Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksChính trị

Chào mừng quý vị đến với Cổng thông tin điện tử Đảng bộ tỉnh An Giang!
 
Chính trị
 
 
 
  
  
  
  
  
Tóm tắt
  
  
  
  
Nội dung
  
  
Phân loại
  
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Đừng thấy đỏ tưởng là chín”NewBài viếtAn BìnhTổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Đừng thấy đỏ tưởng là chín”/SiteAssets/Dung-thay-do-lachin-2.jpg
26/07/2024 11:00 SANoĐã ban hành

(TUAG)- "Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài", đây là câu thơ nổi tiếng trong Truyện Kiều của Đại thi hào Nguyễn Du và được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhắc lại khi nói về lựa chọn nhân sự cho đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội XIII của Đảng.

Dung-thay-do-lachin-1.jpg

Chữ "tâm" ở đây có nhiều nghĩa, nhưng chung quy lại có thể thấy ý nghĩa chủ đạo của nó phản ánh đạo đức, nhận thức, suy nghĩ, tình cảm của con người (lương tâm, tâm trí, tâm hồn, tâm trạng, tâm can, tâm địa,…). Trong Phật giáo cũng luôn coi chữ "tâm" là phạm trù quan trọng, cơ bản, chủ đạo của con người "tâm dẫn đầu các pháp". Một người vừa có đức, vừa có tài thì được gọi là "có tâm, có tầm".

Tài của người cán bộ cách mạng, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh là năng lực được biểu hiện bằng hiệu suất, hiệu quả hoạt động thực tiễn. Tài năng của người cán bộ phụ thuộc vào nhiều yếu tố trí lực, thể lực… và là kết quả của một quá trình học tập, tích luỹ kinh nghiệm của mỗi người. Bởi vậy, trong sử dụng cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy phải biết tuỳ tài mà dùng người, phải biết "dụng nhân như dụng mộc".

Người xưa có câu "nhân vô thập toàn", con người không có ai là thần thánh cả. Ai cũng đều có cái hay và cái dở, cái tốt và cái xấu, cái thiện và cái ác... Muốn làm cho cái hay, cái tốt, cái thiện nảy nở như hoa mùa xuân, cái xấu, cái dở, cái ác mất dần đi thì phải có tâm trong sáng, tấm lòng bao dung rộng mở, phải biết trân trọng và phát huy tài năng. Triết lý ấy đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ dẫn rõ ràng với một tầm nhìn chiến lược: Vì lợi ích mười năm phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người. Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết phải có con người xã hội chủ nghĩa - quan niệm này của Chủ tịch Hồ Chí Minh càng được thể hiện rõ khi Người nhấn mạnh đức là gốc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt quan hệ đức - tài và tài - đức trong một thể thống nhất hữu cơ không tách rời. Càng coi đức là gốc thì càng phải coi trọng tài. Tài là cơ sở, nền tảng cho đức một cách thực chất, là đạo đức hành động trong đời sống, chứ không phải đơn thuần tu tâm dưỡng tính cho mình mà xa lánh cuộc sống, không giúp ích cho đời.

Dung-thay-do-lachin-3.jpg

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quý trọng tài năng, coi trọng đánh giá đúng, phát hiện, nuôi dưỡng và sử dụng khéo những tài năng thực sự. Người quan niệm, muốn "có nhân" và "thành nhân" phải có sự bảo đảm bởi "Trí - Dũng - Liêm - Trung - Nghĩa"; muốn đủ bốn đức: cần, kiệm, liêm, chính để chí công vô tư, con người phải thực sự tỏ rõ hiểu biết, năng lực, hành động và có bản lĩnh. Có đức mà không có tài cũng vô dụng, làm việc gì cũng khó, thậm chí làm hỏng việc. Rõ ràng, tài ở ngay trong đức; đức chỉ trở thành hiện thực, thành sức mạnh đạo đức được đo lường, được chứng tỏ bởi tài. Không "chuyên sâu" làm sao "hồng thắm" được. Đức không chỉ là chính trị, mà còn là khoa học và văn hóa.

Tài không đồng nghĩa, đồng nhất với bằng cấp, danh vị, danh hiệu, mà phải là sự xác thực bằng kết quả việc làm, thành công, hiệu quả. Nguyên tắc, phương châm "nói đi đôi với làm", "nói ít làm nhiều", "đã nói thì phải làm", phải nghĩ cho kỹ "làm được thì hãy nói" mà Chủ tịch Hồ Chí Minh huấn thị đã cho thấy, đó là sự hội tụ đức - tài làm một trong nhân cách con người. Chỉ những người hiểu biết hời hợt, siêu hình mới xem xét tài - đức tách rời nhau. Siêu hình đi liền với giáo điều, dễ dẫn đến tuyệt đối hóa cái này, xem nhẹ, phủ nhận cái kia. Khuynh hướng "chính trị hóa" một cách cực đoan, tả khuynh thường đồng nhất đức - tài vào chính trị, nhất là thường xem nhẹ tài năng, thậm chí có hiện tượng định kiến, hẹp hòi, đố kỵ và dị ứng với những tài năng. Rõ ràng, nếu không nhận thức rõ, đúng mối quan hệ biện chứng giữa tài và đức sẽ ảnh hưởng đến chính sách đối với con người, nhất là trong đánh giá, trọng dụng, đãi ngộ và ghi nhận cống hiến của những người tài, có tâm thực sự.

Dung-thay-do-lachin-4.jpg

Người có trách nhiệm dùng người phải luôn xuất phát từ mục đích, động cơ trong sáng, cao quý vì Tổ quốc, vì dân tộc, vì Nhân dân, không phải vì mình, không được vị kỷ, thực dụng. Đồng thời, phải có bản lĩnh, đủ sáng suốt để không dùng sai, chớ để những kẻ xung quanh xu nịnh, tâng bốc mình và xuyên tạc, hãm hại những người chính trực, rồi chỉ quen dùng những người phe cánh với mình, xa lánh người tài giỏi, có đức, liêm, chính, cương trực. Bản lĩnh dùng người của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là sự sáng suốt của lý trí, mà còn ở cốt cách cao thượng khi Người căn dặn chúng ta ngay cả với những người mà mình không ưa nhưng họ là người có tài, cương trực, thẳng thắn, công tâm, vì dân, vì nước thì vẫn phải dùng mà đã dùng thì phải tôn trọng và tin cậy họ.

Thiết nghĩ, tài năng và đức độ của mỗi con người không phải là có sẵn, bất biến, mà phần lớn do tu dưỡng, rèn luyện mà nên. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: cán bộ phải rèn luyện đạo đức cũng như "Ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong". Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhắc nhở khi đánh giá cán bộ phải thực tâm, "có con mắt tinh tường": "đừng nhìn gà hoá cuốc", "đừng thấy đỏ tưởng là chín", đừng chỉ thấy "cái mã bên ngoài, nó che đậy cái sơ sài bên trong". Khi mà cái "tâm" không sáng thì hành động ắt sẽ không thiện, thậm chí là "tối". Đây chính là triết lý nhân sinh và đạo đức cách mạng của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng mà mỗi cán bộ, đảng viên học tập, noi theo./.

AN BÌNH

 

FalseChính trị
Mãi mãi tri ân, luôn luôn ra sức đền đáp!Bài viếtTrung ThànhMãi mãi tri ân, luôn luôn ra sức đền đáp!/SiteAssets/tranh-27-7.jpg
25/07/2024 3:00 CHNoĐã ban hành

(TUAG)- Ngay trong những năm tháng kháng chiến gian khổ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã luôn trân trọng đề cao sự hy sinh, cống hiến của các chiến sĩ, thương binh, bệnh binh, liệt sĩ cho độc lập, tự do của Tổ quốc, hạnh phúc của Nhân dân. Người nói rất tha thiết: “Máu đào của các liệt sĩ ấy đã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Sự hy sinh anh dũng của liệt sĩ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do. Nhân dân ta đời đời ghi nhớ công ơn các liệt sĩ và chúng ta phải luôn luôn học tập tinh thần dũng cảm của các liệt sĩ để vượt qua tất cả mọi khó khăn, gian khổ, hoàn thành sự nghiệp cách mạng mà các liệt sĩ đã chuyển lại cho chúng ta”.

tranh-27-7.jpg

Người nêu rõ: “Vì muốn thay mặt Tổ quốc, toàn thể đồng bào và Chính phủ, cảm ơn những chiến sĩ đã hy sinh tính mệnh cho nền Tự do, Độc lập và Thống nhất của nước nhà, hoặc trong thời kỳ cách mệnh, hoặc trong thời kỳ kháng chiến. Tôi gửi lời chào thân ái cho gia đình các liệt sĩ đó và tôi nhận các con liệt sĩ làm con nuôi của tôi”… Người đề nghị lấy ngày 27/7/1947 làm Ngày Thương binh toàn quốc đầu tiên (năm 1955 đổi thành Ngày Thương binh - Liệt sĩ), ký Sắc lệnh số 20/SL về chế độ hưu bổng thương tật đối với thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng (16/2/1947); ký Sắc lệnh số 613/SLĐB tổ chức Bộ thương binh và Cựu binh, (tiền thân của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) ngày 03/10/1947…

Trong bức Thư gửi Ban Thường trực của Ban tổ chức “Ngày thương binh toàn quốc” lần đầu tiên (1947), Người khẳng định: “đang khi Tổ quốc lâm nguy, giang sơn, sự nghiệp, mồ mả, đền chùa, nhà thờ của tổ tiên ta bị uy hiếp, cha mẹ, anh em, vợ con, thân thích, họ hàng ta bị đe doạ. Của cải, ruộng nương, nhà cửa, ao vườn, làng mạc ta bị nguy ngập. Ai là người xung phong trước hết để chống cự quân thù, để giữ gìn đất nước cho chúng ta? Đó là những chiến sĩ mà nay một số thành ra thương binh. Thương binh là những người đã hy sinh gia đình, hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào. Vì lợi ích của Tổ quốc, của đồng bào mà các đồng chí đã chịu ốm yếu, què quặt. Vì vậy, Tổ quốc và đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy”. Riêng Người “xin xung phong gửi một chiếc áo lót lụa của chị em phụ nữ đã biếu tôi, một tháng lương của tôi, một bữa ăn của tôi, và của các nhân viên tại Phủ Chủ tịch, cộng là một nghìn một trăm hai mươi bảy đồng (1.127đ.00)”… Và từ đó thành thông lệ, mỗi năm đến dịp kỷ niệm Ngày 27/7 là Người lại gửi thư thăm hỏi, tặng quà, đi thăm các thương bệnh binh, gia đình liệt sĩ, viếng các anh hùng liệt sĩ ở nghĩa trang liệt sĩ: “tỏ lòng hiếu nghĩa bác ái”, “tỏ ý yêu mến thương binh”,… Bác còn gợi ý: “Chính quyền, đồng bào và các đoàn thể Nhân dân trong mỗi xã phải tuỳ theo cố gắng và khả năng chung của mỗi xã mà đón một số anh em thương binh (…). Với lòng hăng hái và cố gắng của đồng bào, với sự nỗ lực của cán bộ chính quyền và đoàn thể các địa phương, tôi tin chắc rằng công việc đón anh em thương binh về làng sẽ có kết quả tốt đẹp”…

Trước lúc đi xa, Bác còn để lại lời căn dặn: “Công việc toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta phải ra sức làm là mau chóng hàn gắn vết thương nghiêm trọng do đế quốc Mỹ gây ra trong cuộc chiến tranh xâm lược dã man (…). Đầu tiên đối với con người. Đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình (cán bộ, binh sĩ, dân quân, du kích, thanh niên xung phong…). Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm mọi cách làm cho họ có nơi ăn, chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở những lớp dạy nghề thích hợp với mỗi người để họ có thể dần dần “tự lực cánh sinh”. Đối với các liệt sĩ ở mỗi địa phương (thành phố, làng xã) cần xây dựng vườn hoa và bia kỷ niệm ghi sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ, để đời đời giáo dục tinh thần yêu nước cho Nhân dân ta. Đối với cha mẹ, vợ con (của thương binh và liệt sĩ) mà thiếu sức lao động và túng thiếu, thì chính quyền địa phương (nếu ở nông thôn thì chính quyền xã cùng hợp tác xã nông nghiệp) phải giúp đỡ cho họ có công ăn việc làm thích hợp, quyết không để họ bị đói rét”…

tranh2277.jpg

Thấm nhuần sâu sắc đạo lý và truyền thống tốt đẹp của dân tộc, thực hiện chỉ dạy của Bác.. Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta luôn quan tâm, chăm lo, thực hiện tốt công tác đền ơn đáp nghĩa. Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng và các văn bản hướng dẫn đã kịp thời thể chế hóa quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng về ưu đãi người có công với cách mạng. Đối tượng người có công ngày càng mở rộng, chế độ ưu đãi ngày một nâng cao gắn liền với sự bảo đảm công bằng và sự đồng thuận của xã hội. Cả nước hiện có hơn 9,2 triệu người có công với cách mạng. Trong đó, có gần 1,2 triệu liệt sĩ, gần 500 nghìn thân nhân liệt sĩ, khoảng 140 nghìn Mẹ Việt Nam Anh hùng, gần 600 nghìn thương binh và người hưởng chính sách như thương binh.

Trong tháng bảy 2024 này - tháng của nhiều hoạt động tri ân những người có công với nước, Chủ tịch nước đã tặng quà cho gần 1,4 triệu người có công và thân nhân của người có công với cách mạng. Kinh phí tặng quà là gần 420 tỷ đồng. Chính phủ cũng ban hành Nghị định số 77/2024/NĐ-CP ngày 1/7/2024 quy định điều chỉnh mức chuẩn trợ cấp ưu đãi người có công với cách mạng từ 2.055.000 đồng lên 2.789.000 đồng (tăng 35,7%). Đây là mức tăng cao nhất trong 20 năm qua, sau nhiều lần điều chỉnh mức chuẩn trợ cấp ưu đãi người có công với cách mạng. Chính sách này được dư luận xã hội đồng tình, người có công và thân nhân hoan nghênh, ủng hộ.

Trong giai đoạn 2013-2020, với hơn 10 nghìn tỷ đồng từ nguồn ngân sách Trung ương bảo đảm, cả nước đã hoàn thành việc hỗ trợ xây mới và sửa chữa nhà ở cho 393.707 hộ người có công với cách mạng theo Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg. Đồng thời, đang triển khai Đề án hỗ trợ nhà ở người có công với cách mạng giai đoạn đến năm 2025. Dự kiến, sẽ có hơn 162 ngàn hộ được thụ hưởng chính sách này, với kinh phí khoảng hơn 7.000 tỷ đồng. Các hoạt động đền ơn đáp nghĩa ngày càng phát triển sâu rộng, được xã hội đồng tình hưởng ứng, cùng chăm lo, trở thành nét đẹp truyền thống của dân tộc. 10 năm qua (2013 - 2023), cả nước đã vận động gần 7.900 tỷ đồng để hỗ trợ hộ gia đình người có công; xây dựng mới 67.700 căn nhà và sửa chữa gần 45.900 căn nhà tình nghĩa với tổng kinh phí hỗ trợ hơn 12.700 tỷ đồng; tặng hơn 110.000 sổ tiết kiệm cho gia đình chính sách với hơn 403 tỷ đồng và hỗ trợ một số trường hợp đặc biệt khó khăn. 2.412 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng còn sống được các tổ chức nhận chăm sóc, phụng dưỡng suốt đời. Các công trình ghi công liệt sĩ thường xuyên được quan tâm, chăm sóc, tu bổ, cả nước đã tôn tạo, nâng cấp, sửa chữa, chỉnh trang hơn 3,000 nghĩa trang liệt sĩ, hơn 4.000 công trình ghi công liệt sĩ.

Mãi mãi nêu cao tinh thần tri ân, luôn luôn ra sức góp phần đền đáp!

TRUNG THÀNH

FalseĐưa Nghị quyết vào cuộc sống
Cuộc chiến không tiếng súng nhưng vô cùng quyết liệt, cam goBài viếtAn BìnhCuộc chiến không tiếng súng nhưng vô cùng quyết liệt, cam go/SiteAssets/TBT-NP-Trong-1.jpg
19/07/2024 10:00 SANoĐã ban hành

(TUAG)- Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, nhất là vai trò của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thời gian qua đã có bước tiến mạnh mẽ, đạt nhiều kết quả quan trọng, được dư luận trong nước và quốc tế đánh giá cao. Kết quả đó đã và đang góp phần vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, thực sự "đã trở thành phong trào, xu thế tất yếu không thể đảo ngược".

TBT-NP-Trong-1.jpg

 Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng - Trưởng ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Vấn đề tham nhũng và phòng, chống tham nhũng luôn là đại cuộc sinh tử, thành bại của muôn thời, của mọi quốc gia, dân tộc trên toàn cầu, tự cổ chí kim. Kinh nghiệm lịch sử từ các quốc gia dân tộc phát triển từa xưa tới nay cho thấy: Không có bất cứ một thể chế nào, quốc gia dân tộc nào tuyệt đối không có tham nhũng; không có một sự thịnh vượng hay phát triển nào ở bất cứ quốc gia hay dân tộc nào, nếu không phòng, chống tham nhũng một cách kiên quyết và hiệu quả.

            Với chúng ta, việc nhà nước thịnh vượng hay suy vong, dân tộc hùng cường hay hèn kém đều gắn chặt với việc phòng, chống tham nhũng thế nào và làm tới đâu. Cách nay hơn 250 năm, chuyện "ngũ họa" quốc vong mà bảng nhãn Lê Quý Đôn tổng kết, cảnh báo khuyên răn có 5 nguy cơ làm mất nước: Một là, trẻ không kính già; hai là, trò không trọng thày; ba là, binh kiêu tướng thoái; bốn là, tham nhũng tràn lan; năm là, sĩ phu ngoảnh mặt. Theo đó, chỉ phạm vào một trong năm điều họa ấy thôi cũng đủ quốc sỉ bị tổn thương, liêm sỉ khó mà giữ trọn. Năm họa ấy hội lại, thì quốc sỉ mất, liêm sỉ cũng tan, thì đất nước tiêu vong, mà thân phận mỗi người tự do, cũng theo đó, mà táng thất!

Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, phòng, chống tham nhũng là quyết sách chiến lược mang ý nghĩa sinh tử, quyết định sự tồn vong của thể chế, của quốc gia, dân tộc. Không phòng, chống tham nhũng hiệu quả thì tất yếu quốc gia không thể phát triển; không tự mình bại vong thì cũng có ngày do nó mà mất nước, tất tới lúc dân tộc bị lâm vào nô lệ và đi đến chỗ tự diệt vong.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta đã sớm nhận thức và ngày càng xác định rõ hơn về nguy cơ, tác hại của vấn nạn tham nhũng, tiêu cực đối với Đảng, chế độ và sự nghiệp phát triển đất nước. Ngay từ những ngày đầu mới giành được chính quyền, ngày 26/01/1946, trong Quốc lệnh, do chính Chủ tịch Hồ Chí Minh ký và ban hành, Người ghi rõ, tại Điều 8 của phần phạt: "Ăn cắp của công sẽ bị xử tử"; "Tham ô, lãng phí và quan liêu là kẻ thù của Nhân dân và Chính phủ, là "giặc ở trong lòng","giặc nội xâm".

Trong thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như sau khi đất nước thống nhất, dù phải tập trung cao độ cho việc thực hiện các nhiệm vụ nặng nề, khó khăn, cấp bách của cách mạng nhưng Đảng và Nhà nước ta vẫn chưa bao giờ sao nhãng công tác đấu tranh phòng, chống tệ tham nhũng, tiêu cực. Những năm đầu đổi mới, Đảng ta xác định: Đấu tranh phòng, chống tham nhũng là một bộ phận cấu thành quan trọng của toàn bộ sự nghiệp đấu tranh cách mạng của Đảng và Nhân dân ta hiện nay. Tại Hội nghị giữa nhiệm kỳ khóa VII (tháng 01/1994), Đảng ta cảnh báo nghiêm khắc về nguy cơ thứ ba, đó là tham nhũng và tệ quan liêu ở tầm mức quốc nạn, một trong bốn nguy cơ đối với Đảng và cách mạng Việt Nam. Đại hội lần thứ XI tiếp tục nhấn mạnh, tham nhũng đe doạ sự ổn định, phát triển đất nước. Đại hội XII coi tham nhũng là "thách thức nghiêm trọng đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước". Đến Đại hội XIII của Đảng xác định, tham nhũng "vẫn là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ",v.v.. Điều đó cho thấy, chúng ta chưa bao giờ chủ quan; trái lại, luôn luôn đặt cảnh báo về nguy cơ và sự tác hại của tệ tham nhũng ở mức độ cao nhất.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, trước đây chúng ta chủ yếu quan tâm đến tác hại của tham nhũng về vật chất (kinh tế, tiền bạc), nay chúng ta quan tâm nhiều hơn, nhìn rõ hơn tác hại tiềm ẩn, khôn lường của tham nhũng, tiêu cực, làm hư hỏng, mất cán bộ, mất niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ và cuối cùng là mất chế độ như đã từng xảy ra trong thực tiễn lịch sử trên thế giới.

TBT-NP-Trong-2.jpg

Cuốn sách là tài liệu rất giá trị cả về mặt lý luận và thực tiễn, có thể coi là cuốn “cẩm nang” về công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở nước ta.

Trộm cắp về vật chất đó là sự ô nhục, làm bại hoại quốc gia, làm nhục quốc thể; cá nhân thì táng tận liêm sỉ. Tham nhũng về quyền lực chính trị, về quyền lực kinh tế sẽ đẻ ra nhiều điều xấu xa, hủ bại, có nguy cơ làm mục rỗng nhân tâm, phá nát lòng tin, làm băng hoại đất nước. Quyền lực chính trị là của Nhân dân, được Nhân dân ủy quyền cho người làm công bộc của mình. Nếu bằng mọi thủ đoạn những kẻ hủ bại chiếm đoạt nó, biến quyền được giao thành quyền sở hữu, thành mục tiêu hành động của họ và phe nhóm, dòng tộc thì rất nguy hiểm, thậm chí làm băng hoại cả dân tộc. Khi thế lực kim tiền liên kết với quyền lực chính trị bị tha hóa thì sẽ dẫn đến tai hoạ khủng khiếp, hậu quả khó mà tiên lượng.

Thời gian qua, những vụ đại án mà Đảng ta và pháp luật xử lý chính là một minh chứng về mức độ nguy hiểm trong sự cấu kết giữa "quyền lực chính trị tha hóa, hủ bại và quyền lực kinh tế tối tăm lũng đoạn". Khi lòng dạ con người, nhất là những ai được giao trọng trách không trong sáng nữa thì đó chính là thứ "giặc nội xâm" cần phải lên án và diệt trừ, dù người đó là ai, ở vị trí nào.

Những kết quả quan trọng trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thời gian qua đã chứng minh: Đảng ta chống "giặc nội xâm" rất quyết liệt, đã thành bài bản, tuyệt đối không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Điều này cho thấy quan điểm của Đảng ta, đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nói là làm, làm thật, làm tới nơi tới chốn chứ không phải nói cho vui hay làm nữa vời, đánh trống bỏ dùi. Trong cuộc chiến này, Nhân dân vui mừng, ủng hộ, hoan nghênh và đồng hành với Đảng, "niềm tin của dân chúng là sự trả giá của các quan tham".

Trong bối cảnh tình hình hiện nay, điều trước hết là tất cả mỗi người chúng ta, dù ở vị trí nào, công việc gì, cần đối diện với chính mình, tỉnh ngộ và tự răn mình về nạn ăn cắp, tiêu cực và liêm sỉ làm người. Dục vọng và sự tham lam, nếu không bị khắc chế, luôn đẩy người ta vào chỗ hủ bại và tội lỗi. Phải bắt đầu từ suy nghĩ, tầm nhìn, tư duy, từ cảnh báo về sự nguy hiểm của tham nhũng, tiêu cực đối với vận mệnh quốc gia để nêu cao ý thức, tinh thần trách nhiệm trong cuộc chiến chống "giặc nội xâm" - Cuộc chiến không tiếng súng, nhưng vô cùng quyết liệt, cam go. Người xưa có câu: Kẻ thù lớn nhất của đời người là chính mình! Vì vậy,  mỗi cán bộ, đảng viên trước hết phải thường xuyên tự soi, tự sửa, tự răn mình, tránh xa những cám dỗ vật chất, tham vọng, tránh đi vào vết xe đổ và nếu đã trót ít nhiều nhúng chàm rồi thì sớm tự giác gột rửa./.

SỰ THẬT

FalseChính trị
Chuẩn bị đại hội các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của ĐảngBài viếtTTCTTTChuẩn bị đại hội các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảnghttps://www.angiang.dcs.vn/SiteAssets/Co-dosaovang-dang.jpg
04/07/2024 1:00 CHNoĐã ban hành

(TUAG)- ​Đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2025 - 2030 là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, diễn ra trong bối cảnh nước ta đạt được nhiều thành tựu to lớn, kết quả quan trọng, nổi bật, toàn diện trên các lĩnh vực. Ngày 14/6/2024, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 35-CT/TW về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.


Thời gian tiến hành đại hội đảng bộ các cấp: Đại hội đảng viên hoặc đại hội đại biểu cấp cơ sở không quá 2 ngày bắt đầu từ tháng 4/2025, hoàn thành trước ngày 30/6/2025. Đại hội đại biểu đảng bộ cấp huyện và tương đương không quá 3 ngày, hoàn thành trước ngày 31/8/2025. Đại hội đại biểu đảng bộ trực thuộc Trung ương không quá 4 ngày, hoàn thành trước ngày 31/10/2025. Thời gian họp trù bị được tính vào thời gian tiến hành đại hội, đối với cấp huyện và tương đương trở lên không quá 1/2 ngày. Thời gian tổ chức đại hội điểm: Cấp cơ sở vào đầu quý I/2025; cấp huyện và tương đương vào đầu quý II/2025; cấp trực thuộc Trung ương vào đầu quý III/2025.

Đại hội đảng bộ các cấp thực hiện 4 nội dung sau: (1) Tổng kết thực hiện nghị quyết đại hội đảng bộ nhiệm kỳ 2020 - 2025 và xác định phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp của nhiệm kỳ 2025 - 2030. (2) Thảo luận, đóng góp ý kiến vào dự thảo các văn kiện Đại hội XIV của Đảng và văn kiện đại hội đảng bộ cấp trên trực tiếp. (3) Bầu ban chấp hành đảng bộ nhiệm kỳ 2025 - 2030. (4) Bầu đoàn đại biểu dự đại hội đảng bộ cấp trên. Những nơi thực sự có khó khăn về công tác chuẩn bị nhân sự, được cấp ủy có thẩm quyền đồng ý, thì đại hội với 3 nội dung, chưa tiến hành bầu cấp ủy khóa mới.

Do tầm quan trọng, ý nghĩa đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Bộ Chính trị yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo công tác chuẩn bị và tổ chức đại hội đảng bộ các cấp thực hiện tốt một số nội dung sau:

Thứ nhất, công tác chuẩn bị và tổ chức đại hội đảng bộ các cấp phải được các cấp ủy lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện theo đúng quy định, nguyên tắc của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy đầy đủ thẩm quyền, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng và người đứng đầu cấp ủy các cấp; bảo đảm an toàn, thiết thực, hiệu quả, không phô trương hình thức, kiên quyết chống lãng phí, tiêu cực. Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của tổ chức đảng, đảng viên; củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc và niềm tin của cán bộ, đảng viên, Nhân dân đối với Đảng.

Thứ hai, nâng cao chất lượng văn kiện đại hội đảng bộ các cấp; tập trung lãnh đạo tổ chức thảo luận thật kỹ lưỡng, sâu sắc, hiệu quả các quan điểm, mục tiêu, chủ trương, định hướng lớn nêu tại dự thảo các văn kiện Đại hội XIV của Đảng và đại hội đảng bộ cấp trên; dự báo được tình hình, xác định rõ thế mạnh, định hướng, trọng tâm phát triển gắn với chiến lược, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội chung của khu vực và cả nước. Báo cáo chính trị phải đánh giá trung thực, khách quan, toàn diện tình hình và kết quả thực hiện nghị quyết đại hội nhiệm kỳ 2020 - 2025, nhất là các nhiệm vụ trọng tâm, đột phá công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại; chỉ rõ ưu điểm, khuyết điểm, nguyên nhân, nhất là nguyên nhân chủ quan, rút ra những bài học kinh nghiệm sâu sắc trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện. Đồng thời, xác định rõ phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp nhiệm kỳ tới sát với tình hình thực tế và có tính khoa học, khả thi cao.

Thứ ba, công tác nhân sự phải bảo đảm sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, cấp ủy các cấp và đề cao vai trò, trách nhiệm của tập thể lãnh đạo và người đứng đầu theo quy định. Bảo đảm sự kế thừa, đổi mới và phát triển liên tục của đội ngũ cán bộ; đề cao, coi trọng chất lượng, có số lượng và cơ cấu hợp lý, tăng cường ở các vị trí, địa bàn, lĩnh vực quan trọng, trọng yếu. Cấp ủy khóa mới phải tiêu biểu về bản lĩnh chính trị, trí tuệ, phẩm chất, đạo đức, lối sống, năng lực, uy tín; thật sự là trung tâm đoàn kết, trong sạch, vững mạnh, thống nhất ý chí và hành động; có bản lĩnh chính trị vững vàng, có tầm nhìn, tư duy đổi mới, gắn bó mật thiết với Nhân dân; có năng lực lãnh đạo, cầm quyền, có sức chiến đấu cao, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn phát triển mới để thực hiện thắng lợi nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp, Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.

Thứ tư, công tác chuẩn bị nhân sự và bầu cử phải thực hiện nghiêm, đúng nguyên tắc, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước; bảo đảm đồng bộ, tổng thể, liên thông, chặt chẽ, dân chủ, khoa học, khách quan, công tâm, minh bạch, trách nhiệm giải trình; bảo đảm sự đoàn kết, thống nhất cao; làm thận trọng từng bước, “làm đến đâu chắc đến đó”; gắn kết chặt chẽ với công tác quy hoạch, chuẩn bị nhân sự lãnh đạo các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội nhiệm kỳ tới. Chú trọng phát hiện, lựa chọn, giới thiệu những cán bộ tiêu biểu về bản lĩnh chính trị, phẩm chất, đạo đức, đã kinh qua thực tiễn, có thành tích, kết quả, sản phẩm công tác và quan tâm cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số. Đánh giá cán bộ phải toàn diện, khách quan, thực chất, đúng quy định, đúng thẩm quyền; lấy phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, hiệu quả công tác và uy tín của cán bộ làm thước đo, tiêu chí cơ bản để đánh giá. Phải kế thừa, đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ công tác thẩm định nhân sự trên cơ sở mở rộng, phát huy tối đa trách nhiệm của các cơ quan chức năng; chủ động rà soát, thẩm tra, thẩm định chặt chẽ, kỹ lưỡng tiêu chuẩn, điều kiện, kê khai tài sản, thu nhập, thông tin, trách nhiệm của nhân sự liên quan đến các kết luận kiểm tra, thanh tra, kiểm toán hoặc vụ án, vụ việc của các cơ quan chức năng đã xem xét, kết luận và kết quả giải quyết đơn, thư khiếu nại, tố cáo,... Không sử dụng thông tin giả, thông tin không phải của cơ quan có thẩm quyền, thông tin không chính thức trên Internet, mạng xã hội, thông tin, dư luận xấu chưa được kiểm chứng liên quan đến nhân sự và công tác chuẩn bị nhân sự.

Thứ năm, có cơ chế, tiêu chí sàng lọc hiệu quả để không bỏ “sót” những người thật sự có đức, có tài; đồng thời, kiên quyết không để “lọt” vào cấp ủy khóa mới những người: Bản lĩnh chính trị không vững vàng, không kiên định đường lối, quan điểm của Đảng; phẩm chất, đạo đức, năng lực, uy tín giảm sút, ý thức tổ chức kỷ luật kém, mất đoàn kết; né tránh, đùn đẩy, sợ trách nhiệm, không dám làm; có biểu hiện cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực, tư duy nhiệm kỳ, xu nịnh, chạy chọt, tham nhũng, tiêu cực, quan liêu, cục bộ, “lợi ích nhóm”, có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”,...; vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước; vi phạm tiêu chuẩn chính trị, những điều đảng viên không được làm và quy định về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ; kê khai tài sản, thu nhập không trung thực, có biểu hiện giàu nhanh, nhiều tài sản mà không giải trình rõ được nguồn gốc; vi phạm trách nhiệm nêu gương, để bản thân hoặc vợ (chồng), con có lối sống thiếu gương mẫu, lợi dụng chức, quyền để thu lợi bất chính; để nội bộ mất đoàn kết nghiêm trọng hoặc xảy ra tham nhũng, thất thoát lớn, vụ việc tiêu cực gây ảnh hưởng xấu ở địa phương, cơ quan, đơn vị trong thời gian phụ trách. Nhân sự không trúng cử cấp ủy cấp dưới, thì không giới thiệu để bầu cấp ủy cấp trên.

Thứ sáu, Đoàn đại biểu dự đại hội đảng bộ cấp trên phải là những đồng chí có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định lý tưởng cách mạng, tiêu biểu về phẩm chất đạo đức, lối sống và năng lực công tác, đại diện cho trí tuệ của đảng bộ để tham gia, đóng góp vào các nội dung của đại hội.

Thứ bảy, Bộ Chính trị yêu cầu, trong quá trình chuẩn bị và tiến hành đại hội phải thường xuyên làm tốt công tác chính trị, tư tưởng, nhất là công tác thông tin, tuyên truyền, bảo đảm sự đoàn kết, thống nhất cao; lấy tích cực đẩy lùi tiêu cực, lấy “cái đẹp” dẹp “cái xấu”; coi trọng, tập trung công tác lãnh đạo, chỉ đạo hoàn thành tốt các nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh,... của địa phương, cơ quan, đơn vị gắn với đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước. Tập trung giải quyết, xử lý kịp thời, có hiệu quả những hạn chế, bất cập, yếu kém, những vấn đề tồn đọng kéo dài gây bức xúc mà dư luận, cán bộ, đảng viên, Nhân dân quan tâm. Chủ động, tích cực, có biện pháp đấu tranh hiệu quả đối với những âm mưu, thủ đoạn chống phá, gây rối nội bộ của các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, bất mãn để bảo vệ nền tảng tư tưởng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng, bảo vệ chế độ.

BBT

FalseChính trị
Báo chí như “ánh sáng trong lành đẩy lùi và xua tan bóng tối”Bài viếtTrung ThànhBáo chí như “ánh sáng trong lành đẩy lùi và xua tan bóng tối”/SiteAssets/Chucmung-bccm.jpg
21/06/2024 7:00 SAYesĐã ban hành

​(TUAG)- Gần bốn mươi năm trước (1986), chỉ sau mấy tháng Đại hội Đảng lần thứ VI, việc thực hiện các quyết sách đổi mới đã bị cản trở bởi rất nhiều những hiện tượng trái chiều. Các thế lực tiêu cực, trước hết là những cán bộ thoái hóa biến chất đã triệt để lợi dụng và làm trầm trọng thêm sự trì trệ, bảo thủ. Nguy hiểm hơn là càng đấu tranh chống tiêu cực thì tiêu cực không những không giảm mà còn có chiều hướng gia tăng. Trong tình hình đó, Đồng chí Nguyễn Văn Linh đã có nhiều bài viết, cụ thể như bài “Ánh sáng trong lành phải được lan rộng, đẩy lùi và xua tan bóng tối”.

Bao-chi-cacchmang-vn-2.jpg

Những bài viết đó đã được “dư luận rộng rãi khắp cả nước hưởng ứng bằng nhiều cách đúng đắn, đáng mừng,…”. Bởi nó đã góp phần “…phanh phui ra ánh sáng nhiều vụ tiêu cực quá to, quá đau lòng, đụng đến cả một hệ thống cán bộ, cơ quan, có khi có cả ô dù lớn che chở”. Đáng chú ý là các cơ quan “Báo, đài đã nhiệt tình góp thêm những tiếng nói lành mạnh, nhắc nhở mọi người: Cần đưa nhân tố mới lên lấn dần tiêu cực, nhưng đồng thời phải quyết liệt chống tiêu cực thì nhân tố mới mới thật sự có chỗ đứng, giống như có nhổ sạch cỏ dại, diệt sâu rầy thì lúa mới mọc lên vậy”. Tác giả N.V.L. có một chỉ dẫn cực kỳ quan trọng về phương pháp: “Chúng ta chống tiêu cực, chống thói quan liêu, vô trách nhiệm hoàn toàn không phải để nâng cao hay hạ thấp uy tín của vài cá nhân nào đó (như cách hiểu lắt léo của một số người) mà vì một mục tiêu tốt đẹp hơn nhiều: lập lại trật tự, công bằng xã hội, xóa bớt những vật cản nặng nề trên con đường phát triển kinh tế của đất nước. Đó cũng là yêu cầu khẩn thiết của toàn Đảng, toàn dân”. Đồng chí còn chỉ ra công cụ chủ yếu để đấu tranh chống tiêu cực là sức mạnh của pháp luật cộng với sức mạnh của dư luận quần chúng. Đúng theo tinh thần câu châm ngôn cổ truyền của dân tộc: “Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại thành hòn núi cao”.

Riêng đối với Báo chí, đồng chí một bài viết riêng khẳng định “ Báo chí của ta, nói chung vẫn giữ được truyền thống tốt đẹp của báo chí cách mạng lúc bí mật. Có nhiều mặt còn phong phú, đa dạng hơn. Đó là điều tốt”. Nhưng bên cạnh cái tốt, đã xuất hiện nhiều cái “làng báo ta nên suy nghĩ để sửa ngay”. Đó là: Nhiều tờ báo, kể cả các tờ báo cấp trung ương, có lẽ chưa xác định rõ là viết chủ yếu cho quần chúng và cho đảng viên, cán bộ bình thường đọc, nên viết vừa khô khan, vừa khó hiểu, viết những bài xã luận dài quá, nội dung không sinh động, không đi vào lòng người, do đó không tạo ra được những phong trào của quảng đại nhân dân và cán bộ, đảng viên đọc báo, viết báo và làm theo báo. Báo Đảng là vai trò trung gian nối Đảng với dân, vậy báo phải viết sao để thể hiện câu “Ý Đảng, lòng dân”, “Dân tin Đảng, Đảng tin dân”, “Dân làm theo Đảng, Đảng sát với dân”.

Đồng chí khuyên báo chí không phải chỉ là “diễn đàn của Đảng và Chính phủ và của một số cán bộ viết báo” mà còn phải là “diễn đàn của mọi tầng lớp nhân dân”. Phải làm sao có những mục để cho chính ngay dân hoặc người đảng viên, cán bộ gần dân, hiểu dân, viết ra những ý, những bài thể hiện được ý của dân, để hoặc là đề đạt nguyện vọng của dân với Đảng, với Nhà nước, hoặc là lên án những việc làm sai trái của cán bộ, đảng viên, nhân viên Nhà nước hay của ngay một số nhân dân với mục đích khuyên răn nhau làm điều phải.

Bao-chi-cacchmang-vn-4.jpg

Đồng chí nói rất tha thiết rằng: “Muốn làm được một số việc trên, nhà báo, theo tôi nghĩ, ngoài trình độ văn chương, thì điều lớn nhất là phải có “tấm lòng”. “Tấm lòng trong trắng, tha thiết, hăng say để qua các bài báo của mình mà “Dân hiểu Đảng, Đảng hiểu dân”, dân hiểu các chủ trương, chính sách của Đảng để làm theo cho đúng; Đảng hiểu được đời sống của dân, tâm tư nguyện vọng của dân để có những chủ trương, chính sách đúng với quyền lợi của dân. Nhà báo phải có tấm lòng cương trực: yêu người làm đúng, làm tốt để ca ngợi; ghét bọn làm xấu, làm sai, làm ác để lên án. Vai trò của nhà báo là đem ánh sáng trong lành tỏa rộng ra, đẩy lùi, thu hẹp và xóa dần bóng tối”.

Ở tầm bao quát hơn Đồng chí khẳng định: “N.V.L. sẽ vẫn tiếp tục viết, và mong muốn cán bộ từ Trung ương xuống đến cơ sở, mong đồng bào trong và ngoài Đảng tới đây sẽ tham gia ngày càng đông đảo cùng viết, cùng phanh phui những việc mà N.V.L. tôi không tài nào biết hết và biết chi tiết được”. Nhưng viết thôi là chưa đủ, quan trọng hơn là các cấp lãnh đạo phải xử lý nghiêm minh và công bằng mới được. Ai xấu quá thì phải trừng trị. Ai có lỡ lầm nhỏ nhưng thực lòng cải hối thì giáo dục lại thành người tốt. Khuyên nhau làm việc tốt, tôn trọng kỷ luật, pháp luật. Những việc này phải chung tay mà làm một cách kiên trì mới thành công được. Phải vừa nghiêm khắc, vừa độ lượng. Dạy bảo, phê bình nhau với động cơ trong sáng, tấm lòng chân thành và ý thức trách nhiệm cao.

Gần đây, báo chí tiếp tục tham gia tích cực vào cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng và cải cách hành chính nhà nước, vào quá trình mở rộng và thực hành dân chủ, thiết lập trật tự, kỷ cương phép nước; ; kịp thời phát hiện và phê phán những sai sót, những biểu hiện tiêu cực… Từ đó đề xuất, kiến nghị phương án giải quyết với Đảng, Nhà nước, trực tiếp góp phần làm cho các cơ chế, chính sách và pháp luật của Nhà nước ngày càng hoàn thiện hơn; góp phần xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Nhằm phát huy mạnh mẽ truyền thống tốt đẹp của báo chí nói chung, vai trò của Báo chí trong đấu tranh chống tiêu cực nói riêng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: “Các cơ quan truyền thông cần đăng tin, bài định hướng đúng đắn dư luận xã hội để thấy rõ những kết quả tích cực của công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, cũng như những hạn chế, yếu kém, những khó khăn, phức tạp; khẳng định rõ quyết tâm của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị trong việc ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng. Khắc phục tình trạng thông tin một chiều, thông tin không chính xác, mang tính kích động, gây hoang mang hoặc quy kết về tội danh, mức án trước khi xét xử. Bảo vệ, khen thưởng, động viên những người làm báo tích cực, dũng cảm đấu tranh chống tham nhũng; xử lý nghiêm khắc việc đưa tin sai sự thật, vu cáo, bịa đặt, gây hậu quả xấu. Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng và các cơ quan chức năng phải chủ động cung cấp một cách kịp thời, đúng pháp luật cho các cơ quan báo chí những thông tin có liên quan đến tham nhũng”.

Ánh sáng trong lành phải được lan rộng, đẩy lùi và xua tan bóng tối./.                

TRUNG THÀNH

TrueChính trị
Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạngBài viếtAn BìnhCán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng/SiteAssets/Bao-chi-cacchmang-vn-1.jpg
19/06/2024 11:00 SAYesĐã ban hành

(TUAG)- Cách đây 99 năm, ngày 21/6/1925, tờ báo Thanh niên do Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập xuất bản số đầu tiên, đánh dấu sự ra đời của nền báo chí cách mạng Việt Nam. Từ đó đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, báo chí cách mạng Việt Nam luôn đồng hành cùng đất nước và dân tộc, là lực lượng nòng cốt, giữ vai trò tiên phong trên mặt trận tư tưởng - văn hóa, không ngừng trưởng thành vững mạnh về mọi mặt, đóng góp to lớn vào sự nghiệp cách mạng của Đảng và Nhân dân ta.

Bao-chi-cacchmang-vn-1.jpg

Là người sáng lập, người thầy vĩ đại của báo chí cách mạng Việt Nam, ngay từ những ngày đầu ra nước ngoài tìm đường cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm tham gia các hoạt động báo chí. Khi hoạt động tại Pháp, Người đã tham gia sáng lập tờ báo Le Paria (Ng­ười cùng khổ) để tạo một kênh thông tin, lên tiếng tố cáo bản chất tàn bạo của thực dân Pháp, làm cho nhân dân thế giới biết đến cuộc sống "cùng khổ" của người dân Việt Nam; từ đó lên tiếng ủng hộ Việt Nam trong đấu tranh "tự giải phóng". Ngày 21/6/1925, tại Quảng Châu (Trung Quốc), Người đã sáng lập Báo Thanh Niên. Đây là tờ báo cách mạng đầu tiên của Việt Nam do Bác Hồ sáng lập, chỉ đạo và là người biên tập chính.

Trong hơn nửa thế kỷ vừa hoạt động cách mạng vừa cầm bút, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có hàng ngàn bài viết, với hàng trăm bút danh khác nhau, được đăng ở nhiều báo trong, ngoài nước bằng nhiều thứ tiếng. Không chỉ viết báo, Người còn làm mọi công việc liên quan đến "nghề báo" như: tổ chức, lãnh đạo, chỉ đạo việc làm báo, sửa bài, biên tập, in ấn, phát hành… Thực tiễn phong phú đó đã góp phần tạo nên tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng - một di sản vô cùng quý giá, đặc biệt mà Bác đã để lại cho thế hệ sau.

Về tôn chỉ, mục đích của báo chí cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Báo chí của ta thì cần phải phục vụ nhân dân lao động, phục vụ chủ nghĩa xã hội, phục vụ cho đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, cho hòa bình thế giới", suy rộng ra là phục vụ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và đóng góp tích cực cho hòa bình thế giới vì mục tiêu của thời đại là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Về vai trò, nhiệm vụ của báo chí cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi người hoạt động báo chí là một chiến sĩ cách mạng, vì "nói đến báo chí trước hết phải nói đến những người làm báo chí". Đối với người làm báo cách mạng, "cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ", do đó "Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng". Vì vậy, nhiệm vụ của người làm báo là rất quan trọng và vẻ vang. Để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang của mình, cán bộ báo chí cần phải "Cố gắng trau dồi tư tưởng, nghiệp vụ và văn hóa; chú trọng học tập chính trị để nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ; đi sâu vào thực tế, đi sâu vào quần chúng lao động".

Bao-chi-cacchmang-vn-2.jpg

Về tính Đảng của báo chí cách mạng Việt Nam: Đây là điều căn cốt nhất trong tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng Việt Nam, là cơ sở để phân biệt báo chí cách mạng với báo chí phản cách mạng. Người cho rằng, báo chí chỉ đúng về chính trị khi nó được lãnh đạo của một đảng, dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, một đảng mang bản chất của giai cấp công nhân và gắn bó mật thiết với dân tộc, với Nhân dân.

Về xây dựng đội ngũ nhà báo vừa "hồng", vừa "chuyên", Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu những người làm báo phải thường xuyên tu dưỡng đạo đức cách mạng, trau dồi tư tưởng, học tập chính trị để nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đi sâu vào thực tế, đi sâu vào quần chúng lao động, phải luôn nâng cao trình độ văn hóa, rèn giũa nghiệp vụ, mài sắc ngòi bút của mình; nhất là phải trau dồi lập trường chính trị vững chắc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu nhà báo phải là người có trí thức rộng và sâu, đặc biệt là có trách nhiệm với công việc, sản phẩm của mình; với hiệu quả, hệ quả của sản phẩm đó. Trong thư gửi lớp học viết báo Huỳnh Thúc Kháng (9/6/1949), Người viết: "Muốn viết báo khá thì cần: (1) Gần gũi dân chúng, cứ ngồi trong phòng giấy mà viết thì không thể viết thiết thực; (2) Ít nhất cũng phải biết một thứ tiếng nước ngoài để xem báo nước ngoài mà học kinh nghiệm của người; (3) Khi viết xong một bài, tự mình phải xem lại ba bốn lần, sửa chữa lại cho cẩn thận. Tốt hơn nữa, là đưa nhờ một vài người ít văn hóa xem và hỏi họ những câu nào, chữ nào không hiểu thì sửa lại cho dễ hiểu; (4) Luôn luôn gắng học hỏi, luôn luôn cầu tiến bộ...".

Đối với công việc viết báo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có nhiều bài viết, chia sẻ kinh nghiệm với đồng nghiệp hoặc cán bộ cấp dưới. Tại Đại hội lần thứ III của Hội Nhà báo Việt Nam ngày 8/9/1962, Người nói: "Kinh nghiệm của tôi là thế này: Mỗi khi viết một bài báo, thì đặt câu hỏi: Viết cho ai xem? Viết để làm gì? Viết thế nào cho phổ thông dễ hiểu, ngắn gọn dễ đọc? Khi viết xong, thì nhờ anh em xem và sửa giùm".

Bao-chi-cacchmang-vn-3.jpg

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà báo phải "chân thực" - chân thực là sức mạnh vì nó có lòng tin. Mỗi bài viết của phóng viên phải bắt nguồn từ thực tế cuộc sống với những con số, những sự kiện đã được xem xét, kiểm tra, chọn lọc. Bài viết phải đem lại cho người đọc lượng thông tin cao và chính xác. Viết phải đúng sự thật, không được bịa ra, không nên nói ẩu, chưa điều tra, chưa nghiên cứu, chưa biết rõ, chớ nói, chớ viết...

Di sản của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với nền báo chí cách mạng Việt Nam là vô cùng to lớn, là "kim chỉ nam" dẫn đường cho báo chí cách mạng và những người làm báo tiếp tục đóng góp có hiệu quả vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Suốt 99 năm qua, đặc biệt là trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, những người làm báo đã vượt lên mọi khó khăn, không quản hy sinh, có mặt trên tất cả các mặt trận để kịp thời phản ánh mọi diễn biến của cuộc đấu tranh. Hàng nghìn lượt cán bộ, phóng viên báo chí đã sát cánh cùng bộ đội, dân công chiến đấu, phục vụ chiến đấu trên các mặt trận. Hàng trăm nhà báo - liệt sĩ đã anh dũng hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, tô thắm thêm truyền thống vẻ vang của báo chí cách mạng nước nhà.

Bước sang thời kỳ đổi mới và hội nhập, các cơ quan báo chí đã thực hiện tốt vai trò là cơ quan ngôn luận của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp, là diễn đàn của Nhân dân, giữ vững định hướng chính trị, kịp thời phê phán, đấu tranh với những gì là cũ kỹ, lạc hậu, cản trở đổi mới, chống các hiện tượng tiêu cực, chống tham nhũng, tiêu cực, những thói hư, tật xấu trong xã hội, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN.

Trong bối cảnh mới với sự tác động mạnh mẽ của cơ chế thị trường, phát triển công nghệ thông tin, truyền thông và sự cạnh tranh gay gắt của các loại hình báo chí, báo chí cách mạng Việt Nam cần tiếp tục phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng; quán triệt sâu sắc và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức của người làm báo; không ngừng rèn luyện bản lĩnh chính trị, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, nêu cao đạo đức nghề nghiệp, tăng cường đoàn kết, chung sức, đồng lòng, ra sức phấn đấu xây dựng nền báo chí chuyên nghiệp, hiện đại, giàu tính chiến đấu, nhân văn vì lợi ích của đất nước và Nhân dân, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

AN BÌNH

TrueChính trị
Bộ Chính trị quy định 5 chuẩn mực  đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mớiBài viếtAdminBộ Chính trị quy định 5 chuẩn mực  đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới/SiteAssets/Quydinh-144-a.jpg
12/06/2024 9:00 SANoĐã ban hành

(TUAG)- Căn cứ Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”, ngày 09/5/2024, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thay mặt Bộ Chính trị ký ban hành Quy định số 144-QĐ/TW về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới (Quy định 144). Theo đó, chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới được quy định như sau:  

Quydinh-144.jpg

Yêu nước, tôn trọng Nhân dân, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc. Quy định 144 nêu rõ, cán bộ, đảng viên phải suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng cách mạng của Đảng; nêu cao tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với sự nghiệp cách mạng của Đảng; hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân.

Tôn trọng, tin tưởng, gần gũi và gắn bó mật thiết với Nhân dân. Quan tâm chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân; bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp của Nhân dân; tạo điều kiện để Nhân dân phát huy quyền làm chủ, dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại đến dân phải hết sức tránh.

Cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích quốc gia - dân tộc, lợi ích chung của Đảng, Nhà nước và của Nhân dân lên trên hết, trước hết; kiên quyết, kiên trì đấu tranh với mọi hành vi gây phương hại đến lợi ích quốc gia - dân tộc, lợi ích của Đảng, Nhà nước và của Nhân dân.

Bản lĩnh, đổi mới, sáng tạo, hội nhập. Theo Quy định 144, cán bộ, đảng viên phải kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng và các nguyên tắc xây dựng Đảng. Kiên quyết, kiên trì bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Thực hiện nghiêm Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, ý chí vươn lên, cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần phát triển đất nước, địa phương, cơ quan, đơn vị.

Quy định 144 yêu cầu cán bộ, đảng viên xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng trước mọi khó khăn, thử thách. Dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thách thức, hành động vì lợi ích chung, vì nước, vì dân.

Chủ động nâng cao kiến thức, kỹ năng; năng lực công tác, làm việc trong môi trường quốc tế. Tích cực tham gia quá trình hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng theo đường lối đối ngoại của Đảng phù hợp với luật pháp quốc tế, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng cộng đồng vì hòa bình, ổn định, tiến bộ và phát triển.

Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Quy định 144 nêu rõ, cán bộ, đảng viên phải tâm huyết, trách nhiệm, dấn thân, nỗ lực hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ được giao, có ý chí, quyết tâm thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới do Đảng lãnh đạo, góp phần xây dựng đất nước giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.

Cán bộ, đảng viên phải quản lý, sử dụng tài sản công đúng mục đích, đúng quy định; tiết kiệm và hiệu quả; không xa hoa, lãng phí thời gian, tiền bạc, công sức và các nguồn lực vật chất khác của tập thể và cá nhân.

Cán bộ, đảng viên phải trong sạch, không tham ô, tham nhũng, tiêu cực, không gây phiền hà, sách nhiễu. Chủ động phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn tham nhũng, tiêu cực, suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, chủ nghĩa cá nhân, lợi ích nhóm, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ.

Cán bộ, đảng viên phải trung thực, thẳng thắn, khách quan, công tâm, tích cực đấu tranh tự phê bình và phê bình, không giấu khuyết điểm, không nói sai sự thật; thấy đúng phải bảo vệ, thấy sai phải đấu tranh.

Quy định 144 yêu cầu cán bộ, đảng viên nêu cao lòng tự trọng, danh dự, không cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực, giữ gìn phẩm giá của người cán bộ, đảng viên, không để tác động lôi kéo, cám dỗ tiêu cực. Không để gia đình, người thân và người khác lợi dụng chức vụ, vị trí công tác để trục lợi; bảo vệ uy tín, danh dự của bản thân và tổ chức đảng. Thực hiện văn hóa từ chức khi không đủ khả năng, uy tín.

Đoàn kết, kỷ cương, tình thương, trách nhiệm. Quy định 144 nêu rõ, cán bộ, đảng viên phải luôn giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, cơ quan, tổ chức và trong Nhân dân, trước hết là ở chi bộ, cơ quan, đơn vị công tác, khu dân cư; kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện chia rẽ, bè phái, cục bộ, lợi ích nhóm; xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị thật sự trong sạch, vững mạnh toàn diện.

Nêu cao ý thức tổ chức kỷ luật, kỷ cương, nhất là kỷ luật phát ngôn. Nói và làm theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; chấp hành các quy định của cơ quan, đơn vị; phục tùng sự phân công của Đảng, của tổ chức.

Sống có nghĩa tình, chân thành, thương yêu, đối xử, giúp đỡ đồng chí, đồng nghiệp và mọi người theo lẽ phải, phù hợp với đạo lý dân tộc, cùng nhau tiến bộ.

Nêu cao trách nhiệm trong công tác và sinh hoạt; sẵn sàng đảm nhận và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Kiên quyết đấu tranh, phê phán mọi hành vi né tránh, đùn đẩy, hoặc có tư tưởng trung bình chủ nghĩa, làm việc cầm chừng, sợ trách nhiệm, không dám làm. Làm tốt trách nhiệm, bổn phận, nghĩa vụ đối với gia đình, cộng đồng, xã hội.

Gương mẫu, khiêm tốn, tu dưỡng rèn luyện, học tập suốt đời. Quy định 144 yêu cầu cán bộ, đảng viên cần gương mẫu trong công tác và sinh hoạt, tích cực học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Cán bộ, đảng viên chức vụ càng cao càng phải gương mẫu, cấp trên gương mẫu trước cấp dưới, cấp ủy gương mẫu trước đảng viên, đảng viên gương mẫu trước quần chúng.

Tích cực vận động, thuyết phục gia đình, người thân chấp hành tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Khiêm tốn, cầu thị, giản dị; không ngừng học tập, tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao phẩm chất, đạo đức, trình độ, năng lực công tác. Nói đi đôi với làm, làm đi đôi với nói, đã nói là làm.

Mỗi cán bộ, đảng viên thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng sẽ có dũng khí vượt qua thách thức của cuộc sống để cống hiến; gặp khó khăn, gian khổ, thất bại, không rụt rè, lùi bước, gặp thuận lợi và thành công vẫn khiêm nhường, không sa vào hưởng thụ, quan liêu, kiêu ngạo, hủ hóa. Mặt khác, sự gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong việc rèn luyện, tu dưỡng theo các chuẩn mực đạo đức cách mạng có ảnh hưởng tích cực, to lớn đến quần chúng nhân dân; ngược lại, sẽ để lại những hậu quả không nhỏ, bởi “một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”.

BBT

FalseĐưa Nghị quyết vào cuộc sống
Hành trình tìm đường cứu nước và tầm nhìn thời đạiBài viếtAn BìnhHành trình tìm đường cứu nước và tầm nhìn thời đại/SiteAssets/Bac-tim-duong-cuunuoc.jpg
05/06/2024 10:45 SAYesĐã ban hành

(TUAG)- Cách đây 113 năm, ngày 05/6/1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành với ý chí mãnh liệt, lòng yêu thương dân tộc sâu sắc đã quyết tâm ra đi thực hiện hoài bão giải phóng nước nhà khỏi ách nô lệ của thực dân, đế quốc. Bằng trí tuệ mẫn tiệp, siêu phàm, tầm nhìn rộng mở, Người đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, trở thành người cộng sản, chiến sĩ quốc tế xuất sắc, tìm thấy con đường cứu nước duy nhất đúng đắn cho dân tộc Việt Nam. Với tầm nhìn thời đại, Người đã làm sáng rõ con đường cách mạng Việt Nam, soi đường, chỉ lối cho Đảng và dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

113-Bac-tim-duong-cuunuoc.jpg

Sự thất bại của các phong trào yêu nước Việt Nam nổ ra từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX đã làm cho cách mạng Việt Nam khủng hoảng về con đường giải phóng dân tộc. Người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã sớm nhận thấy con đường do những người đi trước mở ra sẽ không giải phóng được dân tộc. Việc không lặp lại thất bại của những người đi trước là một điều khó khăn nhưng tìm ra một con đường mới phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử để dân tộc giành được độc lập, tự do là một điều còn khó khăn hơn nhiều lần.

Ngày 05/6/1911, trên con tàu Amiral Latouche Tréville, từ cảng Sài Gòn, Nguyễn Tất Thành đã rời Tổ quốc, bắt đầu cuộc hành trình 30 năm tìm con đường giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước. Vào thời điểm đó, không ai biết rằng vận mệnh của dân tộc Việt Nam đã gắn liền với quyết định ra đi của một con người mà lịch sử đã chứng tỏ là sáng suốt, phi thường ấy.

Với một sự nhạy cảm đặc biệt, Nguyễn Tất Thành không đi sang nước Nhật, không tìm về châu Á mà Người sang nước Pháp, đến tận nơi nước đang cai trị mình, đến tận châu Âu, nơi đang có sự phát triển vượt bậc về kinh tế, về văn hóa, về chính trị để tìm hiểu xem người ta làm như thế nào rồi trở về cứu giúp đồng bào. Bác ra đi, hành trang chỉ là lòng yêu nước, thương dân sâu sắc, quyết tâm tìm con đường cứu nước, cứu dân.

Sau thời gian ở Pháp, Nguyễn Tất Thành tiếp tục cuộc hành trình đi qua nhiều châu lục khác. Suốt chặng đường bôn ba, cuộc sống đầy gian khổ nhưng không làm Người chùn bước, trái lại, càng tôi luyện, hun đúc lòng yêu nước nồng nàn với mục tiêu giải phóng dân tộc kiên định. Người tranh thủ mọi thời cơ để học hỏi, nghiên cứu các học thuyết cách mạng, hòa mình vào thực tiễn đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở các nước tư bản và thuộc địa.

Chính chủ nghĩa yêu nước cùng với những năm tháng tìm tòi không mệt mỏi về lý luận và hoạt động trong phong trào công nhân quốc tế, người thanh niên Việt Nam Nguyễn Tất Thành bất chấp mọi hiểm nguy, đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, trở thành nhà hoạt động quốc tế xuất sắc Nguyễn Ái Quốc.

Sớm nhận thức được xu thế phát triển tất yếu của lịch sử và tính chất của thời đại mới mà Cách mạng tháng Mười mở ra, Người đã khám phá ra chân lý "Chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ".

Năm 1917, Nguyễn Ái Quốc trở về Pháp, sống ở Paris, tham gia những hoạt động của Đảng xã hội Pháp, tham gia trong hoạt động của những người yêu nước Việt Nam tại Pháp. Đặc biệt, ngày 16 và 17/7/1920 trên báo Nhân đạo đăng Sơ thảo lần thứ nhất những Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lênin với tiêu đề chạy suốt cả trang báo đã ngay lập tức thu hút sự chú ý của Nguyễn Ái Quốc. Tên bài báo có liên quan đến vấn đề thuộc địa - một vấn đề mà Người đang theo đuổi tìm kiếm. Đọc Sơ thảo luận cương của Lênin là sự kiện mang tính chất bước ngoặt đối với Nguyễn Ái Quốc. Người đã khẳng định: "Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta". Sau nhiều năm tìm tòi cuối cùng Nguyễn Ái Quốc cũng tìm ra được "cẩm nang" để giải phóng dân tộc. Từ chủ nghĩa yêu nước Người đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, tạo ra bước chuyển căn bản, quyết định trong nhận thức tư tưởng của nhà cách mạng Việt Nam trẻ tuổi và mở đầu một chuyến biến cách mạng thực sự trong lịch sử tư tưởng nước ta.

bac-ho-ve-nuoc.jpg

Nguyễn Ái Quốc về nước ngày 28-1-1941. Tranh: TRỊNH PHÒNG

Sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, ngày 28/1/1941, Nguyễn Ái Quốc trở về nước để trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh cách mạng. Người chỉ ra rằng, trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, con đường duy nhất phải theo là con đường cách mạng dân tộc dân chủ do Đảng tiên phong của giai cấp công nhân lãnh đạo đánh đổ đế quốc, thực dân, giành độc lập dân tộc, sau đó tiến lên thực hiện cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội là sự vận dụng sáng tạo học thuyết Mác - Lênin, thể hiện tính quy luật của sự phát triển lịch sử của xã hội Việt Nam, trở thành quan điểm xuyên suốt trong toàn bộ tư tưởng và sự nghiệp cách mạng của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. Đó chính là "Đường cách mệnh" cho dân tộc ta mà Người đã chọn. Thực tế lịch sử đã chứng minh sự lựa chọn đó là sự lựa chọn lịch sử, sự lựa chọn duy nhất đúng đắn.

Dưới ánh sáng của tư tưởng Hồ Chí Minh, lớp lớp thế hệ người Việt Nam đã vững bước trên con đường mà Người đã chọn. Đó là con đường của độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, con đường mang tầm nhìn thời đại đưa đất nước và dân tộc ta vượt qua biết bao khó khăn, thử thách, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, thực hiện thành công đường lối đổi mới và hội nhập quốc tế. Vị thế, cơ đồ, tiềm lực và uy tín của nước ta trên trường quốc tế ngày càng nâng cao. 

113 năm đã trôi qua, ngày 05/6/1911 không chỉ đánh dấu bước ngoặt cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh, mà còn ghi vào lịch sử dân tộc ta thời khắc chuyển mình phát triển theo hướng mới, được dẫn dắt bởi người Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới - Hồ Chí Minh. Ngày nay, học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, đảng viên cần tiếp tục khẳng định công lao trời biển của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành trọn cuộc đời cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, làm cho nhân dân được ấm no, tự do, hạnh phúc; đồng thời, quyết tâm vận dụng, phát triển sáng tạo những gợi mở, chỉ dẫn, định hướng, dự báo từ tầm nhìn thời đại của Hồ Chí Minh để hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.

AN BÌNH

TrueChính trị
Danh sách 16 Ủy viên Bộ Chính trị khóa XIII (tính đến ngày 22/5/2024)Bài viếtH.TDanh sách 16 Ủy viên Bộ Chính trị khóa XIII (tính đến ngày 22/5/2024)/SiteAssets/Lists/ChinhTri/EditForm/HN-TW9-k13.jpg
22/05/2024 10:00 SANoĐã ban hành

(TUAG)- Hội nghị Trung ương Chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã bầu bổ sung 4 Ủy viên Bộ Chính trị. Như vậy, Bộ Chính trị khóa XIII hiện gồm có 16 Ủy viên.

HN-TW9-k13.jpg

1. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng

2. Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tô Lâm

3. Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Phạm Minh Chính

4. Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Trần Thanh Mẫn

5. Thường trực Ban Bí thư Lương Cường

6. Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương Trần Cẩm Tú

7. Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Nội chính Trung ương Phan Đình Trạc

8. Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tổ chức Trung ương, Chánh Văn phòng Trung ương Lê Minh Hưng

9. Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Nguyễn Trọng Nghĩa

10. Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Dân vận Trung ương Bùi Thị Minh Hoài

11. Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Đỗ Văn Chiến

12. Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phan Văn Giang

13. Bí thư Trung ương Đảng, Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao Nguyễn Hòa Bình

14. Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Nguyễn Xuân Thắng

15. Bí thư Thành ủy Hà Nội Đinh Tiến Dũng

16. Bí thư Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh Nguyễn Văn Nên

16-UVBCT-k13-22-5-2024.jpg

FalseChính trị
Những thành tựu lý luận lớn của Đảng qua gần 40 năm đổi mớiBài viếtAn BìnhNhững thành tựu lý luận lớn của Đảng qua gần 40 năm đổi mớihttps://www.angiang.dcs.vn/XDDImages/2020-11/Kinh-te-thi-truong-dh-XHCN1_Key_16112020101710.jpg
21/05/2024 5:00 SANoĐã ban hành

(TUAG)- Những thành tựu lý luận lớn của Đảng qua gần 40 năm đổi mới thể hiện sự kiên định mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội, sự phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn cách mạng Việt Nam. Theo đó, một trong những yêu cầu quan trọng hiện nay là cần tăng cường tổng kết những thành tựu lý luận của Đảng, nhằm góp phần phát triển, hoàn thiện, nâng tầm lý luận của Đảng, nhất là những nhận thức mới về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội đặc thù, riêng có ở Việt Nam, hướng đến thực hiện thắng lợi những mục tiêu xây dựng, phát triển đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.


Qua gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, hơn 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991), lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội (CNXH) và con đường đi lên CNXH ở nước ta ngày càng được phát triển và hoàn thiện. Công cuộc đổi mới, xây dựng, phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa (XHCN) do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng từ năm 1986 đến nay đã thu được những thắng lợi, thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử; đưa đất nước ta từ một nước nghèo trên thế giới trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình. Đất nước ta được xây dựng ngày càng đàng hoàng hơn, đời sống của Nhân dân ta ngày càng được cải thiện căn bản, toàn diện hơn, vị thế của đất nước ta trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao.

Có được những thành tựu to lớn, đáng tự hào đó, là do nhiều nguyên nhân, nhưng một trong những nguyên nhân quan trọng là do Đảng ta đã kiên định vận dụng sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn xây dựng CNXH ở Việt Nam; thường xuyên tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam cho phù hợp với thực tiễn phát triển của từng thời kỳ, dẫn dắt dân tộc ta vững vàng vượt qua mọi khó khăn, thách thức, không ngừng đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, khát vọng phát triển đất nước hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc.

VN_economy.jpg

Từ thực tế xây dựng, phát triển đất nước và quá trình nhận thức lý luận của Đảng ta qua gần 40 năm đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước theo con đường XHCN, có thể tổng kết những thành tựu lý luận lớn của Đảng ta với những nội dung chính yếu sau:

(1) Xác định, bổ sung, định hình ngày càng rõ hơn nội dung các đặc trưng của CNXH Việt Nam trên cơ sở nhận thức đúng đắn về thời kỳ quá độ lên CNXH trong điều kiện cụ thể của Việt Nam.

(2) Đảng ta đã tiến hành đổi mới tư duy, vận dụng sáng tạo lý luận CNXH khoa học, tư tưởng Hồ Chí Minh vào công cuộc đổi mới, xác lập mục tiêu phát triển trong xây dựng CNXH.

(3) Tổng kết, kế thừa, làm rõ phương hướng xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH.

(4) Phát hiện và xác định các mối quan hệ lớn cần giải quyết trong quá trình thực hiện các phương hướng xây dựng, phát triển đất nước.

(5) Hình thành khái niệm "kinh tế thị trường định hướng XHCN" là sự đổi mới căn bản nhận thức, sự đột phá trong tư duy lý luận và thực tiễn lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, xây dựng CNXH ở nước ta.

(6) Nhận thức ngày càng toàn diện hơn, sâu sắc hơn về động lực và nguồn lực xây dựng CNXH mang bản sắc Việt Nam, đặc biệt là đề cao vai trò của văn hóa với tư cách là sức mạnh nội sinh, xung lực quan trọng của quá trình phát triển đất nước.

(7) Tập trung xác lập mục tiêu, hệ giá trị nhân văn của CNXH Việt Nam trong bối cảnh mới; xử lý hài hòa, hợp lý mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế gắn với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường trong từng bước phát triển.

(8) Phát triển lý luận về quốc gia - dân tộc hiện đại và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ ngày càng nặng nề, phức tạp hơn trong giai đoạn phát triển mới.

(9) Lý luận về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân ngày càng được củng cố, phát triển nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước, tăng cường thực hành dân chủ, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của thực tiễn đổi mới, phát triển đất nước theo định hướng XHCN.

(10) Phát triển hơn nữa lý luận về vai trò, sứ mệnh của Đảng, đặc biệt là về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, nhằm bảo đảm sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng đối với sự nghiệp đổi mới đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.


Những thành tựu phát triển lý luận lớn của Đảng trong gần 40 năm đổi mới thể hiện sự kiên định mục tiêu xây dựng CNXH, sự phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam; có vai trò, ý nghĩa quyết định đối với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước ta trong gần 40 năm qua. Đây cũng sẽ là cơ sở khoa học, thực tiễn quan trọng giúp cho Đảng ta hoạch định đường lối, chủ trương xây dựng, phát triển đất nước trong thời kỳ mới, hướng tới thực hiện thắng lợi mục tiêu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng XHCN.

AN BÌNH

FalseĐưa Nghị quyết vào cuộc sống
Tháng Năm nhớ BácBài viếtAn BìnhTháng Năm nhớ Báchttps://www.angiang.dcs.vn/SiteAssets/AG-Giao-luu-HDH24-2.jpg
19/05/2024 5:30 SAYesĐã ban hành

(TUAG)- Cứ mỗi dịp đến ngày 19/5, những người con của dân tộc Việt Nam lại bồi hồi, xao xuyến nhớ về sinh nhật Bác Hồ; nhớ hình ảnh giản dị, ấm áp và bày tỏ lòng thành kính, tri ân những công lao trời biển mà Người đã dâng hiến cho dân tộc Việt Nam.


Tháng Năm nhớ Bác

Kỷ niệm sinh nhật đầu tiên của Bác 19/5/1946

Ngày 18/5/1946, trang nhất tờ Báo Cứu Quốc đã chính thức thông báo ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Ngày 19/5/1890. Trong bối cảnh nhà nước non trẻ mới giành được độc lập đang lâm vào tình thế "ngàn cân treo sợi tóc", việc kỷ niệm ngày sinh của Bác mang ý nghĩa biểu thị khối đại đoàn kết toàn dân.

Sáng 19/5/1946, tại Bắc bộ Phủ, các đại biểu thiếu nhi Thủ đô, tự vệ, hướng đạo và hơn 50 đại biểu Nam bộ đã đến chúc mừng sinh nhật Bác.

Ngay từ sáng sớm, các đồng chí trong Thường vụ và trong Chính phủ đã tới chúc thọ Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau đó, trong rừng cờ đỏ sao vàng, các cháu nhi đồng Tháng Tám, mũ ca-lô đội lệch, súng gỗ vác trên vai, kéo sang Bắc Bộ phủ. Bác Hồ cùng cụ Huỳnh Thúc Kháng và đồng chí Võ Nguyên Giáp vẫy tay chào các cháu. Bác đề nghị mở cửa Bắc Bộ phủ cho các cháu vào.

Trong các em thiếu nhi đến chúc mừng sinh nhật Bác hôm ấy, có em hằng ngày vẫn phải đi bán báo, có em là trẻ mồ côi ở trường trẻ mồ côi Hàng Bột. Các em đua nhau gắn huy hiệu măng mọc thẳng lên áo Bác, tặng Bác những chữ "i", "t" tượng trưng cho phong trào bình dân học vụ, những tập sách nhỏ in điều lệ và bài hát của Hội Nhi đồng cứu quốc.

Quà của Bác cho các cháu bé là một cây bách tán với lời gửi gắm: "Mai sau cái cây này sẽ mọc ra một trăm cái tán. Các cháu về chăm cho cây lớn, cây tốt thế là các cháu yêu Bác lắm đấy!".

Các em thiếu nhi vui mừng hát một bài cảm ơn Bác. Khi các em vừa khênh chậu cây bách tán ra thì một đoàn hơn 50 anh, chị là những người thay mặt cho miền Nam đang chiến đấu tới chúc mừng sinh nhật Bác. Trong phái đoàn có đồng chí Nguyễn Thị Định, người sau này trở thành một nữ tướng, người đại diện cho truyền thống "Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang" của Phụ nữ Việt Nam.

Cũng trong buổi sáng ngày 19/5/1946, Bác tiếp một số đoàn thể đến chúc mừng sinh nhật, trong đó có đại diện của Tổng hội Công chức và Hội đồng Kiến thiết quốc gia, Ban vận động Trung ương Đời sống mới. Lực lượng Thanh niên Thủ đô thì tổ chức tuần hành mừng sinh nhật Bác.

Xúc động trước tình cảm của đồng bào, đồng chí, Bác nói: "…Chỉ vì nhà báo nào biết đến ngày sinh của tôi mà đem ra làm bận rộn đến đồng bào. Từ trước tới nay tôi đã là người của đồng bào, thì từ nay về sau tôi vẫn thuộc về đồng bào. Tôi quyết giữ lòng trung thành với Tổ quốc… Hôm nay đồng bào cho tôi nhiều hoa bánh. Những thứ đó đáng giá cả. Nhưng xin đồng bào nghĩ đến các đồng bào nghèo khó, hơn là hao phí cho tôi".

Kỷ niệm sinh nhật Bác ở chiến khu Việt Bắc

Ở chiến khu Việt Bắc, công việc kháng chiến bề bộn nhưng Bác luôn tạo nên một không khí bình thản, tự tại, một cuộc sống đầm ấm mang nặng tình đồng chí, nghĩa đồng bào để vượt qua thử thách, gian nan, thiếu thốn. 

Sinh nhật năm 1948 là kỷ niệm không bao giờ quên đối với Bác. Trước đó vài ngày, đồng chí Lộc (tên thật là Nguyễn Văn Ty) - người phục vụ nấu ăn cho Bác cũng là người đồng chí, người bạn thân thiết đã cùng Bác hoạt động ở Thái Lan, Trung Quốc rồi sau đó theo Bác trở về nước tham gia hoạt động cách mạng - vừa mới qua đời do sốt rét ác tính. Vì vậy mà kỷ niệm sinh nhật Bác diễn ra lặng lẽ. 

BH-o-vietbac.jpeg

Người làm việc trong hang đá tại Việt Bắc vào năm 1951 (Ảnh tư liệu).

Sáng sớm ngày 19/5/1948, các đồng chí phục vụ mang một bó hoa rừng đến chúc mừng sinh nhật Bác. Khi nhận bó hoa rừng và những lời chúc mừng, Bác xúc động rơm rớm nước mắt: "Bác cảm ơn các chú. Bác đề nghị dành bó hoa này cùng đến viếng mộ đồng chí Lộc". Thế là lễ mừng sinh nhật của Bác Hồ năm ấy, Bác đã dành để nói chuyện về một tấm gương trung thành với Đảng, suốt đời làm việc cho Đảng, không tính toán cá nhân, đòi hỏi địa vị.

Ngày 19/5/1949, anh em cơ quan định tổ chức một bữa ăn mừng sinh nhật Bác. Lúc này bác cháu đang ở tại một bản đồng bào Mán, thuộc tỉnh Thái Nguyên, giáp Bắc Kạn. Anh em chưa kịp nói gì thì Bác đã chủ động thân mật bảo: "Bác cảm ơn các chú, thôi để về Thủ đô tha hồ mà chúc". Rồi Bác phân công anh em, người sang bên "vô tuyến điện" để lấy tin tức, người làm nốt một số công việc ở cơ quan, người thì đi làm thêm dây câu cá để cải thiện... Bác vừa thân tình không để cho anh em chúc thọ, vừa thiết thực giao việc cho anh em làm.

Kỷ niệm sinh nhật giải phóng

Sau 9 năm gian lao kháng chiến, quân và dân ta giành được những thắng lợi to lớn, đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ đầu tháng 5/1954. Chiến thắng Điện Biên Phủ diễn ra đúng dịp sinh nhật Bác Hồ kính yêu, là món quà vô giá và đặc biệt nhất của quân và dân ta kính dâng lên Bác nhân kỷ niệm ngày sinh của Người.

Sáng 19/5/1954, đoàn chiến sĩ thi đua từ mặt trận Điện Biên Phủ về mừng sinh nhật Bác. Bác khen ngợi và hỏi về đời sống chiến đấu ở Điện Biên Phủ cũng như hoàn cảnh gia đình của từng người. Bác xúc động khi nghe kể về hoàn cảnh khó khăn của các chiến sĩ và động viên: Đất nước rồi sẽ độc lập, chắc chắn dân sẽ đủ ăn. Bác căn dặn các chiến sĩ: Phải tranh thủ học tập thật nhiều nâng cao trình độ văn hóa. Có học mới phục vụ Nhân dân, phục vụ cách mạng. Bác tự tay gắn huy hiệu cho Hoàng Đăng Vinh, người đã bắt sống tướng De Castries. Gắn huy hiệu xong, Bác đề nghị để đạo diễn Liên Xô Roman Karmen cùng chụp ảnh với các chiến sĩ. Bác còn nói vui: "Phải cười tươi lên đấy! Ai cười to, Bác cưới cho vợ đẹp". Buổi tối, Bác mở tiệc chiêu đãi các chiến sĩ đã lập công trong chiến thắng Điện Biên Phủ và các bạn Liên Xô .

Kỷ niệm sinh nhật, Bác viết tài liệu "Tuyệt đối bí mật"

Những lần sinh nhật khác của Bác cũng thường chỉ là những lời chúc mừng và cảm ơn, một ít kẹo bánh mời khách. Đến năm 1965, dường như Bác dự liệu trước được quy luật khắc nghiệt mà cuộc đời bất kỳ con người nào cũng phải trải qua nên Bác bắt đầu viết "Di chúc" để lại cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta.

BH-viettailieu.jpg

Bác Hồ viết di chúc. Ảnh tư liệu

Sáng ngày 10/5/1965, tại phòng làm việc ở nhà sàn trong Phủ Chủ tịch, vào lúc 9h sáng - giờ đẹp nhất của một ngày, Bác đặt bút viết những dòng đầu tiên của tài liệu "Tuyệt đối bí mật". Những ngày tiếp theo của tháng 5/1965, Bác viết, sửa chữa, bổ sung tài liệu "Tuyệt đối bí mật".

Với đức khiêm tốn cao cả, Bác không gọi là "Di chúc", "Chúc thư" hay "Di huấn"... mà Bác gọi rất giản dị là "Tài liệu", là "Thư", là "Mấy lời… tóm tắt vài việc". Bác cũng không muốn cho nhiều người biết việc làm của một người sắp "đi xa", ngại dẫn đến những suy nghĩ không có lợi trong hoàn cảnh cả nước đang đánh Mỹ, nên mở đầu bài viết, Bác ghi rõ "Nhân dịp 75 tuổi" và phía bên lề trái, Bác ghi chú thêm hàng chữ "Tuyệt đối bí mật", có nghĩa tài liệu này sẽ chỉ được công bố khi Người "đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác".

Được biết Bác sẽ đi công tác xa, 18 giờ ngày 14/5/1965, các đồng chí trong Bộ Chính trị và một số đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng tranh thủ tới chúc thọ Bác. Một bó hoa tươi được đặt trang trọng giữa bàn. Bác Hồ thân mật hỏi: ''Bác muốn biết ai tổ chức cuộc gặp mặt hôm nay?...''. Đồng chí Lê Duẩn - Bí thư Thứ nhất Trung ương Đảng tủm tỉm cười đưa mắt nhìn sang Thủ tuớng Chính phủ Phạm Văn Đồng, Thủ tướng nhìn sang đồng chí Trường Chinh - Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Đồng chí Trường Chinh đứng dậy hướng về phía Bác Hồ: Thưa Bác! Nhân dịp kỷ niệm sinh nhật lần thứ 75 của Bác, chúng tôi thay mặt Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, xin kính chúc Bác mạnh khỏe, sống lâu.

Sau lời cảm ơn, Bác hỏi: Chú Kỳ xem có gì chiêu đãi không? Đồng chí Vũ Kỳ ra hiệu cho các đồng chí phục vụ chuyển bánh kẹo ra. Bác vui vẻ giơ cao tay mời tất cả mọi người ăn kẹo, bánh và dặn: ''Nhớ để dành phần cho các thím và các cháu ở nhà nữa''. Tất cả cười vang, đầm ấm, chan hòa. Lễ sinh nhật lần thứ 75 của một vị Chủ tịch Nước diễn ra như thế đó.

Theo đồng chí Vũ Kỳ, trong khoảng thời gian 4 năm, từ 10/5/1965 đến 19/5/1969, Bác đã dành 28 buổi, phần lớn mỗi buổi hai giờ rưỡi để viết Di chúc. Tại ngôi nhà sàn lộng gió, Bác ung dung, thư thái viết ra những điều suy nghĩ, đúc kết những tư tưởng lớn lao, những suy tư trăn trở và tầm nhìn bao quát về công cuộc đấu tranh thống nhất Tổ quốc và dựng xây lại cho đất nước "đàng hoàng hơn, to đẹp hơn". Di chúc của Bác do đó là tài sản tinh thần vô giá để lại cho thế hệ chúng ta hôm nay cũng như các thế hệ mai sau.

Kỷ niệm sinh nhật cuối cùng của Bác Hồ

Lần sinh nhật năm 1969, giữa lúc chiến tranh lan ra cả nước còn đang ác liệt. Đồng chí Vũ Kỳ kể lại: Bác đề nghị không tổ chức sinh nhật vì "Đồng bào ta, nhất là đồng bào miền Nam đang chiến đấu gian lao, hy sinh như thế, Bác không có lòng dạ nào hưởng niềm vui riêng". Bác không đồng ý về việc đưa ngày 19/5 là ngày kỷ niệm lớn trong năm 1970 và yêu cầu "tiền bạc dùng để tuyên truyền ngày sinh của Bác… nên dành để in sách giáo khoa và mua dụng cụ học tập cho các cháu, chớ lãng phí". Trước lời xin phép của Trung ương, nghĩ đến miền Nam và bạn bè quốc tế, Bác miễn cưỡng đồng ý tổ chức sinh nhật và giục: "Thôi, nếu vậy thì các chú làm thật nhanh cho Bác. Đừng kéo dài, đừng bày vẽ tốn kém. Chỉ cho Bác mấy bông hoa là được rồi. Chỉ 5 bông hồng đỏ thôi".

Ngày 18/5/1969, các cán bộ trong cơ quan Phủ Chủ tịch tổ chức mừng thọ Bác. Mọi người phấn khởi thưa với Bác về những chiến công mà quân và dân miền Nam đã giành được kính dâng lên Bác nhân dịp sinh nhật. Đồng chí Vũ Kỳ thay mặt các cán bộ văn phòng và những người giúp việc đứng dậy xúc động nói: "Thưa Bác, nguyện vọng tha thiết của anh em là cố gắng mọi mặt mong Bác ăn được ngon, ngủ được tốt. Kính chúc Bác mạnh khoẻ sống lâu, lãnh đạo toàn dân kháng chiến thắng lợi".

Chiều cùng ngày, các đồng chí trong Bộ Chính trị và một số đồng chí Ủy viên Trung ương vào chúc thọ Bác ở căn nhà họp Bộ Chính trị gần ngôi nhà sàn trong khu Phủ Chủ tịch. Buổi lễ mừng sinh nhật Bác lần thứ 79 rất đơn giản, đầm ấm. Mọi người đều đứng xung quanh Bác. Đồng chí Tố Hữu tặng hoa, đồng chí Lê Duẩn đọc lời chúc mừng sinh nhật Bác. Bác cười vui thân mật mời mọi người ăn bánh kẹo và không quên dặn "nhớ mang phần về cho các cô và các cháu ở nhà".

Ngày 19/5/1969, Bác vẫn dậy sớm như thường lệ và cố gắng tập những động tác thể dục đơn giản nhất. Bác cố gắng và kiên trì tập ném bóng vào chiếc giỏ đựng giấy để cách xa khoảng vài mét ở dưới nhà sàn. Bác chuẩn bị ra đi về cõi vĩnh hằng nhưng vẫn kiên nhẫn muốn có thêm thời gian, thêm sức khoẻ để ở lại với đồng bào, đồng chí, vì sự nghiệp cách mạng chưa trọn vẹn, miền Nam chưa được giải phóng, đất nước chưa được thống nhất.

9h sáng của ngày sinh nhật lần thứ 79, Bác lại ngồi vào bàn làm việc, xem và chỉnh sửa, bổ sung bản Di chúc. Bác thay đổi ba chữ trên trang đầu: Bác thêm chữ "rất" thay chữ "như thường" trong câu "Nhưng tinh thần, đầu óc vẫn sáng suốt như thường" để thành "Nhưng tinh thần, đầu óc vẫn rất sáng suốt"; Bác thay chữ "tuổi" bằng chữ "xuân" trong câu "Khi người ta đã ngoài 70 tuổi"  và Bác dùng từ "sẽ" thay chữ "phải" trong câu "phòng khi tôi phải đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác".

10h30 Bác tiếp và mời cơm chị Phan Thị Quyên (vợ liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi) và chị Nguyễn Thị Châu (Uỷ viên Ban Chấp hành Hội Liên hiệp Thanh niên và Sinh viên giải phóng khu Sài Gòn Chợ Lớn - Gia Định) đến chúc thọ. Và bữa cơm trưa ấy, ngày 19/5 cuối cùng trong cuộc đời 79 mùa xuân của Bác, đã diễn ra thật ấm cúng, thân tình: Bác ngồi ở đầu bàn, chị Quyên ngồi bên trái Bác, chị Châu ngồi bên phải Bác, cạnh Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Thế là gần đủ 3 thế hệ, có cả miền Bắc, miền Trung, miền Nam. Hôm ấy, Bác ăn ngon miệng, Bác vừa ăn, vừa nói chuyện rất vui.

BH-voiminenam.jpeg

Bác Hồ cùng đoàn đại biểu anh hùng chiến sĩ thi đua các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng miền Nam ra thăm miền Bắc ngày 11/11/1965 (Ảnh: Tư liệu)

Suốt 24 năm làm Chủ tịch nước, nhận trọng trách do nhân dân tín nhiệm, ủy thác, Bác Hồ không bao giờ coi mình là lãnh tụ mà chỉ như một người lính vâng lệnh quốc dân ra trận, suốt đời tận tụy phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Qua chuyện kể về những lần sinh nhật Bác góp phần thể hiện một nhân cách lớn, lòng yêu nhân dân thắm thiết, đạo đức chí công vô tư, tác phong khiêm tốn, giản dị.

Trong Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng do Tổng Bí thư Lê Duẩn đọc tại Lễ truy điệu trọng thể Hồ Chủ tịch, ngày 9/9/1969 có câu: "Vĩnh biệt Người, chúng ta thề: Suốt đời học tập đạo đức, tác phong của Người, bồi dưỡng phẩm chất cách mạng, không sợ gian khổ, không sợ hy sinh, rèn luyện mình thành những chiến sĩ trung thành với Đảng, với dân, xứng đáng là đồng chí, là học trò của Hồ Chủ tịch. Noi gương Người, toàn thể nhân dân ta, thanh niên ta nguyện ra sức trau dồi mình thành những con người mới, làm chủ đất nước, làm chủ xã hội mới, mang lá cờ bách chiến bách thắng của Hồ Chủ tịch tới đích cuối cùng". Đây vừa là lời thề, vừa là sự thể hiện quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trong nỗ lực học tập và làm theo ý nguyện của Người.


Kỷ niệm 134 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại (19/5/1890 - 19/5/2024), mỗi người dân Việt Nam nói chung và Nhân dân An Giang nói riêng đều cùng chung một tình cảm: Bác Hồ vẫn đời đời sống mãi cùng non sông, đất nước. Người luôn luôn dẫn dắt chúng ta. Chúng ta vẫn cảm thấy có Người luôn luôn bên cạnh. Bởi vì chúng ta vẫn đi theo con đường của Người, tiếp tục sự nghiệp vĩ đại của Người. Tên tuổi và hình ảnh của Người ngày càng khắc sâu trong trái tim và khối óc của mỗi chúng ta./.

AN BÌNH

TrueChính trị
Thông báo Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII TinAdminThông báo Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII /SiteAssets/Khaimac-HNTW9-13-6.jpg
18/05/2024 9:00 CHNoĐã ban hành

(TUAG)- Thực hiện Chương trình làm việc toàn khóa, từ ngày 16/5 đến ngày 18/5/2024, tại Thủ đô Hà Nội, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII họp Hội nghị lần thứ chín.

Khaimac-HNTW9-13-6.jpg

Hội nghị họp để thảo luận, cho ý kiến về các nội dung: Đề cương chi tiết Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng; Đề cương chi tiết Báo cáo 5 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2021 - 2030), Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm, giai đoạn 2026 - 2030; Đề cương Báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng trình Đại hội XIV của Đảng; Đề án Tổng kết Chỉ thị số 35-CT/TW, ngày 30/5/2019 của Bộ Chính trị và dự thảo Chỉ thị của Bộ Chính trị về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIV của Đảng; Báo cáo kết quả công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng năm 2023, phương hướng, nhiệm vụ năm 2024; công tác cán bộ và một số vấn đề quan trọng khác.

 Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì và có các bài phát biểu quan trọng khai mạc, bế mạc Hội nghị.

 1. Về tư tưởng chỉ đạo, định hướng hoàn thiện Đề cương và xây dựng dự thảo các văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

Ban Chấp hành Trung ương Đảng ghi nhận, đánh giá cao sự khẩn trương, nghiêm túc, trách nhiệm của các Tiểu ban Văn kiện, Tiểu ban Kinh tế - Xã hội và Tiểu ban Điều lệ Đảng trong việc xây dựng, chuẩn bị dự thảo các đề cương báo cáo. Các đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng dành nhiều thời gian nghiên cứu, thảo luận kỹ lưỡng, góp nhiều ý kiến sâu sắc, toàn diện, có giá trị vào dự thảo các đề cương báo cáo.

Trung ương nhấn mạnh dự thảo các văn kiện phải thực sự xứng tầm trình Đại hội, thể hiện được ý chí và sức mạnh vươn lên của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong thời kỳ phát triển mới; xác định đúng đắn những chủ trương, định hướng và các quyết sách lớn. Quá trình chuẩn bị văn kiện cần phải căn cứ vào kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII; các nghị quyết của Trung ương; tổng kết 40 năm đổi mới, 15 năm thực hiện Điều lệ và Cương lĩnh của Đảng (bổ sung, phát triển năm 2011)… và thực tiễn tình hình đất nước để đánh giá khách quan, khoa học, toàn diện các vấn đề; xác định đúng đắn các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và các giải pháp chủ yếu, đặc biệt là các nhiệm vụ trọng tâm và đột phá chiến lược cho nhiệm kỳ tới.

Các đại biểu tại phiên bế mạc. 

Ban Chấp hành Trung ương Đảng yêu cầu các Tiểu ban văn kiện nghiêm túc tiếp thu ý kiến của Hội nghị, khẩn trương hoàn thiện các Đề cương, bảo đảm sự thống nhất giữa các báo cáo, nhất là về chủ đề, quan điểm, tư tưởng chỉ đạo và mục tiêu tổng quát; trên cơ sở đó sớm bắt tay xây dựng dự thảo các văn kiện một cách ngắn gọn, súc tích, rõ ràng, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện, dễ kiểm tra.

2. Về chuẩn bị đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng

Ban Chấp hành Trung ương Đảng đánh giá cao công tác chuẩn bị Tờ trình và Đề án tổng kết việc thực hiện Chỉ thị số 35-CT/TW, ngày 30/5/2019 của Bộ Chính trị và và dự thảo Chỉ thị của Bộ Chính trị về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIV của Đảng.

Trung ương xác định đây là công việc hệ trọng, cần sớm triển khai thực hiện với tinh thần tiếp tục đổi mới theo hướng thiết thực, hiệu quả. Phát huy tinh thần trách nhiệm, thẳng thắn, Trung ương đã nghiên cứu, thảo luận kỹ lưỡng, đóng góp nhiều ý kiến thiết thực, cụ thể, toàn diện, sâu sắc vào Tờ trình và dự thảo Chỉ thị của Bộ Chính trị, trong đó, tập trung làm rõ mục đích, yêu cầu, nội dung đại hội đảng bộ các cấp và công tác chuẩn bị nhân sự, bầu cử cấp ủy, đặc biệt là việc rà soát, lựa chọn, giới thiệu và bầu những nhân sự thật sự xứng đáng, đủ tiêu chuẩn, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới; tỉ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số của cấp ủy tỉnh, thành phố; tiêu chuẩn, độ tuổi tham gia cấp ủy tỉnh, thành phố...

Ban Chấp hành Trung ương Đảng giao Bộ Chính trị khẩn trương chỉ đạo sớm hoàn chỉnh và ban hành Chỉ thị để định hướng cho toàn Đảng chuẩn bị và tiến hành thành công đại hội các cấp và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

Các đại biểu tại phiên bế mạc.  

3. Về công tác cán bộ

3.1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã dân chủ thảo luận, kỹ lưỡng xem xét và thống nhất cao về phương án kiện toàn chức danh Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhiệm kỳ 2021 - 2026 và Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, nhiệm kỳ 2021 – 2026 để Đảng đoàn Quốc hội giới thiệu với Quốc hội xem xét, quyết định tại Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XV.

3.2. Với tỷ lệ số phiếu tín nhiệm cao, Ban Chấp hành Trung ương Đảng bầu bổ sung 4 Ủy viên Bộ Chính trị khóa XIII, gồm các đồng chí:

- Đồng chí Lê Minh Hưng, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng.

- Đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương.

- Đồng chí Bùi Thị Minh Hoài, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Dân vận Trung ương.

- Đồng chí Đỗ Văn Chiến, Bí thư Trung ương Đảng, Bí thư Đảng đoàn, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Các đại biểu tại phiên bế mạc.  

4. Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định để đồng chí Trương Thị Mai thôi giữ các chức vụ Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII để nghỉ công tác vì đã có vi phạm về các điều đảng viên không được làm.

5. Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định:

Thi hành kỷ luật đồng chí Lê Thanh Hải, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Bí thư Thành ủy, Bí thư Ban cán sự đảng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh bằng hình thức Cách chức tất cả các chức vụ trong Đảng.

Thi hành kỷ luật đồng chí Dương Văn Thái, Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIII, Bí thư Tỉnh ủy Bắc Giang và đồng chí Mai Tiến Dũng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ bằng hình thức Khai trừ ra khỏi Đảng.

6. Ban Chấp hành Trung ương Đảng kêu gọi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân tăng cường đoàn kết, thống nhất, phát huy những kết quả quan trọng, toàn diện đạt được, nỗ lực phấn đấu vượt qua mọi khó khăn, thách thức, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền lãnh thổ và an ninh quốc gia, hoàn thành thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ đề ra cho năm 2024 và cả nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng./.



FalseChính trị
Bế mạc Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIIITinP.HBế mạc Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII/SiteAssets/Khaimac-HNTW9-13-1a.jpg
18/05/2024 7:10 CHNoĐã ban hành

(TUAG)- Sau gần 3 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, ngày 18/5, Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã hoàn thành vượt mức toàn bộ nội dung, chương trình đề ra và bế mạc. Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì, phát biểu khai mạc, bế mạc Hội nghị.

Khaimac-HNTW9-13-1a.jpg

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương lần thứ chín, khóa XIII.

Đồng chí Phạm Minh Chính, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ, điều hành phiên bế mạc. Đồng chí Lương Cường, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư trình bày Báo cáo tiếp thu, giải trình của Bộ Chính trị đối với các ý kiến thảo luận của Trung ương tại Hội nghị. Ban Chấp hành Trung ương Đảng thông qua Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9.

Phát biểu bế mạc Hội nghị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khái quát những kết quả chủ yếu của Hội nghị và nhấn mạnh thêm một số vấn đề để thống nhất lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện.

Dự thảo các văn kiện phải thể hiện ý chí, sức mạnh của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong thời kỳ mới

Tổng Bí thư yêu cầu, các Tiểu ban khẩn trương, nghiêm túc tiếp thu ý kiến của Hội nghị, hoàn thiện các Đề cương, bảo đảm sự thống nhất giữa các báo cáo, nhất là về chủ đề, quan điểm, tư tưởng chỉ đạo và mục tiêu tổng quát; trên cơ sở đó sớm bắt tay xây dựng dự thảo các văn kiện theo kế hoạch đã đề ra; trình bày ngắn gọn, súc tích, rõ ràng, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện.

Khaimac-HNTW9-13-6.jpg

Quang cảnh Hội nghị Trung ương lần thứ chín, khóa XIII.

Trung ương đặc biệt nhấn mạnh, dự thảo các văn kiện phải thực sự xứng tầm trình Đại hội, thể hiện được ý chí và sức mạnh vươn lên của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong thời kỳ phát triển mới với khí thế mới, động lực mới, cũng như những thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức mới đan xen, quyết tâm xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh, dân chủ, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Các dự thảo văn kiện phải xác định đúng đắn những chủ trương, định hướng và các quyết sách lớn bảo đảm thực hiện thành công sự nghiệp tiếp tục đẩy mạnh đổi mới toàn diện và đồng bộ, xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong 5 năm tới, đến năm 2030 (100 năm thành lập Đảng) và tầm nhìn đến năm 2045 (100 năm thành lập nước).

Tổng Bí thư yêu cầu, quá trình chuẩn bị các văn kiện, phải căn cứ vào kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII, tổng kết 40 năm đổi mới, 15 năm thực hiện Điều lệ và Cương lĩnh của Đảng (bổ sung, phát triển năm 2011); đồng thời đánh giá một cách khách quan, khoa học toàn diện các vấn đề, nhất là những vấn đề phức tạp mới phát sinh; phân tích sâu sắc các nguyên nhân; dự báo có cơ sở khoa học tình hình đất nước, khu vực và thế giới. Từ đó, xác định đúng đắn các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và các giải pháp chủ yếu, đặc biệt là các nhiệm vụ trọng tâm và đột phá chiến lược cho nhiệm kỳ tới.

Tổng Bí thư gợi mở nhiều vấn đề cần nghiên cứu trong quá trình dự thảo văn kiện: Phải chăng sau 40 năm đổi mới, chúng ta đã thực sự hình thành được Lý luận về đường lối đổi mới ở Việt Nam; trong nhiệm kỳ này, cần tập trung ưu tiên thực hiện thật tốt 12 định hướng phát triển đất nước và 6 nhiệm vụ trọng tâm như trong Đề cương Báo cáo Chính trị đã nêu? Đặc biệt là, nên chăng, trong giai đoạn phát triển mới vẫn cần tiếp tục triển khai thực hiện ba đột phá chiến lược đã được Đại hội XIII đề ra; tuy nhiên cần tập trung vào những nội dung rất then chốt, cụ thể hơn, như: xây dựng và thực hiện đồng bộ thể chế, chính sách để thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, khuyến khích tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đột phá phát triển; đổi mới căn bản, toàn diện công tác cán bộ, thu hút, bồi dưỡng, phát triển, trọng dụng nhân tài; và xây dựng kết cấu hạ tầng cho chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, để thực sự tạo ra đột phá phát triển?

Tổng Bí thư cũng chỉ rõ, quá trình dự thảo văn kiện, cần đi sâu phân tích, đánh giá việc triển khai thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ 5 năm 2021-2025, khẳng định những kết quả, thành tựu đã đạt được; chỉ rõ những hạn chế, yếu kém còn tồn tại, nguyên nhân, bài học kinh nghiệm; làm rõ những nội dung đổi mới, những nhân tố mới tốt hơn, tích cực hơn của nhiệm kỳ khóa XIII so các nhiệm kỳ trước; đồng thời dự báo khả năng thực hiện Cương lĩnh, mục tiêu Chiến lược phát triển đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Chú trọng làm rõ những vấn đề lớn, quan trọng liên quan phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội nhanh và bền vững; bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại; xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị thực sự trong sạch, vững mạnh toàn diện.

Thảo luận dân chủ, cho ý kiến chỉ đạo việc chuẩn bị đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội XIV của Đảng

Tại Hội nghị, Trung ương đã tập trung thảo luận, phân tích, tạo sự đồng thuận cao những nội dung Bộ Chính trị xin ý kiến, bao gồm: Những nội dung Chỉ thị số 35-CT/TW còn phù hợp; những nội dung cần kế thừa nhưng phải điều chỉnh, bổ sung; những nội dung cụ thể hóa các nghị quyết, quy chế, quy định của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII,...

Tổng Bí thư yêu cầu, đây là công việc hệ trọng, cần sớm được triển khai thực hiện với tinh thần tiếp tục đổi mới theo hướng thiết thực, hiệu quả; phát huy dân chủ đi đôi với giữ vững nguyên tắc, kỷ luật, kỷ cương của Đảng; bảo đảm tăng cường đoàn kết, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng và đảng viên. Các cấp ủy đảng cần quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo việc thảo luận, góp ý vào các dự thảo văn kiện của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV và đại hội đảng bộ cấp trên; đồng thời chuẩn bị thật tốt các báo cáo của cấp ủy cấp mình.

Báo cáo của ban chấp hành đảng bộ cần quán triệt định hướng chuẩn bị Văn kiện trình Đại hội XIV; bám sát tình hình thực tế của địa phương, đơn vị; đánh giá đúng tình hình thực hiện nghị quyết của nhiệm kỳ qua; chỉ rõ những kết quả, thành tích đã đạt được, những hạn chế, yếu kém còn tồn tại và nguyên nhân, bài học kinh nghiệm; từ đó đề ra phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp có tính khả thi cao cho nhiệm kỳ tới và tầm nhìn xa hơn. Việc chuẩn bị đại hội đảng bộ các cấp phải gắn liền việc thực hiện nhiệm vụ thường xuyên, bảo đảm hiệu quả cao. Chú ý phát hiện, giải quyết những vấn đề thực tế đang đặt ra, nhất là những vấn đề gây bức xúc trong nhân dân.

Công tác chuẩn bị nhân sự và bầu cử cấp ủy phải thực hiện theo đúng Điều lệ, quy chế, quy định của Đảng; rà soát thật kỹ để lựa chọn, giới thiệu và bầu được những đồng chí thật sự xứng đáng, đủ tiêu chuẩn, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới; chú ý phát hiện, giới thiệu những nhân tố mới có triển vọng, bảo đảm tỷ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc.

Ban Chấp hành Trung ương giao Bộ Chính trị, sau Hội nghị này, khẩn trương chỉ đạo sớm hoàn chỉnh và ban hành Chỉ thị để định hướng cho toàn Đảng chuẩn bị và tiến hành thành công đại hội các cấp, góp phần cho thành công Đại hội XIV của Đảng.

Khaimac-HNTW9-13-5.jpg

Các đại biểu dự Hội nghị Trung ương lần thứ chín, khóa XIII.

Quyết định một số vấn đề quan trọng về công tác cán bộ

Tại Hội nghị, Ban Chấp hành Trung ương đã dân chủ thảo luận, kỹ lưỡng xem xét và thống nhất cao về phương án kiện toàn chức danh Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội để Đảng đoàn Quốc hội giới thiệu với Quốc hội xem xét, quyết định tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XV.

Ban Chấp hành Trung ương đã bầu bổ sung vào Bộ Chính trị với tỷ lệ số phiếu tín nhiệm cao, các đồng chí: Lê Minh Hưng, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng; Nguyễn Trọng Nghĩa, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương; Bùi Thị Minh Hoài, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Dân vận Trung ương; Đỗ Văn Chiến, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam.

Ban Chấp hành Trung ương đã quyết định để đồng chí Trương Thị Mai thôi giữ các chức vụ Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII để nghỉ công tác vì đã có vi phạm về các điều đảng viên không được làm.

Ban Chấp hành Trung ương đã quyết định thi hành kỷ luật khai trừ ra khỏi Đảng đối với các ông: Dương Văn Thái, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Bắc Giang; Mai Tiến Dũng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ; cách chức tất cả các chức vụ trong Đảng đối với đồng chí Lê Thanh Hải, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Bí thư Thành ủy, nguyên Bí thư Ban Cán sự đảng, nguyên Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh vì đã vi phạm quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

Tổng Bí thư yêu cầu, ngay sau Hội nghị này, cần phải nghiêm túc, khẩn trương nghiên cứu, hoàn chỉnh các đề cương và xây dựng dự thảo các văn kiện Đại hội, trình Hội nghị Trung ương 10 xem xét, quyết định để gửi xin ý kiến của đại hội đảng bộ các cấp; chỉ đạo thật tốt việc thực hiện Chỉ thị của Bộ Chính trị về tổ chức đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội lần thứ XIV của Đảng; đồng thời, tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện các chương trình, kế hoạch đã đề ra cho các năm 2024-2025 với kết quả cao nhất, phấn đấu hoàn thành thắng lợi toàn diện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Nguồn: Báo Nhân dân

FalseChính trị
Ban Chấp hành Trung ương giới thiệu nhân sự Chủ tịch nước và Chủ tịch Quốc hội, bầu bổ sung 4 Ủy viên Bộ Chính trị TinH.TBan Chấp hành Trung ương giới thiệu nhân sự Chủ tịch nước và Chủ tịch Quốc hội, bầu bổ sung 4 Ủy viên Bộ Chính trị /SiteAssets/Khaimac-HNTW9-13-6.jpg
16/05/2024 8:30 CHNoĐã ban hành

(TUAG)- ​Tại Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII diễn ra vào sáng ngày 16/5, Trung ương đã cho ý kiến về công tác nhân sự.

Tại Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII diễn ra vào sáng ngày 16/5, Trung ương đã cho ý kiến về công tác nhân sự. 

Cụ thể, Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định giới thiệu nhân sự để Quốc hội khoá XV bầu giữ chức Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhiệm kỳ 2021 - 2026 và Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XV, nhiệm kỳ 2021 - 2026.

Đồng thời, Ban Chấp hành Trung ương Đảng bầu bổ sung 4 Uỷ viên Bộ Chính trị khoá XIII, gồm các đồng chí:

- Đồng chí Lê Minh Hưng, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng.

- Đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương.

- Đồng chí Bùi Thị Minh Hoài, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Dân vận Trung ương.

- Đồng chí Đỗ Văn Chiến, Bí thư Trung ương Đảng, Bí thư Đảng đoàn, Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

leminhhung-16524-1.jpg

nguyen-trong-nghia-16524.jpg

minh-hoai-16524.jpg

dovanchien-16524.jpg


Chương trình hội nghị, ngày 17/5, Ban Chấp hành Trung ương Đảng làm việc tại tổ để thảo luận các dự thảo trình Đại hội XIV của Đảng và các văn bản chỉ đạo đại hội đảng bộ các cấp.

Theo đó, Trung ương đã thảo luận về Đề cương Báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng trình Đại hội XIV của Đảng; cho ý kiến vào Đề án Tổng kết Chỉ thị số 35-CT/TW, ngày 30/5/2019 của Bộ Chính trị và dự thảo Chỉ thị của Bộ Chính trị về Đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIV của Đảng.

H.T

FalseChính trị
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu khai mạc Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII Bài viếtQ.HTổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu khai mạc Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII /SiteAssets/Khaimac-HNTW9-13-1.jpg
16/05/2024 11:15 SANoĐã ban hành

(TUAG)- Sáng 16/5, Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã khai mạc trọng thể tại Thủ đô Hà Nội. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì, phát biểu khai mạc Hội nghị.

Cổng Thông tin điện tử Đảng bộ tỉnh An Giang trân trong giới thiệu toàn văn bài phát biểu của Tổng Bí thư:

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu khai mạc Hội nghị. 

“Kính thưa Trung ương,

Thưa các đồng chí tham dự Hội nghị,

Theo chương trình vừa được Trung ương thông qua, Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII sẽ bàn về các vấn đề: Đề cương các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng; chuẩn bị cho việc chỉ đạo tiến hành đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIV của Đảng; và một số nội dung quan trọng khác.

Trước hết, tôi xin thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, nhiệt liệt hoan nghênh, chào mừng các đồng chí đã về dự Hội nghị lần này, và chân thành gửi tới toàn thể các đồng chí lời thăm hỏi ân cần, lời chúc mừng tốt đẹp nhất.

Theo Quy chế làm việc, Văn phòng Trung ương Đảng đã gửi dự thảo các tài liệu của Hội nghị để các đồng chí nghiên cứu trước. Sau đây, tôi xin phát biểu một số ý kiến có tính chất gợi mở, nhấn mạnh, nêu vấn đề, mong được các đồng chí quan tâm trong quá trình nghiên cứu, thảo luận, cho ý kiến quyết định.

1. Về việc chuẩn bị đề cương dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng

Theo kế hoạch, dự kiến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng sẽ được tổ chức vào đầu năm 2026, sau đúng một nhiệm kỳ 5 năm toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nỗ lực phấn đấu thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030, và đất nước ta đã trải qua 40 năm đổi mới, 50 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước, và hướng tới kỷ niệm Đảng ta tròn 100 năm thành lập. Đây sẽ là một sự kiện chính trị trọng đại, một dấu mốc rất quan trọng trên con đường phát triển cường thịnh, trường tồn của đất nước ta, dân tộc ta; khích lệ, cổ vũ, động viên, định hướng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tự hào và tự tin dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, tiếp tục kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, phát triển nhanh, bền vững đất nước, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, xây dựng một nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh, dân chủ, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc; phấn đấu thực hiện thắng lợi các mục tiêu đến năm 2030 khi Đảng ta tròn 100 năm tuổi, và đến năm 2045 khi Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, nay là Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tròn 100 năm thành lập.

Các đồng chí chủ trì Hội nghị.

Thời gian qua, thực hiện Nghị quyết của Hội nghị Trung ương 8 khoá XIII, các Tiểu ban Văn kiện, Tiểu ban Kinh tế - Xã hội và Tiểu ban Điều lệ Đảng đã khẩn trương, nghiêm túc chuẩn bị dự thảo các Đề cương Báo cáo chính trị, Báo cáo kinh tế - xã hội, Báo cáo xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng; xin ý kiến Bộ Chính trị tiếp tục hoàn thiện để trình Trung ương xem xét, cho ý kiến tại Hội nghị này.

Tuy mới là dự thảo đề cương nhưng đây là bước khởi đầu rất quan trọng, định hướng cho việc chuẩn bị có chất lượng các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng. Mong Trung ương dành thời gian nghiên cứu kỹ lưỡng các tài liệu, thảo luận, cho ý kiến đối với các đề xuất cụ thể nêu trong các Tờ trình và dự thảo Đề cương Báo cáo, trước hết là về các vấn đề: Chủ đề và phương châm của Đại hội; tiêu đề của Báo cáo chính trị, Báo cáo kinh tế - xã hội, Báo cáo xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng; kết cấu và những nội dung lớn của đề cương các báo cáo, đặc biệt là những vấn đề cần được tập trung nghiên cứu làm rõ trong quá trình xây dựng các văn kiện đã được nêu trong dự thảo Đề cương chi tiết Báo cáo chính trị và Tờ trình của Tiểu ban Văn kiện.

Trong quá trình thảo luận, cũng cần làm rõ tính chất, mục tiêu, yêu cầu và phạm vi của mỗi báo cáo và mối quan hệ giữa các báo cáo. Báo cáo chính trị là văn kiện trung tâm của Đại hội, có nhiệm vụ tiếp tục cụ thể hoá Cương lĩnh của Đảng để lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong nhiệm kỳ mới. Nội dung của Báo cáo chính trị phải mang tầm khái quát cao những vấn đề thuộc về quan điểm, tư tưởng, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Báo cáo kinh tế - xã hội, Báo cáo xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng là những báo cáo chuyên đề, chuyên sâu về việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng, chỉnh đốn Đảng, là căn cứ cụ thể minh chứng cho sự đúng đắn của những nhận định, đánh giá tình hình và quán triệt, cụ thể hoá những định hướng lớn về chủ trương, chính sách, giải pháp được khái quát trong Báo cáo chính trị; cần có sự phù hợp, nhất quán với quan điểm, định hướng lớn nêu trong Báo cáo chính trị, nhưng không trùng lắp với Báo cáo chính trị. Đặc biệt là, Báo cáo xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng cần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng (nếu có) và xây dựng dự thảo Điều lệ mới của Đảng trình Đại hội XIV xem xét, quyết định.

Dự thảo Đề cương các văn kiện trình Hội nghị lần này mới chỉ nêu định hướng, có tính chất mở với nhiều phương án khác nhau để Trung ương cho ý kiến chỉ đạo, lựa chọn một bước, sau đó tiếp tục nghiên cứu, chuẩn bị theo quy trình, qua các bước thảo luận tại đại hội đảng bộ các cấp, cuối cùng Trung ương sẽ quyết định để trình ra Đại hội toàn quốc của Đảng. Riêng về kết cấu của các báo cáo thì cần được quyết định sớm ngay tại Hội nghị này, để kịp hoàn thiện dự thảo đề cương và biên soạn nội dung chi tiết. Về cách viết, cũng nên có sự đổi mới sao cho sinh động, ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm, dễ kiểm tra việc tổ chức thực hiện.

Các đại biểu tại Hội nghị. 

2. Về định hướng chuẩn bị đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng

Để thống nhất lãnh đạo, chỉ đạo việc chuẩn bị và tiến hành đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Bộ Chính trị cần ban hành Chỉ thị về vấn đề này. Đây là công việc hết sức quan trọng, bảo đảm thành công của đại hội đảng bộ các cấp và góp phần cho thành công của Đại hội toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, cần được các đồng chí Trung ương cho ý kiến.

Thời gian qua, Bộ Chính trị đã chỉ đạo tổng kết việc thực hiện Chỉ thị số 35-CT/TW, ngày 30/5/2019 của Bộ Chính trị khoá XIII về vấn đề này; khẳng định những kết quả, bài học kinh nghiệm cần được kế thừa, phát huy; đồng thời chỉ rõ những hạn chế, khiếm khuyết cần rút kinh nghiệm và kịp thời điều chỉnh. Trên cơ sở đó, xây dựng dự thảo Chỉ thị mới trình Ban Chấp hành Trung ương cho ý kiến để hoàn chỉnh trước khi ban hành.

Đề nghị các đồng chí quan tâm thảo luận thật cụ thể về Tờ trình và dự thảo Chỉ thị, tập trung làm rõ mục đích, yêu cầu, nội dung đại hội đảng bộ các cấp và công tác chuẩn bị nhân sự, bầu cử cấp uỷ, đặc biệt là về cơ cấu, số lượng cấp uỷ tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; tỉ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số của cấp uỷ tỉnh, thành phố; tiêu chuẩn, độ tuổi tham gia cấp uỷ tỉnh, thành phố (về tuổi tái cử và lần đầu tham gia cấp uỷ khi đã nâng tuổi nghỉ hưu lên 60 đối với nữ và 62 đối với nam); về bầu cử cấp uỷ và bầu đại biểu đi dự đại hội đảng bộ cấp trên...

Thưa các đồng chí,

Nội dung chương trình Hội nghị Trung ương lần này tuy không nhiều đầu việc nhưng có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị của Ban Chấp hành Trung ương khoá XIII chuẩn bị các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng và chỉ đạo chuẩn bị đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIV của Đảng. Vì vậy, đề nghị Trung ương và các đồng chí tham dự Hội nghị phát huy trí tuệ, tinh thần trách nhiệm, tập trung nghiên cứu, thảo luận kỹ lưỡng, cho ý kiến để hoàn thiện các báo cáo, đề án và xem xét, quyết định vào cuối kỳ họp.

Với tinh thần đó, tôi xin tuyên bố khai mạc Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII. Chúc Hội nghị của chúng ta thành công tốt đẹp.

Tôi xin trân trọng cảm ơn!”


FalseChính trị
Khai mạc Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIIITinAdminKhai mạc Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII/SiteAssets/Khaimac-HNTW9-13-2.jpg
16/05/2024 10:00 SANoĐã ban hành

(TUAG)- Sáng 16/5, Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã khai mạc trọng thể tại Thủ đô Hà Nội. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì, phát biểu khai mạc Hội nghị. Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính điều hành Phiên khai mạc.

Khaimac-HNTW9-13-1.jpg

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu khai mạc Hội nghị.

Tại Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Trung ương sẽ bàn về các nội dung: Đề cương các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng; chuẩn bị cho việc chỉ đạo tiến hành đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIV của Đảng và một số vấn đề quan trọng khác.
Chuẩn bị đề cương các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng

Phát biểu khai mạc Hội nghị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ, theo kế hoạch, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng sẽ diễn ra vào đầu năm 2026, sau đúng một nhiệm kỳ 5 năm toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nỗ lực phấn đấu thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030 và đất nước ta đã trải qua 40 năm đổi mới, 50 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước và hướng tới kỷ niệm Đảng ta tròn 100 năm thành lập. Đây sẽ là một sự kiện chính trị trọng đại, một dấu mốc rất quan trọng trên con đường phát triển cường thịnh, trường tồn của đất nước ta, dân tộc ta; khích lệ, cổ vũ, động viên, định hướng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tự hào và tự tin dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, tiếp tục kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, phát triển nhanh, bền vững đất nước, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, xây dựng một nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh, dân chủ, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc; phấn đấu thực hiện thắng lợi các mục tiêu đến năm 2030 khi Đảng ta tròn 100 năm tuổi và đến năm 2045 khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nay là nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam tròn 100 năm thành lập.

Khaimac-HNTW9-13-2.jpg

Toàn cảnh Hội nghị.  

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho biết, thời gian qua, thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII của Đảng, Tiểu ban Kinh tế - Xã hội và Tiểu ban Điều lệ Đảng đã khẩn trương, nghiêm túc chuẩn bị dự thảo Đề cương Báo cáo chính trị, Báo cáo kinh tế - xã hội, Báo cáo xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng; xin ý kiến Bộ Chính trị tiếp tục hoàn thiện để trình Trung ương xem xét, cho ý kiến tại Hội nghị này.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng yêu cầu Trung ương dành thời gian nghiên cứu kỹ lưỡng các tài liệu, thảo luận, cho ý kiến đối với các đề xuất cụ thể nêu trong các Tờ trình và dự thảo Đề cương Báo cáo, trước hết là về các vấn đề: Chủ đề và phương châm của Đại hội; tiêu đề của Báo cáo chính trị, Báo cáo kinh tế - xã hội, Báo cáo xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng; kết cấu và những nội dung lớn của đề cương các báo cáo, đặc biệt là những vấn đề lớn cần được tập trung nghiên cứu làm rõ trong quá trình xây dựng các văn kiện đã được nêu trong dự thảo Đề cương chi tiết Báo cáo chính trị và Tờ trình của Tiểu ban Văn kiện.

Trong quá trình thảo luận, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lưu ý, cần làm rõ tính chất, mục tiêu, yêu cầu và phạm vi của mỗi báo cáo và mối quan hệ giữa các báo cáo. Báo cáo chính trị là văn kiện trung tâm của Đại hội, có nhiệm vụ tiếp tục cụ thể hóa Cương lĩnh của Đảng để lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong nhiệm kỳ mới. Nội dung của Báo cáo chính trị phải mang tầm khái quát cao những vấn đề thuộc về quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Về Báo cáo kinh tế - xã hội, Báo cáo xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng, cần có sự phù hợp, nhất quán với quan điểm, định hướng lớn nêu trong Báo cáo chính trị, nhưng không trùng lắp với Báo cáo chính trị. Đặc biệt là, Báo cáo xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng cần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng (nếu có) và xây dựng dự thảo Điều lệ mới của Đảng trình Đại hội XIV xem xét, quyết định.

Đề cương các văn kiện trình Hội nghị lần này mới nêu định hướng, có tính chất mở với nhiều phương án khác nhau để Trung ương cho ý kiến chỉ đạo, lựa chọn một bước, sau đó tiếp tục nghiên cứu, chuẩn bị theo quy trình, qua các bước thảo luận tại đại hội đảng bộ các cấp, cuối cùng Trung ương sẽ quyết định để trình ra Đại hội toàn quốc của Đảng.

Riêng về kết cấu của các báo cáo thì cần được quyết định sớm ngay tại Hội nghị này, để kịp hoàn thiện dự thảo đề cương và biên soạn nội dung chi tiết. Về cách viết cũng nên có sự đổi mới sao cho sinh động, ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện.

Cần ban hành Chỉ thị chuẩn bị Đại hội đảng bộ các cấp

Về định hướng chuẩn bị Đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ, để thống nhất lãnh đạo, chỉ đạo việc chuẩn bị và tiến hành đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Bộ Chính trị cần ban hành Chỉ thị về vấn đề này. Đây là công việc quan trọng, bảo đảm thành công của đại hội đảng bộ các cấp và góp phần cho thành công của Đại hội toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, cần được Trung ương cho ý kiến.

Khaimac-HNTW9-13-3.jpg

Thời gian qua, Bộ Chính trị đã chỉ đạo tổng kết việc thực hiện Chỉ thị số 35-CT/TW, ngày 30/5/2019 của Bộ Chính trị khóa XIII về vấn đề này; khẳng định những kết quả, bài học kinh nghiệm cần được kế thừa, phát huy; đồng thời chỉ rõ những hạn chế, khiếm khuyết cần rút kinh nghiệm và kịp thời điều chỉnh. Trên cơ sở đó, xây dựng dự thảo Chỉ thị mới trình Ban Chấp hành Trung ương cho ý kiến để hoàn chỉnh trước khi ban hành.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề nghị Trung ương quan tâm thảo luận cụ thể về Tờ trình và dự thảo Chỉ thị, tập trung làm rõ mục đích, yêu cầu, nội dung đại hội đảng bộ các cấp và công tác chuẩn bị nhân sự và bầu cử cấp ủy, đặc biệt là về cơ cấu, số lượng cấp ủy tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; tỉ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số của cấp ủy tỉnh, thành phố; tiêu chuẩn, độ tuổi tham gia cấp ủy tỉnh, thành phố (về tuổi tái cử và lần đầu tham gia cấp ủy khi đã nâng tuổi nghỉ hưu lên 60 đối với nữ và 62 đối với nam); về bầu cử cấp ủy và bầu đại biểu đi dự đại hội Đảng bộ cấp trên…

Tổng Bí thư nhấn mạnh, Chương trình Hội nghị Trung ương lần này có ý nghĩa quan trọng đối với việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII chuẩn bị các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng và chỉ đạo chuẩn bị Đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIV của Đảng.

Tổng Bí thư đề nghị Trung ương phát huy trí tuệ, tinh thần trách nhiệm, tập trung nghiên cứu, thảo luận kỹ lưỡng, cho ý kiến để hoàn thiện các báo cáo, đề án và xem xét, quyết định vào cuối kỳ họp.

Theo chương trình, Hội nghị làm việc đến ngày 18/5./.

Hiền Hòa - Phạm Cường

FalseChính trị
Ngay lúc sinh thời đã được ca ngợi như huyền thoại!Bài viếtTrung ThànhNgay lúc sinh thời đã được ca ngợi như huyền thoại!/Imagesnews/2024-05/134nam-sn-Bac_Key_14052024165015.jpg
14/05/2024 3:00 CHNoĐã ban hành

(TUAG)- Hồ Chí Minh sinh ra và lớn lên trong bối cảnh nước mất, nhà tan. Bằng một trí tuệ vô cùng sáng suốt, tư duy chính trị nhạy bén; ngay từ rất sớm Người đã nhận thức được đặc điểm và xu thế phát triển của thời đại. Từ đó dựng nên Đảng ta, đề ra đường lối cách mạng đúng đắn. Tư tưởng Hồ Chí Minh và sự nghiệp vô cùng phong phú, vĩ đại của Người không những là tài sản vô giá của dân tộc Việt Nam, nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam của cách mạng Việt Nam mà còn là đóng góp quý báu của Người vào sự nghiệp cách mạng của các dân tộc bị áp bức trên thế giới, vào sự phát triển những tinh hoa tư tưởng và văn hóa nhân loại.


Mô-đa-gát At-mét, Giám đốc UNESCO khu vực châu Á - Thái Bình Dương đã khẳng định: "Chỉ có ít nhân vật trong lịch sử trở thành một bộ phận của huyền thoại ngay khi còn sống và rõ ràng Hồ Chí Minh là một trong số đó. Người sẽ được ghi nhớ không phải chỉ là người giải phóng cho Tổ quốc và nhân dân bị đô hộ, mà còn là một nhà hiền triết hiện đại đã mang lại một viễn cảnh và hi vọng mới cho những người đang đấu tranh không khoan nhượng để loại bỏ bất công, bất bình đẳng khỏi trái đất này"… Người nhận được sự ngưỡng mộ, kính trọng từ nhiều bạn bè khắp năm châu không chỉ vì tài năng mà quan trọng hơn là còn vì sự mẫu mực về đạo đức. Người là tấm gương về lòng kiên định, trung thành tuyệt đối với mục tiêu, lý tưởng cách mạng; luôn gần dân, tin dân, yêu thương, quý trọng Nhân dân, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân… Nhà nghiên cứu Hélène Tourmaire tổng kết: "Hình ảnh của Hồ Chí Minh đã hoàn chỉnh với sự kết hợp đức khôn ngoan của Phật, lòng bác ái của Chúa, Triết học Mác, thiên tài cách mạng của Lênin và tình cảm của người chủ gia tộc, tất cả bao bọc trong một dáng dấp rất tự nhiên, bình dị và gần gũi".

Nhưng do lòng căm thù mù quáng! Trong cái gọi là "Chiến dịch Hạ bệ thần tượng", các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc, bôi nhọ thân thế, sự nghiệp của Hồ Chí Minh. Một nhà nghiên cứu ở Mỹ đã phê phán rằng: "Những người này hầu như không hề biết gì đến dư luận thế giới, nhất là trong các nước tiến bộ Âu Mỹ, đã nhận định về ông Hồ Chí Minh như thế nào… hãy đọc những cuốn sách về chiến tranh Việt Nam của các học giả, tướng lãnh Mỹ,… Phần nhận định tích cực về Hồ Chí Minh tràn ngập so với phần tiêu cực thưa thớt của một số người Việt hải ngoại mà tên tuổi không đáng kể,… ". Một tác giả khác cũng có cái nhìn tương tự: "Nhiều nhà tự xưng "đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền tại Việt Nam"… Vì thiếu nhận thức về lịch sử, đặc biệt lịch sử cận đại, cũng như hiện trạng của đất nước, hay vì thiếu lương thiện, hoặc cả hai, họ luôn hô hào chống đảng CSVN". "Ông Hồ Chí Minh là nhà cách mạng với lý tưởng giành lại "độc lập, tự chủ và thống nhất đất nước", "Những người chống cộng không những phủ nhận lý tưởng và những thành tựu của ông trong cuộc cách mạng giành lại độc lập và tự chủ cho đất nước, mà còn lăng nhục ông với những lởi lẽ thô bỉ đầy thù hận, và bằng những câu chuyện bịa đặt không bằng cớ"…

Một Nhà sử học Hoa Kỳ đã tổng hợp: "Khi tin tức về cái chết của ông Hồ Chí Minh được loan truyền thì khắp địa cầu đưa ra nhận xét về ông. Hà Nội nhận được tới hơn hai mươi hai ngàn (22.000) bức điện tín từ các thủ đô lớn của 121 quốc gia trên thế giới để bày tỏ lời ca ngợi ông và chia buồn với Nhân dân Việt Nam… Ngay cả những người vẫn thường khăng khăng chống lại chế độ Hà Nội cũng đánh giá ông bằng những lời lẽ kính trọng ông như là một người đã tận hiến cả cuộc đời cho đại cuộc chiến đấu giành độc lập và thống nhất đất nước cho tổ quốc ông, coi ông như là người phát ngôn xuất chúng cho các dân tộc bị bóc lột ở trên thế giới".

Trải qua gần một thế kỷ, mỗi thắng lợi và mỗi bước đi lên của cách mạng nước ta đều gắn liền với công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự soi đường, dẫn dắt của tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý báu của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác; góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc trên thế giới, vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Đây chính là nguyên nhân của mọi nguyên nhân khiến cho các thế lực thù địch luôn ra sức công kích, bôi nhọ thân thế và sự nghiệp vĩ đại của Người. Bọn chúng không từ bất cứ thủ đoạn nào kể cả bịa ra những điều tồi tệ nhất!

Cần lưu ý là các thế lực thù địch đã và đang ra sức lợi dụng các sai lầm khuyết điểm do sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên… Nhất là tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí,… Từ đó thêm thắt, tô vẻ, thêu dệt biến ít thành nhiều, biến hiện tượng cá biệt thành bản chất, thành cái phổ biến… Thậm chí dựng chuyện, biến không thành có; trắng đen lẩn lộn… Nhằm tạo ra sự hoài nghi, dao động, mất đoàn kết. Vì thế: Một trong những cách tốt nhất để bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh là phải ra sức học tập, thấm nhuần những di huấn của Người. Trên cơ sở sự hiểu biết đúng đắn và tình cảm sâu sắc đó, mỗi chúng ta sẽ chủ động, tích cực góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị thật sự trong sạch, vững mạnh; nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thật sự của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Tiếp tục phát huy truyền thống gắn bó máu thịt giữa Đảng với Nhân dân;… Đảng phải thật sự "là đạo đức, là văn minh", "xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của Nhân dân".

Học tập và tích cực làm theo Bác là vũ khí sắc bén để đập tan mọi sự xuyên tạc!

Trung Thành

FalseChính trị
Chiến thắng Điện Biên Phủ - thắng lợi của sức mạnh Việt Nam thời đại Hồ Chí MinhBài viếtAdminChiến thắng Điện Biên Phủ - thắng lợi của sức mạnh Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh/SiteAssets/A00505052024.jpg
07/05/2024 7:00 SANoĐã ban hành
(TUAG)-Ban Biên tập trân trọng giới thiệu nội dung bài viết "Chiến thắng Điện Biên Phủ - thắng lợi của sức mạnh Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh" của đồng chí Thượng tướng Nguyễn Trọng Nghĩa, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương nhân kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954 - 7/5/2024).
Một phần bức tranh panorama ''Chiến dịch Điện Biên Phủ’’ được trưng bày tại Bảo tàng Chiến thắng Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên. Ảnh: Báo Quân đội nhân dân.

Trong lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam, cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp xâm lược mà đỉnh cao chói lọi là Chiến thắng Điện Biên Phủ “Lững lẫy năm châu, chấn động địa cầu” ngày 7/5/1954, “được ghi vào lịch sử dân tộc như một Bạch Đằng, một Chi Lăng hay một Đống Đa trong thế kỷ XX, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công chói lọi đột phá thành trì của hệ thống nô dịch thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc”(1). Cuộc Tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953 - 1954 và Chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng đã kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến trường kỳ 9 năm gian khổ, toàn dân, toàn diện, dựa vào sức mình là chính, bảo vệ và phát triển thành quả của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, giải phóng hoàn toàn miền Bắc nước ta, mở ra chặng đường phát triển mới cho cách mạng Việt Nam, Lào, Campuchia.

KẾT TINH SỨC MẠNH CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM

Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ kết tinh sức mạnh của dân tộc Việt Nam được hun đúc, tiếp nối qua hàng ngàn năm lịch sử và dưới sự lãnh đạo của Đảng được phát huy, tỏa sáng trong thời đại Hồ Chí Minh. Sức mạnh đó là nhân tố cơ bản để làm nên chiến thắng, được thể hiện trên các vấn đề lớn sau đây:

Một là, sức mạnh của đường lối, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ của dân tộc.

Trải qua quá trình đấu tranh đầy gian khổ, hy sinh, nhân dân Việt Nam mới giành lại độc lập, tự do cho Tổ quốc với thắng lợi Cách mạng tháng Tám và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2/9/1945; bất chấp nguyện vọng hòa bình, hữu nghị, hợp tác bình đẳng với các nước dân chủ, sự nhân nhượng có nguyên tắc của nhân dân ta, thực dân Pháp ngày càng lấn tới, nhất định cướp nước ta một lần nữa. Đứng trước âm mưu và hành động xâm lược của kẻ thù, nhân dân ta chỉ còn con đường duy nhất để bảo vệ thành quả cách mạng là nhất tề đứng lên kháng chiến. Đây là một cuộc chiến tranh tự vệ, chiến tranh giải phóng, chiến tranh chính nghĩa, là “một cuộc chiến tranh tiến bộ vì tự do độc lập, dân chủ và hoà bình” của dân tộc ta.

Với trách nhiệm cao cả trước dân tộc, đối diện với họa xâm lăng của thực dân hiếu chiến Pháp, Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hoạch định đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh là chính và tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế. Đường lối đó được thể hiện trong Chỉ thị “Kháng chiến - kiến quốc” của Ban Thường vụ Trung ương (ban hành ngày 25/11/1945), Chỉ thị Toàn dân kháng chiến của Ban Thường vụ Trung ương Đảng (ban hành ngày 12/12/1946) và Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh (công bố ngày 19/12/1946); sau này được đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh cụ thể hóa trong tác phẩm Kháng chiến nhất định thắng lợi (xuất bản tháng 9/1947), được khái quát thành hai nhiệm vụ chiến lược “Vừa kháng chiến, vừa kiến quốc”.

Đường lối kháng chiến của Đảng là sự vận dụng tài tình và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin về chiến tranh cách mạng, truyền thống dựng nước đi đôi với giữ nước của dân tộc Việt Nam. Đó là đường lối chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, tạo thành sức mạnh tổng hợp đánh giặc, trong đó, có lực lượng vũ trang nhân dân với ba thứ quân mang bản chất giai cấp công nhân, trung thành vô hạn với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân làm nòng cốt. Cả dân tộc Việt Nam “bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc” đứng dậy chiến đấu bằng mọi thứ vũ khí có trong tay với ý chí “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Phương châm tác chiến đi từ chiến tranh du kích tiến dần lên chiến tranh chính quy, kết hợp chặt chẽ giữa chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy. Có thể nói, đây là đường lối chiến tranh nhân dân tài tình, sáng tạo được kế thừa và phát triển cao trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, với lực lượng nền tảng là giai cấp công, nông dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Thực hiện đường lối của Đảng, nhân dân ta vừa kháng chiến vừa kiến quốc, xây dựng hậu phương, căn cứ địa, nhất là căn cứ địa Việt Bắc; vừa chiến đấu vừa bồi dưỡng, phát triển lực lượng về mọi mặt, xây dựng phát triển quân đội nhân dân, đẩy mạnh công tác chỉnh huấn, chỉnh quân và tác chiến; phát triển dân quân du kích, dân quân tự vệ, chiến tranh du kích(2); chú trọng xây dựng Đảng(3), xây dựng chính quyền cách mạng; mở rộng tuyên truyền giáo dục chính trị và tuyên truyền những chiến thắng của quân và dân ta; phát động phong trào quần chúng, xây dựng và củng cố Mặt trận dân tộc thống nhất; chăm lo cải thiện đời sống nhân dân, mở rộng quyền dân chủ cho nhân dân; tích cực chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí(4); chống địch phá hoại, chống tuyên truyền lừa bịp của địch, phá âm mưu của địch xây dựng ngụy quyền và ngụy quân; phát triển công nghiệp phục vụ cho quốc phòng và dân sinh, sản xuất vũ khí, đạn dược, thuốc chữa bệnh, hóa chất, cơ khí...; đẩy mạnh Thi đua ái quốc, diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm, với những phong trào tiêu biểu như “Bình dân học vụ”(5), “Hũ gạo cứu đói”, “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”(6)... Trên mặt trận văn hóa, tư tưởng, chúng ta cũng đạt được những thành tích rất đáng phấn khởi trong việc phát triển nền văn hóa mới trên nguyên tắc “Phải triệt để tẩy trừ mọi di tích thuộc địa và ảnh hưởng nô dịch của văn hóa đế quốc. Đồng thời, phát triển những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc và hấp thụ những cái mới của văn hóa tiến bộ thế giới để xây dựng một nền văn hóa Việt Nam có tính chất dân tộc, khoa học và đại chúng(7). Qua đó, đã đào tạo con người mới và cán bộ mới cho kháng chiến, kiến quốc. Xây dựng và thực hiện chính sách dân tộc, chính sách đối với tôn giáo, chính sách đối với vùng tạm bị chiếm, chính sách đối với ngoại kiều, chính sách đối ngoại, xúc tiến việc giúp đỡ cuộc kháng chiến của nhân dân Lào, nhân dân Campuchia, cùng với nhiều cải cách trên các mặt kinh tế, văn hóa, xã hội…

Tháng 2/1951, Đại hội lần thứ II của Đảng đã tổng kết một bước quan trọng lý luận cách mạng Việt Nam, xác định đường lối tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tiến lên chủ nghĩa xã hội. Đại hội khẳng định đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài vì độc lập thống nhất, dân chủ là đúng đắn; đề ra khẩu hiệu chính của cách mạng là “tiêu diệt thực dân Pháp xâm lược và đánh bại can thiệp Mỹ, giành thống nhất, độc lập hoàn toàn, bảo vệ hòa bình thế giới(8). Chủ trương của Đại hội tiếp tục được cụ thể hóa qua các Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa II(9)... cùng với quyết tâm “Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi”.

Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tháng 3/1951) đã xác định “Do kháng chiến trường kỳ và gian khổ, ta phải ra sức mở mang kinh tế tài chính để bồi dưỡng sức dân và cung cấp cho nhu cầu quân đội...(10), nhân dân ta cũng ra sức tăng gia sản xuất và tiết kiệm để bảo đảm cung cấp những nguồn lực cần thiết cho đời sống và cho kháng chiến. Trong bối cảnh nước ta là một nước nông nghiệp lạc hậu, đại đa số dân cư là nông dân, Đảng ta đã coi trọng vấn đề nông dân, xác định đây là nền tảng để xây dựng chính quyền cách mạng, các vùng an toàn khu, căn cứ địa cách mạng để phát động chiến tranh nhân dân, xây dựng quân đội nhân dân… Đảng thực hiện chủ trương đem lại ruộng đất cho dân cày với 5 đợt giảm tô và 1 đợt cải cách ruộng đất từ tháng 4/1953 - 7/1954, qua đó, động viên được các tầng lớp nhân dân ở vùng tự do, mới giải phóng, vùng tạm bị địch chiếm tin tưởng vào đường lối, chính sách của Đảng và sự nghiệp cách mạng, góp phần xây dựng hậu phương, căn cứ địa của kháng chiến ngày càng vững mạnh để chiến thắng trong chiến tranh và chuẩn bị cho xây dựng đất nước về lâu dài.

Ngày 6/12/1953, Bộ Chính trị tổ chức cuộc họp dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh để nghe Tổng Quân ủy báo cáo và duyệt lần cuối kế hoạch tác chiến Đông - Xuân 1953 - 1954, đồng thời quyết định mở Chiến dịch Điện Biên phủ với quyết tâm tiêu diệt bằng được tập đoàn cứ điểm này. Ảnh: Tư liệu TTXVN.

Thực hiện đường lối đúng đắn sáng tạo của Đảng, quân và dân không ngừng tăng cường thế và lực cho cuộc kháng chiến, từng bước làm thất bại các kế hoạch chiến tranh của thực dân Pháp, tiến lên giành quyền chủ động chiến lược là cơ sở quan trọng để cuối tháng 9/1953, Bộ Chính trị họp bàn về nhiệm vụ quân sự, phân tích sâu sắc thế chiến lược giữa ta và địch, ra Nghị quyết lịch sử thông qua kế hoạch tác chiến Đông - Xuân 1953 - 1954, quyết tâm phá kế hoạch Nava, buộc thực dân Pháp từ tham vọng giành lại quyền chủ động lại tiếp tục lún sâu vào bị động, xây dựng Điện Biên Phủ thành tập đoàn cứ điểm hòng tạo trận giao chiến chiến lược ngoài kế hoạch. Trước tình thế mới, ngày 6/12/1953, Bộ Chính trị nghe Tổng Quân ủy báo cáo về phương án tác chiến mùa xuân năm 1954, xác định phương hướng chiến dịch, phương án tác chiến “trận Điện Biên Phủ sẽ là một trận công kiên lớn nhất từ trước tới nay,Vì vậy, sự chuẩn bị có nhiều khó khăn, cần ráo riết tập trung lực lượng mới làm kịp, nhưng nếu kiên quyết khắc phục khó khăn, hoàn thành được chiến dịch thì thắng lợi này sẽ là một thắng lợi rất lớn(11); trong đó, nêu rõ các công việc quan trọng cần chuẩn bị: về binh lực và thời gian tác chiến; về nhu cầu nhân lực, vật lực, phục vụ ở mặt trận; về lương thực phải huy động và đạn dược chuyển ra hỏa tuyến; về làm đường, sửa chữa các công trình giao thông và kế hoạch vận chuyển. Bộ Chính trị quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ, nhất trí thông qua phương án tác chiến của Tổng Quân ủy và thành lập Bộ Chỉ huy, Đảng ủy mặt trận; Chính phủ thành lập Hội đồng cung cấp mặt trận. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần gửi thư khen ngợi, động viên, khích lệ quân và dân Tây Bắc, cán bộ, chiến sĩ, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến mặt trận Điện Biên Phủ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cả hậu phương tập trung toàn lực chi viện cho chiến dịch. Đường lối và sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn của Đảng đã mở đường cho dân tộc ta đi đến những thắng lợi lịch sử trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược mà đỉnh cao là Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Hai là, sức mạnh của nghệ thuật quân sự tài tình, sáng tạo, cùng với sự trưởng thành và chiến đấu kiên cường, anh dũng của quân đội ta.

Sau những năm tháng chiến tranh xâm lược kéo dài và bị sa lầy tại Việt Nam, giới cầm quyền Pháp đã hết hy vọng giành chiến thắng, nhưng vẫn tin còn đủ thời gian và điều kiện để tìm một kết thúc có lợi. Ngày 24/7/1953, Chính phủ và Hội đồng quốc phòng Pháp thông qua kế hoạch quân sự mới của Nava - Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương, “chúng đề ra nhiệm vụ kiên quyết tập trung lực lượng cơ động để tấn công và tiêu diệt chủ lực của ta”(12) và thực tế đã tập trung được 44 tiểu đoàn cơ động (trong tổng số 84 tiểu đoàn trên toàn Đông Dương) ở đồng bằng Bắc Bộ(13) với hy vọng trong vòng 18 tháng sẽ giành lấy một thắng lợi quyết định để buộc ta phải đàm phán với những điều kiện có lợi cho chúng và kết thúc chiến tranh trong danh dự. Sau khi phân tích và đánh giá đúng tình hình chiến sự, giữa tháng 11/1953, Trung ương Đảng chủ trương tập trung lực lượng, mở những cuộc tiến công chiến lược nhằm vào những nơi mà lực lượng của địch tương đối yếu, buộc quân Pháp phải phân tán lực lượng, phá âm mưu tập trung binh lực của địch. Dưới sự chỉ đạo, điều động binh lực mưu trí của Đảng, của Tổng quân ủy, một bộ phận bộ đội ta thực hiện kế hoạch tiến quân lên Tây Bắc với một khí thế rất mạnh, buộc Nava phải cho quân nhảy dù chiếm đóng Điện Biên Phủ để đối phó. Từ chỗ không có trong kế hoạch, Điện Biên Phủ đã trở thành trung tâm của kế hoạch Nava, có vị trí chiến lược quan trọng, được xác định làm bàn đạp để chiếm lại Tây Bắc, uy hiếp hậu phương Việt Bắc của ta. Bộ Chính trị đã phân tích thấu đáo những điểm mạnh, ưu thế cũng như những nhược điểm của tập đoàn cứ điểm (trong đó cái yếu cơ bản là bị cô lập, mọi việc tiếp viện, tiếp tế phải dựa vào đường không), đánh giá đúng tình hình của ta trên các mặt từ lực lượng vũ trang, trang bị kỹ thuật, kinh nghiệm chiến đấu đến đường giao thông, chi viện sức người, sức của cho chiến dịch…, trên cơ sở đó quyết định chọn Điện Biên Phủ làm điểm quyết chiến chiến lược, tập trung đại bộ phận chủ lực tinh nhuệ của ta lên mặt trận, hạ quyết tâm phải tiêu diệt tập đoàn cứ điểm để tạo bước ngoặt mới trong chiến tranh.

Để tạo thuận lợi cho trận quyết chiến ở Điện Biên Phủ, Bộ Tổng Tư lệnh ra lệnh cho các đơn vị chủ lực phối hợp mở đợt tiến công mạnh mẽ trên các chiến trường với 5 đòn chiến lược(14), cùng những trận đánh khác trên khắp các chiến trường sau lưng địch; qua đó buộc quân Pháp phải phân tán lực lượng, không thể tập trung quân cho Điện Biên Phủ. Trước khi ra mặt trận, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dặn dò Đại tướng Võ Nguyên Giáp(15)Trận này rất quan trọng, phải đánh cho thắng. Chắc thắng mới đánh, không chắc thắng, không đánh”(16). Thời điểm ban đầu, Tổng Quân ủy xây dựng kế hoạch tác chiến dự kiến phương châm chiến dịch có thể là “đánh nhanh, giải quyết nhanh”. Tuy nhiên, từ nghiên cứu, đánh giá đúng đắn và toàn diện về tình hình thực tế, so sánh thế trận, tương quan lực lượng giữa ta và địch trên chiến trường, Bộ Tư lệnh chiến dịch, đứng đầu là Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã cân nhắc kỹ lưỡng và đưa ra quyết định vận dụng phương châm tác chiến phù hợp, chuyển từ phương châm “đánh nhanh, giải quyết nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”, nhằm chuẩn bị kỹ nhất cho một trận chắc thắng theo chủ trương của Đảng và chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thay đổi phương châm tác chiến, ta gặp không ít khó khăn như: thời gian tác chiến dài hơn, có những việc phải chuẩn bị lại từ đầu, nhất là việc tổ chức, bố trí hệ thống hoả lực của chiến dịch(17). Thực hiện chủ trương trên, quân ta từng bước hình thành thế trận “vây, lấn, tán, dũi” với hệ thống giao thông hào dày đặc vây siết địch theo từng cứ điểm, từng phân khu; bằng cách này ta đã phá vỡ cấu trúc cơ bản của tập đoàn cứ điểm, góp phần quan trọng vào thắng lợi của chiến dịch.

Khi thực dân Pháp và can thiệp Mỹ xây dựng Điện Biên Phủ thành tập đoàn cứ điểm mạnh nhất của chúng trên chiến trường Đông Dương, gồm nhiều trung tâm đề kháng phức tạp với binh lực, hỏa lực mạnh và được tổ chức phòng ngự ở trình độ cao(18), Nava và các chỉ huy Pháp - Mỹ coi đây là một pháo đài không thể công phá. Tuy nhiên, đối phương đã không thấy hết được sức mạnh của nghệ thuật quân sự tài tình, sáng tạo, cùng với tinh thần quyết chiến, quyết thắng của quân đội nhân dân và của cả dân tộc. Quân đội ta từ nhân dân mà ra, được rèn luyện trong chiến đấu (trong điều kiện địch rất mạnh, ta rất yếu), có truyền thống anh dũng, kiên cường, với chất lượng ngày càng được nâng cao qua nhiều chiến dịch: Việt Bắc (1947); Biên giới Thu Đông (1950); Trần Hưng Đạo (1950-1951); Hoàng Hoa Thám (1951); Quang Trung (1951); Hòa Bình (1951-1952); Tây Bắc (1952); Thượng Lào (1953)... và trong chỉnh huấn, chỉnh quân; với sự phát triển vượt bậc về tư tưởng chính trị, lực lượng, tổ chức chỉ huy; sự tiến bộ về trang bị kỹ thuật và bảo đảm hậu cần; tích lũy những kinh nghiệm nhất định về đánh công kiên, bước đầu huấn luyện để đánh tập đoàn cứ điểm, Quân đội nhân dân Việt Nam hoàn toàn có khả năng khắc phục khó khăn, giải quyết những vấn đề cần thiết bảo đảm cho chiến dịch quân sự quy mô lớn chưa từng có. Trên các chiến trường toàn quốc, đặc biệt tại chiến trường Điện Biên Phủ, sau 56 ngày đêm “khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt”, với 3 đợt tiến công, bộ đội ta mưu trí, sáng tạo, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, chấp hành nghiêm mệnh lệnh chiến trường, nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, quyết chiến - quyết thắng, kiên cường, dũng cảm hy sinh lập nhiều chiến công, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đập tan toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Nhiều tấm gương tiêu biểu như: Tô Vĩnh Diện, Phan Đình Giót, Trần Can, Tạ Quốc Luật, Đặng Đình Hồ, Hoàng Khắc Dược và nhiều anh hùng, liệt sĩ, chiến sĩ khác tích cực tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu đã làm rạng rỡ thêm truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam anh hùng.

Ba là, sức mạnh của lòng yêu nước và tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Chiến thắng Điện Biên Phủ là sự kết tinh trí tuệ, bản lĩnh của Đảng, với một bộ chỉ huy thao lược, tài ba và những cá nhân, đảng viên luôn tiên phong, gương mẫu, cùng với quân và dân ta trên khắp mọi miền của Tổ quốc đã nêu cao tinh thần yêu nước, đoàn kết rộng rãi, lao động quên mình, chiến đấu dũng cảm, khắc phục mọi khó khăn, vượt qua mọi gian khổ, đặt lợi ích của nhân dân, của cách mạng lên trên hết, sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì độc lập tự do. Lời hiệu triệu yêu nước, bảo vệ độc lập dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bản Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945 “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”, trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (19/12/1946) “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, khẩu hiệu Kháng chiến nhất định thắng lợi. Kiến quốc nhất định thành công của Đảng đã tác động sâu sắc đến lòng yêu nước và ý chí quật cường của dân tộc, trở thành biểu tưởng lớn của sức mạnh đại đoàn kết. Theo yêu cầu của kháng chiến, Đảng ta đã động viên toàn dân, đoàn kết các giai cấp cách mạng, các dân tộc, các phần tử yêu nước(19), củng cố và mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất (Mặt trận Việt Minh, Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam sau hợp nhất thành Mặt trận Liên Việt), thu hút tuyệt đại bộ phận nhân dân vào lực lượng chính trị của cuộc kháng chiến là Mặt trận dân tộc thống nhất trên cơ sở liên minh công nông rộng lớn, vững chắc chưa từng có, là cơ sở để xây dựng lực lượng to lớn của toàn dân tham gia cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc.

Hơn 261.000 dân công, gần 21.000 xe đạp thồ cùng các loại phương tiện thô sơ ngày đêm vận chuyển lương thực, vũ khí, đạn dược lên mặt trận Điện Biên Phủ. Ảnh tư liệu.

Thực hiện quyết tâm chiến lược của Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh là tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ, cả nước cùng ra trận với khí thế và tinh thần quyết chiến, quyết thắng. Nhân dân ta vừa “thi đua giết giặc lập công”, vừa “thi đua tăng gia sản xuất”; vừa tích cực, chủ động đánh phá, thủ tiêu chính quyền địch, vừa ra sức củng cố, phát triển, phát huy hiệu lực của chính quyền cách mạng, vừa đấu tranh phá hoại kinh tế của địch, vừa ra sức bảo vệ, phát triển nền tảng kinh tế kháng chiến, kinh tế dân chủ nhân dân. Lực lượng Công an tích cực bảo vệ dân công và các lực lượng tham gia chiến dịch, bảo vệ kho tàng, chống gián điệp, bảo vệ nội bộ, bảo vệ các cơ quan đầu não kháng chiến tuyệt đối an toàn. Cả hậu phương rộng lớn, từ vùng tự do Việt Bắc, Liên khu III, Liên khu IV, vùng mới giải phóng ở Tây Bắc, đến vùng du kích và căn cứ du kích đồng bằng Bắc Bộ đã tập trung huy động sức người, sức của cho chiến dịch. Riêng đồng bào các dân tộc Tây Bắc, Việt Bắc, Liên khu III và IV đã đóng góp hơn 260.000 dân công, 20.991 xe đạp thồ và hàng chục nghìn phương tiện thô sơ, vận chuyển ra mặt trận hơn 2 vạn tấn lương thực, cùng hàng triệu ngày công làm công tác vận chuyển vũ khí, trang bị, sửa chữa cầu đường, xẻ núi bạt đèo cho bộ đội ta kéo pháo vào trận địa, xây dựng kho lán, tham gia tải thương,...(20).

Trên toàn quốc, từ thành thị đến nông thôn, từ miền núi đến đồng bằng, quân và dân ta ở khắp các tỉnh miền Đông và miền Tây của Nam Bộ, Nam Trung Bộ, Liên khu 5, Bình - Trị - Thiên, Đồng bằng Bắc Bộ, Tả ngạn, Bắc Tây Nguyên... đã đẩy mạnh tiến công về quân sự, phong trào chiến tranh du kích, phá tề trừ gian và các cuộc đấu tranh chính trị, qua đó, tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng nhiều vùng đất đai. Các cuộc mít tinh, biểu tình, bãi công, bãi khóa, bãi thị của nhân dân ở các đô thị đòi chồng con, chống giặc bắt lính và đòi hòa bình liên tiếp nổ ra. Ở Nam Bộ, hoạt động địch vận cũng đạt kết quả lớn với hàng vạn binh lính ngụy bỏ đồn bốt trở về với gia đình, ngụy quân, ngụy quyền nhiều nơi tan rã. Chưa bao giờ đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang được kết hợp nhịp nhàng và khối đại đoàn kết toàn dân tộc được phát huy cao độ, gắn kết chặt chẽ như vậy.

Bốn là, kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sự ủng hộ, giúp đỡ của bè bạn quốc tế.

Trong quá trình lãnh đạo, Đảng ta luôn coi cách mạng Việt Nam là một bộ phận khăng khít của cách mạng thế giới, xác định cuộc kháng chiến của nhân dân ta không chỉ giành tự do cho đồng bào, độc lập cho Tổ quốc mình mà còn vì tự do, độc lập, dân chủ và hòa bình thế giới. Tháng 12/1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ thị cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp “Chiến dịch này là một chiến dịch rất quan trọng không những về quân sự mà cả về chính trị, không những đối với trong nước mà đối với quốc tế”(21). Để giành thắng lợi trong Chiến dịch Điện Biên Phủ nói riêng và cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược nói chung, toàn dân tộc đã phát huy tinh thần đoàn kết, nỗ lực rất cao và tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế, cùng với những thời cơ thuận lợi của thời đại. Ngoài việc xây dựng liên minh chiến đấu trên chiến trường Đông Dương giữa Việt Nam với Lào và Campuchia chống kẻ thù chung trên tinh thần quốc tế chủ nghĩa chân chính “giúp bạn là mình tự giúp mình”; sau chiến thắng Biên giới năm 1950, ta thoát khỏi thế bị bao vây, có điều kiện tiếp nhận sự chi viện về vật chất và tinh thần của anh em bạn bè, đặc biệt là của Trung Quốc, Liên Xô. Đồng thời, ta tranh thủ sự ủng hộ quý báu của nhân dân tiến bộ Pháp, nhân dân các dân tộc bị áp bức ở châu Á, châu Phi, Mỹ La tinh và các nước dân chủ, các phong trào độc lập - dân chủ trên thế giới, tạo nên mặt trận đoàn kết quốc tế, cùng với mặt trận đoàn kết trong nước làm nên sức mạnh tổng hợp to lớn góp phần giành thắng lợi ở Điện Biên Phủ.

Chiều 7/5/1954, lá cờ "Quyết chiến - Quyết thắng" của Quân đội nhân dân Việt Nam tung bay trên nóc hầm tướng De Castries. Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ đã toàn thắng. Ảnh: Tư liệu TTXVN.

Chiến thắng đã đánh dấu chấm hết cho sự ngoan cố, hiếu chiến của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, buộc Chính phủ Pháp ký Hiệp định Giơnevơ về đình chỉ chiến sự ở Việt Nam ngày 21/7/1954. Đây cũng là thắng lợi to lớn của nhân loại tiến bộ và của các lực lượng yêu chuộng hòa bình, là nguồn cổ vũ các dân tộc bị áp bức trên thế giới vùng lên đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân dưới mọi hình thức, giành độc lập - tự do, mở đầu cho sự tan rã không thể cứu vãn của chủ nghĩa thực dân cũ trên phạm vi toàn thế giới.

PHÁT HUY TINH THẦN CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ

Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ là niềm tự hào, là nguồn sức mạnh to lớn cổ vũ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiến lên giành những thắng lợi to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sau Chiến thắng Điện Biên Phủ, sức mạnh Việt Nam tiếp tục được tỏa sáng trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược với Đại thắng mùa xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước; chiến thắng chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc và cùng quân dân Campuchia chiến thắng chế độ diệt chủng; bảo vệ vững chắc biên giới phía Bắc của Tổ quốc và trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử sau gần 40 năm đổi mới, như Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã khẳng định“Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”(22).

Hiện nay, sức mạnh của nước ta là tổng hợp sức mạnh vật chất và tinh thần, được tạo nên bởi đường lối đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý của Nhà nước và sự đồng tình, ủng hộ của các tầng lớp nhân dân; vị trí địa chính trị, địa kinh tế của đất nước; các nguồn lực tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên; tiềm lực về kinh tế, quân sự, khoa học - công nghệ và quy mô, chất lượng, độ bền vững của dân số quốc gia; truyền thống yêu nước cách mạng, ý chí tự lực, tự cường, tự tôn dân tộc; vị thế chính trị, ngoại giao và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế; vai trò của văn hóa - nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, sức mạnh nội sinh, động lực để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Phát huy tinh thần Chiến thắng Điện Biên Phủ, tiếp tục khơi dậy sức mạnh to lớn của toàn dân tộc Việt Nam, hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa và giữ vững an ninh quốc gia, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, cần quan tâm thực hiện tốt một số nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, tiếp tục quán triệt sâu sắc và luôn luôn giữ vững hệ quan điểm chỉ đạo mang tính nguyên tắc trong sự nghiệp đổi mới, hội nhập quốc tế để xây dựng niềm tin vững chắc trong nhân dân: (1) Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. (2) Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. (3) Kiên định đường lối đổi mới của Đảng. (4) Kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Thứ hai, nâng cao nhận thức, trách nhiệm, tạo sự thống nhất về ý chí và hành động của các cấp ủy, tổ chức đảng, hệ thống chính trị, của cán bộ, đảng viên và nhân dân về nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc, về văn hóa - sức mạnh con người Việt Nam, về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và việc phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhất là những tư duy, quan điểm mới được nêu trong Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Nghị quyết số 43-NQ/TW ngày 24/11/2023 về “Tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc” và Nghị quyết số 44-NQ/TW ngày 24/11/2023 về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” (Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII) và các nghị quyết, chỉ thị, kết luận khác của Đảng về những vấn đề trên.

Thứ ba, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị hoạt động hiệu lực, hiệu quả, trong sạch, vững mạnh toàn diện; tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, tiếp tục đẩy mạnh thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XII về xây dựng chỉnh đốn Đảng và Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” để tạo thế “sâu rễ, bền gốc”. Chú trọng xây dựng đoàn kết thống nhất trong Đảng, hệ thống chính trị và trong nhân dân, trong đó vai trò hạt nhân của đoàn kết thống nhất trong Đảng là nhân tố quyết định thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới. Củng cố vững chắc, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; thực hiện tốt công tác vận động quần chúng, tạo nền tảng xây dựng, tăng cường “thế trận lòng dân” gắn với xây dựng “thế trận quốc phòng toàn dân”, “thế trận an ninh nhân” và “thế trận biên phòng toàn dân” vững chắc, trong đó chú trọng tuyến biển, đảo, những địa bàn, lĩnh vực nhạy cảm, trọng yếu.

Thứ tư, kiên trì, thực hiện nghiêm, hiệu quả đường lối quốc phòng toàn dân trong bối cảnh mới xuất hiện nhiều loại vũ khí, trang bị quân sự hiện đại, hình thái chiến tranh, loại hình tác chiến, phương thức tiến hành mới. Theo đó phải giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và sự nghiệp quốc phòng - an ninh; xây dựng sức mạnh toàn diện, vững chắc ngay từ thời bình, sẵn sàng chuyển sang thế trận chiến tranh nhân dân khi có chiến tranh. Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; cùng với đó quan tâm xây dựng các lực lượng: dân quân tự vệ, kiểm ngư, dân quân biển, lực lượng phòng thủ dân sự, lực lượng 35, lực lượng tuyên giáo, dân vận, báo chí, truyền thông, mặt trận các cấp… bảo đảm sẵn sàng đáp ứng yêu cầu trong mọi tình huống.

Ban chỉ đạo Trung ương kỷ niệm các ngày lễ lớn và sự kiện lịch sử quan trọng của đất nước trong 3 năm 2023-2025 (Ban chỉ đạo) tổ chức tổng duyệt Lễ kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954 - 7/5/2024). Ảnh: Báo Quân đội nhân dân.

Thứ năm, giữ vững độc lập, tự chủ, tự cường, dựa vào nội lực là chính, xây dựng tiềm lực về mọi mặt của đất nước, của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Theo đó, cần đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa - hiện đại hóa, phát triển đất nước nhanh, bền vững; cơ cấu lại, nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, tăng cường chuyển đổi số; quan tâm xây dựng nền công nghiệp quốc phòng, an ninh chủ động, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại trở thành mũi nhọn công nghiệp quốc gia. Xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam, xây dựng môi trường văn hóa số phù hợp với nền kinh tế số, xã hội số và công dân số; tích cực quảng bá văn hóa Việt Nam với bạn bè quốc tế. Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội với củng cố, tăng cường quốc phòng - an ninh trên từng vùng lãnh thổ, trên các địa bàn chiến lược, biên giới, biển, đảo, khu kinh tế, khu công nghiệp trọng điểm… tạo sức mạnh tổng hợp giữ vững ổn định chính trị, xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Thứ sáu, nghiên cứu, dự báo và tham mưu chiến lược, toàn diện, đề xuất các chủ trương, đối sách, giải pháp sát, đúng, kịp thời, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, giữ vững thế chủ động chiến lược, chuẩn bị về mọi mặt, sẵn sàng các phương án làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động xâm hại an ninh quốc gia, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, “bạo loạn lật đổ”, các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị, các mối đe dọa an ninh truyền thống và phi truyền thống; tăng cường công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Thứ bảy, kiên trì, kiên định và thực hiện nhất quán đường lối độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại, bình đẳng, hợp tác và phát triển, phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, trên tinh thần lợi ích quốc gia - dân tộc là trên hết, trước hết, là tiêu chuẩn cao nhất trong hành xử quốc tế và kiên trì, nhất quán thực hiện chính sách “4 không”. Không ngừng đổi mới, sáng tạo trên cơ sở vận dụng nhuần nhuyễn phương châm giữ “trong ấm, ngoài êm”, “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, kiên định về nguyên tắc, chiến lược, linh hoạt về phương pháp, sách lược, vừa hợp tác vừa đấu tranh, cân bằng, hài hòa lợi ích trong quan hệ với các nước. Tiếp tục đưa quan hệ đối ngoại đi vào chiều sâu, thực chất, thiết thực, tăng cường đan xen lợi ích và tin cậy chính trị. Phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại trong việc huy động nguồn lực quốc tế, tạo vành đai an ninh, phòng thủ từ sớm, từ xa, từ bên ngoài lãnh thổ và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, nâng cao vị thế và uy tín quốc gia.

Thứ tám, tăng cường tổng kết lý luận và thực tiễn, nghiên cứu, vận dụng sáng tạo những bài học về nghệ thuật quân sự trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp mà đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ, cũng như tinh hoa nghệ thuật quân sự Việt Nam và thế giới để xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân và thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh theo hướng tăng tính chủ động, khả thi và thích ứng linh hoạt, hiệu quả trong tình hình mới, đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Thượng tướng NGUYỄN TRỌNG NGHĨA

Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương

(Theo Tạp chí Tuyên giáo)

-----------------------------------------------------------------------------

(1) Lê Duẩn: Dưới cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội tiến lên giành những thắng lợi mới, Nxb. Sự Thật, H, 1970, tr 90.

(2) Dưới sự lãnh đạo của Đảng, lực lượng dân quân du kích, dân quân tự vệ phát triển mạnh mẽ, rộng lớn trên khắp thôn, bản, làng, xã, phố phường với số lượng hàng triệu, biểu hiện thực sự “mỗi quốc dân là một chiến sĩ, mỗi làng xóm là một pháo đài” trong cuộc kháng chiến.

(3) Tiếp tục chỉnh Đảng, chỉnh huấn cán bộ trong Đảng và ngoài Đảng, chấn chỉnh tổ chức, tư tưởng, tác phong của Đảng để thực hiện đầy đủ những nhiệm vụ và công tác quan trọng.

(4) Năm 1950, ở Thủ đô kháng chiến, Tòa án binh tối cao đã mở phiên tòa đặc biệt, xét xử nghiêm vụ án Đại tá, Cục trưởng Cục Quân nhu Trần Dụ Châu và những người liên quan can tội “Biển thủ công quỹ, nhận hối lộ, phá hoại công cuộc kháng chiến”.

(5) Với phong trào Bình dân học vụ, tới năm 1948 đã có 6 triệu người và năm 1952 có 10 triệu người biết viết.

(6) Chỉ tính riêng Liên khu V trở ra đã có trên 500.000 thanh niên ghi tên tòng quân. Hàng chục vạn đồng bào hăng hái lên đường đi dân quân phục vụ tiền tuyến. Nhân dân còn đóng góp tiền của, thóc, gạo cho kháng chiến.

(7) (10) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2001, t. 12, tr 36, 511.

(8) Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Lịch sử Đảng: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, H, 2018, t. 1 (1930-1954), quyển 2, tr. 322 - 323.

(9) Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa II lần thứ nhất (13-16/3/1951), lần thứ hai (27/9-5/10/1951), lần thứ ba (22-28/4/1952), lần thứ tư (25-30/1/1953), lần thứ năm (tháng 11/1953).

(11) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 14, tr. 594.

(12) Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Điện Biên Phủ, Nxb. Quân đội nhân dân, H, 1964, tr. 182.

(13) Bộ Giáo dục và Đào tạo: Sách Lịch sử lớp 12, Nxb. Giáo dục Việt Nam, H, 2015.

(14) (1) Tiến công Lai Châu, uy hiếp Điện Biên Phủ từ phía bắc; (2) Phối hợp với quân giải phóng Lào mở chiến dịch tiến công vào Trung Lào; (3) Tiến sâu xuống Hạ Lào và Đông Campuchia; (4) Tiến công trên mặt trận Bắc Tây Nguyên; (5) Phối hợp tiến công phòng tuyến địch tại Thượng Lào.

(15) Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng Tư lệnh quân đội được Bộ Chính trị giao nhiệm vụ trực tiếp làm Bí thư Đảng ủy kiêm Chỉ huy trưởng mặt trận.

(16) Võ Nguyên Giáp: Tổng tập hồi ký, Nxb. Quân đội nhân dân, H, 2018, tr 900.

(17) Như việc kéo pháo vào tập trung tại trận địa, nay lại phải kéo pháo phân tán ra các trận địa mới trên các điểm cao để tạo thành vòng cung bao vây tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ…

(18) Với hơn 16.200 quân gồm 21 tiểu đoàn trong đó có 17 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn công binh, 1 đại đội xe tăng, 1 phi đội không quân, 1 đại đội vận tải cơ giới.

(19) Là linh hồn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quy tụ được những nhân sĩ, trí thức của chế độ cũ như: Huỳnh Thúc Kháng, Bùi Bằng Đoàn, Nguyễn Văn Tố, Phan Kế Toại, Phan Anh, Vũ Đình Hòe...; cùng với những nhân tài, trí thức, nhà khoa học Việt kiều yêu nước: Viện sĩ Trần Đại Nghĩa, Giáo sư Tôn Thất Tùng, Giáo sư Lương Đình Của, Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch... cống hiến cho đại nghĩa của dân tộc, phục vụ công cuộc kháng chiến, kiến quốc dưới ngọn cờ của Đảng.

(20) (21) Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh - Trực thuộc Bộ Chính trị: Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi và bài học, Nxb. Chính trị Quốc gia, H, 1996, tr 202, 202.

(22) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, t. I, tr 25.

FalseChính trị
Diễu binh, diễu hành kỷ niệm trọng thể 70 năm Chiến thắng Điện Biên PhủTinH.TDiễu binh, diễu hành kỷ niệm trọng thể 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ/SiteAssets/70nam-DBP-db-3.jpg
06/05/2024 10:00 SANoĐã ban hành

(TUAG)- Lễ diễu binh, diễu hành kỷ niệm trọng thể 70 năm Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu" diễn ra sáng 7/5, tại thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên.

70nam-DBP-db-2.jpg

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định “Chiến thắng Điện Biên Phủ như là một mốc son chói lọi bằng vàng của lịch sử”; “Đó là thắng lợi vĩ đại của nhân dân ta mà cũng là thắng lợi chung của tất cả các dân tộc bị áp bức trên thế giới”. Chiến thắng Điện Biên Phủ đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu, cần tiếp tục được phát huy, lan tỏa trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hôm nay và mai sau.

Sự kiện còn có sự tham dự của 270 đại biểu quốc tế, phóng viên báo chí nước ngoài, trong đó có Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Lào Chansamose Chanyalath; Phó Thủ tướng Campuchia Neth Savoeun; Bộ trưởng Bộ Quân đội và Quốc vụ khanh phụ trách về Cựu chiến binh và Ký ức chiến tranh của Pháp...

70nam-DBP-db-3.jpg

Lễ diễu binh, diễu hành là sự kiện chính thức và quan trọng nhất trong chuỗi các sự kiện, hoạt động kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ, do Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tỉnh Điện Biên tổ chức.

Lễ diễu binh, diễu hành là điểm nhấn quan trọng tại Lễ kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ, nhằm góp phần khẳng định ý nghĩa, tầm vóc, giá trị lịch sử vĩ đại của Chiến thắng Điện Biên Phủ và sự phát triển, lớn mạnh không ngừng của Quân đội nhân dân Việt Nam, Dân quân tự vệ và Công an nhân dân trong 70 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng.

70nam-DBP-db-1.jpg

Lễ diễu binh, diễu hành giáo dục lòng yêu nước, truyền thống cách mạng; khơi dậy lòng tự hào, biết ơn sâu sắc đối với các thế hệ đã hy sinh xương máu vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; tiếp tục củng cố niềm tin tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng.

Đây là sự kiện chính thức và quan trọng nhất trong chuỗi các sự kiện, hoạt động kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ, do Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tỉnh Điện Biên tổ chức.

Tham dự sự kiện có các đồng chí Lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các ban, bộ, ngành, đoàn thể Trung ương, các tỉnh, thành phố và đại biểu tỉnh Điện Biên khoảng 900 đại biểu.

Cách đây 70 năm trước, vào ngày 7/5/1954, Quân đội nhân dân Việt Nam đã tiêu diệt hoàn toàn tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ mạnh nhất Đông Dương của thực dân Pháp, bắt sống tướng chỉ huy De Castries, kết thúc thắng lợi trận quyết chiến chiến lược kéo dài suốt 56 ngày đêm.

Chiến thắng Điện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu" là một trong những đỉnh cao chói lọi, được ghi vào lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam như một Bạch Đằng, một Chi Lăng hay một Đống Đa trong thế kỷ 20, buộc chính phủ Pháp phải ký kết Hiệp định Geneva (7/1954), công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ ba nước Đông Dương, kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ kéo dài 9 năm (1945-1954). Đồng thời, chấm dứt ách thống trị của thực dân Pháp kéo dài hàng thế kỷ, mở ra bước phát triển mới cho cách mạng Việt Nam, Lào, Campuchia.

Toàn bộ chương trình mít tinh kỷ niệm, diễu binh, diễu hành được Đài Truyền hình Việt Nam  (VTV) tường thuật trực tiếp; Cổng TTĐT Chính phủ, Báo Điện tử Chính phủ tiếp sóng trực tiếp sự kiện./.

FalseChính trị
70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ: 56 ngày đêm chấn động địa cầuBài viếtAn Bình70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ: 56 ngày đêm chấn động địa cầu/SiteAssets/70%20nam%20dien%20bien.jpg
24/04/2024 4:00 CHYesĐã ban hành

(TUAG)- 70 năm đã trôi qua, Chiến dịch Điện Biên Phủ là chiến thắng vĩ đại đã ghi vào lịch sử dân tộc Việt Nam như một mốc son rực sáng nhất trong thế kỷ XX. Đây là chiến thắng của chủ nghĩa yêu nước, ý chí bất khuất, kiên cường của dân tộc Việt Nam được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử... Ý nghĩa, tầm vóc, những bài học lịch sử vẫn còn nguyên giá trị trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

70 nam dien bien.png

Bối cảnh lịch sử

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, thực dân Pháp dã tâm dùng vũ lực hòng đặt lại ách thống trị trên đất nước ta một lần nữa. Ngày 23/9/1945, chúng nổ súng đánh chiếm Sài Gòn, mở đầu cuộc xâm lược lần thứ hai đối với Việt Nam; sau đó từng bước mở rộng chiến tranh, chối bỏ mọi cố gắng cao nhất về ngoại giao của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Với ý chí "thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ", dù chính quyền cách mạng còn non trẻ, đời sống Nhân dân còn muôn vàn khó khăn, toàn thể nhân dân Việt Nam vẫn một lòng, một dạ đoàn kết xung quanh Đảng, Mặt trận Việt Minh, nhất tề đứng lên hưởng ứng Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quyết tâm bảo vệ đất nước với niềm tin mãnh liệt vào thắng lợi cuối cùng. Thực hiện đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính, với vũ khí thô sơ và tinh thần quyết chiến, quyết thắng, quân và dân ta đã lần lượt đánh bại các kế hoạch quân sự của thực dân Pháp, làm nên các chiến thắng vang dội: Việt Bắc thu đông 1947, Biên Giới 1950, tạo bước chuyển cơ bản cho cuộc kháng chiến bước vào giai đoạn mới - giai đoạn ta nắm quyền chủ động chiến lược trên chiến trường chính Bắc Bộ, mở các cuộc tấn công và phản công địch. Qua thắng lợi của các chiến dịch Hòa Bình (1951 - 1952), Tây Bắc 1952, Thượng Lào 1953, vùng giải phóng của ta được mở rộng, chính quyền dân chủ nhân dân được củng cố, lực lượng vũ trang cách mạng trưởng thành nhanh chóng; cục diện chiến tranh ở Việt Nam và Đông Dương chuyển biến mạnh theo chiều hướng có lợi cho quân và dân ta.

Âm mưu và kế hoạch của thực dân Pháp

Bị thất bại liên tiếp trên các chiến trường khiến cho thực dân Pháp dấn sâu vào thế bị động, nguy khốn. Phong trào nhân dân Pháp đòi chấm dứt chiến tranh ngày càng lên mạnh. Để cứu vãn tình hình, Chính phủ Pháp một mặt xin thêm viện trợ Mỹ, mặt khác thay đổi chỉ huy và kế hoạch tác chiến hòng tìm lối thoát danh dự bằng một thắng lợi quân sự.

Tháng 5/1953, được sự ủng hộ của Mỹ, Chính phủ Pháp cử tướng Hăngri Nava, Tham mưu trưởng lục quân Pháp thuộc khối Bắc Đại Tây Dương (NATO) đóng ở Trung Âu làm Tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương. Sau khi khảo sát, tìm hiểu thực tế chiến trường, Nava đề ra một kế hoạch quân sự toàn diện (sau này được gọi là kế hoạch Nava), được Chính phủ và Hội đồng quốc phòng Pháp thông qua ngày 24/7/1953.

70 nam dien bien-1.jpg

Giữa tháng 11/1953, bộ đội chủ lực của ta thực hiện kế hoạch tiến lên Tây Bắc, một bộ phận tiến sang Trung Lào phối hợp chiến đấu với Quân đội Pathet Lào. Trước tình hình đó, Nava buộc phải cho quân nhảy dù xuống Điện Biên Phủ nhằm chặn bước tiến của quân ta. Kế hoạch Nava bị đảo lộn, chúng phải phân tán lực lượng để đối phó với ta. Chấp nhận cuộc chiến đấu tại Điện Biên Phủ, Nava tập trung mọi cố gắng, với sự giúp đỡ rất lớn của Mỹ, xây dựng Điện Biên Phủ - vị trí có ý nghĩa chiến lược không chỉ đối với Tây Bắc Việt Nam mà cả vùng Thượng Lào và Bắc Đông Dương thành một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương,"một pháo đài bất khả xâm phạm", gồm 49 cứ điểm, chia thành ba phân khu yểm hộ lẫn nhau, có cơ cấu phòng ngự vững chắc. Địch đã cho tập trung ở đây hơn 16.200 quân gồm 21 tiểu đoàn trong đó có 17 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn công binh, 1 đại đội xe tăng, 1 phi đội không quân, 1 đại đội vận tải cơ giới, với ý đồ thách thức quân và dân ta, nghiền nát quân chủ lực của ta.

Sự chỉ đạo chiến lược và chuẩn bị của ta

Nhận rõ thủ đoạn của thực dân Pháp trong kế hoạch Nava, cuối tháng 9/1953, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng đã họp bàn về nhiệm vụ quân sự, phân tích sâu sắc thế chiến lược giữa ta và địch, ra nghị quyết thông qua kế hoạch tác chiến Đông - Xuân 1953 - 1954, giữ vững quyền chủ động đánh địch trên cả hai mặt trận chính diện và sau lưng địch, phối hợp trên phạm vi cả nước và phối hợp trên toàn Đông Dương, nhấn mạnh phương châm chiến đấu: "tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt".

Chien-Dich-Dien-Bien-01.jpg

Để phối hợp với cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953 - 1954, Đảng và Chính phủ ta đã chủ trương mở cuộc tiến công địch trên mặt trận ngoại giao. Ngày 26/11/1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ quan điểm của Nhân dân ta:"... Cơ sở của việc đình chiến ở Việt Nam là Chính phủ Pháp thật thà tôn trọng nền độc lập thật sự của nước Việt Nam"đã tạo tiếng vang lớn, thu hút sự quan tâm, đồng tình, ủng hộ của nhân dân Pháp và nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới đối với cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân ta.

Trên cơ sở nắm chắc mọi âm mưu, hành động của địch, phân tích, đánh giá tình hình một cách khoa học, đầu tháng 12/1953, Bộ Chính trị quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ, thông qua phương án tác chiến của Tổng Quân ủy và giao cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng Tư lệnh quân đội trực tiếp làm Bí thư Đảng ủy kiêm Chỉ huy trưởng mặt trận. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị "Chiến dịch này là một chiến dịch rất quan trọng, không những về quân sự mà cả về chính trị, không những đối với trong nước mà đối với quốc tế. Vì vậy, toàn quân, toàn dân, toàn Đảng phải tập trung hoàn thành cho kỳ được"; dặn dò Đại tướng Võ Nguyên Giáp: phải đánh thắng, chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh.

Kết quả của chiến dịch

Ngày 25/01/1954, các đơn vị bộ đội ta ở vị trí tập kết sẵn sàng nổ súng theo phương châm tác chiến "đánh nhanh, giải quyết nhanh". Nhận thấy địch đã tăng cường lực lượng phòng ngự vững chắc ở Điện Biên Phủ, Bộ Chỉ huy và Đảng ủy chiến dịch đã thay đổi phương châm tác chiến sang "đánh chắc, tiến chắc". Đây là quyết định đúng đắn nhưng ta cũng gặp không ít khó khăn: thời gian tác chiến dài hơn, thay đổi về cách đánh nên có những việc ta phải chuẩn bị lại từ đầu, nhất là việc tổ chức, bố trí hệ thống hoả lực của chiến dịch. Với địa hình hiểm trở, việc kéo pháo vào tập trung tại trận địa đã vô cùng khó khăn, nay lại phải kéo pháo phân tán ra các trận địa mới trên các điểm cao để tạo thành vòng cung bao vây tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, bắn trực tiếp vào các mục tiêu dưới lòng chảo càng khó khăn hơn. Tuy nhiên, với tinh thần quả cảm, không quản ngại gian khổ, hy sinh, quân và dân ta đã tìm mọi cách vượt qua thử thách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Sau khi công tác chuẩn bị hoàn thành, ngày 13/3/1954, quân ta nổ súng tiến công Điện Biên Phủ. Chiến dịch diễn ra thành ba đợt trong gần hai tháng:

Đợt 1: Từ ngày 13/3 đến ngày 17/3/1954, quân ta đã mưu trí, dũng cảm tiêu diệt gọn cứ điểm Him Lam và Độc Lập, bức hàng cứ điểm Bản Kéo, phá vỡ hệ thống phòng ngự trên hướng Bắc và Đông Bắc của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ; mở toang cánh cửa cho quân ta tiến xuống vùng lòng chảo và khu trung tâm. Hai tiểu đoàn tinh nhuệ nhất của địch bị tiêu diệt gọn, một tiểu đoàn khác và 3 đại đội ngụy Thái tan rã. Một số lượng lớn pháo 105 ly và pháo cối 120 ly của địch bị ta phá hủy hoàn toàn, hầu hết các máy bay chiến đấu trong vùng lòng chảo đều bị ta tiêu diệt.

Đợt 2: Từ ngày 30/3 đến ngày 30/4/l954, quân ta đồng loạt tiến công các cứ điểm phía Đông phân khu trung tâm. Ta đã tiêu diệt khoảng 5.000 tên địch, trong số đó gồm 4 tiểu đoàn và 9 đại đội (chiếm khoảng ½ tổng số quân địch ở phân khu Bắc và phân khu trung tâm); khống chế được phần lớn điểm cao phía đông, phát triển trận địa tới sát sân bay, thắt chặt vòng vây, chia cắt, khống chế các khu vực còn lại trong tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, kiểm soát sân bay Mường Thanh, hạn chế tiếp viện của địch cho tập đoàn cứ điểm.

Đợt 3: Từ ngày 01/5 đến ngày 07/5/1954, quân ta đánh chiếm các cứ điểm còn lại ở phía Đông, diệt một số cứ điểm phía Tây và mở đợt tổng công kích tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. 17 giờ ngày 06/5/1954, pháo binh và hỏa tiễn của ta bắn dữ dội vào các cứ điểm địch, mở đường cho bộ binh tiến công. Tại khu đồi A1, sau khi cho nổ 1 tấn bộc phá tiêu diệt hầm ngầm địch, bộ đội ta chia làm nhiều mũi, theo các đường hào đánh lên đỉnh đồi. 17 giờ 30 phút ngày 07/5/1954, Tướng Đờ Cát cùng toàn bộ Bộ Tham mưu của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ bị bắt sống. Ngay trong đêm đó quân ta tiếp tục tiến công phân khu Nam, đánh địch tháo chạy về Thượng Lào, đến 22 giờ toàn bộ quân địch đã bị bắt làm tù binh.

Sau 56 ngày đêm "khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt", chiến đấu dũng cảm, mưu trí, sáng tạo, quân và dân ta đã đập tan toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, tiêu diệt và bắt sống toàn bộ quân địch, bắn rơi 62 máy bay, thu 64 xe và toàn bộ vũ khí, kho tàng, quân trang, quân dụng của địch. Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ toàn thắng, đây là bản anh hùng ca của cuộc chiến tranh nhân dân thần kỳ, "được ghi vào lịch sử dân tộc như một Bạch Đằng, một Chi Lăng hay một Đống Đa trong thế kỷ XX, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công chói lọi đột phá thành trì của hệ thống nô dịch thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc".

70 nam dien bien-2.jpg

Ý nghĩa lịch sử của chiến thắng Điện Biên Phủ

Thứ nhất, là đỉnh cao của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, tạo cơ sở căn bản và quyết định cho việc đi đến ký kết Hiệp định Giơnevơ về đình chỉ chiến sự ở Việt Nam.

Chiến thắng Điện Biên Phủ đã đánh dấu chấm hết cho sự ngoan cố, hiếu chiến của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ trên bàn Hội nghị, buộc Chính phủ Pháp cùng các bên tham dự phải ngồi vào bàn nghị sự, ký Hiệp định Giơnevơ (trừ Mỹ) đình chỉ chiến sự ở Việt Nam ngày 21/7/1954. Đây cũng là chiến thắng quyết định thắng lợi của ta trên mặt trận ngoại giao, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, góp phần chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp ở Việt Nam.

Thứ hai, mở ra giai đoạn cách mạng mới, đưa miền Bắc quá độ lên chủ nghĩa xã hội, làm hậu phương vững chắc cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước

Chiến thắng Điện Biên Phủ đưa đến kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đã tạo ra những thay đổi căn bản trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa, ngoại giao… cho cách mạng Việt Nam và mở đầu một giai đoạn mới: miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Những thành tựu xây dựng chủ nghĩa xã hội cũng như những đóng góp của hậu phương miền Bắc đối với tiền tuyến lớn miền Nam đã củng cố niềm tin của Nhân dân hai miền vào thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến.

Thứ ba, khẳng định đường lối kháng chiến đúng đắn, sáng tạo của Đảng và sự lớn mạnh, trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam

Chiến thắng Điện Biên Phủ đã chứng minh chân lý: Trong thời đại ngày nay, một nước nhỏ, kinh tế chậm phát triển nếu có một đảng mác xít chân chính lãnh đạo với đường lối chính trị, quân sự đúng đắn, phát huy được sức mạnh toàn dân tộc, được nhân dân thế giới đồng tình, ủng hộ thì nhất định đánh thắng mọi kẻ thù, dù có tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh hơn gấp nhiều lần.

Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ cũng cho thấy sự trưởng thành vượt bậc của Quân đội nhân dân Việt Nam. Từ 34 chiến sỹ với vũ khí thô sơ năm 1944, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân đội ta đã không ngừng lớn mạnh, càng đánh càng trưởng thành. Đây là cơ sở để sau này toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng, vững tin, dám đánh, biết đánh, quyết đánh và đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Thứ tư, chấm dứt sự đô hộ của chủ nghĩa thực dân Pháp ở ba nước Đông Dương, mở đầu quá trình sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên phạm vi toàn thế giới

Chiến thắng Điện Biên Phủ thức tỉnh và cổ vũ các dân tộc bị áp bức trên thế giới vùng lên đấu tranh giành độc lập, tự do; buộc chính quyền Pháp phải chấm dứt chính sách cai trị thực dân, tiến hành trao trả độc lập cho nhiều nước ở châu Á và châu Phi, đồng thời xem xét lại vị thế và các chính sách của mình đối với các nước vốn là thuộc địa cũ. Việt Nam là nước tiên phong, là biểu tượng sáng ngời trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, đánh đổ chủ nghĩa thực dân cũ, mở ra trang sử mới cho nhân loại, góp phần làm thay đổi cục diện thế giới. Giuyn Roa, ký giả kiêm sử gia, nguyên Đại tá quân đội viễn chinh Pháp khẳng định: "Trên toàn thế giới, Oatéclô trước đây không gây tiếng vang bằng, Điện Biên Phủ thất thủ gây nỗi kinh hoàng khủng khiếp. Đó là một trong những thảm bại lớn nhất của phương Tây, báo trước sự sụp đổ của các đế quốc thuộc địa và sự cáo chung của một nền cộng hòa".

Chiến thắng Điện Biên Phủ đã kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ, anh dũng của quân và dân cả nước ta chống thực dân Pháp xâm lược và sự can thiệp Mỹ. Đây là chiến thắng vĩ đại của Nhân dân ta và cũng là thắng lợi chung của tất cả các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Chiến thắng Điện Biên Phủ càng làm sáng ngời chân lý của chủ nghĩa Mác - Lênin trong thời đại ngày nay; chiến tranh xâm lược của chủ nghĩa đế quốc nhất định thất bại, cách mạng giải phóng dân tộc nhất định thành công.

Tiếp nối Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954, dân tộc ta đã viết tiếp bản anh hùng ca chói lọi trong thời đại Hồ Chí Minh, lập nên những chiến công hiển hách: Chiến thắng "Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không" năm 1972, Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc.

Trong gần 40 năm đổi mới, nắm bắt thuận lợi, thời cơ, vượt qua khó khăn, thách thức, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã phát huy tinh thần yêu nước, đoàn kết, ý chí quyết tâm, bản lĩnh, sáng tạo, nỗ lực phấn đấu đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng, khá toàn diện, tạo nhiều dấu ấn nổi bật; đất nước phát triển nhanh và bền vững; niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ngày càng được củng cố, nâng cao. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay.

Ngày nay, phát huy tinh thần chiến thắng Điện Biên Phủ, chúng ta cần tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước ta về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; tiếp tục xây dựng và tăng cường củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, tập hợp rộng rãi mọi tầng lớp Nhân dân, bảo đảm sự thống nhất cao về tư tưởng và hành động, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên quyết, kiên trì bảo vệ, giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia; kế thừa và phát huy truyền thống hòa hiếu của dân tộc, coi trọng, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; đẩy mạnh quan hệ hữu nghị, hợp tác, cùng phát triển với các nước trên thế giới, tạo thế đan xen có lợi trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; giải quyết các tranh chấp, bất đồng bằng phương pháp hòa bình; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực với nước khác.

Kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ là dịp chúng ta thêm tự hào về Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh, về Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam vượt qua mọi sóng gió đi đến bến bờ vinh quang. Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ mãi mãi là niềm tự hào, là nguồn sức mạnh to lớn cổ vũ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta ra sức phấn đấu thực hiện thắng lợi Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung và phát triển năm 2011), Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, khơi dậy và hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa./.

A.B

TrueChính trị
Tập huấn chuyên sâu Luật Bảo vệ bí mật nhà nước và các văn bản hướng dẫn thi hành năm 2024 trên địa bàn thị xã Tịnh BiênTinAnh KiệtTập huấn chuyên sâu Luật Bảo vệ bí mật nhà nước và các văn bản hướng dẫn thi hành năm 2024 trên địa bàn thị xã Tịnh Biên/SiteAssets/TB-taphuan-bimat-nn-1.jpg
21/04/2024 8:00 SANoĐã ban hành

(TUAG)- Ngày 19/4/2024, tại Hội trường Ủy ban nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang, Ban Chỉ đạo Công tác bảo vệ bí mật nhà nước thị xã tổ chức Hội nghị tập huấn công tác bảo vệ bí mật nhà nước.

Dự và chỉ đạo hội nghị có đồng chí Nguyễn Thanh Hùng, Ủy viên Ban Thường vụ Thị ủy, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã; thành viên Ban Chỉ đạo Công tác bảo vệ bí mật nhà nước, lãnh đạo và công chức, viên chức thực hiện nhiệm vụ bảo vệ bí mật nhà nước của các cơ quan, ban ngành và đoàn thể thị xã, các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Ủy ban nhân dân, các Hội đặc thù thị xã, các đơn vị đứng chân trên địa bàn và Ủy ban nhân dân các xã, phường.

 TB-taphuan-bimat-nn-1.jpg

Thượng tá Nguyễn Xuân Hào - Phó Trưởng phòng An ninh chính trị nội bộ, Công an tỉnh An Giang báo cáo chuyên đề tại hội nghị

Tại hội nghị, Thượng tá Nguyễn Xuân Hào - Phó Trưởng phòng An ninh chính trị nội bộ, Công an tỉnh An Giang thông báo thực trạng nguy cơ lộ, mất bí mật nhà nước trong thời gian quan; triển khai Luật về bảo vệ bí mật nhà nước và các văn bản hướng dẫn thi hành; trong đó báo cáo viên đã triển khai và nhấn mạnh các quy định về quy trình xác định bí mật nhà nước và độ mật của bí mật nhà nước, vận chuyển, chuyển giao, lưu trữ, tổ chức hội thảo, hội nghị chứa nội dung bí mật nước nước, giải mật, tiêu huỷ, tăng mật, giảm mật, xây dựng nội quy, phân công cán bộ thực hiện nhiệm vụ bảo vệ bí mật nhà nước tại đơn vị, địa phương…

 TB-taphuan-bimat-nn-2.jpg

Đại biểu tham dự Hội nghị

Sau khi nghe báo cáo viên chia sẻ về pháp luật, quy trình, nghiệp vụ, kỹ năng cần thiết về công tác bảo vệ bí mật nhà nước, các công chức, viên chức và người lao động đã trao đổi, thảo luận về các vấn đề quan tâm nhằm nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ bí mật nhà nước, phòng ngừa lộ, mất bí mật nhà nước trên địa bàn thị xã trong thời gian tới.

Ngày 15/11/2018, tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Luật Bảo vệ bí mật nhà nước (Luật số 29/2018/QH14), Chủ tịch nước ký Lệnh công bố ngày 29/11/2018 (Lệnh số 8/2018/L-CTN). Luật Bảo vệ bí mật nhà nước được ban hành, thay thế Pháp lệnh Bảo vệ bí mật nhà nước số 30/2000/PL-UBTVQH10.
Luật Bảo vệ bí mật nhà nước có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2020, trừ các quy định của Luật liên quan đến lập, thẩm định, ban hành danh mục bí mật nhà nước, thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước, gia hạn thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2019.

Anh Kiệt

FalseChính trị
Tuổi trẻ An Giang tự hào tiếp bước truyền thống vẻ vang của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí MinhBài viếtTTCTTTTuổi trẻ An Giang tự hào tiếp bước truyền thống vẻ vang của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh/SiteAssets/Danvan-doan-3.jpg
25/03/2024 2:00 CHNoĐã ban hành

​(TUAG)- Từ khi được Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sáng lập vào ngày 26/3/1931 đến nay, tổ chức Đoàn đã trải qua 93 năm chiến đấu, rèn luyện và từng bước trưởng thành. Các thế hệ thanh niên Việt Nam đã nối tiếp nhau đấu tranh, cống hiến và hy sinh cho Tổ quốc, cho non sông, tô thắm truyền thống vẻ vang của dân tộc Việt Nam anh hùng. Từ những thế hệ đoàn viên đầu tiên, kiên trung bất khuất như anh Lý Tự Trọng, hay người thanh niên công nhân Ba Son Tôn Đức Thắng kéo lá cờ đỏ trên Tuần Dương hạm của Pháp ở Hắc Hải để ủng hộ nước Nga Xô-Viết đến các tấm gương chiến đấu, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa như: Trịnh Văn Ấn, Nguyễn Văn Cưng, Lê Văn Nhung, Nguyễn Đăng Sơn, Huỳnh Thị Hưởng, Néang Nghés, Lâm Thanh Hồng... đã cùng nhau viết lên truyền thống hào hùng của thanh niên Việt Nam, tiêu biểu là các phong trào “Tòng quân giết giặc lập công”, “Ba sẵn sàng”, “Năm xung phong”.

Danvan-doan-1.jpg

Tiếp nối truyền thống của các thế hệ cha, anh đi trước, tuổi trẻ An Giang đã và đang tiếp tục có những bước phát triển mới, đạt nhiều thành tích nổi bật. Hàng chục triệu lượt thanh, thiếu nhi được tổ chức Đoàn tỉnh nhà bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, giáo dục truyền thống dân tộc, đạo đức lối sống, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Hàng trăm con đường, cây cầu giao thông nông thôn kiên cố, hàng ngàn ngôi nhà nghĩa tình ấm áp, hàng ngàn sân trường sạch đẹp, hàng trăm khu vui chơi thiếu nhi mang dấu ấn của tuổi trẻ tỉnh nhà.

TD-phatdong-gtd-2.jpg

Trong bối cảnh Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mở ra nhiều cơ hội mới, đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức; để tiếp tục xứng đáng với truyền thống cha, anh, cùng với sự kỳ vọng của Đảng và Nhà nước, tuổi trẻ An Giang bằng sự năng động, sáng tạo và ý chí khát vọng vươn lên, sẽ quyết tâm thực hiện tốt các nhiệm vụ sau đây:

Một là, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, hiệu quả nội dung, phương thức hoạt động, không ngừng sáng tạo để thực hiện tốt các yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới, đồng thời theo kịp sự vận động nhanh chóng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và quá trình hội nhập quốc tế, sự phát triển như vũ bão của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Hai là, đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thanh thiếu nhi theo Chỉ thị số 42 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ, giai đoạn 2015 - 2030”. Xây dựng hình mẫu thanh niên trong thời kỳ mới trên nền tảng các giá trị cốt lõi “tâm trong - trí sáng - hoài bão lớn”. Cổ vũ và nhân rộng các yếu tố tích cực, gương người tốt, việc tốt. Chủ động cung cấp thông tin, trang bị kiến thức, phương pháp, kỹ năng để mỗi đoàn viên đều có thể truyền tải thông điệp giáo dục thanh thiếu nhi; mỗi thanh niên có thể tự phòng ngừa, tự sàng lọc, tự đấu tranh với các thông tin xấu, độc; quan tâm triển khai hiệu quả Chương trình “Giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thanh niên, thiếu niên, nhi đồng trên không gian mạng giai đoạn 2023 - 2030” tại An Giang.

Ba là, phát huy ý chí, tài năng, cống hiến sức trẻ, thể hiện trách nhiệm với quê hương, đất nước của thanh niên trong tham gia thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh An Giang lần thứ XI. Triển khai các hoạt động tình nguyện theo hướng rộng khắp, hiệu quả, bền vững và sáng tạo. Đăng ký đảm nhận thực hiện các công trình, phần việc tham gia xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, bảo đảm an sinh xã hội, an toàn giao thông, thực hiện nhiệm vụ phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu... Cổ vũ và tạo điều kiện thuận lợi để thanh niên lập nghiệp, khởi nghiệp. Nâng cao khả năng ứng dụng công nghệ thông tin và sử dụng ngoại ngữ trong thanh niên, bắt kịp xu hướng của thời đại mới.

Bốn là, kịp thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng cho thanh niên; tập trung hỗ trợ thanh thiếu nhi trong học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, kiến thức, tay nghề, đồng hành với thanh niên khởi nghiệp, lập nghiệp; nâng cao sức khỏe thể chất, đời sống văn hóa tinh thần và các kỹ năng cần thiết trong cuộc sống. Quan tâm chăm lo các nhóm thanh niên yếu thế, thiếu cơ hội phát triển, vượt qua khó khăn, vươn lên trong cuộc sống. Chăm lo bồi dưỡng, giáo dục, phát triển toàn diện và bảo đảm quyền của trẻ em, nhất là trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, hộ nghèo, trẻ vùng sâu, vùng xa, dân tộc thiểu số, biên giới, con thanh niên công nhân, người lao động.

Danvan-doan-3.jpg

Năm là, xây dựng tổ chức Đoàn vững mạnh về tư tưởng, chính trị, tổ chức và hành động; trong đó, chất lượng cán bộ Đoàn là trọng tâm, chất lượng cơ sở Đoàn là đột phá. Xây dựng hình ảnh người cán bộ Đoàn năng động, sáng tạo, gương mẫu, trách nhiệm, có tư duy đổi mới, gần gũi với thanh niên, sâu sát với cơ sở. Nâng cao chất lượng đoàn viên, nhất là tư tưởng chính trị và tính tiên phong, gương mẫu. Tổ chức cho cán bộ trẻ, đoàn viên, thanh niên tích cực đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng để góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Đẩy mạnh triển khai cuộc vận động “Đoàn viên phấn đấu trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam”. Đoàn trực tiếp rèn luyện đảng viên trẻ, cung cấp cán bộ trẻ cho Đảng và hệ thống chính trị.

Tự hào về truyền thống lịch sử vẻ vang 93 năm của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, với sức trẻ và niềm tin tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, tuổi trẻ tỉnh nhà được kỳ vọng sẽ nỗ lực không ngừng học tập nâng cao trình độ chính trị và chuyên môn; ra sức lao động sáng tạo, góp phần vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng quê hương An Giang ngày càng giàu đẹp, văn minh, hiện đại.

PHAN DUY BẰNG

Bí thư Tỉnh Đoàn

FalseĐưa Nghị quyết vào cuộc sống
Để người tham nhũng, nịnh trên, nạt dưới làm lãnh đạo là tai họa cho ĐảngBài viếtAdminĐể người tham nhũng, nịnh trên, nạt dưới làm lãnh đạo là tai họa cho Đảng/Imagesnews/2024-03/Phienhop-nhan-su-dh14-1_Key_14032024090459.jpg
14/03/2024 8:00 SANoĐã ban hành

(TUAG)- Tổng Bí thư lưu ý, bằng mọi biện pháp dứt khoát không đưa vào cơ quan lãnh đạo những người không xứng đáng, nhất là những người vướng vào tham nhũng, nịnh trên, nạt dưới; để những người đó lọt được vào cương vị lãnh đạo là tai họa cho Đảng.

Ngày 13/3, tại Hà Nội, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng Tiểu ban Nhân sự Đại hội XIV của Đảng đã chủ trì Phiên họp đầu tiên của Tiểu ban Nhân sự Đại hội của Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho biết, dự kiến Đại hội Đảng 14 được tổ chức vào quý 1 năm 2026. Cổng TTĐT Đảng bộ tỉnh An Giang trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu quan trọng của Tổng Bí thư.

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN ĐƯỢC ĐẶC BIỆT QUAN TÂM

TRONG CÔNG TÁC CHUẨN BỊ NHÂN SỰ ĐẠI HỘI XIV CỦA ĐẢNG

1. Vị trí, ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác chuẩn bị nhân sự Đại hội

Như chúng ta đã biết, trong bất cứ giai đoạn cách mạng nào, ở bất kỳ lĩnh vực, địa phương nào, cán bộ bao giờ cũng đóng vai trò quyết định; công tác cán bộ không chỉ là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng mà còn là mắt xích trọng yếu trong toàn bộ hoạt động của Đảng, nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng.

Không phải ngẫu nhiên mà Bác Hồ bắt đầu chuẩn bị thành lập Đảng bằng việc đào tạo và huấn luyện cán bộ. Bác khẳng định: "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc. Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém"; "Huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng".

Phienhop-nhan-su-dh14-1.jpg

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu tại phiên họp (Ảnh: TTXVN).

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn khẳng định công tác cán bộ chịu sự quy định của đường lối chính trị, phục vụ nhiệm vụ chính trị; cho nên đồng thời với chuẩn bị đường lối chính trị phải tích cực chuẩn bị và tiến hành đường lối tổ chức và chiến lược cán bộ.

Hiện nay, cùng với việc chuẩn bị và tiến hành đại hội đảng bộ các cấp, Đảng ta đang chuẩn bị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, dự kiến tổ chức vào quý I/2026.

Tại Hội nghị lần thứ tám (tháng 10/2023), Ban Chấp hành Trung ương đã quyết định thành lập 5 tiểu ban chuẩn bị Đại hội XIV của Đảng (Tiểu ban Văn kiện, Tiểu ban Kinh tế - Xã hội, Tiểu ban Điều lệ Đảng, Tiểu ban Nhân sự và Tiểu ban Tổ chức phục vụ Đại hội).

Hai nội dung quan trọng nhất của mỗi kỳ Đại hội Đảng là việc thảo luận, quyết định đường lối, nhiệm vụ chính trị của Đảng (gọi tắt là thông qua các văn kiện) và bầu ra các cơ quan lãnh đạo của Đảng (gọi tắt là công tác nhân sự).

Hai nội dung này liên quan chặt chẽ với nhau, đều phải chuẩn bị thật tốt, đặc biệt việc chuẩn bị nhân sự Đại hội có vị trí, ý nghĩa cực kỳ quan trọng, là nhân tố bảo đảm cho thành công của Đại hội và triển khai thực hiện thắng lợi các nghị quyết của Đại hội.

Nói đến chuẩn bị nhân sự Đại hội XIV của Đảng là nói đến chuẩn bị nhân sự Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, nhân sự lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước.

Ban Chấp hành Trung ương là cơ quan lãnh đạo cao nhất giữa hai kỳ Đại hội Đảng, là bộ tham mưu chiến đấu, hạt nhân lãnh đạo chính trị và là trung tâm đoàn kết, thống nhất cao của toàn Đảng, toàn dân tộc.

Đây là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, là tinh hoa của Đảng, đòi hỏi phải thật sự vững vàng, có đủ bản lĩnh, phẩm chất, trí tuệ và có uy tín cao để giải quyết những công việc ở tầm chiến lược, xử lý kịp thời, đúng đắn, có hiệu quả những tình huống phức tạp có quan hệ đến sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước, sự sống còn của chế độ.

Thực tế cho thấy, trong bất cứ hoàn cảnh nào, nhất là vào những thời điểm quyết định hoặc có tính bước ngoặt lịch sử, vận nước đặt tất cả vào đội ngũ cán bộ cấp chiến lược. (Lênin đã từng nói: "Hãy cho tôi một tổ chức những người cách mạng, tôi sẽ làm đảo lộn cả nước Nga").

Chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và một số nước Đông Âu sụp đổ là do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân rất quan trọng là lựa chọn, bố trí sai một số cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược, nhất là cấp cao nhất.

Cần phải khẳng định và thấm nhuần sâu sắc vị trí, ý nghĩa của công việc cực kỳ quan trọng này không chỉ đơn thuần đối với việc tổ chức một Đại hội Đảng mà đây là công việc có ý nghĩa chiến lược gắn liền với vận mệnh của Đảng, sự tồn vong của chế độ và sự phát triển của đất nước.

Sau gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới và sau hơn 25 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khóa VIII về chiến lược cán bộ, đội ngũ cán bộ các cấp ở nước ta đã có bước trưởng thành, phát triển nhiều mặt, chất lượng ngày càng được nâng cao, từng bước đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; cơ cấu, độ tuổi, giới tính, dân tộc, ngành nghề, lĩnh vực công tác có sự cân đối, hợp lý hơn; nguồn quy hoạch cán bộ ngày càng đáp ứng yêu cầu, cơ bản bảo đảm sự chuyển tiếp và kế tục giữa các thế hệ.

Tổng Bí thư: Để người hống hách, tham nhũng làm lãnh đạo là tai họa - 2

Toàn cảnh phiên họp (Ảnh: TTXVN).

Nhìn chung, đội ngũ cán bộ nước ta có lập trường tư tưởng, bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, lối sống giản dị, gương mẫu, có ý thức tổ chức kỷ luật, luôn tu dưỡng, rèn luyện; trình độ, năng lực được nâng lên, phấn đấu, hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Nhiều cán bộ năng động, sáng tạo, thích ứng với xu thế hội nhập, có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế. Đa số cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội ở các cấp có năng lực, phẩm chất, uy tín.

Cán bộ cấp chiến lược có bản lĩnh chính trị, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có tư duy đổi mới, có khả năng hoạch định đường lối, chính sách và lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện.

Hầu hết cán bộ lãnh đạo lực lượng vũ trang được rèn luyện, thử thách qua thực tiễn, trung thành với Đảng, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì Tổ quốc, vì nhân dân. Nhiều cán bộ khoa học tâm huyết, say mê nghiên cứu, có đóng góp tích cực cho sự phát triển của đất nước.

Một số cán bộ lãnh đạo, quản lý kinh tế thích ứng nhanh với cơ chế thị trường và mở cửa hội nhập, tổ chức sản xuất, kinh doanh ngày càng có hiệu quả.

Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng, đội ngũ cán bộ của ta hiện nay đông nhưng chưa thật mạnh; tình trạng vừa thừa, vừa thiếu cán bộ vẫn xảy ra ở nhiều nơi; sự liên thông giữa các cấp, các ngành còn hạn chế.

Tỷ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số chưa đạt chỉ tiêu mong muốn. Thiếu những cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi, nhà khoa học và chuyên gia đầu ngành trên nhiều lĩnh vực.

Năng lực của đội ngũ cán bộ chưa toàn diện, có mặt còn hạn chế, yếu kém; không ít cán bộ, trong đó có cả cán bộ cấp cao thiếu tính chuyên nghiệp, làm việc không đúng chuyên môn, sở trường; trình độ ngoại ngữ, kỹ năng giao tiếp và khả năng làm việc trong môi trường quốc tế còn nhiều hạn chế.

Không ít cán bộ trẻ thiếu bản lĩnh, ngại rèn luyện. Một bộ phận cán bộ phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, làm việc hời hợt, ngại khó, ngại khổ, thậm chí có người suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa".

Một số cán bộ lãnh đạo, quản lý, trong đó có cả cán bộ cấp cao, thiếu gương mẫu, uy tín thấp, phẩm chất, năng lực chưa ngang tầm nhiệm vụ, vi phạm nguyên tắc và quy chế làm việc, nói nhiều làm ít, nói không đi đôi với làm, quan liêu, xa dân, cá nhân chủ nghĩa, vướng vào tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, lợi ích nhóm.

Không ít cán bộ quản lý doanh nghiệp nhà nước thiếu tu dưỡng, rèn luyện, thiếu tính Đảng, lợi dụng sơ hở trong cơ chế, chính sách, luật pháp, cố ý làm trái, trục lợi, làm thất thoát lớn vốn, tài sản của Nhà nước, gây hậu quả nghiêm trọng, bị xử lý kỷ luật đảng và xử lý theo pháp luật.

Chỉ tính từ đầu nhiệm kỳ khóa XIII đến nay, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã phải thi hành kỷ luật gần 100 cán bộ cao cấp thuộc diện Trung ương quản lý; một số cán bộ đã bị xử lý hình sự.

Tình trạng chạy chức, chạy quyền, chạy quy hoạch, chạy luân chuyển, chạy phiếu bầu, chạy bằng cấp, chạy khen thưởng, chạy danh hiệu, chạy tội..., trong đó có cả cán bộ cấp cao, tuy đã được ngăn chặn nhưng vẫn chưa hoàn toàn bị đẩy lùi. Làm việc gì, giữ chức vụ gì cũng chỉ tính đến lợi quyền, bổng lộc cho cá nhân mình, gia đình mình trước nhất, quên cả thanh liêm, danh dự.

Cần khẳng định rằng, sự trưởng thành, lớn mạnh và phát triển của đội ngũ cán bộ trong mấy chục năm qua là nhân tố hàng đầu quyết định làm nên những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay.

Song, những khuyết điểm, yếu kém của một bộ phận cán bộ và những hạn chế, bất cập trong công tác cán bộ cũng là một nguyên nhân quan trọng làm cho đất nước phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh và mong muốn của chúng ta, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.

Tình hình đội ngũ cán bộ hiện nay, nhất là cán bộ cấp chiến lược, như đã nói ở trên, có ảnh hưởng nhất định đến việc chuẩn bị nhân sự cho Đại hội XIV của Đảng.

Tổng Bí thư: Để người hống hách, tham nhũng làm lãnh đạo là tai họa - 3

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trao đổi cùng các đại biểu tham dự (Ảnh: TTXVN).

2. Yêu cầu đặt ra cho công tác nhân sự của Đại hội XIV

Đại hội XIV của Đảng là một sự kiện chính trị rất quan trọng. Đại hội được tiến hành vào thời điểm đất nước ta trải qua 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 35 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh 1991), trong đó có gần 15 năm thực hiện Cương lĩnh (bổ sung, phát triển 2011) và 5 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2021-2030, hướng tới kỷ niệm 100 năm Ngày thành lập Đảng vào năm 2030 và kỷ niệm 100 năm Ngày thành lập nước vào năm 2045.

Đại hội XIV sẽ là một dấu mốc rất quan trọng, có ý nghĩa định hướng tương lai, cổ vũ, động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Đại hội Đảng ta diễn ra trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực có những diễn biến rất nhanh chóng, phức tạp, khó lường. Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn; tuy nhiên các mối đe dọa an ninh truyền thống, phi truyền thống và biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng gay gắt.

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế tri thức, kinh tế số và xu hướng quốc tế hóa nguồn nhân lực vừa là thời cơ, vừa là thách thức đối với nước ta.

Ở trong nước, công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế ngày càng đi vào chiều sâu, sức mạnh tổng hợp và uy tín, vị thế quốc tế của Việt Nam ngày càng được nâng cao, tạo tiền đề để đất nước phát triển nhanh, bền vững.

Tuy nhiên, sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta vẫn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức; bốn nguy cơ (tụt hậu xa hơn về kinh tế; chệch hướng xã hội chủ nghĩa; nạn tham nhũng và tệ quan liêu; "diễn biến hòa bình") mà Đảng ta đã chỉ ra vẫn còn hiện hữu, có mặt gay gắt hơn; tình hình an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội vẫn tiềm ẩn những nhân tố dễ gây mất ổn định.

Sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động ngày càng tinh vi, nguy hiểm, phức tạp trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, mở cửa hội nhập, sự bùng nổ của hệ thống thông tin truyền thông toàn cầu, chiến tranh mạng...

Đây cũng là thời điểm chuyển giao thế hệ từ lớp cán bộ sinh ra, lớn lên, được rèn luyện, trưởng thành trong những năm tháng kháng chiến, chủ yếu được đào tạo ở trong nước và tại các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, sang lớp cán bộ sinh ra, lớn lên, trưởng thành trong hòa bình và được đào tạo từ nhiều nguồn, nhiều nước có thể chế chính trị khác nhau.

Tình hình tư tưởng trong Đảng và tâm trạng trong nhân dân, bên cạnh mặt tích cực là cơ bản, cũng có những biểu hiện đáng lo ngại. Nhất là tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; tệ quan liêu, tham nhũng, tiêu cực trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức mới chỉ bước đầu được ngăn chặn, đẩy lùi.

Tình hình trên cho thấy nhiệm vụ của toàn Đảng sắp tới là rất nặng nề. Để giải quyết những vấn đề trọng đại của đất nước trong thời gian tới, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương phải chuẩn bị thật tốt để trình Đại hội thảo luận và quyết định nhân sự Trung ương khóa XIV, bảo đảm thành công của Đại hội và thắng lợi trong quá trình thực hiện Nghị quyết Đại hội.

Đây là công việc vô cùng quan trọng. Đây cũng là vấn đề nhận được sự quan tâm sâu sắc, chính đáng của toàn Đảng, toàn dân. Gần như đi đến đâu, ở chỗ nào, cũng thấy cán bộ, đảng viên và nhân dân tỏ ra quan tâm theo dõi và có phần băn khoăn, lo lắng, đặt câu hỏi: Đảng ta sắp tới dự định lựa chọn, bố trí đội ngũ cán bộ lãnh đạo (Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, nhất là cán bộ chủ chốt) thế nào để đủ sức gánh vác nhiệm vụ cách mạng to lớn mà lịch sử giao phó?

Các phần tử xấu, cơ hội, thù địch cũng nhân dịp này tìm mọi cách xuyên tạc, tung tin, tác động, chia rẽ nội bộ ta hòng phá hoại công tác nhân sự nói riêng, công tác xây dựng Đảng nói chung của chúng ta, rất thâm độc và nguy hiểm.

Rõ ràng, công tác nhân sự Đại hội là vô cùng quan trọng nhưng cũng hết sức phức tạp, khó khăn, nặng nề, đòi hỏi Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cả hệ thống chính trị phải làm việc với tinh thần trách nhiệm rất cao, với quyết tâm, nỗ lực rất lớn, có cách làm thật sự công tâm, khách quan, khoa học, đặt lợi ích của quốc gia - dân tộc, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết.

3. Nội dung, phương pháp, cách thức tiến hành

Để chuẩn bị nhân sự Đại hội XIV của Đảng, vấn đề quan trọng hàng đầu là phải xác định đúng yêu cầu xây dựng Ban Chấp hành Trung ương mà hạt nhân là Bộ Chính trị, Ban Bí thư, lãnh đạo chủ chốt của Đảng. Phải chăng việc xây dựng Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV phải bảo đảm các yêu cầu sau đây:

- Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV phải là một tập thể thật sự đoàn kết, trong sạch, vững mạnh, thống nhất cao ý chí và hành động, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức trong sáng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; có tầm nhìn chiến lược; có trí tuệ, tư duy đổi mới, sáng tạo; tiêu biểu cho toàn Đảng về tính chiến đấu, tính kỷ luật; gắn bó mật thiết với nhân dân, quy tụ được sự đoàn kết, thống nhất trong toàn Đảng, toàn dân; đủ uy tín, năng lực lãnh đạo đất nước trong giai đoạn phát triển mới.

Tổng Bí thư: Để người hống hách, tham nhũng làm lãnh đạo là tai họa - 4

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trò chuyện với các lãnh đạo chủ chốt tại phiên họp (Ảnh: VOV).

- Trên cơ sở bảo đảm tiêu chuẩn, Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV cần có số lượng và cơ cấu hợp lý để bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, tăng cường số lượng Ủy viên Trung ương Đảng ở các vị trí, địa bàn, lĩnh vực công tác trọng yếu. Bảo đảm tính kế thừa, ổn định, đổi mới và phát triển liên tục.

- Việc giới thiệu nhân sự, nói chung phải trên cơ sở quy hoạch; giữ vững nguyên tắc, quy chế, quy định, phát huy trách nhiệm, dân chủ, công khai, minh bạch, khách quan trong đánh giá, giới thiệu, lựa chọn nhân sự tham gia Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước nhiệm kỳ tới.

Lấy phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, trình độ các mặt, uy tín và hiệu quả công tác làm căn cứ và tiêu chí cơ bản để đánh giá, lựa chọn, bố trí cán bộ phù hợp với công việc. Chống các biểu hiện cơ hội, tham vọng quyền lực, vận động cá nhân, cục bộ, phe cánh, lợi ích nhóm...; cảnh giác với những âm mưu, thủ đoạn phá hoại, gây rối nội bộ của các thế lực thù địch.

Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV phải thật sự là những đồng chí tiêu biểu của Đảng về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực công tác; bảo đảm tiêu chuẩn chung của cán bộ, đặc biệt chú trọng các vấn đề sau:

+ Có tinh thần yêu nước sâu sắc, có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; tuyệt đối trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Cương lĩnh, đường lối của Đảng, Hiến pháp của Nhà nước và lợi ích của quốc gia - dân tộc.

Có ý chí chiến đấu cao, gương mẫu thực hiện nguyên tắc, kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước; dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm; nói đi đôi với làm, gắn bó mật thiết với nhân dân, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, quyết liệt trong hành động.

+ Có phẩm chất đạo đức và lối sống trong sáng, gương mẫu, được cán bộ, đảng viên và nhân dân tín nhiệm. Có tinh thần trách nhiệm cao, tâm huyết, tận tụy với công việc; bản thân không tham nhũng, quan liêu, cơ hội, vụ lợi, tham vọng quyền lực và kiên quyết đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực, quan liêu, tham nhũng; không để vợ, chồng, con, người thân lợi dụng chức quyền để trục lợi.

Có ý thức giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, gương mẫu chấp hành sự phân công và nguyên tắc tổ chức, kỷ luật của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình; công minh, công bằng trong đánh giá, sử dụng cán bộ.

+ Có trí tuệ, tầm nhìn, tư duy chiến lược và kiến thức tương đối toàn diện để tham gia hoạch định đường lối, chính sách và sự lãnh đạo tập thể của Ban Chấp hành Trung ương.

Có năng lực cụ thể hóa và lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối, chính sách, nhiệm vụ của Đảng, chiến lược phát triển đất nước trong giai đoạn mới tại lĩnh vực, địa bàn công tác được phân công; qua thực tiễn tỏ rõ là người có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, với nhân dân, có năng lực sáng tạo, nhiệt huyết, làm việc có hiệu quả, có "sản phẩm" cụ thể, rõ rệt; dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm; đoàn kết, quy tụ, phát huy được đội ngũ cán bộ trong lĩnh vực, địa bàn được phân công.

Có ý thức, trách nhiệm và khả năng tham gia thảo luận, đóng góp vào các quyết định chung của Ban Chấp hành Trung ương; đủ sức khỏe để hoàn thành nhiệm vụ.

Nói tóm lại là phải vừa có Đức vừa có Tài, trong đó Đức là gốc ("chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài").

Kiên quyết không bỏ sót những người thật sự có đức, có tài, đủ tiêu chuẩn; đồng thời không để lọt vào Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV những người có một trong các khuyết điểm sau:

(1) Bản lĩnh chính trị không vững vàng; không kiên định đường lối, quan điểm của Đảng; có biểu hiện cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực, xu nịnh, chạy chọt, tham nhũng, quan liêu, cục bộ, vận động cho cá nhân, phe cánh, lợi ích nhóm; thiếu chính kiến, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh

(2) Vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, mị dân, chuyên quyền, độc đoán; không công bằng, công minh trong đánh giá, sử dụng cán bộ, trù dập người thẳng thắn đấu tranh, phê bình

(3) Để nội bộ mất đoàn kết nghiêm trọng hoặc để xảy ra tham nhũng, thất thoát, vụ việc tiêu cực lớn ở địa phương, cơ quan, đơn vị

(4) Không chịu nghiên cứu học hỏi; bảo thủ, trì trệ, làm việc kém hiệu quả, nói nhiều làm ít, nói không đi đôi với làm; ý thức kỷ luật kém, không chấp hành sự điều động, phân công của tổ chức, uy tín giảm sút

(5) Kê khai tài sản không trung thực, có biểu hiện giàu nhanh, nhiều nhà, nhiều đất, nhiều tài sản khác mà không giải trình rõ được nguồn gốc; bản thân hoặc vợ, chồng, con có lối sống thiếu gương mẫu, lợi dụng chức quyền để thu lợi bất chính

(6) Vi phạm quy định về lịch sử chính trị hoặc chính trị hiện nay.

Cùng với việc xác định rõ và nắm vững yêu cầu, tiêu chuẩn Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, phải tính toán, quy định rõ cơ cấu, số lượng Ban Chấp hành Trung ương, giải quyết tốt mối quan hệ giữa số lượng chất lượng.

Đây cũng là vấn đề luôn được quan tâm trong quá trình chuẩn bị nhân sự ở mỗi kỳ Đại hội.

Tổng Bí thư: Để người hống hách, tham nhũng làm lãnh đạo là tai họa - 5

Các đại biểu trò chuyện, trao đổi khi tham dự phiên họp (Ảnh: VOV).

Quan điểm chung và nhất quán ở các kỳ Đại hội là: Trên cơ sở bảo đảm tiêu chuẩn, Ban Chấp hành Trung ương cần có cơ cấu hợp lý để bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, tính kế thừa và phát triển; nhưng không nhất thiết lĩnh vực nào, ngành nào cũng phải có người tham gia Ban Chấp hành Trung ương nếu không đủ tiêu chuẩn; không vì cơ cấu mà hạ thấp tiêu chuẩn.

Giới thiệu để bầu làm Ủy viên Trung ương chính thức đối với các đồng chí có đủ tiêu chuẩn, điều kiện để phân công phụ trách các lĩnh vực công tác Đảng, công tác chính quyền, công tác Mặt trận, các đoàn thể chính trị - xã hội, các cơ quan trọng yếu của Nhà nước ở trung ương, địa phương và lực lượng vũ trang.

Các ban đảng ở Trung ương và một số bộ, ngành, địa phương thuộc vị trí, địa bàn, lĩnh vực quan trọng cần tăng cường số lượng Ủy viên Trung ương Đảng.

Trong cơ cấu của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV cần chú ý bảo đảm tỉ lệ hợp lý đối với cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số; một số nhà khoa học, văn nghệ sĩ, lãnh đạo một số tập đoàn, tổng công ty lớn của Nhà nước đủ tiêu chuẩn, điều kiện tham gia Ban Chấp hành Trung ương.

Rút kinh nghiệm từ các khóa trước, việc xác định số lượng Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV cần căn cứ chủ yếu vào yêu cầu, nhiệm vụ và đòi hỏi của tình hình, căn cứ vào yêu cầu lãnh đạo toàn diện đối với các địa bàn, lĩnh vực công tác, đặc biệt là phải bảo đảm chất lượng, tiêu chuẩn, không thuần túy chạy theo số lượng.

4. Trách nhiệm của chúng ta

Tại Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII (tháng 10/2023), Ban Chấp hành Trung ương đã quyết định thành lập Tiểu ban Nhân sự Đại hội XIV. Tiểu ban Nhân sự sẽ quyết định thành lập Tổ Giúp việc của Tiểu ban Nhân sự.

Tiểu ban Nhân sự sẽ ban hành các quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, nguyên tắc, chế độ và lề lối làm việc của Tiểu ban Nhân sự và Tổ Giúp việc. Tuy nhiên, để làm tốt công việc hệ trọng này, về tư tưởng, phương châm chỉ đạo, phương pháp và cách làm, cần phải chú trọng một số vấn đề sau đây:

- Công tác chuẩn bị nhân sự Đại hội XIV của Đảng không chỉ là nhiệm vụ của Tiểu ban Nhân sự, của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, của Ban Chấp hành Trung ương mà là nhiệm vụ quan trọng của cả hệ thống chính trị, của các cấp ủy, tổ chức đảng, các cơ quan, đơn vị và các địa phương.

Phải làm tốt công tác nhân sự từ đại hội đảng bộ các cấp để góp phần chuẩn bị tốt nhân sự cho Đại hội XIV của Đảng.

Các cấp ủy, tổ chức đảng, các cơ quan, đơn vị, nhất là người đứng đầu và ở những nơi có cán bộ tham gia quy hoạch cán bộ cấp chiến lược được giới thiệu tham gia Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV phải chịu trách nhiệm trước Tiểu ban Nhân sự, trước Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương về nhân sự do mình đề xuất, giới thiệu.

- Các cơ quan, tổ chức có liên quan, mà trước hết là Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương, phải dày công chuẩn bị, phải xác định đây là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, là nhiệm vụ "then chốt" của "then chốt", có liên quan đến sự sống còn của Đảng, vận mệnh của chế độ, sự phát triển, vững mạnh của đất nước.

Từng cơ quan, địa phương, từng cán bộ trực tiếp tham gia vào công tác chuẩn bị phải nhận thức đầy đủ, sâu sắc trách nhiệm của mình, toàn tâm, toàn ý lo cho công việc chung, phải đặt lợi ích của Đảng, của đất nước, của nhân dân lên trên hết, trước hết.

Phải tiến hành tổng kết, rút kinh nghiệm, chỉ ra những ưu điểm, kết quả cũng như những khuyết điểm, hạn chế của các khóa trước, nhất là của khóa XIII, để có thêm cơ sở đề ra phương hướng, yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng đội ngũ cán bộ của khóa XIV này.

- Công tác cán bộ nói chung và công tác nhân sự đại hội nói riêng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng như trên đã nói nhưng cũng cực kỳ phức tạp, khó khăn, vì nó liên quan đến con người, là "công tác con người".

Mà đã là con người thì như nhà văn Nga Mắc-xim Goóc-ky đã nói: "Con người, hai tiếng ấy vang lên kiêu hãnh làm sao!". Nhưng con người cũng có đủ thứ chứng tật không lành mạnh, nói ra rất tế nhị, nhạy cảm (nhận xét, đánh giá nhau thế nào? nhất là nói về nhược điểm, khuyết điểm của nhau; bố trí, sắp xếp vào đâu? liên quan đến danh dự, chế độ, chính sách hưởng thụ, chức vụ cao, thấp, lợi ích, bổng lộc... so sánh với người khác thế nào?... ("Thua trời một vạn không bằng thua bạn một ly", "Miếng ăn là miếng tồi tàn, mất ăn một miếng thì lộn gan lên đầu"!) vô cùng phức tạp, nhạy cảm, rất dễ phát sinh vấn đề, tâm tư day dứt), gây mất đoàn kết.

Vì vậy, công tác nhân sự Đại hội phải được tiến hành theo một quy trình chặt chẽ, khoa học và nhất quán, bảo đảm thật sự công tâm, thật sự trong sáng, khách quan, đặc biệt phải "có con mắt tinh đời" trong việc đánh giá, giới thiệu, lựa chọn; lấy tiêu chuẩn về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống và hiệu quả công tác, uy tín của bản thân và gia đình làm thước đo chủ yếu ("Khen cho con mắt tinh đời, anh hùng đoán giữa trần ai mới già!").

Phải trên cơ sở xác định rõ tiêu chuẩn, tiêu chí để đánh giá đúng cán bộ, lựa chọn đúng người, sắp xếp đúng việc, bố trí đúng chỗ, tạo ra một ê-kíp, một tập thể thật sự "ăn ý", đoàn kết, thống nhất, có sức mạnh.

Muốn thế, phải thật sự phát huy dân chủ trong việc phát hiện, giới thiệu nhân sự đi đôi với xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của tập thể, cá nhân liên quan và thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, nêu cao vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng và người đứng đầu.

Chống tư tưởng cục bộ, địa phương, thân quen, "cánh hẩu", "lợi ích nhóm"; tránh cách làm giản đơn, tùy tiện, vô nguyên tắc.

Phải bằng mọi biện pháp dứt khoát không đưa vào cơ quan lãnh đạo những người không xứng đáng, không đủ tiêu chuẩn, nhất là những người đã phạm sai lầm hoặc sa sút về phẩm chất, đạo đức, vướng vào tham nhũng, chạy chức, chạy quyền, hống hách, gia trưởng, nịnh trên, nạt dưới, bao che cho tội phạm, gây mất đoàn kết, ảnh hưởng xấu đến uy tín của Đảng.

Để những người đó lọt được vào cương vị lãnh đạo là tai họa cho Đảng, là tạo điều kiện cho họ càng hại nước, hại dân nhiều hơn.

Phải kiểm tra, giám sát, đôn đốc thường xuyên. Cách làm là phải thận trọng, làm dứt điểm từng khâu, từng công đoạn, theo một quy trình chặt chẽ; làm đến đâu chắc đến đó, làm nhân sự Ban Chấp hành Trung ương trước, sau đó mới đến nhân sự Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cuối cùng mới đến nhân sự lãnh đạo chủ chốt.

Nếu có những công đoạn cần làm đồng thời thì cũng phải xem xét một cách chặt chẽ, chắc chắn, bảo đảm sự đồng bộ, khoa học. Phải chuẩn bị rất kỹ, rất chu đáo, cẩn thận, tránh tối đa những sai sót.

- Các đồng chí thành viên Tiểu ban Nhân sự và Tổ Giúp việc của Tiểu ban, hơn ai hết, phải nắm chắc, nắm vững chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc, chế độ, quy chế và lề lối làm việc.

Trong quá trình tham mưu xây dựng và tổ chức thực hiện quy trình giới thiệu nhân sự, tổng hợp kết quả giới thiệu nhân sự và thực hiện các công việc khác theo chỉ đạo của Trung ương, Bộ Chính trị, các đồng chí thành viên của Tiểu ban và Tổ Giúp việc phải là những cán bộ thật sự tin cậy, tuyệt đối trung thành, trung thực, trong sáng, công tâm, khách quan, đặc biệt là phải rất tỉnh táo, tinh tường, ("đừng nhìn gà hóa cuốc", "đừng thấy đỏ tưởng là chín", đừng chỉ thấy "cái mã bên ngoài, nó che đậy cái sơ sài bên trong")...; tuyệt đối giữ nguyên tắc, quan hệ công tác, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, cá nhân có liên quan; chống các biểu hiện tiêu cực chính ngay trong các cán bộ có trách nhiệm, các đại biểu Đại hội và các thành viên của Tiểu ban và Tổ Giúp việc.

Tổng Bí thư: Để người hống hách, tham nhũng làm lãnh đạo là tai họa - 6

Thường trực Ban Bí thư, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Trương Thị Mai phát biểu tại phiên họp (Ảnh: VOV).

Đặc biệt, phải có quy chế, quy định chặt chẽ, đồng bộ, bảo đảm thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, khách quan, công tâm dưới sự lãnh đạo của Đảng (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Đoàn Chủ tịch Đại hội).

- Cũng cần phải nói thêm rằng, trong quá trình lựa chọn, bố trí, sắp xếp nhân sự cụ thể, cần thống nhất quan điểm là không quá cầu toàn, không quá tuyệt đối hóa. Các cụ ta đã có câu: "Nhân vô thập toàn", con người ta ai cũng có điểm mạnh, điểm yếu ("Ngọc còn có vết nữa mình với ta").

Điều quan trọng là phải biết phân biệt, đánh giá chính xác bản chất, mức độ các điểm mạnh, điểm yếu đó để không chọn nhầm người và phải có cách bố trí, sắp xếp nhân sự sao cho phù hợp để phát huy mặt mạnh, hạn chế mặt yếu của mỗi thành viên, bổ sung cho nhau, tạo ra một ê-kíp mạnh, một tập thể lãnh đạo tương đối hoàn chỉnh, không gây tổn thương cho lợi ích của Đảng, của quốc gia, của tập thể.

Nguyên tắc của chúng ta là "tập thể lãnh đạo", "lãnh đạo tập thể", "lãnh tụ tập thể". Chúng ta phải chăm lo xây dựng, vun xới, bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau để mỗi người tự hoàn thiện mình, phát huy mặt tốt, khắc phục mặt yếu; để khi mỗi cá nhân đứng trong cùng một tập thể thì tập thể đó trở nên hoàn thiện hơn, toàn diện, vững mạnh hơn; và mỗi cá nhân cũng trở nên tốt hơn, phát huy được nhiều hơn phẩm chất và năng lực của mình. Tránh tình trạng "cua cậy càng, cá cậy vây", tự cao tự đại, coi thường người khác, không phối hợp, hợp tác tốt.

Mục đích của chúng ta, trách nhiệm của chúng ta là phải xây dựng được một Ban Chấp hành Trung ương mạnh, một Bộ Chính trị mạnh, một Ban Bí thư mạnh, thật sự đoàn kết, thống nhất cao xung quanh người đứng đầu để đủ sức gánh vác trọng trách vinh quang nhưng rất nặng nề của mình là lãnh đạo hoàn thành sứ mạng lịch sử, nhiệm vụ chính trị của mình, tổ chức toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ra sức phấn đấu, vượt mọi khó khăn, gian khổ, xây dựng Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh; đất nước ta ngày càng phát triển; nhân dân ta ngày càng ấm no, hạnh phúc, xứng đáng với niềm tin yêu và sự mong đợi của toàn Đảng, toàn dân.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng

FalseChính trị
Văn kiện Đại hội XIV của Đảng phải phản ánh đầy đủ thực tiễn mới của đất nước TinĐảng Cộng sản VNVăn kiện Đại hội XIV của Đảng phải phản ánh đầy đủ thực tiễn mới của đất nước /SiteAssets/Hop-banVK14-1.jpg
24/02/2024 7:00 SANoĐã ban hành

(TUAG)- Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: Việc chuẩn bị các văn kiện cho Đại hội XIV của Đảng, đặc biệt là Báo cáo chính trị phải được tiến hành một cách khoa học, nghiêm túc, có đổi mới trong cách làm; phản ánh đầy đủ thực tiễn mới của đất nước.

Ngày 23/2, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tiểu ban Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã tiến hành phiên họp đầu tiên. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng Tiểu ban chủ trì Phiên họp.

Các Ủy viên Bộ Chính trị: Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng; Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính; Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ cùng các thành viên Tiểu ban Văn kiện, Thường trực Tổ Biên tập Văn kiện cùng tham dự.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng Tiểu ban Văn kiện phát biểu chỉ đạo Phiên họp. Ảnh: Trí Dũng

Theo kế hoạch, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng dự kiến được tổ chức vào tháng 1/2026. Để chuẩn bị cho Đại hội XIV của Đảng, Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII đã quyết định thành lập 5 Tiểu ban, trong đó có Tiểu ban Văn kiện do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng làm Trưởng Tiểu ban.

Tiểu ban Văn kiện có nhiệm vụ chuẩn bị Báo cáo Chính trị và Báo cáo Tổng kết 40 năm đổi mới trình Đại hội XIV của Đảng. Để giúp việc Tiểu ban Văn kiện, Ban Bí thư đã quyết định thành lập Tổ Biên tập Văn kiện.

Tại phiên họp, đồng chí Nguyễn Xuân Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, Tổ trưởng Tổ Biên tập Văn kiện, báo cáo kết quả hoạt động của Thường trực Tiểu ban Văn kiện, Tổ Biên tập Văn kiện từ khi thành lập đến nay; tổng hợp ý kiến của các thành viên Tiểu ban Văn kiện về dự thảo Tờ trình, dự thảo Quy chế làm việc và Kế hoạch hoạt động của Tiểu ban Văn kiện Đại hội XIV của Đảng.

Phát biểu chỉ đạo tại phiên họp, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ, Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng là một sự kiện chính trị cực kỳ quan trọng. Đại hội XIV của Đảng sẽ tiến hành vào thời điểm rất có ý nghĩa: Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang chung sức đồng lòng, tranh thủ mọi thời cơ, thuận lợi, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, thực hiện thắng lợi nhiều chủ trương, mục tiêu, nhiệm vụ được xác định trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Trải qua 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 35 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh năm 1991), 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, đất nước ta đã giành được nhiều kết quả rất quan trọng, nổi bật, với nhiều điểm sáng, tạo tiền đề để cho nước ta bước vào một giai đoạn phát triển mới với những thời cơ, thuận lợi và khó khăn thách thức mới lớn hơn đan xen.

Đại hội XIV của Đảng có nhiệm vụ đi sâu kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII, tổng kết 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, từ đó rút ra những bài học quan trọng; xác định phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong 5 năm tới (2026 - 2030), tiếp tục thực hiện thắng lợi Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2021 - 2030).

Đại hội XIV sẽ kiểm điểm sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII; kiểm điểm việc thi hành Điều lệ Đảng khóa XIII và tiến hành sửa đổi Điều lệ Đảng; bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.

Đại hội XIV sẽ lại là một dấu mốc quan trọng trên con đường phát triển của đất nước ta, dân tộc ta, có ý nghĩa định hướng tương lai; khích lệ, cổ vũ, động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiếp tục kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, khẳng định đây là sự lựa chọn đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, phấn đấu đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng: Nước ta là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao; xây dựng một nước Việt Nam "giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc", vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: Việc chuẩn bị các văn kiện cho Đại hội XIV, đặc biệt là Báo cáo chính trị là báo cáo trung tâm, có vai trò định hướng cho các văn kiện khác của Đại hội phải được tiến hành một cách khoa học, nghiêm túc, có đổi mới trong cách làm, phải bảo đảm thật sự có chất lượng, phản ánh đầy đủ thực tiễn mới của đất nước. Đây là công việc có ý nghĩa hết sức quan trọng, bảo đảm sự thành công của Đại hội.

Hình ảnh tại Phiên họp.  

Để bảo đảm chất lượng công việc, Tổng Bí thư đề nghị các thành viên Tiểu ban, Thường trực Tiểu ban, đặc biệt là các thành viên trong Tổ Biên tập, Thường trực Tổ Biên tập cần quán triệt sâu sắc và thống nhất cao một số vấn đề về phương châm, phương pháp tư tưởng, hệ quan điểm chỉ đạo và cách làm để đạt hiệu quả cao nhất.

Kiên định hệ quan điểm chỉ đạo mang tính nguyên tắc là: Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tổng Bí thư chỉ rõ, kiên định phải đi đôi với đổi mới nhưng là sự đổi mới có nguyên tắc, không tuỳ tiện, nóng vội. Phải nắm vững và xử lý tốt "bốn kiên định", đặc biệt là kiên định một cách sáng tạo và sáng tạo một cách kiên định, theo phương pháp cách mạng Hồ Chí Minh, vì con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là lâu dài và chưa có tiền lệ, còn rất nhiều khó khăn, thách thức.

Tổng Bí thư nhấn mạnh, trong quá trình xây dựng các văn kiện Đại hội XIV của Đảng, phải gắn kết nhuần nhuyễn việc nghiên cứu lý luận với tổng kết thực tiễn phát triển trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; với xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, hình thành đồng bộ thể chế phát triển nhanh và bền vững đất nước dựa trên những trụ cột là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

“Báo cáo chính trị của Đại hội Đảng toàn quốc lần này phải là một công trình khoa học kết tinh trình độ lý luận, tầm cao trí tuệ của toàn Đảng, niềm tin, khát vọng của cả dân tộc, phản ánh những quy luật khách quan của thực tiễn, xu thế vận động mới của thực tiễn. Coi trọng tổng kết thực tiễn và nắm chắc lý luận khoa học; kết hợp nhuần nhuyễn giữa nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn với định hướng chính sách để phát hiện, tìm tòi những chủ trương, nhiệm vụ, giải pháp đang xuất hiện có sức sống từ trong thực tiễn, từ những nhân tố mới của thực tiễn, những mâu thuẫn chín muồi trong thực tiễn. Chú ý làm rõ những chủ trương, chính sách nào đã được thực tế khẳng định là đúng đắn, phù hợp và cái gì cần tiếp tục đổi mới, bổ sung, phát triển”, Tổng Bí thư chỉ rõ.

Về cách làm, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, Văn kiện Đại hội, trong đó có Báo cáo chính trị của Đại hội XIV là sản phẩm của trí tuệ tập thể, là một công trình tập thể của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, cho nên phải phát huy dân chủ, phát huy trí tuệ tập thể và theo đó phải có sự tham gia đóng góp của các cơ quan, ban, bộ, ngành Trung ương, các địa phương, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân; tranh thủ sự tham gia đóng góp của các đồng chí nguyên lãnh đạo, của giới trí thức, các nhà nghiên cứu, quản lý. Đặc biệt, phải chú trọng khai thác kết quả nghiên cứu khoa học ở trong nước và quốc tế, chắt lọc kết quả nghiên cứu của các chương trình, đề tài nghiên cứu khoa học lý luận chính trị đặc biệt cấp quốc gia giai đoạn 2021 - 2025, các chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến 2045…

Tổng Bí thư lưu ý, trong quá trình thảo luận, bàn bạc, cần cầu thị, lắng nghe, tôn trọng ý kiến lẫn nhau, cùng tìm ra chân lý, tạo sự thống nhất cao, nhất là những vấn đề mới, vấn đề khó để Báo cáo chính trị phải là báo cáo trung tâm, phải đạt ở tầm quan điểm, đường lối, chủ trương lớn; báo cáo chiến lược phát triển kinh tế - xã hội là báo cáo chuyên đề, bảo đảm  không trùng lặp; nhất quán về quan điểm, chủ trương của Đảng về phát triển đất nước giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045, góp phần tiếp tục bổ sung, phát triển nhận thức lý luận của Đảng ta về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Tổng Bí thư chỉ rõ, sắp tới, công việc của Tiểu ban, Thường trực Tiểu ban rất nhiều, rất khó, đòi hỏi phải có sự cố gắng rất lớn, sự tập trung, nỗ lực rất cao để hoàn thành công việc với chất lượng cao, đúng tiến độ./.

PV
FalseChính trị
Huy hiệu Đảng - vinh dự của người đảng viênBài viếtThúy UyênHuy hiệu Đảng - vinh dự của người đảng viên/SiteAssets/HuyhieuDang-vinhdu-2.JPG
06/02/2024 4:00 CHYesĐã ban hành

(TUAG)- Những ngày đầu tháng 02, các địa phương trong tỉnh tổ chức trọng thể lễ tặng, truy tặng Huy hiệu Đảng nhân dịp kỷ niệm 94 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930 - 3/2/2024). Đây là hoạt động có ý nghĩa chính trị sâu sắc, ghi nhận những cống hiến của các đồng chí đảng viên cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

HuyhieuDang-vinhdu-2.JPG
Lãnh đạo tỉnh trao tặng Huy hiệu Đảng cho các đồng chí cao niên tuổi Đảng đợt 3/2

Huy hiệu Đảng là phần thưởng cao quý ghi nhận, tôn vinh quá trình phấn đấu, rèn luyện, cống hiến của đảng viên cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và Nhân dân. Lễ trao Huy hiệu Đảng là đợt sinh hoạt chính trị có ý nghĩa quan trọng và được tổ chức hàng năm vào dịp kỷ niệm các ngày lễ lớn như: Ngày thành lập Đảng 3/2, Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh 19/5, Ngày Quốc khánh 2/9, Cách mạng Tháng Mười Nga 7/11… Theo quy định, đảng viên hoạt động cách mạng lâu năm, giữ gìn được tư cách đảng viên sẽ được xét tặng Huy hiệu Đảng; nếu bị kỷ luật, khiển trách thì việc xét tặng Huy hiệu Đảng sẽ dừng lại. Vì vậy, Huy hiệu Đảng không đơn thuần chỉ là sự ghi nhận về số tuổi Đảng mà còn là sự ghi nhận về quá trình phấn đấu, cống hiến, về phẩm chất đạo đức, bản lĩnh chính trị của người đảng viên. Việc tổ chức trao tặng Huy hiệu Đảng cho đảng viên đủ tiêu chuẩn trở thành nét đẹp, nhân thêm niềm tự hào về Đảng trong đội ngũ đảng viên và quần chúng Nhân dân. Căn cứ hướng dẫn của Trung ương, các cấp uỷ đảng ở nhiều địa phương đã xem Lễ trao Huy hiệu Đảng là đợt sinh hoạt chính trị quan trọng và có những cách làm hay, sáng tạo, góp phần làm sâu sắc thêm và lan tỏa ý nghĩa của Lễ trao Huy hiệu Đảng trong Đảng và toàn xã hội. Lễ trao Huy hiệu Đảng không chỉ là nơi tôn vinh, ghi nhận những đóng góp, cống hiến, mà còn nhắc nhở, phát huy trách nhiệm nêu gương, “đi trước” của đảng viên mà còn là dịp các đảng viên chúc mừng đồng chí của mình, có thêm động lực, niềm tin để tiếp tục học tập, rèn luyện, phấn đấu theo tấm gương của những người đi trước.

Nhân kỷ niệm 94 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930 - 3/2/2024), Ban Thường vụ Tỉnh ủy An Giang quyết định tặng và truy tặng Huy hiệu Đảng cho 336 đảng viên có đủ 65 năm, 60 năm, 55 năm, 50 năm, 45 năm, 40 năm và 30 năm tuổi Đảng trong toàn tỉnh nhằm ghi nhận công lao, vinh danh những đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với Đảng, với tổ quốc và Nhân dân; không ngại hy sinh, gian khổ, luôn nỗ lực vượt qua mọi khó khăn, đóng góp sức mình cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc, của Đảng qua các thời kỳ kháng chiến, bảo vệ Tổ quốc cũng như trong thời kỳ xây dựng quê hương, đất nước.

Đồng chí Nguyễn Chí Dũng (sinh hoạt tại Đảng bộ phường Mỹ Bình, TP Long Xuyên) nhận huy hiệu 60 năm tuổi Đảng, chia sẻ: “Được nhận Huy hiệu Đảng lần này là niềm tự hào, vinh dự rất lớn của cuộc đời chiến đấu và tham gia tổ chức Đảng của mình. Tôi tin tưởng rằng, Đảng, các tổ chức Đảng và lãnh đạo tỉnh sẽ tiếp tục đạt được được nhiều thành tích tốt, đưa tỉnh nhà ngày càng phát triển hơn nữa. Riêng bản thân tôi sẽ cố gắng phấn đấu học tập, luôn giữ lý tưởng cộng sản của người đảng viên”.

Đồng chí Nguyễn Minh Khuyên (sinh hoạt tại Đảng bộ phường Mỹ Xuyên, TP Long Xuyên) nhận huy hiệu 55 năm tuổi Đảng, chia sẻ: “Tôi hết sức vui mừng, phấn khởi, rất vinh dự và tự hào được nhận Huy hiệu Đảng đợt 3/2 này. Từ khi tham gia cách mạng cho đến khi vào Đảng, nhờ sự lãnh đạo của Đảng, các đồng chí lãnh đạo đã dạy bảo, giúp đỡ, hướng dẫn, chăm lo… bản thân tôi mới được như hôm nay. Dù tuổi đã hơi cao nhưng tôi xin hứa vẫn tiếp tục phấn đấu hoàn thành trách nhiệm, vai trò nhiệm vụ người đảng viên, để xứng đáng với sự tin yêu của bạn bè đồng chí cũng như sự quan tâm của Đảng, góp phần làm cho đảng vững mạnh, xây dựng tỉnh nhà ngày càng giàu đẹp, Nhân dân ngày càng hạnh phúc”.

Đồng chí Đoàn Văn Hiển (đang sinh hoạt tại Đảng bộ Xã Đào Hữu Cảnh, huyện Châu Phú), chia sẻ: “Từ ngày được vào Đảng đến nay, tôi chấp hành tốt sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được phân công. Tôi luôn giữ vững phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống của người cách mạng và bản lĩnh của người đảng viên, một lòng kiên trung với Đảng. Vinh dự được nhận Huy hiệu 30 năm tuổi Đảng, tôi rất vui mừng, vinh dự và xin cám ơn các đồng chí lãnh đạo, các đồng chí cao niên tuổi Đảng đã dìu dắt, giáo dục, giúp đỡ tôi trong thời gian qua. Vinh dự được nhận Huy hiệu Đảng, tôi càng thấy trách nhiệm của mình đối với đảng và Nhân dân, bản thân sẽ tiếp tục phấn đấu, rèn luyện và học tập làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách sáng ngời của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu để thật sự xứng đáng là người đảng viên trong phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh. Tôi xin hứa sẽ mãi mãi giữ vững nhân cách, phẩm chất chính trị và đạo đức lối sống của một người đầu mạng làm thật tốt bốn nhiệm vụ của người đảng viên và gương mẫu uy tín để xứng đáng lòng tin của các đồng chí và quần chúng Nhân dân”.

HuyhieuDang-vinhdu-1.JPG

Phát biểu tại buổi Lễ trao Huy hiệu Đảng đợt 3/2/2024 cho các đồng chí cao niên tuổi Đảng, thay mặt Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy An Giang Lê Hồng Quang ghi nhận, biểu dương những đóng góp quý báu của các đồng chí cao niên tuổi Đảng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời chúc mừng và khẳng định đây không chỉ là niềm tự hào của các đồng chí cao niên tuổi Đảng được nhận Huy hiệu Đảng đợt này mà còn là niềm tự hào của Đảng bộ và Nhân dân tỉnh nhà.

Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy An Giang Lê Hồng Quang bày tỏ tin tưởng rằng: “Các đảng viên cao niên tuổi Đảng sẽ tiếp tục giữ vững phẩm chất chính trị; dù ở cương vị, hoàn cảnh nào, các đồng chí luôn tích cực, gương mẫu, đi đầu trong các phong trào cách mạng ở địa phương, đơn vị; thường xuyên học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và tấm gương của Bác Tôn kính mến. Với kinh nghiệm, khả năng của mình, thông qua những hình thức phù hợp, tiếp tục tham gia xây dựng Đảng, chính quyền, Mặt trận, đoàn thể và trong phong trào cách mạng quần chúng tại địa phương. Mãi là những chiến sĩ cộng sản kiên trung, những tấm gương sáng để các thế hệ cán bộ, con cháu noi theo, xứng đáng với phần thưởng cao quý được Đảng trao tặng”.

THÚY UYÊN

TrueChính trị
Khi Đảng ở trong tim của người đảng viên cho đến hơi thở cuối cùngBài viếtNgọc HânKhi Đảng ở trong tim của người đảng viên cho đến hơi thở cuối cùng/SiteAssets/Bac-5-Ha-hhd-1.jpg
03/02/2024 5:00 CHYesĐã ban hành

(TUAG)- Trong cuộc đời mỗi người, ai cũng từng mang nặng một lời thề nào đó bắt nguồn từ niềm tin vào những điều thiêng liêng nhất trong trái tim mình. Đối với đảng viên, trong giây phút thiêng liêng được kết nạp vào Đảng, đã tuyên thệ "Tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng, chấp hành nghiêm Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước;...". Lời thề chính là sự cam kết chính trị về lòng trung thành, ý chí phấn đấu suốt đời vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng và của dân tộc mình; là trách nhiệm, lương tâm, danh dự của người cộng sản.

Với những đảng viên có ý thức và giàu lòng tự trọng, lời thề trong ngày lễ kết nạp Đảng luôn trong trái tim của họ cho đến tận hơi thở cuối cùng. Đảng viên Trần Sơn Hà, nguyên Phó Trưởng ban Tuyên huấn Tỉnh ủy An Giang, cán bộ lão thành cách mạng với 76 năm tuổi Đảng là một điển hình như thế.

 Bac-5-Ha-hhd-1.jpg

Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy An Giang Lê Hồng Quang trao Huy hiệu 75 năm tuổi Đảng cho đồng chí Trần Sơn Hà

Khi Cách mạng Tháng Tám 1945 diễn ra, thiếu niên 13 tuổi Trần Sơn Hà tham gia lực lượng thiếu niên tiền phong xã Ba Trinh, rồi làm nhân viên Huyện đoàn Thanh niên Cứu quốc Kế Sách (tỉnh Sóc Trăng). 15 tuổi, làm chiến sĩ phòng đặc phái viên Bộ Tư lệnh Quân khu 7 miền Đông. Ngày 10/8/1949, chưa tròn 17 tuổi, ông trở thành Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Suốt những năm tháng kháng chiến chống đế quốc Mỹ, đảng viên Trần Sơn Hà công tác ở nhiều đơn vị, giữ nhiều chức vụ khác nhau. Tháng 01/1976, ông giữ chức Phó Trưởng ban Tuyên huấn Tỉnh ủy, phụ trách huấn học và tuyên truyền, cho đến khi về hưu (tháng 10/1989). Đồng chí Trần Sơn Hà, trút hơi thở cuối cùng vào lúc 9 giờ sáng ngày 03/02/2024.

Quá trình hoạt động cách mạng, đồng chí được Đảng và Nhà nước tặng thưởng: Huy hiệu 75 năm tuổi Đảng, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Quyết thắng hạng Nhất, Huân chương chống Mỹ hạng Nhì, Huân chương Giải phóng hạng Nhì, Huân chương Chiến sĩ hạng Nhì, hạng Ba, Huân chương Chiến thắng hạng Ba, Huân chương Thành Đồng Tổ Quốc, Huy hiệu vì thế hệ trẻ, Huy hiệu chiến sĩ Văn hóa, nhiều bằng khen, giấy khen...

Tuổi đời gần tròn một thế kỷ, song khi còn sống, đồng chí luôn tâm niệm phải sống sao cho đúng với khí chất của người đảng viên, là tấm gương để thế hệ đảng viên trẻ và con cháu noi theo. Nhân dịp nhận Huy hiệu 75 tuổi Đảng vào ngày 27/12/2023, đồng chí khẳng định "Luôn tin và bảo vệ Đảng đến hơi thở cuối cùng". Đồng chí thật sự là tấm gương sáng, luôn tự hào, đặt niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tình nguyện, trung thành, sắt son một lòng theo Đảng, vì sự nghiệp vẻ vang của Đảng, của dân tộc như lời thơ của Nhà thơ Tố Hữu đã viết: "Còn một giây, một phút tàn hơi; Là vẫn còn chiến đấu quyết không thôi!".

Tấm gương sáng một đời theo Đảng của đồng chí Trần Sơn Hà sẽ mãi là niềm tự hào của ngành Tuyên giáo An Giang nói riêng và của Đảng bộ tỉnh An Giang nói chung. Đây cũng là hình mẫu chuẩn mực về đạo đức, lối sống của người đảng viên gương mẫu cho thế hệ hôm nay học tập, noi theo.

Tình đồng chí cao đẹp giữa người trước - người sau, giữa quá khứ - hiện tại… xin kính cẩn nghiêng mình chào tiễn biệt đồng chí Trần Sơn Hà!

    Ta lại viết bài thơ trên báng súng

    Con lớn lên viết tiếp theo cha

    Người đứng dậy viết tiếp người ngã xuống

    Người hôm nay viết tiếp người hôm qua[1]…/.

NGỌC HÂN


_________

[1] Thơ của Hoàng Trung Thông.


TrueChính trị
Bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhân kỷ niệm 94 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt NamBài viếtH.TBài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhân kỷ niệm 94 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam/SiteAssets/Tong%20Bi%20th%C6%B0%20Nguyen%20Phu%20Trong.jpg
01/02/2024 8:10 SANoĐã ban hành

(TUAG)- Nhân kỷ niệm 94 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2024), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có bài viết "Tự hào và tin tưởng dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, quyết tâm xây dựng một nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh, văn minh, văn hiến và anh hùng". Cổng TTĐT Đảng bộ tỉnh An Giang trân trọng giới thiệu cùng quý độc giả.

Như chúng ta đều đã biết, Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập vào ngày 3/2/1930, có nghĩa là đến ngày 3/2/2025 tới đây, Đảng ta sẽ tròn 95 tuổi, và đến năm 2030 sẽ tròn 100 tuổi. Đây là những mốc son chói lọi, có ý nghĩa lịch sử to lớn của Đảng, của Đất nước và Dân tộc ta.

Hiện nay, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang chung sức đồng lòng, tranh thủ mọi thời cơ và thuận lợi, vượt qua mọi khó khăn và thách thức, quyết tâm thực hiện thắng lợi nhiều chủ trương, mục tiêu, nhiệm vụ được đề ra trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; đồng thời, khởi động quá trình chuẩn bị cho đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

Tong Bi thư Nguyen Phu Trong.jpg
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng

Đại hội XIV sẽ đi sâu kiểm điểm, đánh giá việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII, tổng kết 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, từ đó rút ra những bài học quan trọng; xác định phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong 5 năm tới (2026 - 2030); tiếp tục thực hiện thắng lợi Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2021 - 2030).

Đại hội XIV sẽ lại là một dấu mốc quan trọng trên con đường phát triển của đất nước ta, dân tộc ta, có ý nghĩa định hướng tương lai; khích lệ, cổ vũ, động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiếp tục kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, khẳng định đây là sự lựa chọn đúng đắn, sáng suốt, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; tiếp tục đẩy mạnh toàn diện và đồng bộ công cuộc đổi mới, bảo vệ vững chắc Tổ quốc; phấn đấu đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng, nước ta sẽ là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao.

Để góp phần thiết thực kỷ niệm Ngày thành lập Đảng 3/2/2024, khơi dậy niềm tự hào về Đảng quang vinh, Bác Hồ vĩ đại, Dân tộc Việt Nam anh hùng; tăng cường niềm tin đối với sự lãnh đạo của Đảng và tương lai tươi sáng của Đất nước ta, Dân tộc ta; cũng như nêu cao hơn nữa trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trong toàn hệ thống chính trị, tiếp tục phát huy tinh thần yêu nước và cách mạng của toàn dân tộc, quyết tâm xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh, văn minh, văn hiến và anh hùng, chúng ta cần nhìn lại, đánh giá một cách khách quan, toàn diện những kết quả, thành tựu và bài học kinh nghiệm chủ yếu mà Đảng ta, Đất nước ta, Dân tộc ta đã đạt được qua các chặng đường lịch sử:

(1) Đảng ra đời, lãnh đạo cách mạng, giành chính quyền (từ năm 1930 đến năm 1945); (2) Toàn quốc kháng chiến, lập lại hoà bình ở miền Bắc (từ năm 1946 đến năm 1954); (3) Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc; đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (từ năm 1955 đến năm 1975); (4) Khắc phục hậu quả chiến tranh, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, từng bước đi lên chủ nghĩa xã hội (từ năm 1976 đến năm 1985); (5) Tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước ta ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn; mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng; đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay (từ năm 1986 đến nay); (6) và từ nay đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm Ngày thành lập Đảng.

Từ đó, đề ra các nhiệm vụ và giải pháp nhằm tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo - cầm quyền của Đảng; đẩy mạnh đồng bộ và toàn diện công cuộc đổi mới; thực hiện thắng lợi mục tiêu mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra là đến năm 2025 và năm 2030 xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh, dân chủ, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Bài viết này là một trong những ý tưởng theo tinh thần nêu trên và xin được trình bày theo bố cục gồm 3 phần chính như sau:

PHẦN THỨ NHẤT: ĐẢNG TA RA ĐỜI, LÃNH ĐẠO ĐẤU TRANH GIÀNH ĐỘC LẬP DÂN TỘC, GIẢI PHÓNG MIỀN NAM, THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC

Lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc ta đã chứng minh rằng, yêu nước và giữ nước, kiên quyết chống ngoại xâm, bảo vệ độc lập, chủ quyền và thống nhất đất nước là truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc ta. Nối tiếp truyền thống đó, từ giữa thế kỷ XIX, khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, không cam chịu làm thân phận nô lệ, Nhân dân ta đã liên tiếp vùng lên đấu tranh qua các phong trào yêu nước diễn ra liên tục và mạnh mẽ bằng nhiều con đường với nhiều khuynh hướng khác nhau. Từ con đường cứu nước của các sĩ phu cho đến các cuộc khởi nghĩa nông dân và con đường cách mạng tư sản... mặc dù đã đấu tranh rất kiên cường, đầy tâm huyết và chịu những hy sinh to lớn, song, do hạn chế lịch sử, nhất là thiếu một đường lối đúng, các phong trào đó đã không thành công. Lịch sử đòi hỏi phải tìm con đường mới.

Năm 1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành (tức là Bác Hồ muôn vàn kính yêu của chúng ta) đã ra đi tìm con đường mới cho sự nghiệp cứu nước, đấu tranh giành độc lập dân tộc. Mang trong mình khát vọng lớn lao, cháy bỏng, Người đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, tìm thấy ở học thuyết cách mạng này con đường cứu nước đúng đắn - con đường cách mạng vô sản. Sau nhiều năm bôn ba hoạt động ở nước ngoài, Người đã kiên trì nghiên cứu, học tập, vận dụng sáng tạo và từng bước truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin về Việt Nam, dày công chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho việc thành lập một đảng cách mạng chân chính. Ngày 03/02/1930, Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản họp ở bán đảo Cửu Long, thuộc Hồng Kông (Trung Quốc), dưới sự chủ trì của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, đã quyết định thống nhất các tổ chức cộng sản ở nước ta thành một Đảng duy nhất, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là một bước ngoặt lịch sử trọng đại, chấm dứt cuộc khủng hoảng kéo dài về tổ chức và đường lối của cách mạng Việt Nam.

Việc Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là thành quả của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước; chứng tỏ giai cấp công nhân Việt Nam đã trưởng thành và đủ sức gánh vác sứ mệnh lịch sử lãnh đạo cách mạng. Luận cương chính trị đầu tiên của Đảng được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng đã xác định con đường cơ bản của cách mạng Việt Nam, đáp ứng yêu cầu cấp thiết của Dân tộc và nguyện vọng tha thiết của Nhân dân.

Sau khi ra đời, gắn bó máu thịt với Nhân dân, được Nhân dân đồng tình, ủng hộ và tin tưởng tuyệt đối; chỉ trong vòng 15 năm, Đảng ta đã lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, tiến hành ba cao trào cách mạng: Cao trào cách mạng 1930 - 1931, với đỉnh cao là phong trào Xô Viết - Nghệ Tĩnh; Cao trào cách mạng đòi dân sinh, dân chủ (1936 - 1939) và Cao trào cách mạng giải phóng dân tộc (1939 - 1945), để đến năm 1945, khi thời cơ cách mạng chín muồi, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo toàn thể dân tộc Việt Nam làm nên thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 "long trời, lở đất", thành lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà vào ngày 02/9/1945 (năm 2025 chúng ta sẽ kỷ niệm tròn 80 năm).

Ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, cách mạng đã phải đối mặt với nhiều khó khăn, thử thách; cùng một lúc phải đương đầu với "giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm". Trong hoàn cảnh hiểm nghèo đó, Đảng đã lãnh đạo Nhân dân ta vượt qua tình thế "ngàn cân treo sợi tóc", kiên cường bảo vệ và xây dựng chính quyền non trẻ, đồng thời tích cực chuẩn bị về mọi mặt để bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Trên cơ sở đường lối kháng chiến "toàn dân", "toàn diện", "trường kỳ", "dựa vào sức mình là chính", phát huy truyền thống đoàn kết, yêu nước của toàn dân tộc, Đảng ta đã lãnh đạo Nhân dân ta lần lượt đánh bại mọi âm mưu, kế hoạch xâm lược của kẻ thù, đặc biệt là thắng lợi trong Chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954 với đỉnh cao là Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu", buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Geneve (năm 1954), chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.

Từ năm 1955 đến năm 1975, đất nước ta lại bị chia cắt làm hai miền. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, miền Bắc vừa nỗ lực xây dựng chủ nghĩa xã hội và chống lại cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, vừa dốc sức làm tròn nghĩa vụ của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn miền Nam. Nhân dân miền Nam tiếp tục cuộc đấu tranh kiên cường để giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước. Với tinh thần "thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ", "không có gì quý hơn độc lập, tự do"; trên cơ sở đường lối đúng đắn, sáng tạo của Đảng, với sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, quân và dân ta đã lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, thu giang sơn về một mối vào ngày 30/4/1975. Thắng lợi đó "mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người Việt Nam, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc" (năm 2025 chúng ta sẽ kỷ niệm tròn 50 năm).

Tong Bi thư Nguyen Phu Trong du quochoi.jpg
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng, Thủ tướng Phạm Minh Chính, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ và các đại biểu dự Kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa XV

Trong lúc phải khẩn trương khắc phục những hậu quả vô cùng nặng nề do chiến tranh để lại, Nhân dân Việt Nam lại tiếp tục phải đương đầu với những cuộc chiến tranh mới. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân ta vừa tập trung khôi phục kinh tế - xã hội, vừa chiến đấu bảo vệ biên giới, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc; đồng thời, làm tròn nghĩa vụ quốc tế giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi hoạ diệt chủng và tiến hành công cuộc hồi sinh đất nước.

Nhìn lại chặng đường 1930 - 1975, chúng ta rất đỗi tự hào, tin tưởng và biết ơn sâu sắc Đảng quang vinh, Bác Hồ vĩ đại đã luôn luôn sáng suốt lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi vang dội này đến thắng lợi vang dội khác, viết tiếp vào lịch sử của Dân tộc Việt Nam văn hiến và anh hùng những trang vàng chói lọi, được thế giới ngưỡng mộ, đánh giá cao: Tiến hành thắng lợi cuộc Cách mạng Tháng Tám long trời lở đất, giành chính quyền về tay Nhân dân, đưa nước ta ra khỏi ách nô lệ của thực dân, đế quốc vào năm 1945; Trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, kết thúc bằng Hiệp định Geneve và thắng lợi của chiến dịch Điện Biên phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu; Vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội và chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc, vừa đấu tranh chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, kết thúc bằng chiến dịch Điện Biên Phủ trên không và chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

PHẦN THỨ HAI: ĐẢNG LÃNH ĐẠO KHẮC PHỤC HẬU QUẢ CHIẾN TRANH; TIẾN HÀNH CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ; XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC TA NGÀY CÀNG ĐÀNG HOÀNG HƠN, TO ĐẸP HƠN

Sau khi đất nước được thống nhất, nước ta phải đối mặt với nhiều hậu quả rất nặng nề của 30 năm chiến tranh để lại. Để khắc phục hậu quả chiến tranh, tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước, Đảng ta đã tập trung lãnh đạo xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 1976 - 1980 và 1981 - 1985. Qua đó, hạ tầng kinh tế - xã hội, nhất là các cơ sở công nghiệp, nông nghiệp, y tế, giáo dục - đào tạo, giao thông, thuỷ lợi từng bước được khôi phục. Kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể được chăm lo phát triển, có nhiều đóng góp cho sự phát triển của đất nước.

Tuy nhiên, trước những yêu cầu mới của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện đất nước đã hoà bình, để khắc phục những bất cập của cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu, bao cấp, dẫn tới sự khủng hoảng kinh tế - xã hội những năm sau chiến tranh, trên cơ sở tổng kết sáng kiến, sáng tạo trong thực tiễn của Nhân dân, Đảng ta đã tiến hành công cuộc đổi mới, trước hết là đổi mới tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội, từng phần trong nông nghiệp, công nghiệp và từng bước hình thành Đường lối đổi mới đất nước.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng 12/1986), trên cơ sở phân tích sâu sắc tình hình đất nước và qua quá trình tìm tòi, khảo nghiệm thực tiễn, với tinh thần "nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật", "đổi mới tư duy" đã đề ra Đường lối đổi mới toàn diện đất nước, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trên con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đường lối đổi mới ra đời đã đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn lịch sử, thể hiện bản lĩnh vững vàng, tư duy sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và mở ra một thời kỳ mới cho sự phát triển của đất nước.

Sau Đại hội VI, Đảng đã từng bước hoàn thiện, cụ thể hoá đường lối đổi mới mà nội dung cơ bản, cốt lõi được thể hiện trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh năm 1991 và Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011) và các văn kiện quan trọng của Đảng qua các kỳ Đại hội. Những năm 90 của thế kỷ XX, vượt qua thách thức từ sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu, Đảng Cộng sản Việt Nam, Dân tộc Việt Nam đã kiên định, tiếp tục vững bước và sáng tạo trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với điều kiện cụ thể và đặc điểm của Việt Nam. Ban Chấp hành Trung ương Đảng từ khoá VI đến khoá XIII đã ban hành nhiều nghị quyết về những vấn đề cơ bản, hệ trọng của Đảng và sự phát triển của đất nước.

Cho đến nay, mặc dù vẫn còn một số vấn đề cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu, nhưng chúng ta đã hình thành nhận thức tổng quát: Xã hội xã hội chủ nghĩa mà Nhân dân Việt Nam đang phấn đấu xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do Nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới.

Để thực hiện được mục tiêu đó, chúng ta đã xác định cần phải: Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức; Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; Bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hoá, đa dạng hoá; hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp với sức mạnh thời đại; Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện.

Càng đi vào chỉ đạo thực tiễn, Đảng ta càng nhận thức được rằng, quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một sự nghiệp lâu dài, vô cùng khó khăn và phức tạp, vì nó phải tạo ra được sự biến đổi sâu sắc về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa; lực lượng sản xuất rất thấp, lại phải trải qua mấy chục năm chiến tranh, hậu quả rất nặng nề; các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách phá hoại cho nên lại càng khó khăn, phức tạp, do đó nhất thiết phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước đi, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen nhau, có sự đấu tranh giữa cái cũ và cái mới. Nói bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là bỏ qua chế độ áp bức, bất công, bóc lột tư bản chủ nghĩa; bỏ qua những thói hư tật xấu, những thiết chế, thể chế chính trị không phù hợp với chế độ xã hội chủ nghĩa, chứ không phải bỏ qua cả những thành tựu, giá trị văn minh mà nhân loại đã đạt được trong thời kỳ phát triển chủ nghĩa tư bản. Đương nhiên, việc kế thừa những thành tựu này cũng phải có sự chọn lọc trên quan điểm khoa học, phát triển.

Đưa ra khái niệm phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng tạo của Đảng ta, là thành quả lý luận quan trọng qua gần 40 năm thực hiện đường lối đổi mới, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của thế giới. Theo nhận thức của chúng ta, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đó là một kiểu kinh tế thị trường mới trong lịch sử phát triển của kinh tế thị trường; một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội, thể hiện trên cả ba mặt: Sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối. Đây không phải là nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và cũng chưa phải là nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa đầy đủ (vì nước ta còn đang trong thời kỳ quá độ).

Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế. Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác không ngừng được củng cố và phát triển; kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển phù hợp với chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Quan hệ phân phối bảo đảm công bằng và tạo động lực cho phát triển; thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội. Nhà nước quản lý nền kinh tế bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách và lực lượng vật chất để định hướng, điều tiết, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Một đặc trưng cơ bản, một thuộc tính quan trọng của định hướng xã hội chủ nghĩa trong kinh tế thị trường ở Việt Nam là phải gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển. Điều đó có nghĩa là: Không chờ đến khi kinh tế đạt tới trình độ phát triển cao rồi mới thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; càng không "hy sinh" tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần. Trái lại, mỗi chính sách kinh tế đều phải hướng tới mục tiêu phát triển xã hội; mỗi chính sách xã hội phải nhằm tạo ra động lực thúc đẩy phát triển kinh tế; khuyến khích làm giàu hợp pháp phải đi đôi với xoá đói, giảm nghèo bền vững, chăm sóc những người có công, những người có hoàn cảnh khó khăn. Đây là một yêu cầu có tính nguyên tắc để bảo đảm sự phát triển lành mạnh, bền vững, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Chúng ta coi văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc; xác định phát triển văn hoá đồng bộ, hài hoà với tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội là một định hướng căn bản của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Nền văn hoá mà chúng ta xây dựng là nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, một nền văn hoá thống nhất trong đa dạng, dựa trên các giá trị tiến bộ, nhân văn; chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội; kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của tất cả các dân tộc trong nước, tiếp thu những thành tựu, tinh hoa văn hoá nhân loại, phấn đấu xây dựng một xã hội văn minh, lành mạnh vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người, với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực, lối sống và thẩm mỹ ngày càng cao. Đảng ta luôn xác định: Con người giữ vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển; phát triển văn hoá, xây dựng con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới; phát triển giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ là quốc sách hàng đầu; bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề sống còn, là tiêu chí để phát triển bền vững; xây dựng gia đình hạnh phúc, tiến bộ làm tế bào lành mạnh, vững chắc của xã hội, thực hiện bình đẳng giới là tiêu chí của tiến bộ, văn minh.

Xã hội chủ nghĩa là xã hội hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, dựa trên nền tảng lợi ích chung của toàn xã hội hài hoà với lợi ích chính đáng của con người, khác hẳn về chất so với các xã hội cạnh tranh để chiếm đoạt lợi ích riêng giữa các cá nhân và phe nhóm, do đó cần và có điều kiện để xây dựng sự đồng thuận xã hội thay vì đối lập, đối kháng xã hội. Trong chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân là mối quan hệ giữa các chủ thể thống nhất về mục tiêu và lợi ích; mọi đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật và hoạt động của Nhà nước đều vì lợi ích của Nhân dân, lấy hạnh phúc của Nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Mô hình chính trị và cơ chế vận hành tổng quát là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và Nhân dân làm chủ. Dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về Nhân dân là một nhiệm vụ trọng yếu, lâu dài của cách mạng Việt Nam. Đảng ta chủ trương không ngừng phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, trên cơ sở liên minh giữa công nhân, nông dân và trí thức do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Nhà nước đại diện cho quyền làm chủ của Nhân dân, đồng thời là người tổ chức thực hiện đường lối của Đảng; có cơ chế để Nhân dân thực hiện quyền làm chủ trực tiếp và dân chủ đại diện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, tham gia quản lý xã hội.

Chúng ta nhận thức rằng, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa về bản chất khác với nhà nước pháp quyền tư sản là ở chỗ: Pháp quyền dưới chế độ tư bản chủ nghĩa về thực chất là công cụ bảo vệ và phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản, còn pháp quyền dưới chế độ xã hội chủ nghĩa là công cụ thể hiện và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm và bảo vệ lợi ích của đại đa số nhân dân. Thông qua thực thi pháp luật, Nhà nước bảo đảm các điều kiện để Nhân dân là chủ thể của quyền lực chính trị, thực hiện chuyên chính với mọi hành động xâm hại lợi ích của Tổ quốc và Nhân dân. Đồng thời, Đảng ta xác định: Đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn sức mạnh và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp cách mạng ở Việt Nam; không ngừng thúc đẩy sự bình đẳng và đoàn kết giữa các dân tộc, tôn giáo.

Tong Bi thư Nguyen Phu Trong du txct.jpg
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong một cuộc tiếp xúc cử tri trước Kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XV

Nhận thức sâu sắc sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc đổi mới và bảo đảm cho đất nước phát triển theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta đặc biệt chú trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, coi đây là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa. Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam; Đảng ra đời, tồn tại và phát triển là vì lợi ích của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và của cả dân tộc.

Khi Đảng cầm quyền, lãnh đạo cả dân tộc, được toàn dân thừa nhận là đội tiên phong lãnh đạo của mình và do đó Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam. Nói như vậy không có nghĩa là hạ thấp bản chất giai cấp của Đảng, mà là thể hiện sự nhận thức bản chất giai cấp của Đảng một cách sâu sắc hơn, đầy đủ hơn, vì giai cấp công nhân là giai cấp có lợi ích thống nhất với lợi ích của Nhân dân lao động và toàn dân tộc.

Đảng ta kiên trì lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động cách mạng, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản. Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra, giám sát và bằng hành động gương mẫu của đảng viên; thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ. Ý thức được nguy cơ đối với đảng cầm quyền là tham nhũng, quan liêu, thoái hoá..., nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đặt ra yêu cầu phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa cá nhân, chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí, thoái hoá... trong nội bộ Đảng và trong toàn bộ hệ thống chính trị.

* * ​*

Công cuộc đổi mới, trong đó có việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, thực sự đem lại những thay đổi lớn lao, rất tốt đẹp cho đất nước trong gần 40 năm qua, góp phần làm cho "Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay".

Từ một nước thuộc địa, nửa phong kiến, nước ta đã trở thành một nước độc lập, có chủ quyền; giang sơn gấm vóc 330 nghìn km2 từ Hữu Nghị Quan đến Mũi Cà Mau với hơn 3.200 km bờ biển và địa chính trị, địa kinh tế có tầm quan trọng đặc biệt đã được thu về một mối. Trước Đổi mới (năm 1986), Việt Nam vốn là một nước nghèo lại bị chiến tranh tàn phá rất nặng nề, để lại những hậu quả hết sức to lớn cả về người, về của và môi trường sinh thái. Sau chiến tranh, Mỹ và phương Tây đã áp đặt bao vây, cấm vận kinh tế với Việt Nam trong suốt gần 20 năm. Tình hình khu vực và quốc tế cũng diễn biến phức tạp, gây nhiều bất lợi cho chúng ta. Lương thực, hàng hoá nhu yếu phẩm hết sức thiếu thốn, đời sống nhân dân hết sức khó khăn, khoảng 3/4 dân số sống dưới mức nghèo khổ.

Nhờ thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế bắt đầu phát triển và tăng trưởng liên tục với tốc độ tương đối cao trong suốt 40 năm qua với mức tăng trưởng trung bình gần 7% mỗi năm. Quy mô GDP không ngừng được mở rộng, năm 2023 đạt khoảng 430 tỉ USD, trở thành nền kinh tế lớn thứ 5 trong ASEAN và thứ 35 trong 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới. GDP bình quân đầu người tăng 58 lần, lên mức khoảng 4.300 USD năm 2023; Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008 và sẽ trở thành nước có thu nhập trung bình cao vào năm 2030 (khoảng 7.500 USD).

Từ một nước bị thiếu lương thực triền miên, đến nay Việt Nam không những đã bảo đảm được an ninh lương thực mà còn trở thành một nước xuất khẩu gạo và nhiều nông sản khác đứng hàng đầu thế giới. Công nghiệp và dịch vụ phát triển khá nhanh, liên tục tăng và hiện nay chiếm khoảng 88% GDP. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng mạnh, năm 2023 đạt gần 700 tỉ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt trên 355 tỉ USD, xuất siêu đạt mức kỷ lục 28 tỉ USD; Việt Nam đã trở thành đối tác thương mại lớn thứ 22 toàn cầu. Dự trữ ngoại hối tăng mạnh, đạt 100 tỉ USD vào năm 2023. Đầu tư nước ngoài liên tục phát triển, vốn đăng ký tăng 32%, vốn thực hiện tăng 3%, đạt 23 tỉ USD trong năm 2023, cao nhất từ trước đến nay; và Việt Nam đã trở thành một trong những quốc gia hàng đầu ASEAN về thu hút FDI. Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) của Việt Nam năm 2023 được các tổ chức quốc tế đánh giá đứng thứ 46/132 nước được xếp hạng.

Hiện Việt Nam vẫn đang ở thời kỳ dân số vàng với quy mô dân số hơn 100 triệu người (năm 1945, 1975, 1986 lần lượt là hơn 20, 47 và 61 triệu người), đứng thứ 16 thế giới, trong đó có khoảng 53 triệu lao động từ 15 tuổi trở lên và 54 dân tộc anh em; khối đại đoàn kết các dân tộc không ngừng được củng cố, tăng cường. Chất lượng dân số từng bước được cải thiện, nâng cao gắn với sự chăm lo đầu tư phát triển các ngành y tế, giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ theo đúng tinh thần coi ưu tiên đầu tư phát triển các lĩnh vực này là quốc sách hàng đầu; hiện đã có 12,5 bác sĩ và 32 giường bệnh trên 1 vạn dân; cùng với Trung Quốc, Việt Nam được Ngân hàng thế giới (WB) đánh giá là hai quốc gia tiên phong trong đổi mới giáo dục và đã đạt được sự phát triển rất ấn tượng trong lĩnh vực này.

Phát triển kinh tế đã giúp đất nước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội những năm 80 và cải thiện đáng kể đời sống của Nhân dân. Tỉ lệ hộ nghèo trung bình mỗi năm giảm khoảng 1,5%; giảm từ 58% theo chuẩn cũ năm 1993 của Chính phủ xuống còn 2,93% theo chuẩn nghèo đa chiều (tiêu chí cao hơn trước) năm 2023. Đến nay, có 78% số xã đạt chuẩn nông thôn mới; hầu hết các xã nông thôn đều có đường ô tô đến trung tâm, có điện lưới quốc gia, trường tiểu học và trung học cơ sở, trạm y tế và mạng điện thoại. Quá trình đô thị hoá được đẩy mạnh gắn với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; tỉ lệ đô thị hoá đã đạt khoảng 43%; hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở cả nông thôn và đô thị, nhất là hạ tầng y tế, giáo dục - đào tạo, giao thông, bưu chính viễn thông đều có bước phát triển mạnh mẽ; đã đưa vào sử dụng nhiều sân bay, bến cảng hiện đại, hơn 1.900 km đường cao tốc và phủ sóng rộng rãi mạng 4G, 5G.

Trong khi chưa có điều kiện để bảo đảm giáo dục miễn phí cho mọi người ở tất cả các cấp, Việt Nam tập trung hoàn thành xoá mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học vào năm 2000 và phổ cập giáo dục trung học cơ sở năm 2014; số sinh viên đại học, cao đẳng tăng gần 20 lần trong gần 40 năm qua. Hiện nay, Việt Nam có gần 99% số người lớn biết đọc, biết viết. Trong khi chưa thực hiện được việc bảo đảm cung cấp dịch vụ y tế miễn phí cho toàn dân, Việt Nam mở rộng diện bảo hiểm y tế bắt buộc và tự nguyện, đến nay đã đạt mức 93,35% (năm 1993 mới chỉ là 5,4%); đồng thời tập trung vào việc tăng cường y tế phòng ngừa, phòng, chống dịch bệnh, hỗ trợ các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn. Nhiều dịch bệnh vốn phổ biến trước đây đã được khống chế thành công. Người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi và người cao tuổi được cấp bảo hiểm y tế miễn phí. Tỉ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em và tỉ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh giảm gần 3 lần. Tuổi thọ trung bình của dân cư tăng từ 62 tuổi năm 1990 lên 73,7 tuổi năm 2023. Cũng nhờ kinh tế có bước phát triển nên chúng ta đã có điều kiện để chăm sóc tốt hơn những người có công, phụng dưỡng các Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng, chăm lo cho phần mộ của các liệt sĩ đã hy sinh cho Tổ quốc.

Đời sống văn hoá cũng được cải thiện đáng kể; sinh hoạt văn hoá phát triển phong phú, đa dạng. Hiện Việt Nam có gần 80% dân số sử dụng Internet, là một trong những nước có tốc độ phát triển công nghệ tin học cao nhất thế giới. Liên Hợp Quốc đã công nhận Việt Nam là một trong những nước đi đầu trong việc hiện thực hoá các Mục tiêu Thiên niên kỷ. Năm 2022, chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đạt mức 0,737, thuộc nhóm nước có HDI cao của thế giới, nhất là so với các nước có trình độ phát triển cao hơn. Chỉ số hạnh phúc của Việt Nam năm 2023 được các tổ chức xếp thứ 65/137 quốc gia được xếp hạng.

Trong điều kiện xây dựng, phát triển đất nước trong hoà bình, Đảng ta vẫn thường xuyên sát sao lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc; đã ban hành và chỉ đạo tổ chức thực hiện thắng lợi nhiều Chiến lược bảo vệ Tổ quốc qua các thời kỳ; mới đây nhất là Nghị quyết Trung ương 8 khoá XIII về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Trong đó, đã khẳng định: Luôn luôn phải giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng; sự quản lý, điều hành tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; dựa vào dân, lấy "dân là gốc", khơi dậy, phát huy ý chí tự lực, tự cường, truyền thống văn hoá, yêu nước, sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng "thế trận lòng dân", lấy "yên dân" là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Chú trọng bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên Hợp Quốc, luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Tập trung ưu tiên thực hiện thắng lợi đồng bộ các nhiệm vụ chính trị: Phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hoá là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên quyết, kiên trì, chủ động tạo lập thời cơ, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định và điều kiện thuận lợi để xây dựng, phát triển đất nước. Kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tăng cường đầu tư thích đáng cho việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân, lực lượng vũ trang nhân dân, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; giữ nước từ khi nước chưa nguy; tuyệt đối không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; chủ động, tích cực hội nhập, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế.

Nhờ đó, nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân luôn luôn được củng cố, tăng cường, nâng cao hiệu quả; chủ quyền quốc gia, môi trường hoà bình, ổn định luôn luôn được giữ vững; trật tự, an toàn xã hội luôn luôn được bảo đảm; quân đội nhân dân, công an nhân dân được chăm lo đầu tư, xây dựng ngày càng tinh, gọn, mạnh cả về chính trị, tư tưởng và vũ khí, trang thiết bị theo phương châm: Người trước, súng sau; từng bước tiến lên hiện đại, có một số quân, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Các tình huống phức tạp trên biển và tuyến biên giới được xử lý linh hoạt, hiệu quả và phù hợp. Các biện pháp bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội được tăng cường; tập trung trấn áp các loại tội phạm; bảo đảm an ninh, an toàn các sự kiện chính trị quan trọng của đất nước. Kịp thời đấu tranh, phản bác các quan điểm, tư tưởng sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, tổ chức phản động; đối thoại thẳng thắn với những người có chính kiến khác. Chỉ số hoà bình toàn cầu năm 2023 của Việt Nam đứng thứ 41 trong số 163 nước được xếp hạng. Nước ta được các nhà đầu tư nước ngoài và du khách quốc tế đánh giá là điểm đến hấp dẫn và an toàn hàng đầu thế giới.

Tong Bi thư Nguyen Phu Trong sach doingoai.jpg
Cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về xây dựng và phát triển nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam

Nhìn lại chặng đường đối ngoại vừa qua, chúng ta vui mừng và tự hào nhận thấy: Trong gần 40 năm đổi mới, Đảng ta đã kế thừa và phát huy bản sắc, cội nguồn và truyền thống dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa thế giới và tư tưởng tiến bộ của thời đại, phát triển trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, hình thành nên một trường phái đối ngoại, ngoại giao rất đặc sắc và độc đáo, mang đậm bản sắc "cây tre Việt Nam". Đó là vừa kiên định về nguyên tắc, vừa uyển chuyển về sách lược; mềm mại, khôn khéo nhưng cũng rất kiên cường, quyết liệt; linh hoạt, sáng tạo nhưng rất bản lĩnh, vững vàng trước mọi khó khăn, thách thức, vì độc lập, tự do của dân tộc, vì hạnh phúc của Nhân dân; đoàn kết, nhân ái nhưng luôn luôn kiên quyết, kiên trì bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc.

Kết quả là, từ một nước bị bao vây, cấm vận, đến nay, nước ta đã mở rộng, làm sâu sắc thêm quan hệ ngoại giao với 193 nước, trong đó có 3 nước quan hệ đặc biệt, 6 nước đối tác chiến lược toàn diện, 12 nước đối tác chiến lược và 12 nước đối tác toàn diện. Đặc biệt là, nước ta hiện đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện hoặc đối tác chiến lược với tất cả 5 nước Uỷ viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, và mở rộng quan hệ kinh tế - thương mại với 230 quốc gia và vùng lãnh thổ. Việt Nam đã và đang thể hiện tốt vai trò là bạn, là đối tác tin cậy của cộng đồng quốc tế; có nhiều sáng kiến, đề xuất và chủ động, tích cực tham gia có hiệu quả vào các hoạt động của ASEAN, tổ chức Liên Hợp Quốc và nhiều tổ chức quốc tế khác.

Các hoạt động đối ngoại diễn ra hết sức sôi động, liên tục và là điểm sáng nổi bật của năm 2023 với nhiều kết quả, thành tựu quan trọng, có ý nghĩa lịch sử. Lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước ta đã đi thăm chính thức nhiều nước, tham dự nhiều diễn đàn quốc tế lớn, đạt được nhiều kết quả quan trọng. Việc tổ chức đón rất thành công Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình, Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào Thoonglun, Chủ tịch Đảng Nhân dân Campuchia Hun Sen và nhiều nguyên thủ quốc gia các nước đến thăm Việt Nam được đánh giá là những sự kiện có ý nghĩa lịch sử, góp phần khẳng định "đất nước ta chưa bao giờ có được vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay".

Những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử của sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo tổ chức thực hiện là sản phẩm kết tinh sức sáng tạo, là kết quả của cả một quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục qua nhiều nhiệm kỳ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; tiếp tục khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của chúng ta là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Cương lĩnh chính trị của Đảng tiếp tục là ngọn cờ tư tưởng, lý luận dẫn dắt dân tộc ta vững vàng tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; là nền tảng để Đảng ta hoàn thiện đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới.

Thực tiễn phong phú và sinh động của cách mạng Việt Nam từ ngày có Đảng đến nay đã chứng tỏ, sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng, lập nên nhiều kỳ tích trên đất nước Việt Nam. Mặt khác, thông qua quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta được tôi luyện và ngày càng trưởng thành, xứng đáng với vai trò và sứ mệnh lãnh đạo cách mạng và sự tin cậy, kỳ vọng của Nhân dân. Thực tiễn đó khẳng định một chân lý: Ở Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Và cũng chính trong quá trình đó, Đảng ta đã tích luỹ và đúc rút được nhiều bài học quý báu, hun đúc nên những truyền thống vẻ vang mà hôm nay chúng ta có trách nhiệm phải ra sức giữ gìn và phát huy. Đó là truyền thống trung thành vô hạn với lợi ích của dân tộc và giai cấp, kiên định mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Đó là truyền thống giữ vững độc lập, tự chủ về đường lối; nắm vững, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tham khảo kinh nghiệm của quốc tế để đề ra đường lối đúng và tổ chức thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ cách mạng. Đó là truyền thống gắn bó máu thịt giữa Đảng và Nhân dân, luôn luôn lấy việc phục vụ Nhân dân làm lẽ sống và mục tiêu phấn đấu. Đó là truyền thống đoàn kết thống nhất, có tổ chức và kỷ luật chặt chẽ, nghiêm minh trên cơ sở nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình, phê bình và tình thương yêu đồng chí. Đó là truyền thống đoàn kết quốc tế thuỷ chung, trong sáng dựa trên những nguyên tắc và mục tiêu cao cả. Với tất cả sự khiêm tốn của người cách mạng, chúng ta vẫn có thể nói rằng: "Đảng ta thật là vĩ đại! Nhân dân ta thật là anh hùng! Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay".

PHẦN THỨ BA: PHÁT HUY HƠN NỮA TRUYỀN THỐNG YÊU NƯỚC VÀ CÁCH MẠNG VẺ VANG, QUYẾT TÂM THỰC HIỆN THẮNG LỢI MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC ĐẾN NĂM 2025 VÀ NĂM 2030, XÂY DỰNG MỘT NƯỚC VIỆT NAM NGÀY CÀNG GIÀU MẠNH, VĂN MINH, VĂN HIẾN VÀ ANH HÙNG

Chúng ta tự hào, tin tưởng tiến lên dưới lá cờ vẻ vang của Đảng trong bối cảnh tình hình thế giới, trong nước bên cạnh những thời cơ, thuận lợi cũng sẽ còn có nhiều khó khăn, thách thức lớn. Trên thế giới, cạnh tranh chiến lược, cạnh tranh kinh tế, chiến tranh thương mại tiếp tục diễn ra gay gắt; sự tranh chấp chủ quyền biển, đảo diễn biến phức tạp; các cuộc xung đột quân sự ở một số khu vực trên thế giới tác động đến địa chính trị, địa kinh tế, an ninh năng lượng và chuỗi cung ứng toàn cầu; khoa học - công nghệ và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, tạo ra cả thời cơ và thách thức mới đối với mọi quốc gia, dân tộc; biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh và các vấn đề an ninh truyền thống, phi truyền thống ngày càng tác động mạnh, nhiều mặt, có thể đe doạ nghiêm trọng đến sự ổn định, bền vững của thế giới, khu vực và đất nước ta...

Tong Bi thư Nguyen Phu Trong hop pctntc.jpg
Tổng Bí thư chủ trì họp Thường trực Ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng, tiêu cực

Ở trong nước, chúng ta vẫn đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức lớn: Để hoàn thành được mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội do Đại hội XIII của Đảng đề ra thì tốc độ tăng trưởng bình quân 6 năm 2024 - 2030 phải đạt khoảng 8%, khu vực công nghiệp chế biến, chế tạo và dịch vụ phải phát triển mạnh mẽ hơn, tăng khoảng 4,5 điểm phần trăm đóng góp cho tăng trưởng kinh tế; đây là mức rất cao, đòi hỏi chúng ta phải có sự quyết tâm cao và nỗ lực rất lớn mới có thể đạt được.

Thị trường tài chính - tiền tệ, nhất là thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp sẽ diễn biến rất phức tạp, tiềm ẩn nhiều rủi ro. Thanh khoản của một số ngân hàng thương mại yếu kém và doanh nghiệp, dự án lớn sẽ gặp nhiều khó khăn. Lãi suất ngân hàng vẫn ở mức cao, sức ép lạm phát còn lớn. Hoạt động sản xuất kinh doanh ở một số ngành, lĩnh vực có xu hướng suy giảm; số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường tăng; nhiều doanh nghiệp phải giảm nhân công, giảm giờ làm, cho người lao động nghỉ việc; đời sống của người lao động gặp nhiều khó khăn. Giải ngân vốn đầu tư công chưa đạt yêu cầu. Vốn đầu tư nước ngoài đăng ký mới, đăng ký bổ sung hoặc góp vốn, mua cổ phần giảm.

Tốc độ tăng thu ngân sách nhà nước có dấu hiệu suy giảm; nợ xấu ngân hàng, nợ thuế nhà nước có xu hướng tăng; bảo đảm an ninh kinh tế, an ninh mạng, trật tự, an toàn xã hội, chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ nhân dân,... hiện vẫn là những vấn đề lớn có nhiều khó khăn, thách thức cần khắc phục. Việc tổ chức thực hiện luật pháp, chính sách, thực thi công vụ vẫn là khâu yếu; kỷ luật, kỷ cương ở nhiều nơi chưa nghiêm, thậm chí còn có hiện tượng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm; cái gì có lợi thì kéo về cho cơ quan, đơn vị và cá nhân mình; cái gì khó khăn thì đùn đẩy ra xã hội, cho cơ quan khác, người khác. Trong khi đó, các thế lực xấu, thù địch, phản động tiếp tục lợi dụng tình hình này để đẩy mạnh việc thực hiện chiến lược "diễn biến hoà bình", thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ chúng ta nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta.

Tình hình trên đây đòi hỏi chúng ta tuyệt đối không được chủ quan, tự mãn, quá say sưa với những kết quả, thành tích đã đạt được, và cũng không quá bi quan, dao động trước những khó khăn, thách thức; mà trái lại, cần phải hết sức bình tĩnh, sáng suốt, phát huy thật tốt những kết quả, bài học kinh nghiệm đã có, khắc phục những hạn chế, yếu kém còn tồn tại, nhất là từ đầu nhiệm kỳ khoá XIII đến nay, để tiếp tục đẩy mạnh đổi mới, nỗ lực phấn đấu, tranh thủ mọi thời cơ, thuận lợi; vượt qua mọi khó khăn, thách thức, triển khai thực hiện thắng lợi các chương trình, kế hoạch, mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra cho nhiệm kỳ khoá XIII và đến năm 2030. Đặc biệt là, cần phải tiếp tục quán triệt, vận dụng sáng tạo những bài học kinh nghiệm Đại hội XIII của Đảng đã đúc kết được.

Đó là, (1) Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị phải được triển khai quyết liệt, toàn diện, đồng bộ, thường xuyên, hiệu quả cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; thường xuyên củng cố, tăng cường đoàn kết trong Đảng và hệ thống chính trị; thực hiện nghiêm các nguyên tắc xây dựng Đảng, thường xuyên đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng. Xây dựng Nhà nước và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; hoàn thiện cơ chế kiểm soát chặt chẽ quyền lực: Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Công tác cán bộ phải thực sự là "then chốt của then chốt", tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ cấp chiến lược và người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; phát huy trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên theo phương châm chức vụ càng cao càng phải gương mẫu, nhất là Uỷ viên Bộ Chính trị, Uỷ viên Ban Bí thư, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

(2) Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn luôn quán triệt sâu sắc quan điểm "dân là gốc"; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng". Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của Nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của Nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân, dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng; củng cố và tăng cường niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa.

(3) Trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện, phải có quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, năng động, sáng tạo, tích cực; có bước đi phù hợp, phát huy mọi nguồn lực, động lực và tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa; kịp thời tháo gỡ các điểm nghẽn, vướng mắc; đề cao trách nhiệm của người đứng đầu gắn liền với phát huy sức mạnh đồng bộ của cả hệ thống chính trị; phát huy dân chủ đi đôi với giữ vững kỷ cương; coi trọng tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận; thực hiện tốt sự phối hợp trong lãnh đạo, quản lý, điều hành; coi trọng chất lượng và hiệu quả thực tế; tạo đột phá để phát triển.

(4) Tập trung ưu tiên xây dựng đồng bộ thể chế phát triển, bảo đảm hài hoà giữa kiên định và đổi mới; kế thừa và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, văn hoá, xã hội; giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá, con người, giải quyết các vấn đề xã hội, bảo vệ tài nguyên, môi trường; giữa phát triển kinh tế, xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh; giữa độc lập, tự chủ với hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý với Nhân dân làm chủ; giữa thực hành dân chủ với tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội... Thực sự coi trọng, phát huy hiệu quả vai trò động lực của con người, văn hoá, của giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ trong phát triển đất nước.

(5) Chủ động nghiên cứu, nắm bắt, dự báo đúng tình hình, tuyệt đối không được chủ quan, không để bị động, bất ngờ. Kiên quyết, kiên trì bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc đi đôi với giữ vững môi trường hoà bình, ổn định, an ninh, an toàn để phát triển đất nước. Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường. Xử lý đúng đắn, hiệu quả mối quan hệ với các nước lớn và các nước láng giềng theo đúng tinh thần là bạn, là đối tác tin cậy, có trách nhiệm với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế; đánh giá đúng xu thế, nắm bắt trúng thời cơ. Phát huy hiệu quả sức mạnh tổng hợp của đất nước kết hợp với sức mạnh của thời đại. Khai thác, sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Xác định những bài học kinh nghiệm đó là cơ sở quan trọng để Đảng ta tiếp tục vận dụng, phát huy và phát triển sáng tạo trong lãnh đạo, chỉ đạo, giúp chúng ta kiên định, vững vàng và tự tin vượt qua những khó khăn, thách thức mới và nhiệm vụ nặng nề hơn khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới.

Đồng thời, cần tiếp tục quán triệt, vận dụng thật tốt một số bài học kinh nghiệm về việc đổi mới phương thức lãnh đạo và phong cách, lề lối làm việc được rút ra tại Hội nghị Trung ương giữa nhiệm kỳ khoá XIII:

Một là, Phải luôn luôn nắm vững và nghiêm túc chấp hành Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, Quy chế làm việc và chủ trương, đường lối của Đảng, luật pháp, chính sách của Nhà nước. Thực hiện thật tốt các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, đặc biệt là nguyên tắc tập trung dân chủ; đoàn kết thống nhất; kiên định, nhất quán, giữ vững nguyên tắc trước những vấn đề khó khăn, thách thức mới. Đối với những vấn đề lớn, khó, phức tạp, hệ trọng, cấp bách, nhạy cảm, chưa có tiền lệ, còn có nhiều ý kiến khác nhau, thì cần phải đưa ra họp bàn, thảo luận một cách dân chủ, thẳng thắn; cân nhắc cẩn trọng, kỹ lưỡng để có những quyết định kịp thời, đúng đắn và phù hợp với tình hình.

Hai là, Phải bám sát Chương trình làm việc toàn khoá của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư để xây dựng và thực hiện cho bằng được chương trình công tác hằng năm, hằng quý, hằng tháng, hằng tuần theo đúng kế hoạch; đồng thời nhạy bén, linh hoạt, kịp thời điều chỉnh, bổ sung vào chương trình công tác những công việc hệ trọng, phức tạp, mới phát sinh trên các lĩnh vực để kịp thời lãnh đạo, chỉ đạo có hiệu quả toàn diện mọi hoạt động trong đời sống xã hội. Cần tiếp tục phát huy điểm mới trong nhiệm kỳ XIII, đó là: Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã chỉ đạo tổ chức nhiều hội nghị cán bộ toàn quốc (trực tiếp, trực tuyến) để triển khai, quán triệt nhanh, đồng bộ Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, các nghị quyết của Trung ương và Bộ Chính trị toàn diện ở tất cả các ngành, các lĩnh vực, các địa bàn, theo cả chiều dọc và chiều ngang; thống nhất từTrung ương đến địa phương và giữa các địa phương trong các vùng, miền. Định kỳ hằng tháng hoặc khi cần thiết, các đồng chí lãnh đạo chủ chốt đều họp để nắm bắt toàn diện, cụ thể, thực chất tình hình; trao đổi, bàn bạc, thống nhất quan điểm, chủ trương, định hướng chỉ đạo những vấn đề lớn, hệ trọng, cấp bách của Đảng, của Đất nước; đôn đốc, kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, nhằm đẩy nhanh tiến độ, hiệu quả công việc đã đề ra. Sau mỗi cuộc họp đều ban hành kết luận chỉ đạo, phân công rõ trách nhiệm thực hiện đối với từng vấn đề; góp phần quan trọng để lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành nhất quán, thống nhất, kịp thời, chặt chẽ, đồng bộ, thông suốt, đặc biệt là trong bối cảnh phải phòng, chống dịch bệnh Covid-19 và xử lý các tình huống phức tạp vừa qua; khắc phục những sự chồng lấn, trùng lắp trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành; tạo sự đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động trong các đồng chí lãnh đạo chủ chốt; tạo sự lan toả đến Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng và cả hệ thống chính trị.

Ba là, Tập trung ưu tiên ban hành đồng bộ và có chất lượng hệ thống pháp luật, các quy định, quy chế, quy trình công tác để thực hiện nghiêm túc, thống nhất trong toàn Đảng và cả hệ thống chính trị; đổi mới, nâng cao chất lượng công tác triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; có sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng, sự vào cuộc với quyết tâm cao, nỗ lực lớn của cả hệ thống chính trị, sự đoàn kết nhất trí của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân theo đúng tinh thần "Tiền hô hậu ủng", "Nhất hô bá ứng", "Trên dưới đồng lòng", "Dọc ngang thông suốt".

Bốn là, Tập thể Bộ Chính trị, Ban Bí thư và từng đồng chí Uỷ viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư phải chấp hành nghiêm túc các quy chế, chế độ công tác; hoạt động trên cơ sở Quy chế làm việc, Chương trình công tác toàn khoá và hằng năm. Chuẩn bị kỹ nội dung, chương trình các cuộc họp; sắp xếp nội dung một cách khoa học, bài bản; thời gian tương đối hợp lý; mỗi phiên họp giải quyết được nhiều vấn đề; phát huy trí tuệ tập thể, đề cao trách nhiệm cá nhân, thảo luận dân chủ, cẩn trọng, kỹ lưỡng; văn bản hoá nhanh, kịp thời các kết luận của phiên họp.

Việc phân công, phân cấp trong giải quyết công việc giữa Bộ Chính trị và Ban Bí thư, giữa tập thể Bộ Chính trị, Ban Bí thư và cá nhân các đồng chí Uỷ viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư phụ trách từng lĩnh vực và quan hệ lãnh đạo giữa Bộ Chính trị, Ban Bí thư với các Đảng đoàn, Ban cán sự đảng, cấp uỷ trực thuộc Trung ương cũng phải rõ ràng, cụ thể. Bộ Chính trị, Ban Bí thư giải quyết công việc theo đúng thẩm quyền; báo cáo kịp thời, đầy đủ với Ban Chấp hành Trung ương Đảng những vấn đề quan trọng trước khi quyết định và những công việc Bộ Chính trị đã giải quyết giữa hai kỳ hội nghị Trung ương.

Năm là, Từng đồng chí Uỷ viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư cần phát huy cao độ tinh thần nêu gương, thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng; nghiêm túc tự soi, tự sửa, tự phê bình và phê bình; giữ vững kỷ luật, kỷ cương, tự giác nhận trách nhiệm chính trị lĩnh vực mình phụ trách; kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân và các biểu hiện tiêu cực khác; giữ gìn sự đoàn kết nội bộ; tư tưởng, chính trị vững vàng, quan điểm đúng đắn; gương mẫu về đạo đức, lối sống trong công tác, trong cuộc sống của bản thân, gia đình và người thân. Hết sức tránh tình trạng "Chân mình còn lấm bê bê; Lại cầm bó đuốc đi rê chân người!".

Trên cơ sở đó, tập trung ưu tiên triển khai thực hiện thật tốt những nhiệm vụ trọng tâm sau đây:

Thứ nhất, về phát triển kinh tế: Cần tiếp tục quán triệt thật sâu sắc, tổ chức thực hiện thật nghiêm, thật tốt các chủ trương, đường lối của Đảng và luật pháp, chính sách của Nhà nước về phát triển nhanh và bền vững. Chú trọng củng cố, tăng cường nền tảng kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, nâng cao năng lực nội tại và tính tự chủ của nền kinh tế trên cơ sở lành mạnh hoá, giữ vững sự phát triển ổn định, an toàn của hệ thống các tổ chức tín dụng, thị trường tiền tệ, thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp. Tập trung ưu tiên cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; giải quyết có hiệu quả những khó khăn, hạn chế, yếu kém, cả trước mắt lẫn lâu dài của nền kinh tế để giữ vững đà phục hồi, tăng trưởng nhanh và bền vững, thực chất hơn; tạo chuyển biến mạnh hơn trong việc thực hiện các đột phá chiến lược, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số, xã hội số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn,... gắn với tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường.

Thứ hai, về phát triển văn hoá, xã hội: Cần quan tâm hơn nữa đến nhiệm vụ phát triển văn hoá, xã hội, hài hoà và ngang tầm với phát triển kinh tế; bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội; không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân. Thực hiện có hiệu quả chính sách hỗ trợ người dân, người lao động mất việc làm và doanh nghiệp gặp khó khăn. Chăm lo đời sống người có công với cách mạng, người có hoàn cảnh khó khăn; xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, gắn với bảo tồn, phát huy các giá trị, bản sắc văn hoá nông thôn, đô thị, giải quyết việc làm, giảm nghèo bền vững; ưu tiên bố trí nguồn lực thực hiện các chương trình, đề án, chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Tiếp tục làm tốt hơn nữa công tác phòng, chống dịch bệnh; nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ cho Nhân dân; bảo đảm vệ sinh, an toàn thực phẩm. Nâng cao hiệu quả của các thiết chế văn hoá, nhất là ở các khu công nghiệp, khu đô thị mới; bảo tồn và phát huy các giá trị di sản, văn hoá tốt đẹp. Xây dựng nếp sống văn hoá lành mạnh; ngăn chặn sự suy thoái về đạo đức, lối sống và quan tâm hơn nữa đến việc phòng, chống bạo lực gia đình, xâm hại trẻ em và tệ nạn xã hội.

Thứ ba, về quốc phòng, an ninh, đối ngoại: Cần tiếp tục củng cố, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội; nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế. Chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, phản động; tuyệt đối không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Thực hiện đồng bộ các giải pháp bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; tích cực đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm và tệ nạn xã hội; thực hiện các giải pháp bảo đảm an ninh mạng, an toàn giao thông, phòng, chống cháy, nổ.

Tổ chức thật tốt các hoạt động đối ngoại, nhất là đối ngoại cấp cao; chủ động, tích cực, làm sâu sắc, thực chất hơn nữa quan hệ với các đối tác; đẩy mạnh đối ngoại đa phương; giữ vững đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, lấy lợi ích quốc gia, dân tộc là trên hết, trước hết. Triển khai thực hiện có hiệu quả các hiệp định thương mại đã ký kết, tranh thủ tối đa lợi ích mà các hiệp định này có thể đem lại.

Thứ tư, về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị: Cần tiếp tục đẩy mạnh và làm tốt hơn nữa công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị thực sự trong sạch, vững mạnh, đặc biệt là hệ thống các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp từ Trung ương đến địa phương. Xây dựng Chính phủ, chính quyền các địa phương thật sự trong sạch, liêm chính, vững mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Cụ thể là, phải có chương trình, kế hoạch triển khai thực hiện một cách nghiêm túc, ráo riết, có kết quả cụ thể các nghị quyết, kết luận của Trung ương về vấn đề này, nhất là Nghị quyết Trung ương 4 khoá XII và Kết luận của Hội nghị Trung ương 4 khoá XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá", gắn với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Làm tốt hơn nữa công tác cán bộ để lựa chọn, bố trí đúng những người thật sự có đức, có tài, liêm chính, tâm huyết; thật sự vì nước, vì dân vào các vị trí lãnh đạo của bộ máy nhà nước. Kiên quyết đấu tranh loại bỏ những người sa vào tham nhũng, hư hỏng; chống mọi biểu hiện chạy chức, chạy quyền, cục bộ, ưu ái tuyển dụng người nhà, người thân không đủ tiêu chuẩn. Phát huy dân chủ, nâng cao ý thức trách nhiệm, nêu gương; tinh thần phục vụ nhân dân của cán bộ, công chức, viên chức. Có cơ chế, chính sách khuyến khích, bảo vệ những người năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Siết chặt kỷ luật, kỷ cương; thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong việc thực thi công vụ; nâng cao đạo đức, văn hoá, tính chuyên nghiệp của cán bộ, công chức, viên chức. Kiên trì, kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực gắn với việc đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện luật pháp, cơ chế, chính sách để "không thể, không dám, không muốn tham nhũng".

Thứ năm, về chuẩn bị cho đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng: Các Tiểu ban chuẩn bị cho Đại hội XIV của Đảng cần khẩn trương, nghiêm túc chủ trì, phối hợp với các ban, bộ, ngành Trung ương và các cấp uỷ, chính quyền các địa phương tiến hành tổng kết những vấn đề lý luận và thực tiễn qua 40 năm đổi mới, tập trung vào 10 năm gần đây; xây dựng có chất lượng dự thảo các văn kiện trình đại hội đảng bộ các cấp và tham gia góp ý hoàn thiện dự thảo các văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng; làm tốt hơn nữa công tác xây dựng quy hoạch và công tác cán bộ lãnh đạo các cấp, đặc biệt là công tác quy hoạchvà công tác cán bộ Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư khoá XIV, nhiệm kỳ 2026 - 2031; chuẩn bị và tiến hành thật tốt đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2025 - 2030, tiến tới Đại hội XIV của Đảng.

* *​ *

Tự hào, tin tưởng vào Đảng quang vinh qua 30 năm kể từ ngày thành lập, nhà thơ Tố Hữu, nhà thơ cách mạng nổi tiếng của chúng ta đã có tác phẩm bất hủ "30 năm đời ta có Đảng", trong đó có đoạn viết:

"Đảng ta đó, trăm tay nghìn mắt

Đảng ta đây, xương sắt da đồng

Đảng ta, muôn vạn công nông

Đảng ta, chung một tấm lòng niềm tin"

Niềm tự hào, niềm tin đó của Nhân dân ta đối với Đảng từng bước được vun đắp, nâng cao, ngày càng bền chặt hơn qua suốt chặng đường cách mạng vẻ vang của Đảng từ năm 1930 đến nay với những kết quả, thành tựu mà toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng đã nỗ lực phấn đấu đạt được trong đấu tranh cách mạng giành chính quyền; kháng chiến kiến quốc; xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc; đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; khắc phục hậu quả chiến tranh, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, từng bước đi lên chủ nghĩa xã hội; và trong tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước ta ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn; mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; góp phần làm cho đất nước ta có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay.

Tiếp tục trên chặng đường vinh quang dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa vô cùng yêu dấu của chúng ta ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn, Đảng ta, Đất nước ta và Dân tộc ta sẽ tiếp tục hướng tới năm 2030, kỷ niệm 100 năm Ngày thành lập Đảng, nước ta trở thành nước có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; và đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam: phấn đấu đưa nước ta trở thành nước phát triển, thu nhập cao; xây dựng đất nước Việt Nam ta ngày càng "cường thịnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc", vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Tự hào về Đảng quang vinh, Bác Hồ vĩ đại và Dân tộc Việt Nam anh hùng; tin tưởng vào sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng cách mạng chân chính và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam văn hiến và anh hùng, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta quyết tâm xây dựng một nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh, văn minh, văn hiến và anh hùng theo định hướng xã hội chủ nghĩa".

Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Phú Trọng
Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam
FalseChính trị
Tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ cán bộ bằng thể chế và một số khuyến nghị chính sáchBài viếtAdminTư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ cán bộ bằng thể chế và một số khuyến nghị chính sách/SiteAssets/TT-HCM-ve-nuoi-bv-cb-1.jpg
14/01/2024 7:00 SANoĐã ban hành

“Nuôi dạy và giữ gìn cán bộ” là vấn đề trọng tâm, bao trùm toàn bộ tư tưởng và thực tiễn lãnh đạo, xây dựng đội ngũ cán bộ của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vận dụng đúng đắn, sáng tạo những chỉ dẫn của Người về vấn đề này là yêu cầu tiên quyết, góp phần bảo đảm thực hiện tốt chủ trương “xây dựng đội ngũ cán bộ”(1) và “làm tốt công tác bảo vệ cán bộ”(2) của Đảng ta trong giai đoạn mới.

TT-HCM-ve-nuoi-bv-cb-1.jpg
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cùng lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các đại biểu dự khai mạc Hội nghị Trung ương giữa nhiệm kỳ khóa XIII _Ảnh: TTXVN


Bảo vệ cán bộ bằng thể chế - Tiếp cận từ tư tưởng Hồ Chí Minh

Cán bộ là đội ngũ những người ưu tú, giữ vị trí tiên phong trong lãnh đạo và tổ chức các hoạt động nhằm mục tiêu phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”(3). Để có được đội ngũ cán bộ tốt, Người yêu cầu thực hiện tốt hai mảng công việc song trùng là “nuôi dạy cán bộ”(4) và “giữ gìn cán bộ”(5). Trong đó, nuôi dạy cán bộ là tạo lập các điều kiện, tiền đề giúp cán bộ có môi trường thuận lợi để phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực trước yêu cầu, nhiệm vụ công tác; giữ gìn cán bộ là bảo vệ trước các nguy cơ mất cán bộ.

Tuy không trực tiếp bàn luận, song thông qua các bài nói, bài viết về công tác cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập đến vấn đề bảo vệ cán bộ trên cả hai phương diện. Theo nghĩa rộng, bảo vệ cán bộ là hoạt động bao hàm trong đó cả phòng, chống các nguy cơ gây “mất cán bộ” và “nuôi dưỡng” bằng cách tạo ra các điều kiện thuận lợi cho cán bộ phát triển phẩm chất, năng lực. Với nghĩa này, toàn bộ công tác cán bộ, xét đến cùng chính là bảo toàn đội ngũ “cán bộ tốt” đáp ứng yêu cầu của “việc cách mạng”. Theo nghĩa hẹp, bảo vệ cán bộ chính là giữ gìn cán bộ, như giữ gìn vốn quý, trước các nguy cơ gây hại làm mất cán bộ.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề bảo vệ cán bộ bằng thể chế có thể khái quát những quan điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, để bảo vệ cán bộ hiệu quả, nhất thiết phải lập các khuôn khổ, nguyên tắc hoạt động của chế độ mới. Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thắng lợi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Người đã xác định “Vấn đề thứ ba” trong “Những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” là “tổ chức càng sớm càng hay cuộc TỔNG TUYỂN CỬ với chế độ phổ thông đầu phiếu”(6) để hình thành tổ chức, bộ máy và “phải có một hiến pháp dân chủ”(7) để thiết lập các khuôn khổ, nguyên tắc pháp lý nền tảng cho tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị trong chế độ mới. Các khuôn khổ, nguyên tắc này là nền tảng định hình những việc được làm, nên làm và những việc không nên làm, không được làm của mọi cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị của chế độ mới. Khi các khuôn khổ, nguyên tắc hoạt động được xác lập thì cán bộ và cơ quan quản lý, sử dụng cán bộ có những nền tảng chuẩn mực để tuân theo, biết những nghiêm cấm để tránh xa, nghĩa là cán bộ được làm việc trong hệ thống khuôn khổ, nguyên tắt này.

Thứ hai, xác lập “lối làm việc” của cán bộ và cơ quan quản lý, sử dụng. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thấy cán bộ phát triển tốt hay suy thoái rồi bị đào thải đều thể hiện trong quá trình thực thi công vụ, nên “sửa đổi lối làm việc” là một trong những yêu cầu tiên quyết. Nhiều sai lầm, khuyết điểm, căn bệnh trong lối làm việc được Người chỉ ra cặn kẽ và xem là một trong những nguyên nhân dẫn đến “mất cán bộ”. Để “giữ gìn cán bộ”, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu “phải sửa chữa lối làm việc cho hợp lý”(8). Người nêu những nguyên tắc nền tảng cho lối làm việc của cán bộ, bao gồm: “Lề lối làm việc phải dân chủ”(9), “theo đúng đường lối của Chính phủ và Đoàn thể, hợp với lòng dân”(10); “Lề lối làm việc: Mọi việc bất kỳ to nhỏ, phải có kế hoạch, phải bàn bạc kỹ. Phải giải thích cho dân hiểu rõ, sao cho dân vui vẻ thi đua làm. Hết sức tránh bệnh quan liêu, bệnh mệnh lệnh”(11). Tuân theo các nguyên tắc này nghĩa là cán bộ đi đúng con đường trở thành “cán bộ tốt”; thực hiện không đúng nguyên tắc này, thậm chí vi phạm, làm ngược, đồng nghĩa cán bộ có biểu hiện chệch hướng, sa vào “cán bộ kém”, có nguy cơ bị đào thải. “Giữ gìn cán bộ” là mục tiêu chính yếu của “phong trào sửa đổi lối làm việc”.

Thứ ba, xác lập yêu cầu, nguyên tắc trong quản lý, sử dụng cán bộ. Việc quản lý, sử dụng cán bộ có liên hệ mật thiết đến bảo vệ cán bộ. Trong thực tế, cùng một khuôn khổ thể chế, song với thực tiễn quản lý, sử dụng khác nhau, có cơ quan tạo cảm hứng, động lực cho cán bộ gắn bó lâu dài và phát triển; ngược lại, có cơ quan tạo tâm lý tiêu cực dẫn đến nguy cơ mất cán bộ. Người thẳng thắn chỉ ra “khuyết điểm lớn” của một số cơ quan là “thiếu óc tổ chức”. Khuyết điểm này vừa khiến “việc cũng đến hỏng”, vừa không quản lý, sử dụng cán bộ tốt dẫn đến nguy cơ “mất cán bộ”(12). Cơ quan quản lý, sử dụng cán bộ tốt tức là thực hiện tốt các nguyên tắc, khuôn khổ hoạt động của chế độ mới, thực hành “lối làm việc” mới, kiến tạo môi trường với những điều kiện thuận lợi cho cán bộ rèn luyện, phát triển. Việc quản lý, sử dụng cán bộ tốt cũng góp phần loại trừ những nguy cơ tiêu cực từ cơ chế quản lý và môi trường làm việc gây hại đến cán bộ. Người nhấn mạnh: “Dùng cán bộ không đúng tài năng của họ, cũng là một cớ thất bại. Thí dụ: người viết giỏi nhưng nói kém lại dùng vào những việc cần phải nói. Người nói khéo nhưng viết xoàng lại dùng vào công việc viết lách. Thành thử hai người đều không có thành tích”(13).

Mục tiêu của việc bảo vệ cán bộ là giúp “cán bộ làm được việc, phải khiến cho họ yên tâm làm việc, vui thú làm việc”(14). Trong quản lý, sử dụng cán bộ, Người nêu ra những định hướng nguyên tắc gồm: Tập trung dân chủ; tự phê bình và phê bình; dựa vào công việc và sở trường của cán bộ để giao việc; kỷ cương gắn liền với tình đồng chí yêu thương; chí công vô tư; cảnh giác, đấu tranh với thành phần xấu. Theo Người, làm được như vậy là giúp cho Đảng có “cán bộ phụ trách, có gan làm việc, ham làm việc”(15). Không làm được như vậy sẽ có “một mớ cán bộ nhát gan, dễ bảo “đập đi, hò đứng”, không dám phụ trách. Như thế là một việc thất bại cho Đảng”(16).

Thứ tư, xác lập yêu cầu, nguyên tắc trong kiểm soát và đánh giá cán bộ. Chủ tịch Hồ Chí Minh xem kiểm tra, kiểm soát là nhân tố quan trọng bảo đảm sự lãnh đạo đúng. Người yêu cầu “phải luôn luôn kiểm soát cán bộ”(17) để giúp họ rút kinh nghiệm, sửa chữa khuyết điểm, phát huy ưu điểm. Khi phát hiện khuyết điểm thì phải tùy nặng nhẹ mà xử trí cho đúng mức để mọi người biết mà tránh. Xử lý kỷ luật phải tuân thủ phương châm “giáo dục là chính, trừng phạt là phụ”(18). Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Phải hết sức chú ý vấn đề dân chủ và kỷ luật. Kỷ luật trong dân chủ, dân chủ phải có kỷ luật”(19). Đánh giá cán bộ để có cơ sở “giữ gìn cán bộ”. Hồ Chí Minh cho rằng, mỗi lần xem xét lại cán bộ, một mặt sẽ tìm thấy những nhân tài mới, mặt khác thì những người yếu kém sẽ bị lòi ra. Yêu cầu, chuẩn mực dùng để đánh giá cán bộ phải phù hợp với từng thời kỳ, từng địa phương, từng lĩnh vực, đánh giá một cách hoàn toàn công minh, khách quan. Đánh giá cán bộ phải toàn diện, xét người và xét việc, cả quá khứ, hiện tại và tiềm năng trong tương lai. Khi xem xét phải chú ý cả hiện tượng và bản chất, không nên chỉ xem xét mặt bên ngoài, xem xét qua một việc, mà phải xem xét kỹ toàn bộ công việc của cán bộ đó.

Thứ năm, xác lập quyền hạn, trách nhiệm của cán bộ, “đoàn thể”, nhân dân trong “giữ gìn cán bộ”. Theo Hồ Chí Minh, bảo vệ cán bộ bao gồm tự bảo vệ và được bảo vệ. Tự bảo vệ nghĩa là cán bộ chủ động, tự giác thực hiện các biện pháp phòng vệ trước các nguy cơ hoặc đấu tranh trước các “kẻ địch” đang tấn công, gây hại. Dù là yêu cầu tự thân, song mỗi cán bộ chỉ có thể tự bảo vệ trên cơ sở được xác lập rõ quyền hạn, trách nhiệm công tác và mối quan hệ với các chủ thể khác. Theo Người, cán bộ có quyền được thực thi công vụ theo quy định, thụ hưởng chính sách, được ý kiến, chăm lo, được che chở bảo vệ. Theo Hồ Chí Minh, “cán bộ tốt là làm đúng nghĩa vụ của đảng viên”(20), trong đó có kiên quyết đấu tranh chống kẻ địch của cách mạng. Để cán bộ có thể tự bảo vệ, Người nêu cơ chế: “Cấp trên phải thường kiểm tra cấp dưới. Cấp dưới phải phê bình cấp trên. Giúp nhau kinh nghiệm và sáng kiến, giúp nhau tiến bộ. Tự phê bình và phê bình nhau theo tinh thần thân ái và lập trường cách mệnh”(21). Đó chính là mối quan hệ giữa các cán bộ trong tự bảo vệ. Được bảo vệ nghĩa là cơ quan quản lý, sử dụng cán bộ và nhân dân thực hiện các hoạt động bảo vệ cán bộ. Cơ quan, tổ chức có quyền quản lý, sử dụng cán bộ, đồng thời có trách nhiệm phải “nuôi dạy” và “giữ gìn cán bộ”. Để tẩy sạch các căn bệnh, khuyết điểm gây tổn hại đến cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra năm cách: Chỉ đạo (giao phụ trách nhưng định rõ phương hướng, cách thức công tác); nâng cao (tìm cách cho học tập); kiểm tra; cải tạo; giúp đỡ (bảo đảm điều kiện sinh sống đầy đủ mà làm việc). Người nhấn mạnh, dựa vào dân để “giữ gìn cán bộ” là tất yếu thắng lợi. Nhân dân có “trăm tai nghìn mắt” nên thấy hết mọi điều, từ ưu điểm đến hạn chế. Theo Người, “Nhân dân thì giúp Chính phủ và Đoàn thể kiểm tra công việc và hành vi của các cán bộ”; “tất cả các cơ quan Nhà nước là phải dựa vào nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự kiểm soát của nhân dân”(22). Nhân dân bãi miễn cán bộ thông qua cơ chế dân chủ theo quy định của pháp luật.

TT-HCM-ve-nuoi-bv-cb-2.jpg

Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Trương Thị Mai chia sẻ, giao lưu với các đại biểu tại Hội nghị đánh giá giữa nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh _Ảnh: vietnamnet.vn


Một số khuyến nghị hoàn thiện thể chế bảo vệ cán bộ theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Từ khi thành lập đến nay, Đảng ta luôn nhất quán xác định bảo vệ cán bộ là nhiệm vụ tất yếu, quan trọng. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Đảng đã đề ra chủ trương: “Khuyến khích bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung”(23). Thực hiện chủ trương của Đại hội, Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 14-KL/TW, ngày 22-9-2021, “Về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung” với yêu cầu  “cần đặc biệt quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, có bản lĩnh chính trị, trí tuệ, gương mẫu, quyết tâm đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, sẵn sàng đương đầu với khó khăn, thử thách, luôn nỗ lực hành động vì lợi ích chung”. Đặc biệt, tại Nghị định số 73/2023/NĐ-CP, ngày 29-9-2023, của Chính phủ, “Quy định về khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung” đã khẳng định “Cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung phải được khuyến khích, bảo vệ”. Để việc bảo vệ cán bộ bằng thể chế ngày càng thiết thực và hiệu quả, trong thời gian tới, cần quan tâm thực hiện một số quan điểm:

Một là, thể chế bảo vệ cán bộ không trái với các khuôn khổ, nguyên tắc vận hành hệ thống chính trị, đặc biệt là Hiến pháp và Điều lệ Đảng. Điều này đặt ra khi một số quy định pháp luật còn bất cập, không phù hợp thực tiễn, cần sửa đổi, bổ sung hoặc trong trường hợp cần ban hành các quy định mới. Trong trường hợp đó, thể chế bảo vệ cán bộ không được trái Điều lệ Đảng.

Hai là, thể chế bảo vệ cán bộ phải xác định được các chủ thể tham gia với những quy định chi tiết về quyền hạn, trách nhiệm và mối quan hệ. Hiện nay, thể chế khuyến khích bảo vệ cán bộ “6 dám”(24) cần xác định được lực lượng thực hiện với những quy định cụ thể, chi tiết về chức năng, nhiệm vụ và mối quan hệ. Nhiều văn bản pháp quy(25) trong hệ thống chính trị đã quy định quyền hạn, trách nhiệm của cán bộ, công chức và cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị, những quy định về quyền và nghĩa vụ giám sát của nhân dân đối với hệ thống chính trị. Dựa trên các quy định này, thể chế bảo vệ cán bộ cần cụ thể hóa, chi tiết hóa, bổ sung thêm để trả lời rõ ràng, xác đáng những câu hỏi lớn đang đặt ra: Ai bảo vệ cán bộ? Nội hàm của quyền bảo vệ cán bộ? Nội dung của trách nhiệm bảo vệ cán bộ? Phối hợp như thế nào trong bảo vệ cán bộ?...

Ba là, thể chế bảo vệ cán bộ cần xác lập được các tiêu chí đánh giá cụ thể, phù hợp. Các tiêu chí này là cơ sở để xác định xếp loại cán bộ. Trong đó, cần chú ý khi cán bộ thực hiện thí điểm mà kết quả không đạt hoặc chỉ đạt được một phần mục tiêu đề ra hoặc gặp rủi ro, xảy ra thiệt hại thì cấp có thẩm quyền phải kịp thời xác định rõ nguyên nhân khách quan, chủ quan, đánh giá công tâm để xem xét, xử lý phù hợp, nếu thực hiện đúng chủ trương, có động cơ trong sáng, vì lợi ích chung thì được xem xét miễn hoặc giảm nhẹ trách nhiệm. Xử lý nghiêm việc lợi dụng chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ để thực hiện hoặc bao che hành vi vụ lợi, tham nhũng, tiêu cực, vi phạm kỷ luật của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Cần cụ thể hóa hơn nữa các tiêu chí đánh giá, để cán bộ biết khuôn khổ của “6 dám” để thực hiện; cơ quan quản lý, sử dụng có thẩm quyền biết khuôn khổ để “xem xét, quyết định cho thực hiện hoặc thực hiện thí điểm”. Các tiêu chí này cũng là cơ sở để tổng kết, đánh giá “đề xuất đổi mới, sáng tạo của cán bộ”, qua đó quyết định nhân rộng thực hiện, điều chỉnh hoặc không tiếp tục thực hiện.

Bốn là, thể chế bảo vệ cán bộ cần xác lập được cơ chế kiểm soát cán bộ và phương cách thực hiện. Cơ chế kiểm soát cán bộ nói chung, cán bộ “6 dám” nói riêng cần xác lập trên nguyên tắc: (i) thực hiện kiểm soát để thúc đẩy cái mới, cái tiến bộ chứ không phải làm cho thoái giảm; (ii) xác định rõ chủ thể với quyền hạn, trách nhiệm cụ thể; (iii) vừa tuân theo quy trình kiểm tra, kiểm soát chung, vừa phải xác định những đặc điểm riêng. Về phương cách, cần làm rõ nội hàm, phạm vi, cách thức của kiểm soát từ trên xuống, từ dưới lên, kiểm soát nội bộ, kiểm soát từ bên ngoài bởi nhân dân. Trong kiểm soát, cần minh định rõ những biểu hiện là nguy cơ, sai phạm hiện hữu và các mức độ của sai phạm. Đó là cơ sở để xác định mức độ, biện pháp kiểm soát và hình thức, biện pháp xử lý sau đó./.


PGS, TS NGUYỄN THỊ TUYẾT MAI - TS NGUYỄN PHƯƠNG AN
Phó Giám đốc Học viện Chính trị khu vực II - Học viện Chính trị khu vực II

--------------------

(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 187

(2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 188

(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 5, tr. 280

(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 313

(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 314

(6), (7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr. 7        

(8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 6, tr. 16

(9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 6, tr. 312

(10) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 6, tr. 397

(11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 6, tr. 489

(12) Xem: Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 42

(13) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 283

(14) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 319

(15) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 320

(16) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 320

(17) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 314

(18) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 7, tr. 361

(19) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr. 574

(20) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 6, tr. 375

(21) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 6, tr. 312

(22) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 12, tr. 375             

(23) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 179

(24) Bao gồm: Dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám nói, dám đột phá sáng tạo và dám đương đầu với khó khăn, thử thách

(25) Luật Cán bộ, công chức; Luật Tổ chức chính quyền địa phương; Luật Tổ chức Chính phủ; Luật Tổ chức Quốc hội; Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam…

Nguồn: TCCS

FalseChính trị
Thắng lợi của ý chí, quyết tâm bảo vệ chủ quyền quốc gia, dân tộc và hoàn thành xuất sắc nghĩa vụ quốc tếBài viếtH.TThắng lợi của ý chí, quyết tâm bảo vệ chủ quyền quốc gia, dân tộc và hoàn thành xuất sắc nghĩa vụ quốc tế/SiteAssets/Thudo-Phnompenh-campuchia.jpg
07/01/2024 7:00 SANoĐã ban hành

Cách đây 45 năm, bằng cuộc tổng phản công trên toàn tuyến biên giới Tây Nam, quân và dân ta đã đập tan cuộc chiến tranh xâm lược lãnh thổ Việt Nam của tập đoàn Pôn Pốt - Iêng Xary, tạo điều kiện cùng nhân dân Campuchia giải phóng đất nước khỏi họa diệt chủng.

Đây là thành quả của cuộc chiến đấu vì chính nghĩa, thể hiện ý chí, quyết tâm bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc cũng như thực hiện xuất sắc nghĩa vụ quốc tế cao cả giúp cách mạng Campuchia.

Thudo-Phnompenh-campuchia.jpg
Người dân thủ đô Phnôm Pênh (Campuchia) lưu luyến chia tay quân tình nguyện Việt Nam hoàn thành nghĩa vụ quốc tế trở về nước, tháng 6-1984. Ảnh: TTXVN

Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ

Ngay sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam thắng lợi, Nhà nước Campuchia Dân chủ do Pôn Pốt đứng đầu ra sức kích động thù hằn dân tộc chống Việt Nam; phủ nhận lịch sử đoàn kết, liên minh chiến đấu chống kẻ thù chung của nhân dân ba nước Đông Dương, thậm chí vu cáo Việt Nam có mưu đồ lập Liên bang Đông Dương; công khai đòi hoạch định lại biên giới Việt Nam - Campuchia với những yêu sách vô lý.

Từ tháng 5-1975, phía Campuchia Dân chủ đã tiến hành đánh chiếm một số đảo và nhiều điểm nằm sâu trong nội địa Việt Nam. Tuy nhiên, với tinh thần hữu nghị, Việt Nam đã chủ động đề xuất các biện pháp nhằm giải quyết những xung đột, xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, nhưng đã bị Nhà nước Campuchia Dân chủ khước từ, đơn phương cắt đứt quan hệ ngoại giao. Tháng 12-1978, Pôn Pốt - Iêng Xary tập trung 19 sư đoàn áp sát biên giới Campuchia - Việt Nam. Ngày 23-12-1978, chúng huy động 10 trong số 19 sư đoàn bố trí ở biên giới mở cuộc tiến công toàn tuyến biên giới Tây Nam Việt Nam. Trước chiều hướng leo thang chiến tranh của tập đoàn phản động Pôn Pốt - Iêng Xary, nhân dân và các lực lượng vũ trang Việt Nam buộc phải giáng trả thích đáng, đánh đuổi toàn bộ quân xâm lược ra khỏi lãnh thổ, tạo điều kiện giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng.

Đối với nhân dân Campuchia, đứng trước sự tồn vong của dân tộc, lực lượng cách mạng chân chính đã đứng lên tập hợp lực lượng đấu tranh với bọn phản động Pôn Pốt. Được sự giúp đỡ của Việt Nam, cùng với nỗ lực của đội ngũ cán bộ cốt cán trong lực lượng cách mạng Campuchia, ngày 2-12-1978, Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia ra đời, đánh dấu bước phát triển quan trọng của cách mạng Campuchia.

Với sự ra đời của Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia, cùng với so sánh tương quan lực lượng có lợi cho ta, ngày 6 và 7-12-1978, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương họp, thông qua quyết tâm mở cuộc tổng tiến công tiêu diệt quân địch, hoàn thành cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam; đồng thời, sẵn sàng hỗ trợ cho các lực lượng vũ trang yêu nước Campuchia nổi dậy đánh đổ tập đoàn Pôn Pốt - Iêng Xary, giành chính quyền về tay nhân dân. Thực hiện quyết tâm chiến lược của Trung ương Đảng, từ ngày 23 đến 31-12-1978, quân và dân Việt Nam mở cuộc tổng phản công và tiến công trên toàn tuyến biên giới, đánh tan 10 sư đoàn quân Pôn Pốt, thu hồi toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ Tổ quốc.

Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quốc tế cao cả

Ngay sau khi quân dân Việt Nam mở cuộc phản công trên toàn tuyến biên giới Tây Nam, ngày 23-12-1978, Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia, xác định: Do sinh lực địch nhất định sẽ bị quân và dân Việt Nam tiêu diệt hoặc kìm chân tại chỗ. Vì vậy, đây là thời cơ tốt nhất để các lực lượng vũ trang cách mạng đoàn kết cứu nước Campuchia cùng với nhân dân và binh sĩ khởi nghĩa trên toàn quốc đánh vào đầu não của bè lũ Pôn Pốt - Iêng Xary. Tiếp đó, Ủy ban Trung ương Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia đã phát động toàn dân tận dụng thời cơ và sự giúp đỡ của bộ đội Việt Nam, tập trung lực lượng đứng lên đánh đổ chế độ diệt chủng Pôn Pốt - Iêng Xary, giành chính quyền về tay nhân dân. Đáp lại lời kêu gọi của Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia, các đơn vị bộ đội chủ lực Việt Nam đã cùng với lực lượng vũ trang yêu nước Campuchia xây dựng phương án tiến công truy quét quân diệt chủng. Đến 17h ngày 7-1-1979, các đơn vị Quân đội nhân dân Việt Nam cùng lực lượng vũ trang cách mạng và nhân dân Campuchia hoàn toàn làm chủ Phnôm Pênh.

Đây là chiến thắng có ý nghĩa lịch sử vô cùng trọng đại. Nhân dân Campuchia thoát khỏi chế độ diệt chủng Pôn Pốt - Iêng Xary, bước vào kỷ nguyên độc lập, tự do. Hơn nữa, đây còn là thắng lợi của tinh thần quốc tế cao cả của nhân dân Việt Nam. Tiến sĩ Chhay Yi Heang, Cố vấn Chính phủ Hoàng gia Campuchia khẳng định: “Việc nhân dân, Chính phủ và quân tình nguyện Việt Nam giúp đỡ nhân dân Campuchia thoát khỏi thảm họa diệt chủng Pôn Pốt và hồi sinh dân tộc là một sự nghiệp cao cả, sáng ngời chính nghĩa trong thế kỷ XX”.

Thắng lợi trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam và giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng đã khẳng định ý chí, quyết tâm bảo vệ chủ quyền quốc gia, dân tộc của quân và dân ta; là thắng lợi của tinh thần quốc tế, trách nhiệm với đồng loại của nhân dân Việt Nam, góp phần giữ vững hòa bình, ổn định ở khu vực Đông Nam Á; vạch trần bản chất phản động, hiếu chiến, phân biệt chủng tộc, sắc tộc, chế độ độc tài Campuchia Dân chủ, cảnh báo cho nhân loại hãy cảnh giác trước nguy cơ của “chủ nghĩa phát xít mới”.

Đặc biệt, chiến thắng này đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Đó là bài học phải nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, nhạy bén trong nhận diện đối tượng, đối tác, nắm chắc diễn biến tình hình, kịp thời đề ra chủ trương biện pháp, chủ động ứng phó với mọi tình huống; bài học về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang nhân dân và sự nghiệp quốc phòng, quân sự, trọng tâm là củng cố, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc; kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ quốc phòng, quân sự với phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt ở vùng biên giới, hải đảo, ở các địa bàn trọng điểm. Thường xuyên chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang có sức chiến đấu cao; chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Cùng với đó, đẩy mạnh công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế để phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Chú trọng củng cố đoàn kết hữu nghị với các quốc gia láng giềng, xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển. Từ cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam và giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng, chúng ta cần làm tốt hơn nữa công tác truyền thông nhằm giúp bạn bè quốc tế hiểu hơn về Việt Nam, tạo sự ủng hộ to lớn của quốc tế, cô lập các đối tượng chống phá, xâm phạm độc lập, chủ quyền, lợi ích quốc gia, dân tộc.

***

Hiện nay, trước tình hình quốc tế và khu vực luôn có những diễn biến phức tạp, khó lường, những bài học được đúc kết từ thắng lợi trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam và giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng là những vấn đề có giá trị lý luận, thực tiễn sâu sắc, cần được vận dụng và phát huy trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới; đồng thời, góp phần giáo dục truyền thống cách mạng, phê phán và đấu tranh với các luận điểm sai trái, xuyên tạc sự thật lịch sử của các thế lực thù địch nhằm chia rẽ mối quan hệ hữu nghị, truyền thống lâu đời giữa Việt Nam - Campuchia. Từ đó, góp phần quan trọng vào việc phát triển mối quan hệ đoàn kết hữu nghị Việt Nam - Campuchia lên một tầm cao mới, phù hợp với lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân hai nước; đóng góp vào hòa bình, ổn định trên thế giới và khu vực.

Đại tá, PGS,TS Nguyễn Văn Sáu
Phó Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự

Nguồn: Hà Nội mới

FalseChính trị
Trang bị trên 14 triệu bản sách cho cơ sở xã, phường, thị trấnTinTrúc LinhTrang bị trên 14 triệu bản sách cho cơ sở xã, phường, thị trấn/SiteAssets/HN-tket-trangbi-sach-2.JPG
28/12/2023 10:00 CHNoĐã ban hành

(TUAG)- Chiều ngày 28/12/2023, Ban Tuyên giáo Trung ương phối hợp với Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật tổ chức Hội nghị tổng kết 15 năm thực hiện Đề án trang bị sách cho cơ sở xã, phường, thị trấn (2009 - 2023) bằng hình thức trực tuyến kết nối từ điểm cầu Trung ương đến các tỉnh, thành trên cả nước. Đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương; Trần Văn Lâm, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương; Vũ Trọng Lâm, Giám đốc, Tổng Biên tập Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật, đồng chủ trì hội nghị.

HN-tket-trangbi-sach-2.JPG

Tham dự tại điểm cầu An Giang có các đồng chí: Nguyễn Hữu Thịnh, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy cùng đại diện lãnh đạo các cơ quan tham mưu giúp việc Tỉnh ủy; lãnh đạo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Sở Thông tin và Truyền thông; Sở Giáo dục và Đào tạo; Trường Chính trị Tôn Đức Thắng; Báo An Giang; Đài Phát thanh - Truyền hình An Giang; Bưu điện tỉnh; Thư viện tỉnh.

Tại hội nghị, các đại biểu đã được nghe báo cáo tình hình triển khai thực hiện Đề án từ năm 2009 đến năm 2023. Thực hiện chỉ đạo của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Ban Tuyên giáo Trung ương và Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật đã phối hợp với các ban, bộ, ngành Trung ương và các địa phương triển khai thực hiện trang bị sách cho cơ sở xã, phường, thị trấn. Giai đoạn 2009 - 2023, Đề án đã cung cấp gần 593 đầu sách, với tổng số 14.408.340 bản in về cơ sở. Sách của Đề án có nội dung phong phú, thiết thực, bảo đảm tính chính xác, khách quan, khoa học. Sách biên soạn có tính chất cẩm nang, nhiều cuốn được trình bày dưới dạng hỏi - đáp dễ đọc, dễ hiểu, dễ nhớ, nội dung cập nhật thông tin mới, tiện tra cứu và phù hợp với đối tượng người đọc là cán bộ, đảng viên, các tầng lớp Nhân dân ở cơ sở.

HN-tket-trangbi-sach-1.JPG

Bên cạnh đó, từ đầu năm 2020, thư viện điện tử đã ra mắt phục vụ bạn đọc; đến nay đã có hơn 729.000 lượt cán bộ, đảng viên và quần chúng Nhân dân truy cập để đọc, tra cứu, học tập trực tiếp. Đây là sự đổi mới về hình thức sách để phù hợp với những thay đổi trong thói quen của cán bộ, đảng viên và sự phổ biến của các thiết bị di động được sử dụng để cập nhật thông tin, tri thức hàng ngày.

HN-tket-trangbi-sach-3.JPG

Tham luận tại hội nghị, các đại biểu đều thống nhất đánh giá cao hiệu quả của Đề án “Trang bị sách cho cơ sở xã, phường, thị trấn”. Sách của Đề án là những tài liệu bổ ích, cần thiết góp phần đáp ứng kịp thời nhu cầu tự nghiên cứu, học tập của đội ngũ cán bộ, đảng viên và Nhân dân ở xã, phường, thị trấn.

Theo đánh giá của Ban Tuyên giáo Trung ương, đề án có ý nghĩa rất thiết thực đối với việc đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở, đội ngũ cán bộ, đảng viên ở cấp xã. Sách của đề án là những tài liệu bổ ích, cần thiết góp phần đáp ứng kịp thời nhu cầu nghiên cứu, tham khảo, học tập của đội ngũ cán bộ, đảng viên và Nhân dân. Thông qua đó, nâng cao nhận thức, củng cố kiến thức, ứng dụng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, vận dụng trong công tác quản lý, lãnh đạo của cán bộ, đảng viên, trong lao động sản xuất của Nhân dân.

Trúc Linh

FalseĐưa Nghị quyết vào cuộc sống
1 - 30Next