Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksChính trị

Chào mừng quý vị đến với Cổng thông tin điện tử Đảng bộ tỉnh An Giang!
 
Chính trị
 

(TUAG)- Sáng ngày 14/01, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy tổ chức Hội nghị Báo cáo viên thường kỳ tháng 01 năm 2021 bằng hình thức trực tuyến tới các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh, trong đó có 01 điểm cầu cấp tỉnh, 11 điểm cầu cấp huyện, 45 điểm cầu cấp xã, với 2.206 đại biểu tham dự.

 
 

Chính phủ yêu cầu người đứng đầu các Bộ, ngành, địa phương khẩn trương xây dựng, ban hành chương trình, kế hoạch hành động để triển khai thực hiện Nghị quyết 01, 02, nghiêm túc triển khai thực hiện nhanh, hiệu quả, thực chất và toàn diện, tạo chuyển biến rõ nét ngay từ đầu năm.

 
 

(TUAG)- ​Đối ngoại Việt Nam năm 2020 đã vượt qua nhiều thách thức, tranh thủ, tạo ra và tận dụng tốt những cơ hội hợp tác mới, góp phần cùng cả nước khắc phục khó khăn và tiếp tục vươn lên trên con đường phát triển. Trước thềm năm mới, Cổng TTĐT Đảng bộ An Giang trân trọng giới thiệu bài viết của Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh: "Đối ngoại Việt Nam 2020: Bản lĩnh và tâm thế mới".

 
 

Cổng Thông tin điện tử Đảng bộ An Giang trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng bế mạc Hội nghị lần thứ 14, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII, diễn ra sáng ngày 18/12.

 
 

Tại Hội nghị lần này, Trung ương sẽ thảo luận và bỏ phiếu biểu quyết giới thiệu nhân sự tham gia Bộ Chính trị, Ban Bí thư khoá XIII. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đề nghị từng đồng chí Trung ương tập trung nghiên cứu kỹ Tờ trình của Bộ Chính trị và các tài liệu nhân sự có liên quan, suy nghĩ cân nhắc thận trọng, đặt lợi ích của Đảng, của quốc gia - dân tộc lên trên hết.

 
 

Ngày 10/12, Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ X đã khai mạc trọng thể tại Thủ đô Hà Nội. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã có bài phát biểu chỉ đạo Đại hội. Cổng Thông tin điện tử Đảng bộ tỉnh An Giang trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu.

 
 

Chưa bao giờ công cuộc đấu tranh với tham nhũng, tiêu cực lại tạo ra khí thế và sự quan tâm lớn của xã hội như hiện nay. Sự quyết tâm của Đảng, lập trường rõ ràng, hành động quyết liệt của Chính phủ, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị trong đấu tranh với tham nhũng đã và đang khơi dậy niềm tin của toàn xã hội.

 
 

Với bộ óc thiên tài, trái tim nhân hậu và đức tính khiêm nhường, Ph.Ăng-ghen đã dâng hiến cho nhân loại nhiều tư tưởng, lý luận có giá trị lịch sử to lớn và có ý nghĩa soi sáng con đường xây dựng xã hội mới tiến bộ hơn.

 
 

​(TUAG)- Học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng là khâu đầu tiên và rất quan trọng nhằm tạo sự thống nhất trong Đảng, đồng thuận trong Nhân dân, sự thành công trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh, là điều kiện tiên quyết đưa nghị quyết của Đảng nhanh chóng đi vào cuộc sống.

 
 
 
 
  
  
  
  
  
Tóm tắt
  
  
  
  
Nội dung
  
  
Phân loại
  
Tập trung cao điểm tuyên truyền Đại hội XIII của Đảng và Tết Nguyên đán Tân Sửu 2021 TinNguyễn LamTập trung cao điểm tuyên truyền Đại hội XIII của Đảng và Tết Nguyên đán Tân Sửu 2021 /Imagesnews/2021-01/HN-BCV-thang-1-c_Key_14012021144721.jpg_Key_14012021144721.png

(TUAG)- Sáng ngày 14/01, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy tổ chức Hội nghị Báo cáo viên thường kỳ tháng 01 năm 2021 bằng hình thức trực tuyến tới các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh, trong đó có 01 điểm cầu cấp tỉnh, 11 điểm cầu cấp huyện, 45 điểm cầu cấp xã, với 2.206 đại biểu tham dự.

14/01/2021 3:00 CHYesĐã ban hành
Quang cảnh hội nghị tại điểm cầu chính

Đến dự và là báo cáo viên của hội nghị có đồng chí Lê Văn Phước - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh; đồng chí Lâm Thành Sol - Tỉnh ủy viên, Phó Giám đốc Công an tỉnh; đồng chí Trương Bá Trạng - Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Tham dự hội nghị tại điểm cầu cấp tỉnh có các đồng chí là Báo cáo viên cấp tỉnh, đại diện lãnh đạo các sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh có liên quan. Đồng chí Trình Lam Sinh - Tỉnh ủy viên, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy chủ trì hội nghị.
Đồng chí Lê Văn Phước - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh thông tin chuyên đề “Tình hình phát triển kinh tế - xã hội năm 2020, phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm trong phát triển kinh tế - xã hội năm 2021”

Tại hội nghị, các đại biểu được nghe thông tin 03 chuyên đề: Tình hình phát triển kinh tế - xã hội năm 2020, phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm trong phát triển kinh tế - xã hội năm 2021; Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và kết quả đấu tranh phòng, chống tội phạm năm 2020, nhiệm vụ trọng tâm trong công tác đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm năm 2021, đặc biệt là cao điểm diễn ra Đại hội XIII của Đảng, Tết Nguyên đán Tân Sửu 2021; Việc tổ chức các hoạt động chào mừng Đại hội lần thứ XIII của Đảng, mừng Đảng, mừng Xuân Tân Sửu năm 2021.


Phát biểu định hướng công tác tuyên truyền trong thời gian tới đồng chí Trình Lam Sinh - Tỉnh ủy viên, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, yêu cầu: Ban tuyên giáo, tuyên huấn các huyện, thị, thành uỷ và đảng uỷ trực thuộc Tỉnh uỷ tham mưu cho cấp uỷ tập trung cao công tác tuyên truyền cả chiều rộng, lẫn chiều sâu về Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, theo đó tất cả các cơ quan báo chí trong tỉnh tập trung thực hiện đợt cao điểm tuyên truyền bắt đầu từ ngày 20/01/2021 đến hết thời gian diễn ra Đại hội XIII của Đảng. Tiếp tục tổ chức học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp, đúng theo Kế hoạch số 01-KH/TU, ngày 23/10/2020 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ.

Quán triệt và triển khai thực hiện nghiêm các nhiệm vụ trọng tâm tăng cường phòng chống dịch bệnh COVID-19 trong Công văn số 82-CV/TU, ngày 08/01/2021 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ. Tuyên truyền những kết quả nổi bật trong phát triển kinh tế - xã hội năm 2020; đánh giá, phân tích làm rõ những cố gắng, nỗ lực của các cấp, các ngành, nêu bật quyết tâm của tỉnh trong việc triển khai thực hiện các chương trình, kế hoạch trọng điểm trong năm 2021, tăng cường quảng bá hình ảnh, tiềm năng, thế mạnh của An Giang, các lễ hội văn hóa, thể thao, du lịch địa phương.

Tiếp tục tuyên truyền về thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và quá trình tổ chức thực hiện Nghị quyết gắn với triển khai thực hiện việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Tuyên truyền công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, phản ánh việc chấp hành kỷ luật, kỷ cương trong thực thi công vụ.

Tuyên truyền việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 45-CT/TW của Bộ Chính trị về lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026; tuyên truyền triển khai thực hiện Quyết định số 238-QĐ/TW, ngày 30/9/2020 của Ban Bí thư ban hành Quy chế phối hợp giữa ban tuyên giáo các cấp với cơ quan nhà nước cùng cấp trong việc thực thi pháp luật, triển khai kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, giải quyết các vấn đề nổi cộm, Nhân dân quan tâm.

Tuyên truyền kỷ niệm các ngày lễ lớn và sự kiện lịch sử quan trọng trong năm 2021, việc tổ chức tết nguyên đán Tân Sửu 2021 theo hướng dẫn của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy và Ban Thường vụ Tỉnh ủy. Tuyên truyền kết quả đấu tranh phòng, chống tội phạm năm 2020 và những nhiệm vụ trọng tâm trong công tác đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm năm 2021./.


Nguyễn Lam
True
75 năm Ngày Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (06/01/1945-06/01/2021)Bài viếtTTCTTT75 năm Ngày Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (06/01/1945-06/01/2021)http://tuyengiaoangiang.vn/images/2021/Thang1/Bau-cu-qh6.jpg

06/01/2021 5:00 CHNoĐã ban hành

(TUAG)- Ngày 16/8/1945, trong cao trào đấu tranh chống lại ách đô hộ của thực dân Pháp và phát xít Nhật, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tổng bộ Việt Minh đã khai mạc Đại hội đại biểu quốc dân (Quốc dân Đại hội Tân Trào) - một đại hội mang tầm vóc của một Quốc hội lâm thời tại đình Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Đại hội đã tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa, thông qua 10 chính sách của Mặt trận Việt Minh, thành lập Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam do đồng chí Hồ Chí Minh làm Chủ tịch để lãnh đạo toàn dân giành chính quyền và tiến hành thắng lợi cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945.


Nhân dân Hà Nội bỏ phiếu bầu đại biểu quốc hội khóa I, ngày 6-1-1946. Ảnh: Tư liệu

Quốc dân Đại hội Tân Trào là mốc son trong lịch sử vẻ vang của cách mạng Việt Nam, là tiền thân của Quốc hội Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ngày nay.

Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 02/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 03/9/1945, tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị một trong sáu nhiệm vụ cấp bách phải thực hiện ngay là "... tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai gái mười tám tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu, nghèo, tôn giáo, dòng giống".

Ngày 08/9/1945, Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ban hành Sắc lệnh 14-SL quy định mở cuộc Tổng tuyển cử để bầu Quốc hội. Ngày 06/01/1946, cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên đã diễn ra trong cả nước, kể cả các vùng đang có chiến sự ở Nam bộ, Nam Trung bộ và Tây Nguyên, với tỷ lệ cử tri đi bỏ phiếu là 89%. Chủ tịch Hồ Chí Minh ứng cử tại Hà Nội đã trúng cử với số phiếu rất cao (98,4%).

Trong cả nước, cuộc Tổng tuyển cử được tiến hành sôi nổi. Riêng các tỉnh phía Bắc, mặc dù phải đối phó với âm mưu phá hoại hết sức tinh vi và trắng trợn của kẻ thù, nhưng Tổng tuyển cử vẫn diễn ra an toàn. Ở các tỉnh phía Nam, nhân dân đi bỏ phiếu rất đông, bất chấp bom đạn của giặc Pháp. Nhiều nơi nhân dân phải đổi cả xương máu để thực hiện quyền tự do, dân chủ của mình. Tại Sài Gòn và Nam bộ, mặc dù thực dân Pháp tiến hành gây chiến, song nhân dân Sài Gòn - Gia Định và cả miền Nam đã bất chấp sự ngăn cấm của kẻ thù, thực hiện quyền công dân của mình để bầu ra Quốc hội đầu tiên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Cả nước đã bầu được 333 đại biểu, trong đó, 87% số đại biểu là công nhân, nông dân, chiến sĩ cách mạng, 10 đại biểu nữ và 34 đại biểu dân tộc thiểu số.

Cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của Việt Nam năm 1946 được tiến hành theo nguyên tắc dân chủ, tiến bộ nhất, đó là: Phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín đã hoàn toàn thắng lợi. Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Quốc hội đã cử ra Chính phủ chính thức, ấn định cho Việt Nam một Hiến pháp dân chủ - Hiến pháp năm 1946.

Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử đã đánh dấu bước trưởng thành của Nhà nước cách mạng Việt Nam, mở ra một thời kỳ mới, thời kỳ đất nước ta có một quốc hội, một chính phủ thống nhất, một bản Hiến pháp tiến bộ và một hệ thống chính quyền hoàn toàn đầy đủ danh nghĩa về mặt pháp lý đại diện nhân dân Việt Nam về đối nội, đối ngoại.

Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa VI - Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam thống nhất. Ảnh: Tư liệu.

Cuộc bầu cử là căn cứ để khẳng định Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có tính hợp pháp, dân chủ - Nhà nước của dân, do dân và vì dân, được quốc dân giao phó trọng trách điều hành đất nước, tổ chức toàn dân kháng chiến kiến quốc, giải quyết mọi quan hệ của Việt Nam trên trường quốc tế.

Quốc hội Việt Nam ra đời vừa là thành quả, vừa là yêu cầu bức thiết của cách mạng trong tình hình nước nhà vừa tuyên bố độc lập. Quốc hội ra đời trong khói lửa của cuộc đấu tranh cách mạng, đã hội tụ các đại biểu của cả ba miền Bắc - Trung - Nam, là ý chí và nguyện vọng của nhân dân cả nước. Khẳng định niềm tin tuyệt đối của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vào tinh thần yêu nước của nhân dân ta. Đồng thời, đó cũng là biểu thị khát vọng dân chủ của nhân dân và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân.

Cùng với lịch sử 75 năm xây dựng và củng cố nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đến nay Quốc hội Việt Nam đã trải qua 14 khóa; Nhân dân cả nước đã trực tiếp bầu 6.397 đại biểu và có 70 đại biểu không thông qua bầu cử. Do điều kiện lịch sử của đất nước, trong 14 khóa Quốc hội đã qua, nhiệm kỳ Quốc hội khóa I kéo dài nhất, hơn 14 năm (từ năm 1946 đến năm 1960) và nhiệm kỳ Quốc hội khóa V ngắn nhất (1975-1976). Vừa qua, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Nghị quyết về Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 là Chủ nhật, ngày 23/5/2021.

Từ khi ra đời đến nay, với tư cách là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, Quốc hội Việt Nam đã đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển chung của dân tộc. Với hoàn cảnh đặc thù của đất nước, 30 năm đầu (1946- 1975) cùng với việc xây dựng chế độ dân chủ của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Quốc hội đã cùng với Chính phủ đề ra các chủ trương chính sách, tổ chức và động viên toàn dân "kháng chiến, kiến quốc" giành thắng lợi trong hai cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và thống nhất Tổ quốc.

Chế độ dân chủ đã được củng cố và ngày càng hoàn thiện. Trên nền tảng tư tưởng cốt lõi của Hiến pháp năm 1946 "Tất cả quyền lực trong nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đều thuộc về nhân dân. Nhân dân sử dụng quyền lực của mình thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân", Quốc hội đã thông qua các Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp năm 2013 kế thừa và hoàn thiện Nhà nước do dân, vì dân phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ của đất nước.

Nhiều đạo luật quan trọng đã được Quốc hội ban hành nhằm thể chế hóa quyền làm chủ của nhân dân và thực hiện quản lý xã hội theo Hiến pháp và pháp luật. Quốc hội đã đề ra các chủ trương, chính sách lớn có liên quan đến quốc kế dân sinh, quyết định về ngân sách quốc gia, về phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa, giáo dục, về chính sách dân tộc, an ninh quốc phòng, về chính sách đối ngoại. Quốc hội cũng đã thực hiện quyền giám sát tối cao trong quá trình thực thi Hiến pháp và luật, kiểm tra sự chỉ đạo điều hành của bộ máy Nhà nước trên các lĩnh vực đời sống xã hội.

Kỷ niệm 75 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu ra Quốc hội Việt Nam (06/01/1946 - 06/01/2021) là dịp để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nhận thức sâu sắc về ý nghĩa của Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên của Quốc hội Việt Nam; tôn vinh và tri ân công lao, đóng góp to lớn của Quốc hội đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Thông qua các hoạt động tuyên truyền kỷ niệm góp phần củng cố, bồi đắp niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước cũng như sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế; cổ vũ, động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nỗ lực vượt qua khó khăn, thách thức, nắm bắt thời cơ, quyết tâm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của Quốc hội khóa XIV./.

TRÌNH LAM SINH

Tỉnh ủy viên, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy

FalseChính trị
Thực hiện nhanh, hiệu quả, toàn diện các giải pháp phát triển kinh tế - xã hộiBài viếtĐảng Cộng sản VNThực hiện nhanh, hiệu quả, toàn diện các giải pháp phát triển kinh tế - xã hội/Imagesnews/2021-01/nam-moi-2021-3_Key_03012021212013.jpg

Chính phủ yêu cầu người đứng đầu các Bộ, ngành, địa phương khẩn trương xây dựng, ban hành chương trình, kế hoạch hành động để triển khai thực hiện Nghị quyết 01, 02, nghiêm túc triển khai thực hiện nhanh, hiệu quả, thực chất và toàn diện, tạo chuyển biến rõ nét ngay từ đầu năm.

05/01/2021 8:00 SANoĐã ban hành

Họp báo thông tin về Nghị quyết số 01/NQ-CP và Nghị quyết 02/NQ-CP.

Ảnh: TH 

Sáng 04/1, ngày làm việc đầu tiên của năm mới 2021, Văn phòng Chính phủ tổ chức Họp báo thông tin về Nghị quyết số 01/NQ-CP và Nghị quyết 02/NQ-CP. Bộ trưởng, Chủ nhiệm VPCP Mai Tiến Dũng, Người phát ngôn của Chính phủ, chủ trì họp báo.

Tiếp tục thực hiện quyết liệt, linh hoạt, hiệu quả “mục tiêu kép”

Phát biểu mở đầu họp báo, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng nêu rõ: Nhìn lại cả chặng đường 05 năm giai đoạn 2016-2020, chúng ta đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Các kết quả này chính là những dấu ấn nổi bật của Chính phủ trong giai đoạn vừa qua, góp phần làm cho “đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay” như đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã nhận định, tạo niềm tin, nguồn lực và động lực mới để chúng ta vững bước tiến tới Đại hội XIII của Đảng và thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ mà Đại hội sẽ đề ra.

Bộ trưởng Mai Tiến Dũng nêu rõ: Năm 2021 là năm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là năm tổ chức Đại hội toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, bầu cử Quốc hội khóa XV, bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp và là năm đầu tiên thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2021-2030, Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2021-2025. Với ý nghĩa như vậy, yêu cầu và nhiệm vụ đặt ra là rất lớn. Trong khi đó, dự báo tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, đại dịch COVID-19 chưa thể sớm kết thúc, ảnh hưởng đến nhiều ngành, lĩnh vực.

Ở trong nước, bên cạnh những thời cơ, thuận lợi, tác động của dịch bệnh, biến đổi khí hậu, thiên tai, hạn hán, xâm nhập mặn tiếp tục diễn biến phức tạp…, đòi hỏi chúng ta không được chủ quan với những kết quả đã đạt được mà cần phải tiếp tục nỗ lực, cố gắng nhiều hơn nữa trong năm 2021 và thời gian tới. Để hiện thực hóa tiềm năng tăng trưởng như đánh giá của các tổ chức quốc tế, Chính phủ đã ban hành các Nghị quyết 01, 02 với nhiều nhiệm vụ, giải pháp hết sức cụ thể.

Thông tin về Nghị quyết 01, Bộ trưởng Mai Tiến Dũng cho biết Nghị quyết tập trung vào những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, dự toán ngân sách nhà nước năm 2021: Cụ thể, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xác định thông điệp của năm 2021 là: Tiếp tục đổi mới tư duy phát triển, hành động quyết liệt, hiệu quả hơn, quyết tâm vượt qua mọi khó khăn, biến thách thức thành cơ hội, tận dụng tốt các thành tựu của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và xu hướng dịch chuyển đầu tư, thương mại, chuyển đổi số trong khu vực và thế giới. Phát huy hơn nữa tinh thần đoàn kết, chung sức đồng lòng của cả hệ thống chính trị, với niềm tin, ý chí, khát vọng vươn lên mạnh mẽ, nỗ lực phấn đấu hoàn thành vượt mức các nhiệm vụ, mục tiêu, chỉ tiêu Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và Dự toán ngân sách nhà nước năm 2021, củng cố niềm tin của người dân, doanh nghiệp, tạo nền tảng vững chắc cho việc thực hiện thắng lợi Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 05 năm giai đoạn 2021-2025 và Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm giai đoạn 2021-2030, sớm hiện thực hóa khát vọng phát triển về tầm nhìn đến năm 2045 đưa nước ta trở thành nước phát triển, thu nhập cao theo Nghị quyết của Đảng, Quốc hội.

Năm 2021 phải đạt được nhiều thành tích và tiến bộ hơn năm 2020 như phát biểu chỉ đạo, giao nhiệm vụ của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị Chính phủ với các địa phương tháng 12/2020. Để thực hiện được những yêu cầu trên, phương châm hành động của năm 2021 được xác định là “Đoàn kết, kỷ cương, đổi mới, sáng tạo, khát vọng phát triển”

Cùng với việc thực hiện mục tiêu hoàn thành toàn diện 12 chỉ tiêu chủ yếu được Quốc hội giao tại Nghị quyết số 124/2020/QH14, để tạo nền tảng cho tăng tốc phát triển ngay từ năm đầu của giai đoạn 2021-2025, hướng tới phát triển nhanh và bền vững theo đúng Nghị quyết của Đảng, Quốc hội; trên cơ sở nhận định, đánh giá của nhiều tổ chức quốc tế và với quyết tâm cao, Chính phủ đề ra mục tiêu phấn đấu tốc độ tăng GDP năm 2021 là khoảng 6,5% (cao hơn mức khoảng 6% Quốc hội giao).

Đồng thời, Chính phủ đề ra 96 chỉ tiêu cụ thể cho các ngành, lĩnh vực làm cơ sở cho các bộ, ngành, địa phương xây dựng kế hoạch phấn đấu thực hiện và là căn cứ để kiểm tra, đánh giá, đo lường kết quả thực hiện Nghị quyết của các bộ, ngành, địa phương. Để thực hiện được các mục tiêu, chỉ tiêu đề ra, Chính phủ xác định 08 trọng tâm chỉ đạo điều hành, với 11 nhóm nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu và 188 nhiệm vụ cụ thể cho các bộ, ngành, địa phương. Trong đó, đặc biệt nhấn mạnh các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm như sau: Phục vụ tổ chức thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, bầu cử Quốc hội khoá XV và bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026.

Chính phủ yêu cầu, các bộ khẩn trương xây dựng, ban hành chương trình hành động, kế hoạch công tác để triển khai thực hiện Nghị quyết. Tiếp tục thực hiện quyết liệt, linh hoạt, hiệu quả “mục tiêu kép” vừa phòng, chống dịch bệnh, bảo vệ sức khoẻ nhân dân, vừa phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội. Tuyệt đối không chủ quan trước dịch bệnh, ngăn chặn hiệu quả nguồn bệnh xâm nhập từ bên ngoài. Đẩy nhanh việc nghiên cứu, hợp tác quốc tế trong phát triển vaccine và có giải pháp để người dân tiếp cận vaccine phòng dịch COVID-19 sớm nhất. Phối hợp chặt chẽ, đồng bộ, hiệu quả các chính sách tài khóa, tiền tệ và các chính sách khác để tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững; đồng thời tiếp tục nhất quán mục tiêu giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế. Đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, tính tự chủ và sức cạnh tranh của nền kinh tế dựa trên nền tảng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo. Quyết liệt thực hiện ngay từ đầu năm các giải pháp đẩy mạnh giải ngân gắn với nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng vốn đầu tư công. Tiếp tục hoàn thiện, nâng cao chất lượng xây dựng thể chế, xác định thể chế là nền tảng quan trọng cho phát triển đất nước. Xây dựng hệ thống hành chính Nhà nước kiến tạo, phát triển, liêm chính, hành động quyết liệt, phục vụ nhân dân. Tiếp tục hoàn thiện bộ máy Nhà nước tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Thực hiện có hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí và giải quyết khiếu nại, tố cáo. Quyết liệt thực hiện cải cách hành chính, trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính, bảo đảm hiệu quả, thực chất gắn với đẩy mạnh thực hiện chuyển đổi số quốc gia, cung cấp các dịch vụ công cho người dân, doanh nghiệp, thu hút mạnh mẽ đầu tư, thúc đẩy khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo.

Cùng với đó, nâng cao chất lượng và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực gắn với đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, ứng dụng và phát triển mạnh mẽ khoa học công nghệ. Xác định đây là yếu tố có vai trò đặc biệt quan trọng cho sự phát triển của quốc gia, dân tộc. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội đồng bộ, hiện đại, đặc biệt là về giao thông, năng lượng, đô thị lớn, ứng phó với biến đổi khí hậu...

Chính phủ yêu cầu các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trước ngày 20/01/2021 xây dựng, ban hành chương trình, kế hoạch hành động để triển khai thực hiện Nghị quyết 01; theo chức năng, nhiệm vụ được giao, nghiêm túc triển khai thực hiện nhanh, hiệu quả, thực chất và toàn diện các nhiệm vụ, giải pháp đã đề ra tại Nghị quyết, tạo chuyển biến rõ nét ngay từ đầu năm; theo dõi sát diễn biến trong nước và quốc tế, chủ động phân tích, đánh giá, dự báo để có các giải pháp kịp thời, tổng thể, đồng bộ, tận dụng thời cơ, thuận lợi, giảm thiểu tác động tiêu cực, thúc đẩy phát triển ngành, lĩnh vực, địa phương.

Cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia

Đối với Nghị quyết 02/NQ-CP về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2021, trong bối cảnh Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 68/NQ-CP về Chương trình cắt giảm quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh giai đoạn 2020-2025, với mục tiêu cắt giảm, đơn giản hóa ít nhất 20% số quy định và 20% chi phí tuân thủ quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh, Nghị quyết 02 năm nay đề ra thông điệp của Chính phủ là Cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia là nhiệm vụ trọng tâm thường xuyên, liên tục bởi nếu chúng ta đứng yên hoặc cải cách chậm hơn thì tức là thụt lùi và sẽ bị bỏ lại phía sau.

Trên cơ sở đó, Nghị quyết yêu cầu tiếp tục thực hiện các mục tiêu cụ thể của Nghị quyết 68, và đề ra 04 nhóm nhiệm vụ, giải pháp chung cho các bộ, ngành, UBND cấp tỉnh, gồm: (1) Đề ra phương hướng, yêu cầu tập trung chỉ đạo khắc phục ngay những hạn chế, vướng mắc trong công tác phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị bởi đây vẫn là khâu yếu; (2) Tập trung chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp chuyển đổi số theo Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03 tháng 6 năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” đồng bộ với thực hiện cải cách hành chính; (3) Tập trung chỉ đạo xây dựng và thực hiện chiến lược, kế hoạch trung, dài hạn với mục tiêu rõ ràng, lộ trình cụ thể để tạo chuyển biến vững chắc đối với các chỉ tiêu có tính chất nền tảng nhưng khó cải thiện trong thời gian ngắn; (4) Tiếp tục chú trọng hỗ trợ người dân và doanh nghiệp phục hồi sản xuất kinh doanh, khắc phục các tác động tiêu cực của dịch bệnh COVID-19.

Tại cuộc họp báo, trả lời câu hỏi của báo chí về việc Chính phủ có tính đến gói hỗ trợ kinh tế lần thứ hai của kế hoạch năm 2021 hay không? Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Trần Quốc Phương cho biết: gói hỗ trợ kinh tế lần thứ hai này, Bộ nhận nhiệm vụ triển khai do Thủ tướng Chính phủ giao. "Chúng tôi sẽ kết hợp với các bộ, ngành trên cơ sở nắm bắt tình hình tác động của COVID-19 và các khó khăn của nền kinh tế, có thể báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong thời gian sớm nhất với các thông tin có tính khả thi cao.

Do vậy, để trả lời thời điểm nào có gói hỗ trợ kinh tế lần thứ hai này, áp dụng ra sao, quy mô, phạm vi thế nào, tại thời điểm này chúng tôi chưa thể trả lời chi tiết được. Đến thời điểm chín muồi, chúng tôi hoàn tất nghiên cứu, chuẩn bị thì sẽ thông tin, báo cáo với các nhà báo", Thứ trưởng thông tin.

Đề cập đến lộ trình mở cửa nền kinh tế, Thứ trưởng cho hay, mở cửa giao thương vận tải hành khách phụ thuộc nhiều yếu tố, trong bối cảnh dịch COVID-19 còn rất phức tạp, thậm chí còn có các chủng mới như ngành y tế đã thông tin, thêm nữa là vaccine chúng ta chỉ mới có thông tin ban đầu và cũng chưa khẳng định việc tiêm vaccin trong năm 2021 là bảo đảm an toàn để chúng ta giao thương vận tải hành khách. Đặc biệt là có sự khác biệt về phạm vi, quy mô của việc tiêm vaccin, có nước tiêm được nhiều, được ít, cũng như khả năng bao quát, bao phủ của tiêm vaccin, chưa có đủ thông tin để khẳng định có thể mở cửa giao thương lại vận tải hành khách. "Hiện tại, chưa thể nói chính xác ngày nào, giờ nào chúng ta cho phép giao thương, điều này phụ thuộc vào công tác nắm bắt tình hình cũng như là khẳng định mức độ an toàn khi chúng ta mở lại việc giao thương vận tải hành khách, đặc biệt là phục vụ cho ngành du lịch", Thứ trưởng nói./.


False
Đối ngoại Việt Nam 2020: Bản lĩnh và tâm thế mớiBài viếtH.TĐối ngoại Việt Nam 2020: Bản lĩnh và tâm thế mới/Imagesnews/2021-01/Pham-Binh-Minh_Key_03012021210948.jpg

(TUAG)- ​Đối ngoại Việt Nam năm 2020 đã vượt qua nhiều thách thức, tranh thủ, tạo ra và tận dụng tốt những cơ hội hợp tác mới, góp phần cùng cả nước khắc phục khó khăn và tiếp tục vươn lên trên con đường phát triển. Trước thềm năm mới, Cổng TTĐT Đảng bộ An Giang trân trọng giới thiệu bài viết của Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh: "Đối ngoại Việt Nam 2020: Bản lĩnh và tâm thế mới".

02/01/2021 10:00 CHNoĐã ban hành

Pham-Binh-Minh.jpg

Đồng chí Phạm Bình Minh, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao  

Năm 2020 vừa qua đi với nhiều biến động to lớn, chưa từng có, với hệ lụy và tác động đa chiều, đa lĩnh vực, ở tầm toàn cầu và có thể còn kéo dài trong nhiều năm tới. Dưới tác động của đại dịch COVID-19, gam màu xám nổi lên ở nhiều nơi, nhiều lĩnh vực trong bức tranh toàn cảnh thế giới năm 2020. Đại dịch COVID-19 đã tác động nghiêm trọng, sâu rộng đến tình hình kinh tế, chính trị, xã hội ở mỗi quốc gia, khu vực và toàn cầu. Kinh tế thế giới rơi vào suy thoái, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn quyết liệt chưa từng có kể từ sau chiến tranh lạnh. Các trào lưu chống toàn cầu hóa, dân túy, bảo hộ vốn xuất hiện từ trước lại càng có điều kiện phát triển mạnh mẽ. Tình hình Biển Đông có nhiều phức tạp mới, tiềm ẩn nguy cơ đối với hòa bình, ổn định ở khu vực. Bên cạnh dịch bệnh, các thách thức an ninh phi truyền thống khác nổi lên gay gắt, trong đó có vấn đề an ninh nguồn nước, thiên tai, lũ lụt tác động mạnh đến khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam.

Mặc dù vậy, điểm sáng trong bức tranh thế giới năm qua là hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn và là khát vọng cháy bỏng của nhân dân thế giới. Châu Á - Thái Bình Dương vẫn tiếp tục khẳng định là khu vực phát triển kinh tế năng động, là động lực của tăng trưởng và liên kết toàn cầu và có tầm ảnh hưởng về chính trị ngày càng gia tăng. ASEAN củng cố đoàn kết, thích ứng nhanh với nhiều biến động mạnh của tình hình quốc tế, đặc biệt là tác động của đại dịch và cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, tiếp tục giữ vững vai trò trung tâm ở khu vực và nỗ lực xây dựng Cộng đồng đoàn kết, tự cường và thịnh vượng, hướng về người dân và lấy người dân làm trung tâm để vững bước tiến lên với tầm nhìn mới sau 2025 về một khu vực hòa bình, an ninh, ổn định, phát triển bền vững, tăng trưởng bao trùm và tiến bộ xã hội.
Những biến động phức tạp và đa chiều của tình hình thế giới, khu vực năm 2020 đã và đang tác động sâu sắc đến môi trường hòa bình, an ninh, phát triển của nước ta, đặt ra những thách thức, cơ hội đan xen. Trong khi đó, năm 2020 là năm bản lề thực hiện các mục tiêu của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2016 - 2020.
Trước những thách thức của tình hình, dưới sự chỉ đạo quyết liệt của Đảng, Nhà nước, cả hệ thống chính trị đã triển khai xuất sắc nhiệm vụ kép, vừa phòng, chống dịch, vừa phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội trên nền tảng môi trường hòa bình, ổn định được giữ vững. Đối ngoại Việt Nam năm 2020 đã vượt qua nhiều thách thức, tranh thủ, tạo ra và tận dụng tốt những cơ hội hợp tác mới, góp phần cùng cả nước khắc phục khó khăn và tiếp tục vươn lên trên con đường phát triển.


Bản lĩnh vượt qua khó khăn

Trong bối cảnh môi trường quốc tế, khu vực có nhiều bất ổn, công tác đối ngoại được triển khai chủ động, tích cực, linh hoạt, sáng tạo, góp phần giữ đà và thúc đẩy quan hệ với các đối tác, nâng cao vị thế của Việt Nam trong tình hình mới, đóng góp quan trọng vào việc thực hiện thành công đường lối đối ngoại của Đại hội XII của Đảng và củng cố môi trường hòa bình, ổn định, thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thứ nhất, quan hệ hợp tác của ta với các nước, nhất là đối với các nước láng giềng, các đối tác quan trọng tiếp tục được củng cố, thúc đẩy. Trước những khó khăn do đại dịch gây ra, chúng ta vẫn thúc đẩy nhiều trao đổi, hợp tác với các nước, nhất là đẩy mạnh trao đổi trực tuyến ở các cấp. Trong đó, Lãnh đạo Cấp cao ta đã tiến hành 34 cuộc điện đàm, trao đổi trực tuyến song phương với lãnh đạo các nước. Bên cạnh đó, chúng ta vẫn triển khai an toàn các hoạt động trao đổi đoàn quan trọng. Lãnh đạo và quan chức cấp cao nhiều nước vẫn chọn Việt Nam đến thăm và thúc đẩy quan hệ. Chúng ta cũng tiến hành linh hoạt, sáng tạo, kể cả thông qua hình thức trực tuyến, nhiều hoạt động kỷ niệm năm tròn, năm lẻ, năm thiết lập quan hệ ngoại giao, duy trì các cuộc họp Ủy ban liên Chính phủ, ký kết thỏa thuận quốc tế với nhiều đối tác quan trọng. Năm qua đã chứng kiến quan hệ Việt Nam - Niu Di-lân được nâng cấp lên Đối tác Chiến lược, qua đó nâng mạng lưới đối tác chiến lược lên 17 quốc gia, cùng với 13 đối tác toàn diện.
Việt Nam cũng đã phát huy tinh thần đoàn kết và hợp tác quốc tế, hỗ trợ khẩu trang, vật tư y tế, tài chính cho 51 quốc gia và tổ chức quốc tế ứng phó với đại dịch COVID-19. Bên cạnh đó, các bộ, ngành, địa phương, tổ chức hữu nghị của Việt Nam đều tích cực tham gia hỗ trợ các quốc gia, đối tác gặp khó khăn. Ta cũng tranh thủ được sự hỗ trợ về tài chính và trang thiết bị y tế từ nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế phục vụ kiểm soát dịch bệnh trong nước. Mô hình chống dịch hiệu quả, cùng với tinh thần trách nhiệm và nghĩa cử cao đẹp của Việt Nam trong hợp tác quốc tế chống dịch đã được bạn bè quốc tế đánh giá cao.
Thứ hai, năm 2020 để lại dấu ấn đặc biệt quan trọng trong đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương Việt Nam, chủ động, tích cực đóng góp xây dựng, định hình các thể chế đa phương, nhất là ta đã đảm nhiệm thành công cùng lúc nhiều trọng trách quốc tế: Chủ tịch ASEAN 2020 và AIPA 41, Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an (HĐBA)/Liên Hợp quốc(LHQ) trong năm đầu của nhiệm kỳ 2020 - 2021. Ta đã chủ động dẫn dắt, điều phối ASEAN vượt qua nhiều thách thức, ứng phó hiệu quả với đại dịch COVID-19; linh hoạt tổ chức trực tuyến thành công nhiều hội nghị, đặc biệt là Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 36 và 37 cùng các hội nghị với các đối tác đối thoại chủ chốt; thúc đẩy thông qua nhiều văn kiện, trong đó có trên 80 văn kiện tại các Hội nghị Cấp cao, trong tất cả các lĩnh vực quan trọng, nhất là xây dựng Cộng đồng và định hướng xây dựng tầm nhìn Cộng đồng ASEAN sau 2025, thúc đẩy hợp tác giữa ASEAN với các đối tác, phòng chống dịch bệnh, phục hồi kinh tế, bảo đảm hòa bình, ổn định và phát triển, thượng tôn pháp luật ở khu vực. ASEAN tiếp tục giữ vai trò trung tâm ở khu vực, được các nước coi trọng.
Chúng ta đã đảm nhận tốt vai trò Chủ tịch HĐBA ngay trong tháng đầu tiên của nhiệm kỳ (tháng 01/2020). Đồng thời trong cả năm qua, ta đã tham gia chủ động, tích cực tại HĐBA, thể hiện hình ảnh một Việt Nam trách nhiệm, đề cao luật pháp quốc tế, nỗ lực xây dựng đồng thuận, tìm kiếm giải pháp thoả đáng cho các tranh chấp, xung đột... Việt Nam đã để lại những dấu ấn riêng rất cụ thể như lần đầu tiên thúc đẩy HĐBA thông qua một Tuyên bố Chủ tịch về tuân thủ Hiến chương LHQ; tổ chức đối thoại ASEAN - LHQ, qua HĐBA nâng tầm ASEAN và qua ASEAN cụ thể hoá nhiều nội dung hợp tác ở cấp độ toàn cầu. Việt Nam cũng đã lần đầu tiên đề xuất và thúc đẩy nghị quyết của Đại hội đồng LHQ thông qua lấy ngày 27/12 hàng năm là Ngày quốc tế phòng chống dịch bệnh với số nước đồng bảo trợ kỷ lục 112 nước. Tham gia của Việt Nam trong hoạt động gìn giữ hòa bình của LHQ tiếp tục được tăng cường. Nhiều sáng kiến, đóng góp của Việt Nam tại các diễn đàn quốc tế, khu vực khác như ASEM, APEC, G20, WEF, các cơ chế Tiểu vùng Mê Công… được các nước ủng hộ, đánh giá cao.

Thứ ba, hội nhập kinh tế quốc tế đạt được những tiến triển có tính đột phá, tạo động lực mới cho tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Bên cạnh thực hiện hiệu quả Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Việt Nam đã ký kết và phê chuẩn Hiệp định Thương mại tự do (EVFTA, có hiệu lực từ tháng 8/2020) và Hiệp định bảo hộ đầu tư (EVIPA) với Liên minh Châu Âu, thúc đẩy ký FTA với Anh và Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) trong năm Chủ tịch ASEAN của Việt Nam, góp phần quan trọng để Việt Nam duy trì tăng trưởng thuộc nhóm cao nhất thế giới. Trong 11 tháng đầu năm 2020 giá trị xuất khẩu của Việt Nam tăng 5,3%. Nhiều doanh nghiệp đã chọn Việt Nam là điểm đến đầu tư, kinh doanh.
Thứ tư, công tác biên giới lãnh thổ có nhiều kết quả tích cực. Việt Nam và Campuchia đã trao đổi văn kiện phê chuẩn 02 văn kiện pháp lý công nhận 84% thành quả phân giới cắm mốc, chính thức đưa các văn kiện này có hiệu lực. Việt Nam và Trung Quốc kỷ niệm 20 năm ký Hiệp ước biên giới trên đất liền và 10 năm thực hiện 03 văn kiện pháp lý về biên giới trên đất liền. Đây là những thành quả có ý nghĩa quan trọng, góp phần cùng các nước láng giềng xây dựng đường biên giới trên bộ hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển.
Chúng ta đã kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền ở Biển Đông; gửi công hàm tới Liên hợp quốc khẳng định rõ lập trường của ta; chủ động, tích cực cùng các nước ASEAN và các đối tác liên quan thúc đẩy hòa bình, hợp tác, thượng tôn pháp luật, giải quyết hòa bình tranh chấp trên biển. ASEAN tiếp tục khẳng định lập trường nguyên tắc về Biển Đông trong các văn kiện liên quan của ASEAN và giữa ASEAN với các đối tác, nhấn mạnh Công ước LHQ về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982) là cơ sở xác định các quyền và lợi ích hợp pháp của các bên và là khuôn khổ điều chỉnh các hoạt động trên biển. ASEAN cũng thể hiện rõ quyết tâm xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) hiệu quả, thực chất và phù hợp với luật pháp quốc tế, nhất là UNCLOS 1982.
Thứ năm, công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài và bảo hộ công dân Việt Nam đã được triển khai kịp thời; hỗ trợ hiệu quả kiều bào ta ở nước ngoài vượt qua khó khăn do đại dịch Covid-19. Dù khó khăn do đại dịch, song kiều bào tiếp tục hướng về đất nước, đóng góp xây dựng quê hương bằng nhiều hình thức phong phú. Ta đã triển khai công tác bảo hộ công dân trên phạm vi rộng chưa từng có, tổ chức hơn 280 chuyến bay, đưa gần 80.000 công dân từ hơn 59 quốc gia/vùng lãnh thổ về nước an toàn; đồng thời tiếp tục tiến hành công tác bảo hộ đối với ngư dân và tàu cá của ta ở nước ngoài.
Thứ sáu, công tác ngoại giao văn hóa, thông tin đối ngoại được triển khai tích cực, đặc biệt là đã tận dụng hiệu quả công nghệ số để đẩy mạnh đưa Việt Nam ra thế giới với nhiều sản phẩm và cách làm sáng tạo. Trong năm qua, UNESCO đã công nhận công viên địa chất Đắc Nông là công viên địa chất toàn cầu; Vinh (Nghệ An) và Sa Đéc (Đồng Tháp) là thành phố học tập toàn cầu. Bạn bè quốc tế ngày càng biết đến Việt Nam không chỉ là một quốc gia hòa bình, ổn định, an toàn, nhiều tiềm năng hợp tác kinh tế mà còn có khả năng tự cường, thích ứng và xử lý hiệu quả các thách thức như đã thể hiện trong thành công chống dịch bệnh.
Những kết quả đối ngoại quan trọng trong năm qua có được là nhờ sự chỉ đạo sâu sát và tham gia trực tiếp của Lãnh đạo Đảng và Nhà nước, sự kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, đặt lợi ích của quốc gia - dân tộc lên trên hết, sự đồng tâm hiệp lực và phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa các binh chủng đối ngoại gồm đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại nhân dân và đối ngoại của các Bộ, ngành, địa phương. Những thành tựu ý nghĩa trên cũng thể hiện bản lĩnh và sự vươn lên của lực lượng cán bộ đối ngoại ngày càng chuyên nghiệp, hiện đại, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới.
Tâm thế mới trong giai đoạn chiến lược mới

Năm 2021 là năm đầu tiên triển khai Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2021 - 2025 và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2021 - 2030, tạo nền tảng để thực hiện khát vọng phát triển, nâng cao vị thế quốc tế của nước ta.
Thế giới cũng đã bước sang thập nhiên thứ 3 của thế kỷ 21 với những chuyển biến sâu sắc, mau lẹ và khó lường, tác động trực tiếp, nhiều chiều đến môi trường an ninh và phát triển của đất nước. Song trong khó khăn, thách thức, chúng ta vẫn thấy được tia sáng của vận hội và thuận lợi. Đó là thế và lực mới của đất nước sau 35 năm Đổi mới; sự vững mạnh, đoàn kết của cả hệ thống chính trị; sự tin tưởng, đồng hành, ủng hộ của nhân dân cũng như sự trưởng thành, nhiệt huyết của đội ngũ cán bộ đối ngoại. Đây là những tiền đề vững chắc để Việt Nam vững bước vào năm 2021 và những năm tiếp theo với tâm thế mới.   
Nhiệm vụ trọng tâm của đối ngoại Việt Nam năm 2021 là tổ chức triển khai đường lối đối ngoại của Đại hội XIII của Đảng, tiếp tục hội nhập quốc tế sâu rộng, làm sâu sắc quan hệ với các nước, bảo vệ vững chắc chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, góp phần củng cố môi trường hòa bình, huy động các nguồn lực bên ngoài phục vụ phát triển, nâng cao vị thế của đất nước.
Chúng ta tin tưởng rằng, với đường lối đối ngoại đúng đắn của Đảng và Nhà nước cùng sự quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị, sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại nhân dân và đối ngoại của các bộ, ngành, địa phương, cùng sự hưởng ứng của người dân và doanh nghiệp, chúng ta sẽ thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ đối ngoại trong năm 2021, triển khai hiệu quả đường lối đối ngoại Đại hội XIII của Đảng, để “tiếng chiêng” của đối ngoại Việt Nam mạnh mẽ, vang xa, thể hiện thực lực đất nước và khát vọng phát triển ngày càng lớn mạnh, phồn vinh./.

Phạm Bình Minh, Ủy viên Bộ Chính trị,

Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao.

False
Hội nghị Trung ương 14 để lại những dấu ấn tốt đẹpBài viếtĐảng Cộng sản VNHội nghị Trung ương 14 để lại những dấu ấn tốt đẹp/Imagesnews/2020-12/tbt-NPT_Key_21122020092315.jpg

Cổng Thông tin điện tử Đảng bộ An Giang trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng bế mạc Hội nghị lần thứ 14, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII, diễn ra sáng ngày 18/12.

18/12/2020 10:00 SANoĐã ban hành

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ 14, 

 Ban Chấp hành Trung ương khóa XII.

"Kính thưa Trung ương,

Thưa các đồng chí tham dự Hội nghị,

Sau gần 5 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, với tinh thần trách nhiệm cao, Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương đã hoàn thành toàn bộ nội dung chương trình đề ra (kết thúc sớm hơn 2 ngày so với dự kiến). Để bế mạc Hội nghị, tôi xin thay mặt Bộ Chính trị, phát biểu một số ý kiến có tính chất khái quát lại những kết quả chủ yếu đã đạt được và làm rõ thêm một số vấn đề để thống nhất trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết của Trung ương.

Một là, Hội nghị của chúng ta đã tập trung thảo luận, góp ý cụ thể và thống nhất rất cao với các nội dung mà Bộ Chính trị đề nghị tiếp thu, giải trình, hoàn chỉnh lần cuối các dự thảo và hoàn tất việc chuẩn bị các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng. Ban Chấp hành Trung ương ghi nhận, biểu dương đại hội đảng bộ các cấp đã chủ động, tích cực tham gia xây dựng, hoàn thiện các dự thảo văn kiện; hoan nghênh và cảm ơn các đồng chí lão thành cách mạng, các đại biểu Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, cán bộ, đảng viên và đông đảo các tầng lớp nhân dân trong nước, đồng bào ta định cư ở nước ngoài đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu, tâm huyết, thể hiện tinh thần trách nhiệm cao với Đảng, với nhân dân, đất nước. Các Tiểu ban và các cơ quan liên quan đã khẩn trương, nghiêm túc tổng hợp, phân tích, tiếp thu các ý kiến đóng góp xác đáng và phù hợp, xây dựng báo cáo tiếp thu, giải trình và hoàn thiện dự thảo các văn kiện trình Trung ương tại Hội nghị lần này.

Trung ương thống nhất cao cho rằng: Việc chuẩn bị các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng đã hoàn thành theo đúng mục đích, yêu cầu, kế hoạch đề ra. Các văn kiện trình Đại hội XIII lần này không chỉ kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng mà còn nhìn lại 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991, 10 năm thực hiện Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011), Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2011 - 2020; đề ra phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025 (năm kỷ niệm 50 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước); xác định mục tiêu, phương hướng đến năm 2030 (năm kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng); và tầm nhìn phát triển đất nước đến năm 2045 (năm kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà, nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Đây sẽ là những dấu mốc quan trọng trong quá trình phát triển của Đảng ta, dân tộc ta, đất nước ta, có ý nghĩa định hướng và tầm nhìn chiến lược cho tương lai, tiếp tục đẩy mạnh toàn diện và đồng bộ công cuộc đổi mới, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế và phát triển đất nước nhanh và bền vững hơn.

 Việc chuẩn bị dự thảo các văn kiện trình Đại hội lần này đã được tiến hành rất công phu, bài bản, chu đáo, qua nhiều lần, nhiều vòng, từng bước hoàn thiện, có nhiều đổi mới, tiến bộ về chất so với trước; quán triệt sâu sắc nguyên tắc kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý luận và thực tiễn, giữa kiên định và đổi mới, giữa kế thừa và phát triển; trên cơ sở phát huy tối đa dân chủ, trân trọng lắng nghe ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, cán bộ, đảng viên và nhân dân; lựa chọn, chắt lọc, tham khảo các đề xuất tâm huyết, trách nhiệm; kết tinh trí tuệ và sức sáng tạo của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Hệ thống các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng bao gồm Báo cáo chính trị là báo cáo trung tâm, cùng với các báo cáo chuyên đề là Báo cáo kinh tế - xã hội (bao gồm các Báo cáo tổng kết thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2011 - 2020, xây dựng Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030 và Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025) và Báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng đã có sự thống nhất cao, thể hiện tầm cao trí tuệ của Đảng ta, dân tộc ta.

Các văn kiện trình Đại hội của Đảng lần này có nhiều nội dung đổi mới và điểm nhấn quan trọng như tôi đã có dịp trình bày trong bài phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 13 vừa qua. Từ cách tiếp cận, mục tiêu phát triển, đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội XII, dự báo tình hình thế giới và trong nước, hệ thống các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo cho đến các định hướng phát triển, nhiệm vụ trọng tâm, các đột phá chiến lược đã thể hiện được những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, chủ trương, phương hướng lớn, cho thấy tầm nhìn, tư duy chiến lược của Đảng, khát vọng phát triển của dân tộc và quyết tâm chính trị của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong công cuộc xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Các đại biểu nhất trí thông qua Nghị quyết Hội nghị. 


Ban Chấp hành Trung ương tin rằng: Với phương châm Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Sáng tạo - Phát triển, Đại hội XIII của Đảng sẽ tiếp tục thảo luận kỹ lưỡng, thống nhất cao trong việc hoàn chỉnh và biểu quyết thông qua các văn kiện của Đại hội, tạo cơ sở cho việc quán triệt, triển khai thực hiện thật tốt Nghị quyết Đại hội, hoàn thành thắng lợi các mục tiêu cụ thể đến năm 2025 và năm 2030 cũng như mục tiêu tổng quát đã đề ra là: Nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp với sức mạnh thời đại; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hoà bình, ổn định. Phấn đấu đến năm 2025, nước ta là nước công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp; đến năm 2030 là nước công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; và đến giữa thế kỷ XXI trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, có thu nhập cao. Với hướng đi đúng đắn, hợp quy luật, ý chí vươn lên mãnh liệt, tinh thần đổi mới sáng tạo và quyết tâm chính trị cao, đất nước ta nhất định sẽ lập nên kỳ tích phát triển mới, sẽ bước vào một giai đoạn phát triển mới vì mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh", thực hiện thành công tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và khát vọng phát triển đất nước hùng cường, thịnh vượng của toàn dân tộc.

Thực tế hơn hai năm chuẩn bị các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng cho chúng ta thêm nhiều bài học kinh nghiệm quý, có thể kế thừa, bổ sung, phát triển để làm tốt hơn nữa trong các nhiệm kỳ sau.

Hai là, về kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư khoá XII, các ý kiến phát biểu tại Tổ cũng như tại Hội trường đều nhất trí cao với Tờ trình và Báo cáo; đồng thời thống nhất cho rằng: Nhiệm kỳ qua, trong bối cảnh có nhiều khó khăn, thách thức, tình hình trong nước và quốc tế diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường; thiên tai, dịch bệnh xảy ra ở nhiều nơi, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các đồng chí lãnh đạo chủ chốt thực sự là một tập thể đoàn kết, thống nhất cao, gương mẫu, bản lĩnh, trí tuệ, luôn bám sát các quan điểm, đường lối của Đảng, kịp thời đưa ra các quyết sách đúng đắn và phù hợp, giải quyết nhiều vấn đề về kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Tập trung lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân vượt qua khó khăn, thách thức, đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ sự nghiệp đổi mới, phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội XII đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng, khá toàn diện, có nhiều dấu ấn nổi bật, tạo tiền đề cho những nhiệm kỳ tiếp theo.

Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo hoàn thiện đường lối, thể chế, nhất là thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xử lý và giải quyết có hiệu quả những khó khăn, vướng mắc, hạn chế, yếu kém từ nhiều năm trước của nền kinh tế. Giữ vững ổn định vững chắc kinh tế vĩ mô; lạm phát được kiểm soát và duy trì ở mức thấp. Các cân đối lớn của nền kinh tế tiếp tục được bảo đảm. Huy động vốn đầu tư toàn xã hội tăng; hiệu quả sử dụng được nâng cao. Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng mạnh. Môi trường đầu tư, kinh doanh; cán cân thương mại được cải thiện, chuyển từ thâm hụt sang thặng dư, là động lực quan trọng cho tăng trưởng kinh tế. Mô hình tăng trưởng chuyển dịch theo hướng tích cực. Chất lượng tăng trưởng được nâng cao. Cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng đạt được những kết quả quan trọng. Tiếp tục thực hiện có kết quả 3 đột phá chiến lược. Giáo dục và đào tạo, y tế, khoa học và công nghệ, văn hoá, xã hội tiếp tục phát triển. Đời sống của nhân dân được cải thiện rõ rệt. Bảo vệ tài nguyên, môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu có những chuyển biến tích cực. Kiểm soát và ngăn chặn dịch bệnh có kết quả tích cực, nhất là đại dịch Covid-19; thực hiện có hiệu quả "mục tiêu kép", vừa phòng, chống dịch vừa phát triển kinh tế - xã hội.

Trước những diễn biến mới, phức tạp về tình hình quốc tế và khu vực, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã có những chủ trương, quyết sách đúng đắn, phù hợp, kịp thời, thể hiện sự nhạy bén, bản lĩnh và bước phát triển mới ngày càng toàn diện về tư duy lý luận và phương pháp luận của Đảng ta phù hợp với diễn biến tình hình và yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra cho đất nước. Thế và lực của đất nước được tăng cường; giữ vững độc lập, chủ quyền, quyền chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, lợi ích quốc gia, dân tộc và môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước, đóng góp tích cực, có trách nhiệm cho hoà bình, ổn định phát triển của thế giới và khu vực, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao, đồng tình ủng hộ; uy tín, vị thế của Đảng, của đất nước ngày càng được khẳng định và nâng cao trên trường quốc tế, được cán bộ, đảng viên và nhân dân tin tưởng, đánh giá cao.

Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực được đặc biệt coi trọng và tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện với quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt và đạt được nhiều kết quả rõ rệt; tình trạng tham nhũng bước đầu được ngăn chặn và có thuyên giảm. Kết hợp chặt chẽ, hài hoà, hiệu quả giữa xây dựng Đảng với chỉnh đốn Đảng; đề cao trách nhiệm của cấp uỷ, sự gương mẫu của cấp trên và người đứng đầu các cấp; tăng cường đoàn kết thống nhất trong Đảng; huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và sự đồng tình ủng hộ, tham gia tích cực của nhân dân. Nhiều vấn đề khó khăn, phức tạp, nhạy cảm đặt ra và tồn tại từ nhiều năm trước nhưng đến nhiệm kỳ này chúng ta đã giải quyết được, đạt kết quả quan trọng.

Có thể khẳng định, những kết quả đạt được trong nhiệm kỳ Đại hội XII có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, không chỉ tạo ra dấu ấn nổi bật, là điểm tựa cho những năm tiếp theo mà còn tạo ra niềm tin, khí thế mới để toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta vững vàng vượt qua khó khăn, thử thách, tận dụng thời cơ đưa đất nước bước vào một thời kỳ phát triển mới.

Đạt được những kết quả nêu trên có nhiều nguyên nhân, nhưng quan trọng nhất là nhờ có ý chí, quyết tâm cao; sự nỗ lực phấn đấu, chung sức, đồng lòng của cả hệ thống chính trị và toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư luôn kiên định, giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, đoàn kết, gương mẫu, thống nhất cao, lãnh đạo, chỉ đạo một cách toàn diện, cụ thể hoá Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, nhất là đối với những lĩnh vực quan trọng, then chốt; sự chỉ đạo, điều hành đồng bộ, quyết liệt của Chính phủ; sự đổi mới nội dung và phương thức hoạt động có hiệu quả của Quốc hội; sự vào cuộc quyết liệt của các cấp uỷ, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể nhân dân các cấp. Kết quả đó thể hiện sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, sự nỗ lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên và các lực lượng vũ trang; sự lao động cần cù, sáng tạo với tinh thần trách nhiệm cao của cộng đồng doanh nghiệp và toàn dân ta; tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ của bạn bè, cộng đồng quốc tế.

Tuy nhiên, công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư nhiệm kỳ Đại hội XII còn có một số hạn chế: Việc thể chế hoá, cụ thể hoá một số nghị quyết của Đảng còn chậm; tổ chức thực hiện vẫn là khâu yếu. Lãnh đạo, chỉ đạo công tác quản lý nhà nước về kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ tài nguyên, môi trường còn một số hạn chế, bất cập. Việc triển khai một số công trình trọng điểm, giải ngân vốn đầu tư công, cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước còn chậm; đời sống một bộ phận nhân dân còn khó khăn. Có lúc, có nơi việc xây dựng tổ chức thực hiện đường lối, chính sách, pháp luật và thực thi công vụ vẫn còn là khâu yếu; kỷ luật, kỷ cương có lúc, có nơi chưa nghiêm.

Những thiếu sót, khuyết điểm nêu trên có nguyên nhân khách quan và chủ quan, nhưng chủ yếu là do hoạt động, phương thức lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư trên một số lĩnh vực còn hạn chế; chưa tập trung, quyết liệt, kịp thời trong lãnh đạo tổ chức thực hiện nghị quyết; người đứng đầu trong một số lĩnh vực, địa phương chưa phát huy mạnh mẽ vai trò, trách nhiệm, tính năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý của mình.

Quang cảnh Hội nghị. 

Ba là, Ban Chấp hành Trung ương đã thảo luận dân chủ, kỹ lưỡng, bỏ phiếu biểu quyết với sự nhất trí rất cao nhân sự tham gia Bộ Chính trị, Ban Bí thư khoá XIII, bao gồm cả nhân sự Bộ Chính trị, Ban Bí thư khoá XII tái cử và nhân sự lần đầu tham gia Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Ban Chấp hành Trung ương giao cho Bộ Chính trị và Tiểu ban Nhân sự tiếp tục xem xét, bổ sung, hoàn thiện các phương án nhân sự theo đúng Phương hướng công tác nhân sự Ban Chấp hành Trung ương khoá XIII và quy trình công tác nhân sự đã đề ra để báo cáo Ban Chấp hành Trung ương xem xét, quyết định tại Hội nghị Trung ương 15 sắp tới.

Bốn là, Trung ương thống nhất cao với các Tờ trình của Bộ Chính trị về dự kiến Chương trình, nội dung Đại hội, Quy chế làm việc, Quy chế bầu cử tại Đại hội và khẳng định tinh thần chung là phải phát huy dân chủ, trí tuệ, tâm huyết của mỗi đại biểu dự Đại hội; đồng thời phải thực hiện nghiêm, giữ vững kỷ cương, kỷ luật của Đảng, trách nhiệm cá nhân của mỗi đại biểu, đặc biệt là vai trò nêu gương của các đồng chí Uỷ viên Trung ương Đảng khoá XII và các đồng chí trưởng đoàn. Ban Chấp hành Trung ương giao cho Bộ Chính trị tiếp thu ý kiến của Trung ương, tiếp tục hoàn thiện các Dự thảo để trình Đại hội XIII xem xét, quyết định.

Năm là, Ban Chấp hành Trung ương đã xem xét cho ý kiến về: Báo cáo tổng kết thực hiện Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và Ban Bí thư khoá XII; Báo cáo tổng kết công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng nhiệm kỳ Đại hội XII; Báo cáo tổng kết thực hiện Quy chế làm việc của Uỷ ban Kiểm tra Trung ương khoá XII; Báo cáo những công việc quan trọng Bộ Chính trị đã giải quyết từ sau Hội nghị Trung ương 13 đến Hội nghị Trung ương 14 khoá XII. Ban Chấp hành Trung ương giao cho Bộ Chính trị và Uỷ ban Kiểm tra Trung ương nghiên cứu, tiếp thu ý kiến của Trung ương, tiếp tục hoàn chỉnh các báo cáo tổng kết và bàn giao cho Ban Chấp hành Trung ương và Uỷ ban Kiểm tra Trung ương khoá XIII xem xét, quyết định khi sửa đổi, bổ sung Quy chế làm việc của khoá tới.

Cũng tại Hội nghị này, Ban Chấp hành Trung ương đã xem xét Tờ trình của Bộ Chính trị và nhất trí cao quyết định thi hành kỷ luật khai trừ ra khỏi Đảng đối với đồng chí Nguyễn Đức Chung, Uỷ viên Trung ương Đảng khoá XII, nguyên Phó Bí thư Thành uỷ nhiệm kỳ 2015 - 2020, nguyên Bí thư Ban cán sự đảng, nguyên Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội nhiệm kỳ 2016 - 2021 do đã mắc phải những vi phạm, khuyết điểm rất nghiêm trọng.

Thưa các đồng chí,

Hội nghị của chúng ta đã thành công rất tốt đẹp; hầu hết các nội dung công việc quan trọng chuẩn bị cho Đại hội XIII của Đảng cơ bản đã được hoàn thành theo đúng mục đích, yêu cầu và kế hoạch đề ra, với thời gian rút ngắn được hơn 2 ngày. Không khí Hội nghị rất dân chủ, hồ hởi, vui vẻ, phấn chấn; ý kiến phát biểu của các đồng chí Trung ương rất phong phú, thẳng thắn, chất lượng, chân thành. Sự tiếp thu của Bộ Chính trị rất nghiêm túc, cầu thị, được Trung ương thống nhất cao. Có thể nói, đây là một trong những hội nghị Trung ương để lại những ấn tượng, dấu ấn tốt đẹp.

Thời gian từ nay đến Đại hội không còn nhiều, chúng ta còn không ít việc quan trọng phải làm. Đề nghị các đồng chí Trung ương và toàn thể các đồng chí tham dự Hội nghị tiếp tục nêu cao tinh thần trách nhiệm, khẩn trương, nghiêm túc thực hiện và lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện thật tốt các nhiệm vụ đã đề ra, góp phần thiết thực vào thành công của Đại hội.

Với tinh thần đó, tôi xin tuyên bố bế mạc Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII. Chúc các đồng chí mạnh khoẻ, hoàn thành tốt trọng trách của mình trước Đảng, trước nhân dân và đất nước.

Xin trân trọng cảm ơn!

________________

(*) Đầu đề của Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam.

False
Hội nghị Trung ương lần thứ 14 giới thiệu nhân sự tham gia Bộ Chính trị, Ban Bí thư khoá XIIITinĐảng Cộng sản VNHội nghị Trung ương lần thứ 14 giới thiệu nhân sự tham gia Bộ Chính trị, Ban Bí thư khoá XIII/Imagesnews/2020-12/tw14-mg-8696_Key_14122020165415.jpg

Tại Hội nghị lần này, Trung ương sẽ thảo luận và bỏ phiếu biểu quyết giới thiệu nhân sự tham gia Bộ Chính trị, Ban Bí thư khoá XIII. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đề nghị từng đồng chí Trung ương tập trung nghiên cứu kỹ Tờ trình của Bộ Chính trị và các tài liệu nhân sự có liên quan, suy nghĩ cân nhắc thận trọng, đặt lợi ích của Đảng, của quốc gia - dân tộc lên trên hết.

14/12/2020 5:00 CHYesĐã ban hành
Hội nghị dự kiến họp từ 14 đến 20/12. 

Cho biết thông tin về việc giới thiệu nhân sự tham gia Bộ Chính trị, Ban Bí thư khoá XIII, tại phiên khai mạc Hội nghị Trung ương lần thứ 14 diễn ra sáng 14/12, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng cho biết,  thực hiện Phương hướng công tác nhân sự, tại Hội nghị Trung ương 13 vừa qua, Trung ương đã bỏ phiếu biểu quyết giới thiệu nhân sự tham gia uỷ viên Trung ương chính thức, uỷ viên Trung ương dự khuyết và Uỷ viên Uỷ ban Kiểm tra Trung ương khoá XIII.

Ngay sau Hội nghị Trung ương 13, căn cứ vào Kế hoạch xây dựng phương án nhân sự Bộ Chính trị, Ban Bí thư, ý kiến phát hiện, giới thiệu của Ban Chấp hành Trung ương, thẩm định của các cơ quan chức năng và đề xuất của Tiểu ban Nhân sự, ngày 20/11/2020, Bộ Chính trị đã xem xét, thảo luận và bỏ phiếu quyết định phê duyệt Quy hoạch Bộ Chính trị, Ban Bí thư khoá XIII. Tiểu ban Nhân sự và Bộ Chính trị đã chỉ đạo khẩn trương nghiên cứu, tham khảo công tác chuẩn bị nhân sự Bộ Chính trị, Ban Bí thư một số khoá gần đây về tiêu chuẩn, điều kiện, độ tuổi, số lượng, cơ cấu, cách làm và những hạn chế, bất cập, các bài học kinh nghiệm được rút ra, làm cơ sở để xây dựng Đề án về phương hướng công tác nhân sự Bộ Chính trị, Ban Bí thư khoá XIII.

Căn cứ vào tình hình, yêu cầu, nhiệm vụ trong thời gian tới và thực tế đội ngũ cán bộ hiện có, Tiểu ban Nhân sự và Bộ Chính trị đã họp nhiều lần, xem xét một cách dân chủ, khách quan, toàn diện; rà soát chặt chẽ, kỹ lưỡng, bổ sung, hoàn chỉnh các phương án nhân sự theo đúng phương hướng, quy trình công tác nhân sự đã đề ra.

Các đại biểu biểu quyết thông qua Chương trình Hội nghị. 

Tại Hội nghị lần này, Bộ Chính trị sẽ báo cáo Trung ương về kết quả việc chuẩn bị nhân sự Bộ Chính trị, Ban Bí thư khoá XIII (về quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, mục tiêu, yêu cầu, tiêu chuẩn, điều kiện, cơ cấu, số lượng, quy trình phát hiện, giới thiệu và cách làm). Trung ương sẽ thảo luận và bỏ phiếu biểu quyết giới thiệu nhân sự tham gia Bộ Chính trị, Ban Bí thư khoá XIII.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, việc chuẩn bị nhân sự Bộ Chính trị, Ban Bí thư khoá XIII là công việc kế thừa, tiếp nối của công tác quy hoạch cán bộ, rất hệ trọng và liên quan đến thành công của Đại hội XIII của Đảng và sự phát triển của đất nước trong giai đoạn mới.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đề nghị từng đồng chí Trung ương tập trung nghiên cứu kỹ Tờ trình của Bộ Chính trị và các tài liệu nhân sự có liên quan, suy nghĩ cân nhắc thận trọng, đặt lợi ích của Đảng, của quốc gia - dân tộc lên trên hết, trước hết, thảo luận thật kỹ, cho ý kiến một cách thẳng thắn, trách nhiệm, tạo sự đoàn kết và thống nhất cao trong việc bỏ phiếu quyết định giới thiệu nhân sự tham gia Bộ Chính trị, Ban Bí thư khoá XIII./.

Hiền Hòa – Phạm Cường
TrueChính trị
Khơi dậy tinh thần yêu nước, ý chí tự cường, khát vọng phát triển*Bài viếtĐảng Cộng sản VNKhơi dậy tinh thần yêu nước, ý chí tự cường, khát vọng phát triển*/Imagesnews/2020-12/DHTDYN-TongBithu_Key_11122020100908.jpg

Ngày 10/12, Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ X đã khai mạc trọng thể tại Thủ đô Hà Nội. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã có bài phát biểu chỉ đạo Đại hội. Cổng Thông tin điện tử Đảng bộ tỉnh An Giang trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu.

11/12/2020 11:00 SANoĐã ban hành

DHTDYN-TongBithu.jpg

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng phát biểu chỉ đạo Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ X. Ảnh: Phạm Cường

Thưa các vị khách quý,

Thưa các đồng chí đại biểu Đại hội,

Hôm nay, trong không khí cả nước hân hoan phấn khởi, thi đua lập thành tích chào mừng thành công của Đại hội Đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, chúng ta long trọng tổ chức Đại hội thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ X - một sự kiện có ý nghĩa chính trị - xã hội quan trọng, một dấu mốc trên con đường phát triển của phong trào thi đua yêu nước của cả nước. Trước hết, tôi xin được thay mặt lãnh đạo Đảng và Nhà nước nhiệt liệt chào mừng các đồng chí lão thành cách mạng, các Mẹ Việt Nam Anh hùng, các vị khách quý và hơn 2000 đại biểu đại diện cho các tập thể, các anh hùng, chiến sĩ thi đua, điển hình tiên tiến trong cả nước đã về dự Đại hội. Tôi cũng gửi lời thăm hỏi ân cần và lời chúc mừng nồng nhiệt nhất tới toàn thể đồng chí, đồng bào và chiến sĩ cả nước đang ngày đêm lao động hăng say, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam yêu quý của chúng ta.


Thưa quý vị đại biểu,

Thưa các đồng chí,

Chúng ta đều biết, công tác thi đua khen thưởng có tầm quan trọng đặc biệt, góp phần tạo ra động lực thúc đẩy các hoạt động cách mạng. Không phải ngẫu nhiên mà ngay từ những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, trong hoàn cảnh đất nước vô vàn khó khăn, ngày 11/6/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc; Trung ương Đảng đã thành lập Ban Vận động thi đua ái quốc từ Trung ương đến địa phương và phát động phong trào thi đua để động viên mọi lực lượng tham gia kháng chiến, kiến quốc. Người đã căn dặn: "Thi đua là yêu nước; yêu nước thì phải thi đua, và những người thi đua là những người yêu nước nhất". Sự thành công trong công cuộc kháng chiến, kiến quốc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của nhân dân ta trong hơn 70 năm qua đã khẳng định giá trị đúng đắn, sáng tạo của tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước. Có thể nói, mọi thành quả của cách mạng nước ta đều gắn liền với việc tổ chức hiệu quả các phòng trào thi đua yêu nước.
Trải qua chặng đường dài lịch sử xây dựng và phát triển, dưới sự lãnh đạo của Đảng, phong trào thi đua Ái quốc luôn phát triển mạnh mẽ, sâu rộng, có nhiều đổi mới về nội dung và phương pháp; đã cổ vũ, động viên cả dân tộc nỗ lực thi đua thể hiện lòng yêu nước, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, vươn lên đạt những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cùng với các phong trào thi đua quy mô toàn quốc, tất cả các cấp, các ngành, các địa phương đều có những phong trào thi đua, với nhiều hình thức tổ chức phong phú, nội dung thiết thực, động viên và lôi cuốn đông đảo quần chúng nhân dân tích cực tham gia.
Trong 5 năm qua, đất nước ta có nhiều thời cơ, thuận lợi để phát triển, song cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, đặc biệt trong năm 2020, đại dịch Covid-19 trên thế giới nói chung và ở nước ta nói riêng diễn biến phức tạp, khó lường; đã ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến hầu hết các ngành, lĩnh vực, các hoạt động kinh tế - xã hội, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn. Kinh tế toàn cầu rơi vào tình trạng suy thoái nặng nề, tăng trưởng âm; thị trường tài chính biến động bất thường, tiềm ẩn nhiều rủi ro. Trong khi đó, biến đổi khí hậu, thời tiết cực đoan, thiên tai, bão, lũ đã tác động tiêu cực đến sản xuất và đời sống của nhân dân. Nhưng nhờ có sự đoàn kết, nỗ lực phấn đấu, chung sức đồng lòng, đóng góp to lớn, bền bỉ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, Việt Nam đã được cộng đồng quốc tế đánh giá cao, được coi là điểm sáng về phòng, chống dịch bệnh và phát triển kinh tế - xã hội. Nhiều chủ trương, chính sách, biện pháp đúng đắn đã được ban hành kịp thời và tổ chức thực hiện tốt để duy trì ở mức hợp lý nhất các hoạt động sản xuất, kinh doanh, duy trì việc làm, tạo thu nhập cho người lao động, hỗ trợ người dân và các doanh nghiệp bị ảnh hưởng, bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội. Nước ta đã được đánh giá là một trong số 16 nền kinh tế mới nổi thành công nhất trong bối cảnh đại dịch, đạt tăng trưởng dự kiến từ 2,5 đến 3% trong năm 2020. Văn hoá, xã hội tiếp tục có tiến bộ; an sinh xã hội, phúc lợi xã hội và đời sống nhân dân được bảo đảm; công tác giảm nghèo, thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công, người có hoàn cảnh khó khăn; chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân được triển khai tích cực. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị được đặc biệt quan tâm, đạt nhiều kết quả tích cực. Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí chuyển biến mạnh mẽ, có bước đột phá, hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế tiếp tục được duy trì, đạt nhiều kết quả ấn tượng. Quốc phòng, an ninh được giữ vững, tăng cường; chủ quyền quốc gia, môi trường hoà bình được bảo đảm. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay.
Những thành tích đạt được trên tất cả các lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong 5 năm qua có sự đóng góp tích cực của các phong trào thi đua yêu nước. Các phong trào thi đua đã bám sát việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị gắn với "Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh", thi đua lập thành tích nhân kỷ niệm các ngày lễ lớn, các sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, đặc biệt là thi đua lập thành tích chào mừng Đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Các ngành, các cấp, các địa phương có các phong trào thi đua sôi nổi, thiết thực, tiêu biểu là phong trào thi đua "Lao động giỏi, lao động sáng tạo"; "Năng suất, chất lượng, hiệu quả"; "Tuổi trẻ xung kích, tình nguyện"; "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá"; "Dạy tốt, học tốt"; phong trào thi đua "Quyết thắng", "Vì an ninh Tổ quốc", "Dân vận khéo"; "Ngày vì người nghèo"; phong trào thi đua liên kết trên các công trình trọng điểm quốc gia… Đặc biệt là phong trào thi đua "Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới"; phong trào"Cả nước chung tay vì người nghèo - Không để lại ai ở phía sau"; "Doanh nghiệp Việt Nam hội nhập và phát triển"; "Cán bộ, công chức, viên chức thi đua thực hiện văn hoá công sở"… Nhiều bộ, ban, ngành, địa phương đã có nhiều cách làm hay, sáng tạo, thiết thực, hiệu quả, huy động được nhiều nguồn lực xã hội và của nhân dân vào xây dựng quê hương, đất nước, tạo ra khí thế thi đua sôi nổi, lan toả rộng khắp.

DHTDYN-1.jpg

Các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước dự Lễ khai mạc Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ X. Ảnh: Phạm Cường

Qua thực tiễn các phong trào thi đua, đã xuất hiện ngày càng nhiều gương người tốt, việc tốt, gương điển hình tiên tiến trên mọi lĩnh vực và khắp mọi miền của Tổ quốc. Đó là những tấm gương lao động điển hình trên các công trình xây dựng, trong các nhà máy, đơn vị sản xuất, kinh doanh cũng như trên các mặt trận văn hoá, khoa học, y tế, giáo dục,… Xuất hiện nhiều tập thể và cá nhân tài năng, sáng tạo, có đạo đức kinh doanh, chấp hành pháp luật, làm lợi cho đất nước… Trên mặt trận bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, xuất hiện nhiều tấm gương cán bộ, chiến sĩ quân đội, công an, biên phòng, hải quan, kiểm lâm sẵn sàng hy sinh trên mặt trận phòng, chống tội phạm, lâm tặc, buôn lậu… Có thể khẳng định, phong trào thi đua yêu nước đã thực sự trở thành một động lực mạnh mẽ thúc đẩy mọi tầng lớp nhân dân phát huy tài năng, trí tuệ, sáng kiến, thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, phát triển đất nước và xây dựng nền văn hoá và con người Việt Nam. Công tác tuyên truyền đã góp phần không nhỏ vào việc đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, phát hiện và cổ vũ những nhân tố mới, điển hình tiên tiến trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nâng cao nhận thức cho các cấp, các ngành, địa phương, các tầng lớp nhân dân, tạo ra khí thế mới, động lực mới cho việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của các bộ, ban, ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị.
Nhân dịp này, thay mặt lãnh đạo Đảng và Nhà nước, tôi nhiệt liệt chúc mừng và biểu dương những kết quả, thành tích trong phong trào thi đua yêu nước và công tác khen thưởng 5 năm 2015 - 2020; chúc mừng các đại biểu điển hình tiên tiến về dự Đại hội hôm nay, những bông hoa tươi thắm trong phong trào thi đua của cả nước.


Thưa các đồng chí,

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác thi đua, khen thưởng cũng còn một số hạn chế như trong Báo cáo của Hội đồng Thi đua - Khen thưởng đã đánh giá, trong đó hạn chế lớn nhất là còn nhiều mô hình, gương điển hình tiên tiến ở một số địa phương, cơ quan, đơn vị chưa được phát hiện, bồi dưỡng kịp thời và nhân rộng có hiệu quả. Việc tuyên truyền, tổ chức học tập, áp dụng mô hình mới còn ít được quan tâm. Công tác khen thưởng có lúc, có việc chưa kịp thời; khen thưởng cho công nhân, nông dân, người lao động trực tiếp còn chưa nhiều, nhất là các hình thức khen bậc cao; tính tiêu biểu, nêu gương và lan toả trong công tác khen thưởng có lúc còn hạn chế. Hội đồng Thi đua - Khen thưởng ở một số đơn vị còn chưa thực hiện tốt công tác tham mưu, kiểm tra, giám sát và thực hiện công tác thi đua, khen thưởng theo đúng chức năng, nhiệm vụ được giao. Những hạn chế này cần được nghiêm túc rút kinh nghiệm và kịp thời khắc phục.
Tôi cho rằng, Hội đồng Thi đua - Khen thưởng Trung ương, Hội đồng Thi đua - Khen thưởng các cấp, nhất là người đứng đầu cấp uỷ, chính quyền, cơ quan, tổ chức và những cán bộ làm công tác thi đua, khen thưởng cần suy nghĩ và đề cao hơn nữa trách nhiệm trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tham mưu và tổ chức thực hiện để từ đó đưa công tác thi đua, khen thưởng thực sự trở thành một phương thức lãnh đạo của Đảng, một công cụ quản lý Nhà nước và là động lực để xây dựng con người mới.


Thưa các đồng chí,
Trong thời gian tới, dự báo tình hình thế giới và khu vực sẽ còn tiếp tục có những diễn biến phức tạp, khó lường; tăng trưởng kinh tế, thương mại toàn cầu tiếp tục giảm; cạnh tranh giữa các nước lớn ngày càng gay gắt. Ở trong nước, chúng ta được kế thừa thành tựu của 35 năm đổi mới, thế và lực của ta ngày càng lớn mạnh; kinh tế vĩ mô ổn định, các hiệp định thương mại thế hệ mới với các nước và tổ chức quốc tế, đặc biệt là với Liên minh Châu Âu mở ra những cơ hội lớn cho sự phát triển; niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước ngày càng được củng cố và nâng cao. Tuy nhiên, khó khăn, thách thức còn nhiều, nhất là việc tái lây nhiễm trở lại và tác động tiêu cực của đại dịch Covid-19; tác động, ảnh hưởng của thiên tai, bão lũ, biến đổi khí hậu ngày càng nghiêm trọng; nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình và tụt hậu so với các nước phát triển; nguồn lực còn hạn hẹp trong khi phải đáp ứng cùng một lúc các yêu cầu rất lớn cho đầu tư phát triển, bảo đảm an sinh xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh.
Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh "Thi đua phải có phương hướng đúng và vững"; "Thi đua ái quốc là lợi ích cho mình, lợi ích cho gia đình mình và ích lợi cho làng, cho nước, cho dân tộc", phong trào thi đua yêu nước trong thời gian tới cần phải hướng tới việc cổ vũ các bộ, ban, ngành, địa phương và nhân dân cả nước vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tận dụng tốt các cơ hội, thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và xu hướng dịch chuyển đầu tư, thương mại, chuyển đổi số, sự phát triển của các mô hình kinh doanh mới, sự thay đổi phương thức sản xuất, tiêu dùng và giao tiếp trên toàn cầu… để đưa đất nước tiếp tục vươn lên mạnh mẽ, ngày càng phát triển, phấn đấu thực hiện thành công toàn diện các mục tiêu, nhiệm vụ của Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (2021 - 2025).

DHTDYN-2.jpg

Các đại biểu tham dự Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ X. Ảnh: Phạm Cường

Trong bối cảnh đó, tôi thống nhất với những chủ trương, giải pháp đã nêu trong Báo cáo của Hội đồng Thi đua - Khen thưởng. Tôi chỉ xin nhấn mạnh thêm một số vấn đề chủ yếu sau:

Một là, tiếp tục quán triệt, triển khai, tuyên truyền và tổ chức thực hiện thật tốt các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về thi đua, khen thưởng, nhất là quán triệt sâu sắc tư tưởng thi đua ái quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh để công tác thi đua, khen thưởng thực sự là động lực, biện pháp góp phần tăng cường xây dựng Đảng và hệ thống chính trị thật sự trong sạch, vững mạnh; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thật sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tiếp tục tạo sự chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa trong nhận thức, tư tưởng của các cấp uỷ đảng, chính quyền, trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu các cơ quan, đơn vị trong triển khai công tác thi đua, khen thưởng. Đề cao trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác thi đua, khen thưởng của các thành viên Hội đồng Thi đua - Khen thưởng các cấp.

Hai là, tổ chức các phong trào thi đua cần có mục tiêu thiết thực, cụ thể gắn với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế - xã hội của từng bộ, ban, ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị và phải được tiến hành thường xuyên, liên tục. Cùng với phong trào thi đua thường xuyên, cần phát động các phong trào thi đua theo đợt, theo chuyên đề. Tiếp tục đổi mới toàn diện, phát huy tinh thần sáng tạo trong tổ chức phong trào thi đua sao cho thật bổ ích, thiết thực, tránh hình thức lối mòn, nhàm chán, tẻ nhạt. Đối tượng thi đua cần phải rộng rãi; bảo đảm hài hoà các lợi ích: Lợi ích của người lao động; lợi ích của bộ, ban, ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị; lợi ích của xã hội. Các phong trào thi đua cần có nội dung, tiêu chí cụ thể, rõ ràng để dễ thực hiện, dễ kiểm tra, giám sát; huy động được sự tham gia đông đảo và sự hưởng ứng tích cực của quần chúng nhân dân.

Ba là, nâng cao chất lượng công tác khen thưởng, tạo chuyển biến mạnh mẽ và thực chất, bảo đảm khen thưởng chính xác, kịp thời, công khai, minh bạch, có tác dụng giáo dục, nêu gương. Quan tâm và cụ thể hoá bằng các quy định về việc khen thưởng qua phát hiện các điển hình, nhân tố mới, khen thưởng người trực tiếp lao động, sản xuất; khen thưởng đột xuất, khen thưởng theo chuyên đề; tăng cường phát hiện các điển hình tiên tiến để động viên, khen thưởng kịp thời. Khen thưởng phải phù hợp với thành tích và kết quả đạt được. Thi đua là để đào tạo, rèn luyện và xây dựng con người mới. Tránh hình thức.

Bốn là, tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền các phong trào thi đua, phối hợp với cơ quan thông tin đại chúng phát hiện, tuyên truyền, nhân rộng điển hình tiên tiến, nêu gương người tốt, việc tốt, nhằm thúc đẩy, cổ vũ phong trào thi đua yêu nước, góp phần tạo động lực thi đua hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: "Chiến sĩ thi đua là những người mới, những người luôn cố gắng thực hiện cần, kiệm, liêm chính, là những người tôi trung thành của nhân dân, con hiếu của Tổ quốc". Sau Đại hội, tôi đề nghị hơn 2000 đại biểu là điển hình tiên tiến, Anh hùng, Chiến sĩ thi đua có mặt hôm nay, hãy tiếp tục phát huy năng lực, trí tuệ, tích cực tham gia và làm nòng cốt các phong trào thi đua yêu nước tại cơ quan, địa phương, đơn vị để những cách làm hay, những kinh nghiệm tốt nhanh chóng được lan toả sâu rộng đến cộng đồng xã hội.

Năm là, thi đua phải bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, gắn liền với tổng kết, rút kinh nghiệm và khen thưởng. Vì vậy, cần hết sức chú trọng tăng cường bồi dưỡng, nâng cao năng lực tham mưu, đề xuất, năng lực thực tiễn, năng lực phát hiện và tổ chức thực hiện của đội ngũ thành viên Hội đồng Thi đua - Khen thưởng các cấp, cán bộ lãnh đạo quản lý, chuyên trách và kiêm nhiệm làm công tác thi đua, khen thưởng. Đội ngũ những người làm công tác thi đua, khen thưởng cần có phẩm chất, đạo đức, bản lĩnh chính trị vững vàng, nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về thi đua, khen thưởng, có bề dày kiến thức và kinh nghiệm, gắn bó với quần chúng và phong trào thi đua. Đặc biệt là cần hết sức công tâm, khách quan, trong sáng. Đồng thời, tiếp tục củng cố tổ chức, bộ máy theo hướng tinh, gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, thống nhất từ Trung ương đến địa phương, cơ sở. Đây là nhân tố quan trọng quyết định chất lượng công tác tham mưu và kết quả triển khai tổ chức thực hiện có hiệu quả  phong trào thi đua và công tác khen thưởng trong phạm vi cả nước, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.


Thưa các đồng chí,

Thi đua là một chủ trương chiến lược của Đảng, một nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, liên tục của tất cả các cấp, các ngành, của mỗi cơ quan, đơn vị. Phát huy thành tích đã đạt được và những bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn 5 năm qua, tôi tin tưởng rằng, với sự nỗ lực, phấn đấu, đoàn kết của toàn thể cán bộ, chiến sĩ và nhân dân trong cả nước, công tác thi đua, khen thưởng và phong trào thi đua yêu nước của nước ta trong thời gian tới nhất định sẽ có nhiều thành công mới, tạo ra động lực mới, quan trọng, góp phần vào tiến trình đẩy mạnh công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.

Một lần nữa, xin chúc các vị đại biểu và toàn thể các đồng chí sức khoẻ, hạnh phúc, thành công và luôn là những tấm gương sáng cho mọi người và toàn xã hội noi theo.

Chúc phong trào thi đua của chúng ta tiếp tục phát triển và giành nhiều thắng lợi mới, to lớn hơn nữa.

Trân trọng cảm ơn.


_____________________
* Tiêu đề do Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam đặt.

FalseChính trị
Không còn ‘hạ cánh an toàn’ với bất kỳ aiBài viếtAdminKhông còn ‘hạ cánh an toàn’ với bất kỳ ai/Imagesnews/2020-12/Tong-Bi-thu_Key_07122020140839.jpg

Chưa bao giờ công cuộc đấu tranh với tham nhũng, tiêu cực lại tạo ra khí thế và sự quan tâm lớn của xã hội như hiện nay. Sự quyết tâm của Đảng, lập trường rõ ràng, hành động quyết liệt của Chính phủ, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị trong đấu tranh với tham nhũng đã và đang khơi dậy niềm tin của toàn xã hội.

07/12/2020 3:00 CHNoĐã ban hành
Tong-Bi-thu.jpg
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng chủ trì cuộc họp Thường trực Ban Chỉ đạo, ngày 25/11.

Trước thềm Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác phòng, chống tham nhũng giai đoạn 2013-2020, Báo điện tử Chính phủ đã có cuộc phỏng vấn nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương Vũ Quốc Hùng về những vấn đề mà nhân dân và dư luận đang quan tâm.

Vài năm trở lại đây, cụm từ "hạ cánh không an toàn" được sử dụng nhiều trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng khi rất nhiều cán bộ bị xử lý kỷ luật, xử lý hình sự sau khi đã nghỉ công tác. Xin ông chia sẻ quan điểm về thực tế rất đáng mừng này?

Đồng chí Vũ Quốc Hùng: Cụm từ "hạ cánh an toàn" trước đây vẫn được nhắc tới để nói về việc một số quan chức sau khi về hưu là hết trách nhiệm với tổ chức và nhân dân, bất kể lúc đương chức có vi phạm thế nào. Có một thời gian dài, những cán bộ sai phạm đã không bị xử lý sau khi về hưu, hoặc có xử lý cũng chưa thực sự nghiêm khắc. Chính điều đó đã tạo nên tâm lý thu vén cá nhân, coi nhẹ đạo lý và luật pháp.

Nhưng ở nhiệm kỳ này, mọi chuyện đã khác. Việc cương quyết xử lý những những cán bộ vi phạm kỷ luật, dù đương chức hay đã nghỉ hưu cho thấy quyết tâm chính trị của Đảng, thể hiện sự nghiêm minh của kỷ luật Đảng, thượng tôn của pháp luật, không chỉ giúp củng cố niềm tin trong nhân dân, mà còn là tiếng chuông cảnh tỉnh mạnh mẽ với những cán bộ đang và sẽ có ý định "nhúng chàm".

Sự quyết liệt trong đấu tranh với tham nhũng đang cho thấy, từ nay sẽ không còn khái niệm "hạ cánh an toàn" đối với bất kỳ ai khi bàn tay đã “nhúng chàm”. Đó cũng là yêu cầu, là đòi hỏi tất yếu để giữ cho Đảng trong sạch, vì cuộc sống của nhân dân, như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng từng nói: “Kỷ luật một vài người để cứu muôn người”.

Lập trường chống tham nhũng của Chính phủ rất rõ ràng

Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, đứng đầu là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã có những giải pháp, hành động đồng bộ, quyết liệt, góp phần vào kết quả phòng chống tham nhũng trong nhiệm kỳ này. Ông nhìn nhận thế nào về những nỗ lực đó của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ?


Đồng chí Vũ Quốc Hùng: Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng đều tỏ rõ quan điểm của mình trong phòng chống tham nhũng, qua những phát biểu, chỉ đạo, giải quyết đơn thư của người dân, các ý kiến được Văn phòng Chính phủ truyền đạt. Nhiều đơn thư đã được chuyển đến các cơ quan chức năng để giải quyết cho người dân. Chính phủ đã có quan điểm chống tham nhũng với lập trường rất rõ ràng, hành động quyết liệt.

Vừa qua, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tăng cường công tác thanh tra, phòng chống tham nhũng và giải quyết khiếu nại tố cáo trong 6 tháng cuối năm 2020. Qua đó, tăng cường xử lý, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng nhũng nhiễu, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp trong giải quyết công việc.

Người đứng đầu bộ, ngành, địa phương phải gương mẫu, đi đầu trong việc thực hiện các quy định của Đảng, nhà nước về phòng chống tham nhũng; nếu để xảy ra tiêu cực, tham nhũng tại đơn vị, cơ quan mình thì phải chịu trách nhiệm trước Đảng, Nhà nước.

Các bộ, ngành, địa phương cần ban hành quy chế làm việc rõ ràng, minh bạch, có cơ chế kiểm soát hiệu quả đối với cán bộ, công chức khi thực thi nhiệm vụ kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, thi hành án, hải quan, thuế, quản lý thị trường…, ngăn chặn cho được tình trạng lợi dụng chức vụ, quyền hạn để sách nhiễu, “vòi vĩnh”, “chung chi”, phục vụ động cơ cá nhân trong thực thi công vụ.

Người đứng đầu Chính phủ còn yêu cầu triển khai rộng rãi hệ thống ghi âm, ghi hình, camera trực tuyến tại các địa điểm có tiếp xúc trực tiếp với người dân, doanh nghiệp và có bộ phận thường trực theo dõi, giám sát thường xuyên.

Bên cạnh đó, yêu cầu kiên quyết đưa ra khỏi bộ máy những cán bộ, công chức, viên chức thoái hóa, biến chất, vi phạm pháp luật, định kỳ luân chuyển vị trí công tác đối với những vị trí nhạy cảm, phức tạp theo đúng quy định.

Bên cạnh những hành động quyết liệt, chỉ đạo kịp thời đó, theo tôi, vẫn có tình trạng bộ phận tiếp nhận ý kiến không làm, có vụ việc loanh quanh không được giải quyết “đến nơi đến chốn”. Cần đẩy mạnh theo dõi, giám sát, đôn đốc việc thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng, các Phó Thủ tướng. Kiểm tra, giám sát để xem người khiếu nại tố cáo đúng sai đến đâu và cũng để kiểm tra hệ thống bộ máy của mình, xem yếu kém chỗ nào để chấn chỉnh. Nếu làm được như thế thì bộ máy của chúng ta sẽ nâng cao được sức chiến đấu.

Thực tế đã có hiện tượng tham nhũng xảy ra trong chính các cơ quan có chức năng chống tham nhũng. Giải pháp để phòng, chống  hiện tượng này là gì, thưa ông?

Đồng chí Vũ Quốc Hùng: Hiện tượng tham nhũng xảy ra trong chính các cơ quan có chức năng chống tham nhũng là không phổ biến nhưng tác hại, hậu quả mà nó gây ra rất lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến lòng tin của nhân dân.

Nhiều lần họp Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã nhắc nhở về hiện tượng này. Điều nhắc nhở của Tổng Bí thư không thừa, bởi thực tế trong đời sống, tham nhũng không chừa một ai cả. Những người của cơ quan phòng chống tham nhũng còn nhũng nhiễu, đòi lót tay, hối lộ, tham nhũng thì nói được ai, chống ai? Vai trò nêu gương của cán bộ đảng viên đang ở đâu?

Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, các cơ quan nội chính, kiểm tra, thanh tra, điều tra, kiểm sát, xét xử phải là những "thanh bảo kiếm" sắc bén, có dũng khí đấu tranh ngăn chặn những việc làm sai trái, lợi ích nhóm, mưu lợi cá nhân…

Nhìn lại con số kỷ luật cán bộ cấp cao thời gian qua, nguyên nhân sâu xa được xác định là do một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên thiếu sự tu dưỡng, rèn luyện, không đủ bản lĩnh để vượt qua những cám dỗ lợi ích vật chất, sa vào chủ nghĩa cá nhân. Cho nên khi cán bộ được giao quyền lực trong tay mà không được kiểm soát tốt thì dễ dẫn tới suy thoái, hư hỏng, chỉ lo làm lợi cho cá nhân, nhóm của mình mà quên đi bổn phận trước Đảng, trước Nhân dân.

Một nguyên nhân nữa không thể không nói đến đó là tổ chức cơ sở Đảng buông lỏng quản lý, kiểm tra, giám sát, không thực hiện nghiêm nguyên tắc phê bình và tự phê bình, còn nể nang, né tránh, sợ đấu tranh.

Do đó, theo tôi, người đứng đầu cơ quan có chức năng chống tham nhũng, cơ quan bảo vệ pháp luật cần tập trung rà soát, thanh lọc đội ngũ cán bộ, chuyển đổi vị trí công tác, bảo đảm bố trí đúng cán bộ có năng lực, phẩm chất và đạo đức công tác tại các vị trí nhạy cảm này.

Điều đặc biệt quan trọng có ý nghĩa quyết định là, những người làm công tác phòng, chống tham nhũng nói chung, những người trực tiếp làm việc trong các cơ quan chức năng phòng, chống tham nhũng nói riêng phải thật sự liêm chính, trong sạch, biết gương mẫu giữ mình, trọng liêm sỉ, không chịu bất cứ sức ép không trong sáng nào, bất cứ sự cám dỗ, mua chuộc nào của những kẻ phạm tội.

Những người chống tham nhũng không thể dính đến tham nhũng. Những người yếu đuối, không đấu tranh chống tham nhũng, nể nang, né tránh thì cũng không thể làm việc trong những trong cơ quan này.

Cần tăng cường sự giám sát lẫn nhau giữa các cơ quan tư pháp trong hoạt động tố tụng, giữa các cơ quan kiểm tra, nội chính của Ðảng, cơ quan thanh tra, kiểm toán nhà nước với các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án.

Mọi cấp, mọi ngành, các tổ chức và cá nhân phải ủng hộ các cơ quan tiến hành tố tụng để cán bộ các cơ quan này "dĩ công vi thượng", "thượng tôn pháp luật" trong thực thi pháp luật để chống tham nhũng thành công.

Bên cạnh đó, các ngành công an, thanh tra, nội chính, kiểm tra… cần tăng cường công tác tự kiểm tra, phát hiện tham nhũng trong nội bộ cơ quan, tổ chức, đơn vị. Kiên quyết xử lý nghiêm, loại ra khỏi bộ máy đối với những cán bộ, công chức có hành vi tham nhũng, nhũng nhiễu, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp trong giải quyết công việc và cả những cán bộ yếu về năng lực bản lĩnh, chuyên môn, nghiệp vụ trong phòng, chống tham nhũng.

Xin trân trọng cám ơn ông!

Theo chinhphu.vn

FalseChính trị
Tư tưởng của Ph.Ăng-ghen - nền tảng xây dựng xã hội mớiBài viếtTGTWTư tưởng của Ph.Ăng-ghen - nền tảng xây dựng xã hội mới/Imagesnews/2020-11/Angghen_Key_27112020145441.jpg

Với bộ óc thiên tài, trái tim nhân hậu và đức tính khiêm nhường, Ph.Ăng-ghen đã dâng hiến cho nhân loại nhiều tư tưởng, lý luận có giá trị lịch sử to lớn và có ý nghĩa soi sáng con đường xây dựng xã hội mới tiến bộ hơn.

27/11/2020 3:00 CHNoĐã ban hành

Đầu thế kỷ XX, loài người đã chứng kiến nhiều sự biến động nhanh chóng, phức tạp, khó lường, với nhiều hình thức từ đối đầu đến hợp tác, vừa hợp tác, thỏa hiệp, vừa cạnh tranh, đấu tranh kiềm chế lẫn nhau quyết liệt, giành vị thế và lợi ích gây ra tình hình phức tạp tại nhiều khu vực và nhiều nước. Trong bối cảnh đó, việc thiết lập và xuất hiện mô hình nhà nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) đầu tiên trên thế giới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là thắng lợi to lớn nhất của xã hội loài người. Thắng lợi đó đã khẳng định tính khoa học chân chính của chủ nghĩa Mác - Lênin, biến chủ nghĩa xã hội (CNXH) từ không tưởng thành khoa học và trở thành một thực tế sống.

Angghen.jpg

Ph.Ăngghen - Nhà lý luận lỗi lạc và chiến sĩ cách mạng vĩ đại trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế

Sức sống bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin là nguồn động lực cho nhiều quốc gia trên thế giới và nhân loại chính thức có một hệ thống các quan điểm khoa học và thực tiễn. Trong những cống hiến vĩ đại của chủ nghĩa Mác - Lênin có đóng góp của Ph.Ăng-ghen - người luôn sát cánh cùng C.Mác trong xây dựng, hoàn thiện và truyền bá tư tưởng cách mạng giúp phong trào cách mạng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động nhận thức và hành động, chuyển từ trạng thái mộng tưởng sang bừng tỉnh để bước lên vũ đài chính trị với vai trò là một giai cấp cấp tiến nhất của xã hội loài người.

Phriđơrich Ăng-ghen(Friedrich Engels) sinh ngày 28/11/1820 ở thành phố Barmen, tỉnh Rhein, Vương quốc Phổ, trong một gia đình chủ xưởng dệt. Ông là nhà lý luận chính trị, một triết gia và nhà khoa học nổi tiếng người Đức thế kỷ XIX, người cùng với C.Mác (Karl Marx) sáng lập và phát triển chủ nghĩa cộng sản. Sự nghiệp suốt đời của Ph.Ăngghen gắn liền, khăng khít và trở thành sự nghiệp chung với C.Mác.

Những đóng góp vĩ đại của Ph.Ăng-ghen trong hệ thống lý luận củachủ nghĩa Mác đã được khẳng định và được tôi luyện trong thựctiễn phong trào công nhân và cuộc đấu tranh xây dựng xã hộiXHCN, đòi công lý, công bằng và cải thiện cuộc sống cho giai cấp vô sản.

Với bộ óc thiên tài, trái tim nhân hậu và đức tính khiêm nhường, Ph.Ăng-ghen đã dâng hiến cho nhân loại nhiều tư tưởng, lý luận có giá trị lịch sử to lớn và có ý nghĩa soi sáng con đường xây dựng xã hội mới tiến bộ hơn - xã hội XHCN cho các dân tộc trên thế giới.

XÃ HỘI MỚI ĐÒI HỎI PHẢI CÓ TƯ TƯỞNG MỚI SOI SÁNG, DẪN ĐƯỜNG

Với ước muốn cải biến xã hội, xây dựng một xã hội mới tốt đẹp hơn, C.Mác và Ph.Ăng-ghen đã xây dựng một học thuyết thực sự cách mạng, đáp ứng nhu cầu phát triển của quần chúng nhân dân, tạo ra động lực phát triển cho xã hội theo xu thế thời đại, gắn kết và giải đáp kịp thời nhưng vấn đề thực tiễn đặt ra. Học thuyết của C.Mác và Ph.Ăng-ghen là học thuyết chân chính được bắt nguồn từ thực tiễn, phản ánh chân thực quá trình đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản. Học thuyết đó quay trở lại phục vụ thực tiễn, trở thành nền tảng tư tưởng, vũ khí chiến đấu của giai cấp công nhân, tầng lớp nhân dân lao động và các đảng cộng sản, đảng công nhân.

Lý tưởng cao đẹp suốt đời của C.Mác và Ph.Ăng-ghen làgiải phòng giai cấp, giải phóng con người, giải phóng xã hội, xây dựng một xã hội công bằng, không có tình trạng người bóc lột người, một xã hội mà ở đó con người có được cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Thông qua học thuyết của mình, C.Mác và Ph.Ăng-ghen đã cung cấp nhận thức luận; dẫn đường, chỉ hướng cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động, các đảng cộng sản cải tạo thế giới, cải tạo xã hội. Đưa loài người đến với con đường chân chính - con đường tiến lên chủ nghĩa cộng sản. Con đường đó đòi hỏi phải sử dụng thành thạo phương pháp tư duy biện chứng trong nhận thức quy luật tự nhiên để luận giải, khái quát thành tựu của khoa học tự nhiên; để giải thích quá trình phát sinh, phát triển trong giới tự nhiên; để con người nhận thức sâu sắc hơn trong khoa học xã hội và khúc triết hơn trong mối quan hệ giữa giai cấp tư sản với giai cấp vô sản. Là người sáng lập phương pháp tư duy biện chứng, C.Mác và Ph.Ăng-ghen đã sử dụng để bóc trần bản chất bóc lột của giai cấp tư sản; vạch ra phương pháp chống và lật đổ ách thống trị của giai cấp tư sản.

Sự kết hợp giữa chủ nghĩa duy vật lịch sử với duy vật biện chứng, giữa kinh tế với chính trị trong nhận thức bản chất của xã hội tư bản, cùng với bộ óc thiên tài, Ph.Ăng-ghen đã khẳng định, trong lòng xã hội tư bản đang tồn tại nhiều yếu tố sẽ tác động và phủ định chính xã hội tư bản, đó là các quan hệ kinh tế và các yếu tố cấu thành xã hội tư bản: lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng. Từ đó, Ph.Ăng-ghen đã khẳng định tính tất yếu khách quan của cách mạng XHCN sẽ thay thế chủ nghĩa tư bản bằng chủ nghĩa cộng sản và vạch rõ tính giai cấp của ý thức xã hội đối với giai cấp công nhân - sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân thế giới.

Là người đồng sáng lập triết học Mác, Ph.Ăng-ghen bàn nhiều về nhận thức, tư duy, nhất là về tư duy lý luận, đây là nền tảng đầu tiên để hình thành một xã hội mới. Những chỉ dẫn của Ph.Ăng-ghen về tư duy lý luận không chỉ có ý nghĩa trong đấu tranh chống lại những quan điểm sai lầm, chiết trung về khả năng nhận thức của con người, mà còn có ý nghĩa to lớn đối với các đảng cộng sản, đảng công nhân trên thế giới. Ph.Ăngghen cho rằng, những nguyên lý được rút ra từ tư duy chứ không phải từ thế giới bên ngoài. Do vậy, tư duy lý luận mang tính lịch sử là sản phẩm của lịch sử, ở mỗi thời đại khác nhau là khác nhau và tư duy lý luận không phải là một chân lý vĩnh viễn, không thay đổi được. Bằng những luận giải thuyết phục, khoa học, những đóng góp của Ph.Ăng-ghen có ý nghĩa to lớn đối với thành quả vĩ đại của chủ nghĩa Mác; củng cố, hoàn thiện tư duy lý luận cho các nhà mác-xít, hướng các nhà mác -xít luôn gắn lý luận với thực tiễn xã hội.

Tư duy lý luận mang tính lịch sử là sản phẩm của lịch sử, ở mỗi thời đại khác nhau là khác nhau và tư duy lý luận không phải là một chân lý vĩnh viễn, không thay đổi được.

Như vậy, trong quá trình phát triển triết học duy vật, C.Mác và Ph.Ăng-ghen đã mở ra một bước ngoặt căn bản trong triết học hiện đại, cung cấp cho loài người phương pháp nhận thức mới mẻ, trở thành vũ khí sắc bén để nhận thức và cải tạo thế giới, cải biến xã hội. Thay đổi trong tư duy, nhận thức là điểm xuất phát để tiến hành xây dựng một xã hội mới được xuất hiện ngay trong lòng xã hội cũ.


CON ĐƯỜNG XÂY DỰNG XÃ HỘI MỚI Ở MỖI QUỐC GIA LÀ KHÁC NHAU

Ph.Ăng-ghen xuất thân từ một gia đình thuộc giai cấp tư sản, nhưng Ông đã dành trọn con tim, khối óc, tình cảm và trí tuệ cho giai cấp vô sản, hiến dâng toàn bộ cuộc đời mình cho sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân, nhằm mục tiêu, lý tưởng cao đẹp. Cũng như C.Mác, Ph.Ăngghen đã đem nghị lực phi thường, trí tuệ uyên bác và trái tim nồng cháy của mình tham gia phong trào cách mạng, dũng cảm đấu tranh cho sự nghiệp của giai cấp công nhân. Các ông được ngưỡng mộ, kính trọng không chỉ bởi trí tuệ của một nhà bác học, lòng dũng cảm, nhiệt huyết của một chiến sĩ cách mạng vĩ đại, mà còn bởi phẩm chất cao cả thể hiện trong tình bạn, tình đồng chí khăng khít, thuỷ chung, cảm động, hiếm có.

Ph.Ăng-ghen đã cùng với C.Mác dày công nghiên cứu, kế thừa những tinh hoa tư tưởng của nhân loại; đồng thời “tắm mình” vào thực tiễn phong phú, sinh động trong phong trào đấu tranh cách mạng để xây dựng nên chủ nghĩa Mác. Toàn bộ học thuyết của hai ông là kết quả của quá trình nghiên cứu khoa học rất nghiêm túc để lại những công trình khoa học đồ sộ, hoàn chỉnh, chặt chẽ và chính xác, trong đó tính khoa học thống nhất với tính cách mạng triệt để.

Với tư cách là một lãnh tụ cộng sản, một nhà lý luận và tinh thần cách mạng triệt để, Ph.Ăng-ghen kiên trì cuộc đấu tranh không khoan nhượng để bảo vệ những giá trị chân chính, khoa học của chủ nghĩa Mác và đòi hỏi phải đối xử như là một khoa học. Ph.Ăng-ghen cùng C.Mác đấu tranh không mệt mỏi chống khuynh hướng phản khoa học và không tưởng trong phong trào công nhân, khuynh hướng tiểu tư sản, chủ nghĩa vô chính phủ, cải lương, tả khuynh, hữu khuynh và trào lưu phi vô sản… nhằm âm mưu chia rẽ phong trào công sản và công nhân quốc tế.

Ph.Ăng-ghen cùng C.Mác đấu tranh không mệt mỏi chống khuynh hướng phản khoa học và không tưởng trong phong trào công nhân, khuynh hướng tiểu tư sản, chủ nghĩa vô chính phủ, cải lương, tả khuynh, hữu khuynh…

Trong rất nhiều công lao của C.Mác và Ph.Ăng-ghen, thì công lao lớn nhất là dạy cho giai cấp công nhân tự nhận thức được mình, có ý thức về mình, và đem khoa học thay thế cho thế giới mộng tưởng. Theo C.Mác và Ph.Ăng-ghen, CNXH không phải là điều bịa đặt, mà là mục đích cuối cùng, kết quả tất yếu của sự phát triển lực lượng sản xuất trong xã hội hiện đại. Vì lịch sử đấu tranh giai cấp là sự thay thế nền thống trị này của giai cấp xã hội này với nền thống trị khác của giai cấp xã hội khác kéo dài mãi, chừng nào những cơ sở của đấu tranh giai cấp, sự thống trị giai cấp và chế độ tư hữu vẫn chưa mất đi.

 Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử và học thuyết hình thái kinh tế - xã hội, C.Mác và Ph.Ăng-ghen chỉ ra sự phát triển xã hội loài người là quá trình phát triển lịch sử - tự nhiên, từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện. Theo các ông, sự ra đời xã hội mới bắt nguồn từ tất yếu kinh tế và được thai nghén từ trong lòng xã hội cũ. Khi nghiên cứu về hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa, C.Mác và Ph.Ăng-ghen đã chỉ ra tính tất yếu diệt vong của chủ nghĩa tư bản và sự ra đời của CNXH, chủ nghĩa cộng sản là khách quan được bắt nguồn trực tiếp từ mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa của lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất tư nhân trong lòng xã hội tư bản, được biểu hiện về mặt xã hội là mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản, mà ngày nay chính là mâu thuẫn giữa tư bản và lao động.

Đồng thời, C.Mác và Ph.Ăng-ghen cũng dự báo về đặc trưng của hai giai đoạn trong hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa, “Cái xã hội mà chúng ta nói ở đây không phải là một xã hội cộng sản chủ nghĩa đã phát triển trên những cơ sở của chính nó, mà trái lại là một xã hội cộng sản chủ nghĩa vừa thoát thai từ xã hội tư bản chủ nghĩa, do đó là một xã hội, về mọi phương diện - kinh tế, đạo đức, tinh thần - còn mang những dấu vết của xã hội cũ mà nó đã lọt lòng ra”(1) vì vậy không thể tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế trong xã hội XHCN(2).

Theo C.Mác và Ph.Ăng-ghen, xã hội cộng sản chủ nghĩa chỉ xuất hiện khi con người không còn phụ thuộc có tính chất nô dịch vào sự phân công lao động của họ; không còn sự đối lập giữa lao động trí óc và lao động chân tay; lao động trở thành không những là một phương tiện để sinh sống mà bản thân nó còn là một nhu cầu bậc nhất của đời sống; sự phát triển toàn diện của các cá nhân, sức sản xuất của họ ngày càng tăng lên và tất cả các nguồn của cải xã hội đều tuôn ra dồi dào, và con người có thể vượt hẳn ra khỏi giới hạn chật hẹp của pháp quyền tư sản...(3).

Bên cạnh những nghiên cứu cùng C.Mác, Ph.Ăng-ghen cũng có nhiều nghiên cứu độc lập, một trong những điểm nhấn sáng tạo của Ph.Ăng-ghen là tư duy biện chứng về con đường lên CNXH. Theo Ph.Ăng-ghen, quan niệm và thực tiễn quá trình kiến tạo xã hội XHCN luôn phải được bổ sung, hoàn thiện khi thực tiễn cuộc sống đặt ra những vấn đề mới. Phát triển lý luận mác-xít về thời kỳ quá độ, Ph.Ăng-ghen nêu ra luận điểm “phát triển rút ngắn” trên con đường lên CNXH ở một số nước lạc hậu.

Theo Ph.Ăng-ghen, quan niệm và thực tiễn quá trình kiến tạo xã hội XHCN luôn phải được bổ sung, hoàn thiện khi thực tiễn cuộc sống đặt ra những vấn đề mới.

Với tư duy biện chứng, cùng quá trình hoạt động trực tiếp trong phong trào công nhân và bộ óc thiên tài về lý luận, Ph.Ăng-ghen nhấn mạnh, các nước đi lên CNXH, nhất là các nước còn lạc hậu phải suy nghĩa thật kỹ, không được nôn nóng, không được phép kết luận vội vàng nếu muốn xây dựngCNXH theo con đường “rút ngắn”, bởi đây là vấn đề khó nhất trong tất cả các vấn đề tồn tại ở một thời kỳ mà các điều kiện không ngừng phát triển, thay đổi. Đối với các nước chưa từng trải qua con đường phát triển tư bản chủ nghĩa, Ph.Ăng-ghen khẳng định, “không những có thể mà còn chắc chắn... rút ngắn một cách đáng kể quá trình phát triển của mình lên xã hội XHCN và có thể tránh được phần lớn những đau khổ và những cuộc đấu tranh mà ở Tây Âu... phải trải qua”(4).

TƯ TƯỞNG CỦA PH.ĂNG-GHEN SOI ĐƯỜNG CÁCH MẠNG VIỆT NAM

Từ chủ nghĩa yêu nước chân chính, Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin; từ khát vọng độc lập dân tộc, giải phóng đất nước, Người đã tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam. Sự lựa chọn con đường cách mạng độc lập dân tộc gắn liền với CNXH của Nguyễn Ái Quốc dựa trên cơ sở lý luận và khoa học, trên thực tiễn vận động và đòi hỏi của phong trào cách mạng Việt Nam. Từ nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, Hồ Chí Minh đi đến kết luận: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”(5). Tư tưởng về độc lập dân tộc gắn liền với CNXH của Hồ Chí Minh được phát triển xuyên suốt theo từng giai đoạn của cách mạng Việt Nam. Và đến cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (Bổ sung và phát triển năm 2011) đã chỉ rõ: “Đi lên CNXH là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”(6).

Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là mục tiêu, là sợi chỉ đỏ, là đường lối chiến lược nhất quán; là bài học lớn cho cách mạng Việt Nam.

Thực tiễn vận động và phát triển của cách mạng Việt Nam hơn 90 năm qua là minh chứng và khẳng định chắc chắn lựa chọn con đường cách mạng vô sản, độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là sáng suốt, duy nhất đúng đắn với vai trò to lớn của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, người tìm đường, mở đường và dẫn đường cho dân tộc Việt Nam. Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là mục tiêu, là sợi chỉ đỏ, là đường lối chiến lược nhất quán; là bài học lớn cho cách mạng Việt Nam; là cội nguồn dẫn đến mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và công cuộc xây dựng CNXH, tiến hành công cuộc đổi mới đất nước. Qua các giai đoạn cách mạng khác nhau, khuynh hướng chính trị bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tiến lên CNXH ở nước ta đã trở thành một sức mạnh vật chất to lớn, ăn sâu bám rễ trong lòng xã hội Việt Nam. Chúng ta đã khẳng định chắc chắn sự vận dụng sáng tạo luận điểm “phát triển rút ngắn” con đường đi lên CNXH của chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn Việt Nam là đúng đắn, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam, là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta”(7).
Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “con đường đi lên của nước ta là quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa”. “Đây là sự nghiệp rất khó khăn, phức tạp và do vậy, tất yếu phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế - xã hội có tính chất quá độ”(8). Tuy nhiên, phải hiểu rằng, sự “phát triển rút ngắn”, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở nước ta vẫn là quá trình lịch sử - tự nhiên. Nội dung của con đường quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam được Đảng ta xác định: “Bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại”(9).

Theo đó, con đường “phát triển rút ngắn” trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam, là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa; là rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa; tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đạt được dưới chủ nghĩa tư bản, đặc biệt là khoa học và công nghệ để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại; là bỏ qua chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa và tình trạng áp bức, bóc lột chứ không bỏ qua những thành tựu văn minh vật chất và tinh thần mà loài người đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa. Đó là những vấn đề có tính nguyên tắc cần thiết được nhận thức và vận dụng trong thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay.

Đảng Cộng sản Việt Nam kiên trì bảo vệ, bổ sung học thuyết Mác - Lênin nhằm xây dựng đất nước từng bước phát triển, đặc biệt, việc xử lý hài hòa mối quan hệ giữa chính trị với kinh tế; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, lợi ích quốc gia, dân tộc.

Vận dụng tư tưởng về chủ nghĩa xã hội mác-xít, Đảng Cộng sản Việt Nam kiên trì bảo vệ, bổ sung học thuyết Mác - Lênin nhằm xây dựng đất nước từng bước phát triển, đặc biệt, việc xử lý hài hòa mối quan hệ giữa chính trị với kinh tế; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, lợi ích quốc gia, dân tộc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ XHCN; giữ vững an ninh quốc gia, ổn định chính trị - xã hội, trật tự an toàn xã hội và môi trường hòa bình để tập trung xây dựng và phát triển đất nước; xây dựng toàn diện nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân; hệ thống pháp luật về bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội ngày càng được hoàn thiện; tiềm lực quốc phòng và an ninh được tăng cường; xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; hợp tác quốc tế về quốc phòng, an ninh đạt nhiều kết quả.

Trong đổi mới và hội nhập quốc tế, chúng ta đã đạt được những thành tựu quan trọng: xây dựng chế độ chính trị độc lập, có chủ quyền quốc gia; nhận thực về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta ngày càng được sáng tỏ; hệ thống chính trị từng bước được hoàn thiện và có bước phát triển; xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảngxây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN; đổi mới tổ chức bộ máy, nội dung và phương thức hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội; đặc biệt, dân chủ XHCN ngày càng được phát huy.

Khi Việt Nam và thế giới bước vào cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Đảng và Nhà nước ta đã lãnh đạo, chỉ đạo các cấp, các ngành đẩy mạnh ứng dụng, phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, nghiên cứu nắm bắt, nâng cao năng lực tiếp cận và chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Kinh tế số được hình thành, phát triển nhanh, ngày càng trở thành bộ phận quan trọng của nền kinh tế; công nghệ số được áp dụng trong các ngành công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ; xuất hiện ngày càng nhiều hình thức kinh doanh, dịch vụ mới, xuyên quốc gia, dựa trên nền tảng công nghệ số và Internet đang tạo nhiều cơ hội việc làm, thu nhập, tiện ích, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Việc xây dựng chính phủ điện tử, tiến tới chính phủ số được triển khai quyết liệt, bước đầu đạt được nhiều kết quả tích cực.

Những thắng lợi vĩ đại trong 90 năm qua là minh chứng sinh động nhất về năng lực lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và sức mạnh to lớn của nhân dân ta; là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện Việt Nam. Chúng ta đã, đang và sẽ kiên cường, trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để làm lên những kỳ tích vĩ đại trong lịch sử dân tộc, đóng góp xứng đáng vào phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, vì hòa bình và tiến bộ của nhân loại./.

TS. Đồng Quang Thái
Vụ Tuyên truyền, Ban Tuyên giáo Trung ương

______________________

(1) (2) (3) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 1995, t.19, tr.33, 35-36, 36.

(4) C. Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 1997, t.37, tr.632, 641.

(5) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2000, t.9, tr.314.

(6) (8) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2011, tr.70, 67.

(7) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, H, 2016, tr.7-8.

(9) Đảng Cộng sản Việt NamVăn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2001, tr.84.

False
Học tập, quán triệt và triển khai Nghị quyết Đại hội XI Đảng bộ tỉnh: Một số vấn đề cần lưu ýBài viếtTGAGHọc tập, quán triệt và triển khai Nghị quyết Đại hội XI Đảng bộ tỉnh: Một số vấn đề cần lưu ýhttps://www.angiang.dcs.vn/SiteAssets/AG-hoc-nghi-quyet-tinh-2.jpg

​(TUAG)- Học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng là khâu đầu tiên và rất quan trọng nhằm tạo sự thống nhất trong Đảng, đồng thuận trong Nhân dân, sự thành công trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh, là điều kiện tiên quyết đưa nghị quyết của Đảng nhanh chóng đi vào cuộc sống.

25/11/2020 9:00 SAYesĐã ban hành

​Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XI, nhiệm kỳ 2020 - 2025 được tiến hành từ ngày 23 đến ngày 25 tháng 9 năm 2020 đã thành công tốt đẹp. Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành để lãnh đạo Đảng bộ và thông qua Nghị quyết với nhiều nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu, đột phá nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu tổng quát trong nhiệm kỳ là: “Nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng bộ và hiệu quả quản lý của chính quyền; phát huy dân chủ, kỷ cương; khai thác mạnh mẽ lợi thế so sánh của địa phương trong liên kết vùng và hội nhập quốc tế. Phát triển hài hòa giữa kinh tế với văn hóa xã hội, bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân; giữ vững quốc phòng, an ninh. Phấn đấu đến năm 2025 kinh tế An Giang thuộc nhóm đầu khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và đạt mức trung bình cả nước; đến năm 2030 đạt trên mức trung bình cả nước”.


Vấn đề quan trọng sau Đại hội là cần tập trung chuẩn bị việc học tập, quán triệt Nghị quyết cho cán bộ, đảng viên và tổ chức tuyên truyền, phổ biến sâu rộng đến các tầng lớp nhân dân nhằm thấm nhuần trong nhận thức những quan điểm, chủ trương, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đã được đề ra trong Nghị quyết, tạo sự đồng thuận, thống nhất cao và quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI Đảng bộ tỉnh, thống nhất triển khai thực hiện Nghị quyết một cách đồng bộ, hiệu quả và nhanh chóng, khắc phục tình trạng Nghị quyết thì hay nhưng chậm đi vào cuộc sống.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: Nói phải đi đôi với làm, học phải hành. Vì vậy, để việc nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội XI Đảng bộ tỉnh có chất lượng, thiết nghĩ các cấp ủy, tổ chức đảng, các cấp, các ngành cần quan tâm một số vấn đề sau:

Thứ nhất, các cấp ủy và thủ trưởng cơ quan, đơn vị chuẩn bị và tổ chức thật tốt việc học tập, quán triệt theo đúng tinh thần Chỉ thị và Kế hoạch của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tổ chức học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XI, nhiệm kỳ 2020 - 2025. Trong đó, toàn thể cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt phải nêu cao tinh thần trách nhiệm trong học tập, quán triệt. Các cấp ủy, tổ chức đảng, trực tiếp là người đứng đầu phải chịu trách nhiệm chỉ đạo và chủ trì tổ chức việc học tập, quán triệt Nghị quyết; trong quán triệt, triển khai Nghị quyết cần liên hệ thực tiễn, chứng minh thực tiễn. Các nội dung trọng tâm trong Nghị quyết cần phải được tập trung nghiên cứu sâu và cụ thể hóa, gắn với Nghị quyết và quá trình xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện Nghị quyết của địa phương, cơ quan, đơn vị. Cán bộ chủ chốt các cấp cần nghiên cứu sâu các nội dung cơ bản, điểm mới, cơ sở lý luận và thực tiễn của những quan điểm, giải pháp để chỉ đạo vận dụng sáng tạo vào điều kiện thực tế của địa phương, cơ quan, đơn vị. Cán bộ, đảng viên ở cơ sở cần được tổ chức học tập, quán triệt một cách đầy đủ, thiết thực gắn với thực tế của địa phương để vừa nắm vững các nội dung cơ bản trong Nghị quyết và có khả năng vận dụng vào quá trình tổ chức thực hiện trong thực tiễn.

Thứ hai, từng cán bộ, đảng viên thực hiện nghiêm túc viết thu hoạch cá nhân sau học tập, quán triệt. Bài viết thu hoạch cần thể hiện nhận thức cá nhân về những điểm mới, quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp trong Nghị quyết Đại hội XI Đảng bộ tỉnh; đồng thời liên hệ với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan, đơn vị và cá nhân. Chú trọng đề xuất, kiến nghị các biện pháp, giải pháp thực hiện ở ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị và trách nhiệm cụ thể của cá nhân. Việc này có ý nghĩa rất quan trọng, nhắc nhở cá nhân quyết tâm hoàn thành các nhiệm vụ đã đề ra.

Thứ ba, xuất phát từ thực tiễn của địa phương, đơn vị, cấp ủy các cấp tập trung trí tuệ tập thể, phát huy dân chủ, chủ động xây dựng kế hoạch thực hiện Nghị quyết Đại hội XI Đảng bộ tỉnh. Trong đó, xác định rõ mục tiêu, giải pháp thiết thực, hiệu quả, điều kiện bảo đảm, tiến trình tổ chức thực hiện hằng năm và cả nhiệm kỳ. Đặc biệt, xác định rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân, phân công trách nhiệm cho từng đồng chí ủy viên Ban Thường vụ, cấp ủy viên trong thực hiện. Qua đó, góp phần định hướng chung những nhiệm vụ trọng tâm trên từng lĩnh vực.

Thứ tư, đẩy mạnh việc tuyên truyền, phổ biến Nghị quyết Đại hội XI Đảng bộ tỉnh trên các phương tiện truyền thông để tạo sự đồng thuận cao trong các tầng lớp nhân dân trên địa bàn tỉnh. Lồng ghép những nội dung của Nghị quyết trong các hoạt động tuyên truyền, giáo dục truyền thống và thực hiện nhiệm vụ chuyên môn bằng nhiều hình thức đa dạng, sinh động, thiết thực, hiệu quả. Qua thực tế cho thấy, mọi chủ trương nếu được tuyên truyền sâu rộng, được cán bộ, đảng viên và Nhân dân hiểu rõ thì tư tưởng mới thống nhất, tư tưởng thống nhất thì hành động mới thống nhất. Mặt khác, sẽ rất thuận lợi trong đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch.

Thứ năm, thực hiện thường xuyên công tác kiểm tra, giám sát ngay từ khâu tổ chức học tập, quán triệt, vì đây là khâu đầu tiên quyết định nhận thức đúng đắn những chủ trương, quan điểm, kịp thời uốn nắn nhận thức sai trái, lệch lạc, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; phát hiện, biểu dương, nhân rộng cái đúng, cái mới, tiến bộ.  

Thứ sáu, nhanh chóng sơ kết rút kinh nghiệm ngay sau học tập, quán triệt Nghị quyết nhằm giải quyết những vấn đề mới phát sinh, kịp thời ban hành điều chỉnh, bổ sung những chủ trương, chính sách mới phù hợp với thực tiễn. Việc sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm cần có tinh thần thẳng thắn, nhìn thẳng vào sự thật, khẳng định những việc đã thực hiện được, chỉ ra những hạn chế, yếu kém, khuyết điểm để có biện pháp khắc phục, tháo gỡ. Đánh giá sát đúng thực tiễn để rút ra những bài học kinh nghiệm. Như vậy thì mới có hiệu quả tốt hơn trong việc triển khai đưa Nghị quyết của Đảng bộ tỉnh vào trong cuộc sống.

Nghị quyết Đại hội XI Đảng bộ tỉnh là kết tinh trí tuệ và ý chí của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, là sự kế thừa và tiếp tục phát triển đường lối, quan điểm, chủ trương đổi mới, xây dựng và phát triển tỉnh nhà ngày càng giàu đẹp. Vì vậy, tổ chức thật tốt việc học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội XI Đảng bộ tỉnh ở các cấp là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, là điều kiện tiên quyết nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức cũng như sự tin tưởng, thống nhất ý chí và hành động trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân.

TRÌNH LAM SINH

TUV, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy

TrueChính trị
Khát vọng phát triển đất nước và đổi mới sáng tạo - Điểm nhấn của Đại hội Đảng lần thứ XIIIBài viếtTGTWKhát vọng phát triển đất nước và đổi mới sáng tạo - Điểm nhấn của Đại hội Đảng lần thứ XIII/Imagesnews/2020-11/Khat-vong-phat-trien-dat-nuoc_Key_21112020170021.jpg

“Tạo bước chuyển căn bản nền kinh tế sang mô hình tăng trưởng trên cơ sở sử dụng hiệu quả các nguồn lực, tiến bộ khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo... Xây dựng và phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam; hoàn thiện và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người gắn với phát huy ý chí, khát vọng phát triển và sức mạnh con người Việt Nam trong thời kỳ mới...”(1).

21/11/2020 5:00 CHNoĐã ban hành

Khat-vong-phat-trien-dat-nuoc.jpg

Sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực, tạo động lực mới đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững _Tác giả: Vũ Trung Duy


NHIỀU ĐIỂM MỚI VÀ DẤU ẤN NỔI BẬT

1. Dự thảo Văn kiện chuẩn bị trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng có nhiều điểm mới. Mới không phải do ý tưởng chủ quan của Tiểu ban và Tổ biên tập Văn kiện, mà mới do nhu cầu khách quan cấp thiết của thực tiễn đất nước, thế giới với nhiều thời cơ, thách thức đan xen, đặt ra nhiều vấn đề mới về lý luận, thực tiễn, đòi hỏi chúng ta phải vươn lên mạnh mẽ hơn, đổi mới đồng bộ, toàn diện hơn, ở trình độ cao hơn. Mới do khả năng thực tế của đất nước sau 35 năm đổi mới với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử và những bài học kinh nghiệm quí báu đúc kết từ quá trình lao động, sáng tạo của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; do đẩy mạnh hoạt động đối ngoại, tích cực hội nhập quốc tế thành công cho phép chúng ta tiến cùng thời đại, nắm bắt, dự báo, tiếp cận được những xu thế phát triển và những giá trị phổ quát của nhân loại - những nhân tố đó tạo nền tảng vững chắc để Việt Nam có thể phát triển nhanh, bền vững hơn ở tầm mức mới. Như vậy, những điểm mới của dự thảo Văn kiện Đại hội XIII phản ánh sự tương thích giữa nhu cầu phát triển khách quan của đất nước trong bối cảnh mới và năng lực tiếp tục đổi mới của Đảng và nhân dân ta.


Những điểm mới trong dự thảo Văn kiện không phải chỉ mới về câu chữ mà mới từ cách tiếp cận, tầm bao quát, từ những tư tưởng chỉ đạo, mục tiêu phấn đấu và những định hướng phát triển đất nước trên cơ sở tổng kết nghiêm túc thực tiễn đổi mới đầy sáng tạo của nhân dân ta qua 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, năm 1991, trọng tâm là 10 năm thực hiện Cương lĩnh bổ sung, sửa đổi năm 2011 và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020, 05 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng; từ sự phân tích, dự báo xu thế phát triển của thế giới; nghiên cứu, tiếp thu các thành quả phát triển lý luận.


2. Từ khi đất nước tiến hành công cuộc đổi mới đến nay, mỗi kỳ Đại hội Đảng đều có một số điểm nhấn tạo ấn tượng sâu đậm trong nhận thức của cán bộ, đảng viên, nhân dân, tạo sự thống nhất, đồng thuận, tin tưởng trong Đảng, trong xã hội. Điểm nhấn của Đại hội VI là Đại hội đổi mới; Đại hội VII là Đại hội đề ra Cương lĩnh phát triển đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; Đại hội VIII là Đại hội đề ra chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Đại hội IX là Đại hội xác định kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ; Đại hội X là Đại hội tổng kết 20 năm đổi mới, xác định mục tiêu đưa đất nước sớm ra khỏi tình trạng nước kém phát triển; Đại hội XI là Đại hội ban hành Cương lĩnh bổ sung, phát triển và quyết định đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, hội nhập quốc tế; Đại hội XII là Đại hội chủ trương xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức, xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, nâng cao chất lượng, hiệu quả,sức cạnh tranh của nền kinh tế... Vậy điểm nhấn của Đại hội XIII là gì?

Dự thảo Văn kiện trình Đại hội XIII có một số điểm nhấn, trong đó có hai thành tố mới được đề cập và nhấn mạnh nhiều lần, từ chủ đề Đại hội, quan điểm chỉ đạo, mục tiêu tổng quát, định hướng phát triển, nhiệm vụ trọng tâm, đột phá chiến lược. Đó là khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc với mục tiêu đến giữa thế kỷ XXI trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa và đổi mới sáng tạo. Đây có thể xem là điểm nhấn trong dự thảo Văn kiện và của Đại hội XIII, phản ánh nhận thức mới của Đảng về sức mạnh nội sinh và phương thức phát triển đất nước trong bối cảnh mới.

KHÁT VỌNG PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC PHỒN VINH, HẠNH PHÚC LÀ NGUỒN LỰC NỘI SINH, LÀ NĂNG LƯỢNG TIỀM TÀNG TẠO THÀNH SỨC MẠNH VĨ ĐẠI CỦA DÂN TỘC TRONG THỜI KỲ MỚI

3. Khát vọng, theo cách hiểu phổ quát, là một trạng thái tinh thần, phản ánh sự ước ao, mong muốn thiết tha của con người về những điều lớn lao, tốt đẹp với sự thôi thúc mạnh mẽ[2] .

Keth D. Harrel - thuyết trình gia nổi tiếng nước Mỹ, trong nhiều tác phẩm nổi tiếng[3] đã trình bày sâu sắc,sinh động ý nghĩa của khát vọng như là một dạng thức tích cực của thái độ con người đối với cuộc sống. Từ triết lý “thái độ là tất cả”, Keth D. Harrel đã phân tích ý nghĩa lớn lao của khát vọng. Theo ông, khát vọng chính là nguồn động lực có sức mạnh vô biên trong mỗi con người, được thể hiện qua những hoạt động không ngơi nghỉ để con người không bao giờ từ bỏ ước mơ, không bao giờ khuất phục trước hoàn cảnh.

Khát vọng phát triển của một dân tộc là sự cộng hưởng những khát vọng vươn lên của cộng đồng, của con người cùng quốc gia - dân tộc, tạo thành nguồn năng lượng nội sinh to lớn, sống động và sức mạnh vô song. Đó chính là động lực trung tâm của một quốc gia - dân tộc trên con đường đi tới tương lai [4]. Đối với Việt Nam, một dân tộc có truyền thống đoàn kết, văn hiến, anh hùng, khát vọng phát triển đất nước thật sự là một sức mạnh nội sinh phi thường, cội nguồn tạo nên những kỳ tích trong suốt tiến trình hàng nghìn năm dựng nước, giữ nước.

4. Thời trung đại, Việt Nam đánh thắng tất cả các cuộc chiến tranh xâm lược của phong kiến phương Bắc, giữ vững nền độc lập dân tộc, sáng tạo nên nền văn minh Đại Việt rực rỡ không phải chủ yếu bằng tiềm năng quân sự, bằng sức mạnh vật chất, mà trước hết và chủ yếu bằng sức mạnh quật khởi vĩ đại bắt nguồn từ khát vọng về chủ quyền quốc gia: sông núi nước Nam vua Nam ở, về một quốc gia Đại Việt vốn xây nền văn hiến đã lâu; núi sông, bờ cõi đã chia, phong tục Bắc, Nam cũng khác và khát vọng về một đất nước phú cường non sông nghìn thuở vững âu vàng.

Trong thời đại Hồ Chí Minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, nhân dân Việt Nam đã đập tan gông xiềng áp bức, bóc lột của đế quốc, phong kiến, xây dựng và bảo vệ Nhà nước cách mạng; đánh thắng các thế lực xâm lược hùng mạnh, bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Những chiến công oanh liệt đó được tạo nên bằng sức mạnh vô địch của chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng khởi nguồn từ khát vọng mãnh liệt được Chủ tịch Hồ Chí Minh khái quát thành chân lý: Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”[5] ; không có gì quí hơn độc lập, tự do[6] ; nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng chân lý ấy không bao giờ thay đổi [7].

Sau khi đất nước thống nhất, tiến hành công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước, với khát vọng chiến thắng đói nghèo, lạc hậu, nhân dân đồng lòng tin theo Đảng tiến hành sự nghiệp đổi mới. Khát vọng ấm no, hạnh phúc đã chuyển hóa thành sức mạnh to lớn đưa đất nước vượt qua cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ XX; vượt qua cuộc chấn động chính trị toàn cầu khi mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên bang Xô viết và Đông Âu sụp đổ và những thử thách khắc nghiệt do tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính khu vực những năm 1997-1998 và cuộc khủng hoảng tài chính, suy giảm kinh tế toàn cầu những năm 2008- 2009, đưa đất nước ra khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình; vượt lên, kiềm chế thành công đại dịch COVID - 19, hạn chế đến mức thấp nhất những tổn thất do dịch bệnh gây ra, ổn định kinh tế - xã hội, bảo đảm đời sống nhân dân, khôi phục, duy trì tăng trưởng. Khát vọng vươn lên của dân tộc được phản ánh cụ thể và vô cùng sinh động qua khát vọng chiến thắng của Đội bóng U23 Việt Nam trong năm 2018, 2019 trên đấu trường khu vực và châu lục. Một đội ngũ cầu thủ được đào tạo bài bản; được tổ chức chặt chẽ, hợp lý; được dẫn dắt bởi một đấu pháp khoa học và, đặc biệt với khát vọng Việt Nam chiến thắng, Việt Nam vô địch đã tạo nên kỳ tích trên sân cỏ của Đội U23, thổi bùng lên khát vọng vươn lên mãnh liệt của cả dân tộc. Đây chính là thước đo và cũng là minh chứng cho sức mạnh kỳ diệu của khát vọng vươn lên của toàn dân tộc.

Truc-tiep-le-don-dt-u23-viet-nam-ve-nuoc.jpg

ĐT U23 Việt Nam nhận được sự chào đón nồng nhiệt trên các tuyến đường

5. Bước vào thập niên thứ ba của thế kỷ XXI, trong Văn kiện trình Đại hội XIII, Đảng chủ trương khơi dậy ở một tầm cao mới khát vọng phát triển đất nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc.

Khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc không phải là một huyễn tưởng xuất phát từ ngẫu hứng chủ quan, duy ý chí, mà là một khát vọng bắt nguồn từ niềm tin vững chắc vào cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín của đất nước sau 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới; vào bản lĩnh và những kinh nghiệm dày dạn mà Đảng, nhân dân ta đã kiểm nghiệm, đúc kết trong thực tiễn lao động,sáng tạo suốt mấy chục năm qua. Đó cũng không phải là khát vọng giản đơn, xuôi chiều, mà là khát vọng được bồi đắp trên cơ sở phân tích, dự báo, lường đoán kỹ lưỡng những thời cơ, thuận lợi có thể nắm bắt, phát huy; đồng thời tỉnh táo cân nhắc, tính toán những khó khăn, thách thức bên ngoài, những yếu kém, trở ngại bên trong cần phải kiên quyết khắc phục, thích ứng, vượt qua với phương châm dĩ bất biến ứng vạn biến, nhạy bén chớp thời cơ, chủ động ứng phó với nguy cơ, chuyển hóa nguy cơ thành vận hội phát triển.

Khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc không chỉ là mơ ước mà là khát vọng mang sức sống hiện thực, được hình thành, bồi đắp trên một cơ tầng khoa học về lộ trình hướng đích với những bước đi được dự liệu rõ ràng. Kế thừa, hoàn thiện những mục tiêu đã được xác định từ những Đại hội Đảng trước đây; căn cứ vào điều kiện, khả năng thực tế của đất nước và xu thế phát triển của thế giới, Dự thảo Văn kiện trình Đại hội XIII xác định các mục tiêu cụ thể: phấn đấu đến năm 2025, nước ta là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp; đến năm 2030, là nước đang phát triển, cơ bản có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045, trở thành nước phát triển, thu nhập cao.

Khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc gắn liền với quá trình xây dựng và phát huy hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và giá trị chuẩn mực, cùng sức mạnh con người Việt Nam trong thời kỳ mới [8] gắn liền với phát huy đồng bộ hệ động lực phát triển: dân chủ xã hội chủ nghĩa; đại đoàn kết toàn dân tộc; sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị; nguồn nhân lực chất lượng cao, nhân tài; khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo... [9] .


ĐỔI MỚI SÁNG TẠO - ĐỘNG LỰC THÚC ĐẨY MẠNH MẼ CÔNG CUỘC TIẾP TỤC ĐỔI MỚI TOÀN DIỆN, ĐỒNG BỘ

6. Chân lý là cụ thể, cách mạng là sáng tạo. Đổi mới là một quá trình tạo ra những biến đổi có tính cách mạng. Đổi mới và sáng tạo là hai mặt có quan hệ mật thiết với nhau trong một quá trình phát triển. Trong đổi mới có sáng tạo; sáng tạo gắn liền với đổi mới. Công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng, lãnh đạo từ năm 1986 đến nay là một công trình sáng tạo vĩ đại của toàn Đảng, toàn dân ta. Đó là một quá trình sáng tạo liên tục nhằm xóa bỏ cái cũ, xây dựng cái mới từ gốc đến ngọn, tạo ra cả lực lượng sản xuất mới lẫn quan hệ sản xuất mới, cả cơ sở kinh tế lẫn thượng tầng kiến trúc mới, cả đời sống vật chất mới lẫn đời sống tinh thần mới [10] .

Sự nghiệp đổi mới kết tinh thành quả sáng tạo của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân trên các lĩnh vực của đời sống đất nước, trên mọi địa bàn với những cấp độ, trình độ khác nhau, từ thấp đến cao, từ bộ phận đến tổng thể, từ chưa hoàn chỉnh đến hoàn chỉnh phù hợp với điều kiện và trình độ phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn. Đổi mới bắt đầu từ sự tổng kết thực tiễn, đúc rút những kinh nghiệm thành công và chưa thành công, trên cơ sở đó tìm tòi,sáng tạo cách nghĩ, cách làm mới. Đại hội VI của Đảng khởi xướng công cuộc đổi mới chính là bắt đầu từ những bài học vô cùng sâu sắc được đúc kết từ thực tiễn những năm trước đổi mới và sự tổng kết những mô hình mới, những cách làm sáng tạo của nhân dân. Bước vào giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, sáng tạo được nâng lên tầm mức mới, dựa trên sự cải tiến, ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ vào lãnh đạo, quản lý, sản xuất kinh doanh, tạo ra sự phát triển trên các lĩnh vực, các khu vực, các địa bàn... Trình độ sáng tạo trong giai đoạn này có bước tiến mới. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của đất nước 35 năm qua gắn liền với quá trình đổi mới, sáng tạo bền bỉ của toàn Đảng, toàn dân. Tuy nhiên, do trình độ khoa học, công nghệ, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước còn thấp nên cấp độ, hiệu quả sáng tạo ở nước ta còn hạn chế, chưa đủ sức tạo ra những bước phát triển đột phá.

7. Hiện nay, thế giới đang bước vào một thời kỳ phát triển mới. Cuộc cách mạng công nghiệp mới, được gọi là cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đang diễn ra với qui mô lớn, tốc độ rất nhanh chưa từng có tiền lệ, với những đột phá về công nghệ, nhất là trên các lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, công nghệ người máy, Internet kết nối vạn vật, công nghệ nano, công nghệ sinh học, khoa học vật liệu... Những đột phá công nghệ tương tác, thúc đẩy nhau đang tạo ra một thế giới số hóa, tự động hóa, mọi hoạt động ngày càng hiệu quả hơn, thông minh hơn. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tác động mạnh mẽ đến tất cả các quốc gia, tạo ra cả thời cơ và thách thức với nhiều đột biến trong quản lý, quốc phòng, an ninh, sản xuất kinh doanh, môi trường,sinh hoạt và đời sống xã hội, con người [11] . Các nước đều chú trọng xây dựng, thực thi chiến lược tận dụng thành tựu và ứng phó với những thách thức của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư - yếu tố quyết định sự phát triển bứt phá hay chậm trễ, tụt hậu của một quốc gia. Đổi mới sáng tạo là tư duy mới trong chiến lược phát triển của hầu hết các quốc gia và trở thành ngôn ngữ chung có ý nghĩa toàn cầu, thể hiện một cấp độ mới, trình độ mới của sáng tạo, đổi mới, phát triển - đổi mới mạnh mẽ hơn, hiệu quả hơn trên nền tảng sáng tạo và ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ để tạo ra chất lượng mới, những giá trị mới trong phát triển kinh tế - xã hội nói chung, trong sản phẩm hàng hóa nói riêng. Phát triển hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia, nâng cao chỉ số đổi mới sáng tạo là công việc đang thu hút sự nỗ lực của các nước, các cộng đồng lao động sáng tạo trên toàn thế giới.

8. Với tư duy nhạy bén, những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã lãnh đạo, chỉ đạo các cấp, các ngành đẩy mạnh ứng dụng, phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, nghiên cứu nắm bắt, nâng cao năng lực tiếp cận và chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Đặc biệt, ngày 27/9/2019, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 52 “Về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”. Nghị quyết nêu 4 quan điểm chỉ đạo, trong đó nhấn mạnh: “Chủ động, tích cực tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là yêu cầu tất yếu khách quan; là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đặc biệt quan trọng, vừa cấp bách vừa lâu dài của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội..., coi đó là giải pháp đột phá với bước đi và lộ trình phù hợp là cơ hội để Việt Nam bứt phá trong phát triển kinh tế - xã hội”;  “Cách mạng công nghiệp lần thứ tư yêu cầu phải đổi mới tư duy về quản lý kinh tế, quản lý xã hội, xây dựng, hoàn thiện thể chế cho phù hợp. Cần có cách tiếp cận mở, sáng tạo, cho thí điểm những vấn đề thực tiễn mới đặt ra, tạo mọi thuận lợi cho đổi mới sáng tạo”[12] .

Tư duy nhạy bén và tinh thần của Nghị quyết số 52 “Về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư” được khẳng định, nâng tầm trong Dự thảo Văn kiện trình Đại hội XIII và đổi mới sáng tạo có thể xem là một điểm nhấn của Đại hội.

9. Cần hiểu đúng về đổi mới sáng tạo để thống nhất nhận thức, hành động trong toàn Đảng, toàn xã hội. Đổi mới sáng tạo với triết lý không có gì là không thể là thuộc tính quan trọng của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, phản ánh tư duy và phương thức phát triển mới mang tính phổ biến của toàn nhân loại. Việt Nam hội nhập quốc tế ngày càng trực tiếp, sâu rộng, chúng ta cần tiếp cận, tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, những giá trị trí tuệ mới, những kinh nghiệm thành công của thế giới để tiến cùng thời đại. Hơn nữa, đổi mới sáng tạo chính là sự phát triển hợp qui luật ở tầm vóc, trình độ mới quá trình đổi mới vốn có của Đảng, nhân dân ta trong hơn ba thập kỷ qua; là động lực tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới đáp ứng yêu cầu dựng xây đất nước trong thời kỳ mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh là hiện thân của đổi mới, sáng tạo. Sinh thời, Người căn dặn: Thế giới ngày ngày đổi mới, xã hội ngày một phát triển, nhân dân ngày càng tiến bộ, do vậy cán bộ, đảng viên không thể “giữ cái kẹp giấy cũ không thay đổi”, “tư tưởng, hành động cũng phải phát triển”[13] .

Đổi mới sáng tạo phải được tiến hành đồng thời, đồng bộ cả về tư duy và hành động, phải “đổi mới cách nghĩ, cách làm, đổi mới tư duy, nhất là tư duy kinh tế, đổi mới phong cách làm việc, đổi mới tổ chức và cán bộ...”[14] .

Công cuộc đổi mới ở nước ta được bắt đầu từ sự đổi mới tư duy của Đảng, trước hết là tư duy kinh tế theo nguyên tắc tôn trọng và làm theo qui luật khách quan. Bối cảnh của thế giới ngày nay đang xuất hiện rất nhiều vấn đề lý luận, thực tiễn mới mẻ, đòi hỏi Đảng phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, nâng tầm trí tuệ, dẫn dắt đất nước tiến kịp và tiến cùng thời đại. Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương mẫu mực, ngời sáng truyền lại bài học lớn về phong cách tư duy đổi mới: nhạy bén nắm bắt diễn biến lịch sử, chủ động tranh thủ thời cơ, giữ vững nguyên tắc và mạnh dạn sáng tạo, kịp thời đổi mới, gắn liền lý luận với thực tiễn[15] . Đổi mới sáng tạo về tư duy cần nắm vững và xử lý tốt mối quan hệ giữa “kiên định và đổi mới, vận dụng sáng tạo” theo phương pháp biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Kiên định phải gắn liền với sáng tạo và sáng tạo phải trên cơ sở kiên định, phù hợp với thực tiễn, với yêu cầu đổi mới, hội nhập, phát triển đất nước. Kiên định một cách máy móc thì dễ dẫn đến giáo điều, cứng nhắc, bảo thủ, trì trệ, nhưng nếu không kiên định, mà đổi mới sáng tạo một cách vô nguyên tắc cũng rất dễ rơi vào chủ nghĩa xét lại, chệch hướng, “đổi màu”[16] .

Trong hoạt động thực tiễn, đổi mới sáng tạo phải được triển khai toàn diện trên các lĩnh vực với nhiều giải pháp đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm, với lộ trình, bước đi được tính toán kỹ lưỡng, khoa học, phù hợp với điều kiện thực tế đất nước, tránh nôn nóng, duy ý chí dẫn đến phiêu lưu, mạo hiểm hoặc bàng quan, do dự, ngại khó ngại khổ, chậm trễ, bỏ lỡ thời cơ phát triển. Cần chú trọng xây dựng môi trường thể chế thuận lợi; tập trung phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng khoa học, công nghệ; thúc đẩy phát triển hạ tầng thông tin, viễn thông..., tạo những tiền đề thiết yếu để thực hiện đổi mới sáng tạo có kết quả. Ưu tiên thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong phát triển công nghệ số, thực hiện chuyển đổi số trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, quản trị... từng bước hình thành kinh tế số, xã hội số, chính phủ số, tạo ra những giá trị mới và sức mạnh tổng hợp mới của đất nước. Thước đo tính hợp lý của đổi mới sáng tạo là hiệu quả phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân theo chân lý Hồ Chí Minh: “Chân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân. Cái gì trái với lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân tức là không phải chân lý” [17] .

Đổi mới sáng tạo là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, trong đó đội ngũ cán bộ, đảng viên, đặc biệt là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, những người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp, phải đi tiên phong, nêu gương sáng dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì sự nghiệp chung; đội ngũ trí thức, doanh nhân đóng vai trò nòng cốt trong lao động, sáng tạo; động viên, phát huy vai trò chủ thể và sức sáng tạo vĩ đại của nhân dân; hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo Việt Nam.

Với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc được thúc đẩy bằng động lực đổi mới sáng tạo, nhất định đất nước ta sẽ “bước tới đài vinh quang để sánh vai cùng các cường quốc năm châu” trong thế kỷ XXI như tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại [18] và mong ước cháy bỏng của toàn dân tộc ta .


GS.TS. PHÙNG HỮU PHÚ
Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương

_____________________________________
Chú thích:

[1] Nguyễn Phú Trọng: Chuẩn bị thật tốt Đại hội XIII của Đảng, đưa đất nước bước vào gia đoạn phát triển mới, Tạp chí Cộng sản, số 949 (9-2020).

[2] Wiktionary; Hồ Ngọc Đức: Dự án Từ điển Tiếng Việt miễn phí.

[3] Keth D. Harrel: Cám ơn cuộc sống, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2015; Thay đổi thái độ - Đổi cuộc đời 2,3, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2016.

[4] Vũ Minh Khương: Việt Nam 2045: tầm nhìn, khát vọng và sứ mệnh lịch sử, Tạp chí Khoa học, công nghệ Việt Nam điện tử, ngày 17/01/2020; Khát vọng đổi mới để phát triển, baodauthau.vn, ngày 12/2/2018.

[5] Hồ Chí Minh Toàn tập, t.4, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 534.

[6] Hồ Chí Minh Toàn tập, t.15, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 131.

[7] Hồ Chí Minh Toàn tập, t.4, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 280.

[8] Nguyễn Phú Trọng: Chuẩn bị thật tốt Đại hội XIII của Đảng, đưa đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, Tạp chí Cộng sản, số 949 (9-2020).

[9] Đảng Cộng sản Việt Nam: Dự thảo các Văn kiện trình đại hội XIII của Đảng (tài liệu sử dụng tại Đại hội Đảng bộ cấp huyện, cấp tỉnh và tương đương ), Tháng 4-2020.

[10] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, t.7 (1976), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tr.504-505.

[11] Nguyễn Thông: Cách mạng công nghiệp 4.0 - Một số đặc trưng, tác động và hàm ý chính sách cho Việt Nam, Bộ Ngoại giao Việt Nam, Trang ngoại giao kinh tế trực tuyến, ngày 13/12/2016.

[12] Nghị quyết số 52-NQ/ TW, ngày 27/9/2019, của Bộ Chính trị “Về mộtsố chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”, tài liệu lưu tại Văn phòng Trung ương Đảng.

[13] Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t. 8, tr.55; t.10, tr. 377.

[14] Trường Chinh: Đổi mới chính là đòi hỏi bức thiết của đất nước, của thời đại, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1987, tr.66.

[15] Phạm Văn Đồng: Hồ Chí Minh - tinh hoa và khí phách dân tộc, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr.219.

[16] Nguyễn Phú Trọng: Chuẩn bị thật tốt Đại hội XIII của Đảng, đưa đất nước bước vào gia đoạn phát triển mới, Tạp chí Cộng sản, số 949 (9-2020).

[17] Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.10, tr. 378.

[18] Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.4, tr. 35.

False
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam - những trang lịch sử vẻ vangBài viếtSự ThậtMặt trận Tổ quốc Việt Nam - những trang lịch sử vẻ vang/Imagesnews/2020-11/Bia 1_Key_11112020154520.jpg

(TUAG)- Ngay trong Cương lĩnh đầu tiên, Đảng ta đã khẳng định những nội dung về yêu cầu tập hợp lực lượng, hình thành khối đại đoàn kết dân tộc. Đó là cơ sở quan trọng để từ đó Đảng xây dựng Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam.

11/11/2020 4:00 CHYesĐã ban hành

Ngay trong Cương lĩnh đầu tiên, Đảng ta đã khẳng định những nội dung về yêu cầu tập hợp lực lượng, hình thành khối đại đoàn kết dân tộc. Đó là cơ sở quan trọng để từ đó Đảng xây dựng Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam. Ngày 18-11-1930, Hội Phản đế Đồng minh, hình thức tổ chức đầu tiên của Mặt trận dân tộc thống nhất đã ra đời. Tiếp sau đó, cùng với sự phát triển của phong trào yêu nước và cách mạng là sự thành lập các tổ chức mặt trận có chung mục tiêu là đánh đuổi đế quốc, giành độc lập dân tộc.

Bia 1.jpg

Ngày 19-5-1941, Việt Nam độc lập đồng minh (Mặt trận Việt Minh) được thành lập. Lần đầu tiên, phong trào cách mạng có được một mặt trận thống nhất dân tộc mang tên Việt Nam. Mặt trận có sức mạnh hiệu triệu, đánh thức tinh thần dân tộc của các tầng lớp nhân dân. Chương trình cứu nước của Việt Minh bao gồm những điểm chung cho toàn thể dân tộc và những điểm đấu tranh cho quyền lợi của công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân: "Có mười chính sách bày ra / Một là ích quốc hai là lợi dân". Chương trình thể hiện đúng mong muốn của toàn dân là: Làm cho nước ta hoàn toàn độc lập; làm cho Nhân dân ta được hưởng sung sướng, tự do…

Đây là cống hiến vĩ đại về lý luận và thực tiễn của Nguyễn Ái Quốc về xây dựng lực lượng cách mạng, tạo nên "bản đại hợp xướng" và cũng là "khúc khải hoàn ca" trong quá trình đấu tranh cách mạng. Tuyên ngôn của Đại hội toàn quốc Thống nhất Việt Minh - Liên Việt tháng 3/1951 nêu rõ: "Lịch sử của Việt Minh 10 năm đấu tranh cho độc lập, tự do của dân tộc cũng là những trang lịch sử vẻ vang vào bậc nhất của dân tộc Việt Nam ta". Từ đó tới nay, tuy có những hình thức và tên gọi khác nhau cho phù hợp với nhiệm vụ của từng thời kỳ cách mạng, nhưng Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam luôn là nơi tập hợp các giai tầng xã hội vì mục tiêu lớn của dân tộc. 

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã khẳng định "Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân xây dựng và bảo vệ Tổ quốc". "Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là liên minh chính trị của các đoàn thể Nhân dân và của cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân. Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là thành viên, vừa là người lãnh đạo Mặt trận".

Trải qua gần một thế kỷ, với nhiều hình thức tổ chức và tên gọi khác nhau, Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam nay là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam luôn trung thành với lợi ích của Nhân dân, tiêu biểu cho truyền thống đoàn kết dân tộc, là biểu tượng về lòng tự hào, tự tôn dân tộc, là trí tuệ, sức mạnh không gì lay chuyển nổi của các thế hệ người Việt Nam yêu nước trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam luôn nêu cao vai trò, trách nhiệm đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, không ngừng đổi mới nội dung và phương thức hoạt động nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu của Đại hội lần thứ IX Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đề ra là: "Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; tăng cường củng cố liên minh chính trị, xây dựng và củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; thực hiện dân chủ, giám sát và phản biện xã hội, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tham gia xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh; tăng cường đồng thuận xã hội, thúc đẩy tinh thần thi đua sáng tạo, phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, giữ vững hòa bình, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh".

Kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Mặt trận Dân tộc Thống nhất - Ngày truyền thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (18/11/1930 - 18/11/2020), chúng ta càng tự hào về truyền thống yêu nước, vẻ vang của Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam, kế thừa và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, coi đó là nhân tố cơ bản để thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Sự thật

True
Tài liệu Hỏi - Đáp: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XI, nhiệm kỳ 2020 - 2025 TinAdminTài liệu Hỏi - Đáp: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XI, nhiệm kỳ 2020 - 2025 /Imagesnews/2020-11/Tailieu-H-D_Key_10112020101329.PNG

​(TUAG)- Ngày 23/10/2020, Ban Thường vụ Tỉnh ủy An Giang ban hành Kế hoạch số 01-KH/TU về tổ chức học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XI, nhiệm kỳ 2020 - 2025.

10/11/2020 11:00 SANoĐã ban hành

Tailieu-H-D.PNG

Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy An Giang đã biên soạn, phát hành "Tài liệu Hỏi - Đáp" Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XI. Cổng TTĐT Đảng bộ tỉnh đăng nội dung tài liệu này.

Tải tại đây: Tai-lieu-Hoi-Dap.doc




False
Tọa đàm góp ý sơ thảo sách “Chân dung Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh An Giang”TinTrúc LinhTọa đàm góp ý sơ thảo sách “Chân dung Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh An Giang”/Imagesnews/2020-11/Toa-dam-chan-dung-AHLLVT-2_Key_04112020113135.jpg

(TUAG)- Sáng ngày 04/11/2020, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy tổ chức tọa đàm đóng góp, bổ sung sơ thảo sách “Chân dung Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh An Giang”. Đồng chí Trần Thị Thanh Hương, Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy chủ trì hội nghị cùng đồng chí Trình Lam Sinh, Tỉnh ủy viên, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy.

04/11/2020 10:45 SAYesĐã ban hành

Đến dự có đồng chí Võ Minh Hoàng, Ủy viên Ban Thường vụ, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy, cùng đại diện lãnh đạo Ban Dân vận Tỉnh ủy, Ban Nội chính Tỉnh ủy, Ban Tổ chức Tỉnh ủy, Văn phòng Ủy ban nhân dân, Văn phòng Tỉnh ủy, Ban Thi đua - Khen thưởng, Liên hiệp các hội Văn học nghệ thuật tỉnh, Hội Khoa học Lịch sử, Hội Cựu chiến binh tỉnh, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh cùng thành viên Ban Biên tập, Tổ Biên soạn, Tổ Giúp việc xuất bản sách.

Qua thời gian nghiên cứu, sưu tầm tài liệu, Ban Biên tập đã hoàn chỉnh dự thảo “Chân dung Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh An Giang” gồm 44 chân dung Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, trong đó có 4 Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ chống Pháp, 37 Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ chống Mỹ, 3 Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Theo đó, tại buổi tọa đàm, các đại biểu tham gia thảo luận, đóng góp chi tiết từng nội dung sơ thảo "Chân dung Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh An Giang" đưa ra. Cụ thể như: Rà soát quê quán, năm mất, cách sử dụng từ ngữ, chữ nước ngoài, địa danh, cách trình bày, ảnh bìa, bổ sung tư liệu, ảnh tư liệu…

Phát biểu kết thúc buổi tọa đàm, đồng chí Trần Thị Thanh Hương, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy chỉ đạo Ban Biên tập, Tổ Biên soạn tiếp thu các ý kiến đóng góp của các đại biểu. Đồng thời, đề nghị các cơ quan, đơn vị có liên quan, nhất là Ban Biên tập, Tổ Biên soạn sớm hoàn chỉnh dự thảo đã được đóng góp, chỉnh sửa, hoàn thiện để xuất bản, phát hành sách "Chân dung Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh An Giang", qua đó tuyên truyền, giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ./.

TRÚC LINH
True
Đề nghị Bộ Chính trị xem xét thi hành kỷ luật đối với đồng chí Nguyễn Văn BìnhTinH.TĐề nghị Bộ Chính trị xem xét thi hành kỷ luật đối với đồng chí Nguyễn Văn Bình/Imagesnews/2020-11/Nguyen-Van-Binh_Key_04112020105250.jpg

(TUAG)- Trong thời gian giữ cương vị Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Ban cán sự đảng, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, đồng chí Nguyễn Văn Bình đã vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ và Quy chế làm việc; thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, thiếu kiểm tra, giám sát, để xảy ra nhiều vi phạm, khuyết điểm...

04/11/2020 9:00 SANoĐã ban hành

Nguyen-Van-Binh.jpg

Trưởng Ban Kinh tế Trung ương Nguyễn Văn Bình.

Ngày 3/11, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã ra thông báo về kỳ họp 49. Nội dung như sau:

Vừa qua, tại Hà Nội, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã họp Kỳ 49. Đồng chí Trần Cẩm Tú, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương chủ trì Kỳ họp. Tại Kỳ họp này, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã xem xét, kết luận một số nội dung sau:

1. Sau khi xem xét kết quả thẩm tra, xác minh nội dung phản ánh liên quan đến đồng chí Nguyễn Văn Bình, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Kinh tế Trung ương, Ủy ban Kiểm tra Trung ương nhận thấy:

Trong thời gian giữ cương vị Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Ban cán sự đảng, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, đồng chí Nguyễn Văn Bình đã vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ và Quy chế làm việc; thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, thiếu kiểm tra, giám sát, để xảy ra nhiều vi phạm, khuyết điểm trong việc ban hành và tổ chức thực hiện một số nghị quyết, quy định, quyết định về hoạt động tín dụng ngân hàng, gây hậu quả rất nghiêm trọng, khó khắc phục; nhiều cán bộ, đảng viên của Ngân hàng Nhà nước và lãnh đạo chủ chốt một số tổ chức tín dụng vi phạm pháp luật bị xử lý hình sự.

Những vi phạm, khuyết điểm của đồng chí Nguyễn Văn Bình là nghiêm trọng, gây bức xúc trong xã hội, ảnh hưởng xấu đến uy tín của tổ chức đảng, của Ngân hàng Nhà nước và cá nhân đồng chí. Căn cứ nội dung, tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm và quy định của Đảng về xử lý kỷ luật đảng viên, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đề nghị Bộ Chính trị xem xét, thi hành kỷ luật đối với đồng chí Nguyễn Văn Bình.

2. Sau khi xem xét trách nhiệm liên quan đến các sai phạm trong quản lý, sử dụng khu đất 2-4-6 Hai Bà Trưng, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh; căn cứ quy định của Đảng về xử lý kỷ luật đảng viên, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đề nghị Ban Bí thư xem xét, thi hành kỷ luật khai trừ ra khỏi Đảng đối với đồng chí Hồ Thị Kim Thoa, nguyên Ủy viên Ban cán sự đảng, nguyên Thứ trưởng Bộ Công Thương.

Đồng chí Vũ Huy Hoàng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, trong thời gian giữ cương vị Bộ trưởng Bộ Công Thương đã có vi phạm, khuyết điểm rất nghiêm trọng, đến mức phải khai trừ ra khỏi Đảng. Tuy nhiên, do đồng chí đang mắc bệnh hiểm nghèo nên chưa xem xét, xử lý kỷ luật theo quy định.

3. Sau khi xem xét kết quả kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong Đảng đối với Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Bà Rịa - Vũng Tàu; kết quả giám sát đối với Ban Thường vụ Tỉnh ủy và đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Ninh Thuận; Ban cán sự đảng và đồng chí Bí thư Ban cán sự đảng, Chủ tịch Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp về lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện Quy chế làm việc, công tác cán bộ, thực hiện nhiệm vụ chính trị và trách nhiệm nêu gương, Ủy ban Kiểm tra Trung ương yêu cầu các tổ chức đảng và đảng viên được kiểm tra, giám sát nêu trên phát huy ưu điểm, nghiêm túc kiểm điểm, rút kinh nghiệm và khắc phục kịp thời những hạn chế, khuyết điểm đã được chỉ ra.

4. Cũng tại kỳ họp này, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã xem xét, giải quyết tố cáo đối với một số trường hợp và quyết định một số nội dung quan trọng khác./.

H.T
False
Bế mạc Hội nghị học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XITinBế mạc Hội nghị học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XI/Imagesnews/2020-10/HN-hoc-nq-3_Key_29102020141700.jpg

(TUAG)- Sáng 29/10, Hội nghị học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XI, nhiệm kỳ 2020 - 2025 bế mạc sau 1,5 ngày làm việc. Chủ trì hội nghị gồm các đồng chí: Võ Thị Ánh Xuân - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội; Nguyễn Thanh Bình - Phó Bí thư, Chủ tịch UBND tỉnh; Lê Văn Nưng - Phó Bí thư Thường trực, Phó Chủ tịch UBND tỉnh.

29/10/2020 3:00 CHNoĐã ban hành

HN-hoc-Nq-1.png

Trước đó, chiều ngày 28/10/2020, Hội nghị học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XI đã chia 119 tổ thảo luận (04 tổ ở điểm cầu cấp tỉnh, 14 tổ ở điểm cầu cấp huyện và 101 tổ ở điểm cầu cấp xã). Tổng số đại biểu tham gia thảo luận tổ trên 6.800 đại biểu. Nhìn chung, không khí thảo luận sôi nổi, dân chủ, thể hiện tinh thần trách nhiệm cao. Đa số các đại biểu đánh giá cao nội dung được các báo cáo viên trình bày ngắn gọn, súc tích, đúng trọng tâm, đảm bảo mục đích, yêu cầu đề ra. Việc chuẩn bị và lồng ghép các ý kiến đối với dự thảo các chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XI Đảng bộ tỉnh đã giúp cho cán bộ chủ chốt các cấp tham dự ở các điểm cầu có điều kiện nghiên cứu và quán triệt sâu thêm nội dung, tinh thần Nghị quyết Đại hội, góp phần quan trọng tạo sự thống nhất và hành động trong toàn Đảng bộ, thể hiện khí thế, quyết tâm cao ngay từ đầu nhiệm kỳ mới.

 HN-hoc-Nq-2.jpg

Ngay sau phần trình bày báo cáo tổng hợp ý kiến thảo luận tổ, đồng chí Nguyễn Thanh Bình - Phó Bí thư, Chủ tịch UBND tỉnh giải đáp những ý kiến của đại biểu, nội dung xoay quanh 02 vấn đề chính đó là: Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thức XI và 06 chương trình trọng điểm của tỉnh.

Phát biểu kết luận hội nghị, đồng chí Võ Thị Ánh Xuân - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh đề nghị Ban soạn thảo tiếp tục nghiên cứu tiếp thu ý kiến của các đại biểu tại hội nghị, các định hướng lớn của Trung ương bổ sung vào các chương trình hành động, kế hoạch trên nguyên tắc phải cụ thể, vừa thiết thực, dễ hiểu, dễ làm…

 HN-hoc-nq-3.jpg

Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy gợi mở một số giải pháp trong triển khai thực hiện Nghị quyết đó là: Mỗi cấp ủy đảng, mỗi đảng bộ, cán bộ, đảng viên nhất là người đứng đầu cần xác định vai trò, trách nhiệm của mình để đóng góp vào việc tổ chức thực hiện thành công Nghị quyết, đẩy nhanh quá trình phát triển của tỉnh; khơi dậy niềm tự hào về quê hương, truyền thống tốt đẹp của An Giang quyết không lùi bước trước những khó khăn, thách thức; phát huy dân chủ đi đôi với kỷ luật, kỷ cương tạo bước đột phá trong giai đoạn mới…

Đồng thời, đồng chí cũng gợi mở một số nhiệm vụ trọng tâm cho các ngành, lĩnh vực thời gian tới:

Lĩnh vực kinh tế: Khai thác những động lực mới cho phát triển kinh tế; tìm ra những lợi thế mới của địa phương, đồng thời có cách làm mới đối với những lợi thế sẵn có để tăng năng suất; tiết kiệm tốt đa những tài nguyên có hạn, khai thác tuyệt đối tài nguyên vô hạn. Thu hút nhà đầu tư lớn tạo ra mô hình mới, mô hình lớn có tính dẫn dắt, tạo sự lan tỏa đồng thời nâng cao mặt bằng chung trong sản xuất kinh doanh; từ đó vừa phát triển kinh tế, vừa đảm bảo an sinh xã hội. Tranh thủ tối đa các nguồn lực Trung ương để đầu tư phát triển hạ tầng đồng thời tranh thủ các nguồn lực xã hội thông qua thu hút đầu tư. Hỗ trợ nâng cao năng lực và sức cạnh tranh cho các chủ thể kinh tế.

Lĩnh vực bảo vệ Tổ quốc và an ninh quốc phòng: Nâng cao nhận thức bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới đi đôi tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh để ứng phó với mọi tình huống. Có kế hoạch, giải pháp ứng phó vấn đề an ninh truyền thống và phi truyền thống trong hình mới đi đôi với phòng chống tội phạm.

Xây dựng Đảng và vận động quần chúng: Xác định lại vai trò, vị trí của công tác xây dựng Đảng và công tác vận đồng quần chúng để có những giải pháp tương xứng; cần xác định đúng mối quan hệ giữa xây dựng Đảng và phát triển kinh tế. Có kế hoạch sơ tổng kết các mô hình thí điểm; đào tạo đội ngũ cán bộ phải có lộ trình dài hạn hơn, chất lượng hơn. Nâng cao chất lượng sinh hoạt Đảng ở các tổ chức đảng, từ chi bộ đến cấp ủy có sức chiến đấu bảo vệ cái tốt, cái đúng, đấu tranh với cái sai, tiêu cực.

Bí thư Tỉnh ủy đề nghị sau hội nghị này, các cấp ủy đảng có kế hoạch triển khai Nghị quyết đến cán bộ, đảng viên và Nhân dân. Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và các cơ quan báo chí trong tỉnh triển khai Nghị quyết, các chương trình hành động của Tỉnh ủy đến đông đảo các tầng lớp Nhân dân trong tỉnh và ngoài tỉnh để mọi người hiểu, hưởng ứng và ủng hộ góp phần tổ chức thực hiện thắng lợi Nghị quyết; đồng thời phát động nhiều phong trào thi đua yêu nước sôi nổi.

Nguyễn Lam

False
Khai mạc Hội nghị học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XITinKhai mạc Hội nghị học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XI/Imagesnews/2020-10/AG-hoc-nghi-quyet-tinh-1_Key_28102020105140.jpg

(TUAG)- Sáng ngày 28/10, Ban Thường vụ Tỉnh ủy An Giang tổ chức Hội nghị học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XI, nhiệm kỳ 2020 - 2025. Hội nghị do Thường trực Tỉnh ủy chủ trì. Hội nghị được tổ chức trực tuyến tới 115 điểm cầu trong tỉnh (02 điểm cầu cấp tỉnh, 12 điểm cầu cấp huyện, 101 điểm cầu cấp xã), với sự tham dự của 6.516 đại biểu.

28/10/2020 10:45 SAYesĐã ban hành

AG-hoc-nghi-quyet-tinh-1.jpg

Quang cảnh điểm cầu chính

Phát biểu khai mạc Hội nghị đồng chí Lê Văn Nưng - Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh nhấn mạnh: Thành công của Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XI, nhiệm kỳ 2020 - 2025 là kết quả của Đảng bộ, quân và dân An Giang phát huy đoàn kết, tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức, tiếp tục đổi mới toàn diện và mạnh mẽ hơn nữa, phấn đấu đưa tỉnh nhà phát triển nhanh và bền vững. Các văn kiện được thông qua tại Đại hội là tập trung trí tuệ, là kết quả của việc phát triển và giữ vững đúng đắn quan điểm, đường lối của Đảng đồng thời tổng hợp, tổng kết sâu sắc thực tiễn nhiệm kỳ qua.

AG-hoc-nghi-quyet-tinh-2.jpg Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Văn Nưng phát biểu khai mạc.

Việc quán triệt, học tập và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội tạo đồng thuận cao trong nhận thức, tư tưởng cán bộ, đảng viên và Nhân dân là việc hết sức quan trọng. Vì vậy, khi triển khai Nghị quyết phải theo hướng đổi mới, thiết thực tập trung vào những nội dung cơ bản, không dàn trải, đặc biệt là những vấn đề mới trong Nghị quyết. Do đó cần lưu ý những vấn đề sau:

Thứ nhất, tập trung nghiên cứu, làm rõ những thuận lợi, khó khăn, kết quả đạt được và nguyên nhân những hạn chế nhiệm kỳ qua, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm trong công tác chỉ đạo, điều hành. Trên cơ sở đó, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XI sẽ ban hành chương trình hành động, kế hoạch cụ thể thực hiện Nghị quyết Đại hội để các cấp, các ngành thực hiện sớm nhất. Đồng thời, các cấp ủy tổ chức học tập cho cán bộ, đảng viên và phổ biến, tuyên truyền sâu rộng trong Nhân dân để tạo sự đồng thuận cao về nhận thức và hành động nhằm tạo ra phong trào thi đua sôi nổi, mạnh mẽ trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ của Nghị quyết đã đề ra.

Thứ hai, trên tinh thần trách nhiệm, tập trung trí tuệ, phát huy dân chủ, sáng tạo; các đại biểu tập trung nghiên cứu, thảo luận và đề ra những giải pháp thiết thực, khả thi; học tập Nghị quyết với tinh thần tích cực đúng thời gian và chương trình đề ra.

Thứ ba, Ban tổ chức Hội nghị tổng hợp đầy đủ những ý kiến, đề suất, kiến nghị của đại biểu; kịp thời giải đáp, làm rõ kiến nghị, ý kiến tại buổi thảo luận.

AG-hoc-nghi-quyet-tinh-3.jpg

Quang cảnh Hội trường Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy.

Hội nghị được đồng chí Nguyễn Thanh Bình - Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh báo cáo chuyên đề "Phát triển kinh tế - xã hội và quốc phòng - an ninh". Đồng chí Lê Văn Nưng - Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy báo cáo chuyên đề "Xây dựng Đảng và vận động quần chúng".

Theo chương trình Hội nghị sẽ diễn ra trong 1,5 ngày. Trong đó, chiều ngày 28/10 đại biểu thảo luận tại tổ về nội dung các dự thảo chương trình hành động của Tỉnh ủy thực hiện Nghị quyết Đại hội XI Đảng bộ tỉnh; sáng ngày 29/10, hội nghị tiến hành thảo luận tại hội trường, nghe giải đáp và kết luận chỉ đạo của chủ trì hội nghị.

Nguyễn Lam

True
Hội nghị Trung ương lần thứ 13 là thành công của tinh thần đoàn kết, dân chủ, trách nhiệmBài viếtĐảng Cộng sản VNHội nghị Trung ương lần thứ 13 là thành công của tinh thần đoàn kết, dân chủ, trách nhiệm/Imagesnews/2020-10/bac3133-cpv_Key_13102020194511.jpg

Sau 5 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, dân chủ và trách nhiệm cao, Hội nghị lần thứ 13 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã thành công tốt đẹp. Không khí Hội nghị rất hồ hởi, vui vẻ, phấn chấn.

12/10/2020 5:00 CHNoĐã ban hành

bac3133-cpv.jpg

Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 13 (khóa XII)

Tại hội nghị lần này, Trung ương đã thảo luận và quyết định những vấn đề rất cơ bản và hệ trọng, thu hút sự quan tâm theo dõi của đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân. Với trách nhiệm cao trước Đảng, trước nhân dân, các đại biểu dự hội nghị đã tập trung thảo luận sôi nổi, sâu sắc, có nhiều ý kiến đóng góp vào Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm 2020, Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2021, tiếp tục hoàn thiện dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng, chuẩn bị nhân sự Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII và một số vấn đề quan trọng khác.

Phát biểu bế mạc tại Hội nghị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Với tinh thần làm việc khẩn trương, nghiêm túc, Hội nghị lần thứ 13 Ban Chấp hành Trung ương của chúng ta đã hoàn thành toàn bộ nội dung chương trình đề ra. Các đồng chí Uỷ viên Trung ương và các đồng chí tham dự Hội nghị đã thể hiện tinh thần trách nhiệm cao, thảo luận dân chủ, thẳng thắn, đóng góp nhiều ý kiến trí tuệ, xác đáng vào các báo cáo, đề án. Không khí Hội nghị rất hồ hởi, vui vẻ, phấn chấn”.

Bộ Chính trị đã tiếp thu tối đa và giải trình những vấn đề còn có ý kiến khác nhau. Ban Chấp hành Trung ương đã nhất trí cao thông qua Nghị quyết của Hội nghị.

Trong 9 tháng đầu năm, tình hình đại dịch COVID-19 trên thế giới nói chung và ở nước ta nói riêng diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường. Kinh tế toàn cầu rơi vào tình trạng suy thoái nặng nề, tăng trưởng âm; thương mại thế giới sụt giảm nghiêm trọng; thị trường tài chính biến động bất thường, tiềm ẩn nhiều rủi ro. Kinh tế - xã hội nước ta bị ảnh hưởng lớn, khó có thể hoàn thành được toàn bộ các mục tiêu, chỉ tiêu chủ yếu đã đề ra cho năm 2020 và 5 năm 2016 - 2020, mặc dù đã có 4 năm liên tiếp trước đó luôn hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch đề ra, năm sau tốt hơn năm trước.

Tuy nhiên, nhờ có sự nỗ lực phấn đấu, đóng góp to lớn, bền bỉ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, Việt Nam vẫn được bạn bè quốc tế đánh giá cao, được coi là điểm sáng về phòng, chống dịch bệnh và phát triển kinh tế - xã hội. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, toàn hệ thống chính trị và đồng bào, chiến sĩ cả nước đã vào cuộc đồng bộ, quyết liệt, đã cơ bản kiểm soát được dịch bệnh, từng bước khắc phục có hiệu quả thiệt hại do dịch bệnh gây ra, củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, đã và đang khẩn trương, nghiêm túc tiến hành đại hội đảng bộ các cấp và chuẩn bị tích cực để tiến tới Đại hội XIII của Đảng theo đúng kế hoạch đề ra.

Kinh tế vẫn tăng trưởng dương, đạt trên 2% trong 9 tháng đầu năm, dự kiến từ 2 đến 3% trong năm 2020 (được đánh giá là một trong số 16 nền kinh tế mới nổi thành công nhất trong bối cảnh đại dịch, kinh tế thế giới và nhiều nước lớn dự kiến tăng trưởng âm). Kinh tế vĩ mô ổn định, các cân đối lớn của nền kinh tế cơ bản được bảo đảm; cán cân thương mại có thặng dư cao, xuất siêu 17 tỉ đô la Mỹ (USD), dự trữ ngoại hối tăng cao (khoảng 93 tỉ USD).

Ban Chấp hành Trung ương ghi nhận, biểu dương các tiểu ban Văn kiện (Báo cáo chính trị, Báo cáo kinh tế - xã hội, Báo cáo về xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng) và các cơ quan có liên quan đã khẩn trương, nghiêm túc cập nhật tình hình, nhất là tác động của đại dịch COVID-19; tổng hợp, phân tích, tiếp thu các ý kiến hợp lý, hoàn thiện thêm một bước dự thảo các văn kiện trình Trung ương tại Hội nghị lần này.

Trung ương cho rằng, các dự thảo mới được chuẩn bị rất công phu, bài bản, trí tuệ, dân chủ và cầu thị; quán triệt sâu sắc nguyên tắc kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý luận và thực tiễn, giữa kiên định và đổi mới, giữa kế thừa và phát triển; đã kế thừa, bổ sung phát triển đúng đắn đường lối đổi mới của Đảng ta trong 35 năm qua với nhiều nội dung đổi mới và điểm nhấn quan trọng.

Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII lần này đã phân tích, đánh giá, tạo sự thống nhất cao trong nhận định về những kết quả, thành tựu đã đạt được, những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân, bài học kinh nghiệm được rút ra từ tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, 10 năm thực hiện Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020.

Từ đó khẳng định, những thành tựu đã đạt được là sản phẩm kết tinh sức sáng tạo, là kết quả của cả một quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục qua nhiều nhiệm kỳ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; góp phần tạo nên những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của nước ta qua 35 năm đổi mới.

“Đây cũng là cơ sở đầy sức thuyết phục để chúng ta có thể tự hào khẳng định: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay. Đây là niềm tự hào, là động lực, nguồn lực quan trọng để chúng ta tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ và hiệu quả hơn vì một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh trong phát biểu bế mạc Hội nghị.

Cũng tại Hội nghị lần này, Trung ương đã thảo luận dân chủ, xem xét khách quan, công tâm, toàn diện về dự kiến danh sách nhân sự tái cử và nhân sự lần đầu được giới thiệu tham gia Ban Chấp hành Trung ương và Uỷ ban Kiểm tra Trung ương khoá XIII và các phương án lựa chọn; đồng thời phân tích, đánh giá, góp nhiều ý kiến sâu sắc, tâm huyết, bổ sung vào các báo cáo và phương án nhân sự.

Trung ương đã bỏ phiếu biểu quyết giới thiệu nhân sự Trung ương khoá XII tái cử và nhân sự mới lần đầu được dự kiến giới thiệu tham gia Ban Chấp hành Trung ương khoá XIII (cả Uỷ viên Trung ương chính thức và dự khuyết); đồng thời Trung ương cũng đã bỏ phiếu biểu quyết giới thiệu nhân sự Uỷ ban Kiểm tra Trung ương khoá XII tái cử khoá XIII và giới thiệu nhân sự mới lần đầu tham gia Uỷ ban Kiểm tra Trung ương khoá XIII. Kết quả rất tốt đẹp, thể hiện tinh thần trách nhiệm cao, thống nhất rất cao với đề xuất của Bộ Chính trị.

Cũng tại Hội nghị này, theo Quy chế làm việc, Ban Chấp hành Trung ương đã xem xét Tờ trình của Bộ Chính trị và đã ghi phiếu giới thiệu nhân sự trước khi Bộ Chính trị quyết định giới thiệu để Chính phủ trình Quốc hội xem xét, phê chuẩn việc bổ nhiệm các chức danh Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ trưởng Bộ Y tế.

Để có kết quả đó, kể từ sau Hội nghị Trung ương 12 (tháng 5/2020), Bộ Chính trị và Tiểu ban Nhân sự đã bám sát Phương hướng công tác nhân sự Đại hội XIII được Trung ương thông qua, chuẩn bị một cách công phu, khoa học, bài bản, kỹ lưỡng các báo cáo về công tác nhân sự Ban Chấp hành Trung ương khoá XIII. Các cấp uỷ, tổ chức đảng, các cơ quan, đơn vị trực thuộc Trung ương đã chuẩn bị chu đáo, kỹ lưỡng, có chất lượng nhân sự đại hội cấp mình, đồng thời tổ chức nghiêm túc với tinh thần trách nhiệm cao việc lấy phiếu giới thiệu nhân sự Ban Chấp hành Trung ương, cơ bản bảo đảm tiến độ, đúng quy trình, hướng dẫn của Tiểu ban Nhân sự.

Thành công của Hội nghị Trung ương 13 đã khẳng định, từ Trung ương tới cơ sở đã có công tác chuẩn bị công phu, nghiêm túc. Đặc biệt là Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các tiểu ban giúp việc Đại hội XIII của Đảng, cấp ủy các Đảng bộ trực thuộc Trung ương đã thể hiện rõ tầm nhìn, tư duy chiến lược, gắn kết chặt chẽ giữa lý luận với thực tiễn trong xác định những quan điểm, chủ trương, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp tiến hành các bước trong công tác chuẩn bị Đại hội XIII của Đảng. Các đại biểu bám sát phương hướng và Quy trình công tác nhân sự, thảo luận, cân nhắc, lựa chọn kỹ giới thiệu nhân sự Ban Chấp hành Trung ương và Ủy ban Kiểm tra Trung ương khóa XIII.

Hội nghị Trung ương 13 đã thể hiện rõ tinh thần dân chủ, đoàn kết, trí tuệ, trách nhiệm cao, gương mẫu của các đại biểu trong xây dựng nghị quyết hội nghị.

Thành công của Hội nghị là kết quả của quá trình chuẩn bị công phu, kỹ lưỡng, bài bản và khoa học cho các dự thảo trình Hội nghị. Đó là việc thực hiện nghiêm túc các quy định của Đảng về công tác nhân sự của cấp ủy các cấp, là sự đoàn kết, nhất trí trong Đảng. Hơn thế, đó là kết quả của sự đoàn kết, chung lòng của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta trong bối cảnh đất nước và thế giới đang chống chọi với dịch bệnh để có kết quả kinh tế tăng trưởng dương. Việc tổ chức thực hiện tốt Nghị quyết của Hội nghị Trung ương lần này sẽ góp phần tích cực vào việc hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2020 gắn với phòng, chống dịch bệnh, xây dựng và thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2021; tiếp tục hoàn thiện dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng; làm tốt công tác nhân sự Ban Chấp hành Trung ương khoá XIII, góp phần bảo đảm thành công Đại hội lần thứ XIII của Đảng./.

Hoa Hiền
Nguồn: ĐCSVN
FalseChính trị
Bài phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 13 của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú TrọngBài viếtAdminBài phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 13 của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng/Imagesnews/2020-10/tong-bi-thu-chu-tich-nuoc_Key_09102020195811.jpg

​(TUAG)- Ngày 9/10, tại Thủ đô Hà Nội, Hội nghị lần thứ 13, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã bế mạc, hoàn thành toàn bộ nội dung chương trình đề ra. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng có bài phát biểu quan trọng tại phiên bế mạc Hội nghị. Cổng Thông tin điện tử Đảng bộ tỉnh An Giang trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu:

09/10/2020 1:15 CHYesĐã ban hành

tong-bi-thu-chu-tich-nuoc.jpg

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng.

“Kính thưa Trung ương,

Thưa các đồng chí tham dự Hội nghị,

Sau gần 5 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, Hội nghị lần thứ 13 Ban Chấp hành Trung ương của chúng ta đã hoàn thành toàn bộ nội dung chương trình đề ra.

Các đồng chí Ủy viên Trung ương và các đồng chí tham dự Hội nghị đã thể hiện tinh thần trách nhiệm cao, thảo luận dân chủ, thẳng thắn, đóng góp nhiều ý kiến trí tuệ, xác đáng vào các báo cáo, đề án.

Không khí Hội nghị rất hồ hởi, vui vẻ, phấn chấn. Bộ Chính trị đã tiếp thu tối đa và giải trình những vấn đề còn có ý kiến khác nhau.

Ban Chấp hành Trung ương đã nhất trí cao thông qua Nghị quyết của Hội nghị.

Sau đây, để bế mạc Hội nghị, tôi xin được thay mặt Bộ Chính trị khái quát lại những kết quả chủ yếu đã đạt được và nhấn mạnh thêm một số vấn đề để thống nhất trong lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện Nghị quyết của Trung ương.

1. Về kinh tế-xã hội năm 2020-2021

Về tình hình phát triển kinh tế-xã hội năm 2020, Ban Chấp hành Trung ương thống nhất nhận định: Trong 9 tháng đầu năm, tình hình đại dịch COVID-19 trên thế giới nói chung và ở nước ta nói riêng diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường.

Kinh tế toàn cầu rơi vào tình trạng suy thoái nặng nề, tăng trưởng âm; thương mại thế giới sụt giảm nghiêm trọng; thị trường tài chính biến động bất thường, tiềm ẩn nhiều rủi ro.

Kinh tế-xã hội nước ta bị ảnh hưởng lớn, khó có thể hoàn thành được toàn bộ các mục tiêu, chỉ tiêu chủ yếu đã đề ra cho năm 2020 và 5 năm 2016-2020, mặc dù đã có 4 năm liên tiếp trước đó luôn hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch đề ra, năm sau tốt hơn năm trước.

Tuy nhiên, nhờ có sự nỗ lực phấn đấu, đóng góp to lớn, bền bỉ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, Việt Nam vẫn được bạn bè quốc tế đánh giá cao, được coi là điểm sáng về phòng, chống dịch bệnh và phát triển kinh tế-xã hội.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, toàn hệ thống chính trị và đồng bào, chiến sỹ cả nước đã vào cuộc đồng bộ, quyết liệt, đã cơ bản kiểm soát được dịch bệnh, từng bước khắc phục có hiệu quả thiệt hại do dịch bệnh gây ra, củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, đã và đang khẩn trương, nghiêm túc tiến hành đại hội đảng bộ các cấp và chuẩn bị tích cực để tiến tới Đại hội XIII của Đảng theo đúng kế hoạch đề ra.

Nhiều chủ trương, chính sách, biện pháp đúng đắn đã được ban hành kịp thời và tổ chức thực hiện tốt để duy trì ở mức cao nhất các hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo việc làm, thu nhập cho người lao động, hỗ trợ người dân và các doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh, bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội.

Kết quả là: Kinh tế vẫn tăng trưởng dương, đạt trên 2% trong 9 tháng đầu năm, dự kiến từ 2 đến 3% trong năm 2020 (được đánh giá là một trong số 16 nền kinh tế mới nổi thành công nhất trong bối cảnh đại dịch, kinh tế thế giới và nhiều nước lớn dự kiến tăng trưởng âm).

Kinh tế vĩ mô ổn định, các cân đối lớn của nền kinh tế cơ bản được bảo đảm; cán cân thương mại có thặng dư cao, xuất siêu 17 tỷ USD, dự trữ ngoại hối tăng cao (khoảng 93 tỷ USD).

Văn hóa, xã hội tiếp tục có tiến bộ; an sinh xã hội, phúc lợi xã hội và đời sống nhân dân được bảo đảm; công tác giảm nghèo, thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công, người có hoàn cảnh khó khăn; chăm sóc sức khỏe nhân dân được triển khai tích cực.

Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm tiếp tục được tập trung chỉ đạo quyết liệt, có hiệu quả.

Việc chuẩn bị văn kiện, nhân sự và tổ chức đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIII của Đảng được tiến hành rất tích cực, khẩn trương, đúng quy định và có đổi mới, chất lượng tốt.

Hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế trong bối cảnh đại dịch tiếp tục được duy trì, đạt nhiều kết quả quan trọng, góp phần nâng cao uy tín và vị thế của đất nước trên trường quốc tế.

Quốc phòng, an ninh được tăng cường; chủ quyền quốc gia, môi trường hoà bình, ổn định và thuận lợi cho phát triển đất nước được giữ vững. Nhờ đó, niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa không ngừng được củng cố, nâng cao.

Như vậy, năm 2020 cũng là năm thành công đối với nước ta với những kết quả, thành tích đặc biệt hơn so với các năm trước.

Bên cạnh những kết quả, thành tích rất đáng trân trọng, tự hào đã đạt được, kinh tế-xã hội nước ta vẫn đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức lớn.

Kinh tế tăng trưởng chậm lại, ở mức thấp nhất trong nhiều năm qua. Sản xuất kinh doanh bị suy giảm; nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn, thậm chí phải đóng cửa, tạm dừng hoạt động.

Việc làm, thu nhập của người lao động bị ảnh hưởng lớn. Việc bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế gặp nhiều khó khăn.

Hệ thống tài chính-ngân hàng, bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội đứng trước nhiều rủi ro, thách thức.

Việc triển khai thực hiện một số chính sách, biện pháp bảo đảm an sinh xã hội, hỗ trợ sản xuất kinh doanh chưa đạt được mục tiêu, yêu cầu đề ra.

Vì vậy, cần phải rà soát, đánh giá khách quan, toàn diện kết quả thực hiện và có phương án điều chỉnh phù hợp để bảo đảm các cân đối lớn, nhất là cân đối về ngân sách của năm 2020 sao cho khả thi, sát hợp nhất với thực tế tình hình từ đầu năm đến nay và dự báo 3 tháng cuối năm còn lại.

Về kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2021, Hội nghị nhất trí cho rằng đất nước ta bước vào năm 2021 với nhiều khó khăn, thách thức mới, nặng nề hơn so với 10 năm trước do tác động của đại dịch COVID-19 và suy thoái kinh tế toàn cầu.

Tuy nhiên, khác so với trước, những khó khăn, thách thức đó đã bộc lộ trước Đại hội Đảng, chúng ta đã sớm chủ động nhận diện, kịp thời đề ra và quyết liệt lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện đồng bộ các chủ trương, chính sách, biện pháp ứng phó phù hợp, có hiệu quả; rút ra được nhiều kinh nghiệm quý báu cho thời gian tới.

Trước mắt, cần tăng cường công tác phân tích, dự báo tình hình dịch bệnh và triển vọng kinh tế-xã hội thế giới cũng như trong nước từ nay đến hết năm 2020 và các năm 2021-2022; tiếp tục rà soát thật kỹ, xác định đúng các chỉ tiêu chủ yếu, các cân đối lớn của nền kinh tế, định hướng phát triển một số ngành, lĩnh vực quan trọng và những nhiệm vụ trọng tâm, những giải pháp có tính đột phá, khả thi cao.

Đặt kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2021 trong tổng thể kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2021-2025 và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Chú trọng đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng trên cơ sở ứng dụng các thành tựu khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo để nâng cao chất lượng tăng trưởng, phát triển bền vững, phát triển văn hóa-xã hội, xây dựng con người.

Kiểm soát lạm phát, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô và các cân đối lớn của nền kinh tế, đặc biệt là thực hành tiết kiệm, lành mạnh hoá và bảo đảm cân đối thu-chi ngân sách nhà nước, kiểm soát nợ xấu, bảo đảm an toàn của hệ thống các tổ chức tín dụng.

Trên cơ sở những kết quả, thành tích và bài học kinh nghiệm của năm 2020, tiếp tục đề cao cảnh giác, thực hiện tốt công tác phòng, chống dịch bệnh; đồng thời tập trung ưu tiên triển khai thực hiện các chính sách, biện pháp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, lấy lại đà tăng trưởng kinh tế gắn với tạo nền tảng để phát triển nhanh và bền vững.

Khẩn trương, nghiêm túc rà soát, hoàn thiện luật pháp, cơ chế, chính sách và nâng cao hiệu lực, hiệu quả tổ chức thực hiện để sớm khắc phục những hạn chế, yếu kém vốn có, tồn đọng từ lâu nhưng chậm được khắc phục của nền kinh tế; xử lý dứt điểm các công trình dự án thua lỗ, chậm tiến độ kéo dài; đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công; huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của mọi thành phần kinh tế và xã hội.

Hỗ trợ cho các ngành, lĩnh vực và doanh nghiệp, người lao động bị ảnh hưởng nặng bởi đại dịch COVID-19.

Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp và người dân phát triển sản xuất kinh doanh và thị trường trong nước, đẩy mạnh khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo.

Kiên quyết, chủ động, tích cực xử lý nợ xấu và các ngân hàng thương mại yếu kém, nâng cao độ an toàn, tin cậy của hệ thống các tổ chức tín dụng; đồng thời nâng cao năng lực quản trị, hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước...

2. Tiếp tục hoàn thiện dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng

Hội nghị đã tập trung thảo luận sôi nổi, sâu sắc, có nhiều ý kiến đóng góp cụ thể, xác đáng và thống nhất cao về các nội dung cần bổ sung, sửa đổi dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng.

Ban Chấp hành Trung ương ghi nhận, biểu dương các tiểu ban Văn kiện (Báo cáo chính trị, Báo cáo kinh tế-xã hội, Báo cáo về xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng) và các cơ quan có liên quan đã khẩn trương, nghiêm túc cập nhật tình hình, nhất là tác động của đại dịch COVID-19; tổng hợp, phân tích, tiếp thu các ý kiến hợp lý, hoàn thiện thêm một bước dự thảo các văn kiện trình Trung ương tại Hội nghị lần này.

Trung ương cho rằng các dự thảo mới được chuẩn bị rất công phu, bài bản, trí tuệ, dân chủ và cầu thị; quán triệt sâu sắc nguyên tắc kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý luận và thực tiễn, giữa kiên định và đổi mới, giữa kế thừa và phát triển; đã kế thừa, bổ sung phát triển đúng đắn đường lối đổi mới của Đảng ta trong 35 năm qua với nhiều nội dung đổi mới và điểm nhấn quan trọng.

Nổi bật là:

- Về nhận thức, dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII lần này đã phân tích, đánh giá, tạo sự thống nhất cao trong nhận định về những kết quả, thành tựu đã đạt được, những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân, bài học kinh nghiệm được rút ra từ tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, 10 năm thực hiện Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) và Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2011-2020.

Từ đó khẳng định những thành tựu đã đạt được là sản phẩm kết tinh sức sáng tạo, là kết quả của cả một quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục qua nhiều nhiệm kỳ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; góp phần tạo nên những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của nước ta qua 35 năm đổi mới.

Đây cũng là cơ sở đầy sức thuyết phục để chúng ta có thể tự hào khẳng định đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay. Đây là niềm tự hào, là động lực, nguồn lực quan trọng để chúng ta tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ và hiệu quả hơn vì một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

- Về tầm nhìn, dự thảo mới đã cập nhật kịp thời những diễn biến mới nhất của tình hình trong nước và thế giới, phân tích, dự báo có cơ sở khoa học về tình hình và xu hướng phát triển của thế giới và đất nước trong giai đoạn mới, tạo cơ sở cho việc xác định các mục tiêu phát triển mới trong 5 năm, 10 năm tới và tầm nhìn đến năm 2045.

Từ đó, đề ra mục tiêu tổng quát là: Nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp với sức mạnh thời đại; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hoà bình, ổn định; phấn đấu để đến giữa thế kỷ 21, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Hướng tới những dấu mốc phát triển quan trọng của đất nước ta, các mục tiêu cụ thể được xác định là:

+ Đến năm 2025: Là nước đang phát triển có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp.

+ Đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng: Là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao.

+ Đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập Nước: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao.

- Về quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, dự thảo Báo cáo chính trị lần này dành ra một mục riêng đề cập đến 5 quan điểm chỉ đạo, có bổ sung, làm rõ hơn một số nội dung quan trọng của các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo mà Đảng ta đã đề ra và từng bước hoàn thiện qua các kỳ Đại hội.

Đặc biệt là, đã nhấn mạnh không chỉ "kiên định và vận dụng" mà còn phải phát triển sáng tạo chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Phải coi phát triển kinh tế-xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội; bảo đảm quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên.

Khẳng định cần phải: "Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc..., khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của nền văn hoá, con người Việt Nam...; thu hút, trọng dụng nhân tài, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tạo động lực mới cho phát triển đất nước. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại...; phát huy cao độ nội lực, tranh thủ ngoại lực, trong đó nguồn lực nội sinh, nhất là nguồn lực con người là quan trọng nhất."

Không chỉ "Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng "mà còn phải"... xây dựng Nhà nước và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, gắn bó mật thiết với nhân dân là những nhân tố có ý nghĩa quyết định thành công của sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc."

- Về phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp, dự thảo lần này đã bám sát tình hình và xu hướng phát triển của đất nước và thế giới, đề ra 12 định hướng phát triển đất nước trong thời kỳ chiến lược 10 năm 2021-2030, sáu nhiệm vụ trọng tâm, ba đột phá chiến lược và các nhiệm vụ, giải pháp tiếp tục đổi mới, phát triển các ngành, lĩnh vực cụ thể với nhiều nội dung đổi mới quan trọng.

Đặc biệt là, để tiếp tục nắm vững và xử lý tốt các quan hệ lớn, dự thảo lần này đã điều chỉnh, xác định rõ, chuẩn xác hơn mối quan hệ giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa Nhà nước, thị trường và xã hội; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hoá, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường...

Đồng thời, bổ sung một mối quan hệ mới là giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội; và nhấn mạnh thêm: "Trong nhận thức và giải quyết các quan hệ lớn, cần chú trọng nhiều hơn đến bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; phát triển văn hoá, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường; bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; giữ vững độc lập, tự chủ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân."

Dự thảo khẳng định ba đột phá chiến lược do Đại hội lần thứ XI, XII của Đảng xác định có ý nghĩa, giá trị lâu dài, vẫn còn nguyên giá trị nhưng đã được bổ sung, cụ thể hóa cho phù hợp với giai đoạn phát triển mới như sau:

(1) Hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, trước hết là thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tập trung ưu tiên hoàn thiện đồng bộ, có chất lượng và tổ chức thực hiện tốt hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách nhằm tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, lành mạnh, công bằng; huy động, quản lý và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển, nhất là đất đai, tài chính; thực hiện phân cấp, phân quyền hợp lý, hiệu quả, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực.

(2) Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, ưu tiên nguồn nhân lực cho công tác lãnh đạo, quản lý và các lĩnh vực then chốt, trên cơ sở nâng cao, tạo bước chuyển biến cơ bản về chất lượng giáo dục, đào tạo; đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng và phát triển khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

(3) Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại cả về kinh tế và xã hội, ưu tiên phát triển một số công trình trọng điểm quốc gia về giao thông, thích ứng với biến đổi khí hậu, chú trọng phát triển hạ tầng thông tin, viễn thông, tạo nền tảng chuyển đổi số quốc gia, từng bước phát triển kinh tế số, xã hội số.

Ban Chấp hành Trung ương giao cho Bộ Chính trị chỉ đạo các Tiểu ban và các cơ quan có liên quan khẩn trương, nghiêm túc tiếp thu ý kiến của Trung ương hoàn thiện thêm một bước dự thảo các văn kiện để xin ý kiến của các đại biểu Quốc hội khóa XIV, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị-xã hội và nhân dân theo đúng tiến độ đã đề ra.

Sau đó, khẩn trương, nghiêm túc tổng hợp, tiếp thu, giải trình các ý kiến đóng góp của đại hội đảng bộ các cấp, các tổ chức nêu trên và nhân dân để tiếp tục hoàn thiện các dự thảo văn kiện trình Hội nghị Trung ương 14 sắp tới xem xét, cho ý kiến hoàn chỉnh các văn kiện và hoàn tất việc chuẩn bị các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng.

3. Chuẩn bị nhân sự Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII

Ban Chấp hành Trung ương đánh giá cao Bộ Chính trị và Tiểu ban Nhân sự, kể từ sau Hội nghị Trung ương 12 (tháng 5/2020) đã bám sát Phương hướng công tác nhân sự Đại hội XIII được Trung ương thông qua, chuẩn bị một cách công phu, khoa học, bài bản, kỹ lưỡng các báo cáo về công tác nhân sự Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII.

Trung ương cũng biểu dương các cấp uỷ, tổ chức đảng, các cơ quan, đơn vị trực thuộc Trung ương đã chuẩn bị chu đáo, kỹ lưỡng, có chất lượng nhân sự đại hội cấp mình, đồng thời tổ chức nghiêm túc với tinh thần trách nhiệm cao việc lấy phiếu giới thiệu nhân sự Ban Chấp hành Trung ương, cơ bản bảo đảm tiến độ, đúng quy trình, hướng dẫn của Tiểu ban Nhân sự.

Trên cơ sở Phương hướng và quy trình công tác nhân sự, kết quả giới thiệu nhân sự, Trung ương đã thảo luận dân chủ, xem xét khách quan, công tâm, toàn diện về dự kiến danh sách nhân sự tái cử và nhân sự lần đầu được giới thiệu tham gia Ban Chấp hành Trung ương và Ủy ban Kiểm tra Trung ương khóa XIII và các phương án lựa chọn; đồng thời phân tích, đánh giá, góp nhiều ý kiến sâu sắc, tâm huyết, bổ sung vào các báo cáo và phương án nhân sự.

Theo Chương trình làm việc của Hội nghị, Trung ương đã bỏ phiếu biểu quyết giới thiệu nhân sự Trung ương khóa XII tái cử và nhân sự mới lần đầu được dự kiến giới thiệu tham gia Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII (cả Ủy viên Trung ương chính thức và dự khuyết); đồng thời Trung ương cũng đã bỏ phiếu biểu quyết giới thiệu nhân sự Ủy ban Kiểm tra Trung ương khóa XII tái cử khóa XIII và giới thiệu nhân sự mới lần đầu tham gia Ủy ban Kiểm tra Trung ương khóa XIII.

Kết quả rất tốt đẹp, thể hiện tinh thần trách nhiệm cao, thống nhất rất cao với đề xuất của Bộ Chính trị.

Ban Chấp hành Trung ương giao cho Bộ Chính trị và Tiểu ban Nhân sự căn cứ Nghị quyết của Hội nghị, Báo cáo kết quả giới thiệu nhân sự Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII và các ý kiến đóng góp của Trung ương, tiếp tục xem xét, rà soát thật kỹ, bổ sung, hoàn chỉnh các phương án nhân sự theo đúng quy trình công tác nhân sự đã đề ra để báo cáo Trung ương xem xét, quyết định thông qua tại các hội nghị Trung ương tiếp theo trước khi trình Đại hội XIII của Đảng.

4. Một số vấn đề quan trọng khác

Ban Chấp hành Trung ương đã xem xét cho ý kiến đối với Báo cáo của Bộ Chính trị về các công việc quan trọng Bộ Chính trị đã giải quyết từ sau Hội nghị lần thứ 12 đến Hội nghị lần thứ 13 Ban Chấp hành Trung ương khoá XII và Báo cáo công tác tài chính đảng năm 2019.

Hội nghị giao Bộ Chính trị tiếp thu các ý kiến góp ý của Trung ương để có các giải pháp đồng bộ, mạnh mẽ và hiệu quả hơn trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư trong thời gian tới.

Cũng tại Hội nghị này, theo Quy chế làm việc, Ban Chấp hành Trung ương đã xem xét Tờ trình của Bộ Chính trị và đã ghi phiếu giới thiệu nhân sự trước khi Bộ Chính trị quyết định giới thiệu để Chính phủ trình Quốc hội xem xét, phê chuẩn việc bổ nhiệm các chức danh Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ trưởng Bộ Y tế.

Thưa các đồng chí,

Hội nghị của chúng ta đã thành công tốt đẹp. Với những nội dung chủ yếu vừa nêu trên đây, tổ chức thực hiện tốt Nghị quyết của Hội nghị Trung ương lần này sẽ góp phần tích cực vào việc hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội năm 2020 gắn với phòng, chống dịch bệnh, xây dựng và thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2021; tiếp tục hoàn thiện dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng; làm tốt công tác nhân sự Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII, góp phần bảo đảm thành công Đại hội lần thứ XIII của Đảng.

Mỗi đồng chí Uỷ viên Trung ương cần nêu cao hơn nữa tinh thần trách nhiệm, gương mẫu đi đầu thực hiện và lãnh đạo tổ chức thực hiện thật tốt Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, các nghị quyết của Trung ương và đặc biệt là Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần này.

Với tinh thần đó, tôi xin tuyên bố bế mạc Hội nghị lần thứ 13 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII. Chúc các đồng chí mạnh khỏe, hoàn thành tốt trọng trách trước Đảng, trước nhân dân và đất nước.

Xin trân trọng cảm ơn”./.

True
Công tác nhân sự Ban Chấp hành Trung ương là công việc vô cùng hệ trọng (*) Bài viếtĐảng Cộng sản VNCông tác nhân sự Ban Chấp hành Trung ương là công việc vô cùng hệ trọng (*) /Imagesnews/2020-10/tbt-NPT_Key_07102020112132.jpg

(ĐCSVN) - Sáng 5/10, tại Trụ sở Trung ương Đảng đã diễn ra phiên khai mạc Hội nghị lần thứ 13 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII. Đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã phát biểu khai mạc Hội nghị. Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu:

07/10/2020 8:00 SANoĐã ban hành

tbt-NPT.jpg

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng phát biểu khai mạc Hội nghị - Ảnh: Phạm Cường  


Thưa các đồng chí Trung ương,

Thưa các đồng chí tham dự Hội nghị,

Theo Chương trình vừa được Trung ương thông qua, Hội nghị lần thứ 13 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII bắt đầu từ hôm nay sẽ bàn về: Tình hình kinh tế - xã hội năm 2020, Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2021; tiếp tục hoàn thiện các dự thảo văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng; công tác nhân sự Ban Chấp hành Trung ương khoá XIII; và một số vấn đề quan trọng khác.

Thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, tôi xin nhiệt liệt chào mừng các đồng chí Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương, các đại biểu tham dự Hội nghị; và xin gửi tới các đồng chí lời chúc tốt đẹp nhất.

Sau đây, tôi xin phát biểu một số ý kiến có tính chất nêu vấn đề,  gợi mở, mong được các đồng chí quan tâm trong quá trình thảo luận, xem xét, quyết định.

1. Về tình hình kinh tế - xã hội năm 2020 - 2021

Theo chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Cán sự Đảng Chính phủ đã chuẩn bị để trình Trung ương các báo cáo về tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước 9 tháng đầu năm và dự báo cả năm 2020; dự kiến Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước năm 2021 và Kế hoạch tài chính - ngân sách nhà nước 3 năm 2021 - 2023. Việc Trung ương xem xét, cho ý kiến chỉ đạo về các vấn đề liên quan đến phát triển kinh tế - xã hội, thu, chi ngân sách nhà nước lần này được đặt trong bối cảnh, tình hình thế giới, trong nước có nhiều biến động lớn, đột xuất, hết sức nhanh chóng, phức tạp, chưa thể dự báo hết được khi xây dựng kế hoạch phát triển năm. Sự bùng phát, lây lan chưa rõ hồi kết của đại dịch COVID -19 đã và đang làm trầm trọng thêm xu hướng suy thoái, khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã được cảnh báo từ trước, có thể dẫn tới cuộc khủng hoảng trầm trọng nhất kể từ sau đại khủng hoảng 1929 - 1933 đến nay; ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế đã hội nhập sâu rộng của nước ta. Trong khi đó, năm 2020 có ý nghĩa hết sức quan trọng, là năm cuối của Kế hoạch 5 năm 2016 - 2020 và năm 2021 là năm mở đầu Kế hoạch 5 năm 2021 - 2025, Chiến lược 10 năm 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Việc đánh giá đúng thực trạng tình hình kinh tế - xã hội đất nước từ đầu năm đến nay và dự báo cả năm 2020 sẽ là cơ sở quan trọng để tiếp tục cập nhật, đánh giá khách quan, toàn diện và tạo sự thống nhất cao trong toàn Đảng, toàn dân về kết quả thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội do Đại hội XII của Đảng và các nghị quyết Trung ương đã đề ra; làm cơ sở cho việc xây dựng và triển khai thực hiện thắng lợi Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2021; tạo đà và góp phần quan trọng bước đầu cho việc hoàn thành thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025 và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030.

Vì vậy, đề nghị Trung ương dành thời gian nghiên cứu, thảo luận, đánh giá khách quan, toàn diện tình hình kinh tế - xã hội nước ta từ đầu năm đến nay và dự báo cả năm 2020; chỉ rõ những kết quả, thành tích đã đạt được, những hạn chế, yếu kém còn tồn tại, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm. Tập trung phân tích sâu, đánh giá đúng, tạo sự thống nhất cao trong nhận định về tác động tiêu cực của đại dịch COVID-19, sự suy thoái kinh tế toàn cầu và những biến động lớn của thị trường thế giới đối với việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội đã đề ra; sự cần thiết, tính đúng đắn của các chính sách, biện pháp mà chúng ta đã áp dụng để phòng, chống dịch, khắc phục hậu quả do đại dịch và hạn hán, thiên tai gây ra nhằm duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, thu nhập cho người lao động, bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội, hạn chế tối đa sự suy giảm và từng bước phục hồi đà tăng trưởng, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, nâng cao chất lượng tăng trưởng, tính bền vững trong phát triển kinh tế - xã hội; bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội; giữ vững ổn định chính trị, môi trường hoà bình, thuận lợi để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Chú ý phân tích, đánh giá một cách khách quan, toàn diện, sâu sắc các nguyên nhân và bài học kinh nghiệm thành công cũng như chưa thành công trong việc lãnh đạo, chỉ đạo phòng, chống dịch bệnh và phát triển kinh tế - xã hội trong tình hình mới. Ví dụ như, về thành công, phải chăng đó là do có sự lãnh đạo nhạy bén, kịp thời của các cấp uỷ đảng; sự chỉ đạo, điều hành đúng đắn, quyết liệt của Chính phủ, các ban, bộ, ngành Trung ương và chính quyền các địa phương; sự phối hợp, ủng hộ mạnh mẽ của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp; đặc biệt là sự vào cuộc đồng bộ với quyết tâm cao của toàn hệ thống chính trị và sự nỗ lực phấn đấu, tham gia, ủng hộ tích cực với tinh thần trách nhiệm, đoàn kết, tương thân tương ái rất cao của toàn dân, toàn quân ta.

Nghiên cứu, phân tích kỹ lưỡng, dự báo có cơ sở khoa học về tình hình những tháng cuối năm 2020 và các năm 2021, 2022, đặc biệt là xu hướng biến động của dịch bệnh và diễn biến tình hình thế giới và trong nước trên tất cả các lĩnh vực. Trên cơ sở đó, đánh giá đúng kết quả thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu chủ yếu năm 2020 để có các phương án bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế sát hợp với thực tế; thống nhất nhận định, đánh giá về tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020, thấy hết những kết quả, thành tích mà toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã nỗ lực phấn đấu đạt được và những khó khăn, thách thức cần phải vượt qua. Đồng thời, đề ra mục tiêu tổng quát, một số mục tiêu, chỉ tiêu chủ yếu và những nhiệm vụ, giải pháp quan trọng cần tập trung ưu tiên lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế - xã hội năm 2021 và các năm tiếp theo. Dự báo hết các tình huống để chuẩn bị các phương án đối phó phù hợp, kể cả trong tình huống xấu nhất.

HN-13-bchtw.jpg

Các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng tham dự Hội nghị . (Ảnh: Phạm Cường )

2. Về tiếp tục hoàn thiện dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng

Sau Hội nghị Trung ương 11 (tháng 10/2019), Bộ Chính trị đã chỉ đạo các Tiểu ban khẩn trương, nghiêm túc tiếp thu ý kiến của Trung ương, tiếp tục hoàn chỉnh dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng gửi đại hội Đảng bộ cấp cơ sở (Bản tóm tắt) vào tháng 02/2020 và gửi đại hội cấp huyện, cấp tỉnh và tương đương (Bản toàn văn) vào tháng 4/2020 để đóng góp ý kiến theo đúng kế hoạch đề ra.

Theo như các kỳ đại hội trước, dự thảo các văn kiện đã in gửi tháng 4 vừa qua có thể được sử dụng để công bố, gửi xin ý kiến các đại biểu Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân vào khoảng giữa tháng 10 tới. Sau đó, các Tiểu ban mới tổng hợp và tiếp thu ý kiến của đại hội Đảng bộ các cấp và các tổ chức, cá nhân để hoàn thiện, trình Bộ Chính trị và Trung ương xem xét hoàn chỉnh các văn kiện và hoàn tất việc chuẩn bị các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng.

Tuy nhiên, như đã nêu trên, bước sang năm 2020, đại dịch COVID-19 và suy thoái kinh tế toàn cầu đã bất ngờ xảy ra, diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường, tác động lớn đến kinh tế - xã hội nước ta, đòi hỏi phải cập nhật, phân tích, đánh giá lại tình hình, điều chỉnh bổ sung một số mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp sao cho phù hợp hơn với thực tế. Vì vậy, thời gian qua Bộ Chính trị đã chỉ đạo các Tiểu ban khẩn trương nghiên cứu cập nhật tình hình mới và tiếp thu các ý kiến, đóng góp xác đáng, bước đầu thu nhận được từ đại hội Đảng bộ cấp cơ sở và trên cơ sở, một số tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên để tiếp tục hoàn thiện thêm một bước dự thảo các văn kiện trình Hội nghị Trung ương lần này xem xét, cho ý kiến chỉ đạo.

Đề nghị các đồng chí dành thời gian nghiên cứu, thảo luận kỹ lưỡng, góp ý cụ thể vào các dự thảo mới và Tờ trình, nhất là những vấn đề còn có ý kiến khác nhau; chú ý đến những nội dung bổ sung, sửa đổi so với bản dự thảo đã gửi, đặc biệt là các vấn đề nêu trong các tờ trình; bảo đảm sự phù hợp, nhất quán về nội dung, trước hết là những nội dung mới được bổ sung, điều chỉnh lần này giữa các văn kiện theo đúng nguyên tắc: Báo cáo chính trị là báo cáo trung tâm; các báo cáo khác là báo cáo chuyên đề, chuyên sâu, phải đồng bộ, thống nhất.

Đối với dự thảo Báo cáo chính trị, cần chú ý các vấn đề cần bổ sung, hoàn thiện như: Kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội XII; dự báo tình hình, nhất là tình hình các năm đầu của nhiệm kỳ khoá XIII; quan điểm chỉ đạo; mục tiêu phát triển; các đột phá chiến lược; định hướng nhiệm vụ, giải pháp phát triển các lĩnh vực...

Liên quan đến Báo cáo kinh tế - xã hội (bao gồm Báo cáo tổng kết thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2011 - 2020, xây dựng Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030 và Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020, phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025), cần tập trung phân tích, đánh giá tình hình phát triển kinh tế - xã hội 9 tháng đầu năm, dự báo đến hết năm 2020 và các năm 2021 - 2022; cập nhật điều chỉnh các mục tiêu, chỉ tiêu và các chính sách, biện pháp chủ yếu, bảo đảm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Đối với Báo cáo xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng, cần chú ý xem xét các kiến nghị, đề xuất xác đáng của đại hội Đảng bộ các cấp, các tổ chức, cá nhân đã được tổng hợp để rà soát, bổ sung, điều chỉnh sao cho phù hợp, nhất là những nội dung mới được bổ sung, điều chỉnh trong dự thảo Báo cáo chính trị.

Từ đó, đề nghị Trung ương xem xét thông qua nội dung dự thảo Báo cáo chính trị, Báo cáo kinh tế - xã hội và Báo cáo xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng trình Đại hội XIII của Đảng để gửi xin ý kiến các đại biểu Quốc hội khoá XIV, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân, dự kiến vào trung tuần tháng 10 này.

3. Về công tác nhân sự Ban Chấp hành Trung ương khoá XIII

Như các đồng chí đã biết, từ cuối tháng 12/2018 đến tháng 9/2020, để chuẩn bị nguồn nhân sự cho Ban Chấp hành Trung ương khoá XIII, sau khi Ban Chấp hành Trung ương cho ý kiến, trên cơ sở đề xuất của Tiểu ban Nhân sự, Bộ Chính trị đã 4 lần phê duyệt nhân sự quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương khoá XIII với tổng số 227 đồng chí. Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã chỉ đạo mở 5 lớp bồi dưỡng kiến thức mới cho các đồng chí được quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương khoá XIII. Tháng 7/2020, thay mặt Bộ Chính trị, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã gửi thư đến các đồng chí Uỷ viên Trung ương khoá XII, đề nghị từng đồng chí đề xuất ý kiến về cá nhân mình và giới thiệu nhân sự đủ tiêu chuẩn, điều kiện để thay thế mình.

Trên cơ sở đề xuất của Tiểu ban Nhân sự, Bộ Chính trị đã họp thông qua cơ cấu và nguồn nhân sự để giới thiệu tham gia Ban Chấp hành Trung ương khoá XIII. Căn cứ quyết định của Bộ Chính trị, Tiểu ban Nhân sự đã thông báo cho các địa phương, cơ quan, đơn vị tổ chức việc giới thiệu nhân sự. Tính đến ngày 20/8/2020, đã có 116/116 địa phương, cơ quan, đơn vị giới thiệu 119 đồng chí Uỷ viên Trung ương khoá XII (cả chính thức và dự khuyết) tái cử Ban Chấp hành Trung ương khoá XIII; 107 đồng chí lần đầu tham gia Uỷ viên chính thức và 44 đồng chí tham gia Uỷ viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương khoá XIII.

Nhìn chung, việc tổ chức lấy phiếu giới thiệu nhân sự Ban Chấp hành Trung ương đã được các cấp uỷ, tổ chức đảng thực hiện nghiêm túc, cơ bản bảo đảm tiến độ, đúng quy trình, hướng dẫn của Tiểu ban Nhân sự. Tiểu ban Nhân sự đã chỉ đạo 10 cơ quan chức năng và địa phương liên quan (Ban Tổ chức Trung ương, Uỷ ban Kiểm tra Trung ương, Ban Nội chính Trung ương, Tiểu ban Bảo vệ chính trị nội bộ Trung ương, Đảng uỷ Công an Trung ương, Đảng uỷ Khối các cơ quan Trung ương, Ban cán sự đảng Thanh tra Chính phủ, Ban cán sự đảng Kiểm toán Nhà nước, Ban Thường vụ Thành uỷ Hà Nội và Ban Thường vụ Thành uỷ Thành phố Hồ Chí Minh) tiến hành thẩm định, kiểm tra, rà soát tiêu chuẩn, điều kiện đối với các nhân sự đã được giới thiệu (bao gồm nhân sự tái cử và nhân sự tham gia lần đầu).

Trên cơ sở Phương hướng và Quy trình công tác nhân sự đã được Trung ương thông qua, Tiểu ban Nhân sự và Bộ Chính trị đã họp nhiều lần, xem xét một cách khách quan, công tâm, toàn diện, thảo luận kỹ lưỡng dự kiến danh sách giới thiệu ứng cử Uỷ viên Trung ương Đảng khoá XIII (bao gồm danh sách tái cử và danh sách tham gia lần đầu). Bộ Chính trị trình Trung ương kết quả giới thiệu nhân sự của các cấp uỷ, tổ chức đảng, các cơ quan, đơn vị trực thuộc Trung ương và ý kiến của Bộ Chính trị về các nhân sự được giới thiệu. Đồng thời, tại Hội nghị này, Bộ Chính trị báo cáo Ban Chấp hành Trung ương về nhân sự tham gia Uỷ ban Kiểm tra Trung ương khoá XIII (bao gồm danh sách tái cử và danh sách tham gia lần đầu).

Việc lựa chọn, giới thiệu nhân sự tham gia Ban Chấp hành Trung ương khoá XIII phải bám sát Phương hướng công tác nhân sự Đại hội XIII, bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Ban Chấp hành Trung ương trên các địa bàn, lĩnh vực công tác có cơ cấu Uỷ viên Trung ương khoá XIII; đáp ứng yêu cầu lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của Trung ương và địa phương, nhất là ở những lĩnh vực trọng yếu, địa bàn phức tạp, trọng điểm; đồng thời, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ cấp cao của Đảng trước mắt cũng như lâu dài. Khi xem xét, lựa chọn, giới thiệu nhân sự phải căn cứ vào tiêu chuẩn, điều kiện, cơ cấu, số lượng; phẩm chất, năng lực, uy tín của cán bộ là chính nhưng cũng cần quan tâm, chú ý đến cơ cấu hợp lý, cân đối giữa các địa bàn, lĩnh vực công tác và các khối; giữa Trung ương và địa phương; cơ cấu cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số và yếu tố vùng miền hợp lý... Tuy nhiên, không vì cơ cấu, số lượng mà hạ thấp tiêu chuẩn. Bảo đảm dân chủ, công bằng, công tâm, khách quan, minh bạch; kiên quyết chống các biểu hiện tiêu cực trong quá trình thực hiện công tác nhân sự, gây dư luận không tốt trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Chúng ta đều đã biết, công tác nhân sự Ban Chấp hành Trung ương là công việc vô cùng hệ trọng. Vì vậy, đề nghị các đồng chí nêu cao tinh thần trách nhiệm, bám sát Phương hướng và Quy trình công tác nhân sự, nghiên cứu kỹ danh sách giới thiệu nhân sự Ban Chấp hành Trung ương và Uỷ ban Kiểm tra Trung ương khoá XIII để thảo luận, cân nhắc, lựa chọn kỹ trước khi ghi phiếu biểu quyết. Căn cứ vào kết quả Hội nghị Trung ương lần này cũng như ý kiến góp ý của Trung ương, Bộ Chính trị sẽ chỉ đạo việc tiếp tục chuẩn bị, xem xét, bổ sung hoàn thiện các phương án về nhân sự, bảo đảm đủ về số lượng, đúng về tiêu chuẩn, chất lượng và hoàn chỉnh các hồ sơ để báo cáo Trung ương xem xét, quyết định thông qua trước khi trình Đại hội XIII của Đảng.

Thưa các đồng chí,

Hội nghị của chúng ta diễn ra trong bối cảnh nhiệm kỳ Đại hội khoá XII sắp kết thúc, các tổ chức đảng đã hoàn thành đại hội cấp cơ sở và trên cơ sở, đã và đang tiến hành đại hội các Đảng bộ trực thuộc Trung ương, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; cả nước đang phát huy những kết quả quan trọng đã đạt được, vừa tiếp tục kiên trì, kiên quyết thực hiện có hiệu quả mục tiêu kiểm soát đại dịch vừa tập trung phát triển kinh tế - xã hội, nỗ lực phấn đấu hoàn thành ở mức cao nhất Nghị quyết Đại hội XII của Đảng và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2020 và 5 năm 2016 - 2020.

Nội dung chương trình Hội nghị Trung ương lần này bao gồm những vấn đề rất cơ bản và hệ trọng. Đề nghị các đồng chí Trung ương dành thời gian tập trung nghiên cứu, thảo luận, cho ý kiến để tiếp tục hoàn thiện và xem xét, quyết định vào cuối kỳ họp.

Với tinh thần đó, tôi xin tuyên bố khai mạc Hội nghị lần thứ 13 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII.

Chúc Hội nghị của chúng ta thành công tốt đẹp.

Xin trân trọng cảm ơn.

______________________
* Đầu đề là do Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam đặt

FalseChính trị
Sự kiện chính trị trọng đại, đánh dấu bước phát triển mới của địa phương, đất nướcBài viếtSự kiện chính trị trọng đại, đánh dấu bước phát triển mới của địa phương, đất nước/Imagesnews/2020-09/Chao-mung-dai-hoi-tinh_Key_20092020110344.jpg

(TUAG)- Cùng với cả nước, An Giang đã và đang chuẩn bị thật tốt để tiến hành đại hội đảng bộ trực thuộc Trung ương tiến tới Đại hội XIII của Đảng. Đại hội là một sự kiện trọng đại, có ý nghĩa lịch sử, đánh dấu bước phát triển mới của địa phương, đất nước.

20/09/2020 12:00 CHYesĐã ban hành

Co-dang.jpg

Đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu lần thứ XIII của Đảng diễn ra trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực có những diễn biến rất nhanh, phức tạp, khó dự báo; đất nước nói chung và tỉnh ta nói riêng đứng trước nhiều thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức với rất nhiều vấn đề mới đặt ra; cán bộ, đảng viên và nhân dân ta đặt kỳ vọng vào những quyết sách đúng đắn, mạnh mẽ, sáng suốt của Đảng.

Ở An Giang, đến nay công tác chuẩn bị Đại hội Đảng bộ tỉnh đã cơ bản hoàn tất.

Doanh-nghiep.jpg

Đại hội Đảng bộ cơ sở trực thuộc Tỉnh ủy và các huyện, thị, thành ủy thành công tốt đẹp

Làm việc với Ban Thường vụ Tỉnh ủy An Giang về công tác chuẩn bị, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trần Quốc Vượng đánh giá cao những nỗ lực, kết quả của Đảng bộ tỉnh An Giang đạt được trong nhiệm kỳ qua. Đồng tình với những nội dung được thể hiện trong dự thảo các văn kiện của tỉnh, đồng chí Trần Quốc Vượng khẳng định An Giang đã đủ điều kiện để tổ chức Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XI (nhiệm kỳ 2020 - 2025). Đồng thời đề nghị tỉnh tiếp tục khai thác, phát huy tốt tiềm năng, lợi thế của tỉnh để phát triển trong giai đoạn tiếp theo. Trong đó, tiếp tục xác định nông nghiệp là bệ đỡ của nền kinh tế; quan tâm đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn, nhất là thực hiện hiệu quả chương trình xây dựng nông thôn mới. Tăng cường đầu tư phát triển lĩnh vực thương mại - du lịch - dịch vụ; đảm bảo quốc phòng-an ninh... Đồng thời, tiếp tục quan tâm, thực hiện tốt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; chăm lo thật tốt đời sống nhân dân; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, xây dựng quê hương Bác Tôn phát triển giàu đẹp.

Để chuẩn bị tốt cho Đại hội lần thứ XI, toàn Đảng bộ, toàn quân và toàn dân trong tỉnh đã và đang ra sức nâng cao ý thức trách nhiệm trong thực hiện "nhiệm vụ kép", vừa phòng, chống dịch, vừa phát triển kinh tế; thi đua yêu nước, lập thành tích chào mừng Đại hội.

Đoàn đại biểu tỉnh dự Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ X.

Lực lượng công an toàn tỉnh cũng đang ra sức hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, xây dựng Đảng, xây dựng lực lượng Công an tỉnh trong sạch, vững mạnh; thực hiện tốt vai trò nòng cốt trong công tác bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội. Trong công tác luôn nắm chắc tình hình, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, ý đồ phá hoại của các thế lực thù địch; công tác đảm bảo trật tự xã hội đã tập trung mở các cao điểm, đấu tranh quyết liệt, không khoan nhượng với các loại tội phạm và tệ nạn xã hội nên tình hình tội phạm, tệ nạn xã hội được kiềm chế. Công tác xây dựng Đảng, xây dựng lực lượng được tăng cường; tiếp tục triển khai, mở các cao điểm tấn công, trấn áp các loại tội phạm, trước mắt là đảm bảo tuyệt đối an toàn Đại hội tỉnh Đảng bộ An Giang lần thứ XI (nhiệm kỳ 2020 - 2025) tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII.

Chuẩn bị tiến hành đại hội các đảng bộ trực thuộc Trung ương tiến tới Đại hội XIII của Đảng, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Trưởng Tiểu ban Văn kiện Đại hội XIII của Đảng Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: Các cấp ủy và các đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng phải đề cao hơn nữa trách nhiệm trước Đảng, trước Nhân dân, phấn đấu hoàn thành thắng lợi các mục tiêu mà Nghị quyết Đại hội XII và nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2015 - 2020 đã đề ra. Trong thời khắc quan trọng này, chúng ta hãy khắc sâu lời dạy của Bác Hồ kính yêu: "Đại hội Đảng rất quan hệ với tương lai cách mạng của Đảng ta và của Nhân dân ta. Đại hội sẽ làm cho Đảng ta đã đoàn kết càng đoàn kết hơn nữa, tư tưởng và hành động đã nhất trí, càng nhất trí hơn nữa". Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta hãy đồng tâm nhất trí, chung sức đồng lòng, chuẩn bị và tiến hành thật tốt Đại hội XIII của Đảng, đưa đất nước bước vào một giai đoạn phát triển mới vì mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh", thực hiện thành công tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và ước vọng của toàn dân tộc.

Quán triệt theo tinh thần đó, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiếp tục đoàn kết, thể hiện bản lĩnh, trí tuệ, đổi mới, sáng tạo quyết tâm nỗ lực vượt qua khó khăn, thách thức, thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm; đưa tỉnh tiếp tục phát triển nhanh, phù hợp với thực tiễn, với yêu cầu đổi mới, hội nhập và phát triển toàn diện./.

Thiện Tâm

True
Dấu ấn Xô viết Nghệ - Tĩnh trên hành trình đấu tranh vì độc lập, tự doBài viếtTGTWDấu ấn Xô viết Nghệ - Tĩnh trên hành trình đấu tranh vì độc lập, tự do/Imagesnews/2020-09/Xo-viet-nghe-tinh_Key_10092020083057.jpg

Xô viết  Nghệ - Tĩnh là đỉnh cao của cao trào cách mạng 1930-1931, một sự kiện lịch sử trọng đại của cách mạng Việt Nam; khẳng định mối liên minh giữa giai cấp công nhân và nông dân Việt Nam trong tiến trình đấu tranh cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. 90 năm sau, ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm của Xô viết  Nghệ - Tĩnh vẫn vẹn nguyên giá trị thời sự.

10/09/2020 7:00 SANoĐã ban hành

Trong giai đoạn 1929-1933, cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới từ các nước tư bản, trong đó có Pháp đã lan nhanh sang các nước thuộc địa và phụ thuộc. Dù ở Pháp, cuộc khủng hoảng kinh tế nổ ra muộn hơn so với một số nước tư bản khác, song trước ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế, giới cầm quyền nước này đã thi hành nhiều chính sách nhằm cứu vãn quyền lợi cho giai cấp tư sản Pháp và tay sai bản xứ. 

TINH THẦN QUẬT KHỞI CỦA XÔ VIẾT NGHỆ - TĨNH  

Những chính sách mà Pháp thi hành ở Đông Dương tác động xấu đến tình hình kinh tế - xã hội, làm cho nền kinh tế Đông Dương vốn phụ thuộc nặng nề vào nền kinh tế Pháp đã nhanh chóng suy thoái: kinh tế điêu đứng, nông nghiệp nghèo nàn, công nghiệp suy sụp, xuất và nhập khẩu đình đốn, hàng hóa khan hiếm, giá cả leo thang; đồng thời, cũng làm cho tình hình chính trị ngột ngạt, đời sống của nhân dân Đông Dương sa sút nghiêm trọng, nhất là giai cấp công nhân và nông dân…

Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng, ở Việt Nam, từ thành thị cho tới nông thôn, tình trạng thất nghiệp, đói kém ngày càng trầm trọng. Tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội đã làm cho những mâu thuẫn vốn có trong xã hội bộc lộ sâu sắc hơn, gay gắt hơn, nhất là mâu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp và mâu thuẫn giữa giai cấp nông dân với giai cấp địa chủ phong kiến. Trước tình hình đó, bất chấp việc đàn áp, khủng bố dã man của thực dân Pháp, phong trào cách mạng của các tầng lớp nhân dân ngày càng sục sôi. “Sự áp bức bóc lột vô nhân đạo của đế quốc Pháp đã làm cho đồng bào ta hiểu rằng có cách mạng thì sống, không có cách mạng thì chết. Chính vì vậy, phong trào cách mạng ngày càng lớn mạnh: công nhân bãi công, học sinh bãi khóa, nông dân đòi ruộng đất, nhà buôn nhỏ đóng cửa hàng, nhân dân cả nước đang vùng lên chống bọn đế quốc”(1).

Đầu năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã thông qua Cương lĩnh chính trị đầu tiên; trong đó khẳng định “chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”(2). Đường lối cách mạng đúng đắn của Đảng đáp ứng nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân; vai trò và sức ảnh hưởng của Đảng ngày càng lan rộng trong quần chúng. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, phong trào đấu tranh ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam ngày càng phát triển. Cùng với phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân trong các hầm mỏ, nhà máy, xí nghiệp, nhiều cuộc đấu tranh của giai cấp nông dân cũng diễn ra ở nhiều nơi, với các hình thức như đòi chia ruộng đất công của làng xã, đòi lại các khoản bị hào lý tham nhũng… và rầm rộ nhất là từ Ngày Quốc tế Lao động 1/5. 

Cụ thể, ở Nghệ An, công nhân và nông dân thành phố Vinh biểu tình lớn. Cùng với đó, nông dân các làng Yên Dũng, Lộc Đa, Đức Thịnh, Tân Hợp cũng biểu tình kéo vào thành phố phối hợp với công nhân các nhà máy đấu tranh đòi tăng lương, giảm giờ làm, giảm thuế, phản đối chính sách khủng bố của chính quyền thuộc địa… Ở Hà Tĩnh, trong ngày 1/5, cờ đỏ được treo trước cửa Tòa sứ thị xã Hà Tĩnh, trên nóc nhà thờ huyện Nghi Xuân; nhiều truyền đơn của Đảng xuất hiện ở huyện Đức Thọ, Can Lộc, Cẩm Xuyên; nhiều cuộc mít tinh được tổ chức ở Can Lộc, Thạch Hà… 

Cuộc biểu tình ngày 1/9 ở Thanh Chương được coi là mốc mở đầu đánh dấu sự ra đời của chính quyền Xô viết ở Nghệ - Tĩnh và sự kiện lịch sử này đã đánh dấu “một thời kỳ mới, thời kỳ đấu tranh kịch liệt đã đến”. Tiếp đó, các cuộc biểu tình của nông dân ở các huyện Hưng Nguyên, Nam Đàn, Đô Lương, Diễn Châu… (Nghệ An) và ở Can Lộc, Thạch Hà, Kỳ Anh, Hương Sơn, Cẩm Xuyên… (Hà Tĩnh) diễn ra liên tục. Đặc biệt, phong trào đấu tranh của công - nông Nghệ - Tĩnh đã lôi cuốn đông đảo trí thức, học sinh và các tầng lớp nhân dân tham gia, làm cho chính quyền tay sai bị tê liệt ở cấp huyện và tan rã ở cấp xã. 

Tiếng vang của những sự kiện chính trị diễn ra ở Ngệ An và Hà Tĩnh ngày 1/5 không chỉ khẳng định thắng lợi của giai cấp công nhân và nông dân hai tỉnh trong tiến trình đấu tranh cách mạng để giành độc lập, tự do mà còn cho thấy: “Đứng về cả nước mà xét, ngày 1/5/1930 có ý nghĩa rất quan trọng vì đây là lần đầu tiên vô sản Đông Dương xông pha lửa đạn để biểu dương tinh thần đoàn kết cách mạng quốc tế của mình”(3). Có thể nói, sự kiện kỷ niệm Ngày Quốc tế Lao động 1/5/1930 là mở đầu cho cao trào cách mạng 1930-1931 mà đỉnh cao là sự ra đời của các Xô viết ở Nghệ An và Hà Tĩnh sau đó và đây cũng chính là lần đầu tiên công nhân và nông dân sát cánh bên nhau trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù.

Sau ngày 1/5, phong trào đấu tranh lan rộng và phát triển mạnh trên cả nước, nhất là ở Trung Kỳ và Nam Kỳ (từ tháng 6 đến cuối năm 1930). Làn sóng đấu tranh cách mạng của quần chúng đã buộc chính quyền thuộc địa phải thi hành một số chính sách đối với người lao động như trả tự do cho một số người bị bắt trong các cuộc biểu tình, cải thiện điều kiện làm việc cho công nhân, hoãn thuế cho nông dân… Vì thế, để duy trì và đẩy mạnh phong trào đấu tranh cách mạng ở cả 3 miền, nhất là ở Nghệ An và Hà Tĩnh, Đảng kêu gọi công nhân, nông dân và các tầng lớp khác không lơ là cảnh giác trước một số nhân nhượng của kẻ thù mà phải tiếp tục đoàn kết để đấu tranh và kiên trì đấu tranh ủng hộ giai cấp công - nông Nghệ - Tĩnh. 

Trên đà phát triển, những ngày tháng 8, phong trào đấu tranh ở Nam Kỳ phát triển mạnh mẽ hơn, tiêu biểu là cuộc bãi công của công nhân nhà máy rượu Chợ Lớn, ở Công ty Dầu lửa Sài Gòn và các cuộc biểu tình của hàng ngàn nông dân ở Hóc Môn, Trà Vinh, Sa Đéc… Còn ở Trung Kỳ, ngày 1/8, nhân kỷ niệm Ngày quốc tế đỏ, toàn thể công nhân khu công nghiệp Vinh - Bến Thủy tổng bãi công, phản đối chiến tranh đế quốc, kêu gọi công nhân đoàn kết với nông dân và binh lính đấu tranh chống chính quyền thuộc địa. Tiếp đó, nhiều cuộc biểu tình, bãi công diễn ra ngày càng quyết liệt; nhiều cuộc biểu tình còn có sự phối hợp giữa công nhân và nông dân khiến chính quyền thuộc địa lo ngại. Cụ thể, công nhân nhà máy Diêm Bến Thủy đấu tranh liên tục và được công nhân nhà máy Xe lửa Trường Thi, công nhân bốc vác thành phố Vinh hưởng ứng và ủng hộ… Các cuộc đấu tranh của nông dân Thanh Chương biểu tình đòi hoãn thuế, bỏ thuế hoa lợi; nông dân Anh Sơn, Nghi Lộc, Nam Đàn, Quỳnh Lưu biểu tình đòi khất sưu, hoãn thuế… đã lan rộng ra hầu khắp các huyện ở Nghệ An và Hà Tĩnh. Trong cuộc vận động 1/8, Đảng Cộng sản hô hào quần chúng đấu tranh theo các khẩu hiệu lớn: “Ủng hộ Liên bang Xô viết  và phong trào giải phóng ở các thuộc địa!”, “Đánh đổ đế quốc Pháp, địa chủ và quan làng!”, “Xứ Đông Dương hoàn toàn độc lập!”, “Lập chánh phủ công nông!”, “Tịch ký hết thảy ruộng đất của bọn địa chủ bổn xứ và ngoại quốc và đem phát cho dân cày!”, “Phản đối khủng bố trắng. Thả hết thảy tù chánh trị!”, “Mỗi ngày làm tám giờ!”(4)…

Tháng 9/1930, phong trào của công - nông phát triển tới đỉnh cao. Ngày 1/9, cuộc biểu tình quy mô lớn diễn ra ở Thanh Chương (Nghệ An), có sự tham gia của các đội tự vệ đỏ canh gác để cô lập huyện đường Thanh Chương với các xã và tự vệ các tổng Xuân Lâm, Đại Đồng… bao vây, trấn áp tổng lý ở các làng để cắt đứt liên lạc của địch từ Vinh lên, từ Đô Lương xuống. Cũng ngày này, hơn hai nghìn nông dân có tự vệ hỗ trợ đã biểu tình, giương cao các biểu ngữ yêu cầu thả những công nhân Bến Thủy đã bị bắt, giải tán Hội đồng đề hình, đòi được lập hội…; đồng thời, kéo về bao vây huyện lỵ, thiêu hủy huyện đường và truy bắt tri huyện, phá nhà lao… dẫn đến sự tan rã của chính quyền thực dân ở các làng, xã trong huyện. Khi đó, các Ban Chấp hành Nông hội đỏ (xã bộ nông) đã đứng lên nắm quyền cai quản nông thôn. Sau cuộc biểu tình ngày 1/9, “trong số 76 lý trưởng (76 làng, xã) ở Thanh Chương, đã có 35 người đem sổ sách và con dấu nộp cho “xã bộ”. Toàn huyện có 65/76 làng xã có Ban Chấp hành nông hội đỏ nắm quyền cai quản nông thôn”(5). 

Các “làng đỏ” đã hình thành ở một số vùng nông thôn Nghệ - Tĩnh. Tại Nghệ An, sau các cuộc biểu tình quyết liệt đầu tháng 9/1930, chính quyền Xô viết  hình thành ở gần như khắp các làng, xã của huyện Thanh Chương, Nam Đàn và nhiều vùng khác thuộc Nghi Lộc, Hưng Nguyên, Anh Sơn… Còn ở Hà Tĩnh, các Xô viết  cũng xuất hiện ở nhiều xã của huyện Can Lộc, Thạch Hà, Đức Thọ, Cẩm Xuyên, Nghi Xuân… Trong các Xô viết, quần chúng nhân dân tự tổ chức, quản lý mọi mặt của đời sống xã hội và đó chính là những Xô viết đầu tiên trong lịch sử cách mạng Việt Nam -  Xô viết  Nghệ - Tĩnh.

Trước thực tế phong trào phát triển mạnh mẽ ở Nghệ - Tĩnh, nhất là việc bạo động lập Xô viết, Trung ương Đảng nhận định chủ trương đó là “chưa đúng hoàn cảnh vì trình độ dự bị của Đảng và quần chúng trong nước chưa đủ, vũ trang bạo động cũng chưa có - bạo động riêng lẻ trong vài địa phương trong lúc bây giờ là quá sớm, là manh động”(6). Cho nên, “những chỗ đã lập Xô viết rồi phải huấn chỉnh cho chu đáo, làm sao cho các hạng cố, bần, trung nông hết sức ủng hộ Xô viết và cho Xô viết  là chính quyền của mình mới được. Mỗi việc trong làng đều lấy danh nghĩa Xô viết chớ không bao giờ lấy danh nghĩa đảng hay nông hội”(7). Đồng thời, Trung ương cũng chỉ thị các cấp ủy đảng hai tỉnh vừa phải tiếp tục duy trì ảnh hưởng của Đảng, của các Xô viết  trong lòng quần chúng vừa phải “tổ chức lại huyện bộ và cán sự chi bộ dự bị bí mật, còn những đảng bộ bây giờ thì cứ hoạt động công khai”. 

Ý NGHĨA LỊCH SỬ  VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

Xô viết  Nghệ - Tĩnh là kết quả cao trào đấu tranh cách mạng của quần chúng nhân dân và tại các “làng đỏ” - các Xô viết, Ban Chấp hành Nông hội đỏ (xã bộ nông) đã lãnh đạo quần chúng thực thi một số biện pháp đầu tiên của chính quyền cách mạng: 1) Chính quyền thực dân và những luật lệ cũ bị xóa bỏ, thực hiện quyền tự do, dân chủ cho nhân dân và mọi người dân đều được tự do thảo luận và góp sức vào công việc chung; 2) Thi hành tịch thu ruộng đất công, tiền, lúa công để chia cho dân cày nghèo; bãi bỏ thuế thân, thuế chợ, thuế đò, thuế muối, xóa nợ cho người nghèo, thực hiện giảm tô…; 3) Quần chúng nhân dân được hưởng cuộc sống mới; sách, báo và tài liệu của cách mạng được phổ biến rộng rãi. Việc học chữ quốc ngữ được coi trọng gắn với đẩy mạnh phong trào bài trừ hủ tục mê tín dị đoan và các tệ nạn xã hội; 4) Các đội tự vệ đỏ được thành lập để bảo vệ chính quyền nhân dân, giữ gìn an ninh trật tự, trấn áp kẻ thù, chống khủng bố. Các tổ chức quần chúng hoạt động động mạnh, trong đó phụ nữ và thiếu niên tham gia sinh hoạt đoàn thể và nhiều hoạt động xã hội như tự vệ, liên lạc, tuyên truyền, cổ động, rải truyền đơn… 5) Tình làng, nghĩa xóm gắn kết chặt chẽ; trong đó, nhiều hội ái hữu, tương tế được thành lập; người neo đơn, ốm đau được chăm sóc…

Lo sợ trước cao trào đấu tranh cách mạng của công nhân và nông dân ở hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh, thực dân Pháp đã tiến hành các biện pháp khủng bố dã man. Ngày 12/9, cuộc biểu tình của 8.000 nông dân ở Hưng Nguyên và Nam Đàn bị máy bay ném bom của Pháp sát hại hơn 200 người và làm hơn 100 người bị thương. Những ngày sau đó, nông dân các huyện Nam Đàn, Thanh Chương, Hương Sơn… vẫn tổ chức biểu tình, phản đối hành động dã man của chính quyền thực dân. Công nhân các nhà máy khu Vinh - Bến Thủy cũng đấu tranh quyết liệt hơn để đòi tăng lương, giảm giờ làm, chống sa thải công nhân, ủng hộ các cuộc biểu tình của nông dân… Thực hiện “Tuyên bố về việc bảo vệ Nghệ An đỏ chống khủng bố trắng” của Trung ương Đảng, ở Trung Kỳ, Nam Kỳ và Bắc Kỳ, phong trào đấu tranh cách mạng phát triển rộng lớn, làn sóng biểu tình to lớn diễn ra với nhiều hình thức phong phú, thể hiện tinh thần đoàn kết, ủng hộ, bảo vệ Xô viết  Nghệ - Tĩnh, chống “khủng bố trắng”, thiết thực chống chính sách áp bức, bóc lột của chính quyền thực dân, phong kiến.

Xô viết Nghệ - Tĩnh là một dấu mốc lịch sử trong hành trình đấu tranh cho độc lập, tự do của Tổ quốc, hạnh phúc của nhân dân và đó chính là “giá trị của Xô viết  Nghệ - Tĩnh trong lịch sử Đảng ta, đấy cũng là ý nghĩa của việc nghiên cứu Xô viết Nghệ - Tĩnh trong quá trình nghiên cứu lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam”(9).

Dù còn sơ khai, song thực sự các Xô viết ở Nghệ An và Hà Tĩnh đã thực thi chức năng của chính quyền nhà nước; tỏ rõ bản chất cách mạng và tính ưu việt của mình, thực sự là một chính quyền của dân, do dân, vì dân. Dù chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian không dài do bị chính quyền của thực dân, phong kiến địa phương đàn áp, song Xô viết Nghệ - Tĩnh với chính quyền kiểu mới thực sự do nhân dân làm chủ vẫn khắc sâu trong tâm trí quần chúng; đồng thời, cũng để lại những kinh nghiệm quý báu trong công tác lãnh đạo của Đảng ta. 

Một là, cao trào cách mạng 1930 - 1931 nói chung và Xô viết Nghệ - Tĩnh nói riêng là cuộc “tổng diễn tập” đầu tiên của quần chúng nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Xô viết  Nghệ - Tĩnh đã đánh dấu bước ngoặt phát triển của cao trào cách mạng 1930-1931; trong đó, Đảng Cộng sản và giai cấp công nhân đã khẳng định vai trò, vị trí lãnh đạo của mình. Đồng thời, sự phối hợp chặt chẽ trong đấu tranh cách mạng giữa giai cấp công nhân và nông dân cho thấy vai trò quan trọng của mối liên minh công - nông trong quá trình tập hợp lực lượng cách mạng đấu tranh chống đế quốc và phong kiến ở Việt Nam. 

Xo-viet-nghe-tinh.jpgTượng đài Xô viết - Nghệ Tĩnh (thị trấn Nghèn - Can Lộc- Hà Tĩnh).

Tượng đài Xô viết - Nghệ Tĩnh (thị trấn Nghèn - Can Lộc- Hà Tĩnh).

Hai là, cao trào 1930 - 1931 và Xô viết Nghệ - Tĩnh là minh chứng cho thấy “đây là lần đầu tiên dân cày, thợ thuyền và lính khố xanh đã siết chặt tay nhau trên chiến trường, đoàn kết lại để hình thành một đoàn thể duy nhất, một đạo quân duy nhất… Cuộc đấu tranh quyết liệt của dân cày và công nhân Nghệ An và những kết quả đạt được… mở ra một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên đấu tranh để xóa bỏ các giai cấp, kỷ nguyên đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa tư bản, thói bạo ngược của bọn cường hào quan lại”(8). Đồng thời, cũng để lại cho Đảng bài học kinh nghiệm về việc xây dựng chủ trương, đường lối đúng đắn; đề ra khẩu hiệu đấu tranh phù hợp, đáp ứng nhu cầu và khát vọng của quần chúng nhân dân, những người đã và đang đói khát, lại phải chịu “sưu thuế nặng nề và nạn áp bức xã hội và chính trị làm cho cảnh ngộ của họ càng cùng cực hơn”. 

Ba là, thông qua cuộc thử lửa đầy gay go, ác liệt này, Đảng Cộng sản Việt Nam và đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng không chỉ được tôi luyện trong thực tiễn mà còn khẳng định vai trò lãnh đạo và sức ảnh hưởng trong quần chúng. Thông qua cuộc “tổng diễn tập” này, Đảng rút kinh nghiệm trong công tác lãnh đạo và chỉ đạo thực tiễn, nhất là việc cần phải nắm sát tình hình, chuẩn bị tốt lực lượng, đón đúng thời cơ khi tương quan lực lượng cho phép và phải được chuẩn bị chu đáo mới tiến hành khởi nghĩa… 

Bốn là, diễn tiến phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng  cùng những báo cáo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về cách mạng Việt Nam nói chung và Xô viết  Nghệ - Tĩnh nói riêng đã giúp Quốc tế Cộng sản, các tổ chức trực thuộc Quốc tế Cộng sản cùng các Đảng cộng sản hiểu rõ hơn về những “biểu hiện của một Đảng Bônsơvích mặc dầu còn ấu trĩ mắc phải tả khuynh và nhiều thiếu sót trong công tác”(10) và phương pháp đấu tranh cách mạng của nhân dân Việt Nam. Thông qua đó, ghi nhận “phong trào cách mạng bồng bột trong cả xứ Đông Dương đã góp phần tăng thêm ảnh hưởng cộng sản trong các xứ thuộc địa nhất là các nước phương Đông”(11), kịp thời cổ vũ, động viên phong trào của quần chúng; đồng thời, đề ra chủ trương, biện pháp phù hợp, uốn nắn và giúp đỡ Đảng Cộng sản Đông Dương khắc phục hạn chế trong công tác./.


TS. TRẦN THỊ BÌNH
Học viện Báo chí và Tuyên truyền

----------------------------------------------------------
(1), (2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, H, 2011, t.3, tr.21, 1.
(3) Hồng Thế Công (Hà Huy Tập): Sơ thảo lịch sử phong trào cộng sản ở Đông Dương, 1993, tài liệu lưu Viện Lịch sử Đảng.
(4), (6), (7), (8) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 1998, t.2, tr.53-54, 83, 84, 61-62.
(5) Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, H, 2018, t.1, quyển 1(1930-1945), tr.188.
(9) Hồng Quang: Mấy ý nghĩ về vấn đề nghiên cứu ý nghĩa và tác dụng lịch sử của Xô viết  Nghệ - Tĩnh, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 35, tháng 2/1962
(10), (11) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 1999, t.4, tr.251, 251.
Nguồn: BTGTW
False
Chuẩn bị và tiến hành thật tốt Đại hội XIII của Đảng, đưa đất nước bước vào một giai đoạn phát triển mớiBài viếtĐảng Cộng sản VNChuẩn bị và tiến hành thật tốt Đại hội XIII của Đảng, đưa đất nước bước vào một giai đoạn phát triển mới/Imagesnews/2020-09/Tong-bi-thu_Key_07092020111548.jpg

​Nhân dịp kỷ niệm 75 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 (1945 - 2020) và chuẩn bị tiến hành đại hội các đảng bộ trực thuộc Trung ương tiến tới Đại hội XIII của Đảng, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Trưởng Tiểu ban Văn kiện Đại hội XIII của Đảng Nguyễn Phú Trọng có bài viết quan trọng với tiêu đề "Chuẩn bị và tiến hành thật tốt Đại hội XIII của Đảng, đưa đất nước bước vào một giai đoạn phát triển mới". CĐBAG trân trọng giới thiệu toàn văn bài viết.

05/09/2020 12:00 CHYesĐã ban hành

Đã gần một thế kỷ nay (90 năm kể từ ngày có Đảng), đối với nước ta, cứ mỗi lần tổ chức, tiến hành Đại hội toàn quốc của Đảng là một lần được coi như một sự kiện trọng đại, có ý nghĩa lịch sử, đánh dấu bước phát triển mới của đất nước. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng lần này diễn ra trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực có những diễn biến rất nhanh, phức tạp, khó dự báo; đất nước đứng trước nhiều thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức với rất nhiều vấn đề mới đặt ra; cán bộ, đảng viên và nhân dân ta đặt kỳ vọng vào những quyết sách đúng đắn, mạnh mẽ, sáng suốt của Đảng. Với phương châm: Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Sáng tạo - Phát triển, Đại hội không chỉ kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng mà còn nhìn lại 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991, 10 năm thực hiện Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011), Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020; đề ra phương hướng, nhiệm vụ nhiệm kỳ 2021 - 2026, xác định mục tiêu, phương hướng đến năm 2030 (kỷ niệm tròn 100 năm thành lập Đảng) và tầm nhìn phát triển đất nước đến năm 2045 (kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà, nay là Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Vì vậy, đây chắc chắn cũng sẽ là một dấu mốc quan trọng trong quá trình phát triển của Đảng ta, dân tộc ta, đất nước ta, có ý nghĩa định hướng tương lai, tiếp tục đẩy mạnh toàn diện và đồng bộ công cuộc đổi mới, hội nhập và phát triển đất nước.

Dự thảo các văn kiện trình Đại hội lần này đã và đang được chuẩn bị một cách rất công phu, bài bản, chu đáo; quán triệt sâu sắc nguyên tắc kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý luận và thực tiễn, giữa kiên định và đổi mới, giữa kế thừa và phát triển; trên cơ sở phát huy tối đa dân chủ, lắng nghe các ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, cán bộ, đảng viên và nhân dân; lựa chọn, chắt lọc, tham khảo các đề xuất tâm huyết, trách nhiệm; kết tinh trí tuệ và sức sáng tạo của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Báo cáo chính trị là văn kiện trung tâm của Đại hội, cùng với Báo cáo tổng kết thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2011 - 2020, xây dựng Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030; Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025; Báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng. Các văn kiện trình Đại hội của Đảng đã thể hiện được những quan điểm, chủ trương, phương hướng lớn, cho thấy tầm nhìn, tư duy chiến lược của Đảng, khát vọng phát triển của dân tộc và quyết tâm chính trị của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong công cuộc xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh thân yêu của chúng ta. Đại hội cấp cơ sở và trên cơ sở vừa qua đã tiến hành thảo luận chu đáo tất cả các dự thảo Văn kiện Đại hội. Tôi được biết, ý kiến đóng góp rất phong phú, đa dạng, nhiều chiều, dưới những góc độ khác nhau, cách tiếp cận khác nhau. Các Tiểu ban Văn kiện đã tổng hợp và tiếp thu, bổ sung, hoàn thiện các báo cáo. Đến đại hội các đảng bộ trực thuộc Trung ương và Đại hội đại biểu toàn quốc, các đại biểu, các đoàn đại biểu chắc chắn sẽ còn tiếp tục tham gia thảo luận. Tôi không trình bày lại từng nội dung báo cáo, mà đề cập những vấn đề chung có tính chất khái quát, tổng hợp, gợi mở thêm một số vấn đề lớn, quan trọng, để tiếp tục xin ý kiến Đại hội.

*
*        * 

I- Nhìn lại nhiệm kỳ Đại hội XII, chúng ta vui mừng nhận thấy, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã phát huy tinh thần đoàn kết, thể hiện bản lĩnh, trí tuệ, sự nỗ lực sáng tạo, vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm, đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng; đất nước tiếp tục phát triển nhanh và khá toàn diện, chuyển biến tích cực, với nhiều dấu ấn nổi bật:

- Trong bối cảnh kinh tế và thương mại toàn cầu suy giảm, sau đó lại rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng do tác động của đại dịch Covid-19, kinh tế nước ta vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng bình quân khá cao (đạt khoảng 6%), là một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất khu vực và thế giới. Chất lượng tăng trưởng được cải thiện; kinh tế vĩ mô vẫn ổn định khá vững chắc; các cân đối lớn của nền kinh tế cơ bản được bảo đảm; kỷ luật, kỷ cương tài chính - ngân sách nhà nước được tăng cường. Đầu tư xã hội, năng lực sản xuất kinh doanh tăng mạnh. Tiềm lực, quy mô và sức cạnh tranh của nền kinh tế tiếp tục được nâng lên một bước. Xã hội cơ bản ổn định, đời sống của nhân dân ngày càng được nâng cao (tỉ lệ hộ nghèo từ 58% (năm 1993), 9,88% (năm 2016) giảm xuống còn dưới 3% vào năm 2020). Các lĩnh vực an sinh xã hội, y tế, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, bảo vệ tài nguyên môi trường, phát triển văn hoá, xây dựng con người Việt Nam, v.v... có nhiều chuyển biến tích cực, có mặt khá nổi trội.

- Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị được đặc biệt quan tâm, tiến hành toàn diện trên tất cả các mặt chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, tạo dấu ấn nổi bật. Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí chuyển biến mạnh mẽ, được triển khai quyết liệt, bài bản, đi vào chiều sâu, có bước đột phá và đạt nhiều kết quả cụ thể, rõ rệt, tích cực. Tình trạng tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, tự diễn biến, tự chuyển hoá trong Đảng và hệ thống chính trị từng bước được kiềm chế. Nhiều vụ án kinh tế, tham nhũng, nhất là các vụ án lớn, nghiêm trọng lần lượt được phát hiện, điều tra, tiến hành khởi tố, truy tố, xét xử nghiêm minh, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, tạo sức răn đe, cảnh tỉnh rất lớn, được cán bộ, đảng viên và nhân dân hoan nghênh, đánh giá cao và đồng tình ủng hộ.

- Trước tình hình thế giới và khu vực có những diễn biến phức tạp, các thế lực thù địch tăng cường chống phá, quốc phòng, an ninh của nước ta tiếp tục được tăng cường. An ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội được giữ vững. Hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế được đẩy mạnh, không ngừng mở rộng và đi vào chiều sâu, góp phần củng cố môi trường hoà bình, ổn định cho phát triển; kiên quyết, kiên trì giữ vững độc lập, chủ quyền, quyền chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và các lợi ích chiến lược của đất nước; uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao.

- Đặc biệt, trong năm 2020, nhờ có sự lãnh đạo nhạy bén, đúng đắn của Đảng và Nhà nước; sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt, kịp thời của Chính phủ; sự vào cuộc đồng bộ, tích cực của cả hệ thống chính trị; sự đồng tình, hưởng ứng, ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài, chúng ta đã khống chế, cơ bản kiểm soát, ngăn chặn được sự lây lan của đại dịch Covid-19 trong cộng đồng, hạn chế tối đa những thiệt hại, tổn thất do dịch bệnh gây ra, bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội cho nhân dân; từng bước khôi phục sản xuất kinh doanh, nỗ lực hoàn thành ở mức cao nhất các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của năm 2020 và cả giai đoạn 2016 - 2020. Việt Nam trở thành một điểm sáng trong việc khống chế, ngăn chặn đại dịch Covid-19 thành công, được thế giới ghi nhận và đánh giá cao, góp phần nâng cao niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Những thành tựu đạt được 5 năm qua có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó quan trọng nhất là sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các cấp uỷ đảng trong việc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XII, giải quyết kịp thời, có hiệu quả nhiều vấn đề mới nảy sinh trong thực tiễn; sự quản lý, điều hành nhạy bén, quyết liệt của Chính phủ và chính quyền các cấp; sự nỗ lực đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của Quốc hội; sự đoàn kết thống nhất, phối hợp đồng bộ của cả hệ thống chính trị; phát huy truyền thống yêu nước và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; sự nỗ lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên; tinh thần lao động tích cực, sáng tạo, trách nhiệm của nhân dân; sự tín nhiệm, đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế.

Những thành tựu đó là sản phẩm kết tinh sức sáng tạo, là kết quả của cả một quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục qua nhiều nhiệm kỳ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; góp phần tạo nên những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của nước ta. Tôi đã nhiều lần nói rằng, với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể khẳng định: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Từ một nước nhỏ bé, nghèo nàn, lạc hậu, trình độ rất thấp, hầu như không có tên trên bản đồ thế giới, ngày nay Việt Nam đã vươn lên trở thành một nước có quy mô dân số gần 100 triệu người, đang phát triển, có thu nhập trung bình, có quan hệ với hầu hết các nước trên thế giới, tham gia hầu hết các tổ chức quốc tế và là thành viên, đối tác tin cậy và có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Nói như thế để chúng ta có thêm niềm tin, niềm phấn khởi và tự hào, tiếp tục khẳng định con đường đi lên của chúng ta là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; đường lối của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; sự lãnh đạo của Đảng là sáng suốt, nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam; Cương lĩnh chính trị của Đảng tiếp tục là ngọn cờ tư tưởng, lý luận dẫn dắt dân tộc ta vững vàng đẩy mạnh công cuộc đổi mới; là nền tảng để Đảng ta tiếp tục hoàn thiện đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.

Năm năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng là thực tiễn nóng hổi rất sinh động, phong phú để chúng ta tiếp tục khẳng định, bổ sung và làm sâu sắc thêm những bài học kinh nghiệm đã được đúc rút từ những nhiệm kỳ trước:

Thứ nhất, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng (xây dựng tổ chức, xây dựng con người) phải được triển khai toàn diện, đồng bộ, thường xuyên cả về tư tưởng, chính trị, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Kiên định, vững vàng trên nền tảng tư tưởng của Đảng đi đôi với xây dựng tổ chức bộ máy của Đảng và cả hệ thống chính trị thực sự tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Thấm nhuần sâu sắc di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh "cán bộ là cái gốc của mọi công việc", "muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém". Do đó, công tác tổ chức, cán bộ phải là điểm đột phá, là "then chốt" của nhiệm vụ "then chốt", có liên quan đến sự sống còn của Đảng, vận mệnh của chế độ; sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Phải hết sức chú trọng xây dựng và làm trong sạch đội ngũ cán bộ, nhất là xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; phát huy trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên; chức vụ càng cao càng phải gương mẫu.

Thứ hai, trong lãnh đạo, điều hành, tổ chức thực hiện, phải có quyết tâm rất cao, nỗ lực rất lớn, thật sự năng động, sáng tạo, chú trọng tạo đột phá để phát triển; coi trọng chất lượng, hiệu quả thực tế của công việc và đề cao trách nhiệm người đứng đầu. Khắc phục bằng được sự yếu kém, chậm trễ trong công tác lãnh đạo, điều hành, tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách. Giữ vững kỷ luật, kỷ cương trong tổ chức thực hiện luật pháp, chính sách, thực thi công vụ; đồng thời phải bảo vệ những cán bộ, đảng viên có ý chí chiến đấu cao, gương mẫu thực hiện nguyên tắc, kỷ luật của Đảng và pháp luật của Nhà nước, dám đổi mới sáng tạo, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động.

Thứ ba, trong triển khai thực hiện các nhiệm vụ, phải hết sức chú trọng tính đồng bộ, toàn diện để vừa đáp ứng những mục tiêu cấp bách, trước mắt, giải quyết dứt điểm những yếu kém, ách tắc, tồn đọng; vừa xây dựng đồng bộ thể chế phát triển để thực hiện các mục tiêu lâu dài, cơ bản và bền vững của đất nước theo hướng bảo đảm hài hoà giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, văn hoá, xã hội; giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá, con người, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; giải quyết tốt các vấn đề xã hội, bảo vệ tài nguyên, môi trường; giữa phát triển kinh tế, xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh; giữa độc lập, tự chủ với tăng cường đối ngoại, hội nhập quốc tế; thực sự coi trọng, phát huy vai trò của giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ trong điều kiện mới.

Thứ tư, trong bảo đảm quốc phòng, an ninh và đối ngoại, phải chủ động nghiên cứu, nắm bắt, dự báo đúng tình hình, chủ động có những phương án đối phó, không để bị động, bất ngờ; xử lý đúng đắn, hiệu quả mối quan hệ với các nước lớn, các đối tác chiến lược, các nước bạn bè truyền thống và các nước láng giềng; vừa quan tâm đến việc nâng cao uy tín, hình ảnh của đất nước, vừa hết sức cảnh giác trước những âm mưu, thủ đoạn ngày càng tinh vi, nham hiểm của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị luôn ráo riết chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, nhất là trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng.

Thứ năm, trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, luôn xác định "dân là gốc", thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; kiên trì thực hiện đúng nguyên tắc: "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng". Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân. Đảng phải chăm lo đầy đủ và sâu sắc đến đời sống, lợi ích của nhân dân; xây dựng mối quan hệ gắn bó máu thịt với nhân dân; dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, lấy kết quả công việc, sự hài lòng và tín nhiệm của nhân dân làm tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng tổ chức bộ máy và chất lượng cán bộ, đảng viên. Để củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, phải kiên quyết, tích cực làm trong sạch đội ngũ cán bộ của Đảng, khắc phục các hiện tượng sa sút, thoái hoá về phẩm chất, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, củng cố và xây dựng các tổ chức đảng thật trong sạch, vững mạnh, làm cho Đảng thật sự là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.

Những bài học kinh nghiệm quý báu đó là cơ sở quan trọng để Đảng ta tiếp tục vận dụng, phát huy trong lãnh đạo, chỉ đạo, giúp chúng ta có thêm bản lĩnh và tự tin trước nhiều khó khăn, thách thức mới, nặng nề hơn do tác động của đại dịch Covid-19 và suy thoái kinh tế toàn cầu khi bước vào nhiệm kỳ khoá XIII.

II- Về phương hướng, nhiệm vụ của nhiệm kỳ Đại hội XIII và giai đoạn sắp tới: Dự báo trong những năm tới, bối cảnh quốc tế, khu vực tiếp tục có nhiều thay đổi phức tạp, nhanh chóng, khó lường. Dưới tác động của đại dịch Covid-19, thế giới rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng nhiều mặt, cả về y tế, kinh tế, xã hội và quản trị. Cạnh tranh chiến lược, cạnh tranh kinh tế, chiến tranh thương mại tiếp tục diễn ra gay gắt. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực, tạo ra cả thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia. Các nước nỗ lực điều chỉnh chiến lược và phương thức phát triển nhằm thích ứng với tình hình mới. Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương có vị trí chiến lược ngày càng quan trọng. Tại Đông Nam Á, môi trường an ninh, tình hình tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông tiếp tục diễn ra phức tạp. Biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh và các vấn đề an ninh phi truyền thống khác ngày càng tác động mạnh, nhiều mặt, đe doạ nghiêm trọng đến sự phát triển ổn định, bền vững của thế giới, khu vực và đất nước ta.

Trong khi đó, dù đạt được những kết quả rất đáng tự hào, đất nước ta vẫn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức. Tăng trưởng kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng, sau 4 năm đầu của nhiệm kỳ liên tục tăng trưởng cao, năm 2020 suy giảm mạnh, có thể chỉ còn 3%; chất lượng còn thấp và đang phải đối mặt với nhiều tác động tiêu cực của đại dịch Covid-19. Tính tự chủ và khả năng chống chịu của nền kinh tế chưa cao. Kinh tế nhà nước, nhất là doanh nghiệp nhà nước hoạt động còn kém hiệu quả, đang gặp không ít khó khăn, ách tắc. Kinh tế tư nhân trong nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển nhanh nhưng chưa thật bền vững. Công tác lãnh đạo, quản lý nhà nước về kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ tài nguyên môi trường còn nhiều bất cập, gây bức xúc xã hội. Đấu tranh bảo vệ chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ còn phức tạp. Giá trị lịch sử, truyền thống văn hoá của dân tộc và con người Việt Nam chưa được phát huy đầy đủ. Năng lực xây dựng thể chế còn hạn chế; chất lượng luật pháp và chính sách còn thấp. Năng lực và phương thức lãnh đạo, sức chiến đấu của nhiều tổ chức đảng, đảng viên còn chưa ngang tầm nhiệm vụ. Cơ chế kiểm soát quyền lực trong Đảng, Nhà nước chưa đầy đủ, đồng bộ; hiệu lực, hiệu quả chưa cao. Những khó khăn, hạn chế và khuyết điểm đó đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân và cả hệ thống chính trị nước ta phải quyết tâm cao, nỗ lực lớn và hành động quyết liệt hơn nữa để khắc phục cho bằng được. Tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, Đảng ta phải thật sự vững vàng, giữ vững bản chất cách mạng và khoa học, gắn bó mật thiết với nhân dân, được nhân dân tin cậy, yêu mến, để vượt qua mọi khó khăn, thách thức, lãnh đạo thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.      

Tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta là kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đây là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, là nền tảng vững chắc của Đảng ta, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động. Cần nắm vững và xử lý tốt mối quan hệ giữa kiên định và đổi mới, vận dụng sáng tạo. Nếu chỉ "kiên định" một cách máy móc thì dễ dẫn đến giáo điều, cứng nhắc, bảo thủ, nhưng nếu không kiên định, mà "đổi mới" một cách vô nguyên tắc thì cũng rất dễ rơi vào chủ nghĩa xét lại, chệch hướng, "đổi màu". Cho nên phải hiểu rõ, vận dụng đúng phương pháp biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin: Kiên định phải gắn liền với sáng tạo và sáng tạo phải trên cơ sở kiên định phù hợp với thực tiễn, với yêu cầu đổi mới, hội nhập và phát triển đất nước.

Tư tưởng chiến lược phát triển tổng thể của đất nước ta trong giai đoạn tới là phát triển nhanh và bền vững, bảo đảm gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, trong đó: Phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên.

Động lực và nguồn lực cho phát triển đất nước trong giai đoạn mới là khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của nền văn hoá, con người Việt Nam; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Đó là truyền thống quý báu của dân tộc được Đảng ta vận dụng sáng tạo trong suốt 90 năm lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội; có ý nghĩa cực kỳ quan trọng khi đất nước đang ở bước ngoặt có tính lịch sử, cần huy động những nguồn lực vật chất và tinh thần to lớn để tiếp tục bứt phá, vươn lên. Việc chúng ta ngăn chặn và kiểm soát được đại dịch Covid-19 vừa qua là một ví dụ minh chứng hùng hồn khẳng định tính ưu việt của chế độ ta, truyền thống đoàn kết, lòng yêu nước, tình nhân ái và ý chí kiên cường của dân tộc ta, nhân dân ta; tuyệt đối không bao giờ được tự mãn, chủ quan, lơ là; càng trong khó khăn, thử thách, phẩm chất và truyền thống đó càng phải được phát huy, càng phải được nhân lên gấp bội.

Nhân tố có ý nghĩa quyết định thành công của sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc là tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Nhà nước và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, gắn bó mật thiết với nhân dân. Với một đảng cách mạng chân chính, trong sạch, vững mạnh, có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín lãnh đạo như Đảng ta, được nhân dân hết lòng tin yêu, ủng hộ, chúng ta sẽ có một sức mạnh to lớn, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, không thế lực nào ngăn cản nổi dân tộc ta đi lên, lập nên những kỳ tích mới trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn như Bác Hồ hằng mong ước.

Phát huy ý chí, sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, Đại hội sắp tới chúng ta cần có tầm nhìn xa hơn đến giữa thế kỷ XXI: Phấn đấu đưa nước ta trở thành một nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đặt ra những mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể phải hoàn thành cho mỗi chặng đường; thể hiện rõ tính kế thừa và phát triển, tính liên tục và hoàn chỉnh trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta; là tâm huyết, trí tuệ và niềm tin, là "ý Đảng, lòng Dân" hoà quyện cùng mong muốn, khát vọng và ý chí vươn tới một tương lai rạng rỡ của đất nước và toàn dân tộc.

Báo cáo chính trị trình ra Đại hội lần này đề ra mục tiêu tổng quát là: Nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; phát huy sức sáng tạo, ý chí, khát vọng phát triển và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp với sức mạnh thời đại; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển nhanh và bền vững đất nước; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hoà bình, ổn định; phấn đấu để đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Trên nguyên tắc bảo đảm tính khoa học, khả thi và thực tiễn; kế thừa và bổ sung phù hợp với những thay đổi trong từng giai đoạn phát triển của đất nước; đồng thời tham khảo kinh nghiệm của các nước và những chuẩn mực phát triển chung của thế giới, chúng ta xác định các mục tiêu cụ thể hướng tới những dấu mốc phát triển quan trọng của đất nước ta:

- Đến năm 2025: Là nước đang phát triển có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp.

- Đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng: Là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao.

- Đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập Nước: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao.

Mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể mà Đại hội đề ra là cơ sở hết sức quan trọng để xác định phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc; bảo đảm tính đồng bộ, khả thi, vừa đáp ứng được các yêu cầu lâu dài, vừa có trọng tâm và các khâu đột phá chiến lược cần ưu tiên triển khai thực hiện; tạo sự thống nhất từ nhận thức cho đến hành động của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong giai đoạn từ nay đến giữa thế kỷ XXI. Cụ thể là:

Một là, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển bền vững về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, bảo vệ môi trường, v.v..., khơi dậy mọi tiềm năng và nguồn lực, tạo động lực mới cho sự phát triển nhanh và bền vững đất nước. Trước hết, tập trung hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trên cơ sở thống nhất nhận thức đây là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Chú trọng xây dựng, hoàn thiện các thể chế, chính sách để giải quyết hiệu quả, hài hoà mối quan hệ giữa nhà nước, thị trường và xã hội. Đặc biệt, phải tạo được những bước đột phá thực sự về thể chế để giải quyết những vấn đề thực tiễn đang đặt ra, rất thiết thực và cụ thể như: Huy động, quản lý, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực cho phát triển, khắc phục tình trạng tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong việc quản lý, sử dụng đất đai, tài nguyên, tài sản công; tích tụ, tập trung đất đai cho phát triển nông nghiệp công nghệ cao; phát triển đồng bộ và tạo ra sự liên kết giữa các chủ thể kinh tế và các loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh; đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của khu vực kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà nước; khuyến khích, tạo thuận lợi cho kinh tế tư nhân phát triển trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế; tháo gỡ tình trạng không thống nhất, mâu thuẫn, chồng chéo trong xây dựng và thực thi pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch đang cản trở sự phát triển và vận hành của nền kinh tế thị trường đầy đủ, hiện đại và hội nhập quốc tế.

Hai là, đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế trên cơ sở nhận thức đây là nhiệm vụ cơ bản, trọng yếu, có ý nghĩa quyết định đối với việc thực hiện mục tiêu phát triển nhanh và bền vững đất nước. Tạo bước chuyển căn bản nền kinh tế sang mô hình tăng trưởng trên cơ sở sử dụng hiệu quả các nguồn lực, tiến bộ khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, phát huy tiềm năng, lợi thế của các ngành, lĩnh vực, các địa phương và cả nước. Đẩy mạnh đột phá xây dựng kết cấu hạ tầng hiện đại, đồng bộ tạo nền tảng thúc đẩy sự phát triển của những ngành mới, lĩnh vực mới, nhất là kinh tế số, xã hội số và chính phủ số. Xây dựng nền công nghiệp quốc gia vững mạnh; phát triển nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá lớn, ứng dụng công nghệ cao; phát triển mạnh khu vực dịch vụ dựa trên nền tảng kinh tế số và ứng dụng những thành tựu khoa học công nghệ hiện đại. Thực hiện nhất quán chủ trương khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực quan trọng nhất để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Tạo đột phá mạnh mẽ trong phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao thông qua đổi mới căn bản, toàn diện, đồng bộ giáo dục và đào tạo; trong đó chú trọng xây dựng đồng bộ thể chế, chính sách, đổi mới đồng bộ mục tiêu, nội dung, chương trình, phương thức, phương pháp giáo dục và đào tạo theo hướng hiện đại, hội nhập quốc tế, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, kiên quyết khắc phục bệnh thành tích, xử lý nghiêm các tiêu cực trong giáo dục và đào tạo.

Ba là, thực hiện đúng, đầy đủ vấn đề quản lý phát triển xã hội bền vững; giải quyết hài hoà các quan hệ lợi ích trong xã hội. Xử lý hiệu quả mối quan hệ giữa thực hành dân chủ đi đôi với tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội. Bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội; chú trọng bảo đảm tính bền vững trong các chính sách dân số và phát triển, chính sách xã hội, nhất là phúc lợi xã hội, an ninh xã hội, an ninh con người, hướng đến việc làm bền vững, phát triển hệ thống an sinh xã hội toàn diện, tiến tới bao phủ toàn dân thông qua cải cách hệ thống bảo hiểm xã hội đa tầng, bền vững dựa trên nguyên tắc đóng - hưởng. Xây dựng và phát huy giá trị văn hoá, sức mạnh con người Việt Nam; hoàn thiện và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hoá và chuẩn mực con người gắn với phát huy ý chí, khát vọng phát triển và sức mạnh con người Việt Nam trong thời kỳ mới; thực hiện những giải pháp đột phá, mạnh mẽ nhằm ngăn chặn có hiệu quả sự xuống cấp về đạo đức, lối sống, đẩy lùi tiêu cực xã hội và các tệ nạn xã hội.

Bốn là, triển khai đồng bộ, sáng tạo, hiệu quả hoạt động đối ngoại; xây dựng nền ngoại giao hiện đại vì lợi ích quốc gia - dân tộc, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng. Kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, quyền chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; phát hiện sớm và xử lý kịp thời những nhân tố bất lợi, nhất là những nhân tố có thể gây đột biến; đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch.

Năm là, tăng cường xây dựng và chỉnh đốn Đảng, Nhà nước và toàn hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh phê phán, bác bỏ các quan điểm sai trái, thù địch; đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, với quyết tâm cao hơn, hành động mạnh mẽ, quyết liệt hơn, hiệu quả hơn, không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Tiếp tục tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Nêu cao tinh thần tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên; chức vụ càng cao càng phải gương mẫu. Kết hợp giữa tăng cường kỷ cương, kỷ luật, thượng tôn pháp luật, xây dựng Đảng nghiêm minh với giáo dục, bồi dưỡng nhân cách, đạo đức cách mạng để phòng ngừa và đấu tranh có hiệu quả với các căn bệnh của chủ nghĩa cá nhân. Thực hiện tốt quy định về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, chống chạy chức, chạy quyền. Xử lý nghiêm minh, đồng bộ cả kỷ luật đảng, kỷ luật hành chính và xử lý bằng pháp luật cán bộ có vi phạm. Đổi mới mạnh mẽ, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng theo hướng phối hợp chặt chẽ và đồng bộ giữa các cơ quan kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử và các cơ quan quản lý nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội.

Quá trình 35 năm đất nước ta thực hiện công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh, trong đó có 10 năm thực hiện Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011), Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 và 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII, cho thấy, cần nhận thức sâu sắc hơn, tiếp tục bổ sung, phát triển và nâng cao chất lượng, hiệu quả giải quyết các mối quan hệ lớn về mặt tư tưởng, lý luận, đề ra các quyết sách, tháo gỡ những rào cản, vướng mắc, tiếp tục phát triển đất nước nhanh và bền vững, đặc biệt chú trọng xử lý tốt hơn các mối quan hệ: Giữa đổi mới, ổn định và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; giữa nhà nước, thị trường và xã hội; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hoá, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường; giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ; giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội. Đó là những mối quan hệ lớn phản ánh các quy luật mang tính biện chứng, những vấn đề lý luận cốt lõi về đường lối đổi mới ở nước ta, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải nhận thức đầy đủ, thật sự thấm nhuần, quán triệt sâu sắc và thực hiện thật tốt, có hiệu quả.

*
*        * 

Đại hội XIII của Đảng ta đã đến gần. Khối lượng công việc rất lớn trong khi thời gian không còn nhiều, các cấp uỷ và các đồng chí Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng phải đề cao hơn nữa trách nhiệm trước Đảng, trước nhân dân, phấn đấu hoàn thành thắng lợi các mục tiêu mà Nghị quyết Đại hội XII và nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2015 - 2020 đã đề ra. Trong thời khắc quan trọng này, chúng ta hãy khắc sâu lời dạy của Bác Hồ kính yêu: "Đại hội Đảng rất quan hệ với tương lai cách mạng của Đảng ta và của nhân dân ta. Đại hội sẽ làm cho Đảng ta đã đoàn kết càng đoàn kết hơn nữa, tư tưởng và hành động đã nhất trí, càng nhất trí hơn nữa". Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta hãy đồng tâm nhất trí, chung sức đồng lòng, chuẩn bị và tiến hành thật tốt Đại hội XIII của Đảng, đưa đất nước bước vào một giai đoạn phát triển mới vì mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh", thực hiện thành công tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và ước vọng của toàn dân tộc./.

 

NGUYỄN PHÚ TRỌNG
Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Trưởng Tiểu ban Văn kiện Đại hội XIII của Đảng

True
Vẹn nguyên cảm xúc ngày Tết độc lậpBài viếtNgọc HânVẹn nguyên cảm xúc ngày Tết độc lập/Imagesnews/2020-09/Tet-doc-lap-1_Key_02092020205546.jpg

(TUAG)- 75 năm đi qua nhưng tin chắc rằng những cảm xúc về ngày Tết Độc lập vẫn sẽ vẹn nguyên trong tâm khảm mỗi người dân Việt Nam. Niềm tự hào về ngày Quốc khánh của dân tộc từ thế hệ này sang thế hệ khác chính là dòng cảm xúc bất tận, là tài sản tinh thần vô giá làm nên quyết tâm, ý chí vượt qua mọi khó khăn, gian khổ hoàn thành mọi nhiệm vụ. Mỗi mùa thu về, trong mỗi chúng ta lại thấy rạo rực, bồi hồi nhớ về thời khắc lịch sử năm ấy.

02/09/2020 8:00 SAYesĐã ban hành

Thời khắc vô cùng ý nghĩa của cả đất nước ta, ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba Đình - Hà Nội, hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh cất lời tuyên bố dõng dạc với quốc dân và nhân dân thế giới, vẫn như vang vọng khắp không gian, khắc ghi sâu đậm trong tim mỗi người. Lời tuyên ngôn: “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phía Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập! ...Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Đó là kết tinh những quyền lợi cơ bản và những nguyện vọng tha thiết nhất của dân tộc Việt Nam và nói lên tâm hồn trong sáng, khí phách hào hùng của Nhân dân ta.

Tet-doc-lap-2.jpg

Tiếng hô vang Lời thề Độc lập trong ngày lập nước, như đã kết nối muôn trái tim người dân đất Việt đoàn kết cùng nhau, chung sức, đồng lòng giương cao cờ đỏ sao vàng tiến lên trong quá trình cách mạng, vượt qua muôn vàn gian khó, hy sinh để bảo vệ nền độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, quyền tự quyết của dân tộc và quyền mưu cầu hạnh phúc của mỗi người dân.

Thời gian trôi qua, ý Đảng, lòng dân đã tạo nên sức mạnh tổng hợp, con tàu cách mạng Việt Nam đã vượt qua muôn vàn khó khăn để vượt trùng khơi. 75 năm ấy, tình đoàn kết muôn người như một đã giúp Việt Nam làm nên chiến thắng hai đế quốc hùng mạnh và đang khẳng định vị thế Việt Nam ngày càng cao trên trường quốc tế. Kết quả đất nước chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng với tăng trưởng kinh tế luôn duy trì ở mức khá cao, đời sống Nhân dân ngày càng được cải thiện; ổn định chính trị-xã hội được giữ vững; quốc phòng-an ninh được bảo đảm; thể chế pháp luật ngày càng hoàn thiện; mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động hội nhập quốc tế và đóng góp tích cực, có trách nhiệm cho hoà bình, hợp tác tại khu vực và trên toàn cầu.

Những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử này là minh chứng cho tinh thần, ý chí mạnh mẽ của dân tộc Việt Nam, khẳng định vai trò là người bạn, đối tác tin cậy của bạn bè và đối tác quốc tế. Ngày 27/8/2020, Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc Antonio Guterres đã phát biểu đánh giá cao những đóng góp của Việt Nam trong quá trình tham gia LHQ từ năm 1977. Việt Nam đi đầu trong thực hiện các Mục tiêu phát triển của LHQ, tích cực tham gia gìn giữ hòa bình, an ninh và nhấn mạnh: “Quốc khánh lần thứ 75 của Việt Nam trùng với năm Chủ tịch ASEAN và nhiệm kỳ tại Hội đồng Bảo an. Điều này cho thấy sự hiện diện ngày càng mạnh mẽ của Việt Nam trên trường quốc tế”.

Rễ cây luôn bám đất, cũng như con cháu luôn nhớ về nguồn cội của mình, đó là truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam qua bao thế hệ. Trong tâm khảm mỗi người dân Việt Nam, tinh thần của ngày Quốc khánh 2/9 sẽ đời đời bất diệt, những thước phim tư liệu quay chậm về ngày Tết độc lập trong cái nắng Ba Đình mùa thu năm ấy sẽ sống mãi trong ký ức của mỗi người như một bản anh hùng ca bất diệt, trường tồn cùng với hồn thiêng sông núi con người Việt Nam, là nguồn động viên lớn để khơi dậy lòng nhiệt huyết của thế hệ hôm nay quyết giữ vững nền độc lập tự do mà cha ông ta đã vất vả tạo dựng.

Do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, ngày Tết Độc lập năm nay có thể sẽ không được rộn ràng, nhộn nhịp như nhiều năm trước để phòng chống dịch bệnh. Nhưng tin chắc rằng thế hệ hôm nay và mai sau sẽ luôn ghi nhớ những cung bậc cảm xúc đầy hào hùng của ngày khai sinh ra nước Việt Nam. Đối với mỗi người dân Việt Nam ngày Quốc khánh bao giờ cũng là ngày đặc biệt. Đặc biệt không chỉ vì cờ, hoa, biểu ngữ rực rỡ trên các tuyến đường, tuyến phố, mà ngay ở trong lòng người dân./.

NGỌC HÂN

True
Bộ chính trị làm việc với Ban Thường vụ Tỉnh ủy An Giang về công tác chuẩn bị Đại hội Đảng bộ tỉnhTinThu ThảoBộ chính trị làm việc với Ban Thường vụ Tỉnh ủy An Giang về công tác chuẩn bị Đại hội Đảng bộ tỉnh/Imagesnews/2020-08/AG-lamviec-dai-hoi-1_Key_30082020074401.jpg

(TUAG)- Chiều 29/8, tại Thủ đô Hà Nội, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã có buổi làm việc với Ban Thường vụ Tỉnh ủy An Giang để cho ý kiến dự thảo các văn kiện và phương án nhân sự trình Đại hội đại biểu lần thứ XI Đảng bộ tỉnh (nhiệm kỳ 2020 - 2025). Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trần Quốc Vượng chủ trì buổi làm việc.

30/08/2020 6:00 SAYesĐã ban hành

AG-lamviec-dai-hoi-1.jpgQuang cảnh buổi làm việc

Tham dự các buổi làm việc có Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình; Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh; Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương Nguyễn Văn Bình; Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh Nguyễn Thiện Nhân; Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương Trần Cẩm Tú; Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Trần Thanh Mẫn; cùng đại diện lãnh đạo các Ban Đảng Trung ương, Văn phòng Trung ương Đảng và đại diện một số bộ, ngành.

Về phía tỉnh An Giang, có Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Võ Thị Ánh Xuân; Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Võ Anh Kiệt; Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thanh Bình; cùng các đồng chí trong Ban Thường vụ Tỉnh ủy, lãnh đạo các sở, ngành liên quan.

AG-lamviec-dai-hoi-2.jpg

Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Võ Thị Ánh Xuân trình bày các dự thảo báo cáo tại buổi làm việc

Tại buổi làm việc, đồng chí Võ Thị Ánh Xuân đã báo cáo với Bộ Chính trị, Ban Bí thư về công tác chuẩn bị văn kiện trình đại hội, gồm: kết cấu báo cáo chính trị, chủ đề đại hội; những đánh giá, nhận định chủ yếu trong việc thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ X Đảng bộ tỉnh; quan điểm, mục tiêu, khâu đột phá, chỉ tiêu phát triển 5 năm 2020 - 2025 và tầm nhìn đến năm 2030; giải pháp phát triển 5 năm 2020 - 2025; dự thảo báo cáo kiểm điểm của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Tỉnh ủy khóa X; phương án nhân sự Ðại hội đại biểu Ðảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2020 - 2025.

Đồng thời, các đồng chí trong Bộ Chính trị, Ban Bí thư, lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương đánh giá về những thành tựu, hạn chế trong quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ X. Phân định rõ lợi thế so sánh để định vị, phân tích, dự báo những tác động, tiềm năng, lợi thế tỉnh cần tập trung đầu tư phát triển trong thời gian tới. Lưu ý một số giải pháp phát triển kinh tế - xã hội (phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, thương mại- du lịch - dịch vụ); công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực để phát triển ngành kinh tế mũi nhọn… 

Nhìn chung, các ý kiến đánh giá cao công tác chuẩn bị văn kiện của tỉnh An Giang.  Đồng thời, chỉ ra những vấn đề tỉnh cần quan tâm để hoàn thiện dự thảo văn kiện, tổ chức thành công Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XI và đưa tỉnh phát triển hơn trong những năm tiếp theo.

AG-lamviec-dai-hoi-3.jpg

Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trần Quốc Vượng phát biểu kết luận buổi làm việc

Phát biểu kết luận cuộc họp, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trần Quốc Vượng nhấn mạnh, Bộ Chính trị và Ban Bí thư chúc mừng và đánh giá cao những nỗ lực, kết quả mà Đảng bộ tỉnh An Giang đạt được trong nhiệm kỳ qua. Thường trực Ban Bí thư bày tỏ đồng tình với những nội dung được thể hiện trong dự thảo các văn kiện của tỉnh; kết cấu các văn kiện hợp lý, nội dung có tính chất tổng kết và khái quát cao.

Đồng chí Trần Quốc Vượng đề nghị tỉnh tiếp tục khai thác, phát huy tốt tiềm năng, lợi thế của tỉnh để phát triển trong giai đoạn tiếp theo. Trong đó, tiếp tục xác định nông nghiệp là bệ đỡ của nền kinh tế; quan tâm đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn, nhất là thực hiện hiệu quả chương trình xây dựng nông thôn mới. Tăng cường đầu tư phát triển lĩnh vực thương mại - du lịch - dịch vụ. Đảm bảo quốc phòng - an ninh; tăng cường công tác chống buôn lậu.

Bên cạnh đó, tiếp tục quan tâm, thực hiện tốt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, xây dựng quê hương Bác Tôn phát triển giàu đẹp. Đồng chí Thường trực Ban Bí thư khẳng định An Giang đã đủ điều kiện để tổ chức Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XI (nhiệm kỳ 2020 - 2025).

Tin, ảnh: THU THẢO

TrueChính trị
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là trang sử vẻ vang nhất, chói lọi nhấtBài viếtQuốc HùngCách mạng Tháng Tám năm 1945 là trang sử vẻ vang nhất, chói lọi nhất/Imagesnews/2020-08/Cach-mang-t8-Quockhanh-29_Key_20082020141006.jpg

(TUAG)- Ngày 13/8/1945, ngay sau khi được tin Nhật đầu hàng, Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh đã thành lập Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc, gồm 5 đồng chí: Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Trần Đăng Ninh, Lê Thanh Nghị và Chu Văn Tấn, do Tổng Bí thư Trường Chinh trực tiếp phụ trách.

20/08/2020 2:00 CHNoĐã ban hành

23 giờ ngày 13/8/1945, Ủy ban khởi nghĩa đã ban bố Quân lệnh số 1, hạ lệnh tổng khởi nghĩa. Văn kiện lịch sử này kêu gọi: "Hỡi quân dân toàn quốc! Giờ Tổng khởi nghĩa đã đến, cơ hội có một của nhân dân Việt Nam vùng dậy giành lấy quyền độc lập cho nước nhà"!. Văn kiện thông báo việc thành lập Ủy ban khởi nghĩa và kêu gọi toàn thể Nhân dân và các lực lượng vũ trang cách mạng hãy hành động theo mệnh lệnh của Ủy ban khởi nghĩa và thúc giục "Chúng ta phải hành động nhanh với một tinh thần vô cùng quả cảm, vô cùng thận trọng! Tổ quốc đang đòi hỏi những hy sinh lớn lao của các bạn! Cuộc thắng lợi hoàn toàn nhất định sẽ về ta!".

Cach-mang-t8-Quockhanh-29.jpg

Hội nghị toàn quốc Đảng Cộng sản Đông Dương họp tại Tân Trào từ ngày 13 đến ngày 15/8/1945. Tham dự Hội nghị có đại biểu các Đảng bộ địa phương và một số đại biểu hoạt động của nước ngoài. Hội nghị họp đúng vào tình thế cách mạng trở nên khẩn trương, như Nghị quyết Hội nghị vạch rõ: "Những điều kiện khởi nghĩa ở Đông Dương đã chín muồi… Toàn dân tộc đang sôi nổi đợi chờ khởi nghĩa giành chính quyền độc lập". Sau khi phân tích tình hình thế giới và trong nước, bản Nghị quyết đề cập tới hàng loạt các vấn đề cụ thể và cấp bách như: công tác ngoại giao, tuyên truyền cổ động, nhiệm vụ quân sự, kinh tế, giao thông, vận động các giới, đảng phái. Hội nghị cũng thông qua 10 chính sách lớn của Việt Minh, coi đó là một mục tiêu cơ bản và trước mắt của toàn Đảng, toàn dân.

Sau Hội nghị toàn quốc, Đảng quyết định phát động toàn dân khởi nghĩa, ra lời hiệu triệu kêu gọi các đảng viên: "Giờ tổng khởi nghĩa đã đến! Dân tộc ta đã đến lúc vùng dậy giành lại chính quyền độc lập của mình! Trước cơ hội có một không hai này, toàn thể dân tộc ta phải đem hết lực lượng, dùng hết can đảm, bao quanh đạo quân giải phóng Việt Nam, tung xương máu ra đánh đuổi giặc Nhật, đòi lấy tự do hạnh phúc cho nhân dân".

Việt Nam giải phóng quân cùng toàn dân tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên cả nước. Đêm 15 và ngày 16/8/1945, từ Tân Trào, Việt Nam giải phóng quân chia làm hai bộ phận, tiến về tỉnh lỵ Tuyên Quang và Thái Nguyên. Ngày 17/8 tiến công trại lính Nhật ở thị xã Tuyên Quang, ngày 20/8ta bao vây quân Nhật ở Thái Nguyên, kêu gọi chúng đầu hàng.

Ngày 19/8, Thành ủy Hà Nội quyết định khởi nghĩa, độ 20.000 người họp mít tinh ở quảng trường Nhà hát lớn và xung quanh nghe lời kêu gọi của Ủy ban khởi nghĩa Hà Nội. Sau đó đi biểu tình lần lượt chiếm phủ Khâm sai, chiếm toà thị chính và chiếm trại bảo an binh. Chính quyền về tay Nhân dân. Khởi nghĩa Hà Nội có tầm quan trọng quyết định toàn quốc. Ngày 23/8 cũng là ngày Đảng bộ Huế ấn định cho cuộc khởi nghĩa ở Huế.

Ngày 24/8, Uỷ ban khởi nghĩa Nam Kỳ phát lệnh khởi nghĩa. Từ chập tối đến 0 giờ ngày 25/8, lực lượng cách mạng hoàn thành việc chiếm các cơ quan trước hết là các cơ quan yết hầu, bằng lực lượng tại chỗ đã chuẩn bị sẵn kết hợp lực lượng bên ngoài. Đến 22 giờ ngày 24/8, tất cả bộ máy cai trị của chính quyền bù nhìn thành phố đã về tay các lực lượng xung kích Thanh niên Tiền phong. Khâm sai Nguyễn Văn Sâm vừa mới nhậm chức đã bị bắt. Nửa đêm 24/8, hàng chục vạn quần chúng từ Bà Điểm, Hóc Môn, Bình Đông, Bình Chánh, Chợ Đệm… từ các tỉnh Tân Bình, Gia Định, Biên Hoà… rầm rộ tiến vào trung tâm thành phố, vũ trang bằng súng đủ loại, tầm vong vạt nhọn, giáo mác, dưới rừng cờ đỏ sao vàng, đi đầu là cờ búa liềm của Đảng Cộng sản và băng rôn ủng hộ Việt Minh. Ngày 25/8, Tổng khởi nghĩa thắng lợi tại Sài Gòn.

Cách mạng tháng Tám thắng lợi đã lật đổ được ách thống trị của phát-xít Nhật, xóa bỏ chế độ thuộc địa của chủ nghĩa thực dân Pháp và bộ máy chính quyền phong kiến tay sai, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam), mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử của dân tộc: Kỷ nguyên độc lập, tự do và tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Thắng lợi vẻ vang của Cách mạng tháng Tám 1945, mà nhân tố quyết định đó là sự lãnh đạo tài tình của Đảng ta và dấu ấn thiên tài vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc chọn đúng thời cơ, đưa ra quyết định tổng khởi nghĩa đúng lúc. Cũng chính nhờ chọn đúng thời cơ mà sức mạnh của Nhân dân ta trong cuộc cách mạng được nhân lên gấp bội, đã tiến hành tổng khởi nghĩa thành công trong phạm vi cả nước trong thời gian ngắn.

Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, Cách mạng tháng Tám là trang sử vẻ vang nhất, chói lọi nhất và là một trong những bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Không chỉ có giá trị và ý nghĩa to lớn đối với cách mạng Việt Nam, Cách mạng tháng Tám chứng tỏ rằng trong thời đại ngày nay cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở một nước thuộc địa do toàn dân nổi dậy dưới sự lãnh đạo của một Đảng Mác - Lênin có đường lối đúng đắn hoàn toàn có thể giành thắng lợi.

Lịch sử tuy đã lùi xa, nhưng những giá trị lịch sử của Cách mạng tháng Tám và thành quả của 75 năm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vẫn mãi là động lực để xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.

Quốc Hùng

False
Thành ủy Châu Đốc trao Huy hiệu Đảng đợt 2/9TinThu ThảoThành ủy Châu Đốc trao Huy hiệu Đảng đợt 2/9/Imagesnews/2020-08/CD-huyhieu-dang-1_Key_20082020104531.jpg

(TUAG)- Sáng 20/8, Ban Thường vụ Thành ủy Châu Đốc tổ chức Lễ trao Huy hiệu Đảng đợt 2/9/2020. Dịp này, có 9 đồng chí được nhận Huy hiệu Đảng từ 40 đến 55 tuổi Đảng.

20/08/2020 10:25 SANoĐã ban hành

CD-huyhieu-dang-1.jpg

CD-huyhieu-dang-2.jpg

Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Châu Đốc Cao Xuân Bá trao Huy hiệu Đảng và hoa cho các đảng viên.

Phát biểu tại buổi lễ, Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Châu Đốc Cao Xuân Bá khẳng định: Đây là niềm vinh dự, tự hào không chỉ của cá nhân mỗi đồng chí đảng viên, mà còn là niềm vui chung của gia đình, chi bộ và Đảng bộ thành phố. Việc trao tặng Huy hiệu cao quý của Đảng vào đúng dịp kỷ niệm 132 năm ngày sinh Chủ tịch Tôn Đức Thắng (20/8/1888 - 20/8/2020), 75 năm Cách mạng Tháng Tám (19/8/1945 - 19/8/2020) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2020). Đây là sự ghi nhận, trân trọng của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đối với sự cống hiến, đóng góp của các đồng chí trong sự nghiệp cách mạng của Đảng, sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đồng chí mong muốn, các đảng viên được nhận Huy hiệu Đảng tiếp tục phát huy phẩm chất đạo đức cách mạnh, là tấm gương sáng để thế hệ trẻ noi theo. Tiếp tục đóng góp công sức, trí tuệ của mình để xây dựng thành phố Châu Đốc phát triển bền vững, xây dựng Đảng bộ vững mạnh toàn diện.

THU THẢO

False
Cuộc cách mạng vĩ đại nhất của dân tộc ta trong thế kỷ XX Bài viếtĐảng Cộng sản VNCuộc cách mạng vĩ đại nhất của dân tộc ta trong thế kỷ XX /Imagesnews/2020-08/Bac-Ho-2-9_Key_19082020101209.jpg

Năm nay, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta kỷ niệm 75 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc Khánh 2/9 – là sự kiện mang tầm vóc thời đại, mở ra trang sử mới vô cùng rạng rỡ trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, đó là đưa đất nước ta, dân tộc ta bước vào kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa xã hội.

19/08/2020 10:45 SAYesĐã ban hành
Bac-Ho-2-9.jpg

Theo dòng lịch sử, đầu năm 1945, Chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn cuối. Hồng quân Liên Xô liên tiếp giành thắng lợi quyết định trên chiến trường châu Âu, giải phóng một loạt nước và tiến thẳng vào sào huyệt phát xít Đức tại Béc-lin. Ngày 9/5/1945, phát xít Đức đầu hàng vô điều kiện, chiến tranh kết thúc ở châu Âu. Ngày 8/8/1945, Hồng quân Liên Xô tiến công như vũ bão vào quân đội Nhật. Ngày 14/8/1945, phát xít Nhật đầu hàng vô điều kiện, chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc. Theo thỏa thuận của các nước Đồng minh, sau khi phát xít Nhật đầu hàng, quân đội Anh và Tưởng sẽ vào Đông Dương để giải giáp quân đội Nhật. Trong khi đó, thực dân Pháp lăm le dựa vào phe Đồng minh hòng khôi phục địa vị thống trị của mình; đế quốc Mỹ đứng sau các thế lực này cũng sẵn sàng can thiệp vào Đông Dương; những phần tử phản động, ngoan cố trong chính quyền tay sai Nhật đang âm mưu thay thầy đổi chủ, chống lại cách mạng nước ta.

Ở trong nước, trải qua ba cao trào Cách mạng lớn, ba cuộc diễn tập cách mạng: Cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh (1930-1931); Cao trào dân chủ (1936-1939) và Cao trào cách mạng giải phóng dân tộc (1939-1945), đến năm 1945, phong trào cách mạng dâng cao. Ngày 9/3/1945, phát xít Nhật làm cuộc đảo chính hất cẳng thực dân Pháp. Ngay trong đêm đó, Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng mở rộng quyết định phát động một cao trào cách mạng làm tiền đề cho tổng khởi nghĩa giành chính quyền, thay đổi các hình thức tuyên truyền, cổ động, tổ chức và đấu tranh cho thích hợp. Tháng 3/1945, Trung ương Đảng ra Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Tháng 4/1945, Trung ương triệu tập Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ, quyết định nhiều vấn đề quan trọng, thống nhất các lực lượng vũ trang thành Việt Nam giải phóng quân. Ngày 16/4/1945, Tổng bộ Việt Minh ra Chỉ thị tổ chức các Ủy ban Dân tộc giải phóng các cấp và chuẩn bị thành lập Ủy ban giải phóng dân tộc Việt Nam, tức Chính phủ lâm thời cách mạng Việt Nam.

Từ tháng 4/1945 trở đi, cao trào kháng chiến chống Nhật cứu nước diễn ra mạnh mẽ, phong phú về nội dung và hình thức. Đầu tháng 5/1945, Bác Hồ từ Cao Bằng về Tuyên Quang, chọn Tân Trào làm căn cứ chỉ đạo cách mạng cả nước và chuẩn bị Đại hội quốc dân. Ngày 4/6/1945, Khu giải phóng Việt Bắc được thành lập, đặt dưới sự lãnh đạo của Ủy ban chỉ huy lâm thời, trở thành căn cứ địa của cả nước. Tháng 8/1945, Hội nghị đại biểu toàn quốc của Đảng họp tại Tân Trào, Tuyên Quang trên cơ sở phân tích đánh giá tình hình cách mạng trong nước đã có sự phát triển mạnh mẽ, sôi sục và rộng khắp và bối cảnh quốc tế đang có những diễn biến thuận lợi đã đi đến khẳng định: “Cơ hội rất tốt cho ta giành độc lập đã tới” và quyết định phát động toàn dân khởi nghĩa giành chính quyền từ tay phát xít Nhật và tay sai trước khi quân Đồng minh vào Đông Dương; đề ra ba nguyên tắc bảo đảm tổng khởi nghĩa thắng lợi, đó là: Tập trung, thống nhất, kịp thời. Đến 23 giờ ngày 13/8/1945, Ủy ban Khởi nghĩa ra Quân lệnh số 1 hiệu triệu toàn dân tổng khởi nghĩa. Ngày 16/8/1945, Đại hội Quốc dân họp tại Tân trào thông qua “10 chính sách lớn của Việt Minh”; thông qua “Lệnh tổng khởi nghĩa”; quy định quốc kỳ, quốc ca; thành lập Ủy ban Dân tộc giải phóng Trung ương, tức Chính phủ Lâm thời do đồng chí Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư kêu gọi nhân dân cả nước tổng khởi nghĩa, trong đó chỉ rõ: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân cả nước đồng loạt vùng dậy, tiến hành tổng khởi nghĩa, giành chính quyền. Từ ngày 14 đến ngày 18/8, cuộc tổng khởi nghĩa nổ ra giành được thắng lợi ở nông thôn đồng bằng Bắc bộ, đại bộ phận miền Trung, một phần miền Nam và ở các thị xã: Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh, Hội An, Quảng Nam... Ngày 19/8, khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi ở Hà Nội. Ngày 23/8, khởi nghĩa thắng lợi ở Huế và ở Bắc Kạn, Hòa Bình, Hải Phòng, Hà Đông, Quảng Bình, Quảng Trị, Bình Định, Gia Lai, Bạc Liêu... Ngày 25/8, khởi nghĩa thắng lợi ở Sài Gòn - Gia Định, Kon Tum, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Trà Vinh, Biên Hòa, Tây Ninh, Bến Tre... Ở Côn Đảo, Đảng bộ nhà tù Côn Đảo đã lãnh đạo các chiến sĩ cách mạng bị giam cầm nổi dậy giành chính quyền. Chỉ trong vòng 15 ngày cuối tháng 8/1945, cuộc tổng khởi nghĩa đã giành thắng lợi hoàn toàn, chính quyền trong cả nước về tay nhân dân. Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, trước cuộc mít tinh của gần một triệu đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ Lâm thời trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc dân và thế giới: Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Từ đó, ngày 2/9 là Ngày Quốc khánh của nước ta.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công mau lẹ do nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân quan trọng, có ý nghĩa quyết định là sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt, tài tình của Đảng; là sự vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin trong điều kiện cụ thể của nước ta một cách đúng đắn, độc lập, tự chủ và sáng tạo. Đảng có phương pháp, chiến lược, chiến thuật cách mạng phù hợp, linh hoạt; nhận thức được thời cơ, chủ động đón thời cơ và kiên quyết chớp thời cơ, tiến hành tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Nguyên nhân thứ hai rất quan trọng là do tinh thần yêu nước, đoàn kết, ý chí quật cường của các tầng lớp nhân dân ta, không chịu sống mãi kiếp nô lệ của người dân mất nước; một lòng đi theo Đảng và được Đảng lãnh đạo qua các cuộc tổng diễn tập, đã quyết vùng lên giành độc lập cho dân tộc. Cuộc Tổng khởi nghĩa năm 1945 là thành tựu tuyệt vời của tinh thần, ý chí, trí tuệ con người Việt Nam. Tinh thần, trí tuệ ấy xuất hiện từ buổi đầu lịch sử dân tộc, đã được nâng lên một tầm cao mới sau 15 năm đấu tranh quật cường dưới dự lãnh đạo của Đảng. Trải qua 15 năm đấu tranh cực kỳ gian khổ và anh dũng dưới sự lãnh đạo của Đảng, đã có biết bao đồng bào, chiến sĩ đã không hề tiếc máu xương, hy sinh oanh liệt vì mục tiêu độc lập dân tộc. Cách mạng Tháng Tám thành công cũng do được tiến hành trong bối cảnh quốc tế có những thuận lợi nhất định khi mà chủ nghĩa phát xít Đức, Ý, Nhật đã bị đánh bại, phong trào đấu tranh giải phóng của các dân tộc bị áp bức và của các lực lượng tiến bộ trên thế giới phát triển mạnh.

Cách mạng Tháng Tám thành công có ý nghĩa lịch sử vô cùng quan trọng. Đó là thắng lợi vĩ đại đầu tiên của nhân dân ta từ khi có Đảng lãnh đạo, mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Chính quyền về tay nhân dân, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời - Nhà nước Công Nông đầu tiên ở Đông Nam Á; chấm dứt chế độ quân chủ phong kiến ở Việt Nam; kết thúc hơn 80 năm nhân dân ta sống dưới ách kìm kẹp của thực dân, phát xít. Nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thành người dân một nước độc lập, làm chủ vận mệnh của mình. Nước Việt Nam từ một nước thuộc địa nửa phong kiến trở thành một nước độc lập, tự do và dân chủ. Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành một Đảng cầm quyền. Từ đây, đất nước, xã hội, dân tộc và con người Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Cách mạng Tháng Tám là thắng lợi của chủ nghĩa Mác-Lênin được vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể của cách mạng Việt Nam; là thắng lợi của tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối cách mạng của Đảng ta gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, gắn sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; là sự thể nghiệm thành công đầu tiên chủ nghĩa Mác-Lênin tại một nước thuộc địa ở châu Á. Đây còn là quá trình phát triển tất yếu của lịch sử dân tộc trải qua mấy nghìn năm phấn đấu, đỉnh cao của ý chí quật cường, sức mạnh cố kết cộng đồng, tầm cao trí tuệ của dân tộc hòa quyện với chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với xu thế của thời đại vì hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội, vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám cổ vũ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước bị chủ nghĩa đế quốc thực dân áp bức, thống trị. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám khẳng định rằng, trong điều kiện trào lưu của cách mạng vô sản, cuộc cách mạng do một đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo không chỉ có thể thành công ở một nước tư bản kém phát triển, nơi mắt xích yếu nhất của chủ nghĩa đế quốc mà còn có thể thành công ở ngay một nước thuộc địa nửa phong kiến lạc hậu để đưa cả dân tộc đó đi lên theo con đường của chủ nghĩa xã hội.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 để lại nhiều bài học quý báu, nổi bật là:

Một là, có một đảng tiên phong thật sự cách mạng, tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin, được tư tưởng Hồ Chí Minh soi sáng đã nắm vững hoàn cảnh cụ thể của mỗi giai đoạn lịch sử, đề ra đường lối cách mạng đúng đắn, có phương pháp và hình thức đấu tranh phù hợp; biết nắm bắt thời cơ, xây dựng lực lượng và tổ chức, sử dụng lực lượng; phát huy được sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để dẫn dắt quần chúng đứng lên giành thắng lợi.

Hai là, vấn đề giành và giữ chính quyền của cuộc cách mạng. Đảng ta đã biết chăm lo xây dựng lực lượng cách mạng, làm cho lực lượng cách mạng đủ mạnh, thu hút được đông đảo quần chúng tham gia, từ đó làm thay đổi so sánh lực lượng giữa ta và địch, tạo ra thời cơ cách mạng để đưa cuộc cách mạng đến thành công. Để giữ vững chính quyền, Đảng và Nhà nước ta đã dựa chắc vào nhân dân, tạo nên sức mạnh vật chất và tinh thần để đấu tranh thắng lợi với thù trong giặc ngoài. Đảng ta biết kiên quyết dùng bạo lực cách mạng và sử dụng bạo lực cách mạng thích hợp và đúng lúc để đập tan bộ máy nhà nước cũ, lập ra nhà nước mới của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

Ba là, vấn đề nắm bắt được thời cơ ngàn năm có một, đề ra được những quyết định chính xác và kịp thời. Nghệ thuật chỉ đạo tài tình của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc chọn đúng thời cơ, ra quyết định Tổng khởi nghĩa đúng lúc thể hiện cụ thể trong Chỉ thị của Thường vụ Trung ương Đảng tháng 3/1945 “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” và bản Quân lệnh số 1 của Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc phát đi đêm 13/8/1945. Chọn thời điểm 13/8 để phát động Tổng khởi nghĩa là vô cùng sáng suốt. Bởi vì vào thời điểm đó, Cách mạng đã lên tới cao trào, lực lượng cách mạng đã lôi kéo được cả những tầng lớp trung gian, lưng chừng lúc đó quân Nhật bại trận mất tinh thần cao độ, chỉ ngồi chờ quân Đồng minh đến tước vũ khí, ngụy quân tay sai tan rã và đã tỏ thái độ đầu hàng lực lượng cách mạng. Thời cơ khởi nghĩa ngàn năm có một đã được chọn một cách chính xác trong khoảng 15 ngày trước khi quân Tưởng và quân Anh đổ bộ vào Đông Dương. Nếu phát động Tổng khởi nghĩa muộn hơn, khi quân Đồng minh đã vào Đông Dương thì Cách mạng Việt Nam sẽ mất đi thế chủ động của mình và sẽ gặp khó khăn khác. Điều đó đúng như V.Lê-nin đã nhấn mạnh khi nói về thời cơ: Chiều nay quá sớm nhưng sáng mai quá muộn. Có thể đêm thì vừa! Cũng nhờ chọn đúng thời cơ mà sức mạnh của nhân dân ta trong Cách mạng Tháng Tám được nhân lên gấp bội, đã tiến hành tổng khởi nghĩa thành công trong phạm vi cả nước trong thời gian ngắn.

Kỷ niệm 75 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9 trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang ra sức thi đua lập thành tích chào mừng Đại hội Đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội lần thứ XIII của Đảng, trong đó cả hệ thống chính trị đang được phát huy sức mạnh với tinh thần: “Chống dịch như chống giặc” để chiến thắng đại dịch COVID-19. Hơn bao giờ hết, chúng ta càng hiểu rõ hơn giá trị và những bài học kinh nghiệm quý giá của Cách mạng Tháng Tám để vận dụng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay./.

TS. Bùi Thế Đức,
Phó Chủ tịch Hội đồng lý luận, phê bình Văn học, Nghệ thuật Trung ương
True
Nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu: “Chúng ta không bó tay trước khó khăn”Bài viếtQuốc HùngNguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu: “Chúng ta không bó tay trước khó khăn”/Imagesnews/2020-08/ttxvn_nguyen_tbt_le_kha_phieu_07_Key_15082020095521.jpg

(TUAG)- Trên cương vị là người lãnh đạo cao nhất của Đảng, là người đặt nền móng cho công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng thời kỳ đổi mới và hội nhập, là vị tướng tài ba, là người lãnh đạo hết lòng vì Đảng, vì Nước, vì Dân. Cái quý nhất ở nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đó là luôn gần gũi, gắn bó với cuộc sống của người dân.

15/08/2020 8:00 SANoĐã ban hành

ttxvn_nguyen_tbt_le_kha_phieu_07.jpg 

Hình ảnh vị Tổng Bí thư Đảng xắn quần, lội bộ để kiểm tra, thị sát tình hình chống lũ, mang đến cho đồng bào, đồng chí sự tin tưởng, ấm lòng, thật giản dị, gần gũi với người dân.

Cuối năm 1999, các tỉnh miền Trung phải hứng chịu hai trận lũ lớn. Khi lũ lụt lớn xảy ra, chưa kịp về thăm các tỉnh miền Trung lũ chồng lên lũ, Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu có thư điện gửi toàn thể đồng bào và đảng bộ các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên và thành phố Đà Nẵng để chia sẻ những đau thương mất mát đối với các gia đình có người thân hy sinh và gặp hoạn nạn. Đồng chí "bày tỏ lòng kính phục trước những tấm gương của đồng bào, đồng chí, của các chiến sĩ lực lượng vũ trang, các đơn vị, các ngành, các cấp ở Trung ương và địa phương đã không sợ gian khổ quên mình cứu dân, đùm bọc giúp đỡ lẫn nhau, ngày đêm chống chọi với bão lũ"(1) và tin tưởng rằng đồng bào và đảng bộ các tỉnh, thành phố miền Trung sẽ đạp bằng khó khăn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của địa phương.

Trận lũ lớn năm 1999, Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đã có chuyến thăm bà con Đồng bằng sông Cửu Long, thăm một trong những gia đình nông dân ở tỉnh An Giang sắp bị nước lũ cuốn trôi trong trận lũ lớn, Tổng Bí thư đã yêu cầu các gia đình này phải được chuyển ngay đến nơi an toàn…

Phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII, ngày 11-11-1999, Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu nêu rõ: Cuộc chiến đấu chống lũ lớn tàn phá dữ dội ở miền Trung, gây thiệt hại hết sức nặng nề về người và của cải vật chất. Tổng Bí thư nhấn mạnh: "Chúng ta không bó tay trước khó khăn, mà phải dũng cảm lao vào khó khăn nguy hiểm, không chần chừ, không ỷ lại, phải tìm tòi, sáng tạo, huy động lực lượng quyết tâm giải quyết bằng được khó khăn, phát huy truyền thống tự lực, tự cường của dân tộc, cả nước một lòng vượt qua phong ba bão táp.

Đó chính là thái độ của những người cộng sản chịu trách nhiệm trước nhân dân, trước những thử thách khốc liệt của cuộc đấu tranh cách mạng, vì dân vì nước.

Sống và làm việc trong những ngày vừa qua, đứng trước những đau thương mất mát của đồng bào đồng chí ở miền Trung, những đảng viên cộng sản chúng ta cảm nhận từ trong lòng mình phải sống, làm việc sao cho xứng đáng với tấm lòng và sự hy sinh cao cả của nhân dân.

Nhân dân, Tổ quốc, sự nghiệp cách mạng của Đảng trước thế kỷ mới đòi hỏi Đảng ta, những cán bộ, đảng viên của Đảng phải bền bỉ phát huy ưu điểm, kiên quyết khắc phục khuyết điểm, đặc biệt là khắc phục cho được căn bệnh quan liêu, tham nhũng"(2).

Là người lãnh đạo cao nhất của Đảng, đồng chí Lê Khả Phiêu luôn quan tâm đến nhiều giới, nhiều ngành và nhiều lĩnh vực, ở diễn đàn nào cũng thấy đồng chí thể hiện sự quan tâm sâu sắc từ người dân, người lính, giai cấp công nhân, tổ chức Công đoàn, nông dân, đội ngũ những người làm công tác tư tưởng - văn hoá của Đảng, các nhà khoa học, nhà văn, quan tâm đến tài nguyên chất xám, tài nguyên con người đến văn hoá, báo chí, từ công tác xoá đói giảm nghèo cấp bách đến việc giáo dục truyền thống yêu nước và cách mạng, từ người cao tuổi cho đến thanh thiếu niên, nhi đồng,... Và kể cả tấm lòng đối với bạn bè quốc tế.

Với 89 tuổi đời, hơn 70 năm tuổi Đảng, ở đồng chí Lê Khả Phiêu nhiệm vụ nào cũng "gắng sức làm", suốt cả cuộc đời luôn kiên định, nhiệt huyết với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của Dân, hết mực nghĩa tình, thuỷ chung với đồng bào, đồng chí, phong cách của một quân nhân, một nhà lãnh đạo, một người cộng sản chân chính. Nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu từ trần là mất mát to lớn, để lại niềm ngậm ngùi, tiếc thương vô hạn của Đảng và Nhân dân ta!./.

_________________________

(1), (2) Lê Khả Phiêu, Tuyển tập (1999-2010), NXB Chính trị quốc gia, tập II, tr. 211; 198.

Quốc Hùng

False
Vô cùng thương tiếc đồng chí Lê Khả Phiêu - Vị tướng yêu thương bộ đội như ruột thịtBài viếtVô cùng thương tiếc đồng chí Lê Khả Phiêu - Vị tướng yêu thương bộ đội như ruột thịt/Imagesnews/2020-08/Le-Kha-Phieu-3_Key_11082020140427.jpg

(TUAG)- Đồng chí Lê Khả Phiêu, nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, người cộng sản kiên trung, mẫu mực, hết lòng vì nước, vì dân. Cuộc đời ông là một trang sử cao đẹp, trọn đời hi sinh cho đất nước và hạnh phúc của Nhân dân.

11/08/2020 11:00 SAYesĐã ban hành

Mùa thu năm 1995, tôi may mắn được gặp bác Lê Khả Phiêu đến thăm cán bộ chiến sĩ Lữ đoàn 171 Hải quân. Lúc đó ông đeo quân hàm Trung tướng, giữ chức Phó Chủ nhiệm Tổng Cục chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam.

 Le-Kha-Phieu-1.jpg

Trung tướng Lê Khả Phiêu nói chuyên biển, đảo với Ban chỉ huy Lữ đoàn 171 mùa Thu năm 1995, nhân dịp ông đến thăm, (ảnh Mai Thắng).

Sau nghi thức chào báo cáo theo điều lệnh đội ngũ, Ban Chỉ huy Lữ đoàn 171 tập trung cán bộ chủ chốt thành một hàng ngang. Trung tướng Lê Khả Phiêu mặc áo bu dong chiết gấu màu cỏ úa, đi dày đen quân nhu, đưa tay chào cán bộ chiến sĩ, rồi ông thân mật bắt tay từng người. Dừng trước một sĩ quan trẻ, ông hỏi "Cậu bao nhiêu tuổi?". "Báo cáo thủ trưởng tôi 24 ạ"- người sĩ quan trẻ trả lời. Nắm chặt tay người sĩ quan ấy, ông bảo: "Đó là tuổi đẹp nhất của đời người. Hãy làm việc bằng trái tim của một người lính cống hiến vì Tổ quốc, vì Nhân dân". Chúng tôi xúc động nhìn ông. Khoảng cách tướng - quân bị "xóa nhòa" từ giây phút ấy.

Trong không gian ấm áp của Sở Chỉ huy Lữ đoàn, Thượng tá Phạm Xuân Hoa -Lữ đoàn trưởng, thay mặt cán bộ chiến sĩ báo cáo với ông về nhiệm vụ và tình hình hoạt động của bộ đội trên các nhà giàn DK1. Ngước nhìn tấm ảnh nhà giàn DK1/10 treo trang trọng trên tường, Trung tướng Lê Khả Phiêu bảo: "Biển đảo sẽ có những biến động trong tương lai. Mỗi một nhà giàn là một cột mốc sống trên biển, các cậu phải đoàn kết, bảo vệ bằng được. Đảng, Nhà nước, Quân đội luôn tin tưởng các cậu". Tôi nhìn thấy ánh mắt ông rưng rưng. Ông quay lại nhìn chúng tôi thân thiện bảo: "Mỗi hòn đảo là máu xương Tổ quốc. Vùng đặc quyền kinh tế của nước ta có vị trí đặc biệt quan trọng. Bảo vệ vững chắc vùng đặc quyền kinh tế là nhiệm vụ của chúng ta, của các đồng chí".

Đến giờ ăn cơm, ban chỉ huy Lữ đoàn mời ông dùng cơm trong nhà khách của sở chỉ huy theo chế độ cơm "đại táo" giành cho tướng lĩnh quân đội. Trước khi ngồi vào bàn ăn, ông nói với cán bộ phòng hậu cần - Trung tá Phạm Đình Hoành: "Cậu dẫn mình đi xem nhà ăn của bộ đội thế nào được chứ?". Bước qua khoảng trống sân cỏ rộng, ông nhìn những ngôi nhà cũ kỹ, những vạt cát phía đầu nhà ở của bộ đội. Dừng trước bàn chia thức ăn, ông bảo chiến sĩ cấp dưỡng "Cậu cho mình mượn đôi đũa". Cậu chiến sĩ chạy ào lấy đưa cho ông. Ông gắp miếng rau cải luộc đưa lên miệng nhai, rồi bảo: "Rau mềm, ngon đấy, nhưng phải bảo đảm vệ sinh, chất lượng hơn". Bước tới nồi cơm, ông lấy một miếng nhỏ ăn rồi nói: "Trong thời bình, cơm cho chiến sĩ phải thật chín. Anh em phải ăn no, ăn ngon mới huấn luyện tốt, cống hiến tốt cho đơn vị được".

Tôi nhớ như in buổi dùng cơm trưa đó. Sau kiểm tra nhà ăn của bộ đội, ông trở lại cùng ban chỉ huy Lữ đoàn 171 dùng cơm trưa. Nhìn đĩa thịt đầy ắp, đĩa rau xanh ngon, ông hạ đũa, mắt rưng rưng bảo: "Tớ kể các cậu nghe thế này". Giọng ông chậm rãi. Câu chuyện nuốt vào tâm can cán bộ chiến sĩ chúng tôi.

Le-Kha-Phieu-2.jpg

Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu chụp ảnh lưu niệm với Tổng Bí Thư- Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng cùng các tướng lĩnh quân đội trong lễ ông được tặng huy hiệu 70 năm tuổi đảng. ảnh tác giả chụp lại từ ảnh tư liệu.

Ông kể: Những năm khói lửa chiến tranh của cuộc kháng chiến chống Đế Quốc Mỹ, bộ đội ta rất khổ. Hành quân trên chiến trường vừa đói vừa rét, vừa đánh giặc. Trên khắp các chiến trường ngày ấy, Bình Trị Thiên là chiến trường ác liệt nhất sau chiến dịch Mậu Thân 1968. Đối với cán bộ cấp Cục như ông cũng chỉ được cấp 1 lạng gạo/ ngày, còn bộ đội chủ yếu phải ăn cháo rau qua bữa. Thương ông, người chiến sĩ cần vụ ngày nào cũng vào nương rẫy của bà con Pa Cô Vân Kiều mót khoai về luộc cho ông lót dạ thêm vào buổi sáng. Có điều lạ là mỗi lần người cần vụ đưa khoai lên thì ông đã thấy khoai được bóc vỏ sẵn. Ban đầu ông chỉ nghĩ là cậu lính trẻ muốn quan tâm, chăm sóc thủ trưởng chu đáo hơn. Sau ông biết, người chiến sĩ cần vụ ấy đã nhường khoai cho thủ trưởng, còn mình chỉ ăn vỏ khoai. "Tự trong lòng mình lúc đó trào dâng một cảm xúc. Vừa day dứt, vừa thương mến, vừa ấm áp nhưng lại vừa xót xa. Cậu cần vụ ấy đã hy sinh bởi bom máy bay B52 trong lần cùng đi công tác ngay sau đó. Mấy chục năm qua, hình ảnh nắm vỏ khoai năm ấy luôn là nỗi trăn trở day dứt trong lòng mình. Đấy là hình ảnh sống của đời mình nên không bao giờ quên, và không được phép quên". Vị tướng một thời binh đao hoa lửa nhìn ra khoảng trống sân Lữ đoàn bộ. Ký ức cảm động dâng trào trong ông về những bước đường hành quân chiến đấu của cuộc đời mình.

Ông Nguyễn Viết Chức, quê gốc huyện Quảng Xương Thanh Hóa, nguyên thuyền thưởng của tàu săn ngầm 07 được may mắn làm việc với Thượng tướng Lê Khả Phiêu nhiều lần trong những chuyến tàu công tác.

Ông Chức kể: Khi còn là Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội, Thượng tướng Lê Khả Phiêu có chuyến về thăm làm việc tại Quân khu 4. Ông đến thăm Lữ đoàn công binh 414 đóng ở huyện Nam Đàn Nghệ An. Biết ông không thích ngồi ăn cơm mâm riêng nên ban chỉ huy Lữ đoàn 414 bố trí 6 mâm cơm cho cả đoàn công tác và đơn vị. Khi mọi người đã ngồi vào bàn ăn, ông vẫy một chiến sĩ phục vụ lại và bảo: "Cháu vào cho bác mượn vài chiếc đĩa". Mọi người ngạc nhiên không hiểu Thượng tướng "mượn đĩa" để làm gì. Khi cậu chiến sĩ trẻ mang đĩa tới, ông san thức ăn ra từ các đĩa ra ân cần nói: "Thức ăn nhiều, để thêm cho các cháu phục vụ". Kết thúc bữa trưa, khi mọi người đã ngồi quây quần uống nước, giọng của vị tướng nhiều năm xông pha trận mạc lắng xuống: "Bộ đội là máu thịt của Tổ quốc. Trong chiến trận chỉ huy lãnh đạo thương bộ đội, trong thời bình càng phải thương yêu hơn. Vì gia đình họ gửi gắm chúng ta, gửi gắm vào tớ, vào cậu"- đưa tay lên ngực, ông nói từ tấm lòng.

Le-Kha-Phieu-3.jpg

Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu thăm cán bộ chiến sĩ Quân chủng Hải quân năm 2000, ảnh tác giả chụp lại từ ảnh tư liệu

25 năm kể từ ngày tôi vinh dự được gặp Trung tướng Lê Khả Phiêu từ mùa thu năm ấy. Từ cậu sĩ quan "trung úy măng tơ" tôi đã trở thành "sĩ quan già". Lời dặn dò của Trung tướng Lê Khả Phiêu "Hãy làm việc bằng trái tim của một người lính cống hiến vì Tổ quốc" vẫn còn đây, vẫn tươi mới trong tim tôi trên con đường binh nghiệp. Cũng chính nhờ lời huấn thị ấy mà tôi và hơn 200 đồng đội DK1 đã hoàn thành nhiệm vụ, giữ vững những "cột mốc sống DK1" vững chãi trên thềm lục địa phía Nam của Tổ quốc. 

Để rồi hôm nay chúng tôi- những cán bộ chiến sĩ Lữ đoàn 171 Hải quân, Trường Sa, DK1- những đang đêm ngày vững chắc tay súng canh chủ quyền thiêng liêng phía đường biên của Tổ quốc nhói lòng tiễn biệt ông - cuộc tiễn biệt không có ngày gặp lại.

Xin vĩnh biệt Thượng tướng Lê Khả Phiêu - vị tướng tài ba liêm chính sống mãi trong lòng Nhân dân và Bộ đội Việt Nam.

Đôi mắt tinh tường đã khép lại, đôi chân xông xáo trên chiến trường năm xưa đã duỗi thẳng, trái tim nhân ái đã ngừng đập; nhưng ông sống mãi trong lòng dân tộc Việt Nam. Ông đã tiễn biệt dương trần, nhưng tác phong giản dị gần gũi, đạo đức trong sáng thanh liêm, bản lĩnh kiên cường một đời tận hiến vì dân vì nước, vẫn mãi vang vọng trong lịch sử hôm nay, mai sau và đời đời hậu thế. Lê Khả Phiêu - tên ông đã hòa vào lòng dân tộc, vào tâm khảm của các thế hệ người Việt trên mọi miền Tổ quốc.

Mai Thắng

True
1 - 30Next