Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksChính trị

Chào mừng quý vị đến với Cổng thông tin điện tử Đảng bộ tỉnh An Giang!
 
Chính trị
 

​(TUAG)- Ngày 29/7, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ra Lời kêu gọi gửi đồng bào, đồng chí, chiến sĩ cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài về công tác phòng, chống đại dịch COVID-19. Cổng TTĐT Đảng bộ An Giang trân trọng gửi tới bạn đọc toàn văn Lời kêu gọi của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

 
 

(TUAG)- 92 năm qua, cùng với sự ra đời, phát triển và trưởng thành của giai cấp công nhân và Công đoàn Việt Nam, đội ngũ công nhân và tổ chức Công đoàn An Giang đã phát triển mạnh mẽ, đáp ứng nhu cầu thực tiễn.

 
 

(TUAG)- Những nội dung được Trung ương đưa ra xem xét, quyết định tại hội nghị lần thứ ba có ý nghĩa rất quan trọng, được cán bộ, đảng viên và nhân dân hết sức quan tâm

 
 

(ĐCSVN)- Sáng 05/7, tại Trụ sở Trung ương Đảng đã diễn ra phiên khai mạc Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII. Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì phiên khai mạc.

 
 

​(TUAG)- Cổng TTĐT Đảng bộ tỉnh An Giang trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khai mạc Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII, sáng 5/7.

 
 

Trong quá trình tìm đường cứu nước cũng như lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao tinh thần tự lực, tự cường, tự lực cánh sinh và coi đó là phương châm hành động của cách mạng Việt Nam. Nhờ đường lối đúng đắn đó, cách mạng Việt Nam đã giành được những thắng lợi vĩ đại.

 
 
 
 
  
  
  
  
  
Tóm tắt
  
  
  
  
Nội dung
  
  
Phân loại
  
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ra Lời kêu gọi phòng, chống đại dịch COVID-19NewTinAdminTổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ra Lời kêu gọi phòng, chống đại dịch COVID-19/SiteAssets/TBT-keugoi-toandan-cd.jpg

​(TUAG)- Ngày 29/7, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ra Lời kêu gọi gửi đồng bào, đồng chí, chiến sĩ cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài về công tác phòng, chống đại dịch COVID-19. Cổng TTĐT Đảng bộ An Giang trân trọng gửi tới bạn đọc toàn văn Lời kêu gọi của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

29/07/2021 1:00 CHNoĐã ban hành

TBT-keugoi-toandan-cd.jpg

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ra Lời kêu gọi gửi đồng bào, đồng chí, chiến sĩ cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài về công tác phòng, chống đại dịch COVID-19.

Thưa đồng bào, đồng chí, chiến sĩ cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài,

Trong thời gian qua, trước những diễn biến phức tạp của tình hình dịch bệnh COVID-19, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chỉ đạo về tăng cường công tác phòng, chống dịch, chăm lo đời sống, bảo vệ sức khỏe nhân dân và phát triển kinh tế - xã hội; ban hành kịp thời nhiều chính sách hỗ trợ người dân và doanh nghiệp gặp khó khăn do ảnh hưởng bởi đại dịch COVID-19... Các cấp, các ngành, các địa phương và nhân dân cả nước đã chủ động, kịp thời thực hiện các biện pháp mạnh mẽ, quyết liệt như giãn cách, cách ly xã hội, "chiến lược vắc-xin", "vắc-xin và biện pháp 5K"... để phòng, chống, ngăn chặn dịch bệnh, bước đầu đã thu được một số kết quả tích cực.

Thay mặt lãnh đạo Đảng và Nhà nước, tôi nhiệt liệt hoan nghênh, biểu dương và đánh giá cao sự cố gắng, nỗ lực của nhân dân trong nước, đồng bào ta ở nước ngoài đã phát huy truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái; cảm ơn cộng đồng quốc tế đã đồng hành, ủng hộ, chung tay góp sức cùng Việt Nam trong công tác phòng, chống dịch; biểu dương sự vào cuộc kịp thời, tích cực của cả hệ thống chính trị đã góp phần kiềm chế, ngăn chặn sự bùng phát của dịch bệnh; phát triển kinh tế - xã hội, chăm lo đời sống, bảo vệ sức khoẻ nhân dân.

Hiện nay, tình hình đại dịch COVID-19 vẫn đang diễn biến rất phức tạp, tốc độ lây lan rất nhanh, gây tổn hại lớn về sức khỏe và tính mạng của người dân, ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế - xã hội và mọi mặt của đời sống. Với tinh thần "chống dịch như chống giặc", bảo vệ sức khỏe, tính mạng của nhân dân là trên hết, trước hết, thay mặt lãnh đạo Đảng và Nhà nước, tôi tha thiết kêu gọi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và đồng bào ta ở nước ngoài: Chúng ta đã cố gắng càng cố gắng hơn nữa; đã đoàn kết càng đoàn kết hơn nữa; đã quyết tâm càng quyết tâm cao hơn nữa; toàn dân tộc muôn người như một, đồng lòng cùng Đảng, Chính phủ, các cấp, các ngành tìm mọi cách quyết ngăn chặn, đẩy lùi bằng được, không để dịch lan rộng, bùng phát trong cộng đồng. Tôi yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, ban chỉ đạo phòng, chống dịch COVID-19 từ Trung ương tới cơ sở phải quyết liệt hơn nữa trong lãnh đạo, chỉ đạo; tập trung cao nhất công sức, thời gian, ưu tiên mọi nguồn lực; chủ động nắm chắc và dự báo, kiểm soát tốt tình hình; tuyệt đối không được lơ là, chủ quan, không để bị động, bất ngờ trong ứng phó với diễn biến mới của dịch bệnh; linh hoạt, sáng tạo tổ chức thực hiện có hiệu quả công việc hệ trọng này.

Tôi tin tưởng sâu sắc rằng, cả nước góp sức, toàn Đảng, toàn dân đồng lòng, thống nhất ý chí và hành động, cùng với sự giúp đỡ chí tình của đồng bào ta ở nước ngoài và bạn bè quốc tế, nhất định chúng ta sẽ chiến thắng đại dịch COVID-19 và phải chiến thắng cho bằng được, góp phần xứng đáng vào sự nỗ lực chung của toàn nhân loại vì một thế giới an toàn, lành mạnh, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và thịnh vượng, xứng đáng với truyền thống anh hùng vẻ vang của Đất nước ta, Dân tộc ta!

NGUYỄN PHÚ TRỌNG
Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam

FalseChính trị
Phát huy truyền thống vẻ vang, xây dựng Công đoàn An Giang ngày càng phát triển Bài viếtTrúc LinhPhát huy truyền thống vẻ vang, xây dựng Công đoàn An Giang ngày càng phát triển /SiteAssets/Cong-doanag.jpg

(TUAG)- 92 năm qua, cùng với sự ra đời, phát triển và trưởng thành của giai cấp công nhân và Công đoàn Việt Nam, đội ngũ công nhân và tổ chức Công đoàn An Giang đã phát triển mạnh mẽ, đáp ứng nhu cầu thực tiễn.

28/07/2021 1:05 CHNoĐã ban hành

Từ những năm 1920, cùng với Sài Gòn và một số tỉnh thuộc Nam kỳ, An Giang đã hình thành tổ chức Công hội (tiền thân của tổ chức Công đoàn ngày nay). Tháng 4/1930, chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên được thành lập ở Long Điền (Chợ Mới), từ đây tổ chức Công hội ở An Giang được củng cố, phát triển về mọi mặt, góp phần cùng quân - dân An Giang đấu tranh giải phóng giai cấp, giải phóng quê hương. Từ đó đến nay, vị trí phong trào công nhân và hoạt động Công đoàn ngày càng được xác lập rõ nét, làm nồng cốt cho phong trào cách mạng, đặc biệt đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương.

Trải qua 10 kỳ Đại hội, tổ chức công đoàn An Giang được củng cố và phát triển, số lượng đoàn viên công đoàn tăng nhanh, đội ngũ cán bộ phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng. Đến nay, toàn tỉnh có trên 105.000 công nhân, viên chức, lao động và 99.400 đoàn viên đang sinh hoạt, làm việc tại 1.493 công đoàn cơ sở, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp (tăng 71.300 đoàn viên so với năm 1984), tỉ lệ công đoàn cấp trên cơ sở, công đoàn cơ sở đạt vững mạnh đều tăng lên qua mỗi nhiệm kỳ.

Công đoàn mở rộng hoạt động sang khu vực kinh tế ngoài nhà nước; phối hợp ngày càng hiệu quả với các cấp chính quyền, các tổ chức và người sử dụng lao động, thực hiện tốt hơn nhiệm vụ đại diện chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động, kịp thời giải quyết những vấn đề bức xúc, góp phần xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định tiến bộ trong doanh nghiệp. Công tác tuyên truyền, vận động đoàn viên, người lao động tiếp tục đổi mới, đa dạng hóa, hướng về cơ sở. Các cuộc vận động, phong trào yêu nước được phát động rộng rãi, thu hút, khơi dậy động lực của đoàn viên, người lao động, góp phần tăng năng suất lao động, phát triển kinh tế - xã hội. Công đoàn đã làm tốt vai trò cầu nối của Đảng, Nhà nước với công nhân, người lao động, tích cực tham gia xây dựng Đảng, hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Trong những năm gần đây, các cấp công đoàn từ tỉnh đến cơ sở đã có nhiều đổi mới, sáng tạo trong hoạt động, chủ động tham mưu, đề xuất cấp ủy, chính quyền ban hành nhiều chủ trương, biện pháp chỉ đạo và hỗ trợ; phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, ban ngành, đoàn thể, tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật cho người lao động; tổ chức các phong trào thi đua yêu nước, nhất là thi đua “Lao động giỏi - Lao động sáng tạo”; thi đua “Chung sức xây dựng nông mới - đô thị văn minh” đã có 4.154 công trình thi đua của đoàn viên, người lao động được thực hiện, hơn 19.800 sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, giải pháp quản lý và hơn 400 đề tài mô hình nghiên cứu khoa học, ứng dụng, đổi mới công nghệ được triển khai góp phần làm lợi hàng trăm tỉ đồng cho cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp; đẩy mạnh hoạt động chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng cho đoàn viên, người lao động với nhiều cách làm thiết thực, hiệu quả, như: Chương trình vận động hỗ trợ nhà Mái ấm Công đoàn, đến nay đã cất mới và sửa chữa 846 căn nhà Mái ấm Công đoàn và 33 nhà Mái ấm Công đoàn tập thể giáo viên trị giá trên 47 tỉ đồng, giúp cho trên 1.140 đoàn viên có nơi ở ổn định; Chương trình “Tết sum vầy”; “Phúc lợi đoàn viên”; “Tháng Công nhân”; Sân chơi Công nhân cuối tuần; khám - tầm soát sức khỏe và tham quan học tập kinh nghiệm kết hợp nghỉ mát cho đoàn viên; ký kết thỏa ước lao động tập thể, đối thoại và tổ chức các hoạt động vì người lao động… đã mang lại nhiều lợi ích vật chất và tinh thần cho hàng trăm ngàn lượt đoàn viên, người lao động. Đặc biệt, Ủy ban nhân dân tỉnh và Tổng Liên đoàn đã quan tâm hỗ trợ kinh phí cho Liên đoàn Lao động tỉnh gần 80 tỉ đồng để xây dựng Nhà Văn hóa Lao động tại thành phố Long Xuyên, Trường mầm non và các sân chơi văn hóa, thể thao tại Khu Công nghiệp Bình Hòa (Châu Thành) và Bình Long (Châu Phú), góp phần chăm lo đời sống vật chất, văn hóa tinh thần cho công nhân lao động (CNLĐ).

Với những cống hiến và thành tích đã đạt được trong những năm qua, Công đoàn An Giang đã vinh dự được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhất, Nhì, Ba; Huân chương Độc lập hạng Nhì; được Chính phủ và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tặng Cờ thi đua và nhiều bằng khen; rất nhiều tập thể và cá nhân đoàn viên, CNVCLĐ được tặng thưởng huân chương, cờ thi đua, Bằng khen và nhiều danh hiệu cao quý khác, có trên 5.000 đoàn viên ưu tú ở các công đoàn cơ sở (CĐCS) được giới thiệu cho các cấp ủy xem xét, kết nạp vào Đảng.

Trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ 4 và thực hiện các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, sẽ mang lại những thời cơ, thuận lợi mới, nhưng cũng không ít những khó khăn, thách thức đối với tổ chức Công đoàn Việt Nam nói chung và Công đoàn An Giang nói riêng; đòi hỏi các cấp công đoàn trong tỉnh tiếp tục phát huy truyền thống tự hào của giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn Việt Nam, cùng nhau đoàn kết, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, đổi mới mạnh mẽ hơn nữa nội dung, phương thức hoạt động, hướng mạnh về cơ sở và công nhân, người lao động; tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức chính trị, tác phong lao động, kỹ năng nghề nghiệp cho người lao động; Tổ chức có hiệu quả các phong trào thi đua yêu nước gắn với “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; làm tốt vai trò đại diện, chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của người lao động; xây dựng quan hệ lao động hài hòa ổn định và tiến bộ; tập hợp phát triển đoàn viên, xây dựng đội ngũ cán bộ công đoàn cơ sở có năng lực, bản lĩnh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ; nâng chất hoạt động CĐCS vững mạnh, theo phương châm "Ở đâu có công nhân lao động, ở đó có tổ chức công đoàn", để mỗi đoàn viên, người lao động đều được quan tâm giúp đỡ, ổn định cuộc sống, ra sức cống hiến cho đất nước và địa phương.

Với truyền thống yêu nước, đoàn kết, năng động, sáng tạo của giai cấp công nhân Việt Nam, đội ngũ CNVCLĐ và tổ chức Công đoàn An Giang quyết tâm phấn đấu hoàn thành xuất sắc các mục tiêu đề ra, góp phần xây dựng quê hương Bác Tôn ngày thêm giàu đẹp./.

Trúc Linh
False
Quán triệt Nghị quyết Đại hội XIII cho đội ngũ cán bộ, lãnh đạo Liên hiệp, các hội văn học, nghệ thuật, hội khoa học-kỹ thuật, văn nghệ sĩ, trí thứcTinTGTWQuán triệt Nghị quyết Đại hội XIII cho đội ngũ cán bộ, lãnh đạo Liên hiệp, các hội văn học, nghệ thuật, hội khoa học-kỹ thuật, văn nghệ sĩ, trí thức/SiteAssets/BTGTW-quantriet-nq-vns.jpg
21/07/2021 10:00 SANoĐã ban hành

Ngày 21/7, Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức Hội nghị trực tuyến toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng cho đội ngũ cán bộ, lãnh đạo Liên hiệp, các hội văn học, nghệ thuật, hội khoa học-kỹ thuật và đại biểu văn nghệ sĩ, trí thức. Hội nghị kết nối 40 điểm cầu trong cả nước với tổn số hơn 2.000 đại biểu tham dự. 

BTGTW-quantriet-nq-vns.jpg

Đồng chí Phùng Xuân Nhạ, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì Hội nghị. Phát biểu khai mạc Hội nghị, đồng chí Phùng Xuân Nhạ khẳng định, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã thành công rất tốt đẹp. Thành công của Đại hội có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy mạnh mẽ, toàn diện, đồng bộ quá trình đổi mới đất nước; củng cố, nâng cao niềm tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, vào sự nghiệp đổi mới đất nước; biểu thị sự thống nhất ý chí, quyết tâm chính trị của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phát huy tinh thần yêu nước, khát vọng phát triển đất phồn vinh, hạnh phúc, phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, đưa “nước ta trở thành một nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Để thực hiện mục tiêu trên, cần có sự tham gia của các cấp, các ngành, của hệ thống chính trị, toàn xã hội, trong đó, đội ngũ văn nghệ sĩ, trí thức đóng vai trò rất quan trọng.

“Hội nghị hôm nay tập trung nghiên cứu, học tập, quán triệt chuyên sâu Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng trên các lĩnh vực văn học nghệ thuật, khoa học - kỹ thuật, trên cơ sở đó tuyên truyền sâu rộng tới đội ngũ văn nghệ sĩ, trí thức cả nước, tạo sự thống nhất ý chí, quyết tâm chính trị, thúc đẩy, nâng cao hiệu quả của hoạt động lao động văn hóa, sáng tạo tri thức, tạo ra những sản phẩm, công trình có giá trị cao, thiết thực, góp phần hiện thực hóa một cách sinh động Nghị quyết trong đời sống thực tiễn” – Đồng chí Phùng Xuân Nhạ nhấn mạnh.

Để đảm bảo yêu cầu đặt ra, đồng chí Phùng Xuân Nhạ đề nghị các đại biểu trong quá trình nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, lưu ý một số vấn đề như sau:

Một là, cần nhận thức sâu sắc và nghiêm túc, coi đây là nhiệm vụ chính trị trọng tâm của năm 2021 và là nhiệm vụ, công việc thường xuyên, phải được thực hiện một cách cẩn trọng, bài bản trong suốt cả nhiệm kỳ, nhằm bảo đảm mỗi cán bộ, đảng viên thuộc Liên hiệp các hội văn học nghệ thuật, Liên hiệp các hội khoa học - kỹ thuật đều nắm vững và thực hiện đúng đắn, sáng tạo Nghị quyết Đại hội của Đảng, tạo sự chuyển biến rõ rệt về nhận thức, góp phần tăng cường xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; tăng cường và nâng cao hiệu quả các hoạt động văn học nghệ thuật, khoa học - kỹ thuật, hướng tới các sản phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học - kỹ thuật có chất lượng cao, có tính đảng sâu sắc, thiết thực phục vụ sự nghiệp lãnh đạo của Đảng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới.

Hai là, trong quá trình nghiên cứu, học tập, quán triệt các văn kiện Đại hội XIII, chú ý các nội dung chuyên sâu của Văn kiện Đại hội XIII của Đảng; Những quan điểm của Đại hội XIII về văn hóa, văn nghệ, khoa học - kĩ thuật, đội ngũ văn nghệ sĩ, trí thức những nhiệm vụ trọng tâm thời gian tới. Cụ thể:

Thứ nhất, tập trung nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hoá và chuẩn mực con người gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới. Tập trung nâng cao chất lượng, hiệu quả của các loại hình văn hoá, văn nghệ... Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của các hội văn học, nghệ thuật, tập hợp đông đảo văn nghệ sĩ tham gia; khuyến khích sáng tạo, thực thi quyền tác giả.

Thứ hai, tiếp tục thực hiện nhất quán chủ trương khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Có chiến lược phát triển khoa học và công nghệ phù hợp với xu thế chung của thế giới và điều kiện đất nước, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới, thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Chú trọng phát triển đồng bộ khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn, khoa học lý luận chính trị.

Thứ ba, xây dựng đội ngũ trí thức ngày càng lớn mạnh, có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong tình hình mới. Có cơ chế phát huy dân chủ, tự do sáng tạo và đề cao đạo đức, trách nhiệm trong nghiên cứu khoa học. Ưu tiên đầu tư phát triển hạ tầng, môi trường làm việc, nghiên cứu, đổi mới sáng tạo của trí thức. Trọng dụng, đãi ngộ thoả đáng đối với nhân tài, các nhà khoa học và công nghệ Việt Nam có trình độ chuyên môn cao ở trong nước và nước ngoài, nhất là các nhà khoa học đầu ngành, nhà khoa học có khả năng chủ trì các nhiệm vụ khoa học và công nghệ đặc biệt quan trọng.

Ba là, khẩn trương xây dựng chương trình hành động thực hiện Nghị quyết, cụ thể hóa bằng các kế hoạch, dự án, đề án với tinh thần bám sát thực tiễn, đảm bảo tính khả thi, chất lượng, hiệu quả công việc, nhanh chóng đưa Nghị quyết Đại hội vào thực tế đời sống xã hội.

Bốn là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Hằng năm, tiến hành kiểm tra, đánh giá tiến độ thực hiện chương trình hành động, kế hoạch đã đề ra, làm cơ sở cho việc đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị theo từng năm và cả nhiệm kỳ của tập thể cấp ủy Liên hiệp, các hội chuyên ngành, người đứng đầu, cán bộ, đảng viên.

Đồng chí Phùng Xuân Nhạ bày tỏ, đội ngũ cán bộ văn nghệ sĩ, trí thức là những người chiến sĩ thầm lặng trên mặt trận văn hóa, tư tưởng, có nhiều đóng góp to lớn trong sự nghiệp cách mạng của Đảng, dân tộc. Vì vậy, đồng chí mong muốn, các đại biểu phát huy truyền thống cách mạng, các thành tựu đã đạt được trong thời gian qua, đẩy mạnh việc nghiên cứu, học tập, quán triệt và tổ chức triển khai Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng một cách hiệu quả, thiết thực, sinh động, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII trong cuộc sống.

Theo chương trình Hội nghị, PGS.TS. Nguyễn Viết Thông, Tổng Thư ký Hội đồng Lý luận Trung ương báo cáo chuyên đề: Những nội dung cốt lõi và điểm mới trong các văn kiện Đại hội XIII của Đảng; những chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng về văn hóa, văn nghệ qua các kỳ Đại hội; nhiệm vụ trọng tâm thời gian tới.

TS. Lê Xuân Định, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ báo cáo chuyên đề: Phát triển khoa học công nghệ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo.

Sau đó, toàn thể Hội nghị nghiên cứu và xây dựng chương trình hành động.

Thu Hằng

Nguồn: BTGTW

FalseĐưa Nghị quyết vào cuộc sống
Tập trung tuyên truyền kết quả Hội nghị Trung ương 3, khóa XIII TinH.TTập trung tuyên truyền kết quả Hội nghị Trung ương 3, khóa XIII /SiteAssets/HN-bcv7-1.jpg
15/07/2021 11:00 SANoĐã ban hành

(TUAG)- Sáng 15/7/2021, Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức Hội nghị Báo cáo viên tháng 7/2021 bằng hình thức trực tuyến. Đồng chí Phan Xuân Thủy, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì Hội nghị.

  HN-bcv7-1.jpg

Tại điểm cầu An Giang, đồng chí Trình Lam Sinh, TUV, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy; đồng chí Thái Thúy Xuân, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy; đồng chí Nguyễn Hữu Thịnh, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy chủ trì Hội nghị.

Hội nghị nghe đồng chí Lê Hải Bình, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó trưởng ban chuyên trách Ban Chỉ đạo công tác thông tin đối ngoại Trung ương thông báo nhanh kết quả Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII và chuyên đề: “Tình hình thế giới và hoạt động đối ngoại của Đảng, Nhà nước 6 tháng đầu năm; dự báo tình hình thế giới và phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm của công tác đối ngoại trong 6 tháng cuối năm 2021” do đồng chí Ngô Lê Văn, Vụ trưởng Vụ Tổng hợp, Ban Đối ngoại Trung ương trình bày.

Định hướng công tác tuyên truyền và kết luận Hội nghị, đồng chí Phan Xuân Thủy, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương đề nghị trên cơ sở các tài liệu được cung cấp ở Hội nghị lần này đề nghị các địa phương, đơn vị tập trung tuyên truyền 02 nội dung báo cáo viên trình bày tại Hội nghị, đồng thời tập trung tuyên truyền các nội dung sau:

HN-bcv7-6.JPG

Đồng chí Phan Xuân Thủy, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương định hướng công tác thông tin, tuyên truyền cho đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên. (Ảnh: BTGTW)

Tuyên truyền Nghị quyết số 68/NQ-CP, ngày 01/7/2021 của Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch COVID-19, nhấn mạnh, đây là chủ trương mang đậm tính nhân văn, thể hiện rõ nét sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với người dân chịu ảnh hưởng nặng nề bởi dịch bệnh COVID-19 đang được đông đảo cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân đánh giá cao và đồng tình ủng hộ.

Tuyên truyền về tình hình kinh tế - xã hội, khẳng định sự lựa chọn đúng đắn, sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ trong việc tiếp tục kiên trì thực hiện mục tiêu kép: Vừa quyết liệt phòng, chống dịch bệnh, vừa đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội. Tuyên truyền, cỗ vũ sự nỗ lực vượt qua khó khăn, trong bối cảnh phải giãn cách, cách ly để duy trì sản xuất của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nằm ở các địa bàn, khu công nghiệp có dịch bệnh COVID-19 bùng phát.

Tiếp tục tuyên truyền về công tác phòng, chống dịch bệnh COVID-19, khẳng định, ngay từ khi dịch bệnh mới xuất hiện ở nước ta, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Y tế và các bộ, ngành liên quan đã bám các diễn biến của tình hình; lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên, kịp thời, đúng đắn, toàn diện, hiệu quả, phù hợp; huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và  sự ủng hộ của người dân, doanh nghiệp thực hiện “mục tiêu kép”, vừa chống dịch hiệu quả, vừa thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội.

Tuyên truyền nhấn mạnh về tầm nhìn xa, tìm giải pháp căn cơ để đưa đất nước thoát khỏi dịch bệnh, Đảng và Nhà nước đã quyết tâm thực hiện Chiến lược vaccine, tập trung vào 3 hướng chính: Triển khai cam kết mà Việt Nam đã ký với các đối tác 150 triệu liều vaccine để cung cấp cho 70% dân số (đủ để miễn dịch cộng đồng); Tiếp tục vận động các đối tác song phương và các tổ chức quốc tế cung cấp nguồn vaccine cho Việt Nam; Thúc đẩy hợp tác chuyển giao công nghệ và sản xuất vaccine trong nước để phục vụ cho việc sản xuất lâu dài.

Tuyên truyền sâu rộng để mỗi người dân, mỗi gia đình nắm bắt, hiểu rõ về cơ chế lây lan, cách phòng chống bệnh, bình tĩnh xử lý khi nhiễm bệnh; không chủ quan trước diễn biến phức tạp của dịch bệnh hiện nay; nêu cao ý thức trách nhiệm trong phòng, chống dịch bệnh: Thực hiện nghiêm túc 5K + Vắc xin; ủng hộ, đóng góp tích cực vào Quỹ vaccine của Chính phủ; tham gia tích cực vào Chiến dịch tiêm vaccine lớn nhất trong lịch sử của nước ta. 

HN-bcv7-5.JPG

Hội nghị báo cáo viên tháng 7/2021 bằng hình thức trực tuyến tới 457 điểm cầu trên cả nước.

Về tuyên truyền kỷ niệm các ngày lễ lớn và sự kiện lịch sử quan trọng: Tuyên truyền kỷ niệm 74 năm Ngày Thương binh Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2021); kỷ niệm 130 năm Ngày sinh đồng chí Võ Văn Tần (8/1891 - 8/2021); kỷ niệm 100 năm Ngày sinh đồng chí Lê Quang Đạo, Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (08/8/1921 - 08/8/2021); kỷ niệm 91 năm Ngày truyền thống ngành Tuyên giáo của Đảng, tập trung tuyên truyền về quá trình trưởng thành, phát triển và truyền thống vẻ vang của ngành Tuyên giáo trong 91 năm qua gắn với lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng và dân tộc. Tuyên truyền sự nỗ lực phấn đấu, tinh thần trách nhiệm của các thế hệ cán bộ tuyên giáo trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên giáo, đáp ứng ngày một tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới, góp phần xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh; biểu dương, nhân rộng những mô hình hay, cách làm sáng tạo; tôn vinh và tri ân công lao, cống hiến, đóng góp của các cấp, các ngành, các thế hệ cán bộ tuyên giáo qua các thời kỳ đối với công tác tuyên giáo của Đảng./.

Trúc Quỳnh

FalseĐưa Nghị quyết vào cuộc sống
Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thanh Bình gửi thư động viên toàn thể nhân dân và bà con quê hương An GiangTinAdminChủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thanh Bình gửi thư động viên toàn thể nhân dân và bà con quê hương An Giang/Imagesnews/2021-07/Thu-CTUBNDtinh_Key_10072021145537.jpg
10/07/2021 2:05 CHYesĐã ban hành

(TUAG)- Sau khi ký Thông báo số 408/TB-UBND về việc thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị số 15/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ trên phạm vi toàn tỉnh An Giang, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh An Giang Nguyễn Thanh Bình gửi Thư động viên toàn thể nhân dân và bà con quê hương An Giang.

Thu-CTUBNDtinh.jpg


Thư viết: Hiện nay, đại dịch bệnh COVID-19 vẫn là mối nguy hại lớn đối với các nước trên thế giới, cũng như đất nước ta và quê hương An Giang chúng ta. Đại dịch COVID-19 không chỉ làm suy giảm nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất kinh doanh , mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống xã hội và sức khỏe của nhân dân.

Đối với tỉnh nhà An Giang chúng ta, nguy cơ nhiễm bệnh từ các nguồn nhập cảnh biên giới trái phép và trong nội địa rất cao, tỉnh đã thành lập trên hai trăm chốt kiểm soát đường thủy, bộ trên tuyến biên giới và nội địa, với hàng ngàn chiến sĩ tham gia trực 24/24 giờ, tập trung mọi nguồn lực của tỉnh, thực hiện phương châm “chống dịch như chống giặc” nhằm ngăn chặn, kiểm soát không để lây nhiễm dịch bệnh trong cộng đồng.

Trên địa bàn tỉnh, trong những ngày qua, dịch bệnh COVID-19 đã xuất hiện trong cộng đồng ở một số khu vực và một vài địa phương nhưng cơ bản vẫn trong vòng kiểm soát của các lực lượng chức năng. Các ca lây nhiễm được phát hiện kịp thời, tiến hành khoanh vùng và truy vết, thực hiện cách ly theo quy định.

Trong điều kiện các nguồn lực của tỉnh còn hạn chế, nhưng được sự cổ vũ, động viên và sự chung tay góp sức của các tầng lớp nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp, các lực lượng chức năng tỉnh An Giang đã làm việc không ngơi nghỉ, gác lại tất cả công việc để tập trung cho công tác phòng chống dịch nhằm giữ gìn sức khỏe cho mọi người và mọi nhà.

Tôi thấu hiểu và xin chia sẻ những khó khăn, vất vả của các lực lượng chức năng và bà con nhân dân tỉnh nhà.

Trong thời khắc khó khăn và phức tạp này, Tôi mong bà con nhân dân trong tỉnh An Giang hãy nâng cao ý thức, không nên chủ quan, lơ là trong việc phòng, chống dịch bệnh COVID-19 và hạn chế đi lại (ngoại trừ những việc thực sự cấp thiết phải ra ngoài), nhằm đảm bảo sức khỏe cho bản thân, gia đình và cộng đồng.

Đối với bà con An Giang xa quê hương, Tôi cũng rất mong bà con tạm gác lại việc quay về tỉnh nhà trong thời gian này, để không tạo thêm áp lực lớn cho cuộc chiến phòng, chống dịch còn rất cam go, phức tạp trên địa bàn tỉnh. Trường hợp nếu quá khó khăn hoặc do yêu cầu bất khả kháng phải trở về tỉnh, thì mong bà con hãy tự giác khai báo y tế trung thực và đầy đủ, nghiêm túc chấp hành thực hiện cách lý theo quy định của địa phương.

Vì sự an toàn chung của cộng đồng, rất mong bà con hết sức chia sẻ và cảm thông, Tôi tin tưởng rằng, chúng ta đồng lòng, cùng nhau góp sức sẽ sớm vượt qua đại dịch này, tiếp tục xây dựng quê hương An Giang ngày càng giàu đẹp. An Giang sẽ chào đón những người con xa quê trong một ngày không xa khi tình hình dịch bệnh được kiểm soát tốt.

Trân trọng cảm ơn và chào thân ái!

NGUYỄN THANH BÌNH

Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh An Giang

True
Bế mạc Hội nghị Trung ương 3: Xem xét, quyết định nhiều nội dung rất quan trọngTinPhan NguyênBế mạc Hội nghị Trung ương 3: Xem xét, quyết định nhiều nội dung rất quan trọng/Imagesnews/2021-07/HNTW3-TBT-bemac_Key_09072021090347.jpg

(TUAG)- Những nội dung được Trung ương đưa ra xem xét, quyết định tại hội nghị lần thứ ba có ý nghĩa rất quan trọng, được cán bộ, đảng viên và nhân dân hết sức quan tâm

09/07/2021 6:10 SANoĐã ban hành

Sau 4 ngày làm việc, chiều ngày 08/7, Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII (Hội nghị Trung ương 3) đã hoàn thành toàn bộ nội dung chương trình đề ra và tiến hành bế mạc. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có bài phát biểu bế mạc hội nghị.

HNTW3-3.jpg

Xóa bỏ cơ chế "xin - cho"

Phát biểu bế mạc, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh thêm một số vấn đề để thống nhất trong lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện Nghị quyết của Trung ương. Theo đó, hội nghị đã thống nhất trong 6 tháng đầu năm, phát triển kinh tế - xã hội đạt được nhiều kết quả tích cực. Cụ thể, kinh tế tăng trưởng 5,64%, cao hơn so với cùng kỳ năm trước; thu ngân sách nhà nước đạt trên 58,2% so với dự toán, tăng 15,5% so với cùng kỳ năm 2020; hoạt động đầu tư, sản xuất - kinh doanh, xuất nhập khẩu tiếp tục phát triển. Đời sống của nhân dân, nhất là của người lao động ở vùng xảy ra dịch Covid-19, vùng có khó khăn, tiếp tục được chăm lo.

Tuy nhiên, Trung ương cũng thẳng thắn lưu ý và chỉ rõ trong 6 tháng đầu năm vừa qua, kinh tế - xã hội vẫn chưa đạt được mục tiêu đề ra. Đất nước vẫn đang đứng trước không ít những khó khăn, thách thức mới và lớn, thậm chí gay gắt hơn. Tổng Bí thư nêu rõ Ban Chấp hành Trung ương yêu cầu ngay sau hội nghị này, Ban Cán sự Đảng Chính phủ cần chỉ đạo các cơ quan chức năng khẩn trương, nghiêm túc tiếp thu ý kiến chỉ đạo của Trung ương để hoàn thiện thêm một bước các dự thảo kế hoạch trình Quốc hội xem xét, quyết định.

Việc xây dựng kế hoạch tài chính quốc gia cần thấy hết những thuận lợi, thời cơ cũng như những khó khăn, thách thức để xác định một cách đúng đắn, khoa học và có cơ sở thực tế mục tiêu tổng quát và các mục tiêu cụ thể về tài chính - ngân sách nhà nước giai đoạn 2021 - 2025 trong bối cảnh đại dịch Covid-19 đang tác động rất tiêu cực đến phát triển kinh tế - xã hội.

Đáng chú ý, về việc xây dựng kế hoạch đầu tư công trung hạn, Tổng Bí thư đề nghị cần nhìn thẳng vào sự thật để tìm cho được các nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém tồn đọng từ lâu để đề ra các chính sách, biện pháp có tính đột phá, khả thi cao, tạo ra sự chuyển biến tích cực, rõ nét trong việc khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, kém hiệu quả; giải ngân chậm, nhiều dự án, công trình chậm tiến độ, thua lỗ, thất thoát, lãng phí...

"Cần tập trung rà soát, loại bỏ những dự án chưa thật sự cần thiết để ưu tiên nguồn vốn cho các dự án, công trình trọng điểm, cấp bách của quốc gia và các ngành, lĩnh vực, các địa phương, nhất là các dự án phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội có ý nghĩa chiến lược, liên vùng, tạo động lực cho phát triển nhanh và bền vững. Kiên quyết siết chặt kỷ luật, kỷ cương, xóa bỏ cơ chế "xin - cho"; chống tham nhũng, tiêu cực, "lợi ích nhóm" trong đầu tư công" - Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh.

HNTW3-daibieu.jpg

Hội nghị TW3 diễn ra từ ngày 5 đến 8/7.

Bổ sung quyền hạn của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư

Về các quy chế, quy định của Ban Chấp hành Trung ương, Tổng Bí thư cho biết hội nghị đã cho ý kiến để hoàn thiện và quyết định ban hành Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư; Quy chế làm việc của Ủy ban Kiểm tra Trung ương khóa XIII; Quy định về thi hành Điều lệ Đảng và Quy định về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng nhiệm kỳ khóa XIII.

Theo đó, các quy chế, quy định mới đã bám sát Điều lệ Đảng, kế thừa những nội dung cốt lõi của các quy chế, quy định các khóa trước; đồng thời bổ sung, sửa đổi một số nội dung cho phù hợp với thực tế tình hình nhiệm kỳ khóa XIII. Tuy nội dung bổ sung, sửa đổi không nhiều nhưng Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XIII đã có những bổ sung, sửa đổi quan trọng liên quan đến trách nhiệm và quyền hạn của Ban Chấp hành Trung ương, của Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, của Bộ Chính trị, Ban Bí thư; trách nhiệm và quyền hạn của Tổng Bí thư, Thường trực Ban Bí thư, Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư và về chế độ làm việc, phương pháp công tác...

Theo Tổng Bí thư, những nội dung mới của Quy định thi hành Điều lệ Đảng lần này chủ yếu tập trung vào một số vấn đề để làm tốt hơn công tác đảng viên. Nội dung sửa đổi, bổ sung Quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Điều lệ Đảng đã bổ sung nhiều quy định cụ thể khác liên quan đến các vấn đề nảy sinh trong thực tiễn, có tính bản chất, phổ biến hoặc còn thiếu... nhằm phát huy đầy đủ, đúng đắn hơn nữa chức năng kiểm tra, giám sát của Đảng.

Kỷ luật ông Trần Văn Nam và ông Vũ Huy Hoàng

Tại hội nghị, sau khi xem xét các tờ trình của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương đã bầu bổ sung 2 Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương; đồng thời quyết định thi hành kỷ luật đối với ông Trần Văn Nam - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Bình Dương - bằng hình thức cách tất cả chức vụ trong Đảng; thi hành kỷ luật ông Vũ Huy Hoàng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, bằng hình thức khai trừ khỏi Đảng.

Về công tác cán bộ, Tổng Bí thư nêu rõ Ban Chấp hành Trung ương ghi nhận, đánh giá cao những nỗ lực của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Ban Tổ chức Trung ương, các cơ quan có liên quan trong việc đổi mới, nâng cao chất lượng công tác cán bộ, triển khai thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 2. Đồng thời, Trung ương cũng nhất trí cao với phương án do Bộ Chính trị trình về tiếp tục kiện toàn nhân sự các chức danh lãnh đạo của các cơ quan nhà nước nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV. Ban Chấp hành Trung ương đã nhất trí đề xuất, giới thiệu bổ sung 23 nhân sự đảm nhiệm một số chức danh lãnh đạo nhà nước nhiệm kỳ 2021 - 2026.

Trong ngày làm việc cuối cùng, Ban Chấp hành Trung ương cũng thảo luận và biểu quyết thông qua Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3.

P.N

FalseChính trị
Hội nghị lần thứ ba, BCHTW Đảng khóa XIII thảo luận 4 nội dung quan trọng TinĐảng Cộng sản VNHội nghị lần thứ ba, BCHTW Đảng khóa XIII thảo luận 4 nội dung quan trọng /Imagesnews/2021-07/TBT-NP-Trong-kmtw_Key_05072021194459.jpg

(ĐCSVN)- Sáng 05/7, tại Trụ sở Trung ương Đảng đã diễn ra phiên khai mạc Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII. Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì phiên khai mạc.

05/07/2021 3:00 CHNoĐã ban hành


Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu khai mạc Hội nghị. 

Hội nghị có nhiệm vụ thảo luận, quyết định một số vấn đề quan trọng: Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 5 năm 2021 - 2025; xem xét, ban hành Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Quy chế làm việc của Uỷ ban Kiểm tra Trung ương nhiệm kỳ khóa XIII; Quy định thi hành Điều lệ Đảng và Quy định về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng nhiệm kỳ khóa XIII; tiếp tục kiện toàn nhân sự các chức danh lãnh đạo của các cơ quan nhà nước nhiệm kỳ Quốc hội khoá XV để Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khoá XV; và một số vấn đề quan trọng khác.

Phát triển kinh tế nhanh và bền vững

Về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 – 2025, phát biểu tại phiên khai mạc Hội nghị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề nghị Trung ương căn cứ vào Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Tờ trình, các báo cáo, tài liệu tham khảo của Ban cán sự đảng Chính phủ, cũng như thực tiễn tình hình ở địa phương, cơ quan, đơn vị mình, dành thời gian nghiên cứu, thảo luận, đánh giá một cách khách quan, toàn diện tình hình kinh tế - xã hội nước ta hiện nay và phân tích, dự báo xu hướng phát triển trong thời gian tới dưới tác động của đại dịch COVID-19, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và các xu hướng chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh mới trên thế giới.

Tổng Bí thư yêu cầu các đại biểu cần chú ý phân tích, đánh giá thật sâu sắc, làm rõ thêm thực tế tình hình: Trong 6 tháng đầu năm vừa qua, cả nước vẫn phải tiếp tục nỗ lực, quyết liệt chống dịch; đợt bùng phát dịch lần thứ tư lây lan rất nhanh, hết sức nguy hiểm, phức tạp, khó kiểm soát, có thể còn tiếp tục kéo dài; thậm chí vẫn còn tiềm ẩn nguy cơ bùng phát các đợt dịch mới. Kinh tế - xã hội đất nước tuy tiếp tục phát triển, đạt được nhiều kết quả tích cực so với cùng kỳ năm 2020 nhưng vẫn thấp hơn mục tiêu đề ra. Sản xuất kinh doanh và đời sống của nhân dân, nhất là ở những vùng có dịch và những ngành, lĩnh vực chịu ảnh hưởng trực tiếp của đại dịch gặp nhiều khó khăn, thách thức. Kinh tế thế giới có dấu hiệu phục hồi, tăng trưởng trở lại nhưng chưa vững chắc; thương mại và đầu tư quốc tế suy giảm; nợ công toàn cầu tăng mạnh, thị trường tài chính - tiền tệ thế giới tiềm ẩn nhiều rủi ro, vẫn còn nguy cơ lâm vào khủng hoảng. Đại dịch COVID-19 tiếp tục diễn biến phức tạp, khó kiểm soát, tác động tiêu cực, kéo dài đến kinh tế thế giới, khu vực, trong đó có nước ta; làm thay đổi sâu sắc trật tự, cấu trúc kinh tế, phương thức quản trị và tổ chức hoạt động kinh tế và đời sống xã hội toàn cầu, buộc nhiều nước phải thay đổi định hướng, chiến lược phát triển kinh tế theo hướng nâng cao nội lực, chú trọng phát triển thị trường trong nước, phát triển kinh tế số, xã hội số...

Từ đó, cho ý kiến vào các vấn đề lớn nêu trong Tờ trình và các báo cáo của Ban cán sự đảng Chính phủ, nhất là những vấn đề quan trọng thuộc về quan điểm, tư tưởng chỉ đạo còn có ý kiến khác nhau.

Các đại biểu biểu quyết thông qua Chương trình Hội nghị. 

Tổng Bí thư yêu cầu Trung ương chú ý làm rõ, tạo sự thống nhất cao về những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, mục tiêu tổng quát, nhiệm vụ chủ yếu, một số chỉ tiêu cơ bản và đặc biệt là các cơ chế, chính sách, biện pháp cụ thể, sát hợp với thực tế, có tính đột phá, khả thi cao, bảo đảm thực hiện thành công các kế hoạch đề ra. Quán triệt thật đúng, tổ chức thực hiện thật tốt các chủ trương, quyết sách lớn của Đại hội XIII về hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, trước hết là thể chế phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; phát triển nhanh và bền vững cả về kinh tế, xã hội và môi trường; củng cố, tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô; nâng cao nội lực, năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế; tăng trưởng kinh tế gắn liền với phát triển xã hội, xây dựng, phát huy giá trị văn hoá và sức mạnh của con người Việt Nam; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta; đổi mới mạnh mẽ sự lãnh đạo, chỉ đạo điều hành, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với xác định rõ trách nhiệm và tăng cường hiệu lực, hiệu quả phối hợp, giám sát, kiểm tra việc thực hiện để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình phát triển...

Giữ vững sự đoàn kết, thống nhất trong lãnh đạo, chỉ đạo

Tổng Bí thư cũng yêu cầu các đại biểu thảo luận, cho ý kiến về xây dựng Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Uỷ ban Kiểm tra Trung ương.

Tổng Bí thư nhấn mạnh, trên cơ sở Báo cáo kiểm điểm việc thực hiện và kế thừa Quy chế làm việc của khoá XII, bám sát Nghị quyết Đại hội XIII và Điều lệ Đảng, Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Uỷ ban Kiểm tra Trung ương khoá này cần có những quy định cụ thể, chặt chẽ, phù hợp với thực tiễn, bảo đảm phát huy tốt hơn nữa dân chủ trong sinh hoạt đảng, sinh hoạt của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Uỷ ban Kiểm tra Trung ương, đồng thời giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương trong Đảng; giữ vững chế độ lãnh đạo tập thể, tăng cường trách nhiệm cá nhân, nhất là người đứng đầu; tiếp tục đổi mới, nâng cao năng lực và hiệu quả lãnh đạo của Đảng, đồng thời phát huy tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của các tổ chức trong hệ thống chính trị; đổi mới, cải tiến chế độ, lề lối làm việc, phương pháp công tác của các cơ quan lãnh đạo của Đảng, tăng cường sự phân công, phân cấp, phối hợp chặt chẽ và phù hợp; tránh mâu thuẫn, chồng chéo hoặc bỏ sót việc. “Đây là những cơ sở quan trọng để góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Đảng, tăng cường sức mạnh, kỷ luật, kỷ cương, phát huy dân chủ, giữ vững sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội” – Tổng Bí thư nhấn mạnh.

Các đại biểu tại phiên khai mạc Hội nghị.  

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả thi hành Điều lệ Đảng

Trong nội dung Quy định về thi hành Điều lệ Đảng và Quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng, Tổng Bí thư đề nghị các đồng chí Trung ương nghiên cứu kỹ và có ý kiến, góp ý vào dự thảo các quy định về những nội dung mà qua thực tiễn thi hành còn có những vướng mắc, bất cập, nhất là các vấn đề cụ thể phát sinh từ cơ sở, từ các chi bộ, đảng bộ. Đó là những vấn đề như: Quy định về thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ; sinh hoạt định kỳ của đảng bộ cơ sở, chi bộ; việc giới thiệu và kết nạp người vào Đảng; trường hợp kết nạp và công nhận đảng viên chính thức sai quy định; phát thẻ và quản lý thẻ đảng viên, ghi hồ sơ đảng viên; việc bầu đại biểu đi dự đại hội đảng bộ cấp trên; việc lập các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc, đơn vị sự nghiệp của cấp uỷ; quy định về nguyên tắc trong kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng; lãnh đạo công tác kiểm tra, giám sát và thẩm quyền, nhiệm vụ của uỷ ban kiểm tra các cấp; thi hành kỷ luật đối với đảng viên vi phạm pháp luật, quy định về việc xử lý khi phát hiện vi phạm liên quan đến cán bộ thuộc diện cấp uỷ quản lý; quy định về các trường hợp không giải quyết tố cáo...; công tác kiểm tra, giám sát của các tổ chức đảng; thi hành kỷ luật và biểu quyết kỷ luật; khiếu nại kỷ luật đảng...

Giới thiệu nhân sự các chức danh lãnh đạo của các cơ quan nhà nước nhiệm kỳ 2021 - 2026

Tại Hội nghị Trung ương 2 khoá XIII (tháng 3/2021), Ban Chấp hành Trung ương đã thống nhất cao là cần sớm kiện toàn các chức danh lãnh đạo các cơ quan nhà nước ngay sau Đại hội để đáp ứng yêu cầu triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Ban Chấp hành Trung ương đã xem xét, quyết định giới thiệu nhân sự các chức danh Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội và cho ý kiến giới thiệu nhân sự đảm nhiệm 24 chức danh lãnh đạo khác của các cơ quan nhà nước. Tại Kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa XIV (tháng 3 - 4/2021), Quốc hội đã bầu Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội và bầu hoặc phê chuẩn đối với 24 chức danh lãnh đạo khác của các cơ quan nhà nước.

Đến nay, sau cuộc bầu cử Quốc hội khóa XV (nhiệm kỳ 2021 - 2026), Ban Chấp hành Trung ương có trách nhiệm chuẩn bị và tiếp tục giới thiệu nhân sự để Quốc hội khoá XV bầu hoặc phê chuẩn tại Kỳ họp thứ nhất sắp tới theo quy định của Hiến pháp và pháp luật.

Toàn cảnh phiên khai mạc. 

Tại Hội nghị này, Bộ Chính trị đề nghị Ban Chấp hành Trung ương xem xét, giới thiệu nhân sự theo hướng: Đối với các chức danh Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội và 24 chức danh lãnh đạo khác của các cơ quan nhà nước đã được Hội nghị Trung ương 2 khoá XIII bỏ phiếu giới thiệu hoặc cho ý kiến thông qua với số phiếu tín nhiệm cao thì Ban Chấp hành Trung ương không tiến hành bỏ phiếu giới thiệu hoặc lấy ý kiến lại. Đối với 23 chức danh còn lại chưa lấy phiếu giới thiệu tại Hội nghị Trung ương 2 và các chức danh có dự kiến thay đổi so với lần trước, Bộ Chính trị sẽ xin ý kiến Trung ương bằng phiếu trước khi chính thức giới thiệu để Quốc hội xem xét bầu hoặc phê chuẩn tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khoá XV.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: Nội dung chương trình Hội nghị Trung ương lần này bao gồm nhiều vấn đề rất cơ bản và hệ trọng, liên quan đến việc lãnh đạo, chỉ đạo hoàn thành thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân trong nhiệm kỳ khóa XIII, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng trong giai đoạn mới.

Tổng Bí thư đề nghị các đồng chí Trung ương dành thời gian tập trung nghiên cứu, thảo luận, cho ý kiến để tiếp tục hoàn thiện và xem xét, quyết định vào cuối kỳ họp./.

Hiền Hòa – Phạm Cường
Nguồn: ĐCSVN
FalseChính trị
Phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khai mạc Hội nghị lần thứ baBài viếtAdminPhát biểu của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khai mạc Hội nghị lần thứ ba/Imagesnews/2021-07/HNTW3-TBT_Key_06072021111149.jpg

​(TUAG)- Cổng TTĐT Đảng bộ tỉnh An Giang trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khai mạc Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII, sáng 5/7.

05/07/2021 12:00 CHYesĐã ban hành

HNTW3-3.jpg

Thưa các đồng chí Trung ương,

Thưa các đồng chí tham dự Hội nghị,

Trong không khí cả nước đang hân hoan, phấn khởi trước những thành công rực rỡ của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, cũng như kết quả rất tốt đẹp của cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026; toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang chung sức đồng lòng, vừa chủ động, tích cực phòng, chống dịch COVID-19, vừa nỗ lực phấn đấu hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội đã đề ra, hôm nay Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII bắt đầu khai mạc. Hội nghị có nhiệm vụ: Thảo luận, quyết định một số vấn đề quan trọng như: Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 5 năm 2021 - 2025; xem xét, ban hành Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Quy chế làm việc của Uỷ ban Kiểm tra Trung ương nhiệm kỳ khoá XIII; Quy định thi hành Điều lệ Đảng và Quy định về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng nhiệm kỳ khoá XIII; tiếp tục kiện toàn nhân sự các chức danh lãnh đạo của các cơ quan nhà nước nhiệm kỳ Quốc hội khoá XV để Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khoá XV sắp tới; và một số vấn đề quan trọng khác.

Thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, tôi xin nhiệt liệt chào mừng các đồng chí Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương, các đại biểu tham dự Hội nghị; và xin gửi tới các đồng chí lời thăm hỏi chân tình và lời chúc tốt đẹp nhất.

Sau đây, tôi xin phát biểu một số ý kiến có tính chất gợi mở, nêu vấn đề, mong được các đồng chí quan tâm trong quá trình thảo luận, xem xét, quyết định. Tôi xin nói 4 vấn đề:

1. Về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025

Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã nhất trí cao đề ra Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030 và Phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025. Để thể chế hoá, cụ thể hoá và thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ do Đại hội đề ra, thời gian qua, Bộ Chính trị đã chỉ đạo Ban cán sự đảng Chính phủ, các bộ, ban, ngành và địa phương khẩn trương, nghiêm túc nghiên cứu, cập nhật tình hình, nhất là tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, Kế hoạch tài chính quốc gia và Kế hoạch đầu tư công trung hạn 5 năm 2016 - 2020; đồng thời, phân tích, dự báo xu hướng phát triển của đất nước trước những biến động của thế giới từ đầu năm đến nay để báo cáo Bộ Chính trị cho ý kiến chỉ đạo hoàn thiện, trình Trung ương xem xét, quyết định tại Hội nghị lần này.

Đây là những kế hoạch hết sức quan trọng, rộng lớn, có ý nghĩa quyết định đối với việc hoàn thành thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội do Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã đề ra. Đề nghị Trung ương căn cứ vào Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Tờ trình, các báo cáo, tài liệu tham khảo của Ban cán sự đảng Chính phủ, cũng như thực tiễn tình hình ở địa phương, cơ quan, đơn vị mình, dành thời gian nghiên cứu, thảo luận, đánh giá một cách khách quan, toàn diện tình hình kinh tế - xã hội nước ta hiện nay và phân tích, dự báo xu hướng phát triển trong thời gian tới dưới tác động của đại dịch COVID-19, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và các xu hướng chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh mới trên thế giới. Chú ý phân tích, đánh giá thật sâu sắc, làm rõ thêm thực tế tình hình: Trong 6 tháng đầu năm vừa qua, cả nước vẫn phải tiếp tục nỗ lực, quyết liệt chống dịch; đợt bùng phát dịch lần thứ tư lây lan rất nhanh, hết sức nguy hiểm, phức tạp, khó kiểm soát, có thể còn tiếp tục kéo dài; thậm chí vẫn còn tiềm ẩn nguy cơ bùng phát các đợt dịch mới. Kinh tế - xã hội đất nước tuy tiếp tục phát triển, đạt được nhiều kết quả tích cực so với cùng kỳ năm 2020 nhưng vẫn thấp hơn mục tiêu đề ra. Sản xuất kinh doanh và đời sống của nhân dân, nhất là ở những vùng có dịch và những ngành, lĩnh vực chịu ảnh hưởng trực tiếp của đại dịch gặp nhiều khó khăn, thách thức. Kinh tế thế giới có dấu hiệu phục hồi, tăng trưởng trở lại nhưng chưa vững chắc; thương mại và đầu tư quốc tế suy giảm; nợ công toàn cầu tăng mạnh, thị trường tài chính - tiền tệ thế giới tiềm ẩn nhiều rủi ro, vẫn còn nguy cơ lâm vào khủng hoảng. Đại dịch COVID-19 tiếp tục diễn biến phức tạp, khó kiểm soát, tác động tiêu cực, kéo dài đến kinh tế thế giới, khu vực, trong đó có nước ta; làm thay đổi sâu sắc trật tự, cấu trúc kinh tế, phương thức quản trị và tổ chức hoạt động kinh tế và đời sống xã hội toàn cầu, buộc nhiều nước phải thay đổi định hướng, chiến lược phát triển kinh tế theo hướng nâng cao nội lực, chú trọng phát triển thị trường trong nước, phát triển kinh tế số, xã hội số...

Từ đó, cho ý kiến vào các vấn đề lớn nêu trong Tờ trình và các báo cáo của Ban cán sự đảng Chính phủ, nhất là những vấn đề quan trọng thuộc về quan điểm, tư tưởng chỉ đạo còn có ý kiến khác nhau. Chú ý làm rõ, tạo sự thống nhất cao về những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, mục tiêu tổng quát, nhiệm vụ chủ yếu, một số chỉ tiêu cơ bản, và đặc biệt là các cơ chế, chính sách, biện pháp cụ thể, sát hợp với thực tế, có tính đột phá, khả thi cao, bảo đảm thực hiện thành công các kế hoạch đề ra. Quán triệt thật đúng, tổ chức thực hiện thật tốt các chủ trương, quyết sách lớn của Đại hội XIII về hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, trước hết là thể chế phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; phát triển nhanh và bền vững cả về kinh tế, xã hội và môi trường; củng cố, tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô; nâng cao nội lực, năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế; tăng trưởng kinh tế gắn liền với phát triển xã hội, xây dựng, phát huy giá trị văn hoá và sức mạnh của con người Việt Nam; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta; đổi mới mạnh mẽ sự lãnh đạo, chỉ đạo điều hành, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với xác định rõ trách nhiệm và tăng cường hiệu lực, hiệu quả phối hợp, giám sát, kiểm tra việc thực hiện để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình phát triển...

2. Về xây dựng Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Uỷ ban Kiểm tra Trung ương: Đây là việc làm cần thiết ngay đầu nhiệm kỳ mỗi khoá sau Đại hội Đảng, nhằm cụ thể hoá Điều lệ Đảng, quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn, chế độ làm việc và phương pháp công tác của các cơ quan lãnh đạo đảng, bảo đảm thực hiện nghiêm nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, đặc biệt là nguyên tắc tập trung dân chủ. Trên cơ sở Báo cáo kiểm điểm việc thực hiện và kế thừa Quy chế làm việc của khoá XII, bám sát Nghị quyết Đại hội XIII và Điều lệ Đảng, Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Uỷ ban Kiểm tra Trung ương khoá này cần có những quy định cụ thể, chặt chẽ, phù hợp với thực tiễn, bảo đảm phát huy tốt hơn nữa dân chủ trong sinh hoạt đảng, sinh hoạt của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Uỷ ban Kiểm tra Trung ương, đồng thời giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương trong Đảng; giữ vững chế độ lãnh đạo tập thể, tăng cường trách nhiệm cá nhân, nhất là người đứng đầu; tiếp tục đổi mới, nâng cao năng lực và hiệu quả lãnh đạo của Đảng, đồng thời phát huy tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của các tổ chức trong hệ thống chính trị; đổi mới, cải tiến chế độ, lề lối làm việc, phương pháp công tác của các cơ quan lãnh đạo của Đảng, tăng cường sự phân công, phân cấp, phối hợp chặt chẽ và phù hợp; tránh mâu thuẫn, chồng chéo hoặc bỏ sót việc. Đây là những cơ sở quan trọng để góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Đảng, tăng cường sức mạnh, kỷ luật, kỷ cương, phát huy dân chủ, giữ vững sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội.

Tờ trình của Bộ Chính trị đã nêu rõ các nội dung mà Trung ương cần thảo luận. Đề nghị Trung ương tập trung cho ý kiến và góp ý trực tiếp vào dự thảo các quy chế, nhất là những nội dung cần bổ sung, sửa đổi. Ví dụ như nội dung về: Trách nhiệm, quyền hạn, mối quan hệ trong lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Uỷ ban Kiểm tra Trung ương; của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội, đồng chí Thường trực Ban Bí thư; chế độ sơ kết, tổng kết, chế độ đi công tác cơ sở, phương pháp, lề lối làm việc, mối quan hệ công tác v.v...

Các đại biểu dự Hội nghị. 

3. Quy định về thi hành Điều lệ Đảng và Quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã thông qua Báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng của Ban Chấp hành Trung ương khoá XII; quyết định không sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng. Đại hội giao cho Ban Chấp hành Trung ương khoá XIII chỉ đạo nghiên cứu, tiếp thu để điều chỉnh, thông qua các quy định, hướng dẫn của Trung ương; tăng cường kiểm tra, giám sát, bảo đảm thi hành nghiêm, thống nhất Điều lệ trong toàn Đảng.

Bộ Chính trị đã chỉ đạo Ban Tổ chức Trung ương, Uỷ ban Kiểm tra Trung ương và các cơ quan có liên quan phối hợp chuẩn bị các Tờ trình và Dự thảo các quy định. Nội dung của tờ trình và dự thảo các quy định đã bám sát Báo cáo tổng kết việc thi hành Điều lệ Đảng, trên cơ sở các Quy định số 29, ngày 25/7/2016 và Quy định số 30, ngày 26/7/2016 của Ban Chấp hành Trung ương khoá XII để đề xuất những nội dung cần hướng dẫn, quy định, cho phù hợp với thực tiễn thi hành Điều lệ Đảng.

Đề nghị các đồng chí Trung ương nghiên cứu kỹ và có ý kiến, góp ý vào dự thảo các quy định về những nội dung mà qua thực tiễn thi hành còn có những vướng mắc, bất cập, nhất là các vấn đề cụ thể phát sinh từ cơ sở, từ các chi bộ, đảng bộ. Đó là những vấn đề như: Quy định về thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ; sinh hoạt định kỳ của đảng bộ cơ sở, chi bộ; việc giới thiệu và kết nạp người vào Đảng; trường hợp kết nạp và công nhận đảng viên chính thức sai quy định; phát thẻ và quản lý thẻ đảng viên, ghi hồ sơ đảng viên; việc bầu đại biểu đi dự đại hội đảng bộ cấp trên; việc lập các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc, đơn vị sự nghiệp của cấp uỷ; quy định về nguyên tắc trong kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng; lãnh đạo công tác kiểm tra, giám sát và thẩm quyền, nhiệm vụ của uỷ ban kiểm tra các cấp; thi hành kỷ luật đối với đảng viên vi phạm pháp luật, quy định về việc xử lý khi phát hiện vi phạm liên quan đến cán bộ thuộc diện cấp uỷ quản lý; quy định về các trường hợp không giải quyết tố cáo...; công tác kiểm tra, giám sát của các tổ chức đảng; thi hành kỷ luật và biểu quyết kỷ luật; khiếu nại kỷ luật đảng...

4. Về việc giới thiệu nhân sự các chức danh lãnh đạo của các cơ quan nhà nước nhiệm kỳ 2021 - 2026

Đây là công việc rất hệ trọng. Tại Hội nghị Trung ương 2 khoá XIII (tháng 3/2021), Ban Chấp hành Trung ương đã thống nhất cao là cần sớm kiện toàn các chức danh lãnh đạo các cơ quan nhà nước ngay sau Đại hội để đáp ứng yêu cầu triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Ban Chấp hành Trung ương đã xem xét, quyết định giới thiệu nhân sự các chức danh Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội và cho ý kiến giới thiệu nhân sự đảm nhiệm 24 chức danh lãnh đạo khác của các cơ quan nhà nước. Tại Kỳ họp thứ 11, Quốc hội khoá XIV (tháng 3 - 4/2021), Quốc hội đã bầu Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội và bầu hoặc phê chuẩn đối với 24 chức danh lãnh đạo khác của các cơ quan nhà nước.

Đến nay, sau cuộc bầu cử Quốc hội khoá XV (nhiệm kỳ 2021 - 2026), Ban Chấp hành Trung ương có trách nhiệm chuẩn bị và tiếp tục giới thiệu nhân sự để Quốc hội khoá XV bầu hoặc phê chuẩn tại Kỳ họp thứ nhất sắp tới theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Tại Hội nghị này, Bộ Chính trị đề nghị Ban Chấp hành Trung ương xem xét, giới thiệu nhân sự theo hướng: Đối với các chức danh Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội và 24 chức danh lãnh đạo khác của các cơ quan nhà nước đã được Hội nghị Trung ương 2 khoá XIII giới thiệu hoặc cho ý kiến thông qua với số phiếu tín nhiệm cao thì Ban Chấp hành Trung ương không tiến hành bỏ phiếu giới thiệu hoặc lấy ý kiến lại. Đối với 23 chức danh còn lại chưa lấy phiếu giới thiệu tại Hội nghị Trung ương 2 và các chức danh có dự kiến thay đổi so với lần trước, Bộ Chính trị sẽ xin ý kiến Trung ương bằng phiếu trước khi chính thức giới thiệu để Quốc hội xem xét bầu hoặc phê chuẩn tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khoá XV sắp tới.

Theo Chương trình, Hội nghị diễn ra đến ngày 9/7. 

Thưa các đồng chí,

Nội dung chương trình Hội nghị Trung ương lần này bao gồm nhiều vấn đề rất cơ bản và hệ trọng, liên quan đến việc lãnh đạo, chỉ đạo hoàn thành thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân trong nhiệm kỳ khoá XIII, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng trong giai đoạn mới. Đề nghị các đồng chí Trung ương dành thời gian tập trung nghiên cứu, thảo luận, cho ý kiến để tiếp tục hoàn thiện và xem xét, quyết định vào cuối kỳ họp.

Với tinh thần đó, tôi xin tuyên bố khai mạc Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII.

Chúc Hội nghị của chúng ta thành công tốt đẹp.

Xin trân trọng cảm ơn.”

TrueChính trị
Từ quan điểm của Hồ Chí Minh về tự lực, tự cường đến phát huy nội lực đất nước hiện nayBài viếtTGTWTừ quan điểm của Hồ Chí Minh về tự lực, tự cường đến phát huy nội lực đất nước hiện nay/SiteAssets/BacHo-hocsinhmienNam.jpg

Trong quá trình tìm đường cứu nước cũng như lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao tinh thần tự lực, tự cường, tự lực cánh sinh và coi đó là phương châm hành động của cách mạng Việt Nam. Nhờ đường lối đúng đắn đó, cách mạng Việt Nam đã giành được những thắng lợi vĩ đại.

05/07/2021 10:00 SANoĐã ban hành

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ TỰ LỰC, TỰ CƯỜNG

Nếu “tự lực” có nghĩa là dựa vào sức mình để sống và làm việc, tuyệt đối không trông chờ, ỷ lại vào người khác thì “tự cườngcó nghĩa là tự làm cho mình mạnh lên, không chịu thua kém người khác, dân tộc khác. Tự lực, tự cường, tự chủ là những phẩm chất tốt đẹp của mỗi con người, mỗi dân tộc vì chứa đựng trong đó lòng tự trọng, ý chí vươn lên và khát vọng khẳng định bản thân. Là người tìm đường và dẫn đường cho dân tộc, Hồ Chí Minh luôn đề cao tinh thần tự lực, tự cường và nổi bật trong tư tưởng đặc sắc đó của Người là một số nội dung chính sau đây.

Thứ nhất, Hồ Chí Minh coi tự lực, tự cường là tiền đề của độc lập tự do và là điều kiện tiên quyết để phát triển quan hệ, vị thế ngoại giao.

Thực tế đấu tranh giành độc lập của các dân tộc thuộc địa đã giúp Hồ Chí Minh hiểu rằng: Công cuộc giải phóng phải là công cuộc “tự giải phóng” chứ không thể trông chờ vào thiện chí hay sự bố thí, rộng lượng của những kẻ cướp nước. Vì thế, lên án chủ nghĩa thực dân bao nhiêu thì Người cũng quyết liệt bấy nhiêu trong việc kêu gọi nhân dân các dân tộc bị áp bức tiến hành cuộc đấu tranh tự giải phóng: “Vận dụng công thức của Các Mác, chúng tôi xin nói với anh em rằng, công cuộc giải phóng anh em chỉ có thể thực hiện được bằng sự nỗ lực của bản thân anh em(1).'

Trở về lãnh đạo cách mạng Việt Nam sau 30 năm hoạt động quốc tế, Người luôn nhấn mạnh: Việc giải phóng của ta phải do ta tự làm lấy chứ không thể trông mong vào lực lượng bên ngoài. Tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi vào tháng 8/năm 1945, Người đã kêu gọi đồng bào “đem sức ta mà giải phóng cho ta. Sức mạnh như “triều dâng, thác đổ” của tinh thần dân tự giải phóng đã mang lại nền độc lập thiêng liêng cho Tổ quốc.

Từ kinh nghiệm và bài học thực tế của Việt Nam và thế giới, Người đã rút ra kết luận: “Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập(2). Sau khi đã giành được chính quyền, với vị thế của một nguyên thủ Quốc gia, Hồ Chí Minh tìm mọi cách để duy trì sự độc lập, tự chủ của nhân dân Việt Nam. Người nói: “Độc lập nghĩa là chúng tôi điều khiển lấy mọi công việc của chúng tôi, không có sự can thiệp ở ngoài vào”(3), kể cả sự can thiệp của các đồng minh. Khi động viên toàn dân tích cực tham gia và ủng hộ kháng chiến vì nền độc lập thiêng liêng của Tổ quốc, Người nói rõ: “Mỗi một người dân phải hiểu: Có tự lập mới độc lập, có tự cường, mới tự do(4).

Là một nhà hoạt động quốc tế lỗi lạc, Hồ Chí Minh luôn coi đoàn kết quốc tế là chiến lược trọng yếu của Đảng nhưng Người hiểu rằng, muốn tăng cường đoàn kết quốc tế thì trước hết phải tăng cường nội lực dân tộc, phát huy tinh thần tự lực cánh sinh. Người nhấn mạnh: “Thực lực mạnh, ngoại giao sẽ thắng. Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to, tiếng mới lớn(5). Ngược lại, nếu không có thực lực thì không thể nói gì đến ngoại giao, càng không thể mong muốn sự bình đẳng, độc lập, tự chủ mà “chỉ là một khí cụ trong tay của kẻ khác, dầu là kẻ ấy có thể là bạn đồng minh của ta vậy(6). Tóm lại, giữa tự chủ, tự lực, tự cường và sức mạnh, vị thế dân tộc có mối quan hệ tỉ lệ thuận với nhau.

Thứ hai, Hồ Chí Minh khẳng định phát huy tinh thần tự lực, tự cường là trách nhiệm của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong mọi chặng đường lịch sử.

Là biểu hiện của ý chí và tinh thần độc lập, tự chủ, ngay từ khi tiếp cận chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã hiểu rằng: Nếu biến lý luận Mác - Lênin thành “kinh thánh” và “công thức sáo mòn” thì tức là đã gạt bỏ nó ra khỏi cuộc sống. Vì thế, Người đã rất sáng tạo trong việc vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn của cách mạng Việt Nam. Người đã đặt câu hỏi: “Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại”(7). Sự sáng tạo của Hồ Chí Minh không chỉ làm cho học thuyết Mác - Lênin được “Việt hóa”, thích ứng với điều kiện Việt Nam mà còn giúp nhân dân Việt Nam thoát khỏi tâm lý thụ động để phát huy truyền thống tự lực, tự cường của dân tộc để đi đến những thắng lợi vĩ đại. 

Với sự trải nghiệm của một người đã từng đi “năm châu, bốn biển, ngay sau Cách mạng Tháng Tám, Hồ Chí Minh đã cho rằng nền văn hóa mới của Việt Nam phải góp phần tẩy bỏ tâm lý nô lệ để xây dựng một tinh thần mới - “tinh thần độc lập tự cường(8). Thực hiện nguyên tắc độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường của Hồ Chí Minh, trong mọi chặng đường cách mạng, Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam đều nỗ lực phát huy tinh thần “Tự lực cánh sinh”. Nếu Cách mạng Tháng Tám diễn ra theo tinh thần “mang sức ta mà giải phóng cho ta” thì phương châm cuộc kháng chiến chống Pháp là “Toàn dân, toàn diện, trường kỳ và tự lực cánh sinh”. Theo Hồ Chí Minh, Việt Nam không chỉ cần tự lực, tự cường trong công cuộc kháng chiến, giành độc lập mà còn phải tự lực tự cường cả trong việc xây dựng chế độ mới, đưa miền Bắc Việt Nam vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Người yêu cầu: “Trước đây, nhân dân ta đã nêu cao tinh thần tự lực cánh sinh, trường kỳ kháng chiến, thì ngày nay chúng ta càng phải nêu cao tinh thần tự lực cánh sinh, cần kiệm xây dựng nước nhà(9). Người căn dặn, trong mọi hoàn cảnh, luôn phải “lấy tự lực cánh sinh làm gốc để ứng phó với mọi phát triển của tình hình; dù tình hình ấy thuận lợi hay gay go thì ta vẫn chủ động(10) bởi sự chủ động sẽ mang đến cơ hội thành công và mọi sự phụ thuộc, lệ thuộc đều dẫn đến việc đánh mất quyền độc lập dân tộc.

Thứ ba, Hồ Chí Minh cho rằng tinh thần tự lực tự cường của dân tộc phải được xây đắp bằng ý chí tự lực tự cường, tự lực cánh sinh của mỗi cá nhân.

Tinh thần dân tộc là sự kết tinh ý chí, sức mạnh của toàn dân nên việc phát huy tinh lần tự lực, tự cường không chỉ là trách nhiệm của lực lượng lãnh đạo mà là của muôn dân. Tính tự lực, tự cường không chỉ giúp mỗi con người thành công mà còn giúp họ trở thành những người có lòng tự trọng, hiểu biết và có một cuộc đời hữu ích. Do đó, mỗi người dân phải tự tìm việc làm, tự lên kế hoạch, tự vượt qua khó khăn để đạt được kết quả tốt nhất trong công việc; mỗi khi gặp khó khăn thì tinh thần tự lực, tự cường trong họ càng phải được trỗi dậy và phát huy cao độ. Hồ Chí Minh còn cho rằng tự lực, tự chủ là phẩm chất, quyền lợi mang “tính người và nếu con người không có quyền tự chủ thì không còn là con người nữa. Vì thế, Người đã viết: “Thế thượng thiên tân hòa vạn khổ/ Mạc như thất khước tự do quyền!/ Nhất ngôn, nhất động bất tự chủ/ Như ngưu, như mã, nhậm nhân khiên(11) (Trên đời ngàn vạn điều cay đắng/ Cay đắng chi bằng mất tự do/ Mỗi việc, mỗi lời không tự chủ/ Để cho người dắt tựa trâu bò). Được tự chủ, làm chủ cuộc đời là hạnh phúc lớn nhất nên khi chế độ dân chủ ra đời, Hồ Chí Minh đã căn dặn nhân dân: Dân chủ không có nghĩa là muốn ăn bao nhiêu thì ăn, muốn làm bao nhiêu thì làm mà phải có tinh thần chủ động khắc phục khó khăn.

Trong hoàn cảnh đất nước còn nghèo, miền Nam chưa được giải phóng thì tinh thần tự lực, tự cường càng cần phải phát huy. Hồ Chí Minh căn dặn: “Cứ chờ Đảng và chờ Chính phủ giúp đỡ, thì không đúng đâu. Đảng và Chính phủ đề ra chính sách, phái cán bộ về hướng dẫn, thế là giúp đỡ. Nhưng đó là phụ. Lực lượng nhân dân tổ chức nhau lại là chính. Không nên ỷ lại, mà phải tự lực cánh sinh(12). Hồ Chí Minh yêu cầu tinh thần này phải được lan tỏa và trở thành ý thức tự giác trong mọi tầng lớp nhân dân. Bộ đội phải coi tăng gia sản xuất cũng là một bộ phận trong chính sách tự lực cánh sinh; các thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ mặc dù nhận được sự giúp đỡ của nhân dân, sự ưu tiên của chính phủ, cũng “cần phải cố gắng tăng gia sản xuất, tự lực cánh sinh, tùy theo khả năng mà tham gia các công tác trong xã, chớ nên yêu cầu quá đáng, ra vẻ “công thần(13). Tự lực, tự cường là phẩm chất cao quý mà người có đạo đức, có lòng tự trọng phải có nên trong nhà trường, ngoài việc giáo dục cho học trò lòng yêu nước thương nòi thì “phải dạy cho họ có chí tự lập tự cường, quyết không chịu thua kém ai, quyết không chịu làm nô lệ(14).

Trong công cuộc giải phóng phụ nữ thì “chị em phụ nữ không nên ngồi chờ Chính phủ, chờ Đảng ra chỉ thị giải phóng cho mình mà tự mình phải tự cường, phải đấu tranh(15) cho quyền lợi của chính mình… Sức mạnh của dân tộc được quy tụ bởi sức mạnh của mỗi con người nên phát huy tinh thần tự lực, tự cường của mỗi cá nhân trong xã hội là quan điểm nhất quán của Hồ Chí Minh

Thứ tư, Hồ Chí Minh khẳng định việc phát huy tinh thần tự lực, tự cường hoàn toàn không loại trừ việc tranh thủ sự giúp đỡ của thế giới trên nguyên tắc lấy nội lực làm nhân tố quyết định.

Với tư duy biện chứng, Hồ Chí Minh thấy rõ mối quan hệ chặt chẽ giữa nội lực và ngoại lực và Người luôn khẳng định: Tăng cường sức mạnh nội lực không có nghĩa là đóng kín, khước từ sự giúp đỡ ở bên ngoài mà là phải tìm mọi cách gia tăng sự ủng hộ của thế giới để nhân lên sức mạnh của nội lực. Ngay trong cuộc sống của mỗi con người, có nhiều việc nếu được người khác giúp đỡ thì sẽ trở nên dễ dàng hơn. Dù vậy, nội lực luôn giữ vai trò quyết định, ngoại lực chỉ gia tăng sức mạnh cho nội lực mà thôi. Hơn nữa, sự giúp đỡ bên ngoài phải thông qua lực lượng bên trong mới phát huy được tác dụng. Vì thế, Hồ Chí Minh khẳng định: “Muốn người ta giúp cho, thì trước mình phải tự giúp lấy mình đã(16). Khi Việt Nam đánh Mỹ và nhận được sự giúp đỡ to lớn của Liên Xô và Trung Quốc, Hồ Chí Minh vẫn kiên trì nhắc nhở cán bộ và nhân dân: “Các nước bạn ta, trước hết là Liên Xô và Trung Quốc ra sức giúp đỡ ta một cách vô tư, khẳng khái, để chúng ta có thêm điều kiện tự lực cánh sinh”(17) chứ không phải để ta sinh ra tật ỷ lại, trông chờ vào người khác. Trên thực tế, sức hậu thuận của thế giới thường tỷ lệ thuận với những thắng lợi của nhân dân ta và điều đó đã nói lên vai trò quyết định của nội lực.

Nhìn chung, tự lực, tự cường là truyền thống của văn hóa Việt Nam và nó đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh phát huy lên một tầm cao mới.

BacHo-hocsinhmienNam.jpgChủ tịch Hồ Chí Minh thăm Trường Học sinh miền Nam số 12, Thành phố Hải Phòng (18/1/1960). (Ảnh: TTXVN)

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Trường Học sinh miền Nam số 12, Thành phố Hải Phòng (18/1/1960). (Ảnh: TTXVN)

PHÁT HUY NỘI LỰC ĐẤT NƯỚC

Sau 35 năm Đổi mới, Việt Nam đã có được cơ đồ, vị thế, tiềm lực to lớn chưa từng có. Những thành tựu đáng tự hào đó là sự hội tụ của nhiều yếu tố, trong đó phải kể đến sức mạnh của ý chí tự lực, tự cường. Thấu hiểu nguyên nhân đó, Văn kiện Đại hội XIII đã coi phát huy nội lực, ý chí tự lực, tự cường là một trong những động lực quan trọng để phát triển đất nước hiện nay. Tuy nhiên, cần phải xác định rõ rằng: Nội lực không chỉ là tiền của đang nằm trong “túi dân mà là toàn bộ trí tuệ, tâm huyết, ý chí, quyết tâm của mỗi con người Việt Nam. Để phát huy nội lực, trước hết, chúng ta phải phát huy sức mạnh của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện phương châm nhà nước và nhân dân cùng làm để “xóa đói, giảm nghèo, xóa bỏ hết bần hàn, lạc hậu.

Đại đoàn kết toàn dân tộc - sức mạnh to lớn của dân tộc Việt Nam, cần được tiếp tục phát huy. Nếu xưa kia Hồ Chí Minh luôn khẳng định “đoàn kết là một chính sách dân tộc, không phải là một thủ đoạn chính trị”(18) thì từ Đại hội Đảng IX đến nay, đại đoàn kết toàn dân tộc luôn là “thành tố” của chủ đề Đại hội với hàm nghĩa đây là một động lực to lớn để phát triển đất nước.

Văn kiện Đại hội XIII có một điểm mới là ngay trong chủ đề đại hội đã nhấn mạnh chủ trương “sức mạnh đại đoàn kết dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại”. Nói đến sức mạnh thời đại là nói đến sức mạnh của hợp tác quốc tế và khoa học, công nghệ. Ngày nay, dù hướng ra bên ngoài để gia tăng nội lực là xu hướng phát triển tất yếu của các quốc gia nhưng nội lực vẫn là quyết định và chỉ khi thực sự có nội lực, ta mới có thể đưa ra quan điểm độc lập của mình về các vấn đề quốc tế và tiến hành “hòa nhập mà không “hòa tan.

Trên thực tế, mọi động lực phải thông qua động lực con người mới trở thành sức mạnh; cho nên, Hồ Chí Minh từng khẳng định: Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa. Từ quan điểm của Hồ Chí Minh, rằng “vô luận việc gì, đều do con người làm ra, và từ nhỏ đến to, từ gần đến xa, đều thế cả”(19), Báo cáo Chính trị Đại hội XIII đã khẳng định “phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao”(20) là một trong 3 đột phá chiến lược của nhiệm kỳ này.

 Trong thế giới hội nhập và cạnh tranh hiện nay, cạnh tranh bằng tâm trí, bằng “chất xám là hình thức cạnh tranh chủ yếu. Hơn nữa, dân trí có phát triển thì kinh tế mới được mở mang để trở thành kinh tế tri thức; dân trí có lên cao thì nhân quyền mới được tôn trọng. Tuy nhiên, dân trí không phải tự nhiên mà có mà đó là sản phẩm của giáo dục; cho nên, phát triển giáo dục là một trong những giải pháp quan trọng để tăng cường sức mạnh của nội lực. Phải giáo dục con người có phong cách tư duy độc lập, tự chủ, có tinh thần tự học và lấy tự học “làm cốt. Do đó, việc đổi mới giáo dục ở nước ta phải hướng tới nền giáo dục mở, học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập. Cũng phải phát huy dân chủ để mỗi người dám nói lên sự thật, chính kiến thật và hào hứng đưa ra sáng kiến của mình để xây dựng đất nước.               

Trong mỗi cơ quan, đơn vị, vai trò của người đứng đầu là không thể phủ nhận. Lúc này, mỗi người lãnh đạo phải ý thức rõ về vai trò thủ lĩnh của mình trong việc phát huy tinh thần tự lực, tự cường và khát vọng phát triển để làm gương cho cán bộ dưới quyền và nhân dân. Người lãnh đạo có thể “nói hay để “lập ngôn nhưng trước hết phải “làm hay để “lập nghiệp bởi giá trị lớn nhất của con người được thể hiện qua những gì mà họ đã cống hiến cho xã hội, nhân dân và đất nước.

Sức mạnh nội sinh của một dân tộc không phải là những điều “mặc định” và “bất biến” nên để phát huy nội lực thì phải tiếp tục phát huy tinh thần tự lực, tự cường vốn là nét đẹp trong truyền thống văn hóa Việt Nam và đã được Hồ Chí Minh phát triển lên một tầm cao mới. Những chỉ dẫn quý báu về tinh thần tự lực, tự cường của Hồ Chí Minh ngày càng tỏ rõ giá trị và tiếp tục soi đường cho dân tộc Việt Nam trong hành trình tiến tới “sánh vai với các cường quốc năm châu” như khát vọng lớn lao mà Người đã ký thác lại cho toàn Đảng, toàn dân ta./.

PGS. TS. GVCC. Trần Thị Minh Tuyết
Học viện Báo chí và Tuyên truyền

____

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2011, t.2, tr. 138.

(2) (6) (10) Hồ Chí Minh: Sđd, t. 7, tr. 445, 244, 384 -385.

(3) (4) Hồ Chí Minh: Sđd, t.5, tr.162, 553.

(5) Hồ Chí Minh: Sđd, t.4, tr.147. 

(6) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2000, t.7, tr.244.

(7) Hồ Chí Minh: Sđd, t.1, tr.509-510.

(8) (11) Hồ Chí Minh: Sđd, t.3, tr.458, 365.

(9) Hồ Chí Minh: Sđd, t.14, tr.27 - 28.    

(12) Hồ Chí Minh: Sđd, t.10. tr. 310.

(13) Hồ Chí Minh: Sđd, t.9,  tr.8.

(14) Hồ Chí Minh: Sđd, t.5, tr. 120.

(15) Hồ Chí Minh: Sđd, t.12, tr. 301.

(16) Đảng Cộng sản Việt Nam: Sđd, H, 2002, t.1, tr. 55,

(17) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr.103.

(18) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.9, tr.244.

(19) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd,  t.5, tr.281.

(20) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2021, t.1, tr. 203.

FalseChính trị
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào Thongloun Sisoulith kết thúc tốt đẹp chuyến thăm Việt NamBài viếtNgọc HânTổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào Thongloun Sisoulith kết thúc tốt đẹp chuyến thăm Việt Nam/Imagesnews/2021-06/TBT-Lao-thamvn2_Key_29062021165134.jpg
29/06/2021 5:00 CHNoĐã ban hành
(TUAG)- Chiều 29/6/2021, tại sân bay Quốc tế Nội Bài, Hà Nội, Ban Đối Ngoại Trung ương Đảng, Văn phòng Chủ tịch nước tổ chức Lễ tiễn Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào Thongloun Sisoulith và Phu nhân cùng Đoàn đại biểu cấp cao Đảng, Nhà nước CHDCND Lào lên đường về nước, kết thúc tốt đẹp chuyến thăm hữu nghị chính thức Việt Nam.
Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc hội kiến với Tổng Bí thư, Chủ tịch nước CHDCND Lào Thongloun Sisoulith. Ảnh: TTXVN

Nhận lời mời của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng và Phu nhân, Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc và Phu nhân, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Chủ tịch nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào Thongloun Sisoulith và Phu nhân thăm hữu nghị chính thức nước ta, từ ngày 28 đến 29/6.

Đây là chuyến thăm nước ngoài đầu tiên của đồng chí Thongloun Sisoulith trên cương vị Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào nhiệm kỳ 2021 - 2026, cũng là lần đầu sau Đại hội XIII của Đảng, nước ta đón người đứng đầu Đảng, Nhà nước Lào thăm Việt Nam.

Chuyến thăm hữu nghị chính thức Việt Nam của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào diễn ra trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực có những diễn biến nhanh chóng, phức tạp; hòa bình và phát triển là xu hướng chủ đạo, song gặp nhiều trở ngại; đại dịch COVID-19 tác động tiêu cực trên quy mô toàn cầu. ASEAN tiếp tục thúc đẩy liên kết nội khối, xây dựng cộng đồng và phát triển quan hệ với các đối tác, phát huy vai trò trung tâm trong cấu trúc khu vực.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, việc Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Thongloun Sisoulith chọn Việt Nam là nước đầu tiên đi thăm trên cương vị Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào thể hiện sự coi trọng đặc biệt của Đảng, Nhà nước Lào và cá nhân đồng chí Thongloun Sisoulith đối với việc giữ gìn, bảo vệ và không ngừng vun đắp mối quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt, gắn bó thủy chung, trong sáng, hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào.

Tại cuộc hội đàm, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào Thongloun Sisoulith nhấn mạnh tầm quan trọng và ý nghĩa chiến lược của mối quan hệ hữu nghị đặc biệt, toàn diện Việt Nam - Lào là tài sản chung vô giá của hai dân tộc, nhân tố bảo đảm sự tồn tại, phát triển của hai nước.

Hai nhà lãnh đạo khẳng định trong bất kỳ hoàn cảnh nào, hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước cũng sẽ quyết tâm cùng nhau giữ gìn, vun đắp cho mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào ngày càng phát triển sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Tổng bí thư, Chủ tịch nước Lào Thongloun Sisoulith cũng nhấn mạnh cần tăng cường quan hệ chính trị đi vào chiều sâu, đạt hiệu quả cao hơn nữa, hợp tác chặt chẽ trong các vấn đề chiến lược, chủ động tăng cường trao đổi thông tin, chia sẻ kinh nghiệm về công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, phát triển kinh tế xã hội, mở rộng hội nhập quốc tế.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào kết thúc tốt đẹp chuyến thăm hữu nghị chính thức Việt Nam. Ảnh: TTXVN

Là hai nước láng giềng núi sông liền một dải, Việt Nam và Lào không ngừng vun đắp mối quan hệ đoàn kết, thủy chung son sắt, được Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch Kaysone Phomvihane và Chủ tịch Souphanouvong đặt nền móng, được các thế hệ lãnh đạo và nhân dân hai nước gìn giữ, trở thành tài sản quý giá của hai dân tộc.

Trong thời kỳ đấu tranh giải phóng đất nước, hai dân tộc anh em kề vai sát cánh, nhường cơm sẻ áo, cùng chiến đấu và cùng đi tới thắng lợi. Bước vào thời kỳ xây dựng đất nước và củng cố hòa bình, hai nước thúc đẩy quan hệ hữu nghị, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện.

Trong công cuộc đổi mới, hội nhập và phát triển, hai nước hỗ trợ nhau cùng phát triển, cùng giành những thành tựu to lớn. Quan hệ chính trị ngày càng gắn bó, tin cậy, các cơ chế hợp tác được duy trì và tăng cường. Quan hệ Việt Nam - Lào phát triển tích cực, đi vào chiều sâu, thực chất và hiệu quả, góp phần giữ vững sự ổn định và phát triển tại hai nước...

Chuyến thăm hữu nghị chính thức Việt Nam của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào Thongloun Sisoulith tiếp tục khẳng định tình đoàn kết, gắn bó, tin cậy, thủy chung, trong sáng, trước sau như một giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước; khẳng định đường lối đối ngoại nhất quán của cả hai nước là đặc biệt coi trọng gìn giữ, không ngừng phát triển quan hệ Việt Nam - Lào, góp phần củng cố và tăng cường quan hệ hữu nghị vĩ đại, tình đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào./.

NGỌC HÂN (tổng hợp)
FalseChính trị
Nguyễn Ái Quốc và sự ra đời của báo chí cách mạng Việt Nam Bài viếtĐảng Cộng sản VNNguyễn Ái Quốc và sự ra đời của báo chí cách mạng Việt Nam /Imagesnews/2021-06/Chu-tich-Ho-Chi-Minh-voi-bao-chi_Key_20062021155053.png

(ĐCSVN) - Đầu những năm 20 của thế kỷ XX, lịch sử nhân loại chứng kiến một sự kiện có tính bước ngoặt đối với sự phát triển của thế giới: Thắng lợi vang dội của cách mạng Tháng Mười Nga mở ra thời đại mới: Thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới.

20/06/2021 4:00 CHNoĐã ban hành
Bác Hồ với các phóng viên báo chí. (Ảnh tư liệu) 

Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, các nước thắng trận họp Hội nghị hoà bình tại cung điện Versailles ở Thủ đô nước Pháp để phân chia lại thị trường và vùng ảnh hưởng trên thế giới. Nhưng tất cả các cường quốc đều cố tình lờ đi vấn đề khôi phục hay ít ra là nới rộng quyền cơ bản của nhân dân các nước thuộc địa mà họ đã không ít lần lớn tiếng hứa hẹn khi chiến tranh còn chưa phân thắng bại. Tại Hội nghị này, họ đã phớt lờ bản yêu sách đòi các quyền dân sinh dân chủ tối thiểu do Nguyễn Ái Quốc thay mặt Hội những người Việt Nam yêu nước gửi đến.

Ở Việt Nam, mâu thuẫn giữa nhân dân với chủ nghĩa thực dân và tay sai phong kiến ngày càng gay gắt. Các phong trào yêu nước do các tầng lớp sỹ phu, trí thức, tiểu tư sản lãnh đạo đều bị đàn áp dã man và lâm vào khủng hoảng sâu sắc. Giai cấp công nhân Việt Nam từng bước lớn mạnh sẵn sàng đảm đương sứ mệnh lịch sử là lãnh đạo cách mạng. Tình hình trên đòi hỏi truyền bá một cách có hệ thống chủ nghĩa Mác-Lênin. Học thuyết cách mạng chân chính vào Việt Nam; vận động, tổ chức đẩy mạnh phong trào yêu nước và phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân, tích cực chuẩn bị các tiền đề chính trị, tư tưởng, tổ chức cho việc thành lập một Đảng cách mạng, một tổ chức tiên phong đại diện lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cho toàn dân tộc. Lịch sử dân tộc Việt Nam đòi hỏi và trên thực tế đã hình thành những tiền đề cần thiết cho sự ra đời một tờ báo cách mạng chân chính. Trong bối cảnh của Việt Nam vào thời điểm này, người gánh trách nhiệm lịch sử đưa ra chủ trương xuất bản tờ báo này phải là người cách mạng, hiểu sâu sắc vai trò của báo chí cách mạng và chỉ có thể xuất bản và lưu hành bí mật ngoài vòng pháp luật của thực dân Pháp. Sứ mệnh lịch sử này đã được nhà yêu nước, người cộng sản Việt Nam đầu tiên nhận trách nhiệm thực hiện.

Trên con đường đi tìm đường cứu nước cứu dân, Nguyễn Ái Quốc bắt đầu sự nghiệp báo chí của mình từ cuối năm 1917 khi Người từ Anh trở lại Pháp và sau đó tham gia Đảng xã hội Pháp. Động cơ làm báo lúc này của Người là phát biểu chính kiến của mình trên các phương tiện thông tin đại chúng ngay tại nước Pháp để đấu tranh cho đội lập tự do cho dân tộc mình. Lúc đầu vốn tiếng Pháp của Người còn chưa đủ. Người phải nhờ một người bạn là luật sư Phan Văn Trường viết hộ. Không phải lúc nào ông bạn cũng nói hết hoặc nói đúng ý của Người. Nguyễn Ái Quốc hiểu chỉ có một cách là tự mình phải viết lấy để diễn đạt đầy đủ ý kiến của mình. Được sự khuyến khích của Charles Longuet, cháu ngoại của C.Mác, chủ nhiệm báo Lepopulaire (Người bình dân) cơ quan của Đảng xã hội Pháp thời kỳ này và của Gaston Monmousseau chủ bút báo La Vie Ouvrière (Đời sống thợ thuyền) Nguyễn Ái Quốc đã đi vào con đường báo chí. Sau này, Bác Hồ đã kể lại kinh nghiệm làm báo của mình như sau: “Lúc ở Pari, tuy biết nhiều tội ác của thực dân Pháp, nhưng không biết làm thế nào để nêu lên được. Một đồng chí công nhân ở toà báo Đời sống thợ thuyền cho Bác biết ở báo ấy có mục “tin tức vắn” mối tin chữ năm, ba dòng thôi và bảo Bác có tin tức gì thì cứ viết, đồng chí ấy sẽ sửa lại cho. Từ đó ngoài những giờ lao động, Bác bắt đầu viết những tin rất ngắn, mỗi lần viết làm hai bản, một bản đưa cho báo, một bản thì giữ lại. Lần đầu tiên thấy tin đã được đăng thì rất sung sướng. Mỗi lần đều đem tin đã đăng trên báo so với bài mình đã viết, xem sai chỗ nào. Về sau đồng chí ấy bảo Bác viết dài thêm vài dòng nữa, rồi lại vài dòng nữa… cứ thế kéo dài 15, 20 dòng, rồi đến cả một cột dài. Lúc đó đồng chí ấy lại bảo: “Thôi bây giờ phải viết rút ngắn lại, cũng những việc như vậy nhưng phải viết cho rõ, cho gọn”[1]”.

Bài báo đầu tiên của Nguyễn Ái Quốc mà ngày nay chúng ta được biết là một bài luận chiến sắc sảo với tiêu đề: “Tâm địa thực dân”. Bài báo đã phê phán những luận điệu xuyên tạc của một nhà  báo Pháp ở Đông Dương. Từ năm 1919, nhiều tờ  báo ở Pháp trong đó có những tờ nổi tiếng như: L’Humanité, Lepopulaire, La Vie Ouvrière, Le journal purple (Báo của dân), Le cahiers du communisme (Tạp chí cộng sản), La Correspondance internationale (Thư tín quốc tế)… đã đăng nhiều bài của Nguyễn Ái Quốc.

Tháng 7/1921, Nguyễn Ái Quốc cùng một số nhà hoạt động cách mạng ở các nước thuộc địa khác của Pháp như Angieri, Tuynidi, Mangát, Máctinie, Marốc, lập Hội liên hiệp thuộc địa và xuất bản báo Le Paria (Người cùng khổ) làm cơ quan tuyên truyền của Hội. Số 1 ra ngày 1/4/1922. Những bài đăng trên tờ báo này đã biểu hiện tài năng báo chí và văn học của Nguyễn Ái Quốc. Sau một năm phát hành tờ Người cùng khổ và đang phát triển tốt đẹp, Nguyễn Ái Quốc dự định xuất bản một ấn phẩm định kỳ bằng tiếng Việt nhằm phục vụ kiều bào ta nơi đất khách. Người dự định đặt tên cho tờ báo này là Việt Nam hồn. Tờ Việt Nam hồn chưa kịp ra mắt thì Nguyễn Ái Quốc rời nước Pháp sang Liên Xô. Tờ Việt Nam hồn đã được các bạn của Người thực hiện. Tờ Việt Nam hồn cũng được gửi về phát hành ở Việt Nam. Khi bắt đầu bước vào nghề báo, Nguyễn Ái Quốc chưa tới tuổi ba mươi. Từ năm 1923 đến 1924, khi học tập công tác ở Liên Xô, Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc làm cộng tác viên của hãng thông tấn Liên Xô và tờ tiếng Anh: Canto Gazette – Cơ quan của quốc dân Đảng Trung Quốc. Từ những bước tập viết những tin ngắn bốn, năm dòng lúc đầu, chỉ vài năm sau, Người đã sử dụng thuần thục ngòi bút của mình giữa làng báo Pari, tạo nên những tác phẩm báo chí cho đến nay vẫn còn là mẫu mực. những chủ đề khi Nguyễn Ái Quốc mới bước vào nghề đề cập thời kỳ này là những vấn đề hệ trọng đến sự tồn vong của dân tộc và đụng chạm đến nhiều nhân vật và sự kiện tầm cỡ quốc tế.

Trong các tác phẩm đầu tay của mình, Người đã vận dụng nhuần nhuyễn lý luận cách mạng. Các bài báo của Người thời kỳ này đã thể hiện rõ một căn bản trí thức sâu rộng. Nguyễn Ái Quốc đã để lại nhiều bài luận chiến ngôn từ sắc bén, lập trường vững chắc, nhiều tiểu phẩm chua cay đối với kẻ thù. Bản án chế độ thực dân Pháp xuất bản 1925 là một tác phẩm lớn mang tính tố cáo đanh thép đối với chế độ thực dân dựa trên những tư liệu đầy sức thuyết phục, không những có giá trị cao về chính trị - lý luận mà còn có giá trị cao về báo chí, văn học! Nguyễn Ái Quốc là một nhà báo như vậy, khi Người chuẩn bị cho sự ra đời của nền báo chí cách mạng Việt Nam.

Cuối 1924, quốc tế cộng sản phái Nguyễn Ái Quốc sang công tác ở Trung Quốc theo đúng nguyện vọng của Người được gần với Tổ quốc để có điều kiện hoạt động hơn tiến tới thành lập Đảng cộng sản Việt Nam là mục đích cao nhất của Người đặt ra trong thời điểm này.

Thời gian này, với cương vị uỷ viên Bộ Phương Đông, trực tiếp phụ trách Cục Phương Nam, là nhà  yêu nước có sự hiểu sâu sắc văn hoá Đông Tây, là nhà cách mạng thấm nhuần sâu sắc bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, là một người từng nhiều năm làm báo và hiểu rõ sức mạnh của báo chí. Nguyễn Ái Quốc rất tâm đắc những tư tưởng của Lênin về báo chí: “Trong thời đại ngày nay, không có tờ báo chính trị thì không thể có phong trào gọi là chính trị”, “chúng ta cần trước hết là tờ báo, không có nó thì không thể tiến hành một cách có hệ thống cuộc tuyên truyền, cổ động hết sức có nguyên tắc và toàn diện”[2] “Báo chí là người tuyên truyền, người cổ động, người tổ chức chung”[3].

Cuối năm 1924, khi về đến Quảng Châu - Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc bắt tay ngay vào việc chuẩn bị xuất bản một tờ báo chính trị đồng thời với việc mở những lớp huấn luyện các thanh niên ưu tú đưa từ trong nước sang để làm nòng cốt cho cách mạng sau này.

Nguyễn Ái Quốc cùng một số đồng chí là học trò của Người thực hiện công việc trọng đại này trên căn gác nhỏ ở khu phố buôn bán sầm uất ở trung tâm Quảng Châu. Căn gác này cũng là nơi thành lập và là trụ sở của Hội Việt Nam cách mạng. Báo Thanh niên là cơ quan ngôn luận và đấu tranh của Tổ chức này.

Báo ra hàng tuần có khuôn khổ 19x13cm, ra mỗi kỳ 2 trang, có số 4 trang. Báo có các mục sau: xã luận, bình luận, diễn đàn Phụ nữ, phê bình, tin tức, thơ ca, vấn đáp, trả lời  bạn đọc, việc làm.

Báo Thanh niên đảm trách nhiệm vụ cơ bản là tuyên truyền tôn chỉ và mục đích của Tổng bộ Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội. Thông qua những bài viết để trình bày có hệ thống một số vấn đề cơ bản về đường lối chiến lược và sách lược của cách mạng Việt Nam, về chủ nghĩa Mác-Lênin, kêu gọi đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước ra sức đoàn kết chiến đấu chống chủ nghĩa đế quốc giành lại độc lập dân tộc. Báo in trên chất liệu giấy sáp rồi được chuyển bí mật về nước. Ở Việt Nam các tờ báo Thanh niên được các cơ sở cách mạng chép tay thành nhiều bản rồi chuyền tay nhau cho các đồng chí của mình đọc và truyền đạt tới nhân dân. Số đầu của tờ Thanh niên xuất bản ngày 21/6/1925 và tiếp tục xuất bản đều đặn hàng tuần. Với gần 90 số, báo Thanh niên đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử: Truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin, tuyên truyền Đường Kách mệnh, kêu gọi nhân dân đoàn kết đấu tranh, góp phần tích cực chuẩn bị về mặt lý luận chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự thành lập Đảng cộng sản Việt Nam, mở ra một dòng báo chí mới ÷ Báo chí cách mạng Việt Nam.

Sau báo Thanh niên,  Nguyễn Ái Quốc lập ra báo Kông nông (1926), Báo Đường Kách mệnh (1927). Ngày 1/10/1929, Báo Búa liềm, cơ quan ngôn luận của Đông Dương cộng sản Đảng ra số đầu tiên. Tháng 8/1929, chi bộ An Nam cộng sản ở Thượng Hải ra báo Đỏ viết tay trên giấy sáp. Kể từ tờ Thanh niên mở đường, đến cuối năm 1929, báo chí cách mạng Việt Nam đã có trên 50 tờ báo và tạp chí là cơ quan của các cấp Hội của Hội Việt Nam Thanh niên cách mạng và 2 tổ chức cộng sản là Đông Dương cộng sản Đảng và An Nam cộng sản Đảng. Ngày 3/2/1930, tại Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng cộng sản Việt Nam, dưới sự chủ trì của Đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã thông qua nghị quyết về kế hoạch thành lập một Đảng cộng sản chân chính. Trong mục q của nghị quyết này ra nghị quyết về báo chí với các nội dung sau:

1.     Bỏ những tờ báo do Đông Dương cộng sản Đảng và An Nam cộng sản Đảng xuất bản trước đây.

2.     Ban Trung Ương có thể xuất bản một tạp chí lý luận và ba tờ báo tuyên truyền.

3.     Bỏ những tờ báo của các hội quần chúng do Đảng chỉ đạo.

4.     Duy trì tất cả những tờ báo do quần chúng chủ trương[4]

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, báo chí cách mạng Việt Nam từ tờ báo đầu tiên - báo Thanh niên xuất bản ngày 21/6/1925, qua mỗi thời kỳ cách mạng 1925-1930, 1930-1945, 1945-1954, 1954-1975, 1975-1986, 1986-đến nay, đều có sự phát triển mạnh mẽ. Đến nay là một hệ thống quốc gia các cơ quan thông tin đại chúng gồm nhiều loại hình, ở nhiều cấp, thuộc nhiều cơ quan chủ quản, xuất bản bằng tiếng Việt và tiếng các dân tộc thiểu số, bằng ngoại ngữ với những chức năng và nhiệm vụ hết sức đa dạng, nhằm nhiều loại đối tượng và sử dụng nhiều công nghệ hiện đại.

Ngày nay với trên 600 cơ quan báo chí với tất cả các loại hình báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử đều tiếp cận công nghệ làm báo hiện đại để đưa thông tin báo chí lên các hạ tầng, nền tảng truyền thông hiện đại, với gần 20.000 nhà báo có bản lĩnh chính trị, có đạo đức và nghiệp vụ báo chí, Báo chí cách mạng Việt Nam là một  nền báo chí kiểu mới, do Đảng cộng sản tổ chức lãnh đạo, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng chính trị tư tưởng. Đó là nền báo chí vừa là cơ quan ngôn luận của các tổ chức trong hệ thống chính trị vừa là diễn đàn của Nhân dân.

Đây thực sự là nền báo chí của Nhân dân, vì lợi ích cao cả của nhân dân mà hoạt động và chịu sự giám sát của Nhân dân. Rất đỗi tự hào trước những trưởng thành và cống hiến to lớn trong lịch sử 96 năm qua, hơn 20.000 nhà báo Việt Nam tiếp tục giữ vững và phát huy truyền thống bút sắc, lòng trong tâm sáng, ra sức phấn đấu xây dựng nền báo chí Việt Nam cách mạng, chuyên nghiệp, nhân văn, hiện đại, hiệu quả - là người tuyên truyền, cổ động, tổ chức chung góp phần hiện thực hóa thắng lợi khát vọng 2045: Việt Nam thành nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa./.


PGS.TS Đào Duy Quát -
Nguyên Phó Trưởng ban thường trực Ban Tư tưởng - Văn hóa TW

[1] Hồ Chí Minh toàn tập. NXB chính trị quốc gia - Hà Nội 2011. Tập 12. Trang 168

[2] Lịch sử báo chí cách mạng Việt Nam (1925-2010) NXB chính trị quốc gia. Hà Nội 2013. Trang 46.

[3] Mác, Ăngghen, Lênin, Hồ Chí Minh: Bàn về báo chí, xuất bản. NXB chính trị quốc gia. Hà Nội 2004. Trang 366.

[4] Văn kiện Đảng toàn tập. NXB chính trị quốc gia. Hà Nội 2002. Tập 2. Trang 12,13.


FalseChính trị
Lịch sử Đảng bộ An Giang góp phần chứng minh con đường cứu nước đúng đắn và quy luật thành lập Đảng ở Việt NamBài viếtLịch sử Đảng bộ An Giang góp phần chứng minh con đường cứu nước đúng đắn và quy luật thành lập Đảng ở Việt Nam/SiteAssets/GBTG.jpg
18/06/2021 9:00 SAYesĐã ban hành

(TUAG)- Từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 - 1918), thực dân Pháp tiến hành khai thác Đông Dương lần thứ hai một cách toàn diện, triệt để với quy mô lớn hơn trước để bóc lột sức người, sức của bù đắp cho những thiệt hại của chúng trong chiến tranh. Long Xuyên, Châu Đốc được thực dân Pháp xem là một trong những trọng điểm vơ vét lúa gạo, bóc lột nhân công ở Nam kỳ.

 

Dưới tác động của chủ nghĩa thực dân, đến cuối những năm 20 thế kỷ XX, các tầng lớp nhân dân ở Long Xuyên, Châu Đốc đã có sự phân hóa tương đối rõ nét.

Tầng lớp địa chủ hình thành từ nhiều nguồn gốc khác nhau. Một số xuất thân là quan lại phong kiến. Trong số này cũng có sự phân hóa nhất định. Một số tiếp tục làm tay sai cho Pháp, một số bị chèn ép trở thành trung, phú nông có mối quan hệ với nông dân, bám ruộng vườn sinh sống. Có một số ít địa chủ xuất thân là tay sai được thực dân Pháp cấp ruộng đất hoặc bao chiếm của dân trở thành một bộ phận đặc quyền đặc lợi. Một số địa chủ là tư sản thương nghiệp, cho vay, bỏ tiền ra mua hoặc tịch ký ruộng đất của nông dân.

Tầng lớp tư sản chưa hình thành độc lập, họ chỉ làm một số ngành phụ  thuộc như thương mại, xay xát, dệt, mộc, gạch ngói, nước mắm... nhưng bị tư sản Pháp và Hoa kiều chèn ép, nên họ chưa có địa vị xứng đáng trong xã hội đương thời.

Tầng lớp tiểu tư sản trí thức đa số có mối quan hệ gắn bó với người lao động. Họ nhạy bén với thời cuộc, tiếp thu nhanh những tư tưởng tiến bộ và có khả năng  truyền bá những tư tưởng đó vào nhân dân. Họ đã có những đóng góp tích cực trong quá trình vận động cách mạng.

Giai cấp nông dân là lực lượng đông đảo và bị áp bức, bóc lột nặng nề nhất ở nông thôn. Thực dân thì bóc lột bằng thuế má, lao dịch. Chủ điền bóc lột bằng tô, tức, cống vật, lao động không công, cho vay cắt cổ... nên tá điền luôn bị cái đói đe dọa. Sưu, thuế, tô, tức, đói nghèo, dịch bịnh, dốt nát... luôn luôn ám ảnh, giày vò kiếp sống của người nông dân. Là người bị bóc lột nặng nề nhất ở nông thôn, với lòng căm thù giặc cướp nước, cướp đất, từ thế kỷ XVIII đến đầu những năm 20 thế kỷ XX, nông dân Long Xuyên, Châu Đốc không ngừng đứng lên chống Pháp bằng mọi hình thức theo ý thức hệ phong kiến, nhưng vẫn không thoát được kiếp trâu cày, ngựa cỡi đành ngậm đắng nuốt cay.

Do chính sách khai thác, bóc lột kiểu phong kiến của thực dân Pháp, giai cấp công nhân ở đây hầu như không có. Trái lại, do sự phát triển tất yếu của nền  kinh tế tự cung, tự  cấp đã hình thành tầng lớp thợ thủ công tương đối tập trung ở vùng Tân Châu, Chợ Mới với các ngành ươm tơ, dệt, mộc... Đa số thợ không có tư liệu sản xuất phải vào các xưởng, trại làm công nhật. Khi thiếu nguyên liệu hoặc hàng ế ẩm thì chủ cho nghỉ việc. Do xuất thân từ nông dân chưa gắn chặt cuộc đời với xưởng trại và cũng là người bị áp bức, bóc lột nặng trong xã hội, nên có mối quan hệ mật thiết với nông dân, có cùng tâm tư, tình cảm. Do điều kiện lao động tương đối tập  trung và lao động có kỹ thuật nên họ được xác định là lực  lượng cách mạng tích cực và tiến bộ ở nông thôn lúc bấy giờ.

Đảng bộ An Giang ra đời là sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào yêu nước.

Với việc nắm chắc những đặc điểm tình hình như trên, việc hình thành các tổ chức cộng sản và thành lập Đảng bộ tỉnh An Giang được thực hiện từ rất sớm, theo đúng quy luật chung.

Tháng 6/1925, Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên (Hội Thanh niên) được thành lập ở Quảng Châu. Cuối năm 1927, chi bộ Thanh niên đầu tiên của Long Xuyên, Châu Đốc ra đời tại Long Điền (Chợ Mới) gồm có: Châu Văn Liêm, Bùi Trung Phẩm và Lâm Văn Cẩn, do đồng chí Châu Văn Liêm phụ trách. Tổ chức Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên ra đời đánh dấu bước ngoặt quan trọng trên con đường đấu tranh cách mạng của nhân dân Long Xuyên, Châu Đốc. Sau hơn 60 năm chống đế quốc và tay sai, giờ đây mới có một tổ chức cách mạng có đường lối cứu nước và phương pháp đấu tranh phù hợp với yêu cầu lịch sử lúc bấy giờ.

Là một vùng đất thuộc địa bị thực dân Pháp khai thác và bóc lột kiểu phong kiến, cho đến cuối năm 1930 giai cấp công nhân hầu như không có. Vì  vậy, việc đưa chủ nghĩa Mác - Lênin, hệ tư tưởng của giai cấp công nhân hiện đại, thâm nhập vào đây không phải là điều dễ dàng. Nó đòi  hỏi những người hội viên Thanh niên đầu tiên của Long Xuyên, Châu Đốc phải biết phát huy tính tích cực, chủ động của mình trong suốt quá trình vận động thành lập Đảng, quá trình chuẩn bị đầy đủ về mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức để đưa phong trào cách mạng phát triển đúng quỹ đạo của cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội.

Đánh giá đúng đắn đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội và xác định được mâu thuẫn  đối kháng ở Long Xuyên, Châu Đốc, Hội Thanh niên sớm thấy được vị trí đặc biệt của thợ thủ công, tầng lớp có mối quan hệ giai cấp với nông dân và công nhân hiện đại. Thợ thủ công cũng có những điểm gần giống như công  nhân như: tự  do bán sức lao động cho chủ xưởng, không có tư liệu sản xuất, lao động tập trung có kỹ thuật và bị đế quốc, chủ xưởng, địa chủ bóc lột nặng nề.  Họ lại có mối quan hệ kinh tế, tình cảm gắn bó với nông dân. Họ có thể đi vào nhà máy, hầm mỏ để trở thành công nhân và cũng có thể quay lại kiếp tá điền một khi thất nghiệp kéo dài. Với những đặc điểm đó, thợ thủ công ở Long Xuyên, Châu Đốc được Hội Thanh niên đánh giá là một  lực lượng cách mạng quan trọng mà qua đó, chủ nghĩa Mác- Lênin từ những người trí thức cách mạng dễ dàng thâm nhập vào nông dân và nhân dân lao động. Nông dân và thợ thủ công trở thành lực lượng cách mạng chủ yếu ở Long Xuyên, Châu Đốc trong thời điểm lịch sử đó.

Để tuyên truyền, giác ngộ và tập hợp lực lượng cách mạng cho phù hợp với trình độ nhận thức của các tầng lớp nhân dân, bên cạnh các tổ chức công khai, Hội Thanh niên còn bí mật xây dựng Nông hội, Công hội làm nòng cốt cho phong trào. Công hội là hình thức sáng tạo để tập hợp lực lượng thợ thủ công, nhân dân lao động, lấy tinh thần triệt để cách mạng của giai cấp công nhân làm chuyển biến tư tưởng họ từ đấu tranh tự phát lên tự giác và các tổ chức này hoạt động thật sự gắn bó với nhân dân nên được quần chúng ủng hộ.

Mùa Xuân năm 1930, Đảng cộng sản Việt Nam thành lập. Đặc ủy An Nam cộng sản Đảng vùng Hậu Giang chuyển thành Đặc ủy Đảng cộng sản Việt Nam, cử cán bộ về các tỉnh xây dựng tổ chức Đảng.

Cuối tháng 3/1930, các đồng chí lãnh đạo Hội Thanh niên ở Long Xuyên, Châu Đốc như Nguyễn Văn Cưng, nữ đồng chí Bảy Xuyến... được kết nạp vào Đảng cộng sản Việt Nam, cùng đồng chí Lưu Kim Phong (cán bộ Đặc ủy) hình thành "Ban chấp ủy lâm thời" tỉnh Long Xuyên. Đồng chí Nguyễn Văn Cưng trở thành Bí thư Tỉnh ủy Long Xuyên lúc mới hai mươi mốt tuổi. Sau đó, Tỉnh ủy chủ trương tiến hành xây dựng các chi bộ Đảng, lấy Chợ Mới làm trung tâm phát triển tổ chức.

Đầu tháng 4/1930 chi bộ Đảng đầu tiên của Long Xuyên, Châu Đốc được thành lập ở Long Điền (Chợ Mới). Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Đặc ủy Hậu Giang, cho đến cuối tháng 4/1930 các chi bộ Kiến An, Bình Thành, An Phong... (Chợ  Mới); Tân Huề, Long Thuận, Long Sơn... (Tân Châu - Hồng Ngự); Long Xuyên, Lấp Vò... lần lượt ra đời, đánh dấu sự phát triển tất yếu của phong trào cách mạng của nhân dân Long Xuyên, Châu Đốc.

Đảng bộ Long Xuyên, Châu Đốc ra đời sớm ở miền Tây Nam kỳ là sự kết hợp chủ nghĩa Mác- Lênin với phong trào yêu nước, góp phần chứng minh một cách cụ thể quy luật xây dựng thành công một Đảng cộng sản ngay trên đất nước nông nghiệp nghèo nàn và lạc hậu.

Đảng bộ An Giang là hạt nhân đoàn kết, lãnh đạo nhân dân kháng chiến chống xâm lược, giải phóng quê hương.

Tỉnh An Giang với đặc thù đa dân tộc, đa tôn giáo, có đường biên giới với Campuchia, là cầu nối của Khu 8 và Khu 9, đồng thời là cửa ngõ của miền Tây Nam Bộ trong mối quan hệ với chiến trường Campuchia, là con đường nhận sự chi viện người và của từ Trung ương cho chiến trường miền Tây Nam bộ, do đó bị thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược kềm kẹp rất gắt gao, chúng lợi dụng dân tộc, tôn giáo để chia rẽ Đảng với dân, gây nhiều thiệt hại cho lực lượng cách mạng.

Quán triệt quan điểm Đảng của giai cấp công nhân, đồng thời là Đảng của dân tộc Việt Nam. Lực lượng cách mạng là "cả quần chúng", Đảng bộ đã luôn đoàn kết các giai cấp, tầng lớp, đoàn kết các dân tộc (Kinh, Hoa, Chăm, Khmer), đoàn kết lương giáo (nhất là quan tâm công tác tôn giáo vận, Hòa Hảo vận) để tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng, đánh đuổi ngoại xâm, lật đỗ tay sai, giành độc lập, thống nhất Tổ quốc. Trong đội ngũ cán bộ, chiến sĩ cách mạng của tỉnh có rất nhiều người dân tộc Khmer, Hoa, Chăm, người theo các tôn giáo, nhất là Phật giáo Hòa Hảo, Cao Đài...

Trong từng phong trào, giai đoạn, thời kỳ cách mạng, tổ chức Đảng và đảng viên bám chặt địa bàn dân cư, chủ động đề ra biện pháp, chủ trương linh hoạt phù hợp với tình hình, với yêu cầu cách mạng và nguyện vọng của quần chúng nhân dân, khẩu hiệu đấu tranh hướng đến quyền lợi của các giai cấp, tầng lớp như: giảm thuế thân, bớt lúa tô, tăng tiền công thợ, tố cáo tội ác của giặc; đòi thi hành Hiệp định Genève; chống càn quét, đàn áp, chống bắt lính, đôn quân; nổi dậy, khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân… huy động được lực lượng đông đảo quần chúng tham gia, góp phần làm nên thắng lợi của hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng quê hương.

Ở vùng đất miền Tây Nam bộ xa xôi, trên nền tảng của chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa cộng sản nhanh chóng nảy mầm, bám rễ, Đảng bộ An Giang là một trong những Đảng bộ ra đời sớm ở vùng đồng bằng sông Cửu Long[1], đã tạo ra một bước ngoặt cho phong trào cách mạng An Giang tiến lên một bước mới vô cùng quan trọng, hòa nhịp và có ý nghĩa lớn đối với phong trào cách mạng cả nước, cùng cả nước đánh thắng thực dân, đế quốc xâm lược, giành độc lập dân tộc, góp phần chứng minh đối với quy luật thành lập Đảng ở Việt Nam- kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước và con đường cứu n­ước đúng đắn mà Bác Hồ đã tìm ra- con đường cách mạng giành độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội./.

Thạc sĩ Nguyễn Thành Nhân

Phó Hiệu trưởng Trường Chính trị Tôn Đức Thắng

________________

[1] Cuối năm 1927, Chi bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (Hội Thanh niên) đầu tiên của tỉnh Long Xuyên thành lập tại Long Điền, Chợ Mới. Tháng 2-1928, thành lập Tỉnh bộ Hội Thanh niên tỉnh Long Xuyên. Cuối tháng 3-1930, Ban Chấp ủy lâm thời Đảng bộ tỉnh Long Xuyên ra đời và Chi bộ Long Điền (Chợ Mới)- Chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam đầu tiên của An Giang ra đời đầu tháng 4-1930.

TrueChính trị
Tư duy mới về An ninh quốc gia trong tình hình mớiBài viếtTGTWTư duy mới về An ninh quốc gia trong tình hình mới/SiteAssets/VN-gia_nhap_lien_hop_quoc.jpg
15/06/2021 10:00 SANoĐã ban hành
(TUAG)- Để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ hội nhập quốc tế, cần phải có quan niệm mới, tư duy mới về an ninh quốc gia theo tinh thần của Nghị quyết Đại hội XIII.
VN-gia_nhap_lien_hop_quoc.jpg
Tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc góp phần tạo vị thế, vai trò của Việt Nam đối với an ninh, hòa bình, ổn định của thế giới_Ảnh: TTXVN

Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, khi đề cập tới các nhiệm vụ tăng cường quốc phòng an ninh đã nhấn mạnh: “Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt”(1)

Nghị quyết Đại hội XIII cũng nêu rõ “Chú trọng an ninh, an toàn là một trong những yếu tố hàng đầu trong cuộc sống của người dân. Xác định “chủ động phòng ngừa” là chính. ứng phó kịp thời, hiệu quả với các đe dọa an ninh phi truyền thống”(2); “sẵn sàng ứng phó hiệu quả với các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống”(3). Trong 6 nhiệm vụ trọng tâm nhiệm kỳ Đại hội XIII có nhiệm vụ “thực hiện tốt chính sách xã hội, bảo đảm an ninh xã hội, an ninh con người, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong quản lý phát triển xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống và chỉ số hạnh phúc của con người Việt Nam”(4).

Bảo vệ an ninh quốc gia có vai trò đặc biệt quan trọng trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN).

Luật An ninh quốc gia định nghĩa: An ninh quốc gia là sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ XHCN và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sự bất khả xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc...(5).

Chiến lược An ninh quốc gia đầu tiên của Việt Nam được xây dựng và ban hành năm 1998. Ngày 5/9/2019 Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 51-NQ/TW về Chiến lược bảo vệ An ninh quốc gia. Trước đó, Bộ Chính trị cũng đã ban hành một số nghị quyết, kết luận như: Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 15/3/2018 của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy Bộ Công an  tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 16/4/2018 của Bộ Chính trị về Chiến lược Quốc phòng; Kết luận số  31-KL/TW ngày 16/4/2018 của Bộ Chính trị về Chiến lược quân sự Việt Nam; Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 25/7/2018 của Bộ Chính trị về Chiến lược An ninh mạng quốc gia; Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 28/9/2018 của Bộ Chính trị về Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia...

Tuy nhiên, những nội dung liên quan đến Chiến lược An ninh quốc gia cũng như Luật An ninh quốc gia còn chủ yếu nhấn mạnh vào an ninh chính trị, an ninh quân sự; chưa tương đồng với quan niệm và tư duy An ninh quốc gia theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và của quốc tế hiện nay; chưa đề cập sâu tới các yếu tố đặc biệt quan trọng là an ninh phi truyền thống nói chung, an ninh xã hộian ninh con người nói riêng.

Thực tế cho thấy, Bộ Công an hiện nay chỉ đảm nhận các công tác Công an chủ yếu trong nội địa. Công tác chủ trì bảo vệ an ninh, trật tự tại địa bàn biên giới, trên biển do Bộ Quốc phòng đảm nhận. Nhiều chức năng Công an như điều tra hình sự, an ninh hàng không, cơ yếu, phòng chống buôn lậu, bảo vệ rừng... do các bộ, ngành khác đảm nhận. Cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia chưa tập trung, thống nhất. Công tác an ninh đối ngoại còn nhiều “chồng chéo”. Bố trí lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia chưa hợp lý, chủ yếu ở cấp Bộ Công an và cấp tỉnh, cấp huyện và cấp phường còn mỏng. Việt Nam là một trong số rất ít các nước lớn trên thế giới chậm bố trí Công an chính quy ở nông thôn.

Để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ hội nhập quốc tế, cần phải có quan niệm mới, tư duy mới về an ninh quốc gia theo tinh thần của Nghị quyết Đại hội XIII với các giải pháp sau:

Thứ nhất, hình thành tư duy và quan niệm mới về An ninh quốc gia và triển khai tư duy này trong thực tiễn.

Đảng, Nhà nước cần bổ sung, sửa đổi Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Về lâu dài cần thống nhất các Chiến lược an ninh, quốc phòng Việt Nam thành một Chiến lược An ninh quốc gia mới của Việt Nam đến 2030 và tầm nhìn đến 2045.

An ninh quốc gia Việt Nam trong thời kỳ mới là an ninh toàn diện, bao gồm an ninh truyền thốngan ninh phi truyền thống.

An ninh truyền thống được hiểu là sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ XHCN và độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam có liên quan đến các yếu tố quân sự đe dọa quốc gia, dân tộc. An ninh truyền thống có cốt lõi là an ninh chính trị, an ninh quân sự, lấy Nhà nước làm trung tâm của an ninh. An ninh phi truyền thống - đã được nêu ra trong các Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI, XII và XIII - là một loại hình an ninh mới do những yếu tố phi chính trị và phi quân sự gây ra, có ảnh hưởng trực tiếp đến sự ổn định, phát triển và an ninh của Việt Nam, cả khu vực và cả toàn cầu.

An ninh phi truyền thống có các đặc điểm chủ yếu: 1) Các vấn đề an ninh phi truyền thống diễn ra ảnh hưởng trên phạm vi khu vực hoặc toàn cầu, mang tính xuyên quốc gia. Nó có thể phát sinh từ một quốc gia này nhưng có khả năng lan tỏa với tốc độ nhanh, phạm vi rộng đến quốc gia khác (biến đổi khí hậu, tội phạm mạng, dịch bệnh,...). 2) Các mối đe dọa an ninh phi truyền thống thường do các tác nhân tự nhiên hoặc do các tổ chức ngoài nhà nướcnhóm người hoặc cá nhân tiến hành, uy hiếp trực tiếp đến cá nhân con người hoặc cộng đồng, quốc gia - dân tộc; bao gồm cả những vấn đề mang tính phi bạo lực (kinh tế, văn hóa, môi trường, an ninh mạng, dịch bệnh...) và những vấn đề mang tính bạo lực, nhưng đó là bạo lực phi quân đội (khủng bố, tội phạm có tổ chức...). 3) Giải quyết an ninh phi truyền thống nhấn mạnh đến hợp tác ứng phó, sử dụng biện pháp ngoại giao, kể cả ngoại giao giữa quân đội, công an các nước. 4) Về mặt thời gian, mặc an ninh phi truyền thống xuất hiện từ rất sớm nhưng về mặt khoa học vấn đề an ninh phi truyền thống được quan tâm, chú trọng “muộn hơn” an ninh truyền thống. Tuy nhiên, cần phải thấy rằng, nhiều mối đe dọa an ninh phi truyền thống đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử (dịch bệnh, khan hiếm lương thực, khủng bố, ô nhiễm môi trường, thảm họa cháy nổ,...) nhưng do diễn ra ở phạm vi nhỏ hẹp, quy mô chưa lớn, truyền thông chưa phát triển hoặc vấn đề quyền con người chưa được quan tâm, nên ít hoặc không được quan tâm. 5) Các nguy cơ, thách thức, mối đe dọa an ninh phi truyền thống hủy hoại an ninh quốc gia dần dần và lâu dài, vì nó tác động đến các yếu tố mang tính hạt nhân hoặc bệ đỡ cho ổn định và phát triển (cá nhân con người, cộng đồng xã hội, hệ thống thể chế, hạ tầng kỹ thuật chiến lược và môi trường sống).

Dưới góc độ khoa học Xã hội học thì cốt lõi của An ninh phi truyền thống gồm 2 nhóm: An ninh xã hội và An ninh con người; lấy xã hội, doanh nghiệp, con người làm trung tâm của an ninh. Dưới góc độ khoa học Tội phạm học, An ninh phi truyền thống gồm nhóm an ninh phi truyền thống có yếu tố bạo lực cao (tội phạm xuyên quốc gia, khủng bố, các mối đe dọa dẫn tới tình trạng khẩn cấp và nhóm an ninh phi truyền thống có yếu tố bạo lực thấp (an ninh kinh tế, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh môi trường, an ninh y tế, an ninh du lịch, an ninh giao thông...).

Ngày nay, do tác động của toàn cầu hóa, mặt trái của sử dụng thành tựu cách mạng khoa học - công nghệ... những vấn đề an ninh phi truyền thống(điển hình là dịch bệnh COVID-19) là một nguy cơ, thách thức, mối đe dọa điển hình, lan tỏa nhanh, rộng, ảnh hưởng lớn, trở thành mối quan tâm của toàn nhân loại.

An ninh phi truyền thống và an ninh truyền thống là hai mặt của khái niệm an ninh toàn diện; cùng tác động đến xây dựng chiến lược an ninh quốc gia. Theo đó, tư duy mới về An ninh quốc gia là tổng hòa của an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống.

Mục tiêu của an ninh truyền thống là ổn định và phát triển bền vững của Nhà nước, chế độ, độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Còn mục tiêu của an ninh phi truyền thống là ổn định và phát triển bền vững xã hội (cộng đồng), doanh nghiệp, con người. Nếu như chủ thể đảm bảo an ninh truyền thống chủ yếu là Bộ Công an, Bộ Quốc phòng thì chủ thể bảo đảm an ninh phi truyền thống là các bộ, ngành, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp. Công cụ đảm bảo an ninh phi truyền thống chủ yếu dựa vào sức mạnh Quân đội, Công an, lực lượng bán vũ trang và nhân dân. Còn công cụ đảm bảo an ninh phi truyền thống chủ yếu dựa vào nguồn lực Nhà nước, doanh nghiệp. con người, quốc tế.

An ninh quốc gia Việt Nam trong thời kỳ mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng bao gồm 3 bộ phận cấu thành chủ yếu: an ninh chính trị, an ninh xã hội, an ninh con người.

Theo nghĩa rộng, an ninh xã hội được hiểu là sự ổn định, sự bình yên, của một chế độ, một quốc gia, là trạng thái trật tự, kỷ cương, thịnh vượng, phát triển của mỗi công dân và cộng đồng xã hội trong lãnh thổ quốc gia dân tộc. Khái niệm rộng về an ninh xã hội còn được sử dụng trong khi so sánh, đánh giá mối quan hệ của vấn đề an ninh trong một đất nước với an ninh trong khu vực và toàn cầu. Theo nghĩa hẹp, việc đảm bảo an ninh xã hội có các nội dung: đồng thuận xã hội, ít xung đột xã hội; an ninh, an toàn xã hội (ít tội phạm, ít tệ nạn xã hội, trật tự an toàn giao thông đảm bảo); an ninh môi trường sống (an ninh môi trường, an toàn thực phẩm); an sinh xã hội (giảm nghèo đói, có việc làm, chăm sóc sức khỏe tốt).

An ninh xã hội là mục tiêu quan trọng trong định hướng phát triển của mỗi Nhà nước. An ninh xã hội là bộ mặt của mỗi quốc gia, là biểu hiện bên ngoài phản ánh sự vững mạnh về chế độ chính trị, về tiềm lực kinh tế, cũng như trình độ dân trí và mức độ văn minh của quốc gia. An ninh xã hội mang tính lịch sử, có xu hướng vận động theo những tiêu chí văn minh, tiến bộ của nhân loại

Điểm trung tâm của an ninh xã hộian ninh con người. Khái niệm “an ninh con người” lầu đầu tiên được nêu lên trong Báo cáo phát triển con người của Chương trình Phát triển Liên Hp Quốc (UNDP) năm 1994.

“Báo cáo phát triển con người” năm 1994 của Liên hợp quốc đã đưa ra quan niệm về an ninh con người là “sự an toàn của con người trước những mối đe doạ kinh niên như nghèo đói, bệnh tật và đàn áp, và những sự cố bất ngờ, bất lợi trong đời sống hàng ngày”. Ngày nay, những mối đe doạ đối với con người (thất nghiệp, ma tuý, tội phạm, ô nhiễm môi trường, vi phạm nhân quyền, xung đột vũ trang, khủng bố, tai nạn giao thông,...) không còn mang tính chất riêng lẻ đối với một quốc gia, một dân tộc nhất định mà đã trở thành vấn đề phổ biến đòi hỏi phải có sự phối hợp giải quyết của nhiều quốc gia, thậm chí là tất cả các quốc gia. An ninh xã hội, an ninh con người vì vậy đã trở thành tâm điểm của sự hợp tác quốc tế, trong đó, yếu tố con người được coi là nền tảng, là mục đích hướng tới để bảo vệ, là cấu thành quan trọng của an ninh quốc gia. An ninh xã hội, an ninh con người cũng bao hàm mối liên hệ chặt chẽ với sự phát triển bền vững và vấn đề bảo vệ các quyền cơ bản của con người.

Có thể nói chính sự ra đời của khái niệm an ninh con người đã tạo ra những thay đổi quan trọng trong nhận thức của nhiều quốc gia về khái niệm an ninh và an ninh quốc gia.

Nếu như theo cách hiểu truyền thống, an ninh đồng nghĩa với an ninh quốc gia, trong đó quốc gia là chủ thể cần được bảo vệ về mặt an ninh, thì theo cách hiểu mới, con người và xã hội nổi lên trở thành chủ thể chính của an ninh quốc gia và cần được ưu tiên bảo vệ. Bên cạnh đó, nếu như an ninh truyền thống (hay an ninh quốc gia truyền thống) đề cao mối đe dọa đến từ ngoại xâm đối với chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia thì an ninh con người, an ninh xã hội (hay thường được gọi là an ninh phi truyền thống) tập trung vào các mối đe dọa thuộc “chính trị cấp thấp”, như nghèo đói, kém phát triển, ô nhiễm môi trường, bệnh dịch, tội phạm, khủng bố...(6).

Hiện nay, những vấn đề an ninh xã hội, an ninh con người đã vượt qua khỏi phạm vi lợi ích an ninh quốc gia của một nước, trở thành những thách thức mang tính toàn cầu, bởi hoạt động của tội phạm xuyên quốc gia, khủng bố quốc tế nhất là khủng bố bằng vũ khí sinh, hóa học, bệnh dịch, thảm họa thiên nhiên là "không biên giới". Chính vì vậy, việc giải quyết những vấn đề này đòi hỏi phải có sự nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế, những giải pháp và bước đi hài hòa kết hợp giữa kinh tế, chính trị, ngoại giao, pháp luật, khoa học - kỹ thuật và các mặt khác. An ninh quốc gia Việt Nam là tổng hòa của an ninh chính trị, an ninh xã hội, an ninh con người.

Thứ hai, sửa đổi, bổ sung Luật An ninh quốc gia.

Xây dựng quan niệm mới về an ninh quốc gia. Bổ sung Điều 3 khoản 1 Luật An ninh quốc gia: An ninh quốc gia là sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sự bất khả xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, sự bình yên của xã hội, sự an toàn của con người trong xã hội. Bổ sung Điều 3 khoản 2 Luật An ninh quốc gia: Bảo vệ an ninh quốc gia là bảo đảm an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống, phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh làm thất bại các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia. Bổ sung Điều 5 Luật An ninh quốc gia (Nguyên tắc bảo vệ An ninh quốc gia): Thiết lập thế trận bảo vệ an ninh quốc gia thống nhất, xuyên suốt từ bên ngoài biên giới quốc gia, tại biên giới quốc gia và bên trong nội địa theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng “thiết lập thế trận an ninh liên hoàn bên trong với bên ngoài biên giới quốc gia và trên không gian mạng”(7); “chủ động phối hợp với các quốc gia bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc; xử lý các vấn đề an ninh phi truyền thống, tạo vành đai an ninh bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa”(8) .

Bổ sung Điều 14 Luật An ninh quốc gia (Nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia): Bảo vệ an ninh xã hội, an ninh con người.

Thứ ba, Tiếp tục đổi mới tổ chức lực lượng Công an nhân dân trong tình hình mới.

Quán triệt nguyên tắc: Quản lý Nhà nước về bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội là lĩnh vực quản lý nhà nước đa ngành, đa lĩnh vực nhưng do Bộ Công an đảm nhiệm là chính.

Tiếp tục thực hiện có chất lượng, hiệu quả Nghị quyết 22-NQ-TW ngày 15/3/2018 của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy Bộ Công an tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Bố trí lực lượng Công an nhân dân theo hướng “Bộ tinh, tỉnh mạnh, huyện toàn diện, xã bám cơ sở”.

Về lâu dài, chuyển các chức năng Công an do các Bộ, ngành khác đang đảm nhiệm về Bộ Công an để tạo thuận lợi cho việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII “thiết lập thế trận an ninh liên hoàn bên trong với bên ngoài biên giới quốc gia và trên không gian mạng”(9).

Tăng cường năng lực Bộ Công an theo tinh thần “...phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, hiện đại”(10).

Trước những nguy cơ, thách thức an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống trong tình hình mới, đòi hỏi phải có quan điểm và cách tiếp cận mới; hợp tác đa phương và sự nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế; những giải pháp và bước đi hài hòa kết hợp giữa hợp tác quốc phòng - an ninh với kinh tế, chính trị, ngoại giao, pháp luật, khoa học - kỹ thuật. Hợp tác quốc tế phải được xác định là một trong những lĩnh vực ưu tiên giữa các nước trong khu vực và trên thế giới./.

_____________________

(1) (2) (3) (4) (7) (8) (9) (10) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2021, t.1, tr.156, 156, 279, 202, 280, 281, 280, 277. 

(5) (6) Quốc hội: Luật An ninh quốc gia, H, 2004, tr.1, 157.          

 

Trung tướng, GS. TS. NGUYỄN XUÂN YÊM

 Đại úy, TS. NGUYỄN VIỆT LINH

Nguồn: BTGTW

FalseĐưa Nghị quyết vào cuộc sống
Chăm lo “cái gốc” cho ĐảngBài viếtAdminChăm lo “cái gốc” cho Đảnghttps://www.angiang.dcs.vn/SiteAssets/bmac-7879hh.jpg
08/06/2021 10:00 SANoĐã ban hành

Để hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2025, nước ta là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định, một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ Đại hội XIII đó là: Xây dựng đội ngũ đảng viên và cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ.

MẮT XÍCH TRỌNG YẾU CỦA ĐẢNG

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc", "muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém". Thực tiễn cách mạng đã minh chứng, trong bất cứ thời kỳ nào, ở bất kỳ lĩnh vực, địa phương nào, cán bộ cũng đóng vai trò quyết định. Cán bộ không chỉ là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng mà còn là mắt xích trọng yếu trong toàn bộ hoạt động của Đảng ta, nhân tố quyết định sự thành công của cách mạng nước ta.

Trong tiến trình cách mạng, Đảng ta luôn quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ, đề ra nhiều chủ trương, chính sách nhằm nâng cao chất lượng cán bộ và công tác cán bộ đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong từng giai đoạn lịch sử. Qua các kỳ đại hội và hội nghị Trung ương, vấn đề cán bộ và công tác cán bộ luôn được Đảng ta đề cập. Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư các khóa đã ra nhiều chỉ thị, nghị quyết, quyết định, quy định, kết luận, báo cáo... liên quan đến vấn đề cán bộ nói chung và vấn đề cán bộ của một số ngành, cơ quan, lĩnh vực cụ thể nói riêng. Có thể khẳng định: Chính nhờ sự đóng góp của đội ngũ cán bộ có phẩm chất và năng lực mà chúng ta đã đạt được thành tựu to lớn trong sự nghiệp đổi mới trong 35 năm qua... Đội ngũ cán bộ, trước hết là cán bộ lãnh đạo và quản lý đã thể hiện bản lĩnh chính trị vững vàng, có ý thức tự chủ, tự lực tự cường, năng động và sáng tạo; có kiến thức, trình độ và năng lực hoạt động thực tiễn, trưởng thành trong quản lý kinh tế, quản lý xã hội, thích nghi dần với cơ chế mới...

Trong những năm gần đây, trước những biến chuyển nhanh chóng của thời cuộc, vấn đề cán bộ và công tác cán bộ được Đảng ta tiếp tục quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo. Đặc biệt, trong nhiệm kỳ Đại hội XII: Công tác cán bộ có nhiều đổi mới, được Đảng ta tập trung lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, đồng bộ và đạt một số kết quả quan trọng; về tổng thể, đội ngũ cán bộ đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức mới, nâng cao kỹ năng lãnh đạo, quản lý cho đội ngũ cán bộ các cấp, gắn với tiêu chuẩn chức danh và quy hoạch cán bộ được quan tâm, chú trọng và đầu tư tương xứng. Công tác điều động, luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp được chú trọng và đổi mới, gắn với nhu cầu thực tiễn.

Tuy nhiên, với phương châm “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật” về xây dựng đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ thời gian qua còn những hạn chế, báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tổng kết công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng tại Đại hội lần thứ XIII của Đảng chỉ rõ: Việc thể chế hóa, cụ thể hóa chủ trương của Đảng về một số nội dung trong công tác cán bộ còn chậm. Đánh giá cán bộ vẫn là khâu yếu, mặc dù đã có nhiều đổi mới nhưng vẫn còn không ít trường hợp chưa phản ánh đúng thực chất. Việc bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử có nơi chưa bảo đảm tiêu chuẩn, điều kiện, quy trình, cá biệt có nơi bố trí người nhà, người thân chưa đủ uy tín. Chính sách cán bộ chưa thực sự tạo động lực để cán bộ toàn tâm, toàn ý với công việc. Năng lực của đội ngũ cán bộ chưa đồng đều; nhiều cán bộ thiếu tính chuyên nghiệp. Nhiều nơi còn tình trạng nể nang, chưa chỉ rõ những cán bộ có biểu hiện chạy chức, chạy quyền, cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực.

HIỆN THỰC HÓA KHÁT VỌNG HÙNG CƯỜNG CỦA DÂN TỘC

Mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đề ra đến năm 2025, nước ta là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp. Thực hiện mục tiêu trên, Đảng ta đề ra những chủ trương, giải pháp mang tính toàn diện, đồng bộ nhưng mắt xích quan trọng là phải xây dựng được một đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ.

Liên quan đến công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ, phát biểu khai mạc Hội nghị lần thứ hai, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Cố gắng xem xét một cách tổng thể, sắp xếp hợp lý nhất trong điều kiện có thể; căn cứ vào tiêu chuẩn chung của cán bộ; cần chú trọng năng lực, sở trường, chuyên môn được đào tạo, kinh nghiệm công tác và chiều hướng phát triển; kết hợp yêu cầu trước mắt với bước chuẩn bị cho các khóa tiếp theo, bảo đảm tính kế thừa và phát triển”. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng nêu rõ: “Công tác nhân sự cần được tiến hành theo đúng các quy định của Đảng, quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương, đúng với nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị; đồng thời phù hợp với các quy định của pháp luật về tổ chức và hoạt động của các cơ quan Nhà nước”.

Trước đòi hỏi của thực tiễn cách mạng, hơn lúc nào hết, Đảng ta cần: Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, bảo đảm sự chuyển tiếp liên tục, vững vàng giữa các thế hệ cán bộ. Nâng cao bản lĩnh chính trị, trí tuệ, sự gương mẫu, tinh thần vì nhân dân phục vụ của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt và người đứng đầu các cấp. Coi trọng đánh giá chất lượng, hiệu quả, sản phẩm thực tế theo chức trách, nhiệm vụ được giao và đề cao trách nhiệm người đứng đầu... Có cơ chế khuyến khích, bảo vệ những cán bộ, đảng viên dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung; kiểm soát chặt chẽ quyền lực trong từng khâu của công tác cán bộ, nhất là đối với người đứng đầu. Tăng cường kiểm tra, giám sát, chống chạy chức, chạy quyền. Không để lọt những người không xứng đáng, không bảo đảm tiêu chuẩn, điều kiện, có biểu hiện cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực vào đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhưng cũng không để sót những cán bộ thực sự có đức, có tài...

Để những giải pháp trên phát huy hiệu quả, sớm đưa Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng vào cuộc sống, Đảng ta cần làm thật tốt công tác kiểm tra, giám sát cán bộ ở bất kể vị trí nào. Nếu mỗi cấp ủy các cấp mà buông lỏng công tác kiểm tra, giám sát thì cán bộ có chức, có quyền dễ rơi vào phóng túng, tự tung tự tác, lạm dụng quyền lực, làm những điều có hại cho Đảng. Thực tiễn thời gian qua, số vụ việc tham nhũng do nội bộ các cơ quan công quyền tự phát hiện thông qua tự kiểm tra, tự phê bình và phê bình hầu như không có. Hầu hết các vụ tham nhũng là do người dân và báo chí phản ánh, tố giác. Do vậy, chúng ta cần sớm khắc phục tình trạng này, nếu để kéo dài và phát triển thì sẽ dẫn tới nguy cơ không lường hết được.

Mặt khác, phải thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy, nếu không rèn giũa, không chú ý bảo vệ chính trị nội bộ thì sẽ là cơ hội để những phần tử phản động, cơ hội chính trị leo cao, luồn sâu vào tổ chức Đảng. Điều quan trọng là mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng, đặc biệt là cán bộ cấp chiến lược, người đứng đầu cần nêu cao tính trung thực; thường xuyên tự tu dưỡng, rèn luyện, có trách nhiệm nêu gương trước Đảng, trước dân. Như đồng chí Phạm Minh Chính, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ trong buổi làm việc với lãnh đạo Bộ Giao thông vận tải mới đây đã khẳng định: Cán bộ phải quán triệt tốt nguyên tắc “3 không”: Không nói không, không nói khó và không nói có nhưng không làm và tinh thần “nghĩ phải chín, phải kỹ; tư tưởng phải thông; quyết tâm phải cao; nỗ lực phải lớn; hành động phải quyết liệt, hiệu quả; làm có trọng tâm, trọng điểm; làm việc nào thì dứt điểm việc đó”./.

Duy Thành (Nguồn: Báo QĐNDVN)

FalseĐưa Nghị quyết vào cuộc sống
“Dân thụ hưởng” - một trong những điểm mới quan trọng của Văn kiện Đại hội XIIIBài viếtĐảng Cộng sản VN“Dân thụ hưởng” - một trong những điểm mới quan trọng của Văn kiện Đại hội XIII/SiteAssets/Danthuhuong-dh13-1.jpg
01/06/2021 3:00 CHNoĐã ban hành
“Dân thụ hưởng” là một trong những điểm mới quan trọng của Văn kiện Đại hội XIII trong tổng thể phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.
Danthuhuong-dh13-1.jpg
Đại hội XIII của Đảng là sự kiện chính trị trọng đại nhất của Đảng và của dân tộc ta trong năm 2021.

Lấy dân làm gốc là bài học truyền thống trong hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Kế thừa và phát triển tinh hoa văn hóa dân tộc và nhân loại, Hồ Chí Minh luôn chú trọng tầm quan trọng của việc lấy dân làm gốc trong quá trình lãnh đạo cách mạng. Người từng nhấn mạnh: “Tất cả đường lối, phương châm, chính sách... của Đảng đều chỉ nhằm nâng cao đời sống của nhân dân nói chung”(1). Người cũng đã đặt nền tảng tư tưởng cho phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” mà Đảng ta luôn quán triệt, vận dụng, phát triển ngày càng sâu sắc.

Đúc rút kinh nghiệm từ thực tiễn 35 năm đổi mới, Văn kiện Đại hội đại biểu Toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã bổ sung một nội dung mới quan trọng và vô cùng ý nghĩa, đó là “Dân thụ hưởng”, với phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”(2). Điều này cho thấy, Đảng ta luôn chú trọng đặt quyền lợi của người dân vào trung tâm các quyết sách, đường lối của mình với mục đích cuối cùng là người dân được thụ hưởng thành quả.

QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ THỰC HIỆN QUYỀN LÀM CHỦ CỦA NGƯỜI DÂN

Khái niệm “dân thụ hưởng” thể hiện sự quan tâm thiết thực đến đời sống của người dân, nghĩa là người dân có quyền được thụ hưởng những thành quả của sự phát triển. Đồng thời, khi người dân được thụ hưởng, được thỏa mãn các lợi ích chính đáng, sẽ tạo thành động lực mạnh mẽ thúc đẩy mọi người hăng hái cống hiến, đóng góp nhiều hơn vào sự phát triển của xã hội. Mối quan hệ biện chứng giữa thụ hưởng và cống hiến nếu được thực hiện được đúng sẽ tạo ra một xung lực mới trong quá trình phát triển đất nước. Từ đó, hoàn thiện và hiện thực hóa thêm một bước tư tưởng phát huy quyền làm chủ của nhân dân, vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân

Khi nói dân thụ hưởng nghĩa là đang nhấn mạnh việc thực hiện hóa nội dung “có làm có hưởng”. Đồng thời, nhấn mạnh đến sự bao trùm, đến đa số nhân dân, mọi giai cấp, mọi tầng lớp đều có cơ hội bình đẳng về mặt thụ hưởng thành quả của sự phát triển; chứ không chỉ là một số nhóm xã hội hay những tầng lớp có ưu thế hơn. Hơn thế, khi nói dân thụ hưởng không phải chỉ đơn thuần là Đảng muốn hướng đến ý nghĩa sâu xa, bao quát, đó chính là việc thỏa mãn các lợi ích chính đáng, đa dạng trong xã hội của người dân, để biến lợi ích trở thành động lực cho sự phát triển. Đây là sự phát triển trong nhận thức của Đảng, là động lực hoàn thiện các chủ trương, đường lối của Đảng trong tiến trình phát triển, lãnh đạo đất nước.

Chúng ta thường nói nhiều đến quyền làm chủ của người dân, nhưng việc cụ thể hóa quyền đó với các quy định rõ ràng và cơ chế thực hiện hiệu quả thì vẫn còn có những hạn chế, bất cập. Điều này trải qua một quá trình phát triển nhận thức và hành động khá dài qua nhiều giai đoạn.

Đảng ta từ khi thành lập đến nay, trong tất cả các cương lĩnh đều lấy mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân, giải phóng giai cấp. Từ cương lĩnh lần thứ nhất, thứ hai, thứ ba rồi các văn kiện đại hội đều đặt nhân dân là mục tiêu để phấn đấu. Trong diễn văn tại lễ kỷ niệm 30 năm thành lập Đảng (3/2/1930 – 3/2/1960), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ, “Đảng ta vĩ đại, vì ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích gì khác”(3). Trong Di chúc, Người căn dặn: “Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”(4). Đây chính là quan điểm chỉ đạo xuyên suốt trong đường lối lãnh đạo của Đảng ta.

Tại Đại hội VI (tháng 12/1986), Đảng ta nêu quan điểm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, đó là nền nếp hằng ngày của xã hội mới, thể hiện chế độ nhân dân lao động tự quản lý Nhà nước của mình”(5). Đại hội VIII của Đảng đã đề ra nhiệm vụ cần phải xây dựng cơ chế cụ thể trong thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đối với các chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước; thực hiện tốt cơ chế làm chủ của nhân dân thông qua các cơ quan dân cử, làm chủ trực tiếp bằng hình thức tự quản, bảo đảm dân chủ trong quá trình ra quyết định và thực hiện các quyết định.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) tiếp tục nhấn mạnh: “Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”, “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”. Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đã nhấn mạnh: “Tiếp tục phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, được nhân dân tham gia ý kiến”(6). Văn kiện Đại hội XII cũng khẳng định: “vai trò của nhân dân đã được phát huy trong việc bảo đảm việc thực thi thực chất, đầy đủ và rộng rãi quyền làm chủ của nhân dân theo phương châm: Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, giám sát(7).

Có thể thấy, việc bảo đảm phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta không chỉ được khẳng định trong chủ trương, đường lối của Đảng mà còn được thể chế hóa và bảo đảm thực hiện thông qua Hiến pháp và hệ thống pháp luật của Nhà nước. Ngay ở Điều 1 Hiến pháp năm 1946 - bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta do Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp chỉ đạo soạn thảo, đã khẳng định: “... Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái, trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”. Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do nhân dân làm chủ, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức” (Ðiều 2), “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân” (Điều 3)...

THỰC TIỄN THỰC HIỆN DÂN CHỦ THỜI GIAN QUA

Thời gian qua, nhận thức về dân chủ và thực hành dân chủ của các cấp uỷ, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, cán bộ, đảng viên và mọi tầng lớp nhân dân có nhiều chuyển biến tích cực. Công tác kiểm tra, giám sát được tổ chức đảng quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo đạt được những kết quả quan trọng. Thực hiện cải cách hành chính, nhất là cải cách thủ tục hành chính có sự nỗ lực, sáng tạo đáng ghi nhận. Công tác đối thoại, tiếp công dân, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo và những kiến nghị, nguyện vọng chính đáng, hợp pháp của người dân, doanh nghiệp được quan tâm, chú trọng hơn. Tinh thần, thái độ phục vụ nhân dân, đạo đức công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có nhiều tiến bộ. Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng, tổ hòa giải ở cơ sở nhiều nơi hoạt động khá hiệu quả, phát huy được dân chủ trực tiếp của nhân dân tại địa bàn dân cư.

Nhà nước tạo những điều kiện thuận lợi để nhân dân nắm bắt các chủ trương, chính sách; nắm được những thủ tục hành chính giải quyết các công việc liên quan; biết được quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước về sử dụng đất đai, dự toán, quyết toán ngân sách... Phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” được cụ thể hóa trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội.

Ở cơ sở, người dân đã chủ động bàn bạc, tham gia ý kiến, thực hiện quyền làm chủ, bày tỏ chính kiến của mình.… tạo khí thế phấn khởi, khích lệ các tầng lớp nhân dân đẩy mạnh các phong trào thi đua, góp phần đưa đất nước vượt qua khó khăn, giành được những thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân; bảo đảm quốc phòng, an ninh; xây dựng Đảng, chính quyền và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; tạo sự đồng thuận trong xã hội, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân; nâng cao vị thế đất nước ta trên trường quốc tế.

Danthuhuong-dh13-2.jpg

Việc bảo đảm phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta không chỉ được khẳng định trong chủ trương, đường lối của Đảng mà còn được thể chế hóa và bảo đảm thực hiện thông qua Hiến pháp và hệ thống pháp luật của Nhà nước

Bên cạnh những kết quả đạt được, trong mối tương quan so sánh với nhu cầu khách quan của sự phát triển đất nước, thực tiễn dân chủ ở Việt Nam vẫn còn có những hạn chế, bất cập, cả ở việc nhận thức, thực hành, phát huy dân chủ và giám sát và phản biện xã hội; chưa lý giải và làm sáng tỏ kịp thời nhiều vấn đề do thực tiễn đặt ra, chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa dân chủ và kỷ luật, kỷ cương; chưa coi trọng đúng mức phát triển các hình thức dân chủ trực tiếp.

Công tác tuyên truyền, quán triệt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về thực hiện quy chế dân chủ ở một số địa phương, cơ quan, đơn vị chưa kịp thời và thực chất; nhiều nơi thực hiện còn mang tính hình thức, chậm trễ. Cơ chế công khai các nội dung liên quan ở nhiều địa phương, cơ sở còn chưa đầy đủ. Việc phát huy vai trò, trách nhiệm của nhân dân tham gia bàn và quyết định các vấn đề của địa phương, giám sát, góp ý xây dựng Đảng, chính quyền ở một số nơi còn thiếu thực chất. Việc thực hiện quy chế dân chủ trong các loại hình doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp ngoài nhà nước, khu vực dân doanh còn nhiều hạn chế, vướng mắc; có lúc, có nơi còn tình trạng vi phạm dân chủ, gây bức xúc, khiếu kiện đông người, vượt cấp. Việc nắm tình hình và xử lý các vi phạm quyền làm chủ của nhân dân chưa kịp thời. Số lượng đơn, thư khiếu nại, tố cáo của công dân gửi đến các cơ quan chức năng còn cao; việc giải quyết đơn, thư khiếu nại, tố cáo chưa được như mong muốn; chưa khắc phục được tình trạng chính quyền ở không ít nơi chưa đối thoại với công dân...

Bên cạnh những bức xúc dẫn đến khiếu kiện, xuất phát từ tình trạng tiêu cực, quan liêu của bộ máy công quyền ở một số nơi, thì vẫn còn một bộ phận người dân lợi dụng dân chủ để yêu cầu, đòi hỏi không chính đáng, không đúng pháp luật, coi thường kỷ cương, phép nước, thậm chí bị các thế lực thù địch lợi dụng, lôi kéo tham gia biểu tình, gây rối, tụ tập đông người, làm mất an ninh, trật tự an toàn xã hội, vi phạm pháp luật.

Từ những hạn chế, bất cập nêu trên, có thể nói việc phát huy dân chủ ở không ít nơi vẫn còn mang tính hình thức. Theo đó, quá trình thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc.

Khi việc thực hiện dân chủ còn những khiếm khuyết, thiếu thực chấtchưa đầy đủ, thì đó sẽ là một rào cản lớn đối với sự phát triển của đất nước. Đó còn là sự lãng phí nguồn lực nội sinh - không thể mở rộng cơ hội để huy động một cách triệt để, hiệu quả các nguồn lực, trước hết là trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân tham gia vào sự phát triển. Sự hạn chế về dân chủ còn khiến sức mạnh bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt là sức mạnh tinh thần và văn hóa khó tránh khỏi bị phân tán, lãng phí.

Nguyên nhân chính của những hạn chế, bất cập vẫn do chưa thể chế hóa đầy đủ các quan điểm, chủ trương, phương châm của Đảng, chưa phát huy tối đa quyền làm chủ của người dân vào mọi “ngõ ngách” của đời sống, dẫn đến việc hiểu và thực hiện chưa thống nhất.

Nghị quyết Đại hội XIII đã bổ sung, cụ thể thêm một bước tư tưởng phục vụ nhân dân trong đường lối chủ trương của Đảng.Dân hưởng thụ” chính là sự phát triển về chủ trưởng, quan điểm của Đảng, có ý nghĩa thiết thực, quan trọng. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “…trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm "dân là gốc"; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(8). Theo đó, xây dựng và phát huy nguồn lực con người là động lực quan trọng, yếu tố sống còn, có ý nghĩa quyết định đối với công cuộc xây dựng, phát triển đất nước trong thời kỳ tới. Nói cách khác, nhân dân được thụ hưởng thành quả của quá trình phát triển không chỉ là mục tiêu mà còn là động lực để khơi dậy sức mạnh và nguồn lực nhân dân trong quá trình đưa chủ trương quyết sách của Đảng vào cuộc sống. Đó cũng chính là động lực quan trọng để hiện thực hóa định hướng và tầm nhìn trong giai đoạn mới là khát vọng đưa đất nước phát triển phồn vinh, hạnh phúc.

MỘT SỐ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ

Để “Tiếp tục cụ thể hóa, hoàn thiện thể chế thực hành dân chủ theo tinh thần Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và Hiến pháp năm 2013, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Thực hiện đúng đắn, hiệu quả dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, đặc biệt là dân chủ đại diện, đặc biệt là dân chủ ở cơ sở. Thực hiện tốt, có hiệu quả phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”(9), đảm bảo người dân được thụ hưởng, cần chú trọng những yếu tố và điều kiện sau đây:

Một là, để quan điểm, chủ trương “dân giám sát và dân thụ hưởng” của Đảng được thực hiện thắng lợi trong thực tiễn cần quyết tâm rất lớn từ nhận thức đến hành động của cả hệ thống chính trị. Nhận thức phải thống nhất từ trên xuống dưới, nhất là đối với cơ sở.

Phương châm “dân thụ hưởng” chỉ trở thành hiện thực khi mối quan hệ giữa người dân và chính quyền trở thành dịch vụ công ích minh mạch, chứ không phải “xin - cho” hay “ban phát”. Theo đó, cần có hướng dẫn, giao nhiệm vụ cho cấp ủy, tổ chính quyền các cấp; tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, các hội hợp pháp phối hợp chặt chẽ, hoạt động thuận lợi. Ban Dân vận cấp cơ sở tham mưu cho cấp ủy đảng các bộ ngành quan tâm rà soát, quán triệt và thực hiện nghiêm túc những nội dung liên quan đến phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thực hiện quy chế dân chủ, đẩy mạnh phương châm “dân thụ hưởng”.

Hai là, “mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”(10). Thực hiện công bằng xã hội phải gắn kết chặt chẽ chính sách kinh tế với chính sách xã hội, phát triển kinh tế với nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân, bảo đảm nhân dân được hưởng thụ ngày một tốt hơn thành quả của sự nghiệp đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cần tiếp tục hoàn thiện pháp luật về chính sách xã hội, an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, tạo hành lang pháp lý để kiến tạo mô hình hệ thống an sinh xã hội với các trụ cột cơ bản (phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục rủi ro).

Ba là, phải có chế tài cụ thể để đảm bảo điều kiện thực thi “dân giám sát, dân thụ hưởng”. Theo đó, nếu không làm hoặc làm sai thì phải chịu trách nhiệm. Thậm chí, nếu gây khó dễ cho vai trò giám sát, lợi ích của dân, gây ảnh hưởng đến lợi ích, quyền lợi chính đáng của dân thì phải bị xử lý trách nhiệm và đền bù thỏa đáng. Chỉ có như vậy mới khắc phục được tình trạng chế tài chưa đủ mạnh, chưa đủ tính răn đe; dẫn đến đường lối đúng, chủ trương hay nhưng lại bị “méo mó, biến dạng” khi đưa vào thực tiễn cuộc sống.

Cần phát huy quyền làm chủ của người dân gắn quyền lợi với trách nhiệm. Khuyến khích, nâng cao nhận thức cho người dân, tạo điều kiện thúc đẩy việc lắng nghe, trao đổi, đối thoại. Củng cố cơ chế khiếu nại, tố cáo cho hiệu quả. Cần có hình thức trọng tài bảo vệ quyền của người dân khi bị ảnh hưởng.

Bốn là, bồi dưỡng, giáo dục, củng cố, phát huy năng lực, tư duy hiện đại và thái độ vì dân phục vụ, tận tụy và cống hiến của đội ngũ công chức, viên chức trong bộ máy công quyền. Cán bộ, công chức phải thực sự cầu thị, coi trọng ý kiến, phản ánh của người dân cũng như gần gũi, hiểu rõ tâm tư, nguyện vọng và bức xúc của người dân để đối thoại, tiếp thu, phản hồi, xử lý nhanh nhạy, kịp thời và hiệu quả. “Dân thụ hưởng” phải được bắt đầu từ việc “trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân và có trách nhiệm với dân”(11) của đội ngũ công chức, viên chức. Đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị phải luôn thấm nhuần bài học: Đảng ta lấy lợi ích của nhân dân để định hướng mục tiêu lãnh đạo, lấy sự ủng hộ của nhân dân làm chỗ dựa cho hành động; lấy sự hài lòng của nhân dân làm thước đo kết quả.

Năm là, tiếp tục đẩy mạnh có chất lượng việc sắp xếp tinh gọn, chuyên nghiệp, hiệu quả bộ máy hành chính, công quyền, trong đó tập trung: Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, vì nhân dân phục vụ và vì sự phát triển của đất nước(12). Tiếp tục đổi mới cơ chế chính sách, tăng cường phân công, phân cấp; mạnh dạn trao quyền tự chủ cho địa phương, cơ sở, nhấn mạnh trách nhiệm và phát huy sáng tạo của người đứng đầu. Bảo đảm sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ trên cơ sở Tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, kiểm soát quyền lực gắn với siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động của Nhà nước, và của cán bộ, công chức, viên chức(13) để mọi người dân đều được thụ hưởng công bằng, bình đẳng./.

TS.Nguyễn Ngọc Ánh

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

_______________________

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2011, t.13, tr.164.

(2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2021, t.2, tr.249, 248.

(3) (4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.402, 498.

(5) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2011, tr.72-73.

(6) (7) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2016, tr.38, 169.

(8) (9) (10) (12) (13) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t.1, tr.27-28, 172-173, 28, 118, 118.

FalseĐưa Nghị quyết vào cuộc sống
Lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếuTinAdminLời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu/Imagesnews/2021-05/Loikeugoi-dibau_Key_22052021191227.jpeg
22/05/2021 6:00 CHYesĐã ban hành

Loikeugoi-dibau.jpeg

Hồ Chí Minh

​(TUAG)- Ngay trước khi diễn ra cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội của nước Việt Nam độc lập - ngày 06/01/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết Lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu.

Lời kêu gọi của Người được đăng trên báo Cứu quốc, số 134 ra ngày 05/01/1946. Nhân dịp bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HÐND các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 vào ngày 23/5/2021, chúng tôi xin đăng lại bài viết nêu trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ngày mai mồng 6 tháng Giêng năm 1946.

Ngày mai là một ngày sẽ đưa quốc dân ta lên con đường mới mẻ.

Ngày mai là một ngày vui sướng của đồng bào ta, vì ngày mai là ngày Tổng tuyển cử, vì ngày mai là một ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình.

Ngày mai, dân ta sẽ tỏ cho các chiến sĩ ở miền Nam rằng: Về mặt trận quân sự, thì các chiến sĩ dùng súng đạn mà chống quân thù. Về mặt chính trị, thì nhân dân dùng lá phiếu mà chống với quân địch. Một lá phiếu cũng có sức lực như một viên đạn.

Ngày mai, quốc dân ta sẽ tỏ cho thế giới biết rằng dân Việt Nam ta đã:

Kiên quyết đoàn kết chặt chẽ,

Kiên quyết chống bọn thực dân,

Kiên quyết tranh quyền độc lập.

Ngày mai, dân ta sẽ tự do lựa chọn và bầu ra những người xứng đáng thay mặt cho mình, và gánh vác việc nước.

Ngày mai, người ra ứng cử thì đông, nhưng số đại biểu thì ít, lẽ tất nhiên, có người được cử, có người không được cử.

Những người trúng cử, sẽ phải ra sức giữ vững nền độc lập của Tổ quốc, ra sức mưu sự hạnh phúc cho đồng bào. Phải luôn luôn nhớ và thực hành câu: Vì lợi nước, quên lợi nhà; vì lợi chung, quên lợi riêng.

Phải làm cho xứng đáng với đồng bào, cho xứng đáng với Tổ quốc.

Người không trúng cử, cũng không nên ngã lòng. Mình đã tỏ lòng hăng hái với nước, với dân, thì luôn luôn phải giữ lòng hăng hái đó. Ở trong Quốc hội hay ở ngoài Quốc hội, mình cũng cứ ra sức giúp ích nước nhà. Lần này không được cử, ta cứ gắng làm cho quốc dân nhận rõ tài đức của ta, thì lần sau quốc dân nhất định cử ta.

Ngày mai, tất cả các bạn cử tri, đều phải nhớ đi bầu cử. Ngày mai, mỗi người đều nên vui vẻ hưởng quyền lợi của một người dân độc lập, tự do.

BBT

TrueChính trị
Bác sống như trời đất của ta!Bài viếtTrung ThànhBác sống như trời đất của ta!/Imagesnews/2021-05/19-5-2021_Key_17052021105421.jpg
17/05/2021 10:00 SAYesĐã ban hành
(TUAG)- Năm 1923, khi trả lời phỏng vấn của nhà báo, Bác nói: “Tôi sinh ra trong một gia đình nhà nho An Nam... Thanh niên trong những gia đình ấy thường học Khổng giáo,… Khổng giáo không phải là tôn giáo mà là một thứ khoa học về kinh nghiệm đạo đức và phép ứng xử”. Người từng đánh giá Mạnh Tử là “một lý luận gia cách mạng của thế hệ ông” với tư tưởng “Dân vi quý, quân vi khinh” (trọng dân hơn vua). Người rất đề cao tư tưởng “Nhân-Nghĩa” của Nguyễn Trãi…

Kế thừa người xưa, vận dụng sáng tạo lý luận cách mạng, Bác đưa ra quan điểm: “Trong bầu trời không gì quý bằng Nhân dân. Trong thế giới, không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của Nhân dân”. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, Người tuyên bố: “Tôi tuyệt nhiên không ham công danh phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh chức Chủ tịch là vì đồng bào ủy thác thì tôi phải gắng sức làm, cũng như một người lính vâng mệnh lệnh của quốc dân ra trước mặt trận. Bao giờ đồng bào cho tôi lui, thì tôi rất vui lòng lui. Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh nước biếc để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi”.

Cả thế giới đều biết, Người luôn sống đúng như những điều mình nói:

“Bác sống như trời đất của ta
Yêu từng ngọn lúa, mỗi cành hoa
Tự do cho mỗi đời nô lệ
Sữa để em thơ, lụa tặng già”;

Người luôn ung dung, tự tại, giữa chốn ngục tù, Bác viết:

“Trong tù không rượu cũng không hoa,
Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ.
Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ,
Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ.

Giữa rừng núi hoang vắng, buổi đầu dựng Đảng, tức cảnh sinh tình, Người viết:

“Sáng ra bờ suối, tối vào hang,
Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng.
Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng,
Cuộc đời cách mạng thật là sang!”…

Quan trọng hơn, lúc đã cầm quyền với địa vị tối cao, một nhà báo nước ngoài kể lại rằng, khi tôi hỏi Người: “Văn phòng của Chủ tịch đâu?”. Câu trả lời của Người làm cho tôi kinh ngạc: “Lúc nào trời tối thì ở ngoài hiên, khi trời mưa thì ở trong buồng ngủ”. Và ông ta có một tổng kết nhiều người biết: “Nói tới một con người mà cả cuộc đời đã để lại ân tình sâu nặng cho Nhân dân thì không có một ai khác ngoài Chủ tịch Hồ Chí Minh”.

Ngay từ những ngày đầu đất nước mới giành được độc lập, trong cuộc họp đầu tiên của Ủy ban Nghiên cứu kế hoạch kiến quốc, Người nhấn mạnh, chúng ta phải thực hiện ngay 4 điều: Làm cho dân có ăn; làm cho dân có mặc; làm cho dân có chỗ ở; làm cho dân có học hành. Bởi, theo Người, dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc ấm. Bác đã định nghĩa: “…Chủ nghĩa xã hội không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho Nhân dân”. Và để làm được điều đó, trước hết phải xây dựng cho được nhà nước thật sự là nhà nước của Nhân dân. Chính phủ phải thật sự là công bộc của Nhân dân. Bác chỉ dạy: “Chính sách của Ðảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của Nhân dân. Nếu dân đói, Ðảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Ðảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Ðảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Ðảng và Chính phủ có lỗi”. “Nếu nước nhà độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”…

Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô Ni-ka-lai Phê-đê-ren-cô, kể lại chuyến thăm Việt Nam của Chủ tịch Ðoàn Xô-viết tối cao Liên Xô Vô-rô-si-lôp vào năm 1957. Trong đó, Viện sĩ đặc biệt nói đến cuộc thăm "xã giao" của Vô-rô-si-lôp tại nhà riêng của Bác Hồ ngay trong khuôn viên Phủ Chủ tịch (căn nhà trước đây người thợ điện trong Phủ Toàn quyền ở). Khi rời khỏi nhà, Vô-rô-si-lôp nói: “Tôi không thể tưởng tượng được rằng một vị Chủ tịch nước, một nhà lãnh đạo nổi tiếng lại chỉ ở một cái nhà xoàng xĩnh như vậy… Nếu thật quả như vậy thì chúng ta phải suy nghĩ về những lâu đài, biệt thự của chúng ta tại Mát-xcơ-va… Tôi đã từng qua nhiều thành phố lớn trên trái đất. Thành phố Mê-hi-cô, Tô-ki-ô, Niu-oóc, Thượng Hải. Nhưng cuộc đi thăm ngôi nhà nhỏ của Hồ Chí Minh có lẽ là một kỷ niệm đã khắc sâu trong tâm trí tôi nhiều hơn tất cả”.

Nhà báo, nhà văn Mỹ Ðây-vít Hăm-bớc-xtơnđã viết: "...Hồ Chí Minh là một trong những nhân vật kỳ lạ của thời đại này - hơi giống Găng-đi, hơi giống Lê-nin, hoàn toàn Việt Nam. Có lẽ hơn bất cứ một người nào khác của thế kỷ này, đối với dân tộc của ông và đối với cả thế giới, ông là hiện thân của một cuộc cách mạng. Thế nhưng đối với hầu hết nông dân Việt Nam, ông là biểu tượng của cuộc sống, hy vọng, đấu tranh, hy sinh và thắng lợi của họ. Ông là một người Việt Nam lịch sự, khiêm tốn, nói năng hòa nhã, không màng địa vị, luôn mặc quần áo đơn giản nhất - cách ăn mặc của ông không khác mấy người nông dân nghèo nhất - một phong cách mà phương Tây đã chế giễu ông trong nhiều năm, cười ông thiếu nghi thức quyền lực, không có đồng phục, không theo thời trang. Cho đến một ngày họ mới tỉnh ngộ và nhận thấy chính cái giản dị ấy, cái sùng bái sự giản dị ấy, cái khả năng hòa mình vào Nhân dân ấy là cơ sở cho sự thành công của ông”.

Non sông đất nước ta đã sinh ra Bác và chính Người đã làm rạng rỡ non sông đất nước ta!
Trung thành
TrueChính trị
Quan tâm tổ chức nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của ĐảngBài viếtTTCTTTQuan tâm tổ chức nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảnghttps://www.angiang.dcs.vn/SiteAssets/HN-trienkhai-NQ-DH13-2.jpg
13/05/2021 5:00 CHNoĐã ban hành

(TUAG)- Tổ chức nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền có chất lượng, hiệu quả sớm đưa Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng vào cuộc sống là nhiệm vụ chính trị hết sức quan trọng của từng tổ chức Đảng để mỗi cán bộ đảng viên nắm vững và thực hiện đúng đắn, sáng tạo, tạo sự chuyển biến rõ rệt về nhận thức, thống nhất ý chí và hành động trong toàn Đảng, sự đồng thuận cao trong Nhân dân, phát huy cao độ tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Ngày 27 và 28/3 vừa qua, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã tổ chức Hội nghị trực tuyến toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Thực hiện chỉ đạo của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, trong toàn tỉnh đã mở 154 điểm cầu, hơn 10.500 cán bộ, đảng viên các cấp tham dự. Đây là đợt triển khai đầu tiên, có ý nghĩa hết sức quan trọng về mặt nhận thức đối với cán bộ, đảng viên, nhất là đối với cấp ủy các cấp, là cơ sở quan trọng để các tổ chức đảng tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả việc nghiên cứu, học tập, quán triệt và tuyên truyền sâu rộng Nghị quyết.

Để toàn thể cán bộ, đảng viên được nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết; Nhân dân được tuyên truyền, phổ biến các văn kiện Đại hội XIII của Đảng, các cấp, các ngành cần quan tâm thực hiện tốt Hướng dẫn số 14-HD/BTGTU, ngày 07/4/2021 về việc "Nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng". Trong đó, lưu ý yêu cầu bảo đảm chất lượng và tiến độ.

Trước hết, về nội dung nghiên cứu, học tập, quán triệt cần phải tập trung làm rõ những quan điểm, nội dung cốt lõi, những chủ trương mới trong các văn kiện Đại hội XIII từ tầm bao quát, cách tiếp cận mới, mục tiêu tổng quát, các định hướng lớn, nhiệm vụ trọng tâm, các chỉ tiêu chủ yếu, các khâu đột phá chiến lược để thấy rõ sự kế thừa, bổ sung phát triển tư duy lý luận của Đảng, nắm vững những bài học kinh nghiệm từ thành tựu 35 năm đổi mới đất nước, nhất là 05 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII, nhận diện đầy đủ những thuận lợi, thời cơ, khó khăn thách thức và nhiệm vụ của các cấp ủy trong thời gian tới, liên hệ vận dụng phù hợp với yêu cầu điều kiện cụ thể của mỗi địa phương, đơn vị để xác định và thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị trong nhiệm kỳ 2021 – 2025. Đặt biệt là những vấn đề trọng tâm đã được các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước trực tiếp truyền đạt tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc. Bên cạnh đó, đề cao tinh thần tự nghiên cứu kết hợp với nghe phổ biến, quán triệt.

Thứ hai, các cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu các cấp trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, chủ trì và chịu trách nhiệm về chất lượng nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Đảm bảo việc tổ chức các hội nghị cho toàn thể cán bộ, đảng viên trong toàn đảng bộ hoàn thành trong tháng 6/2021.

Thứ ba, về xây dựng chương trình hành động thực hiện nghị quyết, cấp ủy các cấp  bám sát, cụ thể hóa chương trình hành động của Tỉnh (dự kiến sẽ ban hành trong tháng 5/2021), chọn những nội dung cụ thể, liên quan trực tiếp tới địa phương, cơ quan, đơn vị. Trước mắt, căn cứ vào chương trình hành động đã xây dựng và thông qua tại Đại hội của cấp mình chủ động đối chiếu, rà soát với nội dung Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng để đề ra những nội dung cần cập nhật, bổ sung, sửa đổi cho đầy đủ, phù hợp gắn với chức năng, nhiệm vụ và điều kiện thực tế của địa phương, cơ quan, đơn vị, thể hiện quyết tâm đổi mới, sáng tạo và đảm bảo khả thi, thiết thực, hiệu quả.

Chỉ đạo chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và tổ chức chính trị - xã hội cùng cấp bổ sung, sửa đổi kế hoạch thực hiện Nghị quyết của cấp mình đã xây dựng, cụ thể hóa bằng các đề án, kế hoạch theo từng lĩnh vực, có lộ trình rõ ràng để triển khai thực hiện theo phương châm "kế hoạch 10 phần thì biện pháp 20 phần và quyết tâm 30 phần". Người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, tổ chức chính trị - xã hội các cấp chủ trì thảo luận để bổ sung, hoàn chỉnh và triển khai thực hiện chương trình hành động, kế hoạch thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của tập thể cơ quan, đơn vị.

Thứ tư, các cơ quan báo chí, phương tiện truyền thông đại chúng, báo cáo viên các cấp và tuyên truyền viên ở cơ sở đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, phổ biến rộng rãi tới đông đảo quần chúng nhân dân về những nội dung cơ bản của các văn kiện Đại hội XIII của Đảng. Chú trọng đấu tranh phản bác các quan điểm lệch lạc, sai trái, thù địch và định hướng dư luận xã hội theo đúng phương châm "lấy xây làm chính, lấy đẹp dẹp xấu, lấy tích cực đẩy lùi tiêu cực", góp phần quan trọng củng cố niềm tin vững chắc vào mục tiêu phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Song song với các nhiệm vụ đó, chủ động, tích cực tham mưu cho cấp ủy đảng đẩy mạnh tuyên truyền các phong trào thi đua yêu nước, góp phần tích cực thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII và nghị quyết Đại hội Đảng bộ các cấp.

Thứ năm, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá chất lượng nghiên cứu học tập, quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết Đại hội và việc xây dựng chương trình hành động thực hiện Nghị quyết của mỗi địa phương, đơn vị. Khắc phục triệt để bệnh hình thức, qua loa, đại khái. Kịp thời phát hiện khen thưởng biểu dương các tập thể, cá nhân có thành tích trong nghiên cứu học tập, nhất là việc thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng ở mỗi cấp.

Nhận thức sâu sắc việc nghiên cứu học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết đại hội XIII của Đảng là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong Đảng và cả hệ thống chính trị, là việc thường xuyên, phải được thực hiện một cách nghiêm túc, khoa học trong suốt nhiệm kỳ và là nhiệm vụ trọng tâm năm 2021, đòi hỏi các cấp, các ngành cần thể hiện quyết tâm chính trị, tích cực phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng./.

 

HOÀI TRƯỜNG

TTCTTT số 05-2021

FalseĐưa Nghị quyết vào cuộc sống
Điện Biên Phủ - biểu tượng ý chí quyết thắng của Việt NamBài viếtNgọc HânĐiện Biên Phủ - biểu tượng ý chí quyết thắng của Việt Nam/Imagesnews/2021-05/Chienthang-DBP_Key_07052021081907.jpg
07/05/2021 7:00 SAYesĐã ban hành

(TUAG)- Không phải ngẫu nhiên mà danh từ "Điện Biên Phủ" lại có tên trong từ điển bách khoa quân sự thế giới. Hơn 6 thập kỷ trước, với sức mạnh trí tuệ và bản lĩnh anh hùng, quân và dân ta đã "lấy yếu chống mạnh, lấy ít địch nhiều," giành toàn thắng trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, kết thúc 9 năm trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Chienthang-DBP.jpg

Quay ngược thời gian

Cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương của Pháp sang năm thứ tám. Tám năm với nhiều thất bại liên tiếp đòi hỏi Pháp phải hành động tích cực hay rút khỏi Đông Dương. Đầu tháng 5/1953, Pháp cử tướng Henri Nava chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương. Ngay sau đó "kế hoạch Nava" được Pháp trình và Mỹ miễn cưỡng chấp nhận. Tuy vậy: "Sau khi ép được Pháp chính thức hứa quyết tâm thực hiện "kế hoạch Nava", tháng 9/1953, chính quyền Mỹ đồng ý viện trợ quân sự cho Pháp thêm 355 triệu đôla"[1] .

Theo kế hoạch của Nava thì quân đội Pháp trong Thu Đông năm 1953 sẽ phòng ngự chiến lược ở miền Bắc, Xuân 1954 tấn công chiến lược ở miền Nam, Thu Đông 1954 chuyển lực lượng cơ động chiến lược ra Bắc Bộ, thực hiện tiến công chiến lược giành thắng lợi quân sự to lớn buộc Việt Nam phải đàm phán trong tình thế có lợi cho Pháp trong thời gian 18 tháng. Nếu Việt Nam không theo điều kiện của Pháp thì chúng sẽ tấn công tiêu diệt chủ lực ta. "Kế hoạch Nava" được chính giới Pháp - Mỹ đánh giá cao, là một "kế hoạch táo bạo, kiên quyết, có cơ sở vững chắc"; "cho phép hy vọng đủ mọi điều".

Trước kẻ thù mạnh như vậy, Việt Nam đã quyết tâm chiến đấu chống lại kẻ thù xâm lược bằng tất cả sức mạnh mà dân tộc Việt Nam có được. Bộ Chính trị lúc bấy giờ quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ. Thực hiện quyết tâm của Bộ Chính trị, công việc chuẩn bị cho chiến dịch được ráo riết tiến hành từ cuối năm 1953.

Ngày 6/12/1953, Bộ Chính trị tổ chức cuộc họp dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh để nghe Tổng Quân ủy báo cáo và duyệt lần cuối kế hoạch tác chiến Đông-Xuân 1953-1954, đồng thời quyết định mở Chiến dịch Điện Biên phủ với quyết tâm tiêu diệt bằng được tập đoàn cứ điểm này.

Trung ương Đảng quyết định thành lập Đảng ủy và Bộ chỉ huy mặt trận Điện Biên Phủ do đồng chí Võ Nguyên Giáp, Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng, trực tiếp làm Bí thư Đảng ủy và Chỉ huy trưởng mặt trận.

Chính phủ quyết định tổ chức Hội đồng cung cấp Mặt trận Trung ương do Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng làm Chủ tịch và Hội đồng cung cấp Mặt trận các cấp.

Cả nước đã tập trung sức mạnh cho mặt trận Điện Biên Phủ với khẩu hiệu "Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng".

Đến đầu tháng 3/1954, công tác chuẩn bị mọi mặt cho chiến dịch đã hoàn thành.  Bắt đầu từ 17 giờ ngày 13/3/1954, quân ta tấn công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Chiến dịch lịch sử bắt đầu. Đến 17 giờ 30 ngày 07/5/1954, tức sau 56 ngày đêm "khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt" chúng ta đã giành toàn thắng ở Điện Biên Phủ, đập tan toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Chienthang-DBP1.jpg

Nhắc nhớ về niềm tự hào

Chiến thắng Điện Biên Phủ trước hết và chủ yếu là chiến thắng của dân tộc Việt Nam đã có hàng nghìn năm văn hiến. Đó là sự kế thừa và nối tiếp những chiến thắng vang dội trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, sau chín năm chiến đấu vô cùng oanh liệt, quân và dân ta đã đánh thắng gần nửa triệu quân xâm lược nhà nghề của một tên đế quốc hùng mạnh.

Chiến dịch Điện Biên Phủ có thể nói là cuộc đọ sức lớn nhất, toàn diện nhất, quyết liệt nhất từ khi chính quyền dân chủ Nhân dân được thành lập. Khó khăn lớn nhất đồng thời cũng là thắng lợi đầu tiên, bất ngờ nhất. Chúng ta một quân đội xuất phát điểm từ "gậy tầm vông, giáo mác" chống lại một đội quân nhà nghề có đủ vũ khí và phương tiện chiến tranh hiện đại lại được Mỹ giúp sức. Bên cạnh đó chúng ta chiến đấu mà xa hậu phương tới hơn 500 km, phương tiện kém, đường sá xấu lại bị kẻ địch thường xuyên bắn phá, thời tiết không thuận lợi.

Tuy nhiên chúng ta có sức mạnh về chính trị - tinh thần, ở khối đại đoàn kết dân tộc, ở tinh thần yêu nước nồng nàn, ở ý chí quyết tâm bảo vệ sự sinh tồn của dân tộc ta trước thế lực ngoại xâm. Trong tác phẩm "Chiến tranh nhân dân và quân đội nhân dân", Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết: "Chiến tranh ở Việt Nam không chỉ là sự đọ sức giữa hai quân đội; ở đây bọn thực dân xâm lược phải đánh nhau với cả một dân tộc; cả dân tộc Việt Nam, toàn thể nhân dân việt Nam đang đứng dậy chống lại chúng".

Đó là bản anh hùng ca của một cuộc chiến tranh thần kỳ mà chiến công tiêu biểu của nó - trận Điện Biên Phủ vĩ đại - đã được ghi vào lịch sử dân tộc như một Bạch Đằng, một Chi Lăng hay một Đống Đa trong thế kỷ XX và đã đi vào lịch sử thế giới như một chiến công chói lọi đột phá thành trì của hệ thống nô dịch thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc .

Đây là một trận quyết chiến chiến lược trực tiếp đưa đến việc ký Hiệp định Geneva về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Đông Dương; tạo cơ sở và điều kiện để Nhân dân ta tiến lên giành thắng lợi vĩ đại trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Phát huy biểu tượng quyết thắng

Chiến thắng Điện Biên phủ thật sự là biểu tượng cho ý chí quyết thắng của Đất nước Việt Nam, của người dân Việt Nam. Sự kiện Điện Biên Phủ đến nay đã lùi vào lịch sử 67 năm, dấu tích chiến tranh đã mai một trên thành phố Điện Biên đổi mới, nhưng chiến thắng Điện Biên Phủ vẫn luôn cổ vũ chúng ta trên các chặng đường cách mạng. Chiến thắng Điện Biên Phủ tạo cơ sở quan trọng cho chúng ta tin tưởng và khẳng định rằng, trong điều kiện mới, để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch, lời đáp trả cơ bản của chúng ta là: Phát huy sức mạnh tổng hợp; thực hiện chiến tranh nhân dân, sức mạnh cơ bản, cái quyết định làm nên chiến thắng của chúng ta luôn là chính trị - tinh thần, là ý chí quyết chiến quyết thắng, với nội dung và chất lượng mới.

Đồng thời biểu tượng chiến thắng Điện Biên phủ ngay thời điểm này, cũng một lần nữa nhắc nhở về tinh thần quyết tâm vượt qua mọi khó khăn của đất nước Việt Nam, của người dân Việt Nam. Bởi cả nước đang dồn sức trong một cuộc chiến, một trận chiến không phải chiến đấu lại kẻ thù xâm lược mà là chiến đấu đẩy lùi đại dịch COVID-19 đang diễn biến hết sức phức tạp. Thời điểm này, chúng ta đang ra sức đồng lòng quyết tâm cao nhất, để dập dịch triệt để trong thời gian nhanh nhất, với tinh thần không chủ quan, có biện pháp mạnh mẽ, kịp thời, đi trước thời gian nhưng không được để hoảng loạn, với tinh thần đoàn kết vượt mọi khó khăn quyết tâm đẩy lùi đại dịch COVID-19./.

NGỌC HÂN

_________________

[1] GEORGE C. HERRING: Cuộc chiến tranh dài ngày nhất của nước Mỹ, Nxb CTQG, H. 1998, tr.34.

TrueChính trị
Điều động Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao Lê Hồng Quang làm Bí thư Tỉnh ủy An GiangTinAdminĐiều động Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao Lê Hồng Quang làm Bí thư Tỉnh ủy An Giang/Imagesnews/2021-05/Le-Hong-Quang-1_Key_05052021094542.jpg
30/04/2021 10:00 SANoĐã ban hành

​(TUAG)- Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chánh án Thường trực TANDTC Lê Hồng Quang vừa được Bộ Chính trị điều động giữ chức Bí thư Tỉnh ủy An Giang nhiệm kỳ 2020 - 2025.

le-hong-quang.jpg

Phó Chánh án Thường trực TANDTC Lê Hồng Quang được điều động, bổ nhiệm làm Bí thư Tỉnh ủy An Giang.

Theo đó, tại Quyết định số 68 ngày 16/4/2021 do Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng ký, Bộ Chính trị đã điều động, phân công đồng chí Lê Hồng Quang, Uỷ viên Ban chấp hành Trung ương đảng, Phó Chánh án Thường trực TANDTC tham gia Ban Chấp hành, Ban Thường vụ và giữ chức vụ Bí thư Tỉnh ủy tỉnh An Giang nhiệm kỳ 2020-2025; Thực hiện kết luận của Ban Cán sự đảng TANDTC và ý kiến chỉ đạo của đồng chí Chánh án TADNTC.

Đồng chí Lê Hồng Quang được phân công giữ cương vị này thay cho đồng chí Võ Thị Ánh Xuân - người đã được Quốc hội khóa XIV bầu làm Phó Chủ tịch nước vào đầu tháng 4.

Trước đó chiều 29/4, TANDTC cũng đã tổ chức Lễ bàn giao công việc giữa đồng chí Lê Hồng Quang, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương đảng, Phó Chánh án Thường trực TANDTC và đồng chí Nguyễn Trí Tuệ, Phó Chánh án TANDTC.

Các phần việc bàn giao lên quan đến khối Văn phòng, Vụ Tổng hợp, Vụ Giám đốc kiểm tra II, Vụ Giám đốc kiểm tra III.

Phát biểu tại hội nghị, Phó Chánh án Thường trực TANDTC Lê Hồng Quang đã cảm ơn lãnh đạo TANDTC, thủ trưởng 4 đơn vị trong thời gian qua đã chỉ đạo cũng như tham mưu kịp thời các giải pháp, từ đó góp phần tích cực giúp đồng chí hoàn thành tốt nhiệm vụ trên cương vị là Phó Chánh án Thường trực TANDTC.

Le-Hong-Quang.jpg

Đồng chí Lê Hồng Quang sinh năm 1968, quê ở huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang, Ủy viên Trung ương Đảng 2 khóa (XII, XIII). Đồng chí có bằng tiến sĩ Luật, cử nhân Kinh tế.

Trưởng thành từ một cán bộ ngành kiểm sát tại tỉnh Kiên Giang, đồng chí Lê Hồng Quang sau đó làm Thẩm phán TAND TP.HCM. Đồng chí giữ cương vị Thẩm phán TANDTC (công tác tại Tòa phúc thẩm TAND TP.HCM) từ tháng 5/2003. Đồng thời, đồng chí còn là giảng viên Học viện Tư pháp.

Sau 5 năm, đồng chí Lê Hồng Quang được tái bổ nhiệm làm Thẩm phán TANDTC, rồi làm Tổng biên tập Tạp chí TAND và giữ các cương vị này trong 2 nhiệm kỳ. Sau khi được phân công giữ chức Phó chánh án TANDTC trong 3 tháng (1/2014 - 3/2014), đồng chí được điều động về làm Phó Bí thư Tỉnh ủy Tiền Giang đến 6/2017.

Tháng 6/2017, đồng chí được Quốc hội phê chuẩn giữ chức Thẩm phán TANDTC rồi được Chủ tịch nước trao quyết định bổ nhiệm chức danh Thẩm phán TANDTC, chức vụ Phó chánh án TANDTC.

Tháng 9/2020, đồng chí Lê Hồng Quang được bầu giữ chức Bí thư Đảng bộ TANDTC nhiệm kỳ 2020-2025.

Tại Đại hội XIII của Đảng diễn ra hồi cuối tháng 01/2021, đồng chí tái cử vào Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII.

BBT

FalseChính trị
Chiến thắng 30/4: Mốc son sáng chói, là niềm tự hào, kiêu hãnh của mỗi người dân Việt Nam Bài viếtHòa BìnhChiến thắng 30/4: Mốc son sáng chói, là niềm tự hào, kiêu hãnh của mỗi người dân Việt Nam /Imagesnews/2021-04/TCD30-4-2021-A_Key_27042021153559.jpg
27/04/2021 4:00 CHNoĐã ban hành
(TUAG)- Cứ đến dịp cả nước Việt Nam hân hoan, tự hào chào đón kỷ niệm Ngày Chiến thắng 30/4/1975 thì trên một số trang mạng xã hội lại xuất hiện những kẻ thù địch, thiển cận về chính trị tìm mọi cách để xuyên tạc, đổi trắng thay đen, bóp méo giá trị lịch sử ngày Chiến thắng 30/ 4/1975. Nhưng tất cả những luận điệu xuyên tạc đó không thể đứng vững trước sự phán xét của công lý và sự thật.


Cách đây 46 năm, Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 của quân và dân ta, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Thắng lợi vĩ đại đó phản ánh nghị lực phi thường, tinh thần quyết thắng giặc Mỹ xâm lược và ý chí thống nhất Tổ quốc không gì lay chuyển nổi của dân tộc Việt Nam, là bước ngoặt to lớn trong lịch sử dân tộc mở ra một kỷ nguyên mới đối với nước ta, kỷ nguyên độc lập, thống nhất, cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đánh giá về tầm vóc và ý nghĩa sự kiện lịch sử này, Đại hội lần thứ IV của Đảng đã khẳng định: “Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của Nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”.

Giá trị, ý nghĩa và tầm vóc vĩ đại của Chiến thắng 30/4/1975 đã được lịch sử kiểm chứng sáng tỏ, rõ ràng. Thế mà vẫn có những kẻ cố tình xuyên tạc, phủ nhận thắng lợi vĩ đại đó của dân tộc ta. Họ lập luận một cách phi lý rằng: Đó là sự nhân nhượng của Chính phủ Mỹ chứ không phải là thắng lợi của Việt Nam; đế quốc Mỹ không hề muốn cai trị người Việt Nam, Mỹ can thiệp vào Việt Nam là để giải phóng chứ không phải để cai trị; hay chiến tranh Việt Nam là cuộc “nội chiến” huynh đệ tương tàn giữa hai miền Nam - Bắc. Họ kết luận hồ đồ rằng: Cuộc chiến tranh Việt Nam là “không cần thiết” và hoàn toàn “có thể tránh khỏi”. Đây hoàn toàn là những luận điệu sai trái, xuyên tạc, đổi trắng thay đen để tìm cách phủ nhận sự thật lịch sử một cách lố bịch của những kẻ có mưu đồ chính trị đen tối. Bởi, ngược dòng lịch sử chúng ta đều thấy, cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam do Mỹ khởi xướng, với sự tiếp tay, phản bội dân tộc của ngụy quyền Sài Gòn thất bại là một tất yếu khách quan. Nguyên nhân cơ bản, sâu xa nhất dẫn tới thất bại, có nhiều nguyên nhân nhưng trước hết, bởi đó là một cuộc chiến tranh phi nghĩa, vô cùng tàn bạo của Mỹ đối với nhân dân Việt Nam. Mục tiêu chiến lược của Mỹ là quét sạch chủ nghĩa cộng sản tại Việt Nam và Đông Dương, biến nơi đây thành thuộc địa, "một bàn đạp chiến lược" để Mỹ thực hiện mưu đồ bá chủ thế giới. Vì vậy, sau thất bại không thể tránh khỏi của Pháp năm 1954, Mỹ thay chân Pháp xâm lược Việt Nam. Một lần nữa dân tộc Việt Nam lại phải đứng lên cầm súng để bảo vệ đất nước, chấp nhận một cuộc đụng đầu lịch sử.

Trong suốt 21 năm chiến tranh, Mỹ đã thay đổi 5 chiến lược quân sự khác nhau, huy động tới hơn nửa triệu quân, cùng hàng vạn quân đồng minh làm xương sống cho hơn 1 triệu quân ngụy. Mỹ cũng đã sử dụng tất cả những vũ khí, kỹ thuật quân sự tiên tiến nhất, kể cả vũ khí sinh học, hóa học, nhằm rắp tâm đẩy Việt Nam vào “thời kỳ đồ đá”. Mỹ đã biến Việt Nam thành đất nước bị ném bom nhiều nhất trên thế giới với hơn 7,8 triệu tấn, gấp hơn 3 lần số bom, đạn Mỹ sử dụng trong chiến tranh thế giới thứ hai và gấp 12 lần so với chiến tranh Triều Tiên. Mỹ cũng đã rải xuống miền Nam Việt Nam khoảng 85 triệu lít chất độc hóa học, mà chủ yếu là chất diệt cỏ điôxin, hậu quả là hơn một nửa diện tích rừng của Việt Nam đã bị thiêu rụi và đến nay di chứng của chất độc tàn ác này vẫn còn tồn tại dai dẳng. Mỹ đã tiêu tốn 676 tỷ USD cho cuộc chiến tranh Việt Nam, đưa chiến tranh Việt Nam trở thành một trong những cuộc chiến “đắt tiền” nhất trong lịch sử nước Mỹ. Do đó, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là sứ mệnh cao cả mà lịch sử giao phó cho Đảng và Nhân dân ta. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Nhân dân Việt Nam là cuộc chiến tranh chính nghĩa, nhằm đánh đuổi đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, thống nhất nước nhà. Đó là chân lý, là sự thật đã quá rõ ràng.

Đối với dân tộc Việt Nam, chiến thắng 30/4/1975 không phải là một thắng lợi dễ dàng. Để giành được thắng lợi trong cuộc chiến tranh khốc liệt và tàn ác đó của đế quốc Mỹ, hơn 3 triệu đồng bào, chiến sĩ của ta đã ngã xuống; hàng ngàn làng mạc, thành phố đã bị san phẳng; đến nay nhiều di chứng của cuộc chiến tranh vẫn tồn tại dai dẳng chưa thể khắc phục xong. Trong cuộc chiến tranh này, chiến thắng đã thuộc về chính nghĩa, lẽ phải, chúng ta đã chứng minh cho kẻ thù thấy được sức mạnh của dân tộc anh hùng. Có nhiều nguyên nhân tạo nên chiến thắng nhưng trong đó, việc phát huy cao độ truyền thống yêu nước và giương cao ngọn cờ chính nghĩa, đường lối độc lập, tự chủ, sáng tạo của Đảng, khát vọng hòa bình, giải phóng dân tộc của nhân dân ta là một trong những nguyên nhân mang tính quyết định. Đó cũng là thắng lợi của bạn bè, các lực lượng tiến bộ và yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược là một trong những giá trị cao cả của dân tộc ta trong thế kỷ XX. Sự thật lịch sử về chiến thắng vĩ đại của Nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước đã quá rõ ràng, không thể bị phủ nhận, lẫn lộn trắng đen.

Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay.

Đã 46 năm trôi qua, sự nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam đã giành thêm nhiều thành tựu to lớn, nhưng Chiến thắng 30/4 vẫn là một mốc son sáng chói, là niềm tự hào, kiêu hãnh của mỗi người dân Việt Nam. Chiến thắng đó sẽ mãi là động lực thúc đẩy toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vượt qua mọi trở ngại, vững bước trên con đường đổi mới, tiếp tục đưa dân tộc Việt Nam đến những thắng lợi huy hoàng, khẳng định vị thế và uy tín trên trường quốc tế, sánh vai với các cường quốc phát triển trên thế giới. Chúng ta không cho phép bất cứ ai, với danh nghĩa gì được phép xuyên tạc, bóp méo lịch sử Ngày chiến thắng 30/4/1975./.
HÒA BÌNH
FalseChính trị
Niềm vinh dự, tự hào của quê hương Bác TônBài viếtBAGNiềm vinh dự, tự hào của quê hương Bác Tôn/Imagesnews/2021-04/PCTN-tambiet_Key_20042021111156.jpg
20/04/2021 12:00 CHNoĐã ban hành
Năm 1960, Quốc hội khóa II đã bầu Bác Tôn giữ chức vụ Phó Chủ tịch nước Việt Nam. Đây là lần đầu tiên người con ưu tú của quê hương An Giang được Phủ Chủ tịch long trọng đón nhận về làm việc chung với Bác Hồ kính yêu. Đến năm 1969, sau khi Bác Hồ qua đời, Quốc hội tổ chức kỳ họp đặc biệt bầu Bác Tôn giữ chức Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. 61 năm sau, Đảng bộ và nhân dân An Giang lại có thêm một niềm vui tương tự vào chiều 6-4-2021, tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa XIV đã bầu Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy An Giang Võ Thị Ánh Xuân vào vị trí Phó Chủ tịch nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.

Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Lê Văn Nưng và Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thanh Bình tặng hoa chúc mừng tân Phó Chủ tịch nước Cộng hòa XHCN Việt Nam Võ Thị Ánh Xuân

Người lãnh đạo gần dân, sát dân

Thường trực Tỉnh ủy An Giang vừa tổ chức buổi gặp gỡ giữa đồng chí Võ Thị Ánh Xuân, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội (ĐBQH) tỉnh An Giang với cán bộ chủ chốt của tỉnh nhân dịp đồng chí nhận nhiệm vụ mới. Chia sẻ tại buổi gặp gỡ, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Lê Văn Nưng thay mặt Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh An Giang gửi lời chúc mừng và trân trọng cảm ơn những đóng góp của đồng chí Võ Thị Ánh Xuân với tỉnh trong thời gian qua. Đây là niềm vui, sự tự hào của Đảng bộ và nhân dân An Giang và là động lực góp phần đưa tỉnh nhà tiếp tục phát triển - đồng chí Lê Văn Nưng trân trọng ghi nhận.

Điểm lại qua 3 nhiệm kỳ là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Trưởng đoàn ĐBQH tỉnh (khóa XIV) và qua gần 6 năm với vai trò Bí thư Tỉnh ủy, đồng chí Võ Thị Ánh Xuân đã cùng với Ban Thường vụ, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh tiếp tục phát huy truyền thống của Đảng bộ tỉnh trên các lĩnh vực. Đáng chú ý, lĩnh vực nông nghiệp có mức tăng trưởng khá và tiếp tục khẳng định vai trò nền tảng của nền kinh tế.

Nét nổi bật trong nhiệm kỳ 2015-2020 là tỉnh đã tìm giải pháp tháo gỡ các “điểm nghẽn” phát triển, nhất là về thủ tục hành chính, khuyến khích tập trung đất đai sản xuất quy mô lớn, mời gọi đầu tư nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Bước đầu hình thành các vùng chuyên canh gắn với nhà đầu tư lớn, từng bước giải quyết bài toán giữa sản xuất - chế biến - tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. Nhiều tập đoàn lớn và nhà đầu tư có uy tín tin tưởng, đã và đang hợp tác đầu tư trên địa bàn An Giang với nhiều lĩnh vực. Vị thế của tỉnh được nâng lên, hình ảnh và thương hiệu mới của tỉnh được tạo dựng và ngày càng khẳng định.

Nhất quán quan điểm cách mạng là sự nghiệp của dân, do dân, vì dân, trong quá trình lãnh đạo, đồng chí Võ Thị Ánh Xuân luôn phát huy vai trò gương mẫu, gần dân, sâu sát dân. Để làm tròn bổn phận của mình, là “công bộc của dân”, đồng chí thường xuyên đi cơ sở, nắm chắc tình hình đời sống, lắng nghe ý kiến của nhân dân, nhất là những vấn đề bức xúc của dân để có biện pháp chỉ đạo giải quyết kịp thời. Ngược thời gian, những lần ở huyện Chợ Mới, Châu Phú… bị sạt lở, đồng chí đã đến tận nơi để nắm tình hình, ân cần thăm hỏi, động viên người dân. Vào những dịp lễ, Tết, đồng chí đã đến tận nhà thăm hỏi đời sống, tặng quà mẹ Việt Nam Anh hùng, các gia đình chính sách, đồng bào dân tộc thiểu số…

Phó Chủ tịch nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, Bí thư Tỉnh ủy An Giang Võ Thị Ánh Xuân thăm hỏi và tặng quà mẹ Việt Nam anh hùng Tạ Thị Bài (ngụ phường Vĩnh Nguơn, TP. Châu Đốc)

Tự hào người con quê hương Bác Tôn

Những thành quả mà An Giang có được hôm nay chính là kết quả của sự đoàn kết, phấn đấu, nỗ lực không ngừng của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân tỉnh nhà. Trong đó có sự đóng góp không nhỏ của đồng chí Võ Thị Ánh Xuân. “Đó là hiện thân cho sự phấn đấu bằng cả tâm lực, trí lực và sức lực mà đồng chí Võ Thị Ánh Xuân đã cùng tập thể Tỉnh ủy cống hiến suốt quãng thời gian còn tại vị ở tỉnh nhà... Chúng tôi tin rằng, với phong cách và cốt cách của mình, đồng chí sẽ góp phần làm phong phú thêm mới quan hệ tốt đẹp, tinh thần làm việc, lan tỏa, chuyển tải mạnh mẽ hình ảnh và trí tuệ của phụ nữ Việt Nam với bạn bè quốc tế”- đồng chí Lê Văn Nưng tin tưởng và tự hào.

Bày tỏ niềm xúc động trên cương vị Phó Chủ tịch nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, đồng chí Võ Thị Ánh Xuân cho rằng, bản thân được Đảng, nhà nước, Quốc hội trao trọng trách cao hơn. Đây là vinh dự không riêng của cá nhân mà là sự kế thừa truyền thống của quê hương An Giang. Chia sẻ về quá trình công tác tại tỉnh An Giang, đồng chí Võ Thị Ánh Xuân vẫn còn trăn trở: “Mặc dù kinh tế An Giang đã khởi sắc, tạo được một số tiền đề cho sự phát triển trong giai đoạn tiếp theo, đời sống nhân dân được nâng lên, các mô hình an sinh xã hội trở thành nét văn hóa tốt đẹp của An Giang. Đảng bộ tiếp tục phát huy tinh thần đoàn kết, đồng lòng, sự hài lòng của nhân dân đối với hệ thống chính trị cũng được nâng lên. Tuy nhiên, vẫn còn một số "điểm nghẽn" cần khắc phục để tạo ra những động lực mới cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Chúng ta phải nỗ lực, phấn đấu cao gấp bội để có thể đi kịp, theo cùng với sự phát triển của đất nước”.

Đồng chí nhấn mạnh, mặc dù không trực tiếp thực hiện nhiệm vụ tại tỉnh nhà nhưng quê hương An Giang luôn là điểm tựa tinh thần, là “hậu phương vững chắc” để bản thân thực hiện tốt trọng trách Đảng, nhà nước, Quốc hội và nhân dân giao phó. “Thời gian tới, tôi rất mong toàn Đảng bộ, toàn quân và toàn dân tỉnh nhà sẽ tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, tinh thần đoàn kết, thống nhất, phấn đấu hơn nữa, chung sức đồng lòng, nắm bắt tốt thời cơ, năng động, sáng tạo, bản lĩnh, dám nghĩ, dám làm của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Tôi hoàn toàn tin tưởng Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh sẽ tiếp tục gặt hái nhiều thành tựu to lớn hơn trong chặng đường phát triển mới” - đồng chí Võ Thị Ánh Xuân gửi gắm.

Đảng bộ, chính quyền và nhân dân An Giang luôn tin rằng, với tinh thần nhiệt huyết cách mạng, với kinh nghiệm, sự trưởng thành từ cơ sở và trải nghiệm quý trong quá trình lãnh đạo tại tỉnh nhà sẽ là hành trang quý báu giúp đồng chí Võ Thị Ánh Xuân có thêm niềm tin, bản lĩnh, tiếp nối các thế hệ tiền nhiệm, hoàn thành xuất sắc trọng trách mà Đảng, nhà nước và nhân dân tin tưởng giao cho.

THU THẢO

Nguồn: AGO

FalseChính trị
Tăng cường quan hệ hợp tác giữa tổ chức Mặt trận tỉnh An Giang (Việt Nam) và Kandal, Takeo (Campuchia)Bài viếtVăn MãiTăng cường quan hệ hợp tác giữa tổ chức Mặt trận tỉnh An Giang (Việt Nam) và Kandal, Takeo (Campuchia)/Imagesnews/2021-04/VN-cpc-hoptac_Key_14042021165605.jpg
14/04/2021 5:00 CHNoĐã ban hành

(TUAG)- Việt Nam và Campuchia là hai nước láng giềng gần gũi và có quan hệ truyền thống, gắn bó từ lâu đời.

Quan hệ này đã được nhiều thế hệ lãnh đạo và nhân dân hai nước dày công vun đắp bằng công sức và xương máu của biết bao người Việt Nam và Campuchia. Mặc dù có biết bao khó khăn thử thách với những thăng trầm của lịch sử, nhưng tình đoàn kết, hữu nghị truyền thống và sự hợp tác toàn diện tốt đẹp giữa Việt Nam và Campuchia đã không ngừng được củng cố và phát triển, là tài sản vô giá, thiêng liêng và bền vững của hai dân tộc.

VN-cpc-hoptac.jpg

Trên cơ sở thực hiện bản ghi nhớ "Xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển" giữa Ủy ban Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam tỉnh An Giang với Mặt trận Đoàn kết Phát triển Tổ quốc (MTĐKPTTQ) Campuchia tỉnh Kandal và tỉnh Takeo; qua thời gian thực hiện bản ghi nhớ hợp tác giữa 3 tỉnh đã đạt nhiều kết quả, góp phần giữ vững trật tự, an toàn xã hội, an ninh dọc biên giới, ngăn chặn và phòng, chống các loại tội phạm theo nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của mỗi nước và duy trì công tác trao đổi thông tin kịp thời, giúp lực lượng đứng chân trên biên giới thực hiện đạt hiệu quả trong công tác phòng, chống tội phạm vượt biên trái phép. Các lực lượng chức năng, chính quyền địa phương của 3 tỉnh thường xuyên tuyên truyền, hướng dẫn cho người dân tuân thủ nghiêm các quy định về biên giới và có giải pháp hữu hiệu để thực hiện. Tổ chức cuộc họp định kỳ, trao đổi đoàn thăm hỏi, phổ biến luật về biên giới, hoạt động thương mại, tổ chức hội chợ triển lãm và hỗ trợ người dân khó khăn…

Do ảnh hưởng bởi tình hình dịch bệnh COVID-19, tình hình giao thương qua lại vận chuyển hàng hoá bị hạn chế và việc qua lại biên giới được thực hiện nghiêm theo đúng quy định, tuy nhiên với tinh thần tương thân, tương ái, tỉnh An Giang đã vận động hỗ trợ cho người dân Campuchia và người Campuchia gốc Việt có hoàn cảnh khó khăn như lương thực, khẩu trang và nhu yếu phẩm cần thiết để góp phần giảm bớt khó khăn. Cụ thể, năm 2020, tổng số tiền mặt và quà (gạo, mì gói, nước tương; khẩu trang y tế, nước rửa tay sát khuẩn...) trị giá 1.492.000.000 đồng; thành phố Châu Đốc hỗ trợ kinh phí 100.000.000 đồng cho xã Kompungcrosang, huyện BreyChusal, tỉnh Takeo để xây dựng đài hỏa táng; huyện Tri Tôn hỗ trợ 150.000.000 đồng cho huyện Kirivong, tỉnh Takeo để xây dựng hội trường một cửa.

Được sự thống nhất của Thường trực Tỉnh ủy, Ban Thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh phối hợp với Ban vận động tiếp nhận và phân phối Quỹ phòng, chống dịch bệnh COVID-19 và hạn hán tỉnh (gọi tắt là Ban vận động tỉnh) xuất Quỹ của Ban vận động tỉnh 400 triệu đồng hỗ trợ cho MTĐKPTTQ Campuchia tỉnh Kandal, tỉnh Takeo; Hội Khmer - Việt Nam tại Campuchia; tỉnh Champasak, Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào trong công tác phòng, chống dịch bệnh COVID-19. Hình thức trao tặng: Đối với tỉnh Kandal và tỉnh Takeo (Vương quốc Campuchia), trao tặng trực tiếp cho hai tỉnh bạn trang thiết bị vật tư y tế gồm: máy đo thân nhiệt, nước rửa tay sát khuẩn, khẩu trang y tế (quà tặng mỗi tỉnh trị giá trên 100 triệu đồng); Hội Khmer - Việt Nam tại Campuchia trao tặng tiền mặt 100 triệu đồng và 2.100 khẩu trang y tế để giúp các gia đình Việt kiều gặp khó khăn trong đại dịch COVID-19, địa điểm giao nhận tại Cửa khẩu quốc tế Tịnh Biên, huyện Tịnh Biên và Cửa khẩu chính Long Bình, huyện An Phú. Đối với tỉnh Champasak, Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, Ban Thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh phối hợp với Sở Ngoại vụ liên hệ với tỉnh bạn để chuyển khoản tiền mặt 100 triệu đồng.

Ngày 09/3/2021, tại cầu Long Bình, huyện An Phú Uỷ ban MTTQ Việt Nam tỉnh đã tổ chức hỗ trợ 10.000 khẩu trang y tế và 20 chai dung dịch sát khuẩn tay loại 500ml/chai cho bà con nghèo người Campuchia gốc Việt để sử dụng phòng chống dịch bệnh COVID-19. Vào ngày 08/4/2021, tại Cửa khẩu quốc tế Vĩnh Xương (tỉnh An Giang) – Kaomsomno (tỉnh Kandal), Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh trao hàng hóa, nhu yếu phẩm gồm 10 tấn gạo, 320 thùng mì gói, 440 kg đường cát, 220 kg bột ngọt, 4 thùng (100 chai) nước tương, 20.000 khẩu trang y tế, 30 chai dung dịch sát khuẩn tay (100ml/chai) cho Đại sứ quán Việt Nam tại Vương quốc Campuchia từ nguồn vận động của các doanh nghiệp và mạnh thường quân trong tỉnh.

Với truyền thống đoàn kết lâu đời của hai dân tộc, cùng với sự vun đắp, hỗ trợ, giúp đỡ nhau cùng phát triển của chính quyền, Mặt trận, đoàn thể 3 tỉnh An Giang, Kandal và Takeo; quyết tâm xây dựng mối quan hệ hoà bình, hữu nghị, hợp tác, cùng phát triển góp phần phát huy tình đoàn kết, gắn bó giữa hai đất nước, hai dân tộc; quan hệ hợp tác giữa tỉnh An Giang và tỉnh Kandal và Takeo sẽ ngày càng tốt đẹp hơn./.

                                                                                 Văn Mãi

False
Những đóng góp của đồng chí Nguyễn Hữu Tiến khi hoạt động ở vùng Long Xuyên, Châu ĐốcBài viếtPhước HùngNhững đóng góp của đồng chí Nguyễn Hữu Tiến khi hoạt động ở vùng Long Xuyên, Châu Đốc/Imagesnews/2021-04/Hoi-thao-Ng-Huu-Tien_Key_10042021093405.jpg
10/04/2021 9:00 SAYesĐã ban hành

(TUAG)- Là nội dung tham luận của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy An Giang được trình bày tại Hội thảo khoa học "Đồng chí Nguyễn Hữu Tiến - người chiến sĩ cộng sản kiên trung, tài năng, người con ưu tú của quê hương Hà Nam" do Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và Tỉnh ủy Hà Nam tổ chức vào chiều ngày 9/4/2021 tại tỉnh Hà Nam.

Hoi-thao-Ng-Huu-Tien-1.jpg

Đồng chí Trần Thị Thanh Hương - UVBTV, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy An Giang tham luận tại hội thảo.

Đồng chí Nguyễn Hữu Tiến tức Trương Xuân Chinh (còn có tên gọi là giáo Hoài, Hải Đông, Huế Lâm, Huế Tiến, Anh Hai Bắc Kỳ, Anh Hai kỹ sư, ông Hai họa sĩ, thầy giáo Hai...), sinh ngày 05/3/1901 tại làng Lũng Xuyên, tổng Yên Khê, huyện Duy Tiên (nay là tổ dân phố Lũng Xuyên, phường Yên Bắc, thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam) trong một gia đình nhà Nho yêu nước. Cùng truyền thống yêu nước của gia đình đã đưa đồng chí từ người thanh niên yêu nước trở thành người chiến sỹ cách mạng kiên trung, sẵn sàng hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

Hoi-thao-Ng-Huu-Tien-3.jpg

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình đồng chí có thời gian được phân công về hoạt động ở Liên Tỉnh ủy Long - Châu - Rạch -  Hà (gồm Long Xuyên, Châu Đốc, Rạch Giá,  Hà Tiên) thuộc Đảng bộ miền Tây Nam Kỳ với bí danh Huế Lâm, phụ trách công tác tuyên huấn. Đồng chí tổ chức một hiệu thuốc bắc và một xưởng mộc làm nơi liên lạc giữa Xứ ủy và cơ sở... Cơ sở cách mạng phát triển ngày càng rộng, hòa vào khí thế chung ở thành thị trong cuộc đấu tranh chống thực dân, mà đỉnh cao là phong trào Đông Dương Đại hội. Hưởng ứng phong trào, đồng chí Nguyễn Hữu Tiến chỉ đạo các cơ sở Đảng khắp các địa phương thuộc Liên Tỉnh ủy miền Tây Nam Kỳ... lập các Ủy ban hành động nhằm: Tập hợp, phản ánh nguyện vọng bức thiết của Nhân dân lên chính phủ Mặt trận Bình dân Pháp; tổ chức diễn thuyết vạch trần chế độ cai trị của thực dân Pháp; hướng dẫn Nhân dân phương pháp chống sưu cao, thuế nặng, chống các chính sách áp bức, hà khắc của thực dân, phong kiến; tổ chức thư viện đọc sách,  báo và nhóm đọc sách, báo lưu động để tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng đến với Nhân dân. Đến đầu tháng 8/1936, trên dải đất biên thùy Tây Nam của Tổ quốc, đã thành lập được trên 100 Ủy ban hành động. Thông qua các Ủy ban hành động, đồng chí cho chép lại và in bức thư ngỏ thứ ba của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương tuyên truyền rộng rãi tới các đảng phái, các hội ái hữu, các tầng lớp công, nông, binh, phụ nữ, sinh viên, giới báo chí, giới thương gia trong toàn xứ Đông Dương.

Đầu năm 1937, đồng chí Nguyễn Hữu Tiến được Liên Tỉnh ủy Long Xuyên điều về Chợ Mới, nơi có phong trào cách mạng hoạt động mạnh nhất tỉnh, với bí danh Huế Tiến. Đồng chí tham gia tổ chức nhiều cuộc mít tinh, tuyên truyền, vận động nhân dân đấu tranh công khai, hợp pháp đòi tự do dân chủ, cơm áo, hòa bình. Qua đó, tập hợp lực lượng, phát triển tổ chức làm cho Nhân dân tin tưởng, tham gia cách mạng.

Khi chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ (9/1939), đồng chí Nguyễn Hữu Tiến được cử thay đồng chí Nguyễn Kim Nha làm Bí thư Liên Tỉnh ủy Long Xuyên gồm các tỉnh: Châu Đốc, Long Xuyên, Hà Tiên, Rạch Giá, Sa Đéc (nay thuộc các tỉnh An Giang, Hậu Giang, Kiên Giang, Sóc Trăng, Cà Mau, Bạc Liêu).

Hoi-thao-Ng-Huu-Tien-2.jpg

Quang cảnh buổi hội thảo khoa học

Có thể nói , thời gian đồng chí Nguyễn Hữu Tiến về hoạt động ở Long Xuyên, Châu Đốc (tỉnh An Giang ngày nay), đồng chí đã góp phần tích cực trong phong trào Đông Dương Đại hội, đặc biệt là việc thành lập và hoạt động của các Ủy  ban hành động, công tác giáo dục lòng yêu nước, tuyên truyền về giai cấp, tư tưởng cách mạng được đồng chí Nguyễn Hữu Tiến và những người đảng viên thực hiện, kết hợp với báo chí, trực tiếp và gián tiếp đến với quần chúng ở địa phương. Nhân dân từ chưa hiểu biết gì về cách mạng nhưng qua tuyên truyền đã giúp họ hiểu biết về Liên bang Xô Viết, về giai cấp và kẻ thù giai cấp, từng bước ý thức, giác ngộ cách mạng, thông qua đó các tổ chức cơ sở Đảng, đoàn thể quần chúng phát triển rộng khắp vùng Long Xuyên, Châu Đốc.  Nhờ vậy, khi chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra, địch khủng bố phong trào công khai, nhiều cán bộ chủ chốt của cấp ủy bị bắt giữ nhưng cơ sở bí mật vẫn được giữ, lực lượng cách mạng vẫn được duy trì để tiến hành cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ vào năm 1940. Đảng bộ  và Nhân dân An Giang mãi mãi ghi nhớ những công lao đóng góp quý báo của đồng chí Nguyễn Hữu Tiến. Và tên của đồng chí đã được tỉnh An Giang trân trọng đặt tên cho một con đường tại phường Đông Xuyên, thành phố Long Xuyên.

Tham gia Hội thảo lần này Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy An Giang  đã góp phần thiết thực nhằm ôn lại cuộc đời hoạt động cách mạng cao đẹp của đồng chí Nguyễn Hữu Tiến, đồng thời bày tỏ sự tri ân sâu sắc  của Đảng bộ Nhân dân An Giang đối với những cống hiến của đồng chí Nguyễn Hữu Tiến cho cách mạng Việt Nam nói chung và cho riêng quê hương An Giang./.

Tham khảo thêm bài viết: Đồng chí Nguyễn Hữu Tiến - người vẽ lá cờ Tổ quốc

PHƯỚC HÙNG

 

TrueChính trị
“Dù ở vị trí nào, tôi cũng cố gắng đóng góp phát triển quê hương”Bài viếtBAG“Dù ở vị trí nào, tôi cũng cố gắng đóng góp phát triển quê hương”https://www.angiang.dcs.vn/XDDImages/2020-09/DSC_1597_Key_23092020165345.jpg
08/04/2021 7:00 SAYesĐã ban hành

​(TUAG)- Chiều 06/4, với 93,13% đại biểu có mặt tán thành, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Nghị quyết bầu Phó Chủ tịch nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đối với đồng chí Võ Thị Ánh Xuân, Bí thư Tỉnh ủy An Giang. Điều này trở thành niềm vui, niềm tự hào của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh nhà.

Đồng chí Võ Thị Ánh Xuân phát biểu tại hội nghị đóng góp Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh.

Trong thời gian giữ chức vụ Bí thư Tỉnh ủy, đồng chí đã cùng góp sức chỉ đạo, điều hành, đưa kinh tế An Giang tăng trưởng qua từng năm, phù hợp với nguồn lực của địa phương; tháo gỡ các “điểm nghẽn” trong thu hút đầu tư; thu hút một số doanh nghiệp lớn đăng ký đầu tư lĩnh vực bất động sản, thương mại dịch vụ, công nghiệp năng lượng tái tạo; thực hiện đồng bộ việc nâng cấp, chỉnh trang đô thị trung tâm với xây dựng nông thôn mới vượt tiến độ đề ra. Nhiều dự án lớn, trọng điểm được thực hiện trên địa bàn tỉnh, đáp ứng kỳ vọng của người dân. Với những điều đã làm được, đồng chí Võ Thị Ánh Xuân được tín nhiệm, giao phó trọng trách cao hơn, tô đậm thêm truyền thống cách mạng của quê hương An Giang, xứng đáng với tấm gương tiền nhân - Chủ tịch Tôn Đức Thắng.

Kỳ tiếp xúc, gặp gỡ trước kỳ họp Quốc hội của Đoàn đại biểu Quốc hội (ĐBQH) tỉnh An Giang với lãnh đạo UBND tỉnh và các sở, ban, ngành lần sau cùng của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV vào tháng 3-2021, đồng chí Võ Thị Ánh Xuân, với tư cách Trưởng đoàn ĐBQH, Bí thư Tỉnh ủy, đã  chia sẻ rất sâu về câu chuyện nâng cao vai trò của “tư lệnh ngành” - người đứng đầu đơn vị trong tỉnh: “Tôi mong rằng, tất cả phải có tâm thế mới, động lực mới, tầm nhìn xa hơn, rộng hơn, thoáng hơn, mới có thể theo kịp yêu cầu. Chúng ta đặt ra mục tiêu cho tỉnh là đến 2025 phải đạt “tốp đầu” ĐBSCL và mức trung bình cả nước. Giờ chúng ta đang ở đâu? Nếu không thay đổi tâm thế, không có động thái cụ thể, thì không thể đạt được mục tiêu. Mỗi người phải tự tạo áp lực cho mình, cho bộ máy của mình; đổi mới phương pháp làm việc, khả năng thích ứng cao với sự biến đổi rất nhanh chóng của thế giới và trong nước”.

Đồng chí Võ Thị Ánh Xuân trao quà Tết cho người dân TP. Long Xuyên

Ngoài việc “truyền lửa” cho người ở lại, hôm ấy, đồng chí Võ Thị Ánh Xuân còn gửi gắm tâm tình của bản thân: “Dù ở vị trí nào, tôi sẽ luôn cố gắng hết mình, để làm sao đóng góp cho sự phát triển của quê hương, xứng đáng với tất cả những tâm huyết, trí tuệ, tình cảm đã được mọi người kỳ vọng, gửi gắm”. Lời hứa ấy như một “áp lực” đồng chí tự đặt ra cho mình, như cách bày tỏ tình cảm và trách nhiệm của người con An Giang - người đang bắt đầu một tâm thế mới, động lực mới!

GIA KHÁNH/AGO

TrueChính trị
Tóm tắt tiểu sử đồng chí Võ Thị Ánh Xuân - Phó Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam TinTóm tắt tiểu sử đồng chí Võ Thị Ánh Xuân - Phó Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam /Imagesnews/2021-04/Vo-Thi-Anh-Xuan-c_Key_07042021092101.jpg
06/04/2021 9:00 CHYesĐã ban hành

(TUAG)- Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa XIV, chiều 06/4, dưới sự điều hành của Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ, với 93,13% đại biểu có mặt tán thành, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Nghị quyết bầu Phó Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam đối với bà Võ Thị Ánh Xuân. Cổng Thông tin điện tử Đảng bộ An Giang trân trọng giới thiệu tóm tắt tiểu sử đồng chí Võ Thị Ánh Xuân:


Đồng chí Võ Thị Ánh Xuân - Phó Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

 - Họ và tên : VÕ THỊ ÁNH XUÂN

- Ngày sinh: 08/01/1970   -  Nam/Nữ: Nữ   -   Dân tộc: Kinh.

- Quê quán: Xã Thới Sơn, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang.

- Ngày vào Đảng: 20/12/1994    -   Ngày chính thức: 20/12/1995.

- Trình độ được đào tạo:

+ Giáo dục phổ thông: 12/12.

+ Chuyên môn nghiệp vụ: Cử nhân Khoa học, ngành Sư phạm Hóa học; Thạc sỹ chuyên ngành Quản lý công.

+ Lý luận chính trị: Cử nhân.

+ Ngoại ngữ: Anh văn B1.

- Khen thưởng: Bằng khen Thủ tướng Chính phủ năm 2009, Huân chương Lao động hạng Ba năm 2015; Huân chương lao động hạng Nhì năm 2020.

- Kỷ luật: Không.

- Uỷ viên dự khuyết Trung ương Đảng khóa XI.

- Uỷ viên Trung ương Đảng khóa XII, XIII.

- Đại biểu Quốc hội khóa XIV.

- Phó Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

TÓM TẮT QUÁ TRÌNH CÔNG TÁC

9/1992 - 7/1996:

Giáo viên Trường Phổ thông Trung học Mỹ Thới, Thị xã Long Xuyên, tỉnh An Giang.

8/1996 - 7/2001:

Chuyên viên nghiên cứu tổng hợp, Văn phòng Tỉnh ủy An Giang.

8/2001 - 8/2010:

Ủy viên Ban Thường vụ, Phó Chủ tịch, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh An Giang (Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh từ tháng 12/2005 đến tháng 10/2010).

8/2010 - 10/2010:

Phó Trưởng Ban Dân vận Tỉnh ủy An Giang.

11/2010 - 01/2011:

Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Bí thư Thị ủy Tân Châu, tỉnh An Giang.

02/2011 - 01/2013

Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Bí thư Thị ủy Tân Châu.

02/2013 - 11/2013:

Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang.

12/2013 - 01/2016:

Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Bí thư Tỉnh ủy An Giang, Bí thư Tỉnh ủy An Giang.

01/2016 - 7/2016:

Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy An Giang.

Từ 7/2016 đến nay:

Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy. Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội khóa XIV tỉnh An Giang. 

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Từ 06/4/2021

Tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa XIV được bầu làm Phó Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

TrueChính trị
Bí thư Tỉnh ủy An Giang được giới thiệu để bầu làm Phó Chủ tịch nướcTinAdminBí thư Tỉnh ủy An Giang được giới thiệu để bầu làm Phó Chủ tịch nước/Imagesnews/2021-04/Vo-Thi-Anh-Xuan-c_Key_06042021153602.jpg
06/04/2021 10:00 SAYesĐã ban hành

(TUAG)- Theo chương trình kỳ họp, sáng 6/4, Quốc hội thực hiện quy trình miễn nhiệm chức Phó Chủ tịch nước đối với bà Đặng Thị Ngọc Thịnh. Quốc hội cũng tiến hành các thủ tục miễn nhiệm một số ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm một số Ủy ban của Quốc hội, Tổng Thư ký Quốc hội, Tổng kiểm toán Nhà nước.

Sau khi hoàn tất các bước, Quốc hội biểu quyết thông qua các Nghị quyết về việc miễn nhiệm Phó Chủ tịch nước, một số ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm một số Ủy ban của Quốc hội, Tổng Thư ký Quốc hội, Tổng kiểm toán Nhà nước.

Bi-thu-ag-ctn.jpg

Đồng chí Võ Thị Ánh Xuân.

Tiếp đó, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc trình danh sách đề cử để Quốc hội bầu Phó Chủ tịch nước. Nhân sự được giới thiệu là Bí thư Tỉnh ủy An Giang Võ Thị Ánh Xuân.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội trình danh sách đề cử để Quốc hội bầu một số ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Buổi chiều, Quốc hội tiến hành các bước bầu Phó Chủ tịch nước, một số ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội bằng hình thức bỏ phiếu kín.

Sau khi có kết quả kiểm phiếu,Quốc hội thảo luận, biểu quyết thông qua các Nghị quyết bầu Phó Chủ tịch nước, một số ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tiếp đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội trình danh sách đề cử để Quốc hội bầu Chủ nhiệm một số Ủy ban của Quốc hội, Tổng Thư ký Quốc hội, Tổng kiểm toán Nhà nước.

Quốc hội tiến hành quy trình để sáng 7/4, Quốc hội bầu các nhân sự này bằng hình thức bỏ phiếu kín.

Tóm tắt quá trình công tác:

Đồng chí Võ Thị Ánh Xuân sinh ngày 08/01/1970;

Quê quán: Xã Thới Sơn, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang;

Trình độ chuyên môn: Cử nhân Sư phạm Hóa học; Cử nhân Chính trị; Thạc sĩ Quản lý công.

Đồng chí trưởng thành từ một giáo viên phổ thông trung học. Sau đó, đồng chí làm Chuyên viên Nghiên cứu - tổng hợp, Văn phòng Tỉnh ủy An Giang.

Từ năm 2001 - 2010, đồng chí kinh qua các vị trí: Ủy viên Ban Thường vụ, Phó Chủ tịch, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh An Giang; Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, Phó Trưởng Ban Dân vận Tỉnh ủy; Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy và Bí thư Thị ủy Tân Châu, tỉnh An Giang.

Tại Đại hội XI của Đảng vào tháng 01/2011, đồng chí được bầu làm Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Sau đó, đồng chí giữ chức Phó Chủ tịch UBND tỉnh, rồi Phó Bí thư Tỉnh ủy An Giang.

Ngày 02/10/2015, Bộ Chính trị điều động, phân công và chỉ định đồng chí đảm nhận chức Bí thư Tỉnh ủy An Giang nhiệm kỳ 2010 - 2015. Ngay sau đó, Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ X, nhiệm kỳ 2015 - 2020 bầu đồng chí giữ chức Bí thư Tỉnh ủy An Giang.

Tháng 01/2016, tại Đại hội XII của Đảng, đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương khóa XII. Sau đó, đồng chí trúng cử đại biểu Quốc hội (khóa XIV) và làm Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh An Giang.

Tháng 9/2020, tại Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XI, nhiệm kỳ 2020 - 2025, đồng chí tái cử Bí thư Tỉnh ủy An Giang.

Tại Đại hội XIII của Đảng vào tháng 01/2021 vừa qua, đồng chí tái cử vào Trung ương khóa XIII và tiếp tục giữ chức Bí thư Tỉnh ủy An Giang nhiệm kỳ 2020 - 2025 cho đến nay.

BBT

TrueChính trị
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính phát biểu nhậm chứcTinQ.HThủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính phát biểu nhậm chức/Imagesnews/2021-04/TTg-Pham-Minh-Chinh_Key_06042021083645.jpg
06/04/2021 6:00 SAYesĐã ban hành

(TUAG)- Ngày 05/4/2021, tại Hội trường Diên Hồng, Nhà Quốc hội, sau khi Tuyên thệ, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã có bài phát biểu trước Quốc hội và Nhân dân cả nước. Cổng TTĐT Đảng bộ An Giang trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính.

TTg-Pham-Minh-Chinh.jpg Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tuyên thệ

Theo quy định của Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ sau khi được Quốc hội bầu sẽ tiến hành nghi thức Lễ tuyên thệ. Lời tuyên thệ của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính:

“DƯỚI CỜ ĐỎ SAO VÀNG THIÊNG LIÊNG CỦA TỔ QUỐC, TRƯỚC QUỐC HỘI, ĐỒNG BÀO VÀ CỬ TRI CẢ NƯỚC, TÔI – THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM, XIN TUYÊN THỆ: TUYỆT ĐỐI TRUNG THÀNH VỚI TỔ QUỐC, VỚI NHÂN DÂN, VỚI HIẾN PHÁP NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM, NỖ LỰC PHẤN ĐẤU HOÀN THÀNH TỐT NHIỆM VỤ ĐƯỢC ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VÀ NHÂN DÂN GIAO PHÓ”.

Thu-tuong-Pham-Minh-Chinh.jpg

Phát biểu sau lễ tuyên thệ nhậm chức, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính.

Kính thưa Quốc hội!

Kính thưa đồng chí Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ướng Đảng; các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận tổ quốc Việt Nam!

Kính thưa các vị đại biểu Quốc hội và các vị khách quý!

Thưa toàn thể đồng bào, đồng chí và cử tri cả nước!

Cảm ơn Quốc hội đã tín nhiệm bầu tôi giữ chức Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hoà XHCN Việt Nam. Đây là vinh dự đối với cá nhân tôi, đồng thời cũng là trách nhiệm rất nặng nề mà Đảng, Nhà nước, và Nhân dân tin tưởng giao phó.

Nhân dịp này, cho phép tôi xin tỏ lòng thành kính, biết ơn sâu sắc đến Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, các đồng chí lãnh đạo tiền bối, các bậc lão thành cách mạng; các anh hùng, liệt sỹ, các mẹ Việt Nam anh hùng, các thương, bệnh binh đã có nhiều cống hiến, hy sinh, đóng góp to lớn cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Tôi nhận thức sâu sắc rằng, Chính phủ và hoạt động của Chính phủ có vị trí, vai trò rất quan trọng trong công cuộc xây dựng, phát triển đất nước; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội, tuân thủ Hiến pháp và Pháp luật.

Hơn 75 năm qua, đặc biệt là trong 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Chính phủ qua các nhiệm kỳ đã đạt được những thành tựu to lớn; đúc kết nhiều bài học kinh nghiệm quý báu đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ nhiệm kỳ này đã tiếp tục khơi dậy tinh thần đổi mới sáng tạo, ý chí khát vọng vươn lên và đạt được nhiều kết quả quan trọng, toàn diện trên các lĩnh vực; trong đó, công tác phòng, chống đại dịch COVID-19 đã triển khai rất hiệu quả và được nhân dân, cộng đồng quốc tế ủng hộ, ngưỡng mộ và đánh giá cao.

Trước yêu cầu tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nhận rõ trách nhiệm của mình phải kế thừa và phát huy những thành tựu, kết quả đạt được qua các thời kỳ; tiếp tục đổi mới, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, hiệu quả hơn nữa trong thời gian tới. Cụ thể:

Một là, xây dựng chương trình hành động để cụ thể hóa thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, trong đó tập trung vào 6 nhiệm vụ trọng tâm và đột phá chiến lược. Tiếp tục hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách, nhất là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế. Tăng cường phân cấp, phân quyền, đồng thời xác định rõ trách nhiệm tập thể, cá nhân để phát huy tính chủ động, sáng tạo của các cấp, các ngành.

Hai là, tiếp tục đẩy mạnh Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân; đề cao tinh thần thượng tôn pháp luật; tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong bộ máy hành chính nhà nước và toàn xã hội. Cải cách mạnh mẽ nền hành chính quốc gia trên cơ sở phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, dựa vào Nhân dân trong giám sát và kiểm soát quyền lực; chủ động phòng ngừa, kiên quyết, kiên trì đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực bằng thể chế, cơ chế, giải pháp mạnh mẽ, chặt chẽ, hiệu quả. Đồng thời, có cơ chế khuyến khích và bảo vệ người đổi mới sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

Ba là, quản lý, huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực để phát triển đất nước; đẩy mạnh phát triển hạ tầng chiến lược có trọng tâm, trọng điểm; coi trọng chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số dựa trên nền tảng phát triển khoa học và công nghệ. Tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các cấp, các ngành, các địa phương, doanh nghiệp và người dân; tạo môi trường, điều kiện thuận lợi hơn nữa để sản xuất kinh doanh phát triển; chủ động phòng, chống và có giải pháp hiệu quả để khắc phục những tác động tiêu cực của thiên tai, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, dịch bệnh, đặc biệt là đại dịch COVID-19.

Bốn là, kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự, an toàn xã hội. Tiếp tục thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa vì hòa bình, hợp tác và phát triển; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả, là thành viên có trách nhiệm và có uy tín với cộng đồng quốc tế.

Năm là, xây dựng cơ chế, chính sách, điều kiện để phát huy giá trị văn hóa và con người Việt Nam trở thành nguồn lực, động lực quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội; có giải pháp hiệu quả nâng cao chất lượng y tế, giáo dục và đào tạo; coi trọng phát triển nguồn lực chất lượng cao, thu hút và trọng dụng nhân tài. Phát triển hệ thống an sinh xã hội toàn diện, trong đó quan tâm, chú ý hơn đến vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và đồng bào dân tộc thiểu số, các đối tượng yếu thế trong xã hội. Chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân, để mỗi người dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, an toàn, văn minh.

Để hoàn thành nhiệm vụ được giao, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ luôn chấp hành sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương, mà thường xuyên, trực tiếp là Bộ Chính trị, Ban Bí thư và của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Đồng thời, tôi mong nhận được sự ủng hộ, phối hợp, giám sát của Quốc hội, của Chủ tịch nước, các cơ quan Tư pháp, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị-xã hội và các vị đại biểu Quốc hội; sự giúp đỡ quý báu của các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các đồng chí lão thành cách mạng; sự quan tâm, phối hợp, ủng hộ của các cơ quan truyền thông báo chí, của cử tri, nhân sĩ, trí thức, đồng bào ta ở trong nước và ở nước ngoài.

Với trọng trách mới được giao, tôi nguyện sẽ mang hết sức mình, vượt qua mọi khó khăn, thách thức; kế thừa, phát huy truyền thống và kinh nghiệm quý báu của các đồng chí Thủ tướng qua các thời kỳ; nỗ lực cùng các đồng chí Thường trực Chính phủ, thành viên Chính phủ đoàn kết, liêm chính, hành động quyết liệt, hiệu quả, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân, tất cả vì lợi ích của Đảng, của quốc gia, dân tộc.

Tôi trân trọng cảm ơn đồng chí Nguyễn Xuân Phúc - Thủ tướng tiền nhiệm và các thành viên Chính phủ, những người đã đóng góp rất tích cực, hiệu quả cho hoạt động của Chính phủ thời gian qua và sẽ luôn sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm, giúp đỡ đối với bản thân tôi.

Kính thưa Quốc hội!

Một lần nữa, với tất cả tình cảm chân thành, sâu sắc nhất, tôi xin cảm ơn các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; các vị đại biểu Quốc hội và các vị khách quý; cảm ơn đồng bào và cử tri cả nước. Chúc kỳ họp thứ 11 Quốc hội khóa XIV thành công tốt đẹp!

Xin trân trọng cảm ơn!

Tóm tắt tiểu sử:

Ông Phạm Minh Chính sinh ngày 10/12/1958; quê ở huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa; là Phó Giáo sư, Tiến sĩ Luật, Kỹ sư Xây dựng. Ông là Ủy viên Bộ Chính trị khóa XII, XIII; Bí thư Trung ương Đảng khóa XII; Ủy viên Trung ương Đảng khóa XI, XII, XIII; Trưởng ban Tổ chức Trung ương khóa XII; Đại biểu Quốc hội khóa XIV.

Bắt đầu quá trình công tác, năm 1984, ông Phạm Minh Chính được phân công làm Nghiên cứu viên Khoa học Cục Nghiên cứu Khoa học, Kinh tế và Kỹ thuật, Bộ Nội vụ. Năm 1989, ông là Bí thư thứ nhất tại Đại sứ quán CHXHCN Việt Nam tại Rumani.

Năm 2006 ông được bổ nhiệm giữ chức Phó Tổng cục trưởng Bộ Công an.

Tháng 4/2007, ông được thăng cấp bậc hàm Thiếu tướng Công an nhân dân; tháng 12/2009, phụ trách Tổng cục Hậu cần-Kỹ thuật, Bộ Công an. Tháng 2/2010, ông được bổ nhiệm giữ chức Tổng cục trưởng Tổng cục Hậu cần-Kỹ thuật, Bộ Công an. Tháng 3/2010, ông được phong học hàm Phó Giáo sư chuyên ngành Luật; tháng 7/2010, được thăng cấp bậc hàm Trung tướng.

Tháng 8/2010, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Thứ trưởng Bộ Công an. Tháng 1/2011, ông được bầu làm Ủy viên Trung ương Đảng khóa XI. Từ tháng 8/2011 đến tháng 4/2015, ông được Bộ Chính trị điều động, phân công tham gia Ban Chấp hành, Ban Thường vụ và giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ninh khóa XIII, nhiệm kỳ 2010-2015.

Từ tháng 4/2015 đến tháng 1/2016, Bộ Chính trị điều động, phân công ông Phạm Minh Chính giữ chức vụ Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương

Tháng 1/2016, tại Đại hội Đảng lần thứ XII, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Tại Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, ông được bầu vào Bộ Chính trị.

Tháng 2/2016, Bộ Chính trị quyết định phân công ông Phạm Minh Chính tham gia Ban Bí thư Trung ương Đảng, giữ chức vụ Trưởng Ban Tổ chức Trung ương.

Ngày 30/1/2021, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, ông được bầu là Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIII, nhiệm kỳ 2021-2026. Ngày 31/1/2021, tại Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, ông được bầu vào Bộ Chính trị khóa XIII, nhiệm kỳ 2021-2026.


Cổng Thông tin điện tử ĐBAG

TrueChính trị
Toàn văn bài phát biểu nhậm chức của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc TinAdminToàn văn bài phát biểu nhậm chức của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc /Imagesnews/2021-04/CTN-Nguyen-XuanPhuc_Key_05042021140448.jpg
05/04/2021 11:00 SAYesĐã ban hành

​(TUAG)- Sáng ngày 05/4/2021, tại Hội trường Diên Hồng, Nhà Quốc hội, sau khi Nghị quyết bầu Chủ tịch nước được Quốc hội thông qua, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đã Tuyên thệ nhậm chức. Sau Lễ Tuyên thệ, Chủ tịch nước đã có bài phát biểu trước Quốc hội và Nhân dân cả nước. Cổng TTĐT Đảng bộ An Giang trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc:

CTN-nhamchuc.jpg

Toàn cảnh Lễ tuyên thệ nhậm chức Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Kính thưa các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam!

Kính thưa Quốc hội, các đại biểu, khách quý, đồng bào, chiến sĩ và cử tri cả nước!

Tôi xin trân trọng cảm ơn Quốc hội, các đại biểu đại diện cho cử tri cả nước, đã tín nhiệm, bầu tôi giữ chức Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tôi xin chân thành cảm ơn đồng chí Tổng Bí thư, nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, cùng với các vị lãnh đạo tiền nhiệm về những đóng góp lớn lao cho Đảng, Nhân dân và đất nước chúng ta. Kinh nghiệm cùng với những thành quả tốt đẹp mà các đồng chí lãnh đạo tiền nhiệm để lại, chính là hành trang quý báu để tôi tiếp nối và phấn đấu hoàn thành tốt trọng trách của mình trên cương vị Chủ tịch nước.

CTN-Nguyen-Xuan-Phuc.jpg

Đặc biệt, trong không khí trang nghiêm của hội trường Diên Hồng, tôi xin được bày tỏ lòng thành kính, biết ơn sâu sắc những cống hiến, hy sinh to lớn của các thế hệ cha ông và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Sự nghiệp của Người luôn soi đường cho chúng ta đi. Những gì Cha Ông ta, các bậc tiền nhân làm được, luôn luôn là niềm tin, niềm cảm hứng cho quyết tâm, hành động của chúng ta hôm nay và cả thế hệ mai sau vì mục tiêu xây dựng Nhà nước Việt Nam pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của dân, do dân và vì dân, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, lấy lợi ích của quốc gia, dân tộc và nhân dân là mục tiêu cao nhất.

Kính thưa Quốc hội,

Hôm nay, dưới lá cờ đỏ sao vàng, tôi xin hứa trước trước Quốc hội và Nhân dân cả nước, sẽ không ngừng tu dưỡng đạo đức, phẩm chất, tận tâm, tận lực, trách nhiệm, cần kiệm, liêm chính, chí công, vô tư; thực hiện đầy đủ nhiệm vụ và quyền hạn của Chủ tịch nước được hiến pháp và pháp luật quy định; phối hợp, cộng tác chặt chẽ với Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; không ngừng học tập và làm theo tư tưởng, phong cách, đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh; gần gũi, lắng nghe, tiếp thu ý kiến, nguyện vọng của Nhân dân; đồng thời mong nhận được sự ủng hộ, hợp tác, giúp đỡ của cả hệ thống chính trị, đồng bào, chiến sỹ cả nước, đồng bào ta ở nước ngoài để hoàn thành tốt nhất trọng trách được giao.

Kính thưa Quốc hội,

Trong toàn bộ nhiệm kỳ vừa qua, con tàu Việt Nam ta đã vượt qua một hải trình dồn dập, đầy bão tố; từ bất ổn kinh tế thế giới đến đại dịch COVID-19 và thiên tai, bão lũ liên tiếp tác động rất nặng nề đến sự phát triển của đất nước, song dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, điều hành quyết liệt, sát sao của Chính phủ, sự phối hợp và giám sát chặt chẽ của Quốc hội và sự đoàn kết, đồng lòng và quyết tâm của cả hệ thống chính trị, sự ủng hộ của Nhân dân, nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, toàn diện trên mọi lĩnh vực,   trở thành điểm sáng của khu vực và thế giới trong thực hiện “mục tiêu kép”, được bạn bè quốc tế đánh giá cao; tô đậm thêm những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của chặng đường 35 năm đổi mới đất nước, khẳng định bản chất tốt đẹp của chế độ ta.

CTN-Nguyen-XuanPhuc.jpg

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc phát biểu ngay sau lễ Tuyên thệ nhậm chức.

Có thể nói những thành tựu chúng ta giành được không chỉ được đo bằng con số GDP được tạo ra mà còn là những giá trị xã hội vô hình không thể tính hết, đó còn là tinh thần đoàn kết, thi đua yêu nước, lòng quả cảm nhân hậu và tình người, sự bền bỉ và ái quốc trong Nhân dân chúng ta. Không chỉ tài lực, vật lực mà còn cả thiên thời, địa lợi và nhân hòa cùng tạo nên những nguồn sức mạnh cộng hưởng đem lại sự phát triển bền vững, thịnh vượng cho đất nước chúng ta.

Từ những bài học từ lịch sử, mỗi khi đất nước ta gặp khó khăn, thách thức, luôn có nguồn sức mạnh rất lớn đến từ tinh thần đoàn kết, ý chí độc lập, sức mạnh của sự chính nghĩa, sự khiêm nhường và lòng yêu chuộng hòa bình của triệu triệu người dân. Cũng chính nhờ vậy, chúng ta đã nhận được nhiều sự ủng hộ quý báu, sự hợp tác, hiểu biết, xẻ chia từ các quốc gia, bạn bè trong khu vực và trên thế giới.

Kính thưa Quốc hội,

Vinh dự mà chúng ta có được hôm nay là vinh dự trong trách nhiệm gắn với hành động và lập trường vững chắc - những điều đã hun đúc nên ý chí, tính cách và tinh thần cách mạng Việt Nam.

Thực tế, khó khăn không phải là thứ sinh ra để làm chùn bước chân của chúng ta, nó là bài kiểm tra tinh thần nhẫn nại và ý trí vươn lên của chúng ta, làm cho kết quả đạt được của chúng ta trở nên tốt đẹp hơn và ý nghĩa sâu sắc hơn, xứng đáng là món quà truyền thừa cho con cháu chúng ta trong tương lai. Như Bác Hồ đã từng dạy “Dân tộc ta là con Rồng, cháu Tiên, có nhiều người tài giỏi đánh Bắc, dẹp Nam, yên dân, trị nước tiếng để muôn đời”. Lịch sử vẻ vang dựng nước, giữ nước của dân tộc ta ở giai đoạn nào, thời kỳ nào cũng thể hiện khát vọng phát triển, lòng tự hào, tự cường dân tộc; trong hàng nghìn năm lịch sử hào hùng đó, các thế hệ tổ tiên, cha ông ta đã hun đúc ý chí quật cường, lòng yêu nước nồng nàn, sẵn sàng vượt mọi hy sinh, gian khổ để giữ gìn non sông bờ cõi, xây dựng cơ đồ, tiềm lực, vị thế đất nước.

Trên chuyến hải trình sắp tới, con tàu Việt Nam ta sẽ còn gặp phải những con sóng dữ và nhiều ngọn gió lớn, đó là khi có cả những thời cơ và thách thức đan xen. Tôi luôn tin rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, với bản lĩnh và trí tuệ của con người Việt Nam, với sức mạnh của tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, sự ủng hộ của bạn bè quốc tế, đất nước ta nhất định sẽ vượt qua mọi sóng to, gió cả để đến bến bờ bình an và hạnh phúc, thực hiện thắng lợi các mục tiêu mà Đại hội XIII của Đảng, trong đó tập trung nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, nâng cao niềm tin của người dân đồng lòng hành động xây dựng nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Việt Nam là đất nước đa dạng với nhiều dân tộc anh em, nhưng chúng ta có chung một trái tim, một mái nhà, một lịch sử vẻ vang và một sứ mệnh vinh quang. Khát vọng về một nước Việt Nam hùng cường 2045 “sánh vai cùng các cường quốc năm châu” như ước nguyện của Bác Hồ và tinh thần Đại hội Đảng XIII đề ra, đó không phải là một món quà có sẵn vào năm 2045, mà đó là mục tiêu cao cả mà chúng ta hôm nay và những thế hệ tiếp theo phải nỗ lực phấn đấu để giành được. Cha ông ta đã làm nên những trang sử hào hùng, được viết bằng mồ hôi và xương máu của biết bao thế hệ. Chúng ta có niềm tin mãnh liệt rằng: tiếp nối truyền thống hào hùng sẽ có nhiều chương sử mới viết tiếp những kỳ tích tiến lên giàu mạnh, hùng cường của đất nước ta, và dân tộc ta.

Kính thưa Quốc hội,

Trong bài phát biểu ngắn này, tôi xin gửi những tình cảm và lòng kính trọng đến những người lính cụ Hồ dũng cảm, những chiến sỹ công an đang ngày đêm bảo vệ sự bình an cho nhân dân, sự bình yên nơi biên cương, hải đảo của Tổ quốc. Họ là những biểu tượng của lòng can đảm, của tinh thần cống hiến, phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân.

Xin gửi lời đến đồng bào cả nước và kiều bào ta ở nước ngoài: Đảng và Nhà nước ta luôn sát cánh cùng Nhân dân để mùa màng thêm bội thu, để sản xuất, kinh doanh luôn thành công, để những dòng sông luôn tuôn chảy mát lành, để những trẻ em luôn có những giấc mơ và hoài bão vươn xa, để những cụ già sống trọn phần đời thật ý nghĩa, hạnh phúc và để thúc đẩy tinh thần cho những con người đang khát khao cống hiến, sáng tạo.

Nhân dịp này, tôi xin được chuyển lời cảm ơn đến Nhân dân, Chính phủ và bè bạn quốc tế và vững mãi niềm tin về sự tiếp nối hợp tác, ủng hộ quý báu dành cho đất nước và con người Việt Nam; chúng tôi luôn là người bạn tốt, là đối tác tin cậy của tất cả các bạn.

Kính chúc các đồng chí lãnh đạo, nguyên Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đồng chí lão thành cách mạng, các vị đại biểu Quốc hội, các Mẹ Việt Nam anh hùng, các gia đình có công với đất nước, các vị khách quý sức khỏe, hạnh phúc.

Tôi may mắn và vinh dự được tiếp nối những thành quả quan trọng mà đồng chí Nguyễn Phú Trọng đã làm việc thời gian qua trên cương vị Chủ tịch nước, xin được học tập những kinh nghiệm quý báu, kế thừa và phát huy những thành tựu tốt đẹp mà Đồng chí cũng như các vị Lãnh đạo đi trước đã đạt được, để góp phần hoàn thành tốt những trọng trách lớn lao sắp tới.

Xin kính tặng đồng chí Nguyễn Phú Trọng Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương một bó hoa tươi thắm.

Chúc Kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa XIV thành công tốt đẹp.

Xin trân trọng cảm ơn Quốc hội.

Cổng Thông tin điện tử Đảng bộ tỉnh An Giang

TrueChính trị
Trường Chính trị Tôn Đức Thắng tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng dạy và học, xứng đáng là nơi hội tụ của tri thức, khát vọngTinNguyễn LamTrường Chính trị Tôn Đức Thắng tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng dạy và học, xứng đáng là nơi hội tụ của tri thức, khát vọng/Imagesnews/2021-04/Truong-TDT-dean04-3_Key_02042021141346.jpg
02/04/2021 2:00 CHYesĐã ban hành

(TUAG)- Sáng 02/4/2021, Thường trực Tỉnh ủy tổ chức Hội nghị sơ kết 05 năm thực hiện Đề án số 04-ĐA/TU, ngày 24/10/2014 của Tỉnh ủy về nâng cao chất lượng hoạt động Trường Chính trị Tôn Đức Thắng đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030.

 Truong-TDT-dean04-1.jpg

Quang cảnh hội nghị

Dự và chủ trì hội nghị có Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Lê Văn Nưng; Hiệu trưởng Trường Chính trị Tôn Đức Thắng Hồ Ngọc Trường.

Qua 05 năm triển khai thực hiện Đề án, chất lượng hoạt động của Trường Chính trị Tôn Đức Thắng đã có nhiều chuyển biến tích cực, sâu sắc và toàn diện. Vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý nhà nước các cấp đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ được tăng cường. Đảng ủy, Ban Giám hiệu Trường Chính trị Tôn Đức Thắng không ngừng nghiên cứu, cập nhật, quán triệt sâu sắc đến toàn thể cán bộ, giảng viên về các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị của Đảng. Cấp ủy các địa phương, cơ quan, đơn vị, đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy thường  xuyên quan tâm và chăm lo công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Đã phối hợp mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng theo yêu cầu người học và đào tạo theo đơn đặt hàng bằng nguồn kinh phí xã hội hóa; kết quả, từ năm 2015 đến năm 2020, trường đã thực hiện đào tạo 21 lớp trung cấp lý luận chính trị - hành chính, 16 lớp chuyên viên, phối hợp với Trung tâm ngoại ngữ Trường Đại học Cần Thơ mở 4 lớp bồi dưỡng tiếng Anh trình độ B1, phối hợp với Trường Đại học kinh tế TP.HCM mở lớp cao học quản lý kinh tế và Học viện khoa học xã hội mở lớp cao học chính sách công từ nguồn kinh phí của cơ quan, địa phương cử cán bộ đào tạo hoặc do người học tự chi trả.

Chất lượng giảng dạy và học tập tiếp tục được đổi mới, nâng cao, từ năm 2015 đến năm 2020, trường tổ chức thực hiện và liên kết đào tạo, bồi dưỡng 245 lớp với số lượng 23.160 học viên.

Công tác nghiên cứu khoa học và tổng kết thực tiễn có nhiều chuyển biến tích cực. Trong giai đoạn 2015 - 2020, trường đã tổ chức thực hiện 11 đề tài nghiên cứu khoa học, đa số các đề tài khoa học đều có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, có giá trị khoa học cao, đóng góp thiết thực cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của trường và góp phần tổng kết thực tiễn địa phương. Tổ chức thành công 26 cuộc hội thảo, tọa đàm khoa học, với 1.080 lượt bài viết tham gia.

Tổ chức bộ máy được kiện toàn, năng lực tổ chức quản lý và chất lượng đội ngũ giảng viên được nâng cao. Tổng số viên chức, người lao động của trường hiện có 47 người (gồm 07 lao động công nhật). Về trình độ chuyên môn, trường có 2 tiến sĩ, 23 thạc sỹ, 11 cử nhân, 3 trung cấp. Về lý luận chính trị, trình độ cử nhân 01 người, cao cấp 19 người, trung cấp 2 người, sơ cấp 6 người. Về ngạch giảng viên, có 7 giảng viên chính và 19 giảng viên. Hiện nay, số giảng viên có trình độ sau đại học là 23/26 người, chiếm 88,46%, trình độ cử nhân 3/26, chiếm 11,54%. Như vậy, xét về trình độ giảng viên, trường đã hoàn thành trước thời hạn 10 năm mục tiêu Đề án đề ra là “đến năm 2030 có đến 2/3 đội ngũ giảng viên của trường có trình độ sau đại học”.

Cơ sở vật chất, trang thiết bị, kỹ thuật được tăng cường đầu tư, từng bước đáp ứng tốt hơn nhu cầu giảng dạy, học tập, quản lý và sinh hoạt của học viên, tạo điều kiện cần thiết để xây dựng Trường Chính trị đạt chuẩn vào năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2030. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và các mặt công tác của trường được đẩy mạnh.

Truong-TDT-dean04-2.jpg 

Đồng chí Trình Lam Sinh - Tỉnh ủy viên, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy phát biểu tham luận

Trong thời gian tới trường sẽ tập trung hơn nữa việc đổi mới, nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập. Trước hết, tập trung rà soát, nghiên cứu đổi mới phương thức quản lý các mặt công tác của trường để nâng cao hiệu quả hoạt động đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị đặt ra trong tình hình mới. Tiếp tục đổi mới sâu sắc công tác quản lý đội ngũ cán bộ, giảng viên và học viên. Giữ vững sự tôn nghiêm, mô phạm và đạo đức nghề nghiệp trong môi trường giáo dục của Đảng. Những biểu hiện lệch lạc, tiêu cực trong giảng dạy, học tập và quản lý phải kịp thời ngăn chặn và đẩy lùi. Từng bước đổi mới mạnh mẽ, toàn diện mục tiêu, yêu cầu, nội dung chương trình, hình thức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Đặc biệt coi trọng việc giáo dục nhân cách, nâng cao bản lĩnh chính trị, lập trường tư tưởng, đạo đức cách mạng và rèn luyện tác phong chuẩn mực cho đội ngũ học viên.

Truong-TDT-dean04-3.jpg 

Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Lê Văn Nưng phát biểu kết luận hội nghị

Phát biểu kết luận hội nghị đồng chí Lê Văn Nưng - Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy đánh giá cao những nỗ lực của trường cũng như kết quả đạt được trong thời gian qua; trường có sứ mệnh đặc biệt quan trọng cho sự phát triển chung của tỉnh, đó là nơi đào tạo, bồi dưỡng cán bộ thường xuyên, nơi mà những cán bộ lãnh đạo của tỉnh đều trải qua thời gian nghiên cứu, học tập tại đây. Đồng chí cũng yêu cầu Đảng ủy, Ban Giám hiệu nhà trường là những người tài năng và đức độ, vì vậy phải rèn luyện thường xuyên để xứng đáng với vai trò dẫn dắt, tạo cảm hứng và tầm nhìn; cán bộ, giảng viên nhà trường phải tận tâm, rèn trí, chuẩn mực, sáng tạo…

Với vị trí, tầm vóc và sự trưởng thành không ngừng trong thời gian qua, vì vậy trong thời gian tới trường phải là trung tâm hội tụ của tri thức, khát vọng, nơi không những truyền thụ tri thức, tầm nhìn, chuyên môn, nghiệp vụ… mà còn là nơi truyền giáo triết lý nhân sinh, nhân cách sống nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ đủ tài năng, đức độ, góp phần đưa An Giang phát triển nhanh và bền vững xứng đáng là quê hương Bác Tôn anh hùng.

Nguyễn Lam

TrueĐưa Nghị quyết vào cuộc sống
1 - 30Next