Ưu tiên đầu tư phát triển hạ tầng, môi trường làm việc, nghiên cứu, đổi mới sáng tạo của trí thức. Trọng dụng, đãi ngộ thoả đáng đối với nhân tài, các nhà khoa học và công nghệ Việt Nam có trình độ chuyên môn cao ở trong nước và nước ngoài, nhất là các nhà khoa học đầu ngành, nhà khoa học có khả năng chủ trì các nhiệm vụ khoa học và công nghệ đặc biệt quan trọng.

Ba là, khẩn trương xây dựng chương trình hành động thực hiện Nghị quyết, cụ thể hóa bằng các kế hoạch, dự án, đề án với tinh thần bám sát thực tiễn, đảm bảo tính khả thi, chất lượng, hiệu quả công việc, nhanh chóng đưa Nghị quyết Đại hội vào thực tế đời sống xã hội.

Bốn là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Hằng năm, tiến hành kiểm tra, đánh giá tiến độ thực hiện chương trình hành động, kế hoạch đã đề ra, làm cơ sở cho việc đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị theo từng năm và cả nhiệm kỳ của tập thể cấp ủy Liên hiệp, các hội chuyên ngành, người đứng đầu, cán bộ, đảng viên.

Đồng chí Phùng Xuân Nhạ bày tỏ, đội ngũ cán bộ văn nghệ sĩ, trí thức là những người chiến sĩ thầm lặng trên mặt trận văn hóa, tư tưởng, có nhiều đóng góp to lớn trong sự nghiệp cách mạng của Đảng, dân tộc. Vì vậy, đồng chí mong muốn, các đại biểu phát huy truyền thống cách mạng, các thành tựu đã đạt được trong thời gian qua, đẩy mạnh việc nghiên cứu, học tập, quán triệt và tổ chức triển khai Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng một cách hiệu quả, thiết thực, sinh động, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII trong cuộc sống.

Theo chương trình Hội nghị, PGS.TS. Nguyễn Viết Thông, Tổng Thư ký Hội đồng Lý luận Trung ương báo cáo chuyên đề: Những nội dung cốt lõi và điểm mới trong các văn kiện Đại hội XIII của Đảng; những chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng về văn hóa, văn nghệ qua các kỳ Đại hội; nhiệm vụ trọng tâm thời gian tới.

TS. Lê Xuân Định, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ báo cáo chuyên đề: Phát triển khoa học công nghệ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo.

Sau đó, toàn thể Hội nghị nghiên cứu và xây dựng chương trình hành động.

Thu Hằng

Nguồn: BTGTW

FalseĐưa Nghị quyết vào cuộc sống
Tập trung tuyên truyền kết quả Hội nghị Trung ương 3, khóa XIII TinH.TTập trung tuyên truyền kết quả Hội nghị Trung ương 3, khóa XIII /SiteAssets/HN-bcv7-1.jpg
15/07/2021 11:00 SANoĐã ban hành

(TUAG)- Sáng 15/7/2021, Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức Hội nghị Báo cáo viên tháng 7/2021 bằng hình thức trực tuyến. Đồng chí Phan Xuân Thủy, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì Hội nghị.

  HN-bcv7-1.jpg

Tại điểm cầu An Giang, đồng chí Trình Lam Sinh, TUV, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy; đồng chí Thái Thúy Xuân, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy; đồng chí Nguyễn Hữu Thịnh, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy chủ trì Hội nghị.

Hội nghị nghe đồng chí Lê Hải Bình, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó trưởng ban chuyên trách Ban Chỉ đạo công tác thông tin đối ngoại Trung ương thông báo nhanh kết quả Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII và chuyên đề: “Tình hình thế giới và hoạt động đối ngoại của Đảng, Nhà nước 6 tháng đầu năm; dự báo tình hình thế giới và phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm của công tác đối ngoại trong 6 tháng cuối năm 2021” do đồng chí Ngô Lê Văn, Vụ trưởng Vụ Tổng hợp, Ban Đối ngoại Trung ương trình bày.

Định hướng công tác tuyên truyền và kết luận Hội nghị, đồng chí Phan Xuân Thủy, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương đề nghị trên cơ sở các tài liệu được cung cấp ở Hội nghị lần này đề nghị các địa phương, đơn vị tập trung tuyên truyền 02 nội dung báo cáo viên trình bày tại Hội nghị, đồng thời tập trung tuyên truyền các nội dung sau:

HN-bcv7-6.JPG

Đồng chí Phan Xuân Thủy, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương định hướng công tác thông tin, tuyên truyền cho đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên. (Ảnh: BTGTW)

Tuyên truyền Nghị quyết số 68/NQ-CP, ngày 01/7/2021 của Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch COVID-19, nhấn mạnh, đây là chủ trương mang đậm tính nhân văn, thể hiện rõ nét sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với người dân chịu ảnh hưởng nặng nề bởi dịch bệnh COVID-19 đang được đông đảo cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân đánh giá cao và đồng tình ủng hộ.

Tuyên truyền về tình hình kinh tế - xã hội, khẳng định sự lựa chọn đúng đắn, sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ trong việc tiếp tục kiên trì thực hiện mục tiêu kép: Vừa quyết liệt phòng, chống dịch bệnh, vừa đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội. Tuyên truyền, cỗ vũ sự nỗ lực vượt qua khó khăn, trong bối cảnh phải giãn cách, cách ly để duy trì sản xuất của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nằm ở các địa bàn, khu công nghiệp có dịch bệnh COVID-19 bùng phát.

Tiếp tục tuyên truyền về công tác phòng, chống dịch bệnh COVID-19, khẳng định, ngay từ khi dịch bệnh mới xuất hiện ở nước ta, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Y tế và các bộ, ngành liên quan đã bám các diễn biến của tình hình; lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên, kịp thời, đúng đắn, toàn diện, hiệu quả, phù hợp; huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và  sự ủng hộ của người dân, doanh nghiệp thực hiện “mục tiêu kép”, vừa chống dịch hiệu quả, vừa thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội.

Tuyên truyền nhấn mạnh về tầm nhìn xa, tìm giải pháp căn cơ để đưa đất nước thoát khỏi dịch bệnh, Đảng và Nhà nước đã quyết tâm thực hiện Chiến lược vaccine, tập trung vào 3 hướng chính: Triển khai cam kết mà Việt Nam đã ký với các đối tác 150 triệu liều vaccine để cung cấp cho 70% dân số (đủ để miễn dịch cộng đồng); Tiếp tục vận động các đối tác song phương và các tổ chức quốc tế cung cấp nguồn vaccine cho Việt Nam; Thúc đẩy hợp tác chuyển giao công nghệ và sản xuất vaccine trong nước để phục vụ cho việc sản xuất lâu dài.

Tuyên truyền sâu rộng để mỗi người dân, mỗi gia đình nắm bắt, hiểu rõ về cơ chế lây lan, cách phòng chống bệnh, bình tĩnh xử lý khi nhiễm bệnh; không chủ quan trước diễn biến phức tạp của dịch bệnh hiện nay; nêu cao ý thức trách nhiệm trong phòng, chống dịch bệnh: Thực hiện nghiêm túc 5K + Vắc xin; ủng hộ, đóng góp tích cực vào Quỹ vaccine của Chính phủ; tham gia tích cực vào Chiến dịch tiêm vaccine lớn nhất trong lịch sử của nước ta. 

HN-bcv7-5.JPG

Hội nghị báo cáo viên tháng 7/2021 bằng hình thức trực tuyến tới 457 điểm cầu trên cả nước.

Về tuyên truyền kỷ niệm các ngày lễ lớn và sự kiện lịch sử quan trọng: Tuyên truyền kỷ niệm 74 năm Ngày Thương binh Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2021); kỷ niệm 130 năm Ngày sinh đồng chí Võ Văn Tần (8/1891 - 8/2021); kỷ niệm 100 năm Ngày sinh đồng chí Lê Quang Đạo, Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (08/8/1921 - 08/8/2021); kỷ niệm 91 năm Ngày truyền thống ngành Tuyên giáo của Đảng, tập trung tuyên truyền về quá trình trưởng thành, phát triển và truyền thống vẻ vang của ngành Tuyên giáo trong 91 năm qua gắn với lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng và dân tộc. Tuyên truyền sự nỗ lực phấn đấu, tinh thần trách nhiệm của các thế hệ cán bộ tuyên giáo trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên giáo, đáp ứng ngày một tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới, góp phần xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh; biểu dương, nhân rộng những mô hình hay, cách làm sáng tạo; tôn vinh và tri ân công lao, cống hiến, đóng góp của các cấp, các ngành, các thế hệ cán bộ tuyên giáo qua các thời kỳ đối với công tác tuyên giáo của Đảng./.

Trúc Quỳnh

FalseĐưa Nghị quyết vào cuộc sống
Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thanh Bình gửi thư động viên toàn thể nhân dân và bà con quê hương An GiangTinAdminChủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thanh Bình gửi thư động viên toàn thể nhân dân và bà con quê hương An Giang/Imagesnews/2021-07/Thu-CTUBNDtinh_Key_10072021145537.jpg
10/07/2021 2:05 CHYesĐã ban hành

(TUAG)- Sau khi ký Thông báo số 408/TB-UBND về việc thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị số 15/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ trên phạm vi toàn tỉnh An Giang, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh An Giang Nguyễn Thanh Bình gửi Thư động viên toàn thể nhân dân và bà con quê hương An Giang.

Thu-CTUBNDtinh.jpg


Thư viết: Hiện nay, đại dịch bệnh COVID-19 vẫn là mối nguy hại lớn đối với các nước trên thế giới, cũng như đất nước ta và quê hương An Giang chúng ta. Đại dịch COVID-19 không chỉ làm suy giảm nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất kinh doanh , mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống xã hội và sức khỏe của nhân dân.

Đối với tỉnh nhà An Giang chúng ta, nguy cơ nhiễm bệnh từ các nguồn nhập cảnh biên giới trái phép và trong nội địa rất cao, tỉnh đã thành lập trên hai trăm chốt kiểm soát đường thủy, bộ trên tuyến biên giới và nội địa, với hàng ngàn chiến sĩ tham gia trực 24/24 giờ, tập trung mọi nguồn lực của tỉnh, thực hiện phương châm “chống dịch như chống giặc” nhằm ngăn chặn, kiểm soát không để lây nhiễm dịch bệnh trong cộng đồng.

Trên địa bàn tỉnh, trong những ngày qua, dịch bệnh COVID-19 đã xuất hiện trong cộng đồng ở một số khu vực và một vài địa phương nhưng cơ bản vẫn trong vòng kiểm soát của các lực lượng chức năng. Các ca lây nhiễm được phát hiện kịp thời, tiến hành khoanh vùng và truy vết, thực hiện cách ly theo quy định.

Trong điều kiện các nguồn lực của tỉnh còn hạn chế, nhưng được sự cổ vũ, động viên và sự chung tay góp sức của các tầng lớp nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp, các lực lượng chức năng tỉnh An Giang đã làm việc không ngơi nghỉ, gác lại tất cả công việc để tập trung cho công tác phòng chống dịch nhằm giữ gìn sức khỏe cho mọi người và mọi nhà.

Tôi thấu hiểu và xin chia sẻ những khó khăn, vất vả của các lực lượng chức năng và bà con nhân dân tỉnh nhà.

Trong thời khắc khó khăn và phức tạp này, Tôi mong bà con nhân dân trong tỉnh An Giang hãy nâng cao ý thức, không nên chủ quan, lơ là trong việc phòng, chống dịch bệnh COVID-19 và hạn chế đi lại (ngoại trừ những việc thực sự cấp thiết phải ra ngoài), nhằm đảm bảo sức khỏe cho bản thân, gia đình và cộng đồng.

Đối với bà con An Giang xa quê hương, Tôi cũng rất mong bà con tạm gác lại việc quay về tỉnh nhà trong thời gian này, để không tạo thêm áp lực lớn cho cuộc chiến phòng, chống dịch còn rất cam go, phức tạp trên địa bàn tỉnh. Trường hợp nếu quá khó khăn hoặc do yêu cầu bất khả kháng phải trở về tỉnh, thì mong bà con hãy tự giác khai báo y tế trung thực và đầy đủ, nghiêm túc chấp hành thực hiện cách lý theo quy định của địa phương.

Vì sự an toàn chung của cộng đồng, rất mong bà con hết sức chia sẻ và cảm thông, Tôi tin tưởng rằng, chúng ta đồng lòng, cùng nhau góp sức sẽ sớm vượt qua đại dịch này, tiếp tục xây dựng quê hương An Giang ngày càng giàu đẹp. An Giang sẽ chào đón những người con xa quê trong một ngày không xa khi tình hình dịch bệnh được kiểm soát tốt.

Trân trọng cảm ơn và chào thân ái!

NGUYỄN THANH BÌNH

Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh An Giang

True
Bế mạc Hội nghị Trung ương 3: Xem xét, quyết định nhiều nội dung rất quan trọngTinPhan NguyênBế mạc Hội nghị Trung ương 3: Xem xét, quyết định nhiều nội dung rất quan trọng/Imagesnews/2021-07/HNTW3-TBT-bemac_Key_09072021090347.jpg

(TUAG)- Những nội dung được Trung ương đưa ra xem xét, quyết định tại hội nghị lần thứ ba có ý nghĩa rất quan trọng, được cán bộ, đảng viên và nhân dân hết sức quan tâm

09/07/2021 6:10 SANoĐã ban hành

Sau 4 ngày làm việc, chiều ngày 08/7, Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII (Hội nghị Trung ương 3) đã hoàn thành toàn bộ nội dung chương trình đề ra và tiến hành bế mạc. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có bài phát biểu bế mạc hội nghị.

HNTW3-3.jpg

Xóa bỏ cơ chế "xin - cho"

Phát biểu bế mạc, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh thêm một số vấn đề để thống nhất trong lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện Nghị quyết của Trung ương. Theo đó, hội nghị đã thống nhất trong 6 tháng đầu năm, phát triển kinh tế - xã hội đạt được nhiều kết quả tích cực. Cụ thể, kinh tế tăng trưởng 5,64%, cao hơn so với cùng kỳ năm trước; thu ngân sách nhà nước đạt trên 58,2% so với dự toán, tăng 15,5% so với cùng kỳ năm 2020; hoạt động đầu tư, sản xuất - kinh doanh, xuất nhập khẩu tiếp tục phát triển. Đời sống của nhân dân, nhất là của người lao động ở vùng xảy ra dịch Covid-19, vùng có khó khăn, tiếp tục được chăm lo.

Tuy nhiên, Trung ương cũng thẳng thắn lưu ý và chỉ rõ trong 6 tháng đầu năm vừa qua, kinh tế - xã hội vẫn chưa đạt được mục tiêu đề ra. Đất nước vẫn đang đứng trước không ít những khó khăn, thách thức mới và lớn, thậm chí gay gắt hơn. Tổng Bí thư nêu rõ Ban Chấp hành Trung ương yêu cầu ngay sau hội nghị này, Ban Cán sự Đảng Chính phủ cần chỉ đạo các cơ quan chức năng khẩn trương, nghiêm túc tiếp thu ý kiến chỉ đạo của Trung ương để hoàn thiện thêm một bước các dự thảo kế hoạch trình Quốc hội xem xét, quyết định.

Việc xây dựng kế hoạch tài chính quốc gia cần thấy hết những thuận lợi, thời cơ cũng như những khó khăn, thách thức để xác định một cách đúng đắn, khoa học và có cơ sở thực tế mục tiêu tổng quát và các mục tiêu cụ thể về tài chính - ngân sách nhà nước giai đoạn 2021 - 2025 trong bối cảnh đại dịch Covid-19 đang tác động rất tiêu cực đến phát triển kinh tế - xã hội.

Đáng chú ý, về việc xây dựng kế hoạch đầu tư công trung hạn, Tổng Bí thư đề nghị cần nhìn thẳng vào sự thật để tìm cho được các nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém tồn đọng từ lâu để đề ra các chính sách, biện pháp có tính đột phá, khả thi cao, tạo ra sự chuyển biến tích cực, rõ nét trong việc khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, kém hiệu quả; giải ngân chậm, nhiều dự án, công trình chậm tiến độ, thua lỗ, thất thoát, lãng phí...

"Cần tập trung rà soát, loại bỏ những dự án chưa thật sự cần thiết để ưu tiên nguồn vốn cho các dự án, công trình trọng điểm, cấp bách của quốc gia và các ngành, lĩnh vực, các địa phương, nhất là các dự án phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội có ý nghĩa chiến lược, liên vùng, tạo động lực cho phát triển nhanh và bền vững. Kiên quyết siết chặt kỷ luật, kỷ cương, xóa bỏ cơ chế "xin - cho"; chống tham nhũng, tiêu cực, "lợi ích nhóm" trong đầu tư công" - Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh.

HNTW3-daibieu.jpg

Hội nghị TW3 diễn ra từ ngày 5 đến 8/7.

Bổ sung quyền hạn của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư

Về các quy chế, quy định của Ban Chấp hành Trung ương, Tổng Bí thư cho biết hội nghị đã cho ý kiến để hoàn thiện và quyết định ban hành Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư; Quy chế làm việc của Ủy ban Kiểm tra Trung ương khóa XIII; Quy định về thi hành Điều lệ Đảng và Quy định về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng nhiệm kỳ khóa XIII.

Theo đó, các quy chế, quy định mới đã bám sát Điều lệ Đảng, kế thừa những nội dung cốt lõi của các quy chế, quy định các khóa trước; đồng thời bổ sung, sửa đổi một số nội dung cho phù hợp với thực tế tình hình nhiệm kỳ khóa XIII. Tuy nội dung bổ sung, sửa đổi không nhiều nhưng Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XIII đã có những bổ sung, sửa đổi quan trọng liên quan đến trách nhiệm và quyền hạn của Ban Chấp hành Trung ương, của Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, của Bộ Chính trị, Ban Bí thư; trách nhiệm và quyền hạn của Tổng Bí thư, Thường trực Ban Bí thư, Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư và về chế độ làm việc, phương pháp công tác...

Theo Tổng Bí thư, những nội dung mới của Quy định thi hành Điều lệ Đảng lần này chủ yếu tập trung vào một số vấn đề để làm tốt hơn công tác đảng viên. Nội dung sửa đổi, bổ sung Quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Điều lệ Đảng đã bổ sung nhiều quy định cụ thể khác liên quan đến các vấn đề nảy sinh trong thực tiễn, có tính bản chất, phổ biến hoặc còn thiếu... nhằm phát huy đầy đủ, đúng đắn hơn nữa chức năng kiểm tra, giám sát của Đảng.

Kỷ luật ông Trần Văn Nam và ông Vũ Huy Hoàng

Tại hội nghị, sau khi xem xét các tờ trình của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương đã bầu bổ sung 2 Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương; đồng thời quyết định thi hành kỷ luật đối với ông Trần Văn Nam - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Bình Dương - bằng hình thức cách tất cả chức vụ trong Đảng; thi hành kỷ luật ông Vũ Huy Hoàng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, bằng hình thức khai trừ khỏi Đảng.

Về công tác cán bộ, Tổng Bí thư nêu rõ Ban Chấp hành Trung ương ghi nhận, đánh giá cao những nỗ lực của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Ban Tổ chức Trung ương, các cơ quan có liên quan trong việc đổi mới, nâng cao chất lượng công tác cán bộ, triển khai thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 2. Đồng thời, Trung ương cũng nhất trí cao với phương án do Bộ Chính trị trình về tiếp tục kiện toàn nhân sự các chức danh lãnh đạo của các cơ quan nhà nước nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV. Ban Chấp hành Trung ương đã nhất trí đề xuất, giới thiệu bổ sung 23 nhân sự đảm nhiệm một số chức danh lãnh đạo nhà nước nhiệm kỳ 2021 - 2026.

Trong ngày làm việc cuối cùng, Ban Chấp hành Trung ương cũng thảo luận và biểu quyết thông qua Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3.

P.N

FalseChính trị
Hội nghị lần thứ ba, BCHTW Đảng khóa XIII thảo luận 4 nội dung quan trọng TinĐảng Cộng sản VNHội nghị lần thứ ba, BCHTW Đảng khóa XIII thảo luận 4 nội dung quan trọng /Imagesnews/2021-07/TBT-NP-Trong-kmtw_Key_05072021194459.jpg

(ĐCSVN)- Sáng 05/7, tại Trụ sở Trung ương Đảng đã diễn ra phiên khai mạc Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII. Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì phiên khai mạc.

05/07/2021 3:00 CHNoĐã ban hành


Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu khai mạc Hội nghị. 

Hội nghị có nhiệm vụ thảo luận, quyết định một số vấn đề quan trọng: Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 5 năm 2021 - 2025; xem xét, ban hành Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Quy chế làm việc của Uỷ ban Kiểm tra Trung ương nhiệm kỳ khóa XIII; Quy định thi hành Điều lệ Đảng và Quy định về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng nhiệm kỳ khóa XIII; tiếp tục kiện toàn nhân sự các chức danh lãnh đạo của các cơ quan nhà nước nhiệm kỳ Quốc hội khoá XV để Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khoá XV; và một số vấn đề quan trọng khác.

Phát triển kinh tế nhanh và bền vững

Về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 – 2025, phát biểu tại phiên khai mạc Hội nghị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề nghị Trung ương căn cứ vào Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Tờ trình, các báo cáo, tài liệu tham khảo của Ban cán sự đảng Chính phủ, cũng như thực tiễn tình hình ở địa phương, cơ quan, đơn vị mình, dành thời gian nghiên cứu, thảo luận, đánh giá một cách khách quan, toàn diện tình hình kinh tế - xã hội nước ta hiện nay và phân tích, dự báo xu hướng phát triển trong thời gian tới dưới tác động của đại dịch COVID-19, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và các xu hướng chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh mới trên thế giới.

Tổng Bí thư yêu cầu các đại biểu cần chú ý phân tích, đánh giá thật sâu sắc, làm rõ thêm thực tế tình hình: Trong 6 tháng đầu năm vừa qua, cả nước vẫn phải tiếp tục nỗ lực, quyết liệt chống dịch; đợt bùng phát dịch lần thứ tư lây lan rất nhanh, hết sức nguy hiểm, phức tạp, khó kiểm soát, có thể còn tiếp tục kéo dài; thậm chí vẫn còn tiềm ẩn nguy cơ bùng phát các đợt dịch mới. Kinh tế - xã hội đất nước tuy tiếp tục phát triển, đạt được nhiều kết quả tích cực so với cùng kỳ năm 2020 nhưng vẫn thấp hơn mục tiêu đề ra. Sản xuất kinh doanh và đời sống của nhân dân, nhất là ở những vùng có dịch và những ngành, lĩnh vực chịu ảnh hưởng trực tiếp của đại dịch gặp nhiều khó khăn, thách thức. Kinh tế thế giới có dấu hiệu phục hồi, tăng trưởng trở lại nhưng chưa vững chắc; thương mại và đầu tư quốc tế suy giảm; nợ công toàn cầu tăng mạnh, thị trường tài chính - tiền tệ thế giới tiềm ẩn nhiều rủi ro, vẫn còn nguy cơ lâm vào khủng hoảng. Đại dịch COVID-19 tiếp tục diễn biến phức tạp, khó kiểm soát, tác động tiêu cực, kéo dài đến kinh tế thế giới, khu vực, trong đó có nước ta; làm thay đổi sâu sắc trật tự, cấu trúc kinh tế, phương thức quản trị và tổ chức hoạt động kinh tế và đời sống xã hội toàn cầu, buộc nhiều nước phải thay đổi định hướng, chiến lược phát triển kinh tế theo hướng nâng cao nội lực, chú trọng phát triển thị trường trong nước, phát triển kinh tế số, xã hội số...

Từ đó, cho ý kiến vào các vấn đề lớn nêu trong Tờ trình và các báo cáo của Ban cán sự đảng Chính phủ, nhất là những vấn đề quan trọng thuộc về quan điểm, tư tưởng chỉ đạo còn có ý kiến khác nhau.

Các đại biểu biểu quyết thông qua Chương trình Hội nghị. 

Tổng Bí thư yêu cầu Trung ương chú ý làm rõ, tạo sự thống nhất cao về những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, mục tiêu tổng quát, nhiệm vụ chủ yếu, một số chỉ tiêu cơ bản và đặc biệt là các cơ chế, chính sách, biện pháp cụ thể, sát hợp với thực tế, có tính đột phá, khả thi cao, bảo đảm thực hiện thành công các kế hoạch đề ra. Quán triệt thật đúng, tổ chức thực hiện thật tốt các chủ trương, quyết sách lớn của Đại hội XIII về hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, trước hết là thể chế phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; phát triển nhanh và bền vững cả về kinh tế, xã hội và môi trường; củng cố, tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô; nâng cao nội lực, năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế; tăng trưởng kinh tế gắn liền với phát triển xã hội, xây dựng, phát huy giá trị văn hoá và sức mạnh của con người Việt Nam; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta; đổi mới mạnh mẽ sự lãnh đạo, chỉ đạo điều hành, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với xác định rõ trách nhiệm và tăng cường hiệu lực, hiệu quả phối hợp, giám sát, kiểm tra việc thực hiện để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình phát triển...

Giữ vững sự đoàn kết, thống nhất trong lãnh đạo, chỉ đạo

Tổng Bí thư cũng yêu cầu các đại biểu thảo luận, cho ý kiến về xây dựng Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Uỷ ban Kiểm tra Trung ương.

Tổng Bí thư nhấn mạnh, trên cơ sở Báo cáo kiểm điểm việc thực hiện và kế thừa Quy chế làm việc của khoá XII, bám sát Nghị quyết Đại hội XIII và Điều lệ Đảng, Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Uỷ ban Kiểm tra Trung ương khoá này cần có những quy định cụ thể, chặt chẽ, phù hợp với thực tiễn, bảo đảm phát huy tốt hơn nữa dân chủ trong sinh hoạt đảng, sinh hoạt của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Uỷ ban Kiểm tra Trung ương, đồng thời giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương trong Đảng; giữ vững chế độ lãnh đạo tập thể, tăng cường trách nhiệm cá nhân, nhất là người đứng đầu; tiếp tục đổi mới, nâng cao năng lực và hiệu quả lãnh đạo của Đảng, đồng thời phát huy tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của các tổ chức trong hệ thống chính trị; đổi mới, cải tiến chế độ, lề lối làm việc, phương pháp công tác của các cơ quan lãnh đạo của Đảng, tăng cường sự phân công, phân cấp, phối hợp chặt chẽ và phù hợp; tránh mâu thuẫn, chồng chéo hoặc bỏ sót việc. “Đây là những cơ sở quan trọng để góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Đảng, tăng cường sức mạnh, kỷ luật, kỷ cương, phát huy dân chủ, giữ vững sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội” – Tổng Bí thư nhấn mạnh.

Các đại biểu tại phiên khai mạc Hội nghị.  

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả thi hành Điều lệ Đảng

Trong nội dung Quy định về thi hành Điều lệ Đảng và Quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng, Tổng Bí thư đề nghị các đồng chí Trung ương nghiên cứu kỹ và có ý kiến, góp ý vào dự thảo các quy định về những nội dung mà qua thực tiễn thi hành còn có những vướng mắc, bất cập, nhất là các vấn đề cụ thể phát sinh từ cơ sở, từ các chi bộ, đảng bộ. Đó là những vấn đề như: Quy định về thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ; sinh hoạt định kỳ của đảng bộ cơ sở, chi bộ; việc giới thiệu và kết nạp người vào Đảng; trường hợp kết nạp và công nhận đảng viên chính thức sai quy định; phát thẻ và quản lý thẻ đảng viên, ghi hồ sơ đảng viên; việc bầu đại biểu đi dự đại hội đảng bộ cấp trên; việc lập các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc, đơn vị sự nghiệp của cấp uỷ; quy định về nguyên tắc trong kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng; lãnh đạo công tác kiểm tra, giám sát và thẩm quyền, nhiệm vụ của uỷ ban kiểm tra các cấp; thi hành kỷ luật đối với đảng viên vi phạm pháp luật, quy định về việc xử lý khi phát hiện vi phạm liên quan đến cán bộ thuộc diện cấp uỷ quản lý; quy định về các trường hợp không giải quyết tố cáo...; công tác kiểm tra, giám sát của các tổ chức đảng; thi hành kỷ luật và biểu quyết kỷ luật; khiếu nại kỷ luật đảng...

Giới thiệu nhân sự các chức danh lãnh đạo của các cơ quan nhà nước nhiệm kỳ 2021 - 2026

Tại Hội nghị Trung ương 2 khoá XIII (tháng 3/2021), Ban Chấp hành Trung ương đã thống nhất cao là cần sớm kiện toàn các chức danh lãnh đạo các cơ quan nhà nước ngay sau Đại hội để đáp ứng yêu cầu triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Ban Chấp hành Trung ương đã xem xét, quyết định giới thiệu nhân sự các chức danh Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội và cho ý kiến giới thiệu nhân sự đảm nhiệm 24 chức danh lãnh đạo khác của các cơ quan nhà nước. Tại Kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa XIV (tháng 3 - 4/2021), Quốc hội đã bầu Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội và bầu hoặc phê chuẩn đối với 24 chức danh lãnh đạo khác của các cơ quan nhà nước.

Đến nay, sau cuộc bầu cử Quốc hội khóa XV (nhiệm kỳ 2021 - 2026), Ban Chấp hành Trung ương có trách nhiệm chuẩn bị và tiếp tục giới thiệu nhân sự để Quốc hội khoá XV bầu hoặc phê chuẩn tại Kỳ họp thứ nhất sắp tới theo quy định của Hiến pháp và pháp luật.

Toàn cảnh phiên khai mạc. 

Tại Hội nghị này, Bộ Chính trị đề nghị Ban Chấp hành Trung ương xem xét, giới thiệu nhân sự theo hướng: Đối với các chức danh Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội và 24 chức danh lãnh đạo khác của các cơ quan nhà nước đã được Hội nghị Trung ương 2 khoá XIII bỏ phiếu giới thiệu hoặc cho ý kiến thông qua với số phiếu tín nhiệm cao thì Ban Chấp hành Trung ương không tiến hành bỏ phiếu giới thiệu hoặc lấy ý kiến lại. Đối với 23 chức danh còn lại chưa lấy phiếu giới thiệu tại Hội nghị Trung ương 2 và các chức danh có dự kiến thay đổi so với lần trước, Bộ Chính trị sẽ xin ý kiến Trung ương bằng phiếu trước khi chính thức giới thiệu để Quốc hội xem xét bầu hoặc phê chuẩn tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khoá XV.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: Nội dung chương trình Hội nghị Trung ương lần này bao gồm nhiều vấn đề rất cơ bản và hệ trọng, liên quan đến việc lãnh đạo, chỉ đạo hoàn thành thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân trong nhiệm kỳ khóa XIII, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng trong giai đoạn mới.

Tổng Bí thư đề nghị các đồng chí Trung ương dành thời gian tập trung nghiên cứu, thảo luận, cho ý kiến để tiếp tục hoàn thiện và xem xét, quyết định vào cuối kỳ họp./.

Hiền Hòa – Phạm Cường
Nguồn: ĐCSVN
FalseChính trị
Phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khai mạc Hội nghị lần thứ baBài viếtAdminPhát biểu của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khai mạc Hội nghị lần thứ ba/Imagesnews/2021-07/HNTW3-TBT_Key_06072021111149.jpg

​(TUAG)- Cổng TTĐT Đảng bộ tỉnh An Giang trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khai mạc Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII, sáng 5/7.

05/07/2021 12:00 CHYesĐã ban hành

HNTW3-3.jpg

Thưa các đồng chí Trung ương,

Thưa các đồng chí tham dự Hội nghị,

Trong không khí cả nước đang hân hoan, phấn khởi trước những thành công rực rỡ của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, cũng như kết quả rất tốt đẹp của cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026; toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang chung sức đồng lòng, vừa chủ động, tích cực phòng, chống dịch COVID-19, vừa nỗ lực phấn đấu hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội đã đề ra, hôm nay Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII bắt đầu khai mạc. Hội nghị có nhiệm vụ: Thảo luận, quyết định một số vấn đề quan trọng như: Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 5 năm 2021 - 2025; xem xét, ban hành Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Quy chế làm việc của Uỷ ban Kiểm tra Trung ương nhiệm kỳ khoá XIII; Quy định thi hành Điều lệ Đảng và Quy định về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng nhiệm kỳ khoá XIII; tiếp tục kiện toàn nhân sự các chức danh lãnh đạo của các cơ quan nhà nước nhiệm kỳ Quốc hội khoá XV để Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khoá XV sắp tới; và một số vấn đề quan trọng khác.

Thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, tôi xin nhiệt liệt chào mừng các đồng chí Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương, các đại biểu tham dự Hội nghị; và xin gửi tới các đồng chí lời thăm hỏi chân tình và lời chúc tốt đẹp nhất.

Sau đây, tôi xin phát biểu một số ý kiến có tính chất gợi mở, nêu vấn đề, mong được các đồng chí quan tâm trong quá trình thảo luận, xem xét, quyết định. Tôi xin nói 4 vấn đề:

1. Về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025

Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã nhất trí cao đề ra Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030 và Phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025. Để thể chế hoá, cụ thể hoá và thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ do Đại hội đề ra, thời gian qua, Bộ Chính trị đã chỉ đạo Ban cán sự đảng Chính phủ, các bộ, ban, ngành và địa phương khẩn trương, nghiêm túc nghiên cứu, cập nhật tình hình, nhất là tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, Kế hoạch tài chính quốc gia và Kế hoạch đầu tư công trung hạn 5 năm 2016 - 2020; đồng thời, phân tích, dự báo xu hướng phát triển của đất nước trước những biến động của thế giới từ đầu năm đến nay để báo cáo Bộ Chính trị cho ý kiến chỉ đạo hoàn thiện, trình Trung ương xem xét, quyết định tại Hội nghị lần này.

Đây là những kế hoạch hết sức quan trọng, rộng lớn, có ý nghĩa quyết định đối với việc hoàn thành thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội do Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã đề ra. Đề nghị Trung ương căn cứ vào Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Tờ trình, các báo cáo, tài liệu tham khảo của Ban cán sự đảng Chính phủ, cũng như thực tiễn tình hình ở địa phương, cơ quan, đơn vị mình, dành thời gian nghiên cứu, thảo luận, đánh giá một cách khách quan, toàn diện tình hình kinh tế - xã hội nước ta hiện nay và phân tích, dự báo xu hướng phát triển trong thời gian tới dưới tác động của đại dịch COVID-19, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và các xu hướng chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh mới trên thế giới. Chú ý phân tích, đánh giá thật sâu sắc, làm rõ thêm thực tế tình hình: Trong 6 tháng đầu năm vừa qua, cả nước vẫn phải tiếp tục nỗ lực, quyết liệt chống dịch; đợt bùng phát dịch lần thứ tư lây lan rất nhanh, hết sức nguy hiểm, phức tạp, khó kiểm soát, có thể còn tiếp tục kéo dài; thậm chí vẫn còn tiềm ẩn nguy cơ bùng phát các đợt dịch mới. Kinh tế - xã hội đất nước tuy tiếp tục phát triển, đạt được nhiều kết quả tích cực so với cùng kỳ năm 2020 nhưng vẫn thấp hơn mục tiêu đề ra. Sản xuất kinh doanh và đời sống của nhân dân, nhất là ở những vùng có dịch và những ngành, lĩnh vực chịu ảnh hưởng trực tiếp của đại dịch gặp nhiều khó khăn, thách thức. Kinh tế thế giới có dấu hiệu phục hồi, tăng trưởng trở lại nhưng chưa vững chắc; thương mại và đầu tư quốc tế suy giảm; nợ công toàn cầu tăng mạnh, thị trường tài chính - tiền tệ thế giới tiềm ẩn nhiều rủi ro, vẫn còn nguy cơ lâm vào khủng hoảng. Đại dịch COVID-19 tiếp tục diễn biến phức tạp, khó kiểm soát, tác động tiêu cực, kéo dài đến kinh tế thế giới, khu vực, trong đó có nước ta; làm thay đổi sâu sắc trật tự, cấu trúc kinh tế, phương thức quản trị và tổ chức hoạt động kinh tế và đời sống xã hội toàn cầu, buộc nhiều nước phải thay đổi định hướng, chiến lược phát triển kinh tế theo hướng nâng cao nội lực, chú trọng phát triển thị trường trong nước, phát triển kinh tế số, xã hội số...

Từ đó, cho ý kiến vào các vấn đề lớn nêu trong Tờ trình và các báo cáo của Ban cán sự đảng Chính phủ, nhất là những vấn đề quan trọng thuộc về quan điểm, tư tưởng chỉ đạo còn có ý kiến khác nhau. Chú ý làm rõ, tạo sự thống nhất cao về những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, mục tiêu tổng quát, nhiệm vụ chủ yếu, một số chỉ tiêu cơ bản, và đặc biệt là các cơ chế, chính sách, biện pháp cụ thể, sát hợp với thực tế, có tính đột phá, khả thi cao, bảo đảm thực hiện thành công các kế hoạch đề ra. Quán triệt thật đúng, tổ chức thực hiện thật tốt các chủ trương, quyết sách lớn của Đại hội XIII về hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, trước hết là thể chế phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; phát triển nhanh và bền vững cả về kinh tế, xã hội và môi trường; củng cố, tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô; nâng cao nội lực, năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế; tăng trưởng kinh tế gắn liền với phát triển xã hội, xây dựng, phát huy giá trị văn hoá và sức mạnh của con người Việt Nam; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta; đổi mới mạnh mẽ sự lãnh đạo, chỉ đạo điều hành, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với xác định rõ trách nhiệm và tăng cường hiệu lực, hiệu quả phối hợp, giám sát, kiểm tra việc thực hiện để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình phát triển...

2. Về xây dựng Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Uỷ ban Kiểm tra Trung ương: Đây là việc làm cần thiết ngay đầu nhiệm kỳ mỗi khoá sau Đại hội Đảng, nhằm cụ thể hoá Điều lệ Đảng, quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn, chế độ làm việc và phương pháp công tác của các cơ quan lãnh đạo đảng, bảo đảm thực hiện nghiêm nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, đặc biệt là nguyên tắc tập trung dân chủ. Trên cơ sở Báo cáo kiểm điểm việc thực hiện và kế thừa Quy chế làm việc của khoá XII, bám sát Nghị quyết Đại hội XIII và Điều lệ Đảng, Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Uỷ ban Kiểm tra Trung ương khoá này cần có những quy định cụ thể, chặt chẽ, phù hợp với thực tiễn, bảo đảm phát huy tốt hơn nữa dân chủ trong sinh hoạt đảng, sinh hoạt của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Uỷ ban Kiểm tra Trung ương, đồng thời giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương trong Đảng; giữ vững chế độ lãnh đạo tập thể, tăng cường trách nhiệm cá nhân, nhất là người đứng đầu; tiếp tục đổi mới, nâng cao năng lực và hiệu quả lãnh đạo của Đảng, đồng thời phát huy tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của các tổ chức trong hệ thống chính trị; đổi mới, cải tiến chế độ, lề lối làm việc, phương pháp công tác của các cơ quan lãnh đạo của Đảng, tăng cường sự phân công, phân cấp, phối hợp chặt chẽ và phù hợp; tránh mâu thuẫn, chồng chéo hoặc bỏ sót việc. Đây là những cơ sở quan trọng để góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Đảng, tăng cường sức mạnh, kỷ luật, kỷ cương, phát huy dân chủ, giữ vững sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội.

Tờ trình của Bộ Chính trị đã nêu rõ các nội dung mà Trung ương cần thảo luận. Đề nghị Trung ương tập trung cho ý kiến và góp ý trực tiếp vào dự thảo các quy chế, nhất là những nội dung cần bổ sung, sửa đổi. Ví dụ như nội dung về: Trách nhiệm, quyền hạn, mối quan hệ trong lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Uỷ ban Kiểm tra Trung ương; của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội, đồng chí Thường trực Ban Bí thư; chế độ sơ kết, tổng kết, chế độ đi công tác cơ sở, phương pháp, lề lối làm việc, mối quan hệ công tác v.v...

Các đại biểu dự Hội nghị. 

3. Quy định về thi hành Điều lệ Đảng và Quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã thông qua Báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng của Ban Chấp hành Trung ương khoá XII; quyết định không sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng. Đại hội giao cho Ban Chấp hành Trung ương khoá XIII chỉ đạo nghiên cứu, tiếp thu để điều chỉnh, thông qua các quy định, hướng dẫn của Trung ương; tăng cường kiểm tra, giám sát, bảo đảm thi hành nghiêm, thống nhất Điều lệ trong toàn Đảng.

Bộ Chính trị đã chỉ đạo Ban Tổ chức Trung ương, Uỷ ban Kiểm tra Trung ương và các cơ quan có liên quan phối hợp chuẩn bị các Tờ trình và Dự thảo các quy định. Nội dung của tờ trình và dự thảo các quy định đã bám sát Báo cáo tổng kết việc thi hành Điều lệ Đảng, trên cơ sở các Quy định số 29, ngày 25/7/2016 và Quy định số 30, ngày 26/7/2016 của Ban Chấp hành Trung ương khoá XII để đề xuất những nội dung cần hướng dẫn, quy định, cho phù hợp với thực tiễn thi hành Điều lệ Đảng.

Đề nghị các đồng chí Trung ương nghiên cứu kỹ và có ý kiến, góp ý vào dự thảo các quy định về những nội dung mà qua thực tiễn thi hành còn có những vướng mắc, bất cập, nhất là các vấn đề cụ thể phát sinh từ cơ sở, từ các chi bộ, đảng bộ. Đó là những vấn đề như: Quy định về thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ; sinh hoạt định kỳ của đảng bộ cơ sở, chi bộ; việc giới thiệu và kết nạp người vào Đảng; trường hợp kết nạp và công nhận đảng viên chính thức sai quy định; phát thẻ và quản lý thẻ đảng viên, ghi hồ sơ đảng viên; việc bầu đại biểu đi dự đại hội đảng bộ cấp trên; việc lập các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc, đơn vị sự nghiệp của cấp uỷ; quy định về nguyên tắc trong kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng; lãnh đạo công tác kiểm tra, giám sát và thẩm quyền, nhiệm vụ của uỷ ban kiểm tra các cấp; thi hành kỷ luật đối với đảng viên vi phạm pháp luật, quy định về việc xử lý khi phát hiện vi phạm liên quan đến cán bộ thuộc diện cấp uỷ quản lý; quy định về các trường hợp không giải quyết tố cáo...; công tác kiểm tra, giám sát của các tổ chức đảng; thi hành kỷ luật và biểu quyết kỷ luật; khiếu nại kỷ luật đảng...

4. Về việc giới thiệu nhân sự các chức danh lãnh đạo của các cơ quan nhà nước nhiệm kỳ 2021 - 2026

Đây là công việc rất hệ trọng. Tại Hội nghị Trung ương 2 khoá XIII (tháng 3/2021), Ban Chấp hành Trung ương đã thống nhất cao là cần sớm kiện toàn các chức danh lãnh đạo các cơ quan nhà nước ngay sau Đại hội để đáp ứng yêu cầu triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Ban Chấp hành Trung ương đã xem xét, quyết định giới thiệu nhân sự các chức danh Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội và cho ý kiến giới thiệu nhân sự đảm nhiệm 24 chức danh lãnh đạo khác của các cơ quan nhà nước. Tại Kỳ họp thứ 11, Quốc hội khoá XIV (tháng 3 - 4/2021), Quốc hội đã bầu Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội và bầu hoặc phê chuẩn đối với 24 chức danh lãnh đạo khác của các cơ quan nhà nước.

Đến nay, sau cuộc bầu cử Quốc hội khoá XV (nhiệm kỳ 2021 - 2026), Ban Chấp hành Trung ương có trách nhiệm chuẩn bị và tiếp tục giới thiệu nhân sự để Quốc hội khoá XV bầu hoặc phê chuẩn tại Kỳ họp thứ nhất sắp tới theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Tại Hội nghị này, Bộ Chính trị đề nghị Ban Chấp hành Trung ương xem xét, giới thiệu nhân sự theo hướng: Đối với các chức danh Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội và 24 chức danh lãnh đạo khác của các cơ quan nhà nước đã được Hội nghị Trung ương 2 khoá XIII giới thiệu hoặc cho ý kiến thông qua với số phiếu tín nhiệm cao thì Ban Chấp hành Trung ương không tiến hành bỏ phiếu giới thiệu hoặc lấy ý kiến lại. Đối với 23 chức danh còn lại chưa lấy phiếu giới thiệu tại Hội nghị Trung ương 2 và các chức danh có dự kiến thay đổi so với lần trước, Bộ Chính trị sẽ xin ý kiến Trung ương bằng phiếu trước khi chính thức giới thiệu để Quốc hội xem xét bầu hoặc phê chuẩn tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khoá XV sắp tới.

Theo Chương trình, Hội nghị diễn ra đến ngày 9/7. 

Thưa các đồng chí,

Nội dung chương trình Hội nghị Trung ương lần này bao gồm nhiều vấn đề rất cơ bản và hệ trọng, liên quan đến việc lãnh đạo, chỉ đạo hoàn thành thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân trong nhiệm kỳ khoá XIII, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng trong giai đoạn mới. Đề nghị các đồng chí Trung ương dành thời gian tập trung nghiên cứu, thảo luận, cho ý kiến để tiếp tục hoàn thiện và xem xét, quyết định vào cuối kỳ họp.

Với tinh thần đó, tôi xin tuyên bố khai mạc Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII.

Chúc Hội nghị của chúng ta thành công tốt đẹp.

Xin trân trọng cảm ơn.”

TrueChính trị
Từ quan điểm của Hồ Chí Minh về tự lực, tự cường đến phát huy nội lực đất nước hiện nayBài viếtTGTWTừ quan điểm của Hồ Chí Minh về tự lực, tự cường đến phát huy nội lực đất nước hiện nay/SiteAssets/BacHo-hocsinhmienNam.jpg

Trong quá trình tìm đường cứu nước cũng như lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao tinh thần tự lực, tự cường, tự lực cánh sinh và coi đó là phương châm hành động của cách mạng Việt Nam. Nhờ đường lối đúng đắn đó, cách mạng Việt Nam đã giành được những thắng lợi vĩ đại.

05/07/2021 10:00 SANoĐã ban hành

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ TỰ LỰC, TỰ CƯỜNG

Nếu “tự lực” có nghĩa là dựa vào sức mình để sống và làm việc, tuyệt đối không trông chờ, ỷ lại vào người khác thì “tự cườngcó nghĩa là tự làm cho mình mạnh lên, không chịu thua kém người khác, dân tộc khác. Tự lực, tự cường, tự chủ là những phẩm chất tốt đẹp của mỗi con người, mỗi dân tộc vì chứa đựng trong đó lòng tự trọng, ý chí vươn lên và khát vọng khẳng định bản thân. Là người tìm đường và dẫn đường cho dân tộc, Hồ Chí Minh luôn đề cao tinh thần tự lực, tự cường và nổi bật trong tư tưởng đặc sắc đó của Người là một số nội dung chính sau đây.

Thứ nhất, Hồ Chí Minh coi tự lực, tự cường là tiền đề của độc lập tự do và là điều kiện tiên quyết để phát triển quan hệ, vị thế ngoại giao.

Thực tế đấu tranh giành độc lập của các dân tộc thuộc địa đã giúp Hồ Chí Minh hiểu rằng: Công cuộc giải phóng phải là công cuộc “tự giải phóng” chứ không thể trông chờ vào thiện chí hay sự bố thí, rộng lượng của những kẻ cướp nước. Vì thế, lên án chủ nghĩa thực dân bao nhiêu thì Người cũng quyết liệt bấy nhiêu trong việc kêu gọi nhân dân các dân tộc bị áp bức tiến hành cuộc đấu tranh tự giải phóng: “Vận dụng công thức của Các Mác, chúng tôi xin nói với anh em rằng, công cuộc giải phóng anh em chỉ có thể thực hiện được bằng sự nỗ lực của bản thân anh em(1).'

Trở về lãnh đạo cách mạng Việt Nam sau 30 năm hoạt động quốc tế, Người luôn nhấn mạnh: Việc giải phóng của ta phải do ta tự làm lấy chứ không thể trông mong vào lực lượng bên ngoài. Tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi vào tháng 8/năm 1945, Người đã kêu gọi đồng bào “đem sức ta mà giải phóng cho ta. Sức mạnh như “triều dâng, thác đổ” của tinh thần dân tự giải phóng đã mang lại nền độc lập thiêng liêng cho Tổ quốc.

Từ kinh nghiệm và bài học thực tế của Việt Nam và thế giới, Người đã rút ra kết luận: “Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập(2). Sau khi đã giành được chính quyền, với vị thế của một nguyên thủ Quốc gia, Hồ Chí Minh tìm mọi cách để duy trì sự độc lập, tự chủ của nhân dân Việt Nam. Người nói: “Độc lập nghĩa là chúng tôi điều khiển lấy mọi công việc của chúng tôi, không có sự can thiệp ở ngoài vào”(3), kể cả sự can thiệp của các đồng minh. Khi động viên toàn dân tích cực tham gia và ủng hộ kháng chiến vì nền độc lập thiêng liêng của Tổ quốc, Người nói rõ: “Mỗi một người dân phải hiểu: Có tự lập mới độc lập, có tự cường, mới tự do(4).

Là một nhà hoạt động quốc tế lỗi lạc, Hồ Chí Minh luôn coi đoàn kết quốc tế là chiến lược trọng yếu của Đảng nhưng Người hiểu rằng, muốn tăng cường đoàn kết quốc tế thì trước hết phải tăng cường nội lực dân tộc, phát huy tinh thần tự lực cánh sinh. Người nhấn mạnh: “Thực lực mạnh, ngoại giao sẽ thắng. Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to, tiếng mới lớn(5). Ngược lại, nếu không có thực lực thì không thể nói gì đến ngoại giao, càng không thể mong muốn sự bình đẳng, độc lập, tự chủ mà “chỉ là một khí cụ trong tay của kẻ khác, dầu là kẻ ấy có thể là bạn đồng minh của ta vậy(6). Tóm lại, giữa tự chủ, tự lực, tự cường và sức mạnh, vị thế dân tộc có mối quan hệ tỉ lệ thuận với nhau.

Thứ hai, Hồ Chí Minh khẳng định phát huy tinh thần tự lực, tự cường là trách nhiệm của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong mọi chặng đường lịch sử.

Là biểu hiện của ý chí và tinh thần độc lập, tự chủ, ngay từ khi tiếp cận chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã hiểu rằng: Nếu biến lý luận Mác - Lênin thành “kinh thánh” và “công thức sáo mòn” thì tức là đã gạt bỏ nó ra khỏi cuộc sống. Vì thế, Người đã rất sáng tạo trong việc vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn của cách mạng Việt Nam. Người đã đặt câu hỏi: “Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại”(7). Sự sáng tạo của Hồ Chí Minh không chỉ làm cho học thuyết Mác - Lênin được “Việt hóa”, thích ứng với điều kiện Việt Nam mà còn giúp nhân dân Việt Nam thoát khỏi tâm lý thụ động để phát huy truyền thống tự lực, tự cường của dân tộc để đi đến những thắng lợi vĩ đại. 

Với sự trải nghiệm của một người đã từng đi “năm châu, bốn biển, ngay sau Cách mạng Tháng Tám, Hồ Chí Minh đã cho rằng nền văn hóa mới của Việt Nam phải góp phần tẩy bỏ tâm lý nô lệ để xây dựng một tinh thần mới - “tinh thần độc lập tự cường(8). Thực hiện nguyên tắc độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường của Hồ Chí Minh, trong mọi chặng đường cách mạng, Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam đều nỗ lực phát huy tinh thần “Tự lực cánh sinh”. Nếu Cách mạng Tháng Tám diễn ra theo tinh thần “mang sức ta mà giải phóng cho ta” thì phương châm cuộc kháng chiến chống Pháp là “Toàn dân, toàn diện, trường kỳ và tự lực cánh sinh”. Theo Hồ Chí Minh, Việt Nam không chỉ cần tự lực, tự cường trong công cuộc kháng chiến, giành độc lập mà còn phải tự lực tự cường cả trong việc xây dựng chế độ mới, đưa miền Bắc Việt Nam vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Người yêu cầu: “Trước đây, nhân dân ta đã nêu cao tinh thần tự lực cánh sinh, trường kỳ kháng chiến, thì ngày nay chúng ta càng phải nêu cao tinh thần tự lực cánh sinh, cần kiệm xây dựng nước nhà(9). Người căn dặn, trong mọi hoàn cảnh, luôn phải “lấy tự lực cánh sinh làm gốc để ứng phó với mọi phát triển của tình hình; dù tình hình ấy thuận lợi hay gay go thì ta vẫn chủ động(10) bởi sự chủ động sẽ mang đến cơ hội thành công và mọi sự phụ thuộc, lệ thuộc đều dẫn đến việc đánh mất quyền độc lập dân tộc.

Thứ ba, Hồ Chí Minh cho rằng tinh thần tự lực tự cường của dân tộc phải được xây đắp bằng ý chí tự lực tự cường, tự lực cánh sinh của mỗi cá nhân.

Tinh thần dân tộc là sự kết tinh ý chí, sức mạnh của toàn dân nên việc phát huy tinh lần tự lực, tự cường không chỉ là trách nhiệm của lực lượng lãnh đạo mà là của muôn dân. Tính tự lực, tự cường không chỉ giúp mỗi con người thành công mà còn giúp họ trở thành những người có lòng tự trọng, hiểu biết và có một cuộc đời hữu ích. Do đó, mỗi người dân phải tự tìm việc làm, tự lên kế hoạch, tự vượt qua khó khăn để đạt được kết quả tốt nhất trong công việc; mỗi khi gặp khó khăn thì tinh thần tự lực, tự cường trong họ càng phải được trỗi dậy và phát huy cao độ. Hồ Chí Minh còn cho rằng tự lực, tự chủ là phẩm chất, quyền lợi mang “tính người và nếu con người không có quyền tự chủ thì không còn là con người nữa. Vì thế, Người đã viết: “Thế thượng thiên tân hòa vạn khổ/ Mạc như thất khước tự do quyền!/ Nhất ngôn, nhất động bất tự chủ/ Như ngưu, như mã, nhậm nhân khiên(11) (Trên đời ngàn vạn điều cay đắng/ Cay đắng chi bằng mất tự do/ Mỗi việc, mỗi lời không tự chủ/ Để cho người dắt tựa trâu bò). Được tự chủ, làm chủ cuộc đời là hạnh phúc lớn nhất nên khi chế độ dân chủ ra đời, Hồ Chí Minh đã căn dặn nhân dân: Dân chủ không có nghĩa là muốn ăn bao nhiêu thì ăn, muốn làm bao nhiêu thì làm mà phải có tinh thần chủ động khắc phục khó khăn.

Trong hoàn cảnh đất nước còn nghèo, miền Nam chưa được giải phóng thì tinh thần tự lực, tự cường càng cần phải phát huy. Hồ Chí Minh căn dặn: “Cứ chờ Đảng và chờ Chính phủ giúp đỡ, thì không đúng đâu. Đảng và Chính phủ đề ra chính sách, phái cán bộ về hướng dẫn, thế là giúp đỡ. Nhưng đó là phụ. Lực lượng nhân dân tổ chức nhau lại là chính. Không nên ỷ lại, mà phải tự lực cánh sinh(12). Hồ Chí Minh yêu cầu tinh thần này phải được lan tỏa và trở thành ý thức tự giác trong mọi tầng lớp nhân dân. Bộ đội phải coi tăng gia sản xuất cũng là một bộ phận trong chính sách tự lực cánh sinh; các thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ mặc dù nhận được sự giúp đỡ của nhân dân, sự ưu tiên của chính phủ, cũng “cần phải cố gắng tăng gia sản xuất, tự lực cánh sinh, tùy theo khả năng mà tham gia các công tác trong xã, chớ nên yêu cầu quá đáng, ra vẻ “công thần(13). Tự lực, tự cường là phẩm chất cao quý mà người có đạo đức, có lòng tự trọng phải có nên trong nhà trường, ngoài việc giáo dục cho học trò lòng yêu nước thương nòi thì “phải dạy cho họ có chí tự lập tự cường, quyết không chịu thua kém ai, quyết không chịu làm nô lệ(14).

Trong công cuộc giải phóng phụ nữ thì “chị em phụ nữ không nên ngồi chờ Chính phủ, chờ Đảng ra chỉ thị giải phóng cho mình mà tự mình phải tự cường, phải đấu tranh(15) cho quyền lợi của chính mình… Sức mạnh của dân tộc được quy tụ bởi sức mạnh của mỗi con người nên phát huy tinh thần tự lực, tự cường của mỗi cá nhân trong xã hội là quan điểm nhất quán của Hồ Chí Minh

Thứ tư, Hồ Chí Minh khẳng định việc phát huy tinh thần tự lực, tự cường hoàn toàn không loại trừ việc tranh thủ sự giúp đỡ của thế giới trên nguyên tắc lấy nội lực làm nhân tố quyết định.

Với tư duy biện chứng, Hồ Chí Minh thấy rõ mối quan hệ chặt chẽ giữa nội lực và ngoại lực và Người luôn khẳng định: Tăng cường sức mạnh nội lực không có nghĩa là đóng kín, khước từ sự giúp đỡ ở bên ngoài mà là phải tìm mọi cách gia tăng sự ủng hộ của thế giới để nhân lên sức mạnh của nội lực. Ngay trong cuộc sống của mỗi con người, có nhiều việc nếu được người khác giúp đỡ thì sẽ trở nên dễ dàng hơn. Dù vậy, nội lực luôn giữ vai trò quyết định, ngoại lực chỉ gia tăng sức mạnh cho nội lực mà thôi. Hơn nữa, sự giúp đỡ bên ngoài phải thông qua lực lượng bên trong mới phát huy được tác dụng. Vì thế, Hồ Chí Minh khẳng định: “Muốn người ta giúp cho, thì trước mình phải tự giúp lấy mình đã(16). Khi Việt Nam đánh Mỹ và nhận được sự giúp đỡ to lớn của Liên Xô và Trung Quốc, Hồ Chí Minh vẫn kiên trì nhắc nhở cán bộ và nhân dân: “Các nước bạn ta, trước hết là Liên Xô và Trung Quốc ra sức giúp đỡ ta một cách vô tư, khẳng khái, để chúng ta có thêm điều kiện tự lực cánh sinh”(17) chứ không phải để ta sinh ra tật ỷ lại, trông chờ vào người khác. Trên thực tế, sức hậu thuận của thế giới thường tỷ lệ thuận với những thắng lợi của nhân dân ta và điều đó đã nói lên vai trò quyết định của nội lực.

Nhìn chung, tự lực, tự cường là truyền thống của văn hóa Việt Nam và nó đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh phát huy lên một tầm cao mới.

BacHo-hocsinhmienNam.jpgChủ tịch Hồ Chí Minh thăm Trường Học sinh miền Nam số 12, Thành phố Hải Phòng (18/1/1960). (Ảnh: TTXVN)

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Trường Học sinh miền Nam số 12, Thành phố Hải Phòng (18/1/1960). (Ảnh: TTXVN)

PHÁT HUY NỘI LỰC ĐẤT NƯỚC

Sau 35 năm Đổi mới, Việt Nam đã có được cơ đồ, vị thế, tiềm lực to lớn chưa từng có. Những thành tựu đáng tự hào đó là sự hội tụ của nhiều yếu tố, trong đó phải kể đến sức mạnh của ý chí tự lực, tự cường. Thấu hiểu nguyên nhân đó, Văn kiện Đại hội XIII đã coi phát huy nội lực, ý chí tự lực, tự cường là một trong những động lực quan trọng để phát triển đất nước hiện nay. Tuy nhiên, cần phải xác định rõ rằng: Nội lực không chỉ là tiền của đang nằm trong “túi dân mà là toàn bộ trí tuệ, tâm huyết, ý chí, quyết tâm của mỗi con người Việt Nam. Để phát huy nội lực, trước hết, chúng ta phải phát huy sức mạnh của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện phương châm nhà nước và nhân dân cùng làm để “xóa đói, giảm nghèo, xóa bỏ hết bần hàn, lạc hậu.

Đại đoàn kết toàn dân tộc - sức mạnh to lớn của dân tộc Việt Nam, cần được tiếp tục phát huy. Nếu xưa kia Hồ Chí Minh luôn khẳng định “đoàn kết là một chính sách dân tộc, không phải là một thủ đoạn chính trị”(18) thì từ Đại hội Đảng IX đến nay, đại đoàn kết toàn dân tộc luôn là “thành tố” của chủ đề Đại hội với hàm nghĩa đây là một động lực to lớn để phát triển đất nước.

Văn kiện Đại hội XIII có một điểm mới là ngay trong chủ đề đại hội đã nhấn mạnh chủ trương “sức mạnh đại đoàn kết dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại”. Nói đến sức mạnh thời đại là nói đến sức mạnh của hợp tác quốc tế và khoa học, công nghệ. Ngày nay, dù hướng ra bên ngoài để gia tăng nội lực là xu hướng phát triển tất yếu của các quốc gia nhưng nội lực vẫn là quyết định và chỉ khi thực sự có nội lực, ta mới có thể đưa ra quan điểm độc lập của mình về các vấn đề quốc tế và tiến hành “hòa nhập mà không “hòa tan.

Trên thực tế, mọi động lực phải thông qua động lực con người mới trở thành sức mạnh; cho nên, Hồ Chí Minh từng khẳng định: Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa. Từ quan điểm của Hồ Chí Minh, rằng “vô luận việc gì, đều do con người làm ra, và từ nhỏ đến to, từ gần đến xa, đều thế cả”(19), Báo cáo Chính trị Đại hội XIII đã khẳng định “phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao”(20) là một trong 3 đột phá chiến lược của nhiệm kỳ này.

 Trong thế giới hội nhập và cạnh tranh hiện nay, cạnh tranh bằng tâm trí, bằng “chất xám là hình thức cạnh tranh chủ yếu. Hơn nữa, dân trí có phát triển thì kinh tế mới được mở mang để trở thành kinh tế tri thức; dân trí có lên cao thì nhân quyền mới được tôn trọng. Tuy nhiên, dân trí không phải tự nhiên mà có mà đó là sản phẩm của giáo dục; cho nên, phát triển giáo dục là một trong những giải pháp quan trọng để tăng cường sức mạnh của nội lực. Phải giáo dục con người có phong cách tư duy độc lập, tự chủ, có tinh thần tự học và lấy tự học “làm cốt. Do đó, việc đổi mới giáo dục ở nước ta phải hướng tới nền giáo dục mở, học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập. Cũng phải phát huy dân chủ để mỗi người dám nói lên sự thật, chính kiến thật và hào hứng đưa ra sáng kiến của mình để xây dựng đất nước.               

Trong mỗi cơ quan, đơn vị, vai trò của người đứng đầu là không thể phủ nhận. Lúc này, mỗi người lãnh đạo phải ý thức rõ về vai trò thủ lĩnh của mình trong việc phát huy tinh thần tự lực, tự cường và khát vọng phát triển để làm gương cho cán bộ dưới quyền và nhân dân. Người lãnh đạo có thể “nói hay để “lập ngôn nhưng trước hết phải “làm hay để “lập nghiệp bởi giá trị lớn nhất của con người được thể hiện qua những gì mà họ đã cống hiến cho xã hội, nhân dân và đất nước.

Sức mạnh nội sinh của một dân tộc không phải là những điều “mặc định” và “bất biến” nên để phát huy nội lực thì phải tiếp tục phát huy tinh thần tự lực, tự cường vốn là nét đẹp trong truyền thống văn hóa Việt Nam và đã được Hồ Chí Minh phát triển lên một tầm cao mới. Những chỉ dẫn quý báu về tinh thần tự lực, tự cường của Hồ Chí Minh ngày càng tỏ rõ giá trị và tiếp tục soi đường cho dân tộc Việt Nam trong hành trình tiến tới “sánh vai với các cường quốc năm châu” như khát vọng lớn lao mà Người đã ký thác lại cho toàn Đảng, toàn dân ta./.

PGS. TS. GVCC. Trần Thị Minh Tuyết
Học viện Báo chí và Tuyên truyền

____

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2011, t.2, tr. 138.

(2) (6) (10) Hồ Chí Minh: Sđd, t. 7, tr. 445, 244, 384 -385.

(3) (4) Hồ Chí Minh: Sđd, t.5, tr.162, 553.

(5) Hồ Chí Minh: Sđd, t.4, tr.147. 

(6) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2000, t.7, tr.244.

(7) Hồ Chí Minh: Sđd, t.1, tr.509-510.

(8) (11) Hồ Chí Minh: Sđd, t.3, tr.458, 365.

(9) Hồ Chí Minh: Sđd, t.14, tr.27 - 28.    

(12) Hồ Chí Minh: Sđd, t.10. tr. 310.

(13) Hồ Chí Minh: Sđd, t.9,  tr.8.

(14) Hồ Chí Minh: Sđd, t.5, tr. 120.

(15) Hồ Chí Minh: Sđd, t.12, tr. 301.

(16) Đảng Cộng sản Việt Nam: Sđd, H, 2002, t.1, tr. 55,

(17) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr.103.

(18) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.9, tr.244.

(19) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd,  t.5, tr.281.

(20) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2021, t.1, tr. 203.

FalseChính trị
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào Thongloun Sisoulith kết thúc tốt đẹp chuyến thăm Việt NamBài viếtNgọc HânTổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào Thongloun Sisoulith kết thúc tốt đẹp chuyến thăm Việt Nam/Imagesnews/2021-06/TBT-Lao-thamvn2_Key_29062021165134.jpg
29/06/2021 5:00 CHNoĐã ban hành
(TUAG)- Chiều 29/6/2021, tại sân bay Quốc tế Nội Bài, Hà Nội, Ban Đối Ngoại Trung ương Đảng, Văn phòng Chủ tịch nước tổ chức Lễ tiễn Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào Thongloun Sisoulith và Phu nhân cùng Đoàn đại biểu cấp cao Đảng, Nhà nước CHDCND Lào lên đường về nước, kết thúc tốt đẹp chuyến thăm hữu nghị chính thức Việt Nam.
Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc hội kiến với Tổng Bí thư, Chủ tịch nước CHDCND Lào Thongloun Sisoulith. Ảnh: TTXVN

Nhận lời mời của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng và Phu nhân, Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc và Phu nhân, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Chủ tịch nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào Thongloun Sisoulith và Phu nhân thăm hữu nghị chính thức nước ta, từ ngày 28 đến 29/6.

Đây là chuyến thăm nước ngoài đầu tiên của đồng chí Thongloun Sisoulith trên cương vị Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào nhiệm kỳ 2021 - 2026, cũng là lần đầu sau Đại hội XIII của Đảng, nước ta đón người đứng đầu Đảng, Nhà nước Lào thăm Việt Nam.

Chuyến thăm hữu nghị chính thức Việt Nam của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào diễn ra trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực có những diễn biến nhanh chóng, phức tạp; hòa bình và phát triển là xu hướng chủ đạo, song gặp nhiều trở ngại; đại dịch COVID-19 tác động tiêu cực trên quy mô toàn cầu. ASEAN tiếp tục thúc đẩy liên kết nội khối, xây dựng cộng đồng và phát triển quan hệ với các đối tác, phát huy vai trò trung tâm trong cấu trúc khu vực.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, việc Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Thongloun Sisoulith chọn Việt Nam là nước đầu tiên đi thăm trên cương vị Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào thể hiện sự coi trọng đặc biệt của Đảng, Nhà nước Lào và cá nhân đồng chí Thongloun Sisoulith đối với việc giữ gìn, bảo vệ và không ngừng vun đắp mối quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt, gắn bó thủy chung, trong sáng, hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào.

Tại cuộc hội đàm, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào Thongloun Sisoulith nhấn mạnh tầm quan trọng và ý nghĩa chiến lược của mối quan hệ hữu nghị đặc biệt, toàn diện Việt Nam - Lào là tài sản chung vô giá của hai dân tộc, nhân tố bảo đảm sự tồn tại, phát triển của hai nước.

Hai nhà lãnh đạo khẳng định trong bất kỳ hoàn cảnh nào, hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước cũng sẽ quyết tâm cùng nhau giữ gìn, vun đắp cho mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào ngày càng phát triển sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Tổng bí thư, Chủ tịch nước Lào Thongloun Sisoulith cũng nhấn mạnh cần tăng cường quan hệ chính trị đi vào chiều sâu, đạt hiệu quả cao hơn nữa, hợp tác chặt chẽ trong các vấn đề chiến lược, chủ động tăng cường trao đổi thông tin, chia sẻ kinh nghiệm về công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, phát triển kinh tế xã hội, mở rộng hội nhập quốc tế.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào kết thúc tốt đẹp chuyến thăm hữu nghị chính thức Việt Nam. Ảnh: TTXVN

Là hai nước láng giềng núi sông liền một dải, Việt Nam và Lào không ngừng vun đắp mối quan hệ đoàn kết, thủy chung son sắt, được Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch Kaysone Phomvihane và Chủ tịch Souphanouvong đặt nền móng, được các thế hệ lãnh đạo và nhân dân hai nước gìn giữ, trở thành tài sản quý giá của hai dân tộc.

Trong thời kỳ đấu tranh giải phóng đất nước, hai dân tộc anh em kề vai sát cánh, nhường cơm sẻ áo, cùng chiến đấu và cùng đi tới thắng lợi. Bước vào thời kỳ xây dựng đất nước và củng cố hòa bình, hai nước thúc đẩy quan hệ hữu nghị, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện.

Trong công cuộc đổi mới, hội nhập và phát triển, hai nước hỗ trợ nhau cùng phát triển, cùng giành những thành tựu to lớn. Quan hệ chính trị ngày càng gắn bó, tin cậy, các cơ chế hợp tác được duy trì và tăng cường. Quan hệ Việt Nam - Lào phát triển tích cực, đi vào chiều sâu, thực chất và hiệu quả, góp phần giữ vững sự ổn định và phát triển tại hai nước...

Chuyến thăm hữu nghị chính thức Việt Nam của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào Thongloun Sisoulith tiếp tục khẳng định tình đoàn kết, gắn bó, tin cậy, thủy chung, trong sáng, trước sau như một giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước; khẳng định đường lối đối ngoại nhất quán của cả hai nước là đặc biệt coi trọng gìn giữ, không ngừng phát triển quan hệ Việt Nam - Lào, góp phần củng cố và tăng cường quan hệ hữu nghị vĩ đại, tình đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào./.

NGỌC HÂN (tổng hợp)
FalseChính trị
1 - 30Next