Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksChính trị

Chào mừng quý vị đến với Cổng thông tin điện tử Đảng bộ tỉnh An Giang!
 
Chính trị
 
 
 
  
  
  
  
  
Tóm tắt
  
  
  
  
Nội dung
  
  
Phân loại
  
Phát biểu của Tổng Bí thư tại phiên khai mạc Hội nghị Trung ương 6, khóa XIIIBài viếtHT-TTPhát biểu của Tổng Bí thư tại phiên khai mạc Hội nghị Trung ương 6, khóa XIII/Imagesnews/2022-10/Khaimac-tw6-mg-0252_Key_04102022093842.jpg
04/10/2022 6:00 SAYesĐã ban hành

(TUAG)- Sáng 03/10, Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII chính thức khai mạc tại Thủ đô Hà Nội. Tại Hội nghị này, Trung ương sẽ xem xét, thảo luận, cho ý kiến về các báo cáo, đề án liên quan đến một số vấn đề lớn, rất cơ bản và quan trọng. Cổng TTĐT Đảng bộ An Giang trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu khai mạc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị.

***********

Kính thưa Trung ương,

Thưa các đồng chí tham dự Hội nghị,

Thực hiện Chương trình làm việc toàn khoá, hôm nay Ban Chấp hành (BCH) Trung ương Đảng khoá XIII của chúng ta bắt đầu họp Hội nghị lần thứ sáu để thảo luận, cho ý kiến về các báo cáo, đề án liên quan đến một số vấn đề lớn, rất cơ bản và quan trọng:

(1) Về tình hình kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước năm 2022, dự kiến Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, dự toán ngân sách nhà nước năm 2023 và Kế hoạch tài chính - ngân sách nhà nước 3 năm 2023 – 2025.

(2) Định hướng Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

(3) Tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

(4) Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong giai đoạn mới.

(5) Tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khoá X về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị; và một số vấn đề quan trọng khác, chủ yếu là về công tác cán bộ, công tác nhân sự.

Thay mặt Bộ Chính trị và Ban Bí thư, tôi xin nhiệt liệt hoan nghênh, chào mừng các đồng chí Uỷ viên BCH Trung ương Đảng và các đại biểu tham dự Hội nghị; xin gửi tới các đồng chí lời chào trân trọng, lời thăm hỏi chân tình và lời chúc tốt đẹp nhất.

Thưa các đồng chí,

Với tinh thần tiếp tục đổi mới, phát huy dân chủ, trí tuệ của Trung ương trong quá trình xem xét, thảo luận, quyết định các vấn đề quan trọng của Đảng và Đất nước, tôi xin có một số ý kiến có tính gợi mở, nêu vấn đề để thảo luận; mong được các đồng chí quan tâm.


Quang cảnh toàn hội nghị.

1. Về phát triển kinh tế - xã hội năm 2022 - 2023

Việc xem xét, đánh giá tình hình kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước năm 2022, dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước năm 2023 được đặt trong bối cảnh, tình hình thế giới đang có nhiều biến động nhanh chóng, phức tạp, khó lường, chưa từng có tiền lệ, vượt khỏi khả năng dự báo của các nước và các tổ chức quốc tế, đã ảnh hưởng tiêu cực đến việc triển khai thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế của nước ta.

Cuộc xung đột kéo dài tại Ukrainer, các lệnh trừng phạt của Mỹ và các nước Phương Tây đối với Nga; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn; các biện pháp phòng, chống dịch COVID-19 tại Trung Quốc; thiên tai, lũ lụt, hạn hán kéo dài trên diện rộng ở Trung Quốc, các nước EU,... đã làm cho chuỗi cung ứng bị gián đoạn, giá dầu thô, lương thực, thực phẩm và nhiều vật tư, nguyên liệu đầu vào tăng mạnh, lạm phát tăng cao đột biến ở hầu hết các quốc gia và đối tác lớn.

Ở trong nước, bên cạnh những thời cơ, thuận lợi, chúng ta tiếp tục phải đối mặt với những khó khăn, thách thức mới, nặng nề hơn: Phải tiếp tục xử lý những tồn tại, yếu kém vốn có của nền kinh tế, đã tích tụ từ lâu và trầm trọng hơn do tác động của đại dịch COVID-19; kiểm soát dịch COVID-19, phòng, chống dịch cúm A, sốt xuất huyết, đậu mùa khỉ châu Phi và các loại dịch bệnh, thiên tai, bão lũ diễn biến phức tạp, trái quy luật khác; giá cả hàng hoá, vật tư, nguyên liệu cho sản xuất, nhất là giá xăng dầu, chi phí đầu vào, vận tải tăng cao, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của nhiều doanh nghiệp, ngành, lĩnh vực và đời sống nhân dân...

Vì vậy, đề nghị Trung ương nghiên cứu thật kỹ Báo cáo, Tờ trình của Ban cán sự đảng Chính phủ và thực tế ở bộ, ngành, địa phương nơi công tác, tập trung thảo luận, phân tích kỹ những đặc điểm nổi bật của năm 2022, làm rõ những kết quả đã đạt được; những hạn chế, yếu kém còn tồn tại, những khó khăn, vướng mắc phải giải quyết, những thách thức phải vượt qua; chỉ ra những nguyên nhân khách quan, chủ quan và bài học kinh nghiệm; dự báo những khả năng, những tình huống sắp tới, trước hết là từ nay đến cuối năm 2022 và năm 2023, với tinh thần thật sự công tâm, khách quan, khoa học, toàn diện.

Chú ý đối chiếu với những mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra để vừa phòng, chống, kiểm soát có hiệu quả dịch bệnh, vừa phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội, nhất là ưu tiên kiểm soát lạm phát, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, đẩy mạnh phục hồi, phát triển sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng và tạo tiền đề cho phát triển nhanh, bền vững hơn trong những năm sắp tới.

Trên cơ sở nhận định, đánh giá đúng tình hình, phân tích rõ nguyên nhân, cần xác định trúng những quan điểm phát triển, tư tưởng chỉ đạo, mục tiêu tổng quát, một số chỉ tiêu cơ bản, quan trọng và những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cho năm 2023. Phải chăng sắp tới chúng ta vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức lớn hơn so với thời cơ, thuận lợi cho phát triển?

Ví dụ như: Trên thực tế tình hình thế giới, khu vực tiếp tục có những diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường, nhất là trong lĩnh vực tiền tệ, giá cả, thương mại và đầu tư, tạo áp lực lớn đối với nền kinh tế nước ta, cả trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Chúng ta vừa phải tiếp tục ứng phó với những tác động tiêu cực từ bên ngoài, vừa phải đẩy nhanh tiến độ xử lý những hạn chế, yếu kém và những khó khăn, thách thức từ nội tại của nền kinh tế.Áp lực lạm phát, lãi suất, tỉ giá và nguy cơ suy thoái của kinh tế thế giới vẫn là thách thức lớn nhất đối với nhiệm vụ ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế nước ta.

Hoạt động sản xuất, kinh doanh tuy đã phục hồi nhưng còn gặp nhiều khó khăn, chủ yếu do giá xăng dầu, biến động mạnh giá vật tư đầu vào, chi phí sản xuất tăng cao và thị trường xuất, nhập khẩu bị thu hẹp.Đầu tư công tiếp tục là điểm nghẽn, tỉ lệ giải ngân chưa có chuyển biến đáng kể.

Thị trường chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp, bất động sản vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro. Công tác tư tưởng, bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng đứng trước nhiều khó khăn, thách thức mới. Công tác phòng, chống dịch bệnh, chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân vẫn phải đối mặt với thực tế thiếu nhân lực, thuốc và vật tư y tế. Tình trạng dịch bệnh, thiên tai, bão lũ tiếp tục diễn biến phức tạp, bất thường. Đời sống của một bộ phận nhân dân, nhất là công nhân, lao động tự do ở nông thôn, miền núi, biên giới, hải đảo còn gặp nhiều khó khăn; công tác bảo đảm an sinh xã hội, giảm nghèo tiếp tục phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức mới...

Khaimac-tw6-mg-0253.jpg

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng cùng các lãnh đạo Đảng, Nhà nước dự khai mạc hội nghị.

2. Về định hướng Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050

Thực hiện Luật Quy hoạch được Quốc hội khoá XIV thông qua vào tháng 11-2017, thời gian qua Chính phủ đã sát sao chỉ đạo Bộ KH&ĐT chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành và địa phương trong cả nước khẩn trương, nghiêm túc nghiên cứu xây dựng dự thảo Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (các báo cáo dày khoảng 2.000 trang; tổng cộng có tới 7.000 trang tài liệu) để trình Quốc hội xem xét, quyết định trong thời gian sắp tới.

Thực hiện Quy chế làm việc của BCH Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư khoá XIII, Hội nghị của chúng ta cần xem xét, cho ý kiến chỉ đạo về định hướng quy hoạch tổng thể quốc gia do Ban cán sự đảng Chính phủ trình để chỉ đạo Chính phủ tiếp thu ý kiến của Trung ương, hoàn thiện Đề án Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, trình Quốc hội xem xét, quyết định theo thẩm quyền.

Nội dung của dự thảo Quy hoạch tổng thể quốc gia trình Quốc hội xác định định hướng phát triển các ngành, lĩnh vực và việc phân bố, tổ chức không gian các hoạt động kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường có tầm quan trọng cấp quốc gia, quốc tế và có tính liên vùng mang tính chiến lược trên toàn lãnh thổ quốc gia, bao gồm đất liền, các đảo, quần đảo, vùng biển, vùng trời của Tổ quốc.

Nội dung của Định hướng Quy hoạch tổng thể quốc gia trình Trung ương lần nàybao gồm những vấn đề thuộc về chủ trương, chính sách chỉ đạo việc xây dựng, hoàn thiện các quy hoạch phát triển nói chung và Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội quốc gia nói riêng; tập trung nhận định, đánh giá tình hình phát triển và tổ chức không gian phát triển của đất nước thời kỳ 2011 - 2020; các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo việc lập và tổ chức thực hiện Quy hoạch tổng thể quốc gia; những mục tiêu, chỉ tiêu chủ yếu cần phấn đấu để đạt được; và các định hướng lớn về phát triển và phân bố không gian phát triển các ngành, lĩnh vực chủ yếu; định hướng tổ chức không gian theo vùng, lãnh thổ; định hướng phát triển hệ thống đô thị, nông thôn; định hướng phát triển hệ thống cửa khẩu biên giới đất liền quốc gia,...

Đây là công việc lần đầu tiên chúng ta làm, rất mới, rất khó, chưa có kinh nghiệm, song rất quan trọng và cấp thiết, các bộ, các ngành, các địa phương trong cả nước hiện đang rất mong đợi.

Vì vậy, đề nghị các đồng chí cần tập trung nghiên cứu thật kỹ các tài liệu, thảo luận thật sôi nổi, sâu sắc những vấn đề nêu trong Tờ trình của Ban cán sự đảng Chính phủ, tạo sự thống nhất cao đối với dự thảo Kết luận của Trung ương về Định hướng Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, góp phần thiết thực cho việc lãnh đạo, chỉ đạo có hiệu quả việc xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện thật tốtQuy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 nói riêng và các quy hoạch phát triển của các bộ, ngành, địa phương trong cả nước nói chung.

3. Về tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045

Chúng ta đều đã biết, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá là một chủ trương lớn, là nhiệm vụ chiến lược, nhiệm vụ trung tâm, quan trọng hàng đầu của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã đề ra nhiệm vụ: "Đến giữa thế kỷ XXI, toàn Đảng, toàn dân ta phải ra sức phấn đấu xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng XHCN" trên cơ sở đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

Trong hơn 35 năm đổi mới, nhất là trong 10 năm vừa qua (2011 - 2021), toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã nỗ lực phấn đấu, không ngừng đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đạt được nhiều kết quả, thành tựu quan trọng, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở mức cao, đạt bình quân 6,17%/năm, chất lượng tăng trưởng được cải thiện, quy mô nền kinh tế tăng nhanh, cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động chuyển dịch tích cực với tỉ trọng đóng góp của công nghiệp và dịch vụ vào GDP đạt khoảng 72,7% năm 2020, đưa nước ta trở thành nước đang phát triển có mức thu nhập trung bình.

Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, chúng ta vẫn chưa thực hiện được mục tiêu trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Các đột phá chiến lược chưa có sự bứt phá. Tăng trưởng kinh tế không đạt được mục tiêu chiến lược đề ra, tốc độ có xu hướng giảm dần theo chu kỳ 10 năm. Nội lực của nền kinh tế còn yếu; năng lực độc lập, tự chủ thấp, còn phụ thuộc nhiều vào khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Năng suất lao động thấp và chậm được cải thiện. Khu vực kinh tế tư nhân trong nước chưa đáp ứng được vai trò là một động lực quan trọng thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá; doanh nghiệp nhà nước còn nhiều hạn chế.

Quá trình đô thị hoá cũng chưa đồng bộ, chưa thực sự gắn kết chặt chẽ với công nghiệp hoá, hiện đại hoá và xây dựng nông thôn mới. Các vấn đề về phát triển văn hoá, xã hội, con người, bảo vệ môi trường cũng còn nhiều hạn chế, bất cập, chưa đồng bộ với phát triển kinh tế...

Chính vì vậy, Đại hội XIII của Đảng đã xác định: Trong bối cảnh mới, để thực hiện được mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam "Là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao", đến năm 2045 "Trở thành nước phát triển, thu nhập cao", cần phải "Tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá trên nền tảng của tiến bộ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo".

Để quán triệt và triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, thời gian qua, Bộ Chính trị đã ráo riết chỉ đạo Ban Kinh tế Trung ương chủ trì cùng với các Ban, Bộ, Ngành Trung ương và các địa phương tổng kết lý luận và thực tiễn, nghiên cứu xây dựng Đề án trình Trung ương tại Hội nghị lần này xem xét, ban hành Nghị quyết về tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Đây là một công việc rất cơ bản, phạm vi rất rộng lớn, tính chất hết sức phức tạp, ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước, xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, hiện vẫn còn những vấn đề chưa thật rõ và không ít những ý kiến khác nhau, nhất là trong bối cảnh, tình hình trong nước và thế giới đã, đang và sẽ có nhiều thay đổi dưới tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Đề nghị các đồng chí Trung ương và các đồng chí tham dự hội nghị xuất phát từ thực tiễn, thảo luận, đánh giá một cách khách quan, khoa học về việc xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong thời gian qua, chỉ rõ những kết quả, thành tích đã đạt được; đồng thời phân tích sâu sắc những hạn chế, yếu kém còn tồn tại và nguyên nhân.

Từ đó, bám sát Văn kiện Đại hội XIII của Đảng và thực tế đất nước, xu thế phát triển trên thế giới, tập trung thảo luận, làm rõ, tạo sự thống nhất cao trong toàn Đảng, toàn dân về quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, mục tiêu và những nhiệm vụ, giải pháp lớn cần được triển khai thực hiện để tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Khaimac-tw6-mg-0254.jpg

Các đại biểu tham dự hội nghị. 

4. Về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong giai đoạn mới

Như chúng ta đều biết, Chính quyền Nhà nước là vấn đề cốt tử của mọi cuộc cách mạng. Khi chưa có chính quyền, Đảng Cộng sản phải lãnh đạo giành cho được chính quyền về tay nhân dân. Khi đã có chính quyền thì phải luôn luôn củng cố, giữ vững và tăng cường sức mạnh của chính quyền về mọi mặt. Đây là vấn đề hết sức nghiêm túc và hệ trọng.

Từ khi Nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà (nay là nước Cộng hoà XHCN Việt Nam) ra đời vào năm 1945 đến nay, nhất là trong hơn 35 năm đổi mới vừa qua, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và tiếp thu có chọn lọc những giá trị phổ quát của nhân loại về Nhà nước pháp quyền để xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam do Đảng Cộng sản lãnh đạo, phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước, và đã đạt được nhiều kết quả, thành tựu rất quan trọng.

Cụ thể là: Việc quản lý nhà nước bằng pháp luật được chú trọng và tăng cường; hệ thống pháp luật từng bước được xây dựng, bổ sung, sửa đổi và hoàn thiện phù hợp với yêu cầu của tình hình mới.

Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định, kế thừa những nội dung đúng đắn, tiến bộ của các bản Hiến pháp trước đó, đồng thời có những sửa đổi và bổ sung quan trọng, hoàn thiện thêm cơ cấu bộ máy nhà nước, nâng cao vai trò, trách nhiệm của Quốc hội, Chính phủ và hệ thống các cơ quan tư pháp, phát huy ngày càng đầy đủ cả ba quyền: Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp theo đúng quy định của Hiến pháp: Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước.

Dân chủ XHCN ngày càng được nhận thức đúng đắn hơn và phát huy mạnh mẽ hơn, coi đây là cốt lõi của vấn đề đổi mới hệ thống chính trị.

Về kinh tế, đó là quyền được tự do sản xuất kinh doanh ở tất cả các ngành nghề mà pháp luật không cấm; quyền sở hữu hợp pháp tài sản và quyền sử dụng đất được pháp luật bảo hộ; mọi tiềm năng, nhiệt tình, sáng tạo của các tầng lớp nhân dân được phát huy...

Về chính trị, đó là quyền dân chủ trong bầu cử, ứng cử, đề cử; trong thảo luận, đóng góp ý kiến xây dựng các dự án luật; là sinh hoạt dân chủ trong các cơ quan dân cử, các đoàn thể xã hội, trên các phương tiện thông tin đại chúng; là quyền con người, quyền công dân ngày càng được tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm tốt hơn...

Tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước được đổi mới và có những tiến bộ đáng kể. Quốc hội hoạt động ngày càng có chất lượng cao hơn, dân chủ hơn, thiết thực hơn. Tổ chức, hoạt động và điều hành của Chính phủ từng bước được đổi mới, tập trung vào công việc quản lý vĩ mô, đồng thời chỉ đạo tổ chức thực hiện tương đối sâu sát, nhanh nhạy.

Hoạt động của Viện kiểm sát và Toà án các cấp cũng có những bước tiến mới. Tổ chức, hoạt động của MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội có nhiều đổi mới, ngày càng khẳng định được vị trí, vai trò trong đời sống xã hội. Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước có nhiều đổi mới, từng bước được xác định rõ và cụ thể hơn, có chất lượng và hiệu quả cao hơn, tạo điều kiện cho việc kiện toàn, phát huy vai trò và hiệu lực quản lý của Nhà nước.

Tuy nhiên, bước vào giai đoạn phát triển mới, trước những yêu cầu và nhiệm vụ mới, Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định sự cần thiết phải "Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam"; coi đây "là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị" ở nước ta; đồng thời, đề ra nhiệm vụ tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong giai đoạn mới, trong đó có xác định những nhiệm vụ trọng tâm đến năm 2030, tập trung ưu tiên xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và cải cách hành chính, cải cách tư pháp.

Đề án, Tờ trình và dự thảo Nghị quyết trình Hội nghị Trung ương lần này đã được Ban Chỉ đạo xây dựng Đề án chuẩn bị rất công phu, nghiêm túc trên cơ sở 27 báo cáo chuyên đề tổng kết toàn diện cả về lý luận và thực tiễn xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam thời gian qua của các ban, bộ, ngành, cơ quan Trung ương; ý kiến tham gia tại 18 cuộc hội thảo, hội nghị, toạ đàm, ba Hội nghị lấy ý kiến các tỉnh uỷ, thành uỷ và Báo cáo tư vấn của Hội đồng Lý luận Trung ương.

Đây là vấn đề rất cơ bản, rộng lớn, quan trọng, nhưng cũng vô cùng phức tạp, nhạy cảm, hệ trọng, liên quan đến sự tồn vong của chế độ, sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước theo con đường XHCN mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn. Đề nghị các đồng chí Trung ương và các đồng chí tham dự hội nghị nghiên cứu thật kỹ các tài liệu, thảo luận, đánh giá một cách khách quan, khoa học về những kết quả, thành tựu đã đạt được; đồng thời phân tích sâu sắc những hạn chế, yếu kém còn tồn tại và nguyên nhân.

Từ đó, bám sát Cương lĩnh của Đảng, Hiến pháp của Nhà nước, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và thực tế đất nước, tập trung thảo luận làm rõ, tạo sự thống nhất cao trong toàn Đảng, toàn dân về quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, mục tiêu và những nhiệm vụ và giải pháp lớn cần được quán triệt và triển khai thực hiện để tạo sự chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa trong việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam do Đảng Cộng sản lãnh đạo; chú ý đến việc hoàn thiện đồng bộ, đầy đủ hệ thống pháp luật, vận hành thông suốt, thống nhất bộ máy nhà nước và các lĩnh vực của đời sống xã hội; phân công, phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan trong thực hiện quyền lực nhà nước; tăng cường kiểm soát quyền lực; đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách tư pháp; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức tinh gọn, liêm chính; phòng, chống có hiệu quả tham nhũng, tiêu cực.

Khaimac-tw6-mg-0255.jpg

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng cùng các lãnh đạo Đảng, Nhà nước dự khai mạc hội nghị. Ảnh: TTXVN

5. Về tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khoá X về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị

Thực hiện Chương trình làm việc toàn khoá và sự chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, thời gian qua Ban Chỉ đạo Trung ương tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khoá X về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị đã triển khai tổng kết Nghị quyết một cách nghiêm túc, bài bản, công phu, khoa học, có sự tham gia, phối hợp chặt chẽ, với tinh thần trách nhiệm cao của các ban, bộ, ngành Trung ương và các địa phương, các đồng chí lão thành cách mạng, các đồng chí nguyên lãnh đạo Đảng và Nhà nước.

Báo cáo tổng kết trình Trung ương tại Hội nghị lần này đã đánh giá một cách khách quan, toàn diện tình hình thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khoá X, chỉ ra những kết quả, thành tựu to lớn, toàn diện, rất ấn tượng đã đạt được; đồng thời, cũng thẳng thắn chỉ ra những hạn chế, yếu kém còn tồn tại và phân tích rõ nguyên nhân.

Từ đó, đề ra quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu và kiến nghị Trung ương xem xét ban hành Nghị quyết mới để tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo đổi mới, hoàn thiện phương thức lãnh đạo của Đảng, phát huy có hiệu quả sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị thật sự trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn phát triển mới.

Đây là một nội dung rất quan trọng của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện mà Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã đề ra. Đề nghị các đồng chí tập trung nghiên cứu, thảo luận, tạo sự thống nhất cao về đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khoá X và những quan điểm, mục tiêu và nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu được đề ra để đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.

Chú ý đến những nhiệm vụ, giải pháp mới, có tính đột phá, khả thi cao nhằm tiếp tục phát huy thật tốt những kết quả, thành tựu và bài học kinh nghiệm thành công đã đạt được; khắc phục triệt để những hạn chế, yếu kém còn tồn tại và nguyên nhân được rút ra trong quá trình tổng kết để sớm khắc phục những hạn chế, bất cập còn tồn tại như: Nhận thức lý luận về phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng còn có những vấn đề chưa thật rõ. Việc đổi mới, nâng cao chất lượng xây dựng, ban hành các nghị quyết của Đảng, thể chế hoá các chủ trương, đường lối của Đảng thành luật pháp, chính sách của Nhà nước chuyển biến chưa thật sự rõ nét; vẫn còn tình trạng chất lượng một số văn bản chưa sát thực tế; tổ chức thực hiện nghị quyết chưa nghiêm; cách thức tổ chức quán triệt nghị quyết còn ít đổi mới.

Việc hoàn thiện mô hình tổng thể tổ chức bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị; phân cấp, phân quyền, phân công, phối hợp giữa các cấp, các ngành; xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ công tác của các cơ quan, đơn vị thuộc hệ thống chính trị còn chậm và lúng túng, nhất là trong việc xử lý tình trạng không rõ ràng về quyền hạn, trách nhiệm giữa các cơ quan của Đảng và Nhà nước.

Một số cấp uỷ, tổ chức đảng chưa thực hiện nghiêm nguyên tắc của Đảng trong công tác lãnh đạo, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình; vẫn còn tình trạng bao biện, áp đặt, làm thay hoặc né tránh, sợ trách nhiệm, buông lỏng vai trò lãnh đạo của Đảng.

Công tác tổ chức, cán bộ và thực hiện trách nhiệm nêu gương của đảng viên có mặt còn hạn chế; chưa thật sự bảo đảm tính dân chủ, minh bạch, thiếu cơ chế phát hiện, bồi dưỡng và sử dụng, trọng dụng nhân tài; chưa kiểm soát tốt được quyền lực trong công tác cán bộ; một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp còn thiếu gương mẫu, ảnh hưởng xấu đến uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng.

Công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng tuy đã có nhiều đổi mới và có đột phá trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thời gian qua nhưng nhìn chung vẫn chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới; chất lượng, hiệu quả chưa đều ở các cấp, việc tự kiểm tra, giám sát còn nhiều hạn chế...

Thưa các đồng chí,

Có thể nói, Hội nghị Trung ương lần này là Hội nghị để chúng ta tiếp tục triển khai việc thực hiện nhiệm vụ quán triệt, thực hiện các nội dung, vấn đề lớn, cốt yếu của Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Hầu hết các vấn đề chúng ta cần bàn và quyết định đều rất cơ bản, quan trọng, nhưng cũng rất khó, phức tạp và nhạy cảm. Nhiều vấn đề đã có chủ trương, chính sách và đã được tiến hành từ lâu nhưng đến nay, bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém, cần tiếp tục được thực hiện ở tầm mức mới với những quyết tâm mới, quyết sách mới, nhằm đáp ứng yêu cầu của giai đoạn phát triển mới.

Vì vậy, đề nghị Trung ương và các đồng chí tham dự Hội nghị phát huy cao độ tinh thần trách nhiệm, thật sự dân chủ và đổi mới, tập trung nghiên cứu, thảo luận, đóng góp nhiều ý kiến có chất lượng, sâu sắc để hoàn thiện các báo cáo, đề án và xem xét, quyết định vào cuối kỳ họp.

Với tinh thần đó, tôi xin tuyên bố khai mạc Hội nghị lần thứ sáu BCH Trung ương Đảng khoá XIII. Chúc Hội nghị của chúng ta thành công tốt đẹp, và nhất định phải thành công tốt đẹp!

Xin trân trọng cảm ơn các đồng chí!

PV


TrueChính trị
Những nội dung chính của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương ĐảngTinH.TNhững nội dung chính của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng/SiteAssets/HN-BCHTW6-mg-0308.jpg
03/10/2022 4:00 CHNoĐã ban hành

(TUAG)- Hội nghị Trung ương lần thứ sáu nhằm hoàn thành về cơ bản việc triển khai nhiệm vụ quán triệt, thực hiện các nội dung, vấn đề lớn, cốt yếu của Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Sáng 3/10/2022, Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã khai mạc trọng thể tại Thủ đô Hà Nội.

HN-BCHTW6-mg-0308.jpg

Hội nghị Trung ương lần này nhằm hoàn thành về cơ bản việc triển khai nhiệm vụ quán triệt, thực hiện các nội dung, vấn đề lớn, cốt yếu của Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Hầu hết các vấn đề cần bàn và quyết định đều rất quan trọng, nhưng cũng rất khó, phức tạp và nhạy cảm. Nhiều vấn đề đã có chủ trương, chính sách và đã được tiến hành từ lâu nhưng đến nay, bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém, cần tiếp tục được thực hiện ở tầm mức mới với những quyết tâm mới, quyết sách mới, nhằm đáp ứng yêu cầu của giai đoạn phát triển mới.

Noidungchinh-HNTW6-info.jpg

TTXVN/Vietnam+

FalseChính trị
Ngày làm việc thứ nhất Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII TinP.NNgày làm việc thứ nhất Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII /SiteAssets/HN-BCHTW6-mg-0307.jpg
03/10/2022 3:00 CHNoĐã ban hành

​(TUAG)- Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã biểu quyết, quyết định thi hành kỷ luật Khai trừ Đảng đối với đồng chí Phạm Xuân Thăng; biểu quyết, thống nhất để 3 đồng chí: Nguyễn Thành Phong, Bùi Nhật Quang, Huỳnh Tấn Việt thôi tham gia Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII.

Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII đã khai mạc sáng ngày 03/10/2022 tại Thủ đô Hà Nội.

Buổi sáng, Ban Chấp hành Trung ương Đảng làm việc tại Hội trường. Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì, phát biểu khai mạc Hội nghị.

Đồng chí Nguyễn Xuân Phúc, Uỷ viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước thay mặt Bộ Chính trị điều hành phiên họp.

Đồng chí Võ Văn Thưởng, Uỷ viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư thay mặt Bộ Chính trị báo cáo về Chương trình Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII.

Sau Phiên khai mạc, Trung ương thảo luận và quyết định một số nội dung về công tác cán bộ, cụ thể như sau:

1. Trung ương cho ý kiến vào Tờ trình của Bộ Chính trị về việc xem xét, kỷ luật đồng chí Phạm Xuân Thăng, Uỷ viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh Hải Dương vì những vi phạm sau:

Đồng chí Phạm Xuân Thăng đã suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; vi phạm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước; vi phạm Quy định về những điều đảng viên không được làm và trách nhiệm nêu gương; gây hậu quả rất nghiêm trọng, làm thiệt hại lớn cho ngân sách của Nhà nước, nhân dân và xã hội; để xảy ra vụ án tham nhũng tại Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh; gây dư luận xấu, làm giảm uy tín của tổ chức đảng, chính quyền địa phương; đồng chí Phạm Xuân Thăng đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra, Bộ Công an quyết định khởi tố, bắt tạm giam.

Căn cứ nội dung, tính chất, mức độ, hậu quả của vi phạm; căn cứ quy định của Đảng, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã biểu quyết, quyết định thi hành kỷ luật Khai trừ Đảng đối với đồng chí Phạm Xuân Thăng.

HN-BCHTW6-mg-0307.jpg

Các đại biểu tại Hội nghị.

2. Căn cứ quyết định hiện hành, ý kiến của các cơ quan liên quan và chủ trương của Bộ Chính trị về bố trí công tác đối với cán bộ sau khi bị kỷ luật; trên cơ sở đề nghị của cấp uỷ, tổ chức đảng, ý kiến của các cơ quan chức năng và xem xét nguyện vọng của cán bộ; Ban Chấp hành Trung ương Đảng biểu quyết, thống nhất để 3 đồng chí: Nguyễn Thành Phong, Uỷ viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Kinh tế Trung ương; Bùi Nhật Quang, Uỷ viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam; Huỳnh Tấn Việt, Uỷ viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng uỷ Khối các cơ quan Trung ương thôi tham gia Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII.

Buổi chiều, Ban Chấp hành Trung ương Đảng làm việc tại tổ thảo luận về Đề án tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới./.

PV

FalseChính trị
Khai mạc Hội nghị Trung ương 6, khóa XIII TinĐảng Cộng sản VNKhai mạc Hội nghị Trung ương 6, khóa XIII /SiteAssets/Khaimac-tw6-mg-0251.jpg
03/10/2022 9:00 SAYesĐã ban hành

(TUAG)- Sáng 3/10, tại Trụ sở Trung ương Đảng đã diễn ra phiên khai mạc Hội nghị lần thứ 6, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì Hội nghị.

Khaimac-tw6-mg-0251.jpg

Toàn cảnh phiên Khai mạc.

Đồng chí Nguyễn Xuân Phúc, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước thay mặt Bộ Chính trị điều hành phiên khai mạc.

Tại Hội nghị lần này, Trung ương sẽ xem xét, thảo luận về các báo cáo, đề án liên quan đến một số vấn đề lớn, cơ bản và quan trọng về: Tình hình kinh tế-xã hội, ngân sách nhà nước năm 2022, dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, dự toán ngân sách nhà nước năm 2023 và kế hoạch tài chính-ngân sách nhà nước 3 năm 2023-2025; Định hướng quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn 2050. Tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2030, tầm nhìn 2045; Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới; Tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa X về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị và một số vấn đề quan trọng khác.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu khai mạc Hội nghị. (Ảnh: Phạm Cường) 

Phát biểu khai mạc Hội nghị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ, Hội nghị lần này là để chúng ta hoàn thiện về cơ bản việc triển khai thực hiện nhiệm vụ quán triệt, thực hiện các nội dung, vấn đề lớn, cốt yếu của Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Hầu hết các vấn đề chúng ta cần bàn và quyết định đều rất quan trọng nhưng cũng rất khó, phức tạp và nhạy cảm. Nhiều vấn đề đã có chủ trương, chính sách và đã được tiến hành từ lâu nhưng đến nay bên cạnh những kết quả đạt được còn không ít hạn chế, yếu kém cần tiếp tục được thực hiện ở tầm mức mới với những quyết tâm mới, quyết sách mới, nhằm đáp ứng yêu cầu của giai đoạn phát triển mới.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề nghị Trung ương và các đồng chí tham dự hội nghị phát huy cao độ tinh thần trách nhiệm, thật sự dân chủ và đổi mới, tập trung nghiên cứu thảo luận, đóng góp nhiều ý kiến có chất lượng, sâu sắc để hoàn thiện các báo cáo, đề án và xem xét quyết định vào cuối kỳ họp./.

H.H

TrueChính trị
An Giang: Giao ban công tác dư luận xã hội, hoạt động Ban Chỉ đạo 35 các cấp trong tỉnhTinNguyễn LamAn Giang: Giao ban công tác dư luận xã hội, hoạt động Ban Chỉ đạo 35 các cấp trong tỉnh/SiteAssets/Giaoban-dlxh-35-tinh-q3-1.jpg
30/09/2022 8:40 CHYesĐã ban hành

(TUAG)- Sáng ngày 30/9, tại Đảng ủy Bộ đội Biên phòng tỉnh An Giang (TP Châu Đốc), Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy phối hợp tổ chức Hội nghị giao ban Công tác dư luận xã hội (DLXH), hoạt động Ban Chỉ đạo (BCĐ) 35 các cấp trong tỉnh.

 Giaoban-dlxh-35-tinh-q3-1.jpg

Chủ trì Hội nghị

Đồng chí Trần Thị Thanh Hương - Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội, Phó Trưởng BCĐ 35 tỉnh; đồng chí Đại tá Phạm Văn Phong - Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Bộ đội Biên phòng tỉnh; đồng chí Nguyễn Hữu Thịnh - Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy chủ trì Hội nghị.

 Giaoban-dlxh-35-tinh-q3-2.jpg

Quang cảnh Hội nghị

Đồng chí Lâm Thành Sĩ - Tỉnh ủy viên, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy; đồng chí Đại tá Lê Hoàng Việt - Phó Chính ủy Bộ đội Biên phòng tỉnh; đại diện lãnh đạo Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội cấp tỉnh; Tổ Thư ký BCĐ 35 tỉnh; đại diện lãnh đạo sở, ngành tỉnh liên quan; ban tuyên giáo, tuyên huấn huyện, thị, thành uỷ, đảng ủy trực thuộc Tỉnh uỷ cùng tham dự.

Tại Hội nghị, các đại biểu được nghe báo cáo công tác dư luận quý III/2022 và báo cáo công tác tham mưu BCĐ về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch quý III/2022. Qua đó có 05 ý kiến tham gia thảo luận của các địa phương, đơn vị, nhìn chung công tác DLXH và hoạt động BCĐ 35 trên địa bàn tỉnh tiếp tục có nhiều chuyển biến hết sức tích cực, hiệu quả mang lại ngày càng rõ nét.

Trong quý III/2022, công tác tham mưu BCĐ 35 các cấp tiếp tục nhận được sự quan tâm của các cấp ủy, qua đó việc triển khai thực hiện Nghị quyết 35-NQ/TW của Bộ Chính trị được thực hiện khá tốt; chất lượng, hiệu quả hoạt động ngày càng nâng cao. Công tác phối hợp bảo vệ chính trị nội bộ, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, đặc biệt trên không gian mạng đã được tăng cường, tổ chức thực hiện hiệu quả, bài bản, khoa học hơn. BCĐ 35, nhóm chuyên gia và lực lượng nòng cốt các cấp hoạt động đi vào nề nếp, từng bước nâng cao chất lượng, ngày càng chặt chẽ, hiệu quả. Nhiều địa phương, ban, ngành các cấp đã quan tâm, chú trọng nhiều hơn đến công tác đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên địa bàn, cơ quan, đơn vị.

Công tác phối hợp giữa các cấp, các ngành, địa phương, đơn vị trong giải quyết, phản hồi DLXH chặt chẽ hơn, đi vào chiều sâu, thực chất, bài bản. Xem việc nắm bắt, phản ánh DLXH đã trở thành kênh thông tin quan trọng, là nhu cầu thường trực trong hoạt động lãnh đạo, điều hành địa phương, đơn vị; là nhiệm vụ chính trị quan trọng hàng đầu của cấp ủy, chính quyền địa phương các cấp.

Chất lượng hoạt động của đội ngũ cộng tác viên DLXH các cấp được chú trọng. Việc ứng dụng công nghệ thông tin, mạng xã hội trong công tác nắm bắt tình hình DLXH và hoạt động mạng lưới cộng tác viên thực hiện tốt (thông tin, trao đổi…), qua đó giúp công tác tham mưu cấp ủy chỉ đạo, xử lý, định hướng DLXH được nhanh chóng, kịp thời, hiệu quả.

Công tác điều tra xã hội học tiếp tục được đổi mới, theo hướng ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động điều tra, khảo sát, hiệu quả mang lại khá cao. Gắn kết và phát huy được vai trò lực lượng cộng tác viên DLXH các cấp trong việc phối hợp, hỗ trợ tổ chức các cuộc điều tra, khảo sát DLXH.

 Giaoban-dlxh-35-tinh-q3-3.jpg

Phát biểu kết luận Hội nghị, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Phó Trưởng BCĐ 35 tỉnh Trần Thị Thanh Hương biểu dương những nỗ lực và ghi nhận kết quả đã đạt được thời gian qua của các ngành, các cấp trong tỉnh, đồng thời khắc phục hạn chế, tồn tại được chỉ ra tại Hội nghị.

Đồng chí đề nghị thời gian tới các cấp ủy cần tiếp tục triển khai thực hiện tốt Đề án 07- ĐA/TU, ngày 12/8/2020 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, quan tâm lãnh, chỉ đạo đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác DLXH và hoạt động BCĐ 35 các cấp đi vào chiều sâu, thiết thực; thường xuyên củng cố, kiện toàn, phát huy đội ngũ cộng tác viên DLXH, thành viên BCĐ 35, nhóm chuyên gia, lực lượng báo cáo viên, tuyên truyền viên…

Tiếp tục thực hiện tốt công tác dự báo, nắm bắt, phản ánh tình hình DLXH trong nội bộ và các tầng lớp nhân dân trên các lĩnh vực phục vụ tốt cho công tác tư tưởng. Phát huy tốt cơ chế phản hồi DLXH, đảm bảo chất lượng, hiệu quả, thiết thực và phân loại thông tin.

Thành viên BCĐ 35 và Tổ giúp việc tỉnh tăng cường nghiên cứu khoa học; đội ngũ giảng viên các trung tâm chính trị, trường chính trị thường xuyên rèn luyện và nâng cao chất lượng công tác giáo dục lý luận chính trị…

Đồng thời nâng cao chất lượng thông tin, tuyên truyền; chủ động phối hợp với các ngành nắm chắc tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; kịp thời cung cấp thông tin và định hướng DLXH. Chủ động sử dụng mạng xã hội nhằm lan tỏa, “phủ xanh” thông tin tích cực, chính thống…

Nguyễn Lam

TrueĐưa Nghị quyết vào cuộc sống
Bế mạc Hội thi giảng viên lý luận chính trị giỏi khu vực III năm 2022          TinTrúc QuỳnhBế mạc Hội thi giảng viên lý luận chính trị giỏi khu vực III năm 2022          /Imagesnews/2022-09/D506F574-FE2B-4013-BA76-5A078416C32C_Key_22092022190018.jpeg
22/09/2022 5:25 CHYesĐã ban hành

(TUAG)- Chiều 22/9, Ban Tuyên giáo Trung ương phối hợp Tỉnh ủy Cà Mau tổ chức trao giải và bế mạc Hội thi giảng viên lý luận chính trị giỏi khu vực III năm 2022.

 Bemac-hoithi-22CM-2.jpg

Quang cảnh lễ bế mạc, trao giải hội thi

Hội thi được tổ chức trong 2 ngày (21 và 22/9), với sự tham gia của 39 thí sinh là giảng viên chuyên trách của trung tâm chính trị cấp huyện, đại diện cho 20 tỉnh, thành phố phía Nam. Tỉnh An Giang có 02 thí sinh dự thi. Tại Hội thi, các thí sinh tham gia 03 phần thi: Thi giáo án, thi giảng trực tiếp và thi trả lời câu hỏi.

Đánh giá Hội thi, đại diện ban tổ chức Hội thi nhận xét mặt bằng chất lượng thí sinh dự thi khá tốt, đồng đều. Các thí sinh có sự đầu tư, chuẩn bị các nội dung tham gia hội thi công phu; nhiều thí sinh có nền tảng kiến thức, kỹ năng chuyên môn tốt. Các thí sinh đều lựa chọn chuyên đề giảng đúng theo hướng dẫn của Ban Tuyên giáo Trung ương.

 Bemac-hoithi-22CM-3.jpg

Trao giải Nhất cho thí sinh Nguyễn Thị Thanh Huyền

 Bemac-hoithi-22CM-4.jpg

Trao giải Nhì cho 04 thí sinh

 Bemac-hoithi-22CM-5.jpg

Trao giải Ba cho 08 thí sinh

Bemac-hoithi-22CM-6.jpg 

Bemac-hoithi-22CM-7.jpg

Trao giải Khuyến khích cho các thí sinh

Qua 2 ngày diễn ra hội thi, Ban Giám khảo đã lựa chọn trao 01 giải Nhất cho giảng viên Nguyễn Thị Thanh Huyền, đơn vị Thành phố Hồ Chí Minh; 04 giải nhì; 08 giải ba và 26 giải khuyến khích. Tỉnh An Giang có 02 thí sinh đạt giải khuyến khích.

Với thành tích đạt giải ba trở lên Hội thi Giảng viên lý luận chính trị giỏi khu vực III, sẽ tham dự vòng thi chung khảo toàn quốc, dự kiến diễn ra vào tháng 11/2022 tại tỉnh Thái Bình.

T.Q

TrueĐưa Nghị quyết vào cuộc sống
Khai mạc Hội thi Giảng viên lý luận chính trị giỏi khu vực III (các tỉnh phía Nam), năm 2022TinTrúc QuỳnhKhai mạc Hội thi Giảng viên lý luận chính trị giỏi khu vực III (các tỉnh phía Nam), năm 2022/SiteAssets/Hoithi-GV-LLCT-kv3-2.jpg
21/09/2022 3:00 CHYesĐã ban hành

(TUAG)- Sáng ngày 21/9, tại Khu du lịch Khai Long, xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau, Ban Tuyên giáo Trung ương phối hợp với Tỉnh ủy Cà Mau tổ chức khai mạc Hội thi Giảng viên lý luận chính trị giỏi khu vực phía Nam năm 2022.

Tham dự khai mạc có Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Lê Hải Bình - Trưởng ban Tổ chức hội thi; Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Cà Mau Phạm Thành Ngại; Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy An Giang Lê Văn Nưng; cùng hơn 130 cán bộ, đảng viên đại diện 19 đoàn tỉnh, thành phía Nam và đơn vị chủ nhà tỉnh Cà Mau cùng tham dự.

Hoithi-GV-LLCT-kv3-1a.jpg

Quang cảnh hội thi khu vực III

Hoithi-GV-LLCT-kv3-2.jpg

Đại biểu tham dự khai mạc hội thi

Hoithi-GV-LLCT-kv3-3.jpg

Đồng chí Lê Hải Bình, Ủy viên dự khuyết BCH Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, Trưởng ban Tổ chức hội thi, phát biểu khai mạc hội thi.

 Hoithi-GV-LLCT-kv3-4.jpg

Đồng chí Phạm Thành Ngại, Phó bí thư Thường trực Tỉnh ủy Cà Mau phát biểu chào mừng sự kiện.

 Hoithi-GV-LLCT-kv3-5.jpg

 Hoithi-GV-LLCT-kv3-6.JPG

Đồng chí Lê Hải Bình đồng chí Phạm Thành Ngại tặng hoa cho các đơn vị tỉnh, thành phía Nam về tham dự hội thi.

 Hoithi-GV-LLCT-kv3-7.jpg

Tặng hoa cho thí sinh tham dự hội thi.

 Hoithi-GV-LLCT-kv3-8.jpg

Giảng viên đơn vị tỉnh An Giang tham dự Hội thi Giảng viên lý luận chính trị giỏi khu vực III năm 2022

Hội thi hội tụ 39 gương mặt giảng viên chuyên trách của Trung tâm Chính trị cấp huyện tiêu biểu, đại diện cho 20 tỉnh, thành phố phía Nam.

Nội dung thi năm nay các giảng viên sẽ lựa chọn một bài trong các chương trình đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị và chương trình bồi dưỡng chuyên đề dùng cho Trung tâm chính trị cấp huyện do Ban Tuyên giáo Trung ương ban hành. Các thí sinh dự thi phải tham dự đủ 3 phần gồm thi giáo án, thi giảng trực tiếp và thi trả lời câu hỏi.

Hội thi nhằm tạo sân chơi bổ ích, góp phần nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ giảng viên lý luận chính trị cấp huyện, tạo chuyển biến tích cực trong việc đổi mới; nâng cao chất lượng công tác bồi dưỡng lý luận chính trị tại các trung tâm chính trị cấp huyện trên cả nước.

Phát biểu tại lễ khai mạc, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Lê Hải Bình nhấn mạnh, Nghị quyết số 32-NQ/TW ngày 26/5/2014 của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị đã nêu rõ: Bồi dưỡng lý luận chính trị là nhiệm vụ quan trọng của Đảng. Mỗi cán bộ, đảng viên phải thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về học tập suốt đời, học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn, gắn học tập với rèn luyện phẩm chất đạo đức, tư cách người cách mạng. Việc đổi mới, nâng cao chất lượng công tác bồi dưỡng lý luận chính trị là nhiệm vụ rất quan trọng đối với công tác cán bộ của Đảng và xã hội.

Giảng dạy lý luận chính trị có vai trò quan trọng, nhằm giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước; trang bị, củng cố thế giới quan khoa học, phương pháp luận biện chứng cho cán bộ, đảng viên nâng cao kiến thức lý luận, nhận thức đúng đắn thực tiễn, tránh được sai lầm trong nhận thức và hành động…

Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Lê Hải Bình cho rằng, tại hội thi này, các thí sinh sẽ có cơ hội thể hiện năng lực, trình độ, kiến thức của mình, cũng như giao lưu, học hỏi với các đồng chí, đồng nghiệp trong lĩnh vực giáo dục lý luận chính trị và các lĩnh vực xã hội khác. Qua đó, trao đổi chuyên môn, nghiệp vụ, thiết thực góp phần nâng cao chất lượng công tác, chất lượng hoạt động tại các Trung tâm chính trị cấp huyện…

Sau lễ khai mạc, các giảng viên tham dự cuộc thi trong 2 ngày (từ 21 -22/9) để chọn ra các gương mặt xuất sắc nhất tham gia hội thi toàn quốc…

Trúc Quỳnh

TrueĐưa Nghị quyết vào cuộc sống
Thư của Chủ tịch nước gửi các cháu thiếu niên, nhi đồng nhân dịp Tết Trung thuTinH.TThư của Chủ tịch nước gửi các cháu thiếu niên, nhi đồng nhân dịp Tết Trung thu/SiteAssets/Chu-tich-nuoc-3-600x369.jpg
09/09/2022 2:00 CHNoĐã ban hành

(TUAG)- Nhân dịp Tết Trung thu năm 2022, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc vừa có Thư gửi các cháu thiếu niên, nhi đồng cả nước. Trong Thư, Chủ tịch nước khen ngợi các cháu vì những thành tích cao trong học tập, sự cố gắng trong cuộc sống và những đóng góp cho cộng đồng; đồng thời mong muốn mỗi gia đình, các cấp, các ngành và toàn xã hội, bằng trách nhiệm, tình thương yêu cần tiếp tục có nhiều hành động thiết thực hơn nữa, chăm lo cho các cháu.

Chu-tich-nuoc-3-600x369.jpg

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc tặng quà cho trẻ em.

Cổng TTĐT Đảng bộ tỉnh An Giang xin trân trọng giới thiệu toàn văn Thư của Chủ tịch nước. Toàn văn như sau:

Các cháu thiếu niên, nhi đồng yêu quý!

Nhân dịp Tết Trung thu, Bác thân ái gửi đến các cháu thiếu niên, nhi đồng Việt Nam trong nước và ở nước ngoài, cùng các cháu người nước ngoài ở Việt Nam những tình cảm thương yêu nhất.

Năm nay, các hoạt động kinh tế - xã hội và đời sống sinh hoạt của người dân trên khắp đất nước ta đang trở lại trạng thái bình thường. Tết Trung thu - Tết Thiếu nhi lại về với đúng ý nghĩa là Tết Đoàn viên, các cháu được quây quần bên gia đình cùng các bạn phá cỗ, trông trăng, rước những chiếc đèn lồng xinh xinh, chơi những trò chơi cổ tích và mơ ước những điều tốt đẹp. Bác hiểu rằng, còn nhiều cháu thiệt thòi, kém may mắn trong cuộc sống không được hưởng một cái Tết Trung thu đúng nghĩa và trọn vẹn. Song Bác tin các cháu dù ở hoàn cảnh nào đều luôn có tinh thần lạc quan, cố gắng vượt khó, vươn lên trong học tập và trong
cuộc sống.

Bác cũng rất xúc động và tự hào khi liên tục nhận được tin vui, các cháu đã vượt qua nhiều khó khăn, luôn tự giác trong học tập, chăm ngoan, biết giúp đỡ bố mẹ, ông bà, làm nhiều việc tốt. Nhiều cháu giành giải thưởng cao trong các kỳ thi quốc gia và quốc tế; nhiều cháu đã trở thành những công dân dũng cảm, quên mình cứu người bị nạn, là những bông hoa đẹp cho đời. Bác gửi lời khen ngợi các cháu vì những thành tích cao trong học tập, sự cố gắng trong cuộc sống và những đóng góp cho cộng đồng. Mong các cháu tiếp tục phát huy truyền thống vẻ vang của thiếu niên, nhi đồng Việt Nam!

Các cháu thiếu niên, nhi đồng yêu quý!

Trung thu năm nay, Bác mong mỗi trẻ em đều được vui Trung thu đầm ấm cùng những người thân yêu của mình. Mỗi gia đình, các cấp, các ngành và toàn xã hội, bằng trách nhiệm, tình thương yêu cần tiếp tục có nhiều hành động thiết thực hơn nữa, chăm lo cho các cháu thiếu niên, nhi đồng trong ngày Tết Trung thu, đặc biệt đối với các cháu nhỏ mồ côi, các cháu gặp hoàn cảnh khó khăn, các cháu ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo để tất cả các trẻ em đều được quan tâm phát triển toàn diện, được sống trong tình yêu thương, môi trường sống an toàn, lành mạnh.

Các cháu hãy luôn cố gắng chăm ngoan, học giỏi, vâng lời ông bà, cha, mẹ, thầy cô giáo, thực hiện tốt Năm điều Bác Hồ dạy, rèn đức, luyện tài, để mai này trở thành người công dân ưu tú cho xã hội, góp phần xây dựng đất nước, làm rạng danh dân tộc Việt Nam, đưa đất nước ta “bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu” như Bác Hồ đã đặt trọn niềm tin vào các cháu.

Mong các cháu cố gắng,
Thi đua học và hành.
Tuổi nhỏ làm việc nhỏ,
Tùy theo sức của mình…
Các cháu hãy xứng đáng:
Cháu Bác Hồ Chí Minh!

Cuối thư, Bác gửi đến các cháu muôn vàn tình thương yêu và hy vọng!

Thân ái

NGUYỄN XUÂN PHÚC

FalseChính trị
19 hành vi tiêu cực cần tập trung chỉ đạo phòng, chống Bài viếtSự Thật19 hành vi tiêu cực cần tập trung chỉ đạo phòng, chống /SiteAssets/Hanh-vi-tieucuc.jpg
09/09/2022 12:00 CHNoĐã ban hành

(TUAG)- Căn cứ Quy định số 32-QĐ/TW, ngày 16/9/2021 của Bộ Chính trị về chức năng, nhiệm vụ quyền hạn, chế độ làm việc, quan hệ công tác của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (gọi tắt là Quy định số 32-QĐ/TW), ngày 01/8/2022, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ban hành Hướng dẫn số 25-HD/BCĐTW về một số nội dung về công tác phòng, chống tiêu cực, trong đó xác định rõ 19 hành vi tiêu cực cần tập trung chỉ đạo phòng, chống bao gồm:

1. Nói, viết, thực hiện không đúng hoặc không thực hiện, thực hiện không đầy đủ chủ trương, đường lối, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

2. Không chấp hành hoặc chấp hành không đầy đủ các nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình; đoàn kết xuôi chiều, nể nang, né tránh, ngại va chạm, im lặng, không đấu tranh hoặc phụ họa theo ý kiến, quan điểm sai trái, lệch lạc; bao che, giấu giếm vi phạm, khuyết điểm của bản thân, của người khác hoặc của tổ chức; thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; độc đoán, chuyên quyền, mất dân chủ, dân chủ hình thức, không tôn trọng ý kiến của tập thể; không chấp hành sự phân công của tổ chức, kén chọn chức danh, vị trí công tác;...

3. Không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ trách nhiệm nêu gương theo quy định của Đảng.

4. Lợi dụng công việc có liên quan đến bí mật nhà nước, bí mật công tác, công việc thuộc thẩm quyền giải quyết để trục lợi. Cung cấp, để lộ, làm mất hoặc viết bài, đăng những thông tin, tài liệu bí mật của Đảng, Nhà nước hoặc những việc chưa được phép công bố; tàng trữ, phát tán hoặc xúi giục người khác tàng trữ, phát tán thông tin, tài liệu trái với chủ trương, đường lối, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước; vu cáo, bịa đặt những nội dung liên quan đến vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực hoặc tùy tiện quy kết về tội danh, mức án trước khi tòa án ra phán quyết; đả kích, vu cáo, xúc phạm đối với tổ chức, cá nhân, kích động bạo lực, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

5. “Tư duy nhiệm kỳ”, cơ hội, vụ lợi, nhất là hành vi lạm quyền, lộng quyền, lấy danh nghĩa tập thể để áp đặt, hợp thức hóa quyết định sai trái của cá nhân; chủ nghĩa cá nhân, đặt lợi ích của cá nhân lên trên lợi ích của tập thể; chạy theo mục tiêu trước mắt, trong ngắn hạn để thu vén lợi ích cho bản thân, gia đình, cho nhóm lợi ích mà bỏ qua những mục tiêu, lợi ích dài hạn của tập thể, cộng đồng và đất nước; cấu kết với doanh nghiệp, đối tượng khác để trục lợi.

6. Quan liêu, xa rời thực tế, không sâu sát công việc, không nắm chắc tình hình trong cơ quan, tổ chức, địa phương, đơn vị.

7. Chủ trì ban hành hoặc tham mưu ban hành văn bản có nội dung trái với chủ trương, đường lối, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước hoặc có nhiều sơ hở, bị lợi dụng gây thiệt hại cho nhà nước, tổ chức, cá nhân; “lợi ích nhóm”, “tư duy nhiệm kỳ” trong xây dựng chính sách, pháp luật.

8. Thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, quản lý để xảy ra tình trạng mất đoàn kết, tham nhũng, tiêu cực; không báo cáo, phản ánh, không xử lý các hành vi tham nhũng, tiêu cực trong cơ quan, đơn vị, địa phương do mình trực tiếp quản lý.

9. Thực hiện không đúng, không đầy đủ quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong quản lý đầu tư, xây dựng, ngân hàng, y tế, bảo hiểm, đấu thầu, đấu giá, chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp, cổ phần hóa, sử dụng nhà, đất, tài nguyên, khoáng sản, tài chính, tài sản của Đảng, Nhà nước,... Không thực hành tiết kiệm để xảy ra thất thoát, lãng phí trong quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công. Mua sắm, quản lý, sử dụng tài sản công, tài sản của tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân đóng góp, tài trợ trái quy định.

10. Tặng quà, nhận quà dưới mọi hình thức để tác động đến tổ chức, người có trách nhiệm dẫn đến việc quyết định có lợi riêng cho bản thân, gia đình hoặc cá nhân, tổ chức, cơ quan, doanh nghiệp.

11. Lợi dụng chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung để thực hiện hành vi hoặc bao che hành vi tham nhũng, tiêu cực. Tiết lộ thông tin, đe dọa, trả thù, trù dập người phản ánh, tố cáo, tố giác, báo tin, cung cấp thông tin về hành vi tham nhũng, tiêu cực.

12. Có hành vi chạy chức, chạy quyền, bao che, tiếp tay, can thiệp, tác động đến tổ chức, cá nhân để bản thân hoặc người khác được tiếp nhận, tuyển dụng, quy hoạch, luân chuyển, điều động, bổ nhiệm, đề cử, ứng cử, khen thưởng, kỷ luật, phong tặng danh hiệu, đi học, đi nước ngoài, thực hiện chế độ, chính sách cán bộ trái quy định.

13. Can thiệp, tác động hoặc để người nhà, người thân, người quen lợi dụng chức vụ, vị trí công tác của mình để trục lợi. Gây khó khăn, phiền hà, vòi vĩnh, kéo dài thời gian xử lý công việc cho người dân, doanh nghiệp.

14. Can thiệp, tác động vào hoạt động kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, xét đặc xá, giải quyết khiếu nại, tố cáo để bao che, tiếp tay cho các hành vi vi phạm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước; tác động, ép buộc, mua chuộc tổ chức, cá nhân để giảm trách nhiệm, hình phạt cho người khác.

15. Kê khai tài sản, thu nhập không trung thực; giải trình không trung thực về nguồn gốc tài sản, thu nhập tăng thêm; tẩu tán, che dấu tài sản có được do tham nhũng, tiêu cực. Không chỉ đạo và tổ chức thu hồi hoặc cản trở hoạt động thu hồi tài sản tham nhũng, tiêu cực.

16. Nhập quốc tịch nước ngoài; dùng giấy tờ giả, không hợp pháp, khai báo gian dối về quốc tịch.

17. Tổ chức, tham gia hoặc tạo điều kiện thực hiện hoạt động rửa tiền, đi vay, cho vay trái quy định của pháp luật; chuyển tiền, tài sản ra nước ngoài, mở tài khoản và mua bán tài sản ở nước ngoài trái quy định.

18. Tổ chức việc cưới, việc tang và các sự kiện khác của cá nhân, gia đình (ngày lễ, tết, sinh nhật, lên chức, mừng nhà mới, mừng thọ, luân chuyển, chuyển công tác,...) một cách phô trương hình thức, lãng phí, gây phản cảm, bức xúc trong xã hội. Lợi dụng việc cưới, việc tang và các sự kiện khác để vụ lợi hoặc đem lại lợi ích riêng cho bản thân, gia đình hoặc cho người khác.

19. Các hành vi tiêu cực nghiêm trọng, phức tạp khác do Ban Chỉ đạo Trung ương xem xét, quyết định.

Ban Chỉ đạo Trung ương yêu cầu căn cứ Hướng dẫn này, các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan chức năng lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện công tác phòng, chống tiêu cực theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền được giao. Trong quá trình thực hiện, nếu có những vấn đề phát sinh mà Hướng dẫn này chưa bao quát hết thì căn cứ các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước để chỉ đạo xử lý; nếu vẫn chưa xử lý được thì báo cáo Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương.

Sự Thật

FalseĐưa Nghị quyết vào cuộc sống
Đồng chí Lê Hồng Phong - Người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí MinhBài viếtHòa BìnhĐồng chí Lê Hồng Phong - Người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh/Imagesnews/2022-09/Le-Hong-Phong-120nam_Key_06092022162213.jpg
06/09/2022 6:00 SANoĐã ban hành

(TUAG)- Đồng chí Lê Hồng Phong tên thật là Lê Huy Doãn, sinh ngày 06/9/1902 trong một gia đình nông dân nghèo thuộc xóm Đông Cửa, thôn Đông Thông, tổng Thông Lạng (nay là xã Hưng Thông, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An). Sinh ra và lớn lên ở một vùng quê có truyền thống yêu nước, tận mắt chứng kiến cảnh đất nước lầm than, người dân nô lệ, Lê Hồng Phong đã sớm nuôi trong mình tư tưởng yêu nước và ý chí làm cách mạng.

Le-Hong-Phong-120nam-inforghar.jpg

Le-Hong-Phong-120nam-infor.jpg

Từ nhỏ, Lê Hồng Phong đã thể hiện là một cậu bé thông minh, ham học nên được gia đình cho theo học chữ Nho tại trường làng, sau đó chuyển sang học chữ quốc ngữ hết bậc Sơ học yếu lược. Năm 16 tuổi, vì hoàn cảnh gia đình khó khăn, Lê Hồng Phong phải rời quê xuống Vinh xin làm công nhân tại Nhà máy Diêm-Bến Thủy. Chứng kiến cuộc sống lầm than của những người lao động, Lê Hồng Phong cùng với người bạn thân của mình là Phạm Thành Khôi (tức Phạm Hồng Thái) đã vận động công nhân đứng lên đấu tranh đòi quyền lợi và phản đối chính sách hà khắc của giới chủ. Sau sự kiện này, Lê Hồng Phong bị đuổi việc. Cuối năm 1923, Lê Hồng Phong bí mật sang Xiêm (Thái Lan) gặp các nhà yêu nước Việt Nam. Năm 1924, sang Quảng Châu (Trung Quốc) gia nhập nhóm Tâm Tâm xã, sau đó gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, được Người giác ngộ cách mạng và năm 1925, Lê Hồng Phong gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, tham gia lớp huấn luyện cán bộ cách mạng do Nguyễn Ái Quốc tổ chức. Bắt đầu từ đây, cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của đồng chí Lê Hồng Phong đã gắn liền với phong trào cộng sản quốc tế và sự nghiệp cách mạng Việt Nam.

Sự gặp gỡ giữa lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc với Lê Hồng Phong đã mở ra bước ngoặt trong cuộc đời hoạt động cách mạng của người thanh niên xứ Nghệ. Tháng 11/1924, khi Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu, Lê Hồng Phong và nhóm Tâm Tâm xã được gặp Người và quyết định đi theo con đường cứu nước của Người. Đây là thế hệ cán bộ đầu tiên được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trực tiếp tuyển chọn, huấn luyện và đào tạo, Lê Hồng Phong đã được nghe những bài giảng đầu tiên về lịch sử phong trào cách mạng quốc tế và cách mạng giải phóng dân tộc, về những nguyên lý của Chủ nghĩa Mác-Lênin… Những bài học đó đã dẫn dắt và nâng tầm nhận thức của Lê Hồng Phong, từ một thanh niên giàu lòng yêu nước trở thành người cộng sản và là một học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ngay từ khi được dự khóa huấn luyện chính trị ở Quảng Châu, đồng chí đã bộc lộ tư chất, tài năng của người cán bộ cách mạng và được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc phát hiện, bồi dưỡng, lựa chọn. Người đã gửi Lê Hồng Phong vào những trường đào tạo cán bộ cao cấp của Trung Hoa và Liên Xô. Lê Hồng Phong được học tập toàn diện về quân sự và chính trị tại Trường Quân sự Hoàng Phố, Trường Hàng không ở Quảng Châu, Trường Lý luận quân sự của lực lượng không quân Xô-viết ở Lê-nin-grat, Trường Đào tạo phi công quân sự ở Bô-rit-ơ-lep-xcơ (Liên Xô). Trong 3 năm (1928-1931), Lê Hồng Phong học tại Trường Đại học Phương Đông và hoàn thành xuất sắc chương trình, được chuyển tiếp làm nghiên cứu sinh.

Trong thời gian Lê Hồng Phong đi học tập, đào tạo ở Liên Xô, Nguyễn Ái Quốc vẫn thường xuyên giữ liên lạc, theo dõi và hướng dẫn. Trong bức thư Nguyễn Ái Quốc gửi Lê Hồng Phong ngày 02/3/1930, Người thân mật gọi: “Gửi Hồng Phong Lão”, để thông báo về sự kiện ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam và khẳng định: “Trong nước bây giờ đã có Đảng thống nhất vững vàng, không còn những tệ chia lìa ấu trĩ như trước nữa”. Điều đó thể hiện sự quan tâm đặc biệt của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đối với Lê Hồng Phong. Và Lê Hồng Phong đã không phụ lòng của Người thầy dẫn dắt, đồng chí đã từng bước trưởng thành cả về nhận thức lý luận và năng lực lãnh đạo. Từ thực tiễn hoạt động và những đóng góp to lớn trong việc khôi phục và phát triển phong trào cách mạng Việt Nam những năm 1932 - 1935, đồng chí được mời tham dự Đại hội VII Quốc tế Cộng sản và được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản.

Với cách mạng Việt Nam, sau cao trào Xô viết Nghệ-Tĩnh (1930 - 1931), thực dân Pháp tiến hành khủng bố trắng, hòng tiêu diệt phong trào cách mạng nước ta mà trước hết là nhằm vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Đây là thời kỳ cam go nhất của Đảng ta sau khi thành lập. Trước sự khủng bố khốc liệt của kẻ thù và những tổn thất về tổ chức, về cán bộ của Đảng, đã nảy sinh những vấn đề tư tưởng trong Đảng và trong quần chúng cách mạng. Đảng ta vừa ra đời, bộ máy tổ chức mới hình thành thì những tổn thất trên đây rất nặng nề. Do vậy, để khôi phục Đảng, không chỉ là vấn đề tổ chức, tư tưởng, mà còn cả chiến lược, sách lược, phương pháp cách mạng do sự biến chuyển mới và nhanh chóng của tình hình, nhiệm vụ cách mạng. Trước tình hình cực kỳ khó khăn đó, Lê Hồng Phong đã lãnh trách nhiệm trước Quốc tế Cộng sản trở về lãnh đạo khôi phục Đảng và phong trào cách mạng ở Việt Nam.

Từ năm 1932, cùng với nhiệm vụ khôi phục tổ chức của Đảng và phong trào cách mạng trong nước, để thống nhất tư tưởng và phương pháp cách mạng trong điều kiện mới, Lê Hồng Phong đã tích cực, chủ động tuyên truyền Chương trình hành động của Đảng Cộng sản Đông Dương - một văn kiện có tính chất như một cương lĩnh mà đồng chí đã tham gia soạn thảo. Đây là một đóng góp to lớn của đồng chí Lê Hồng Phong đối với cách mạng giai đoạn bấy giờ.

Tháng 6/1934, đồng chí Lê Hồng Phong tổ chức Hội nghị cán bộ của Đảng ở Ma Cao (Trung Quốc) và thành lập Ban lãnh đạo hải ngoại của Đảng để tổ chức lại các cơ sở đảng và chuẩn bị những điều kiện cho việc triệu tập Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất của Đảng. Và từ ngày 27 đến 31/3/1935, Đại hội đại biểu lần thứ nhất của Đảng Cộng sản Đông Dương được tổ chức, mặc dù đồng chí Lê Hồng Phong đi dự Đại hội VII Quốc tế Cộng sản nhưng vẫn được Đại hội tín nhiệm bầu làm Tổng Bí thư của Đảng. Đó không phải do tình thế cán bộ lúc đó, mà chính từ những đóng góp to lớn của đồng chí vào nhiệm vụ khôi phục Đảng và phong trào cách mạng ở Việt Nam, mà Đảng đã trao cho đồng chí Lê Hồng Phong trách nhiệm chính trị lớn lao đó. Việc lãnh đạo khôi phục tổ chức đảng và thống nhất về chiến lược, sách lược, chuẩn bị những tiền đề về tổ chức và chính trị tư tưởng, đưa cách mạng nước ta vượt qua giai đoạn cực kỳ gian khó (1931 - 1935), chuyển sang giai đoạn phát triển mới (1936 - 1939) đã thể hiện tài năng và bản lĩnh của Lê Hồng Phong, người chiến sĩ kiên cường của phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế, nhà lãnh đạo xuất sắc của cách mạng Việt Nam.

Đồng chí Lê Hồng Phong hy sinh khi mới ở tuổi 40. Trước lúc đi xa, đồng chí Lê Hồng Phong còn căn dặn: “Nhờ các đồng chí nói với Đảng rằng, tới giờ phút cuối cùng, Lê Hồng Phong vẫn một lòng tin thắng lợi vẻ vang của cách mạng”. Với gần 20 năm liên tục hoạt động, cống hiến cho Đảng, cho dân tộc Việt Nam, cho phong trào cộng sản quốc tế, hình ảnh, tên tuổi và sự nghiệp của đồng chí Lê Hồng Phong mãi mãi được khắc ghi trong trái tim, tâm hồn của các thế hệ người Việt Nam hôm nay và mai sau. Tinh thần và sự nghiệp lớn lao của đồng chí Lê Hồng Phong mãi mãi đồng hành với toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vững bước trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.

Kỷ niệm 120 năm Ngày sinh của đồng chí Lê Hồng Phong (06/9/1902 - 06/9/2022), người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người con ưu tú của dân tộc Việt Nam, người chiến sĩ kiên cường của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, là dịp để chúng ta tưởng nhớ và thành kính tri ân sự đóng góp to lớn của đồng chí Lê Hồng Phong đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc; qua đó xây dựng, bồi đắp niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa, tích cực hiện thực hóa Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng vào cuộc sống, nhất là các nghị quyết về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị./.

H.B

FalseChính trị
An Giang: Hội nghị tập huấn công tác dư luận xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của ĐảngTinNguyễn LamAn Giang: Hội nghị tập huấn công tác dư luận xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng/SiteAssets/Taphuan-35-tinh22-1.jpg
31/08/2022 10:00 SAYesĐã ban hành

(TUAG)- Sáng ngày 31/8, Ban Chỉ đạo 35 tỉnh An Giang tổ chức Hội nghị tập huấn công tác dư luận xã hội (DLXH) và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng năm 2022. Đến dự và báo cáo chuyên đề với Hội nghị có đồng chí Đỗ Thị Thanh Hà - Viện trưởng Viện DLXH, Ban Tuyên giáo Trung ương; đồng chí Lê Quang Tự Do - Phó Cục trưởng Cục Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử, Bộ Thông tin và Truyền thông.

 Taphuan-35-tinh22-1.jpg

Tham dự có các đồng chí trong Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Trần Thị Thanh Hương - Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội, Phó Ban Chỉ đạo 35 tỉnh; Lê Văn Phước - Phó Chủ tịch UBND tỉnh; Lưu Vĩnh Nguyên - Trưởng Ban Nội chính Tỉnh ủy… cùng tham dự có hơn 300 đại biểu đến từ các địa phương, đơn vị trong tỉnh.

Tại Hội nghị, các đại biểu được nghe các Báo cáo viên Trung ương báo cáo 02 chuyên đề: Những vấn đề đặt ra đối với công tác quán lý nhà nước về thông tin trên mạng ở nước ta hiện nay; Công tác nghiên cứu, định hướng DLXH trong tình hình mới.

Taphuan-35-tinh22-3.jpg 

Phát biểu khai mạc Hội nghị, đồng chí Trần Thị Thanh Hương - Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội, Phó Ban Chỉ đạo 35 tỉnh nhấn mạnh: Đây là những chuyên đề hết sức cơ bản, không chỉ cung cấp, củng cố thêm kiến thức về quan điểm, chủ trương của Đảng trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch cũng như công tác DLXH mà quan trọng còn giới thiệu, trang bị cho chúng ta những kinh nghiệm quý, những kỹ năng cần thiết để giúp ích trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.

Đồng chí đề nghị, ngay sau Hội nghị này lãnh đạo các địa phương, đơn vị trong tỉnh; thành viên BCĐ 35 cấp tỉnh; BCĐ 35 cấp huyện và tương đương trên cơ sở tiếp thu nội dung các chuyên đề được nghiên cứu, học tập, chủ động xây dựng kế hoạch triển khai cho các lực lượng từ tỉnh đến cơ sở những kiến thức, kỹ năng cần thiết, giúp cho công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch cũng như công tác DLXH của địa phương, đơn vị ngày càng hiệu quả, góp phần hoàn thành thắng lợi các nhiệm vụ chính trị đề ra.  

Taphuan-35-tinh22-2.jpg 

Tiếp tục chú trọng hơn nữa công tác quản lý nhà nước về thông tin, nhất là thông tin trên không gian mạng. Thực hiện nghiêm túc Quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí. Quan tâm thực hiện tốt Đề án 07-ĐA/TU, ngày 12/8/2020 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về “Đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác DLXH trên địa bàn tỉnh An Giang giai đoạn 2020 - 2025”; Quyết định số 238-QĐ/TW, ngày 30/9/2020 của Ban Bí thư ban hành “Quy chế phối hợp giữa ban tuyên giáo các cấp với cơ quan nhà nước cùng cấp trong việc thực thi pháp luật, triển khai kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, giải quyết các vấn đề nổi cộm, Nhân dân quan tâm”...; tăng cường tham mưu cấp  ủy đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trên địa bàn, tuyên truyền nhân rộng các gương điển hình tiên tiến, gương người tốt việc tốt theo phương châm “lấy cái đẹp, dẹp cái xấu”, “lấy tích cực đẩy lùi tiêu cực”… 

Nguyễn Lam

TrueĐưa Nghị quyết vào cuộc sống
Sức mạnh từ lòng dânBài viếtKim CươngSức mạnh từ lòng dân/SiteAssets/TS-sucmanh-tulongdan-4.jpg
30/08/2022 9:00 SANoĐã ban hành

(TUAG)- Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Trong bầu trời không có gì quý bằng Nhân dân, trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của Nhân dân. Khi sức dân được huy động, được tổ chức, được tập hợp dưới sự lãnh đạo của Đảng thì thành vô địch". Thấm nhuần tư tưởng trọng dân và phong cách gần dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các cấp ủy và chính quyền huyện Thoại Sơn luôn phát huy dân chủ, tôn trọng, lắng nghe ý kiến của Nhân dân cùng Nhân dân huyện nhà dựng nên thành tích, trở thành huyện đầu tiên trong cả nước đạt cả 3 danh hiệu cao quý "Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân", "Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới" và "Huyện nông thôn mới" .

Thoại Sơn phát huy quyền làm chủ của Nhân dân trong xây dựng chính quyền

Theo tinh thần Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII nhấn mạnh: Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm "dân là gốc", thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân với phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng". Theo đó, các cấp ủy, chính quyền địa phương luôn quan tâm đặt vấn đề dân chủ lên hàng đầu, để mở rộng các hình thức dân chủ, người dân có thể tham gia công việc cùng Đảng, Nhà nước một cách thiết thực, phù hợp… Từ đó, nhiều hình thức phát huy dân chủ được thực hiện như "Chính quyền lắng nghe ý kiến Nhân dân", "Công an lắng nghe ý kiến Nhân dân", những buổi họp dân, tiếp xúc cử tri, trong năm 2022 với chủ đề "Hướng về cơ sở, lắng nghe dân nói", Thường trực Huyện ủy cùng các đồng chí Ủy viên Thường vụ Huyện ủy phụ trách địa bàn tham dự các diễn đàn lắng nghe ý kiến Nhân dân ở các xã, thị trấn nhằm kịp thời nắm tình hình và giải quyết, tháo gỡ những khó khăn, những vấn mà Nhân dân quan tâm. Sự tiếp xúc thường xuyên gần gũi, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân, từ đó đã tạo sự tin tưởng, đồng thời, người dân cũng chân tình phản ánh, kiến nghị, đề xuất cấp ủy, chính quyền các vấn đề về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xây dựng nông thôn mới nâng cao, an ninh, quốc phòng… Qua đó, các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương kịp thời tháo gỡ những khó khăn, giải quyết thỏa đáng những trăn trở trong Nhân dân đã tạo sự đồng thuận ngày càng cao trong Nhân dân.

 TS-sucmanh-tulongdan-1.jpg

Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch HĐND huyện Thoại Sơn phát biểu tại diễn đàn lắng nghe dân nói

Từng tham gia diễn đàn lắng nghe dân nói ông Võ Thành Chu người dân ấp Trung Phú 2, xã Vĩnh Phú chia sẻ: "Trong thời gian qua, những giải trình, hành động của địa phương, giải quyết kịp thời những phản ánh của người dân là nạo vét kênh thủy lợi, làm kênh nội đồng. Tôi tin tưởng rằng diễn đàn cũng như những kế hoạch UBND đạt hiệu quả cao hơn, bản thân chúng tôi có ấn tượng về diễn đàn vì tạo không khí dân chủ cho người dân chúng tôi có đề xuất, kiến nghị".

Việc công khai các chính sách, dự án, công trình đầu tư, quy định giải quyết các thủ tục hành chính, các nguồn vốn Nhà nước đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng… các xã, thị trấn thực hiện công khai, minh bạch dưới nhiều hình thức, để Nhân dân biết, kiểm tra, giám sát, Nhân dân cùng tham bàn bạc, thảo luận, góp ý. Đồng thời, khuyến khích người dân phát hiện, phản ánh, tố giác những hành vi vi phạm về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Từ đó, Nhân dân tin tưởng vào sự lãnh đạo Đảng của chính quyền địa phương, đã tham gia gia các phong trào của địa phương như đóng góp ngày công lao động, đóng góp tiền, hiến đất chung sức hoàn thành các tiêu chí xây dựng nông thôn mới, nông thôn mới nâng cao… Đến quý 2 năm 2022 có 14/14 xã được Chủ tịch UBND tỉnh quyết định công nhận đạt chuẩn Xã nông thôn mới nâng cao.

Ông Đàm Văn Dũng người dân xã Vĩnh Khánh nói: "Rất mừng xã Vĩnh Khánh đạt chuẩn Xã nông thôn mới nâng cao, địa phương đã làm những con lộ, cầu đường được mở rộng hoàn hảo hơn trước, chăm lo nâng cao đời sống cho người dân có được cuộc sống khấm khá hơn, bà con ở đây cũng cám ơn chính quyền địa phương làm hết sức mình để lo cho người dân có cuộc sống ổn định hơn".

 TS-sucmanh-tulongdan-2.jpg

Xã Tây Phú đạt chuẩn Nông thôn mới nâng cao

Với những việc làm trên của cấp ủy chính quyền địa phương, chứng minh rằng mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân là mối quan hệ gắn bó máu thịt không tách rời. Dù cho các thế lực thù địch luôn tìm mọi chiêu trò phá hoại, công kích, lợi dụng những bức xúc của Nhân dân về tình trạng suy thoái đạo đức của một số cán bộ, tình trạng tham nhũng… nhằm chia rẽ Đảng với dân, lôi kéo, kích động Nhân dân ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng.

Những công trình hợp lòng dân

Qua những cuộc họp dân, diễn đàn lắng nghe dân nói, từ những ý kiến, kiến nghị của người dân về hệ thống giao thông tại các xã, thị trấn trong thời gian qua. Từ huyện đến xã, thị trấn đã tranh thủ mọi nguồn lực đầu tư xây dựng, cải tạo, mở rộng nâng cấp nhiều tuyến đường trên địa bàn huyện. Việc làm này nhận được sự đồng thuận cao của người dân, từ đó, người dân đã hiến đất, ngày công lao động cùng chính quyền địa phương tạo nên hình ảnh của một vùng quê thanh bình với những tuyến đường rộng mở được nhựa hóa gắn với tuyến đường hoa khoe sắc, môi trường xanh, sạch, đẹp; những ngôi trường khang trang sạch đẹp.

Ông Trịnh Văn Dữ người dân xã Vĩnh Chánh chia sẻ: "Nhìn chung địa phương có sự thay đổi rất lớn, được người dân chúng tôi đồng tình ủng hộ việc mở rộng các tuyến đường từ 3,5 lên 5,5m, được Nhà nước đầu tư, Nhân dân hiến đất làm đường để giao thông thuận lợi dễ dàng hơn. Bà con rất vui mừng phấn khởi"

Ông Võ Thanh Hùng người dân xã Tây Phú chia sẻ: "Tôi thấy địa phương mình thay đổi rất lớn như y tế, trường học, vệ sinh môi trường rồi chuyển đổi cây trồng đem lại hiệu quả kinh tế. Tôi tâm đắc nhất, là các con đường được thông suốt mở rộng từ đường chính của xã qua các xã bạn đến các tuyến đường vào tuyến kênh. Nhờ sự quan tâm của Nhà nước và chính quyền địa phương cùng với sự đồng thuận của người dân nên mới có được những con đường đẹp, thuận lợi cho người dân như vậy, làm cho kinh tế địa phương phát triển".

Xác định mạng lưới giao thông có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, do đó, việc đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông được huyện ưu tiên hàng đầu. Điển hình một số công trình như: Tuyến đường nông thôn mới nối liền ba xã Định Mỹ - Mỹ Phú Đông - An Bình chiều dài hơn 17 km, chiều rộng mặt đường 5,5m (đoạn từ đường tỉnh 943 - đường tỉnh 947); Tuyến Tây Rạch Giá - Long Xuyên (Thoại Giang - Định Mỹ) có tổng chiều dài 7km, nền đường rộng 6,5m; mặt đường 5,5m. Đây là những tuyến đường liên xã, huyết mạch kết nối giao thông giữa các xã với các vùng lân cận và  là một trong những công trình tạo nên điểm nhấn trên bức tranh xây dựng nông thôn mới nâng cao của ba địa phương.

 TS-sucmanh-tulongdan-3.jpg

Tuyền đường nông thôn xã An Bình

 TS-sucmanh-tulongdan-5.jpg

 Khánh thành cầu Thoại Giang

Những cây cầu giao thông nông thôn vững chắc nối liền đôi bờ là minh chứng cho sự chung sức, đồng lòng của Nhân dân. Ví như công trình duy tu, sửa chữa, mở rộng cầu Thoại Giang với quy mô công trình giao thông cấp 3, mở rộng mặt cầu từ 6,3m lên 10,8m, phần xe chạy 5,5m lên 10 m, tải trọng nâng cấp là 24 tấn; cầu Thoại Ngọc Hầu có kết cấu thép mạ kẽm, hình chữ T, gồm: cầu chính và 2 nhánh phụ, có chiều dài 135m, chiều rộng từ 3-4,5m. Các công trình hoàn thành đưa vào sử dụng tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao thương hàng hoá, phát triển kinh tế, xã hội, du lịch của huyện. Các công những công trình trình phục vụ dân sinh lại được tiếp nối như: nâng cấp tuyến tránh thị trấn Núi Sập có tổng chiều dài 4,36 km, công trình Quảng trường Thoại Ngọc Hầu với tổng diện tích 7.177m2  và còn rất nhiều công trình khác đã tạo cho Thoại Sơn có một hệ thống giao thông rất thuận lợi. Với sự hỗ trợ của Nhà nước và sự hưởng ứng tích cực của người dân nên các công trình đường giao thông từng bước được nhựa hóa, bê tông hóa, kiên cố, sạch đẹp đáp ứng nhu cầu đi lại, sản xuất, vận chuyển hàng hóa của người dân. Có thể khẳng định rằng, khi hợp lòng dân, dân đồng thuận thì việc gì cũng thành công đúng lời Bác dạy "Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong".

 TS-sucmanh-tulongdan-4.jpg

Tuyến đường xã Vọng Thê

Sát cánh cùng Nhân dân vượt khó khăn

Có thể nói, tinh thần "đoàn kết" được lan tỏa và phát huy mạnh mẽ trong cuộc chiến chống dịch bệnh COVID-19 diễn ra ở mọi nơi, trở thành sức mạnh, động lực để Nhân dân cùng chính quyền địa phương vượt qua khó khăn. Đã xuất hiện nhiều mô hình của các cá nhân, tổ, nhóm thiện nguyện cùng chính quyền địa phương tham gia hỗ trợ lương thực, thực phẩm cho người dân ảnh hưởng dịch bệnh COVID-19. Làm theo sức của mình, mỗi người một hành động thiết thực ví như cụ già trên 80 tuổi tham gia nấu ăn phục vụ khu cách ly, em học sinh đập ống heo đóng góp vào quỹ phòng chống dịch, những nông dân đóng góp trên một tấn cá, rau củ quả chia sẻ cùng người dân… Điển hình một trong những rất nhiều tấm lòng thiện nguyện hết sức trân quý trong thời buổi khó khăn do ảnh hưởng dịch COVID-19. Đó là ông Cao Văn Trường, ấp Tân Hiệp A, thị trấn Óc Eo. Vèo cá trê phi của ông Trường với khoảng 600kg cá thương phẩm, ông Trường đã cho chính quyền địa phương thị trấn Óc Eo để hỗ trợ cho người dân khó khăn trong chuyến xe không đồng do ảnh hưởng đại dịch COVID-19. Và còn, còn rất nhiều hình ảnh đẹp về tinh thần đoàn kết, yêu thương, chia sẻ của chính quyền địa phương cùng người dân sát cánh trong "cuộc chiến" cam go ấy… Bên cạnh những chính sách hỗ trợ của Chính phủ cho nông dân gặp khó trong tiêu thụ nông sản, các cơ sở sản xuất, kinh doanh, lao động không có việc làm, mất thu nhập. Các cấp ủy đảng, chính quyền vận động mạnh thường quân ủng hộ thực hiện "Gian hàng 0 đồng" "Chuyến xe 0 đồng" tại 17 xã, thị trấn. Kết quả đến nay đã vận động được 8.730.982.500 đồng (trong đó tiền mặt và hiện vật). Qua đó đã phát được 57.413 phần quà cho hộ nghèo, cận nghèo, khó khăn, cơ nhỡ. Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên hỗ trợ nông dân tiêu thụ sản…

Có thể nói, sự đồng tâm, hiệp lực của Nhân dân sát cánh cùng chính quyền địa phương trong cuộc chiến đẩy lùi dịch bệnh COVID-19, nhiều chính sách, chủ trương của Đảng, Nhà nước kịp thời giải pháp giúp người dân vượt qua khó khăn. Niềm tin của Nhân dân vào Đảng, Nhà nước lại ngày càng trở lên bền chặt, vững chắc.

 TS-sucmanh-tulongdan-6.jpg

Đoàn Thanh niên trao quà cho người dân bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19

Với sự đoàn kết, đồng lòng chung sức của cả hệ thống chính trị, nhiều cách làm hay, đổi mới phương thức lãnh chỉ đạo, Thoại Sơn đạt được nhiều thành tựu vượt bật cả về kinh tế - văn hóa - xã hội, tạo bước chuyển mình làm thay đổi bộ mặt nông thôn, nâng cao thu nhập cho người dân. Đến nay, 14/14 xã đạt chuẩn xã nông thôn mới nâng cao.

Có thể thấy rằng các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương huyện Thoại Sơn đã và đang thực hiện đúng như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: "Cán bộ đảng viên phải nâng cao tinh thần phụ trách trước Đảng và trước quần chúng, hết lòng hết sức phục vụ Nhân dân. Phải kính yêu Nhân dân. Phải tôn trọng thật sự quyền làm chủ của Nhân dân…" đã góp phần đưa huyện Thoại Sơn đạt cả 3 danh hiệu cao quý "Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân", "Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới" "Huyện nông thôn mới" và đang hướng đến huyện nông thôn mới nâng cao.

Kim Cương

FalseĐưa Nghị quyết vào cuộc sống
Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Người anh cả của Quân đội, văn võ sáng giữa lòng dânBài viếtHòa BìnhĐại tướng Võ Nguyên Giáp: Người anh cả của Quân đội, văn võ sáng giữa lòng dân/SiteAssets/111-nam-ngay-sinh-VNG-b.jpg
25/08/2022 9:00 SANoĐã ban hành

​(TUAG)- Từ một thầy giáo dạy lịch sử trở thành Đại tướng, Tổng Tư lệnh, ông được lịch sử và Chủ tịch Hồ Chí Minh lựa chọn vì “Văn lo vận nước văn thành võ / Võ thấu lòng dân võ hóa văn” - người chính là Đại tướng Võ Nguyên Giáp (1911 - 2013) - một trong những học trò xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là người đại tướng của nhân dân, người anh cả của quân đội cách mạng, một nhà văn hóa lớn của Việt Nam,...

111-nam-ngay-sinh-VNG-1.jpg

Có lẽ nhắc đến Võ Nguyên Giáp thì không ai trong chúng ta không biết về vị Đại tướng tài ba của quân đội và nhân dân Việt Nam. Đại tướng Võ Nguyên Giáp có tên khai sinh Võ Giáp, bí danh: Văn. Sinh ngày 25/8/1911 tại xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Ông là Đại tướng đầu tiên của quân đội ta, cũng là Đại tướng thắng nhiều Đại tướng nhất. Nhưng ông cũng là vị tướng luôn tiếc thương từng giọt máu của người chiến sĩ. Tên tuổi và sự nghiệp của ông đã không chỉ được khắc ghi trong lịch sử dân tộc mà còn lừng danh thế giới và luôn ngời sáng mãi trong lòng nhân dân ta…

Đảm nhiệm trọng trách Tổng Tư lệnh khi tuổi đời còn khá trẻ (37 tuổi); song với sự học tập, rèn luyện, phấn đấu không ngừng nghỉ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, xứng đáng với sự tin tưởng của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam. Với 30 năm là Tổng Tư lệnh Quân đội, Bí thư Quân ủy Trung ương, Đại tướng luôn tỏ rõ là nhà quân sự xuất chúng, nhà lãnh đạo có uy tín lớn của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta; được cán bộ, chiến sĩ quân đội yêu mến, kính trọng, suy tôn là “Người anh Cả” của Quân đội nhân dân Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp là vị tướng có công lao, đóng góp to lớn trong xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hùng mạnh, chính quy, tinh nhuệ, ngày càng hiện đại.

Chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” là minh chứng sinh động về sự trưởng thành, lớn mạnh của quân đội ta dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sáng suốt của Đảng, Bác Hồ kính yêu và sự chỉ huy tài tình của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Lần đầu tiên trên thế giới, quân đội của một nước thuộc địa nhỏ ở châu Á đã đánh bại quân đội của một cường quốc châu Âu.

Bước sang cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Đại tướng Võ Nguyên Giáp tiếp tục giữ cương vị là người đứng đầu quân đội, cùng với Bộ Chính trị hoạch định những quyết sách chiến lược. Đại tướng là người sớm có kiến nghị và có nhiều công lao trong việc khẩn trương xây dựng Quân đội nhân dân tiến lên chính quy, hiện đại, xây dựng các Quân chủng Phòng không - Không quân, Hải quân, Binh chủng Đặc công, xây dựng đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh trên bộ và đường Hồ Chí Minh trên biển chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam và tiến thẳng đến dinh lũy của kẻ địch vào ngày toàn thắng.

Dai tuong Vo Nguyen Giap.jpg

Sau khi đất nước thống nhất, cùng đi lên Chủ nghĩa xã hội, đồng chí Võ Nguyên Giáp được Đảng và Chính phủ phân công vừa phụ trách quốc phòng đến năm 1980, vừa chỉ đạo công tác khoa học kỹ thuật, khoa học xã hội và sau đó cả công tác giáo dục đào tạo đến năm 1991, đồng chí từng nhấn mạnh: "Giáo dục rất quan trọng. Muốn chấn hưng đất nước, muốn đào tạo con người có ích cho xã hội thì phải coi giáo dục là ưu tiên bậc nhất". Tiếp thu kinh nghiệm của thế giới, tập hợp được trí tuệ của nhiều nhà khoa học trong nước, đồng chí đã có những ý kiến chỉ đạo đúng đắn, sát thực tiễn, góp phần đề ra những quan điểm cơ bản tạo nên những tiến bộ của nền khoa học và giáo dục Việt Nam thời kỳ này.

Là cộng sự tin cậy và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Võ Nguyên Giáp sớm thấy được giá trị to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với những thắng lợi của cách mạng Việt Nam, sớm đề xuất và trực tiếp triển khai nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh. Năm 1990, tại Lễ kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức tại Ấn Độ, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã trình bày tham luận “Thế giới còn đổi thay, nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh sống mãi”. Năm 1991, đồng chí đề nghị với Bộ Chính trị và Ban trù bị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII cần xác định tư tưởng Hồ Chí Minh cùng chủ nghĩa Mác - Lênin là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng và đã được Đại hội nhất trí tán thành. Sau Đại hội, trong 5 năm, đồng chí làm cố vấn cho chương trình khoa học cấp Nhà nước Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh và trực tiếp làm Chủ nhiệm đề tài “Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam”. Sau khi rời vị trí lãnh đạo, quản lý cho đến những năm đầu thế kỷ 21, đồng chí Võ Nguyên Giáp vẫn theo dõi cập nhật tình hình thời sự trong nước, thế giới và luôn quan tâm, kịp thời đóng góp với Đảng, Nhà nước những vấn đề quan trọng của quốc gia.

111-nam-ngay-sinh-VNG-b.jpg

Là một nhà lãnh đạo văn võ song toàn, đồng chí Võ Nguyên Giáp không những có kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn phong phú mà còn là nhà lý luận xuất sắc với những cống hiến to lớn. Đồng chí hết sức coi trọng việc nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, nhất là lĩnh vực quân sự, là người đã cụ thể hóa tư tưởng Hồ Chí Minh về khởi nghĩa vũ trang, về chiến tranh cách mạng, chiến tranh nhân dân cả trong hoạt động thực tiễn và tổng kết, đúc rút thành lý luận. Đồng chí đã biên soạn, xuất bản hơn 40 tác phẩm, góp phần phổ biến, quán triệt đường lối chính trị, quân sự của Đảng Cộng sản Việt Nam, chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giáo dục lịch sử, truyền thống và kinh nghiệm, đồng thời đã khái quát những vấn đề mới, những nội dung cơ bản về tư tưởng và lý luận quân sự Việt Nam.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp được suy tôn là Anh Cả của Quân đội nhân dân Việt Nam, là Tư lệnh của các tư lệnh, Chính ủy của các chính ủy, là Đại tướng của Nhân dân. Thế giới đánh giá, với tài thao lược về chiến lược, chiến dịch, hậu cần kết hợp nhuần nhuyễn với chính trị và ngoại giao, Võ Nguyên Giáp là một danh tướng của thế giới, một trong những thiên tài quân sự lớn nhất thế kỷ XX.

111-nam-ngay-sinh-VNG-a.jpg

Với công lao và cống hiến xuất sắc của mình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã được Đảng, Nhà nước trao tặng Huân chương Sao Vàng, 2 Huân chương Hồ Chí Minh, huy hiệu 70 năm tuổi Đảng và nhiều huân chương, huy chương cao quý khác của Việt Nam và quốc tế.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp từ trần ngày 04/10/2013, người đã hiến dâng trọn đời mình cho Tổ quốc, cho Nhân dân. Những gì mà người để lại cho dân tộc Việt Nam sẽ còn mãi với thời gian và sáng mãi trong lòng Nhân dân Việt Nam./.

H.B

FalseChính trị
Infographics: Những câu nói nổi tiếng của Đại tướng Võ Nguyên GiápBài viếtAdminInfographics: Những câu nói nổi tiếng của Đại tướng Võ Nguyên Giáphttps://www.angiang.dcs.vn/SiteAssets/Dai%20tuong%20Vo%20Nguyen%20Giap.jpg
25/08/2022 6:00 SANoĐã ban hành

Nhìn lại lịch sử, dường như những câu nói bất hủ của Đại tướng luôn gắn với sinh mệnh của dân tộc Việt Nam, không chỉ trong lúc điều binh khiển tướng, mà cả khi đã về với đời thường.

Nhung_cau_noi_noi_tieng_cua_dai_tuong_vo_nguyen_giap.jpg

Ngọn lửa sống và tình yêu nước của Đại tướng Võ Nguyên Giáp luôn cháy rực trong bất kỳ hoàn cảnh nào.

Nhìn lại lịch sử, dường như những câu nói bất hủ của Đại tướng luôn gắn với sinh mệnh của dân tộc Việt Nam, không chỉ trong lúc điều binh khiển tướng, mà cả khi đã về với đời thường, con người ông vẫn toát lên trách nhiệm đó.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp sinh ngày 25/8/1911, cách đây 111 năm./.

Nguồn: TTXVN


FalseChính trị
An Giang kỷ niệm 134 năm Ngày sinh Chủ tịch Tôn Đức Thắng (20/8/1888 - 20/8/2022)TinCông MạoAn Giang kỷ niệm 134 năm Ngày sinh Chủ tịch Tôn Đức Thắng (20/8/1888 - 20/8/2022)/SiteAssets/Sinhnhat-134-BacTon-1%20-%20Copy.jpg
19/08/2022 10:00 SAYesĐã ban hành

(TUAG)- Sáng 19/8, tại Khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng (xã Mỹ Hòa Hưng, thành phố Long Xuyên, An Giang), Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh An Giang tổ chức dâng hoa, dâng hương nhân kỷ niệm 134 năm Ngày sinh Chủ tịch Tôn Đức Thắng (20/8/1888 - 20/8/2022).

Sinhnhat-134-BacTon-1 - Copy.jpg

Tham dự buổi lễ có Bí thư Tỉnh ủy An Giang Lê Hồng Quang cùng các đồng chí trong Thường trực Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh An Giang, lãnh đạo các địa phương trong tỉnh An Giang, đại diện thân tộc của Chủ tịch Tôn Đức Thắng cùng đông đảo cán bộ, Nhân dân trong và ngoài tỉnh An Giang.

Sinhnhat-134-BacTon-2 - Copy.jpg

Sinhnhat-134-BacTon-3 - Copy.jpg

Tại Khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng, Bí thư Tỉnh ủy An Giang Lê Hồng Quang cùng các đồng chí trong Thường trực Tỉnh ủy, Thường trực UBND tỉnh An Giang và thành phố Long Xuyên đã thành kính dâng hoa, dâng hương tại đền thờ để tưởng nhớ Chủ tịch Tôn Đức Thắng - nhà lãnh đạo mẫu mực, người cộng sản kiên trung, người bạn chiến đấu thân thiết của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, tấm gương đạo đức cách mạng sáng ngời - suốt đời phấn đấu, hy sinh vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Sinhnhat-134-BacTon-4 - Copy.jpg

Phát biểu tại buổi lễ, Chủ tịch UBND tỉnh An Giang Nguyễn Thanh Bình khẳng định: Kỷ niệm 134 năm Ngày sinh Chủ tịch Tôn Đức Thắng là dịp để ôn lại cuộc đời hoạt động cách mạng và những cống hiến to lớn, chúng ta càng thêm kính trọng và bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc Chủ tịch Tôn Đức Thắng - một chiến sĩ cách mạng kiên trung của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, người bạn chiến đấu thân thiết của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, nhà lãnh đạo mẫu mực của Đảng, đã hiến dâng cả cuộc đời cho lý tưởng cộng sản, độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đây cũng là dịp để chúng ta học tập, làm theo tấm gương đạo đức Chủ tịch Tôn Đức Thắng - một gương mẫu đạo đức cách mạng; suốt đời cần, kiệm, liêm, chính, suốt đời hết lòng, hết sức phục vụ cách mạng, phụng sự nhân dân.

Sinhnhat-134-BacTon-5 - Copy.jpg

Sinhnhat-134-BacTon-6 - Copy.jpg

Tự hào về sự nghiệp và đạo đức cách mạng trong sáng của Chủ tịch Tôn Đức Thắng, Đảng bộ và nhân dân An Giang nguyện đoàn kết một lòng, ra sức học tập, công tác, nêu cao ý chí tự lực tự cường, phát huy tinh thần năng động, sáng tạo, khai thác tiềm năng thế mạnh, tận dụng thời cơ và các yếu tố "thiên thời, địa lợi, nhân hòa", xây dựng tỉnh An Giang không ngừng phát triển, xứng đáng là quê hương của Chủ tịch Tôn Đức Thắng.

Chủ tịch Tôn Đức Thắng - Bác Tôn, sinh ngày 20/8/1888 tại Cù lao Ông Hổ thuộc làng An Hòa, tổng Định Thành, tỉnh Long Xuyên (nay là xã Mỹ Hòa Hưng, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang) trong một gia đình trung nông. Sinh ra trong hoàn cảnh đất nước bị ngoại xâm, các phong trào yêu nước thất bại và bị đàn áp khốc liệt, không khí chính trị ấy tác động rất sâu sắc đến nhận thức của Bác từ thuở thiếu niên. Bên cạnh đó, quê hương An Giang - giàu nghĩa tình và truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm - đã góp phần bồi đắp những phẩm chất cao quý trong tính cách và tâm hồn Tôn Đức Thắng - vĩ đại trong cái bình thường, bình thường một cách vĩ đại.

Sinhnhat-134-BacTon-7 - Copy.jpg

Với 92 tuổi đời, gần 70 năm liên tục hoạt động cách mạng, 27 năm liên tục làm Chủ tịch Mặt trận Liên Việt và Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và hơn 10 năm trên cương vị Chủ tịch nước, Bác Tôn đã hiến dâng trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng ta, Nhân dân ta và bạn bè quốc tế. Với những cống hiến to lớn đó, Bác là người đầu tiên vinh dự được Đảng và Nhà nước trao tặng Huân chương Sao Vàng, Huân chương cao quý nhất; cùng nhiều giải thưởng quan trọng như Huân chương Lênin, giải thưởng Lênin vì hòa bình và hữu nghị giữa các dân tộc, cùng nhiều phần thưởng danh hiệu cao quý khác.

Tên tuổi và sự nghiệp của Bác Tôn còn mãi với non sông đất nước ta, sống mãi trong lòng dân tộc và quê hương An Giang. Người để lại cho thế hệ sau một di sản vô cùng quý giá về tư tưởng, đạo đức của Người. Đó là tính chất hào sảng của người dân vùng đất Nam bộ, ý chí quật cường, kiên trung và tinh thần yêu nước, thương dân nồng nàn của người chiến sĩ cộng sản, vị lãnh đạo kính mến của dân tộc. Dù với cương vị là Chủ tịch nước, nhưng Bác Tôn luôn sống bình dị, chân thành, hòa mình với quần chúng như một con người thật bình thường. Chính vì thế, Bác đã trở thành bất tử, một con người bình thường nhưng vĩ đại.

Đặc biệt, dịp kỷ niệm 134 năm Ngày sinh Chủ tịch Tôn Đức Thắng năm nay được tổ chức vào thời điểm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, giai đoạn bình thường mới sau đại dịch COVID-19. Tình hình quốc tế và trong nước mở ra nhiều thời cơ và không ít khó khăn, thách thức đan xen, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta cần đoàn kết, phấn đấu với quyết tâm cao và nỗ lực lớn, năng động, sáng tạo hơn nữa để hoàn thành thật tốt những mục tiêu, nhiệm vụ đã đặt ra; đồng thời chủ động nắm bắt thời cơ, phấn đấu hoàn thành các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2022; chuẩn bị và tổ chức tốt các sự kiện Kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh An Giang; tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, tăng cường sự gắn bó mật thiết giữa Đảng và nhân dân. 

Nhân dịp này, thay mặt Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh An Giang, Chủ tịch UBND tỉnh An Giang Nguyễn Thanh Bình kêu gọi cán bộ, chiến sĩ và nhân dân trong tỉnh đoàn kết một lòng, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và noi theo phẩm chất cao quý của Chủ tịch Tôn Đức Thắng, suốt đời cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư, hết lòng hết sức phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân, chung tay xây dựng quê hương An Giang ngày càng giàu đẹp hơn, văn minh hơn, nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc hơn.

Sinhnhat-134-BacTon-8 - Copy.jpg

Trước đó, vào sáng cùng ngày, lãnh đạo Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh An Giang và thành phố Long Xuyên đã đến đạt vòng hoa tưởng nhớ Chủ tịch Tôn Đức Thắng tại Tượng đài của Người ở phường Mỹ Long, thành phố Long Xuyên./.

Công Mạo

TrueChính trị
Ôn lại lịch sử cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám thành công (19/8/1945) Bài viếtHòa BìnhÔn lại lịch sử cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám thành công (19/8/1945) /SiteAssets/CMT8-QK29-2022.jpg
19/08/2022 6:00 SAYesĐã ban hành

77nam-CMT8.jpg

(TUAG)- Cách đây 77 năm, từ ngày 14 đến 19/8/1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng ta và Lãnh tụ Hồ Chí Minh, toàn dân tộc Việt Nam nhất tề vùng lên tiến hành tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám, đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, giành toàn bộ chính quyền về tay nhân dân. Sau thắng lợi vẻ vang của Cách mạng Tháng Tám, ngày 2/9/1945, tại Quảng Trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch  Hồ Chí Minh trịnh trọng đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Từ đây, lịch sử Việt Nam đã sang trang mới, nhân dân ta từ thân phận nô lệ, trở thành người tự do; đất nước và dân tộc bước vào kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

CMT8-2022b.jpg

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân cả nước đồng loạt đứng lên tham gia, chỉ trong vòng 15 ngày cuối tháng 8/1945, cuộc Tổng khởi nghĩa đã giành thắng lợi hoàn toàn. Thành công của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là kết quả của 15 năm đấu tranh kiên cường, hy sinh, gian khổ của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, trải qua 3 cuộc tổng diễn tập, đó là cao trào cách mạng 1930-1931; cuộc vận động dân chủ, dân sinh 1936-1939; cuộc vận động giải phóng dân tộc 1939-1945.

Cách mạng Tháng Tám thành công nhanh chóng và ngoạn mục do nhiều nguyên nhân, trước hết là nhờ có sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng cộng sản việt Nam, là kết quả của sự vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin trong điều kiện cụ thể của nước ta. Đặc biệt là Đảng ta đã chớp thời cơ lịch sử để chỉ đạo và tổ chức khởi nghĩa giành thắng lợi trọn vẹn trong cả nước.

Cuộc Tổng khởi nghĩa là thành quả tuyệt vời của tinh thần, ý chí trí tuệ con người Việt Nam  được phát huy và nâng tầm cao mới sau 15 năm đấu tranh quật cường dưới sự lãnh đạo của một Đảng Mác-xít chân chính.

Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, mở ra kỷ nguyên mới: Độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Đó là bước ngoặt mang tầm lịch sử lớn lao. Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, nhân dân ta đã đập tan xiềng xích áp bức của thực dân trong gần một thế kỷ, lật nhào chế độ quân chủ chuyên chế, nhân dân trở thành người chủ của một nước độc lập. Đảng ta từ một Đảng hoạt động bí mật, trở thành một Đảng cầm quyền. Từ đây là tiền đề cho đất nước, xã hội Việt Nam có những biến đổi lớn lao và sâu sắc.

 cmt8-1945-bbp.jpg

Quần chúng cách mạng và tự vệ chiến đấu Hà Nội chiếm Phủ Khâm sai (Bắc Bộ phủ), ngày 19/8/1945 (ảnh: Tư liệu)

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là thắng lợi của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối cách mạng của Đảng ta là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại. Đây còn là quá trình phát triển tất yếu của lịch sử dân tộc, là sức mạnh cố kết cộng đồng, tầm cao trí tuệ của dân tộc, hòa quyện với những tư tưởng, xu thế của thời đại vì hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám khẳng định trong điều kiện trào lưu của cách mạng vô sản, cuộc cách mạng do một Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo không chỉ có thể thành công ở một nước tư bản phát triển, mà còn có thể thành công ở một nước thuộc địa nửa phong kiến lạc hậu và đi lên theo con đường của chủ nghĩa xã hội. Đây là sự phát triển, vận dụng đầy sáng tạo lý luận Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta.

Thành quả to lớn của Cách mạng Tháng Tám góp phần làm sụp đổ một mảng thành trì của chủ nghĩa thực dân cũ, mở ra kỷ nguyên cho dân tộc Việt Nam: Độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội.

CMT8-QK29-2022.jpg

Ý nghĩa thời đại sâu sắc của Cách mạng Tháng Tám, năm 1945 là lần đầu tiên trong lịch sử hiện đại, cuộc Cách mạng thành công vang dội ở một nước thuộc địa nửa phong kiến, mở đầu cho công cuộc giải phóng của các dân tộc bị áp bức, bị nô dịch trên toàn thế giới. Việt Nam xứng đáng là đất nước tiên phong của sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, xóa bỏ thuộc địa của chủ nghĩa thực dân, đế quốc.

Chính vì vậy, khi đánh giá về ý nghĩa của Cách mạng Tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Chẳng những giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức khác cũng có thể tự hào rằng: Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc…”.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 dẫn tới việc khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có ý nghĩa to lớn đối với dân tộc ta và quốc tế sâu sắc, Cách mạng Tháng Tám là một trong những trang sử vẻ vang nhất, chói lọi nhất của lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam./.

H.B

TrueChính trị
Thắng lợi Cách mạng Tháng Tám năm 1945: Gương cao ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội Bài viếtHòa BìnhThắng lợi Cách mạng Tháng Tám năm 1945: Gương cao ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội /SiteAssets/CMT8-2022a.jpg
17/08/2022 9:00 SANoĐã ban hành

(TUAG)- Phát huy tinh thần và những giá trị của Cách mạng Tháng Tám, kiên định mục tiêu, lí tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu và hành động phá hoại của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc.


Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công là thắng lợi vĩ đại đầu tiên của Nhân dân ta từ khi có Đảng, mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Thắng lợi Cách mạng Tháng Tám đã đưa dân tộc Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội”. Lịch sử đã chứng minh, thành công đó có được là nhờ một đảng tiên phong thật sự cách mạng, tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin, được tư tưởng Hồ Chí Minh soi sáng đã nắm vững hoàn cảnh cụ thể của mỗi giai đoạn lịch sử, đề ra đường lối cách mạng đúng đắn; biết nắm bắt thời cơ, xây dựng và tổ chức lực lượng; phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để dẫn dắt quần chúng đứng lên giành và giữ chính quyền.

Tinh thần quật khởi, giá trị to lớn và những bài học quý của Cách mạng Tháng Tám vĩ đại đã khơi nguồn, bồi đắp sức mạnh cho toàn Ðảng, toàn dân và toàn quân ta vững bước trên chặng đường mới, viết tiếp những trang sử hào hùng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp (1945-1954), cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954-1975), cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam, cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở biên giới phía Bắc dưới sự lãnh đạo của Đảng đã bảo vệ và phát triển thành quả của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Mục đích kháng chiến là để giữ lấy và phát triển những thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, tức là hòa bình, thống nhất, độc lập và dân chủ”[1].

Khi xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Tóm lại, xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt, đó là chủ nghĩa xã hội”[2]. Người đã đúc kết ngắn gọn, khúc triết về sự phát triển của các hình thái xã hội: “Lịch sử của xã hội do người lao động tạo ra. Sự phát triển của lịch sử là quy luật không ai ngăn trở được. Chế độ cộng sản nguyên thủy biến đổi thành chế độ nô lệ. Chế độ nô lệ biến đổi thành chế độ phong kiến. Chế độ phong kiến biến đổi thành chế độ tư bản chủ nghĩa. Chế độ tư bản chủ nghĩa nhất định sẽ biến đổi thành chế độ xã hội chủ nghĩa. Một chế độ này biến đổi thành một chế độ khác là cả một cuộc đấu tranh gay go, kịch liệt và lâu dài giữa cái xấu và cái tốt, giữa cái cũ và cái mới, giữa cái thoái bộ và cái tiến bộ, giữa cái đang suy tàn và cái đang phát triển. Kết quả là cái mới, cái đang tiến bộ nhất định thắng”[3].

Trong bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” vào năm 2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ: “Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Những thành tựu đó là sản phẩm kết tinh sức sáng tạo, là kết quả của cả một quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục qua nhiều nhiệm kỳ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; tiếp tục khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của chúng ta là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam”.

Thực hiện đúng lời dạy trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh rằng: “Toàn Đảng toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”, Đảng đã gương cao ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội nhằm đem lại phồn vinh cho đất nước, hạnh phúc cho đồng bào. Đảng đã vận dụng, cụ thể hóa trong Cương lĩnh chính trị của Đảng năm 1991 và năm 2011 (bổ sung và phát triển) về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm, 5 năm và kế hoạch hằng năm.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nước ta đã giành được những thắng lợi to lớn, có ý nghĩa lịch sử và toàn diện trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại, xây dựng Ðảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa... Ngày 20/9/1977, Việt Nam chính thức gia nhập Liên hợp quốc. Tiếp đó, việc trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) vào ngày 11/01/2007 là dấu mốc khẳng định sự thành công của công cuộc đổi mới và phát triển, hội nhập ở mức độ toàn cầu của kinh tế Việt Nam.

Đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 189/193 quốc gia của Liên hợp quốc thuộc tất cả các châu lục, trong đó, 17 đối tác chiến lược (3 đối tác chiến lược toàn diện) và 13 đối tác toàn diện; có quan hệ kinh tế thương mại với hơn 230 nước và vùng lãnh thổ. Việt Nam cũng đang là thành viên tích cực của trên 70 tổ chức khu vực và quốc tế, đóng vai trò quan trọng trong ASEAN và nhiều cơ quan quan trọng của Liên hợp quốc. Năm 2020, theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, quy mô nền kinh tế Việt Nam đạt khoảng 343 tỷ USD, đứng trong tốp 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới.

Việt Nam từng đảm nhiệm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2008-2009, 2020-2021. Việt Nam cũng giữ chức Chủ tịch Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc vào tháng 7/2008, 10/2009, 1/2020, 4/2021. Việt Nam hiện là một trong những Phó Chủ tịch Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 77 (nhiệm kỳ 2022-2023) đại diện cho khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Kết quả này phản ánh sự tín nhiệm của cộng đồng quốc tế dành cho Việt Nam sau quá trình dài đóng góp vào hòa bình, an ninh thế giới. Bên cạnh đó, Trung tâm gìn giữ hòa bình Việt Nam thuộc Bộ Quốc phòng được thành lập vào năm 2013 và sau đó nâng cấp thành Cục Gìn giữ hòa bình Việt Nam vào năm 2018. Thời gian qua, Bộ Quốc phòng Việt Nam đã tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc tại Phái bộ Nam Sudan và Cộng hòa Trung Phi.

Công cuộc đổi mới có ý nghĩa như một cuộc cách mạng trong thời kỳ mới, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử. Đại hội toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đặt ra mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2025 và 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Mục tiêu cụ thể đến năm 2025, kỷ niệm 50 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước: Là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp. Đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng: Là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao.

Kỷ niệm 77 năm Cách mạng Tháng Tám (19/8/1945 - 19/8/2022) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2022) là dịp toàn Ðảng, toàn Dân, toàn Quân ta ôn lại những trang sử hào hùng của dân tộc, nhìn lại chặng đường chiến đấu, xây dựng và phát triển đất nước, nhận thức sâu sắc hơn những giá trị bài học kinh nghiệm quý của chặng đường đã qua để hun đúc ý chí, quyết tâm xây dựng nước Việt Nam giàu mạnh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội./.

Hòa Bình

__________

[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 7, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 337.

[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 13, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 438.

[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 9, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 20.

FalseChính trị
Võ Chí Công - nhà lãnh đạo tiên phong trong sự nghiệp đổi mớiBài viếtTGTWVõ Chí Công - nhà lãnh đạo tiên phong trong sự nghiệp đổi mới/SiteAssets/vo-chi-cong-nha-lanh-dao-tien-phong-trong-su-nghiep-doi-moi.jpg
05/08/2022 4:00 CHNoĐã ban hành

Đồng chí Võ Chí Công - một trong những người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Bản lĩnh của người cộng sản Võ Chí Công không chỉ được tôi luyện trong cuộc đấu tranh trực diện với kẻ thù, mà còn thể hiện rõ nét trong sự nghiệp đổi mới, khi dám vượt lên những định kiến, thói quen, sự lạc hậu, trì trệ; dám chịu trách nhiệm trước Đảng, trước dân để đổi mới, sáng tạo, đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới – thời kỳ Đổi mới. Trong đó, dấu ấn rõ nét nhất của sự tiên phong, đột phá sáng tạo của đồng chí là trong lĩnh vực kinh tế nông nghiệp và công tác lập pháp, lập hiến khi trực tiếp phụ trách những lĩnh vực hết sức quan trọng này .

ĐỒNG CHÍ VÕ CHÍ CÔNG VỚI CHÍNH SÁCH KHOÁN TRONG NÔNG NGHIỆP

Đất nước thống nhất, bước vào thời kỳ hòa bình xây dựng đất nước trong điều kiện vô cùng khó khăn. Chiến tranh kéo dài để lại hậu quả nặng nề trên tất cả các mặt. Thêm vào đó là việc kéo dài cơ chế tập trung bao cấp trong điều kiện mới đã làm cho khủng hoảng kinh tế - xã hội diễn ra sâu sắc trên phạm vi cả nước.

Sau ngày đất nước thống nhất, đồng chí Võ Chí Công được Đảng và Nhà nước phân công giữ chức Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Trưởng ban Cải tạo nông nghiệp miền Nam. Đồng chí luôn trăn trở với tình hình sản xuất đang trì trệ và đau đáu tìm câu trả lời cho hiện trạng nền sản xuất nông nghiệp vốn có nhiều lợi thế của đất nước. Với tinh thần thật sự cầu thị và sâu sát thực tiễn, đồng chí quyết định đi đến các hợp tác xã “khoán chui” ở Hải Phòng, Vĩnh Phú…, ra đồng ruộng lắng nghe ý kiến, xem cách làm của xã viên. Từ khảo sát thực tế ở các địa phương, đồng chí nhận thấy cơ chế quản lý của mô hình kinh tế tập thể “hợp tác xã” đã trở thành lực cản của kinh tế nông nghiệp. Do đó, tiến hành cải cách trong nông nghiệp, trước hết là cải cách  cơ chế quản lý cũ đã trở thành yêu cầu cấp bách, tất yếu. Trong đó, vấn đề đầu tiên được đồng chí nêu ra là khoán ruộng đất cho xã viên bởi “khoán sẽ giải quyết được lợi ích cho người lao động, tạo ra động lực cho sản xuất; động cơ lợi ích của người lao động đạt được thì sẽ xóa được tiêu cực”(1). Tuy nhiên từ nhận thức đến việc thực hiện trong thực tế là cả một quá trình, cuộc đấu tranh giữa cái cũ và cái mới bao giờ cũng quyết liệt. “Khoán chui” lúc này bị lên án gay gắt, cho là chống chủ nghĩa xã hội ở nông thôn, là chống Đảng. Một số cơ quan tham mưu, quản lý ở Trung ương coi những nơi đang khoán sản phẩm là bất hợp pháp. Một số địa phương kỷ luật nghiêm khắc bất kỳ đảng viên, cán bộ nào ủng hộ khoán sản phẩm. Mặt khác, khoán chui trên thực tế dù đem lại hiệu quả rõ rệt, nhưng là việc làm tự phát của nông dân, do vậy cần có sự chỉ đạo, theo dõi chặt chẽ, đánh giá khách quan, tổng kết thực tiễn để đề xuất Trung ương có chủ trương đúng. Từ suy nghĩ đó, bên cạnh việc tiến hành tổ chức tổng kết rút kinh nghiệm về “khoán chui” ở nhiều địa phương đồng bằng sông Hồng như Hải Phòng, Hà Nam Ninh…., đồng chí Võ Chí Công chỉ đạo việc làm thí điểm khoán đến người lao động ở hợp tác xã Thổ Tang, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phú; sau đó, chỉ đạo Bộ Nông nghiệp cử cán bộ xuống thống nhất với tỉnh, huyện cách làm cụ thể để triển khai.

Đồng chí Võ Chí Công tên thật là Võ Toàn, sinh ngày 07/8/1912 trong một gia đình giàu truyền thống yêu nước và đấu tranh cách mạng tại làng Khương Mỹ, tổng Phú Quý, phủ Tam Kỳ, nay thuộc xã Tam Xuân 1, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.vochicong-2.jpg

Đồng chí Võ Chí Công tên thật là Võ Toàn, sinh ngày 07/8/1912 trong một gia đình giàu truyền thống yêu nước và đấu tranh cách mạng tại làng Khương Mỹ, tổng Phú Quý, phủ Tam Kỳ, nay thuộc xã Tam Xuân 1, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.

Là người trực tiếp chỉ đạo ngành nông nghiệp, đồng chí Võ Chí Công không chỉ tỏ rõ thái độ đồng tình, ủng hộ cách làm mới mà đã đứng ra nhận trách nhiệm về mình: Trên lĩnh vực này tôi phụ trách, nếu khoán mới không đem lại hiệu quả, tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn với Đảng và nhân dân. Đồng chí khẳng định: “Chủ nghĩa xã hội không thể chấp nhận khoán việc vì đã là Chủ nghĩa xã hội cách làm ăn phải do dân tự nguyện lựa chọn, phải mang lại no ấm, hạnh phúc cho dân. Chỉ có khoán sản phẩm, khoán chui mới phù hợp với Chủ nghĩa xã hội vì bất cứ đâu khoán chui thu nhập của xã viên cũng hơn hẳn khoán việc, vậy tại sao lại gắn khoán việc, mà nông dân coi như cái cùm trên vai với Chủ nghĩa xã hội, với Chủ nghĩa Mác - Lênin”(2). Trong nhiều cuộc họp, hội nghị của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Chính phủ… khi có nhiều ý kiến trái chiều về khoán sản phẩm, đồng chí đã kiên trì giải thích, thuyết phục bằng những con số cụ thể, bằng thực tế của sự thay đổi rõ rệt ở những hợp tác xã khoán sản phẩm, với nguyện vọng tha thiết và nhu cầu tất yếu của người nông dân muốn được “cởi trói”, được “xé rào” để được quyền tự chủ trong sản xuất; qua đó chứng minh việc khoán sản phẩm đến người lao động là phù hợp với quy luật kinh tế khách quan trong bước đi ban đầu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đồng chí đề nghị Đảng cần chủ động công nhận khoán sản phẩm để mở đường cho sản xuất phát triển và đáp ứng nhu cầu chính đáng của nông dân.

Từ kết quả làm thí điểm và căn cứ vào tình hình thực tế, khi kể cả ở những địa phương bị ngăn cản quyết liệt, khoán sản phẩm vẫn chiếm hơn nửa số hợp tác xã, đồng chí Võ Chí Công đề nghị Ban Bí thư ra Thông báo số 22 (ngày 22/10/1980) để ổn định sản xuất, xác định tính pháp lý của khoán mới, đảm bảo quyền lựa chọn cách khoán việc hay khoán sản phẩm của xã viên. Trong các Hội nghị, trước ý kiến cho rằng việc khoán sản phẩm sẽ đưa nông thôn theo con đường tư bản chủ nghĩa, đồng chí Võ Chí Công đã phân tích tình trạng trì trệ, bế tắc, tiêu cực trong các hợp tác xã và chỉ ra nguyên nhân của tình trạng đó là do cơ chế khoán việc đã không còn phù hợp với thực tiễn sản xuất. Khoán sản phẩm từ trong quần chúng nông dân mà ra, trở thành phong trào quần chúng, muốn ngăn cấm cũng không được. Bài học về gần dân, lắng nghe dân, nắm bắt nguyện vọng chính đáng của nhân dân được đồng chí nêu ra để minh chứng đầy thuyết phục cho việc phải thay đổi cơ chế quản lý lạc hậu, xa rời thực tiễn cuộc sống và nguyện vọng của nhân dân.

Từ kết quả trong thực tiễn, ngày 13-1-1981, Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị số 100/CT-TW về cải tiến công tác khoán, “mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động” trong hợp tác xã nông nghiệp, do đồng chí Võ Chí Công là người trực tiếp xây dựng dự thảo. Cốt lõi của Chỉ thị 100 là “bước đầu tạo ra cơ chế quản lý mới để hộ xã viên phát huy quyền làm chủ sản xuất kinh doanh, tạo động lực bằng lợi ích kinh tế, kích thích họ bỏ vốn, sức lao động, đẩy mạnh phát triển sản xuất, đây cũng là khâu đột phá để chuyển cơ chế quản lý hợp tác xã từ mô hình cũ từng bước sang mô hình mới”(3). Tuy đây mới chỉ giải pháp tình thế, chưa phải là hình thức mới về tổ chức quản lý nông nghiệp, mà chỉ là cải tiến hình thức khoán, từ khoán việc sang khoán sản phẩm, nhưng đã tạo ra bước phát triển mạnh mẽ trong sản xuất nông nghiệp, khuyến khích các hộ đẩy mạnh sản xuất để thu phần vượt khoán, dấy nên khí thế lao động sôi nổi ở nông thôn. Chỉ thị 100 vừa ra đời đã có hiệu quả rõ rệt trong thực tế, nhưng vẫn gặp không ít ý kiến phản đối gay gắt, xem “khoán kiểu này là phá hợp tác xã, xóa bỏ thành quả 20 năm xây dựng hợp tác xã…thậm chí là phá hoại cơ sở xã hội chủ nghĩa ở nông thôn và đi đến xét lại”(4). Mặc dù vấp phải nhiều ý kiến phản đối, nhưng đồng chí vẫn kiên trì quan điểm và tích cực bám sát thực tiễn để tìm những hình thức, biện pháp phù hợp. Từ năm 1982, trên cương vị Thường trực Ban bí thư, đồng chí Võ Chí Công chỉ đạo Ban Nông nghiệp Trung ương soạn thảo nhiều chỉ thị để cụ thể hóa và dần hoàn thiện các hình thức, mô hình cơ chế khoán sản phẩm. Đó là Chỉ thị 19 về điều chỉnh ruộng đất, đẩy mạnh cải tạo nông nghiệp miền Nam; Chỉ thị 25 về việc khuyến khích và hướng dẫn phát triển kinh tế gia đình; Chỉ thị 50 về việc kiện toàn và nâng cao chất lượng các đơn vị quốc doanh sản xuất…

Sau Đại hội VI, đồng chí Võ Chí Công đã đảm nhận trọng trách là Trưởng ban Tiểu ban nghiên cứu đổi mới cơ chế quản lý kinh tế và có đóng góp quan trọng cho sự ra đời Nghị quyết số 10-NQ/TW về Đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp vào năm 1988. Nội dung chính của Nghị quyết 10 là thực hiện khoán ruộng đất ổn định cho hộ nông dân tới 15 năm, nhiều loại tư liệu sản xuất quan trọng được giao cho xã viên, xã viên được chủ động thực hiện các khâu canh tác, hợp tác xã chuyển sang làm dịch vụ theo yêu cầu của xã viên, xã viên được tự do sử dụng và tiêu thụ sản phẩm trên thị trường ngoài chi phí cho hợp tác xã và thuế cho Nhà nước. Như vậy, đến khoán 10, quyền tự chủ của nông dân trên cả ba mặt sở hữu, quản lý, phân phối được mở rộng hơn. Hình thức khoán hộ vốn không được nhắc đến trong Chỉ thị 100, đến Nghị quyết 10 đã được công khai thừa nhận và khuyến khích. Tình trạng bất hợp lý trong mối quan hệ lợi ích giữa lao động và phân phối khi hộ xã viên là người trực tiếp làm ra của cải nhưng không có quyền gì, còn ban quản trị hợp tác xã thì lại thao túng tất cả về cơ bản được xóa bỏ. Lợi ích của người lao động được bảo đảm, bởi vậy tạo nên động lực mạnh mẽ cho nông dân sản xuất và thúc đẩy nông nghiệp phát triển. Cùng với thực hiện khoán 10 là sự đổi mới toàn bộ cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp, đổi mới hoạt động kinh tế - xã hội ở nông thôn theo hướng từng bước chuyển sang sản xuất hàng hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhờ vậy, trong một thời gian ngắn, từ chỗ thiếu lương thực triền miên, sản xuất nông nghiệp đã đáp ứng nhu cầu lương thực trong nước và trở thành một trong những nước xuất khẩu nhiều lúa gạo trên thế giới.

ĐỒNG CHÍ VÕ CHÍ CÔNG VỚI CÔNG TÁC LẬP HIẾN, LẬP PHÁP

Khi đất nước bước vào công cuộc đổi mới toàn diện, đến tháng 4 năm 1987, đồng chí Võ Chí Công được tin tưởng giao trọng trách là Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng. Trên cương vị mới, đồng chí đã chỉ đạo sát sao, tích cực và có hiệu quả trên nhiều lĩnh vực: Kinh tế –xã hội, quốc phòng – an ninh, đối ngoại, đặc biệt là trên lĩnh vực lập hiến và lập pháp.

Hiến pháp năm 1980 được ban hành trong bối cảnh đất nước hòa bình, thống nhất, là bản Hiến pháp của thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong phạm vi cả nước. Tuy nhiên, do tư duy, cơ chế cũ và việc áp dụng máy móc mô hình Hiến pháp Liên Xô nên bản Hiến pháp này đã bộc lộ nhiều hạn chế như chủ quan, duy ý chí về con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở một nước nông nghiệp lạc hậu, vừa ra khỏi chiến tranh như Việt Nam. Qua mười năm hoạt động, mô hình tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tập quyền cao độ đã làm cho bộ máy nhà nước cồng kềnh và trì trệ. Không có sự phân công, phân nhiệm rõ ràng dẫn đến các cơ quan khó có thể hoạt động một cách độc lập, tự chủ, có hiệu lực, hiệu quả. Đặc biệt trước sự khủng hoảng, sau đó là sụp đổ của hệ thống chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu và Liên Xô, thì việc đổi mới tư duy và sửa đổi Hiến pháp năm 1980 là một đòi hỏi tất yếu. Nhận thức rõ yêu cầu này, Quốc hội khoá VIII đã ra Nghị quyết thành lập Uỷ ban sửa đổi Hiến pháp năm 1980 do Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Võ Chí Công làm Chủ tịch. Đảm trách nhiệm vụ trọng đại, với tinh thần trách nhiệm cao trước Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Quốc hội, đồng chí Võ Chí Công đã huy động lực lượng chuyên gia, các nhà khoa học để thành lập các tiểu ban nghiên cứu từng chuyên đề, tổ chức nhiều cuộc hội thảo, nghiên cứu kinh nghiệm xây dựng các bản Hiến pháp trước đó và kinh nghiệm xây dựng Hiến pháp ở các nước tiên tiến. Bên cạnh đó, đồng chí chỉ đạo phân công cán bộ đi đến cơ sở, lắng nghe cặn kẽ, thấu đáo ý kiến của các ban ngành, các địa phương, các tầng lớp nhân dân. Với tầm tư duy chiến lược và đúc rút từ khảo sát thực tiễn, đồng chí nêu ý kiến chỉ đạo về việc sửa đổi Hiến pháp. Đó là tiếp tục khẳng định định hướng xã hội chủ nghĩa nhưng phải sự điều chỉnh cho sát hợp với chặng đường đầu của thời kỳ quá độ dưới ánh sáng của đường lối đổi mới; giữ vững bản chất giai cấp của Nhà nước, giữ vững nguyên tắc tập quyền nhưng phải tiếp thu hợp lý yếu tố sự phân công, kiểm soát quyền lực nhà nước; nhất quán quan điểm quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, tiếp tục đổi mới việc thể chế hóa các quyền tự do, dân chủ của công dân theo hướng quyền con người được khẳng định không tách rời địa vị công dân, quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân; thể chế hóa vai trò lãnh đạo của Đảng với Nhà nước và toàn xã hội nhưng phải phân định rõ ràng chức năng của tổ chức đảng và chức năng của cơ quan nhà nước.

Trong bối cảnh tình hình quốc tế và trong nước đang có những biến động phức tạp, nhất là sau sự kiện Liên Xô sụp đổ, trên cương vị Chủ tịch Ủy ban sửa đổi Hiến pháp, đồng chí Võ Chí Công đã kiên trì giữ vững những nguyên tắc cơ bản về dân chủ, dân quyền, pháp quyền xã hội chủ nghĩa và kiên quyết sửa đổi những điều khoản không còn phù hợp với công cuộc đổi mới. Mặc dù vẫn đảm bảo quyền lực nhà nước là thống nhất, nhưng nội dung Hiến pháp năm 1992 đã thừa nhận sự “phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực thi các quyền lập pháp, hành pháp, và tư pháp” (điều 2). Tiếp thu quan điểm “thần linh pháp quyền” của Hồ Chí Minh, lần đầu tiên trong Hiến pháp chính thức ghi nhận khái niệm nhà nước pháp quyền, đặt quyền lực nhà nước dưới sự ràng buộc của quyền lực pháp luật theo tinh thần thượng tôn pháp luật. Cơ chế kiểm soát quyền lực của Quốc hội thông qua bỏ phiếu tín nhiệm được ghi nhận từ Hiến pháp 1946 được quy định trong điều 84 của Hiến pháp mới. Theo đó, Quốc hội có quyền bỏ phiếu tín nhiệm và dẫn đến việc bãi nhiệm đối với những người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn.

Hiến pháp 1992 sử dụng khái niệm quyền con người với nội dung chính trị pháp lý rộng hơn để phản ánh giá trị của một cá nhân trong mối quan hệ với Nhà nước. Trong bản Hiến pháp này, các quyền chính trị, quyền về kinh tế... được mở rộng hơn; được tôn trọng và bảo vệ bằng pháp luật, cũng như quy định trách nhiệm của nhà nước trong việc ghi nhận và đảm bảo trên thực tế các quyền công dân, quyền con người. Điều 53 Hiến pháp 1992 đã "phục hồi" lại quyền biểu quyết của công dân khi nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân. Trong lĩnh vực kinh tế đáng chú ý là quyền tự do kinh doanh, quyền sở hữu tư nhân….

Bản Hiến pháp năm 1992 thể hiện rõ nét sự đổi mới trong tư duy đối ngoại của Đảng và Nhà nước, khi sửa đổi Lời nói đầu và ghi nhận: "Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện chính sách hòa bình, hữu nghị, mở rộng giao lưu và hợp tác với tất cả các nước trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị, xã hội khác nhau, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và cùng có lợi” (Điều 14)

Với những nội dung quan trọng trên, Hiến pháp năm 1992 là cột mốc quan trọng của lịch sử lập hiến Việt Nam, là nền tảng để hoàn thiện các hệ thống pháp quyền, là cơ sở vững chắc để thực thi các chức năng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, đồng thời tạo ra hành lang pháp lý quan trọng cho việc mở rộng và phát triển chính sách kinh tế, ngoại giao của Việt Nam trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Sự ra đời của Hiến pháp năm 1992 - Hiến pháp của thời kỳ Đổi mới, như đồng chí Võ Chí Công đã khẳng định là kết quả của quá trình đấu tranh xây dựng, và chống những quan điểm và tư tưởng sai trái trong toàn Đảng, toàn dân, giữa đổi mới và bảo thủ, giữa mở rộng dân chủ và tập trung quan liêu, giữa nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi công dân, v.v.. ; kiên quyết đấu tranh chống lại những quan điểm đòi đưa vào Hiến pháp mới những nội dung của thể chế nhà nước pháp quyền kiểu tư bản chủ nghĩa, thực hiện chế độ tam quyền phân lập hoặc không muốn đưa vào Hiến pháp vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản… Đây là thành tựu to lớn của toàn dân, toàn Đảng trong đó nổi bật vai trò của Chủ tịch Ủy ban sửa đổi Hiến pháp, đồng chí Võ Chí Công

Trong nhiệm kỳ này, dưới sự lãnh đạo của đồng chí Võ Chí Công, Quốc hội đã thông qua 31 luật, bộ luật: Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật hàng hải, Luật tổ chức Quốc hội, Luật bầu cử đại biểu Quốc hội, Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, Luật đất đai, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, v.v. và 60 Nghị quyết. Hội đồng Nhà nước đã xem xét, thông qua 43 pháp lệnh như: Pháp lệnh về lực lượng Cảnh sát nhân dân Việt Nam, Pháp lệnh về lực lượng An ninh nhân dân Việt Nam, Pháp lệnh về kế toán và thống kê, Pháp lệnh về lao động công ích, Pháp lệnh bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, Pháp lệnh khiếu nại, tố cáo của công dân, v.v..

Bên cạnh đó, Quốc hội tăng cường công tác giám sát, đổi mới hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn, cải tiến lề lối làm việc, thực hiện dân chủ trong sinh hoạt của Quốc hội nhằm nâng cao vai trò, trách nhiệm của các đại biểu nhân dân. Hoạt động của Quốc hội đã đi vào thực chất, thực hiện đầy đủ, có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ của cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, từng bước xây dựng một Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân.

Không phải ngẫu nhiên khi cả nước bắt đầu triển khai công cuộc đổi mới chưa có tiền lệ, đầy gian nan, thử thách, đồng chí Võ Chí Công lại được tín nhiệm trao trọng trách Chủ tịch Hội đồng Nhà nước để tổ chức triển khai đổi mới các hoạt động của Hội đồng nhà nước và sau đó trong vai trò Trưởng ban Ủy ban sửa đổi Hiến pháp nhằm thể chế hóa đường lối đổi mới của Đảng bằng Hiến pháp, pháp luật. Với trí tuệ, bản lĩnh của người cộng sản tiên phong dám làm, dám chịu trách nhiệm, đồng chí Võ Chí Công đã rất thành công trên vị trí và lĩnh vực công tác của mình, góp phần quan trọng đưa đất nước từng bước thoát khỏi khủng khoảng, vượt qua biến động chính trị lớn thế giới những năm đầu thập kỷ 90, tạo nền tảng vững chắc và mở đường cho tiến trình phát triển, hội nhập quốc tế của nước ta.  


TS. Lê Thị Hằng
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Nguyễn Thị Hà
Trung tâm chính trị huyện Mai Sơn, Sơn La

---------------

(1) Võ Chí Công: Trên những chặng đường cách mạng, Nxb CTQG, H, 2001, tr. 296.

(2) Tỉnh ủy Quảng Nam: Võ Chí Công Người con ưu tú của quê hương Quảng Nam – Đà Nẵng, 2008, Tr. 473

(3) Võ Chí Công: Trên những chặng đường cách mạng, Sđd, tr. 301.

(4) Võ Chí Công: Trên những chặng đường cách mạng, Sđd, tr. 298.

Nguồn: BTGTW


FalseChính trị
Bí thư Tỉnh ủy An Giang gửi thư khen các đơn vị, địa phương góp phần vào sự thành công của Chương trình truyền hình trực tiếp “Khúc tráng ca hoà bình”TinH.TBí thư Tỉnh ủy An Giang gửi thư khen các đơn vị, địa phương góp phần vào sự thành công của Chương trình truyền hình trực tiếp “Khúc tráng ca hoà bình”https://www.angiang.dcs.vn/SiteAssets/Khuc-trang-ca-HB_9.jpg
02/08/2022 5:00 CHNoĐã ban hành

​(TUAG)- Chiều ngày 2/8, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy An Giang Lê Hồng Quang gửi thư khen các địa phương, đơn vị của tỉnh An Giang, đặc biệt là các đồng chí trong Thường trực, Ban Thường vụ Tỉnh ủy, các thành viên Ban Tổ chức và các Tiểu ban: Nội dung, Hậu cần khánh tiết, An ninh trật tự, Tuyên truyền tại điểm cầu An Giang, đã tận tâm, tận lực thực hiện nhiệm vụ, phối hợp chặt chẽ với Đài Truyền hình Việt Nam vượt qua khó khăn, trở ngại, góp phần vào sự thành công của Chương trình truyền hình trực tiếp “Khúc tráng ca hòa bình”.

Thu-khen-cua-Bithu.jpg


FalseChính trị
Tổng kết 5 năm phối hợp hoạt động giữa Bộ Chỉ huy Quân sự và Hội Cựu chiến binh tỉnh An GiangTinGia KhánhTổng kết 5 năm phối hợp hoạt động giữa Bộ Chỉ huy Quân sự và Hội Cựu chiến binh tỉnh An Giang/SiteAssets/Tket-phoihop-QS-CCB-2.JPG
29/07/2022 4:00 CHNoĐã ban hành

(TUAG)- Chiều 28/7, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh An Giang và Hội Cựu chiến binh tỉnh tổ chức hội nghị tổng kết chương trình phối hợp hoạt động giai đoạn 2017-2022. Đại diện Cục Chính trị Quân khu 9, UBMTTQVN tỉnh, các cơ quan liên quan tham dự.

Tket-phoihop-QS-CCB-1.JPG

5 năm qua, hoạt động phối hợp giữa hai lực lượng ngày càng chặt chẽ, đạt hiệu quả cao, góp phần thực hiện tốt công tác tuyên truyền, vận động quần chúng, giữ vững ổn định tình hình an ninh chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng được thế trận lòng dân, xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh; triển khai thực hiện hiệu quả các cuộc vận động, phong trào thi đua yêu nước ở địa phương; giúp nhân dân phòng chống dịch bệnh COVID-19, khắc phục hậu quả lũ lụt, thiên tai; giải quyết cơ bản những vấn đề bức xúc trong nhân dân, nhất là vấn đề dân tộc, tôn giáo, tạo được sự đồng thuận trong xã hội, củng cố và mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tham gia Thực hiện tốt công tác xóa nghèo, chính sách hậu phương Quân đội; vận động, tập hợp quân nhân xuất ngũ giữ gìn và phát huy phẩm chất “Bộ đội cụ Hồ”.

Tại hội nghị, đại biểu tập trung phân tích, làm rõ những mặt đạt được và chưa được trong công tác phối hợp; một số cách làm hay cần nhân rộng; trăn trở, đề xuất để nâng cao hiệu quả phối hợp giai đoạn mới. Trong đó, tiếp tục vận động cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang, hội viên Hội cựu chiến binh, cựu quân nhân gương mẫu chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, tích cực tham gia xây dựng cơ sở chính trị vững mạnh, thực hiện các phong trào thi đua yêu nước, cuộc vận động cách mạng ở địa phương, giảm nghèo bền vững.  

Thường xuyên phối hợp tham mưu, đề xuất với cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp quan tâm xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, khu vực phòng thủ vững chắc; chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang, Hội cựu chiến binh vững mạnh về mọi mặt; thực hiện tốt chính sách quân đội, hậu phương quân đội...

Tket-phoihop-QS-CCB-2.JPG

Dịp này, 5 tập thể và 14 cá nhân được khen thưởng về thành tích hoạt động trong giai đoạn 2017-2022.

GIA KHÁNH
False
Nghĩa tình nơi Mê Kông chảy vào đất ViệtBài viếtLê Quang TrạngNghĩa tình nơi Mê Kông chảy vào đất Việt/SiteAssets/Nghia-tinh-song-MeKong-2.jpg
27/07/2022 10:00 SANoĐã ban hành

(TUAG)- An Giang là vùng đất đầu nguồn Cửu Long, nơi sông Mê Kông chảy vào đất Việt. Với địa hình "bán sơn địa", núi đồi xen lẫn những cánh rừng hoang sơ dọc theo biên giới nước bạn Campuchia đã tạo nên một thế trận vừa hiểm trở lại vừa thuận lợi cho chiến tranh du kích. Dựa vào thế núi, mạch rừng và lòng sông, bao đời qua Nhân dân An Giang đã anh dũng đấu tranh chống giặc ngoại xâm, đó là một "thế trận lòng dân" kiên cố và bất diệt, bảo vệ vững chắc bờ cõi miền biên viễn phía Nam Tổ quốc!

An Giang anh hùng, nhưng An Giang cũng là miền đất lắm đau thương, liên miên chinh chiến từ thời cha ông mở cõi cho đến cuộc trường chinh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, cứu nước. An Giang cũng là tỉnh giải phóng hoàn toàn sau cùng của miền Nam, lại là địa phương chịu thiệt hại nặng nề sau giải phóng bởi cuộc thảm sát của tập đoàn phản động Pol Pot ở vùng ven biên giới phía Tây và sau đó là bước vào cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam suốt nhiều năm liên tiếp.

Nghia-tinh-song-MeKong-1.jpg 

Lãnh đạo tỉnh An Giang dự lễ truy điệu và an táng hài cốt các liệt sĩ tại nghĩa trang Dốc Bà Đắc (ảnh: Trung Hiếu)

Trong thời kỳ Pháp thuộc, An Giang luôn là nơi nhen nhóm lên những phong trào quy tụ sức mạnh Nhân dân đứng lên khởi nghĩa. Ngày 3/2/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời tại Hồng Kông, thì chỉ trong 1 tháng sau, tại An Giang đã có chi bộ Đảng. Từ ngày chi bộ đầu tiên của tỉnh ra đời, phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân ngày một phát triển mạnh. Nhiều người mẹ đã mạnh dạn gửi gắm con mình cho tổ chức cách mạng, đưa con vào căn cứ kháng Pháp, rồi tiễn con lên đường đi tập kết hoặc tiếp tục vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Miền Nam hoàn toàn giải phóng, niềm vui sum họp chưa được bao lâu thì mẹ lại tiễn con lên đường chống giặc xâm lược biên cương; và theo lời kêu gọi của nước bạn, những đứa con của mẹ lại lên đường làm nghĩa vụ quốc tế cao cả, đánh đuổi bọn diệt chủng và giúp nước bạn hồi sinh. Trong những lần tiễn con lên đường ra trận đó, không ít lần có những đứa con của mẹ đi mãi không về, có đứa trở về nhưng đã gửi một phần thân thể nơi cánh đồng, ngọn núi nào đó. Và mồ hôi xương máu của những người con An Giang không chỉ tô thắm thêm truyền thống vẻ vang của dân tộc mà còn góp phần mang lại hòa bình, ấm no hạnh phúc cho thế hệ hôm nay và mai sau.

Đại tá, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Huỳnh Trí - nguyên Chủ nhiệm Chính trị Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh An Giang kể lại, những năm chiến tranh, điều kiện chăm sóc cho thương binh, bệnh binh cũng như chính sách dành cho liệt sĩ và thân nhân luôn được xem là một trong những vấn đề quan trọng. Đây không chỉ được xem là tình đồng chí đồng đội cao đẹp, thiêng liêng của người cách mạng, mà còn là chính sách xây dựng lòng tin yêu của Nhân dân với Đảng, với cuộc cách mạng vĩ đại mà Đảng đã đề ra. Tư tưởng này luôn được thấm nhuần trong từng cán bộ, chiến sĩ và xem đây là nghĩa cử cao đẹp, như ngọn đèn sáng soi trao truyền.

Từ hạt muối cho đến lon sữa cũng đều "trước hết dành cho thương bệnh binh". Trận chiến có khốc liệt đến cách mấy thì cũng cố bằng hết sức lấy anh em liệt sĩ mang về chôn cất thật tử tế. Sau này khi đã về hưu, Đại tá Huỳnh Trí và nhiều đồng đội của ông đã trở về chiến trường xưa, cất bốc và quy tập hài cốt các liệt sĩ trở về yên nghỉ. Đại tá Huỳnh Trí nói, "thật ra ngay khi vừa giải phóng xong, Đảng bộ và chính quyền tỉnh An Giang đã cho xây dựng nghĩa trang liệt sĩ khang trang, thành lập các đội đi quy tập liệt sĩ về đất mẹ, sau này là các đội K90, K93".

Đại tá Huỳnh Trí có lần xúc động kể rằng, không ít lần đi tìm hài cốt anh em, khi dỡ từng lớp phù sa lên, ông thấy những tấm tăng quấn anh em kỹ lưỡng. Những kỹ vật như một miếng inox khắc tên liệt sĩ; hay lọ thủy tin thuốc Pi, bên trong có chứa giấy đề tên tuổi liệt sĩ rõ ràng rành mạch, bên ngoài được bao bằng một lớp dầu lửa chống ẩm… suốt bao năm vẫn còn đó. Biết rằng chiến tranh khốc liệt, đơn vị không mang anh em về đất mẹ ngay được, nhưng tấm lòng dành cho liệt sĩ, gửi lại mẹ đất cất giữ dùm, suốt mấy mươi năm mưa nắng nhưng nét chữ vẫn vẹn nguyên một tấm lòng đồng đội, tấm lòng dành cho người đã hy sinh như viên ngọc sáng soi để những người đi tìm, biết danh tính và đưa các anh về với quê hương, gia đình.

 Nghia-tinh-song-MeKong-2.jpg

Đại tá, AHLLVTND Huỳnh Trí nói chuyện truyền thống với các chiến sĩ Tiểu đoàn 512 - An Giang (ảnh: Trần Kim Luận)

Nhiều đội quy tập hài cốt liệt sĩ đã được thành lập ngay những năm đầu sau giải phóng, quy tập hàng nghìn hài cốt về yên nghỉ trong các nghĩa trang của tỉnh. Nhiều năm theo các đội đi quy tập hài cốt liệt sĩ trong tỉnh và cả sang nước bạn Campuchia, Đại tá Huỳnh Trí tâm sự, "đến bây giờ đi tìm các anh, chúng tôi cũng phải dựa vào dân". Chiến tranh loạn lạc, sơ đồ mộ chí thất lạc, vật đổi sao dời, nên hầu đa số các cuộc tìm kiếm của các đội quy tập đều nhờ vào thông tin Nhân dân cung cấp. Không ít câu chuyện cảm động, rằng có mộ người dân biết được đây là liệt sĩ, nên họ đã vun vén đắp đất cho mộ suốt bao năm, khói nhang mỗi dịp lễ Tết, Thanh minh. Có mộ khi phát hiện mới biết là đang nằm sâu trong nền nhà dân, người dân vẫn vui vẻ nhiệt tình và giúp đỡ đội dỡ nền nhà tìm các anh về đất mẹ. Tấm lòng người dân đối với liệt sĩ như một sự đáp đền vô bờ bến cho sự hy sinh cao thượng. Và trong những lần đi tìm các anh em liệt sĩ, không ít lần Đại tá Huỳnh Trí lại lũ khủ quần áo, thuốc men, bánh trái để tặng bà con, nơi ông đếm tìm anh em, nơi chiến trường xưa, nơi một thời bom đạn cách mạng đã dựa vào dân mà sống. Đi đến đâu, Nhân dân trong nước cũng như nước bạn cũng mến yêu anh em đội quy tập. Và phải chăng, những người đi tìm hài cốt liệt sĩ cũng đang góp một phần công sức của mình vào công cuộc xây dựng niềm yêu mến của Nhân dân và bạn bè quốc tế với Đảng và Nhân dân ta!

47 năm qua, từ ngày nước nhà thống nhất, tỉnh An Giang đã xây dựng quản lý 8 nghĩa trang liệt sĩ với 14.528 mộ liệt sĩ, trong đó 2.126 mộ được đầy đủ thông tin, gần 5.973 mộ biết một phần thông tin và 6.429 mộ chưa biết thông tin. Các nghĩa trang đều được xây dựng khang trang, mang một dáng dấp của đơn vị năm nào, các anh các chị nằm ngay lối thẳng hàng yên nghỉ, nhưng đến bây giờ như vẫn đang tư thế sẵn sàng nghe tiếng gọi "xung phong". Quang cảnh các nghĩa trang với các loài cây trái miền Nam, hoặc các loài cây đặc sắc của miền Bắc nơi khu mộ các liệt sĩ từ Bắc vào Nam chiến đấu và nằm lại nơi đây. Cây cối được chăm sóc kỹ, quanh năm nở hoa bên tiếng hót líu lo của những cánh chim hòa bình, phần nào xoa dịu đi nỗi đau chiến tranh và mất mát cho những người nằm xuống và cả những thân nhân liệt sĩ đến đây để tưởng nhớ, viếng thăm!

Tôi có dịp trò chuyện với những anh chị quản trang nghĩa trang Dốc Bà Đắc, nghĩa trang liệt sĩ tỉnh và các huyện… Và nhận thấy ở các anh chị quản trang luôn có một tấm lòng hết sức thành kính và sâu sắc dành cho người đã khuất. Những câu chuyện tôi thường nghe, qua giọng kể thật thà của anh chị quản trang luôn làm tôi xúc động. Có câu chuyện rằng: "Nghĩa trang này chỉ có duy nhất mộ cô này là nữ, nghe đồng đội bảo cô năm xưa thích nhất là hoa dừa cạn, anh em quản trang chúng tôi trồng trước mộ cô mấy khóm hoa dừa cạn, lạ thay, hoa xanh tươi tốt không sâu rầy gì và nở hoa quanh năm bất kể nắng mưa". Tôi tin, tấm lòng của các anh chị quản trang đã kết tinh nên thứ dưỡng chất tốt tươi cho những bông hoa dừa cạn quanh năm khoe sắc thắm, để đồng đội và thân nhân liệt sĩ đến viếng mộ cũng thấy phần nào được nhẹ lòng!

Ở nghĩa trang Dốc Bà Đắc, tôi nghe được câu chuyện  rằng, cứ vài tháng là lại có người đàn ông đến viếng một nhóm mộ các liệt sĩ chưa xác định được tên. Chỉ có mỗi thông tin rằng các anh ở một đơn vị từng chiến đấu và hy sinh, được Nhân dân chôn cất bên bờ kinh Vĩnh Tế, sau này được quy tập về đây. Và người đàn ông hay đến thăm mộ, không phải là thân nhân liệt sĩ, mà là một cậu bé năm nào xém bị chết đuối giữa dòng kinh, may mà được các chú bộ đội cứu mạng. Cậu bé nhớ từng gươm mặt người cho đến lúc các chú hy sinh, và khi các chú được đưa về nghĩa trang yên nghĩ, cậu bé năm nào bây giờ tóc bạc như khói mây, tay chân đã lọng cọng vì cơn tai biến tuổi già, vẫn không quên đến viếng thăm các chú các anh, mang theo cây trái vườn nhà, lau chùi mộ, thắp nén nhang, trầm ngâm hồi lâu rồi về, "vì thương nhớ!".

 Nghia-tinh-song-MeKong-3.jpg

Viếng mộ liệt sĩ nhân ngày 27/2 (ảnh: Phương Ngoan)

Người nằm xuống đã được yên nghỉ vĩnh hằng, nhưng còn đâu đó những lo toan về thế hệ cháu con như vẫn còn đâu đó. Đại tá Huỳnh Trí kể rằng, có liệt sĩ trước khi hy sinh đã thổ lộ với ông rằng, mình vẫn còn đau đáu nỗi niềm lắng lo cho đứa con thơ, mong sau con ăn học đến nơi đến chốn. Và nỗi lo lắng đó của những người nằm xuống đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm chăm sóc; kế thừa sự cống hiến của các anh các chị, tiếp tục vun bồi cho thân nhân liệt sĩ một cách nhân văn và chu đáo. An Giang nói riêng và cả nước nói chung đã ghi nhớ và làm theo lời Bác dặn dò trong Di chúc: "Đối với cha mẹ, vợ con (của thương binh và liệt sĩ) mà thiếu sức lao động và túng thiếu, thì chính quyền địa phương (nếu ở nông thôn thì chính quyền xã cùng hợp tác xã nông nghiệp) phải giúp đỡ họ có công việc làm ăn thích hợp, quyết không để họ bị đói rét.". Ngay trong thời kỳ chiến tranh, đặc biệt là sau giải phóng, có nhiều chính sách chăm lo cho thân nhân liệt sĩ. Cha mẹ, vợ con và thân nhân liệt sĩ đều được hỗ trợ nhiều mặt, xoa dịu nỗi đau mát mát, giúp họ vươn lên trong cuộc sống. Nhiều mẹ Việt Nam anh hùng tuy tuổi cao nhưng vẫn luôn là tấm gương sáng về đức hy sinh và nghị lực phi thường cho thế hệ cháu con tiếp bước noi theo. Mỗi khi khỏe, các mẹ đều đến các đơn vị bộ đội động viên con cháu, may từng tấm mền, cái áo gửi cho các anh em nơi tuyến đầu chống dịch COVID-19...

Nhiều thân nhân liệt sĩ không ỷ lại sự chăm lo của Đảng và Nhà nước, nhiều gia đình, thân nhân liệt sĩ đã vươn lên trong học tập, lao động và sản xuất. Học theo lời Bác dạy: "Sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do. Nhân dân ta đời đời ghi nhớ công ơn các liệt sĩ và chúng ta phải luôn luôn học tập tinh thần dũng cảm của các liệt sĩ để vượt tất cả khó khăn, gian khổ, hoàn thành sự nghiệp cách mạng mà các liệt sĩ chuyển lại cho chúng ta...", họ nhắc nhở nhau, "cha anh mình làm cách mạng, mình cũng phải sống tử tế và noi gương cha anh vượt qua những khó khăn, vươn lên trong cuộc sống và luôn giữ gìn truyền thống gia đình, tiếp tục lao động sản xuất trên chính mồ hôi sức lực của mình để nuôi gia đình và đóng góp xây dựng xã hội". Họ lại tiếp nối cha anh, là những người đi đặt những viên gạch xây nên giá trị của hòa bình và niềm tin vào Đảng!

 Nghia-tinh-song-MeKong-4.jpg

Đội K.93 thay hoa mới cho các mộ liệt sĩ (ảnh: Trần Kim Luận)

Phải chăng ý Đảng cũng là lòng dân, bền chặt như phên dậu vững chắc nơi dòng Mê Kông chảy vào đất Việt. Những người có ý nghị lực phi thường như các mẹ, các bà; bình dị như anh chị quản trang mà tôi gặp; hay những nhân vật của các câu chuyện cảm động kể trên, họ đã và đang góp phần dựng xây nên truyền thống "Uống nước nhớ nguồn" có từ ngàn xưa, và chính sách đền ơn đáp nghĩa của Đảng và Nhà nước ta dày công xây dựng và không ngừng vun đắp, xứng đáng với lời Bác Hồ dặn dò trong Di chúc trước lúc đi xa: "Đầu tiên là công việc đối với con người. Đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình…"

Lê Quang Trạng

False
Chủ tịch UBND tỉnh An Giang gửi thư tri ân nhân dịp kỷ niệm 75 năm Ngày Thương binh- Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2022)TinAdminChủ tịch UBND tỉnh An Giang gửi thư tri ân nhân dịp kỷ niệm 75 năm Ngày Thương binh- Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2022)/SiteAssets/27-7-thu-tri-an.jpg
26/07/2022 2:00 CHNoĐã ban hành

​(TUAG)- Nhân dịp Kỷ niệm 75 năm Ngày Thương binh- Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2022), thay mặt Tỉnh ủy, HĐND, UBND, UBMTTQVN tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh An Giang Nguyễn Thanh Bình đã gửi thư tri ân các anh hùng, liệt sĩ đã anh dũng hy sinh cho Tổ quốc và trân trọng gửi đến các mẹ Việt Nam Anh hùng, các Anh hùng Lực lượng vũ trang, các đồng chí thương binh, bệnh binh, các thân nhân liệt sĩ, các gia đình có công với cách mạng...

27-7-thu-tri-an.jpg

FalseChính trị
Bác Hồ với thương binh, liệt sĩBài viếtTTCTTTBác Hồ với thương binh, liệt sĩ/SiteAssets/27-7-tcd_uongnuoc.jpg
26/07/2022 8:05 SAYesĐã ban hành

(TUAG)- ​Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến các chiến sĩ, thương binh, bệnh binh, thân nhân liệt sĩ. Mặc dù bận trăm công nghìn việc, nhưng hằng năm, cứ đến ngày 27/7, Bác đều trực tiếp gửi thư, tặng quà, đi thăm các thương binh, gia đình liệt sĩ, viếng các anh hùng liệt sĩ ở nghĩa trang. Tình cảm của Người biểu hiện sâu sắc truyền thống cao đẹp “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam.

27-7-tcd_uongnuoc.jpg

Ngược dòng lịch sử

Ngày 10/3/1946, Báo Cứu Quốc đăng thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi đồng bào Nam Bộ. Trong thư có đoạn Người viết: "Tôi xin kính cẩn cúi chào vong linh các anh chị em đã bỏ thân vì nước và các đồng bào đã hy sinh trong cuộc đấu tranh cho nước nhà…".

Ngày 07/11/1946, Người đã đến dự lễ "Mùa đông binh sĩ" do Hội liên hiệp quốc dân Việt Nam tổ chức tại Nhà hát lớn thành phố Hà Nội, vận động đồng bào ở hậu phương đóng góp tiền của để may áo trấn thủ cho chiến sĩ, thương binh, bệnh binh.

Kháng chiến bùng nổ, mọi người dân Việt Nam yêu nước nhất tề theo Đảng, theo cách mạng đứng lên không tiếc máu xương, đánh đuổi bè lũ thực dân cướp nước. Hàng triệu người đã hy sinh anh dũng, hàng vạn người đã hiến dâng một phần thân thể của mình... kiên gan, bền chí theo Đảng làm cách mạng. Xúc động với sự hy sinh cao cả ấy, tháng 6/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị Chính phủ chọn một ngày nào đó trong năm làm "Ngày Thương binh" để đồng bào ta có dịp tỏ lòng hiếu nghĩa, yêu mến thương binh.

Hưởng ứng và đáp lại tấm lòng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một hội nghị trù bị đã khai mạc tại xã Phú Minh, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Hội nghị nhất trí lấy ngày 27/7 hằng năm là Ngày Thương binh, liệt sĩ và tổ chức ngay lần đầu trong năm 1947.

Cũng trong ngày kỷ niệm đầu tiên (ngày 27/7/1947), Báo Vệ quốc quân số 11 đã đăng thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Thường trực Ban tổ chức "Ngày Thương binh toàn quốc". Đầu thư Người viết: "Đang khi Tổ quốc lâm nguy, giang sơn, sự nghiệp, mồ mả, đền chùa, nhà thờ của tổ tiên ta bị uy hiếp. Cha mẹ, anh em, vợ con, ao vườn, làng mạc ta bị nguy ngập. Ai là người xung phong trước hết để chống cự quân thù? Đó là những chiến sĩ mà nay một số đã thành thương binh".

Cuối thư, Người vận động đồng bào nhường cơm sẻ áo, giúp đỡ thương binh. Bản thân Người đã xung phong góp chiếc áo lụa, một tháng lương và tiền ăn một bữa của Người và của tất cả các nhân viên của Phủ Chủ tịch, tổng cộng là một ngàn một trăm hai mươi bảy đồng để tặng thương binh.

Bác cũng căn dặn sự đền ơn, đáp nghĩa thương binh, gia đình liệt sĩ cần phải được thể hiện bằng những việc làm cụ thể, bằng sự giúp đỡ về vật chất và tinh thần do Nhà nước và Nhân dân cùng thực hiện. Khi giúp đỡ thương binh, gia đình liệt sĩ thì “nên coi đó là nghĩa vụ của Nhân dân. Không nên coi đó là việc làm phúc”.

Trước lúc đi xa, Người vẫn không quên để lại những lời căn dặn trong Bản Di chúc lịch sử cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta: “Ngay sau khi cuộc chống Mỹ, cứu nước của Nhân dân ta đã hoàn toàn thắng lợi, công việc đầu tiên đối với con người là chăm lo cho thương binh và những người có công trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình. Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm mọi cách làm cho họ có nơi ăn, chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở những lớp dạy nghề thích hợp với mỗi người để họ có thể dần dần “tự lực cánh sinh”. Đối với các liệt sĩ ở mỗi địa phương, cần xây dựng vườn hoa và bia kỷ niệm ghi sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ, để đời đời giáo dục tinh thần yêu nước cho Nhân dân ta. Đối với cha mẹ, vợ con (của thương binh, liệt sĩ) mà thiếu sức lao động và túng thiếu, thì chính quyền địa phương phải giúp đỡ cho họ có công ăn việc làm thích hợp, quyết không để họ bị đói rét”.

27-7-tcd_phathuy-Me-VNAH.jpg

Thực hiện di huấn thiêng liêng của Bác

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng nỗi đau về thể xác và tinh thần mà các liệt sĩ, thương bệnh binh và thân nhân của họ phải gánh chịu vẫn là những mất mát không gì có thể bù đắp. Tuy nhiên, vượt lên tất cả những mất mát ấy, theo lời Bác dạy: “Tàn nhưng không phế”, hàng vạn thương, bệnh binh vẫn tiếp tục cống hiến cho đời bằng tất cả sức lực, niềm tin cách mạng và ý chí khát vọng vô bờ: “…Vết chân tròn vẫn đi về trên con đường mòn cát trắng quê tôi, Anh thương binh vẫn đến trường làng, vẫn ôm đàn dạy các em thơ bài hát quê hương…”.

Lịch sử mãi còn khắc ghi, Tổ quốc đời đời ghi công những tấm gương anh hùng, liệt sĩ đã ngả xuống “Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”. Những Phạm Hồng Thái, Lý Tự Trọng, Kim Đồng, Võ Thị Sáu; Nguyễn Viết Xuân, Nguyễn Văn Trỗi, Đặng Thùy Trâm… Nữ anh hùng Huỳnh Thị Hưởng của quê hương An Giang trước họng súng kẻ thù vẫn ung dung: “Bà con yên tâm, tôi không khai báo gì, tôi có chết còn nhiều người khác làm cách mạng. Cách mạng sẽ thắng lợi!” và còn rất nhiều những khí phách quật cường không sao kể hết như: Nguyễn Đăng Sơn, Nguyễn Thị Bạo, Huỳnh Thị Hưởng, Phan Thị Ràng, Phạm Văn Cương, Neáng Nghés, Nguyễn Văn Ba, Trần Thanh Lạc,...

Theo số liệu thống kê (số liệu năm 2021), cả nước hiện có trên 9,2 triệu người có công, trong đó có trên 1,3 triệu người có công được hưởng trợ cấp hằng tháng. Trong đó có gần 1,2 triệu liệt sĩ; gần 200.000 liệt sĩ chưa tìm thấy hài cốt; gần 300.000 hài cốt liệt sĩ chưa xác định được danh tính, hàng triệu thương, bệnh binh mang trên mình thương tích, bệnh tật;  Đảng, Nhà nước đã phong tặng và truy tặng gần 140.000 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, trong đó hiện có hơn 4.900 mẹ còn sống đang được các cơ quan, tổ chức và gia đình phụng dưỡng; hàng triệu thương binh, bệnh binh và người hưởng chính sách như thương binh; hàng chục ngàn Anh hùng Lực lượng Vũ trang, Anh hùng Lao động trong kháng chiến…

Kỷ niệm 75 năm Ngày Thương binh, liệt sĩ; thực hiện theo di huấn thiêng liêng của Bác, các cấp, các ngành, các địa phương, đơn vị trong cả nước nói chung, tỉnh An Giang nói riêng đã và đang tổ chức nhiều hoạt động thiết thực, tổ chức thực hiện đầy đủ các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về chăm lo gia đình chính sách, ưu đãi người có công với cách mạng, phát động các phong trào "Uống nước nhớ nguồn", "Đền ơn đáp nghĩa", nhiều căn nhà tình nghĩa được xây dựng, việc phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng được quan tâm, thể hiện nghĩa cử cao đẹp, đền đáp xứng đáng sự hy sinh to lớn của các thế hệ đi trước, cho cuộc sống hoà bình, tự do, ấm no, hạnh phúc hôm nay và mai sau./.

VĂN AN

TrueĐưa Nghị quyết vào cuộc sống
Hãy sống và làm việc xứng đáng với những người đã khuất, đã hy sinh vì Tổ quốc, vì Nhân dân (*) Bài viếtĐảng Cộng sản VNHãy sống và làm việc xứng đáng với những người đã khuất, đã hy sinh vì Tổ quốc, vì Nhân dân (*) /SiteAssets/Tong-bi-thu-nguyen-phu-trong-gap-mat-than-mat-cac-dai-bieu-nguoi-co-cong-tieu-bieu-toan-quoc-nhan-dip-ky-niem-75-nam.jpeg
24/07/2022 9:15 SANoĐã ban hành
(TUAG)- Cổng TTĐT Đảng bộ tỉnh An Giang trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại buổi gặp mặt các đại biểu người có công tiêu biểu toàn quốc nhân dịp kỷ niệm 75 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ, chiều 23/7, tại Hà Nội.
 Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói chuyện với các đại biểu người có công tiêu biểu toàn quốc. Ảnh: Trí Dũng – TTXVN

Kính thưa các bậc lão thành cách mạng, các mẹ Việt Nam anh hùng, các vị thân nhân gia đình liệt sĩ,

Thưa toàn thể các đồng chí,

Hôm nay, tôi rất vui mừng và xúc động được đến dự cuộc gặp mặt thân mật một số đại biểu người có công tiêu biểu toàn quốc nhân dịp kỷ niệm 75 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2022). Trước hết, tôi xin được thay mặt lãnh đạo Đảng và Nhà nước, thành kính tưởng nhớ đến các bậc anh hùng liệt sĩ đã hy sinh vì Tổ quốc; trân trọng gửi tới các bác, các đồng chí lão thành cách mạng, các Mẹ Việt Nam anh hùng, anh hùng lực lượng vũ trang, các đồng chí thương binh, bệnh binh, thân nhân gia đình liệt sĩ và người có công với cách mạng lời chào thân ái, lời thăm hỏi chân tình, những tình cảm sâu nặng và lòng biết ơn sâu sắc nhất.

Thưa các bác, các đồng chí,

Như chúng ta đều biết, cách đây vừa tròn 75 năm (ngày 27/7/1947), khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang ở giai đoạn cam go, quyết liệt nhất, thực hiện lời kêu gọi thiêng liêng "Toàn quốc kháng chiến" của Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn thể dân tộc ta, triệu người như một, đã nhất tề đứng dậy không sợ gian khổ, hy sinh, quyết bảo vệ nền độc lập, tự do, bảo vệ Nhà nước non trẻ Việt Nam Dân chủ cộng hoà (nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam) với tinh thần "Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ"; "Không có gì quý hơn độc lập tự do"!. Với tầm nhìn chiến lược hết sức sâu sắc và nhân văn, ngay từ thời điểm đó, ngày 27/7/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ thị chọn một ngày trong năm làm "Ngày Thương binh" để bày tỏ tình cảm trân trọng, lòng biết ơn sâu sắc đối với những người đã không tiếc máu xương, hy sinh cống hiến hết mình cho độc lập, tự do của Tổ quốc, cho hạnh phúc của nhân dân. Từ đó, ngày 27/7 hằng năm đã trở thành ngày kỷ niệm thiêng liêng, mang đậm tính nhân văn cao cả của Dân tộc Việt Nam, là dịp để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta bày tỏ lòng tưởng nhớ, sự tôn vinh và tri ân công lao to lớn của các bậc anh hùng, liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và người có công với cách mạng. (Đến nay, cả nước có gần 1,2 triệu liệt sĩ, trong đó gần 200.000 liệt sĩ chưa tìm được hài cốt, gần 300.000 hài cốt liệt sĩ chưa xác định được danh tính, hàng triệu thương, bệnh binh vẫn mang trên mình thương tích của chiến tranh).

Thấm nhuần đạo lý "Uống nước nhớ nguồn", "Ăn quả nhớ người trồng cây" của dân tộc Việt Nam và ý nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong suốt 75 năm qua, nhất là trong hơn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã luôn luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo làm tốt công tác đền ơn, đáp nghĩa đối với thương binh, liệt sĩ, những người có công với cách mạng. Nhiều chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về ưu đãi đối với người có công đã được ban hành; đối tượng hưởng chính sách ưu đãi được mở rộng, các chế độ ưu đãi từng bước được bổ sung, hoàn thiện, thể hiện sự trân trọng, biết ơn, chăm lo của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng mới đây lại nêu rõ: "Tiếp tục cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho người có công; bảo đảm chế độ ưu đãi người và gia đình người có công phù hợp với xu hướng tăng trưởng kinh tế, tiến bộ và công bằng xã hội". Thực hiện chủ trương đó, các cấp uỷ đảng, chính quyền địa phương, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị trong cả nước đã có nhiều biện pháp và kế hoạch, phong trào phát huy mọi nguồn lực để thực hiện tốt chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, phù hợp với điều kiện của địa phương, cơ quan, đơn vị mình.

Đến nay, đã có hơn 9,2 triệu người có công, bao gồm các cán bộ lão thành cách mạng, cán bộ tiền khởi nghĩa, các Mẹ Việt Nam Anh hùng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động, thương binh, bệnh binh, thân nhân liệt sĩ,... được hưởng các chế độ, chính sách ưu đãi. Ngoài chế độ trợ cấp, phụ cấp, Đảng và Nhà nước ta còn chăm lo người có công bằng các chính sách cụ thể, như chăm sóc sức khoẻ, ưu tiên giao đất sản xuất, hỗ trợ cải thiện về nhà ở, đất ở, các chương trình dạy nghề, tạo việc làm; thực hiện chính sách về giáo dục, đào tạo; mở rộng hệ thống cơ sở dịch vụ và sự nghiệp phục vụ thương binh; đẩy mạnh tìm kiếm và quy tập hài cốt liệt sĩ; xây dựng và tu bổ, tôn tạo hàng nghìn nghĩa trang liệt sĩ, v.v...

Cùng với việc thực hiện các chính sách ưu đãi của Đảng và Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể các cấp, các đơn vị quân đội, công an, doanh nghiệp và các cá nhân trong và ngoài nước cũng đã tích cực tổ chức nhiều hoạt động và huy động nhiều lực lượng tham gia các phong trào "Đền ơn đáp nghĩa" với nhiều hoạt động rất cụ thể, thiết thực, như: Xây "Nhà tình nghĩa", lập "Quỹ Đền ơn đáp nghĩa", tặng "Sổ tiết kiệm tình nghĩa", phụng dưỡng các Mẹ Việt Nam Anh hùng,... Những việc làm đầy trách nhiệm và tình nghĩa đó đã nhận được sự hưởng ứng và tham gia nhiệt tình của toàn xã hội, trở thành phong trào quần chúng sâu rộng, một nét đẹp trong đời sống văn hoá, góp phần quan trọng vào việc củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, nâng cao tinh thần yêu nước, khơi dậy và bồi đắp những giá trị nhân văn sâu sắc.

Nhân dịp kỷ niệm 75 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (1947 - 2022), tôi rất hoan nghênh tinh thần trách nhiệm và cảm ơn tấm lòng tri ân của các bộ, ban, ngành, đoàn thể, các địa phương nói chung, của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội nói riêng trong việc xây dựng kế hoạch và tổ chức nhiều hoạt động thiết thực kỷ niệm, góp phần khơi dậy niềm tự hào, ý thức tự tôn dân tộc; giáo dục truyền thống yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tình nghĩa thuỷ chung, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, đồng thời cũng xác định trách nhiệm của thế hệ sau đối với công lao của các thế hệ đi trước.

Được gặp mặt các cụ, các bác, các anh các chị, các đồng chí đại biểu tiêu biểu tại Trụ sở Trung ương Đảng hôm nay, tôi thật sự xúc động và rất vui mừng được thấy sức khoẻ, đời sống của các bậc lão thành cách mạng, các Mẹ Việt Nam anh hùng, các đồng chí thương binh, bệnh binh ngày càng được các cơ quan, đoàn thể, các tổ chức xã hội và nhân dân quan tâm chăm sóc chu đáo, và bản thân các đồng chí cũng có nhiều đóng góp tích cực trong cộng đồng, cho sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế, tiếp tục góp phần xây dựng, phát triển, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam muôn vàn yêu quý của chúng ta.

Thay mặt lãnh đạo Đảng và Nhà nước, tôi nhiệt liệt hoan nghênh, đánh giá cao ý chí tự lực, tự cường của các đồng chí thương binh, bệnh binh, các gia đình, thân nhân liệt sĩ và người có công đã vượt lên thương tật, những mất mát, hy sinh, khắc phục khó khăn, hoà mình vào cuộc sống, tiếp tục cống hiến sức lực, trí tuệ, nêu những tấm gương sáng trong lao động, sản xuất, công tác, chiến đấu, học tập..., góp phần bảo vệ và xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu đẹp. Đặc biệt trong bối cảnh hơn 2 năm qua, dưới tác động của đại dịch COVID-19, chúng ta đã cùng nhau vượt qua mọi khó khăn để phòng, chống dịch bệnh, dần ổn định tình hình, phát triển kinh tế - xã hội.

Đồng thời, tôi cũng xin cảm ơn và biểu dương các bộ, ban, ngành; các địa phương, cơ quan, đoàn thể, đơn vị, cá nhân trong và ngoài nước đã tích cực hưởng ứng và thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với người có công với cách mạng; đánh giá cao sự nỗ lực của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trong việc tham mưu, hoàn thiện thể chế chính sách, pháp luật nhằm nâng cao hơn nữa mức sống của người có công với cách mạng cả về tinh thần và vật chất.

Thưa các đồng chí và các vị đại biểu!

Theo tinh thần Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng và Chỉ thị số 14-CT/TW, ngày 19/7/2017 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về "Tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác người có công với cách mạng", tôi đề nghị các cấp uỷ Đảng, các cơ quan chính quyền, các ngành, các đoàn thể cần phát huy những kết quả đã đạt được, tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện và tổ chức thực hiện tốt hơn nữa các chính sách, pháp luật về ưu đãi đối với người có công với nước, với cách mạng.

Tôi cũng mong muốn và đề nghị các địa phương, các cơ quan, đơn vị, cũng như mỗi cá nhân bằng những việc làm cụ thể, thiết thực với ý thức trách nhiệm cao hãy chủ động, sáng tạo triển khai nhiều hoạt động thiết thực hơn nữa, coi đó là bổn phận, trách nhiệm và cũng là tình cảm để tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với những người đã cống hiến, hy sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa của chúng ta. Các đồng chí thương binh, bệnh binh với tinh thần "tàn nhưng không phế", cùng thân nhân, gia đình liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng phát huy truyền thống yêu nước, cách mạng, tiếp tục có những đóng góp to lớn hơn nữa cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam thân yêu của chúng ta. Tất cả mọi người chúng ta hãy luôn luôn ghi nhớ và tâm niệm "Hãy sống, chiến đấu, lao động, học tập và làm việc sao cho xứng đáng với những người đã khuất, đã hy sinh vì Tổ quốc, vì nhân dân!".

Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, Dân tộc Việt Nam có vẻ vang sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, một phần rất lớn, rất quan trọng là chúng ta có gìn giữ và phát huy được hay không những giá trị và truyền thống tốt đẹp của Dân tộc, những nếp sống văn hoá, đạo đức "Uống nước nhớ nguồn", "Ăn quả nhớ người trồng cây", "Chị ngã em nâng", "Thương người như thể thương thân", "Lá lành đùm lá rách, lá rách ít đùm lá rách nhiều", "Một con ngựa đau, cả tàu không ăn cỏ",... Mong các đồng chí hãy ghi nhớ và thấm nhuần thật sâu sắc điều đó.

Xin kính chúc các đồng chí lão thành cách mạng, các Mẹ Việt Nam anh hùng, các đồng chí thương binh, bệnh binh cùng tất cả chúng ta sức khoẻ, hạnh phúc và có nhiều niềm vui trong cuộc sống.

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

_____________________

(* ): Đầu đề do Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam đặt./.

FalseChính trị
Khẩn trương cụ thể hóa 4 Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 (khóa XIII) thành chương trình, đề án cụ thểBài viếtNgọc HânKhẩn trương cụ thể hóa 4 Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 (khóa XIII) thành chương trình, đề án cụ thể/SiteAssets/TK-Hoinghi-TW5-ag2.JPG
22/07/2022 2:00 CHYesĐã ban hành

(TUAG)- Sau một ngày rưỡi làm việc khẩn trương, nghiêm túc, sáng 22/7, Hội nghị nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 (khóa XIII) đã hoàn thành các nội dung đề ra.

TK-Hoinghi-TW5-ag2.JPG 

Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng.

Phát biểu kết luận Hội nghị, đồng chí Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư nêu rõ Hội nghị Trung ương 5 (khóa XIII), Ban Chấp hành Trung ương đã xem xét, thông qua 4 Nghị quyết rất quan trọng. Tại Hội nghị Trung ương 5, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có bài phát biểu rất quan trọng trong phiên khai mạc và bế mạc. Đồng chí Võ Văn Thưởng đề nghị các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên nghiên cứu, quán triệt sâu sắc hai bài phát biểu quan trọng này; lấy đó làm kim chỉ nam cho quá trình tổ chức nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện các nội dung của Hội nghị Trung ương 5 (khóa XIII).

TK-Hoinghi-TW5-ag1.JPG 

Đại biểu dự tại điểm cầu tỉnh An Giang.

Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng yêu cầu ngay sau Hội nghị này, các cấp ủy, tổ chức đảng phải nhanh chóng tổ chức tuyên truyền, nghiên cứu, học tập, quán triệt cho toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân thấm nhuần sâu sắc nội dung 4 Nghị quyết của Hội nghị Trung ương 5; nhất là những quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp, những vấn đề mới, cốt lõi trong các nghị quyết; thấy rõ 4 Nghị quyết này là những nội dung rất cơ bản, hệ trọng, liên quan mật thiết, tác động nhiều chiều đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội đất nước, đời sống của nhân dân, đến an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội; xây dựng Đảng ngày thêm trong sạch, vững mạnh, đủ năng lực, trình độ, uy tín để lãnh đạo đất nước.

Thường trực Ban Bí thư nhấn mạnh công tác tuyên truyền, học tập, quán triệt nghị quyết cần được tiến hành thường xuyên, toàn diện, với nhiều hình thức đa dạng, phong phú, hấp dẫn; phát huy vai trò “Đi trước mở đường, đi cùng phát triển, đi sau tổng kết” của ngành Tuyên giáo; vai trò của các cơ quan báo chí; sức mạnh tổng hợp của các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể quần chúng… để cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu rõ, thông suốt và tích cực triển khai thực hiện nghị quyết. Đồng thời, chú trọng đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, định hướng dư luận xã hội trong quá trình thực hiện nghị quyết. Để nghị quyết đi vào cuộc sống, Thường trực Ban Bí thư nêu rõ vấn đề quan trọng hàng đầu, yếu tố có tính chất quyết định là khâu tổ chức thực hiện.

TK-Hoinghi-TW5-ag3.JPG

Ngay sau Hội nghị này, đồng chí Võ Văn Thưởng đề nghị cùng với việc tổ chức nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết, các cấp ủy, tổ chức đảng khẩn trương nghiên cứu, cụ thể hóa nội dung 4 Nghị quyết của Hội nghị Trung ương 5 (khóa XIII) thành kế hoạch, chương trình, đề án cụ thể, có sự phân công, phân nhiệm và lộ trình thực hiện rõ ràng, sát thực tiễn, khả thi, hiệu quả. 

Đồng chí nhấn mạnh việc chú trọng chỉ đạo điểm, xây dựng mô hình thực hiện nghị quyết, trên cơ sở đó rút kinh nghiệm, nhân rộng những mô hình, điển hình, cách làm hay, phù hợp, hiệu quả trong thực tiễn; tiến hành tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện nghị quyết, nâng tầm lý luận. Đồng thời tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả thực hiện nghị quyết ở các cấp, trên cơ sở các chương trình, kế hoạch thực hiện nghị quyết đã được phê duyệt; kịp thời điều chỉnh chương trình, kế hoạch thực hiện cho phù hợp; nhắc nhở, phê bình, xử lý nghiêm các tập thể, cá nhân thực hiện không nghiêm túc, không hiệu quả. Tiếp tục đổi mới công tác thông tin, báo cáo, nắm chắc tiến độ thực hiện nghị quyết của các địa phương, đơn vị theo từng quý, năm, trên cơ sở triệt để ứng dụng công nghệ thông tin, tránh tối đa để 5 và 10 năm sau khi sơ kết, tổng kết mới xem lại nghị quyết...

Với tinh thần, trách nhiệm cao trong triển khai nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và thực hiện các văn kiện Hội nghị Trung ương 5 (khóa XIII), đồng chí Võ Văn Thưởng tin tưởng rằng, sự vào cuộc quyết liệt, đồng bộ của toàn Đảng, hệ thống chính trị, sự đoàn kết, đồng lòng của mọi người dân, các Nghị quyết của Hội nghị Trung ương 5 (khóa XIII) sẽ sớm đi vào cuộc sống, đạt nhiều kết quả tốt đẹp, góp phần thiết thực thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng trong thời gian tới, phấn đấu hoàn thành mục tiêu chiến lược “đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”…

NGỌC HÂN (tổng hợp)

TrueĐưa Nghị quyết vào cuộc sống
An Giang: 9.320 đại biểu dự Hội nghị trực tuyến toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 (khóa XIII)TinNgọc HânAn Giang: 9.320 đại biểu dự Hội nghị trực tuyến toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 (khóa XIII)/SiteAssets/Trien-khai-NQTW5-1.JPG
21/07/2022 9:35 SAYesĐã ban hành

(TUAG)- Sáng ngày 21/7, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức khai mạc Hội nghị trực tuyến toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII. Đồng chí Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư chủ trì Hội nghị.

 Trien-khai-NQTW5-2.JPG

Thường trực Tỉnh ủy, HĐND tỉnh, UBND tỉnh chủ trì hội nghị tại điểm cầu tỉnh An Giang.

Trien-khai-NQTW5-3.JPG

Trien-khai-NQTW5-4.JPG

Tại điểm cầu Hội trường tỉnh An Giang, đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Lê Hồng Quang; Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Lê Văn Nưng; Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thanh Bình chủ trì hội nghị. Tỉnh An Giang trực tuyến đến 15 điểm cầu cấp huyện và 171 điểm cầu cấp xã, với 9.320 đại biểu tham dự.

Hội nghị diễn ra trong 02 ngày (21, 22/7/2022), các đại biểu quán triệt các chuyên đề: Nghị quyết số 18-NQ/TW về “Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao”; Nghị quyết số 19-NQ/TW về “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”; Nghị quyết số 20-NQ/TW về “Tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể trong giai đoạn mới”; Nghị quyết số 21-NQ/TW về “Tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới”.

Trien-khai-NQTW5-5.jpg

Để việc triển khai, quán triệt diễn ra nghiêm túc, chất lượng, mang lại hiệu quả cao, ngày 20/7/2022, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Lê Văn Nưng đã ký ban hành Kế hoạch số 61-KH/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tổ chức nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII. Theo nội dung kế hoạch, yêu cầu việc nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII trong toàn tỉnh phải được tiến hành khẩn trương, nghiêm túc, chất lượng, hiệu quả. Toàn thể cán bộ, đảng viên trên địa bàn tỉnh có trách nhiệm nghiên cứu, học tập, quán triệt nghị quyết; Nhân dân được tuyên truyền, phổ biến các văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII.

Tăng cường đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc tổ chức thực hiện. Cấp ủy, tổ chức Đảng, người đứng đầu các cấp, các ngành chịu trách nhiệm về chất lượng tổ chức nghiên cứu, học tập, quán triệt và xây dựng chương trình hành động, tích cực kiểm tra, giám sát việc thực hiện nghị quyết; công tác tuyên truyền nghị quyết cần được tiến hành thường xuyên, toàn diện, đồng bộ, thống nhất, kịp thời, phong phú, sinh động./.

 NGỌC HÂN

TrueĐưa Nghị quyết vào cuộc sống
Đồng chí Nguyễn Văn Cừ: Tuổi trẻ, tài năng và cống hiến to lớnBài viếtTTCTTTĐồng chí Nguyễn Văn Cừ: Tuổi trẻ, tài năng và cống hiến to lớn/SiteAssets/TBT-Ng-van-Cu.png
08/07/2022 3:00 CHNoĐã ban hành

(TUAG)- Đồng chí Nguyễn Văn Cừ sinh ngày 09/7/1912, trong một gia đình nhà Nho nghèo, thuộc dòng tộc Nguyễn Phi Khanh, Nguyễn Trãi, tại vùng quê văn hiến, làng Phù Khê, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Là người có chí lớn ngay từ khi còn đi học, đồng chí tham gia hoạt động cách mạng khi mới 16 tuổi, được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng khi 26 tuổi và bị thực dân Pháp giết hại lúc 29 tuổi (năm 1941). Cuộc đời đồng chí Nguyễn Văn Cừ tuy ngắn ngủi nhưng vô cùng trong sáng và cao đẹp. Những cống hiến to lớn và sự hy sinh oanh liệt của đồng chí đã góp phần làm rạng danh Tổ quốc ta, dân tộc ta; tô thắm thêm lịch sử và truyền thống vẻ vang của Đảng ta.

Nguyen-Van-Cu-tp-BacNinh.jpg

Tượng đài Nguyễn Văn Cừ, thành phố Bắc Ninh và Khu lưu niệm Tổng Bí thư tại phường Phù Khê, thành phố Từ Sơn.

Tấm gương tiêu biểu về tinh thần tự học tập, rèn luyện và trưởng thành qua thực tiễn cách mạng.

Từ một học sinh đang học trung học (Trường Bưởi), với lòng yêu nước, sự nhạy cảm chính trị và nhiệt huyết cách mạng, đồng chí đã tiếp cận và giác ngộ chủ nghĩa Mác - Lênin, sớm trở thành hội viên của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên do Bác Hồ sáng lập.

Thực tiễn và phong trào cách mạng đã tôi luyện người thanh niên yêu nước Nguyễn Văn Cừ trở thành người chiến sĩ cộng sản, nhà hoạt động cách mạng chuyên nghiệp. Đồng chí đã nhận thức được khả năng to lớn của giai cấp công nhân Việt Nam, đã giác ngộ, vận động họ đứng lên làm cách mạng. Với tinh thần vừa làm, vừa học, năng động, sáng tạo về lý luận và thực tiễn, đồng chí tổ chức nhiều cuộc mít tinh, kêu gọi công nhân đấu tranh.

Khi bị địch bắt, bị giam cầm, tra tấn tại nhà tù Côn Đảo, đồng chí Nguyễn Văn Cừ đã cùng với các đồng chí của mình “biến nhà tù đế quốc thành trường học cách mạng”. Chính tại nơi “địa ngục trần gian” này, đồng chí Nguyễn Văn Cừ được tiếp cận các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin, từ đó nghiền ngẫm, đúc rút các bài học soi rọi cho quá trình hoạt động thực tiễn của mình. Đồng chí Nguyễn Văn Cừ đã thể hiện tư chất của một người cộng sản có tầm nhìn xa rộng, có quyết tâm và nghị lực lớn, có khả năng phân tích, khái quát, nhận định chính xác các vấn đề trong nước và quốc tế theo tinh thần phương pháp luận Mác - Lênin, sớm trở thành một tài năng chính trị kiệt xuất của Đảng ta.

Tháng 3/1938 tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đồng chí Nguyễn Văn Cừ được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng. Khi được hỏi vì sao Trung ương bầu đồng chí Nguyễn Văn Cừ làm Tổng Bí thư khi đồng chí chỉ vừa 26 tuổi, ít tuổi hơn nhiều so với các đồng chí khác, đồng chí Lê Duẩn đã trả lời: “Bởi đồng chí Nguyễn Văn Cừ là một trí tuệ lỗi lạc của Đảng, rất sắc sảo và nhạy bén về chính trị, lại có khả năng đoàn kết, thuyết phục anh em, là một người cộng sản có phẩm chất đạo đức rất trong sáng, được mọi người kính phục”.

Những quyết định đúng đắn, quan trọng, góp phần chuyển hướng chiến lược của cách mạng nước ta ở những thời điểm lịch sử

Ngày 06/11/1939, hai tháng sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, thực dân Pháp tăng cường khủng bố cách mạng nước ta, trên cương vị Tổng Bí thư của Đảng, đồng chí Nguyễn Văn Cừ đã triệu tập và chủ trì Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Bà Điểm, Hóc Môn, Gia Định. Hội nghị đã phân tích thấu đáo tính chất cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai; vị trí của Đông Dương trong cuộc chiến tranh; những chính sách của đế quốc Pháp; thái độ của các giai cấp, tầng lớp xã hội, từ đó vạch ra đường lối chính trị của cách mạng trong tình hình mới. Hội nghị chủ trương tập trung mọi lực lượng vào nhiệm vụ chủ yếu là chống đế quốc và ách thống trị phát xít thuộc địa, xác định giải phóng dân tộc khỏi ách đế quốc là nhiệm vụ cấp bách nhất và là mục tiêu trước mắt của cách mạng Việt Nam; đồng thời quyết định thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương thay cho Mặt trận dân chủ Đông Dương. Phương pháp cách mạng chuyển từ đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ sang đấu tranh trực tiếp đánh đổ chính quyền của đế quốc và tay sai; từ hoạt động hợp pháp và nửa hợp pháp sang hoạt động bí mật và không hợp pháp, chuẩn bị mọi điều kiện cần thiết để tiến tới khởi nghĩa vũ trang.

Quyết định của Hội nghị Trung ương 6 chuyển hướng chiến lược và thay đổi khẩu hiệu cách mạng trước tình hình mới là hết sức sáng suốt, thể hiện sự nhạy bén chính trị, năng lực sáng tạo của Ban Chấp hành Trung Đảng, đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ. Đáng tiếc là, giữa lúc phong trào vận động giải phóng dân tộc mới bắt đầu tiến triển thì đầu năm 1940, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ và một số đồng chí lãnh đạo chủ chốt khác của Đảng bị bắt. Tuy nhiên, những chủ trương và quyết định đúng đắn do Hội nghị Trung ương 6 vạch ra tiếp tục được các hội nghị Trung ương tiếp theo kế thừa, phát triển, đưa đến thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945.

TBT-Ng-van-Cu.png

Mẫu mực về phẩm chất cao quý của người cộng sản

Từ lúc bước chân vào con đường hoạt động cách mạng cho đến lúc hy sinh, đồng chí Nguyễn Văn Cừ luôn là một tấm gương sáng về sự gắn bó máu thịt với Nhân dân. Bất kỳ ở đâu, giữa những người công nhân, phu mỏ hay bà con nông dân tận miệt vườn Nam Bộ, khi đi “vô sản hoá”, khi mới chỉ là đảng viên, hay khi đã trở thành Tổng Bí thư của Đảng, đồng chí luôn hòa mình với quần chúng, học hỏi và tổ chức, động viên quần chúng tham gia cách mạng. Đồng chí luôn nêu cao tinh thần bảo vệ Đảng, bảo vệ khối đoàn kết thống nhất trong Đảng, phát huy tự phê bình và phê bình để xây dựng Đảng vững mạnh, giữ vững vai trò tiên phong của Đảng, làm cho Đảng thống nhất về tư tưởng, tổ chức và hành động.

Với 29 tuổi đời, hơn 13 năm hoạt động cách mạng, 7 năm bị giam cầm trong nhà tù đế quốc, 2 năm làm Tổng Bí thư, tuổi trẻ và sự sáng tạo, tài năng và cống hiến to lớn, phẩm chất chính trị kiên cường và đức hy sinh của đồng chí Nguyễn Văn Cừ mãi mãi là tấm gương cho các thế hệ người Việt Nam học tập và noi theo.

NGỌC HÂN


FalseChính trị
Đồng chí Châu Văn Liêm - tấm gương sáng về lòng kiên trung, bất khuấtBài viếtTTCTTTĐồng chí Châu Văn Liêm - tấm gương sáng về lòng kiên trung, bất khuất/SiteAssets/ChauVanLiem_LX.jpg
28/06/2022 11:00 SANoĐã ban hành

(TUAG)- Đồng chí Châu Văn Liêm còn có tên là Việt, sinh ngày 29/6/1902 tại xã Thới Thạnh, quận Ô Môn, tỉnh Cần Thơ cũ (nay là xã Thới Thạnh, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ) trong một gia đình có truyền thống hiếu học.

ChauVanLiem_LX.jpg

Tượng nhà cách mạng Châu Văn Liêm (1902 - 1930) trong sân Trường tiểu học Châu Văn Liêm tại TP Long Xuyên, An Giang.

Ngay từ nhỏ, Châu Văn Liêm rất siêng học, được ông nội và cha dạy học chữ Nho và học nghề hốt thuốc Bắc. Năm lên 10 tuổi, Châu Văn Liêm bắt đầu học chữ quốc ngữ, Châu Văn Liêm học rất giỏi và được cấp học bổng.

Năm 1922, sau khi có bằng Thành Chung, Châu Văn Liêm lên học tại Trường Sư phạm hậu bổ Sài Gòn. Đây cũng là lúc đồng chí được tiếp xúc với nhiều sách báo tiến bộ và những người yêu nước, trong đó có báo Tiếng Chuông Rè và nhà trí thức yêu nước Nguyễn An Ninh, đồng chí sớm tham gia nhiều phong trào cách mạng ở Sài Gòn và Long Xuyên.

Cuối năm 1924, sau khi tốt nghiệp tại Trường Sư phạm hậu bổ Sài Gòn, Châu Văn Liêm về dạy học tại Trường Nữ Long Xuyên. Tại đây, ngoài việc dạy chữ, thầy giáo Liêm còn dạy cho học sinh lòng yêu nước và tư tưởng cách mạng, tuyên truyền trong giáo chức tư tưởng tự do, dân chủ, tinh thần độc lập dân tộc.

Cuối năm 1927, Châu Văn Liêm được Nguyễn Ngọc Ba kết nạp vào tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên.

Đầu năm 1928, đồng chí Châu Văn Liêm đã vận động, kết nạp thêm hai hội viên là Bùi Trung Phẩm và Lâm Văn Cẩn, lập nên Chi hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đầu tiên của tỉnh Long Xuyên. Chi hội Việt Nam Cách mạng thanh niên đầu tiên của tỉnh ra đời trên vùng đất Chợ Mới do đồng chí Châu Văn Liêm làm Bí thư.

Tháng 02/1928, Tỉnh bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên tỉnh Long Xuyên được thành lập, đồng chí Châu Văn Liêm được bầu làm Bí thư.

Với sự nhiệt tình và năng lực tuyên truyền vận động, tổ chức quần chúng, đồng chí Châu Văn Liêm được đông đảo Nhân dân hết lời khen ngợi, giới thanh niên, trí thức tín nhiệm. Sau đó, đồng chí Châu Văn Liêm được tổ chức cử tham gia vào Ban Thường vụ Kỳ bộ Việt Nam Cách mạng Thanh niên Nam Kỳ. Kể từ đó, đồng chí thôi công việc dạy học, dốc hết tâm lực để hoàn thành nhiệm vụ mới.

Đến tháng 5/1929, đồng chí Châu Văn Liêm được Kỳ bộ Nam Kỳ cử đi dự Đại hội Tổng bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Hương Cảng, Trung Quốc. Sau khi về nước, tháng 8/1929, đồng chí Châu Văn Liêm đã triệu tập cuộc họp các đại biểu Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên tại Sài Gòn thành lập tổ chức mới lấy tên “An Nam Cộng sản Đảng” do đồng chí Châu Văn Liêm làm Bí thư.

Tháng 9/1929, đồng chí Châu Văn Liêm về Cần Thơ liên lạc với Ung Văn Khiêm và một số cơ sở lập nên Đảng ủy An Nam Cộng sản Đảng Hậu Giang, do đồng chí Ung Văn Khiêm làm Bí thư.

Ngày 06/01/1930, hai đồng chí Châu Văn Liêm và Nguyễn Thiệu được An Nam Cộng sản Đảng cử đi dự Hội nghị hợp nhất ba tổ chức Đảng thành Đảng Cộng sản Việt Nam ở Hương Cảng dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, đại diện Quốc tế Cộng sản tại Cửu Long (Hương Cảng, Trung Quốc). Sau khi bàn bạc của các đại biểu, Hội nghị thống nhất lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngày 03/02/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập.

Sau hội nghị này, được sự ủy quyền của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, các đại biểu về nước tiến hành hợp nhất các tổ chức cộng sản và cử ra Ban Chấp hành lâm thời. Đồng chí Châu Văn Liêm được giao nhiệm vụ phụ trách Liên Tỉnh ủy Gia Định - Chợ Lớn. Đồng chí Châu Văn Liêm đã chọn Đức Hòa, tỉnh Long An, làm địa bàn xây dựng cơ sở và gây dựng phong trào cách mạng.

Chào mừng sự kiện Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (03/02/1930) và ngày Quốc tế Lao động (01/5), hòa chung các phong trào đấu tranh của cả nước, Nhân dân Gia Định - Chợ Lớn dưới sự lãnh đạo của đồng chí Châu Văn Liêm, các cuộc biểu tình đã diễn ra rầm rộ.

Ngày 04/6/1930, đồng chí Châu Văn Liêm trực tiếp lãnh đạo cuộc biểu tình của hàng ngàn quần chúng ở Đức Hòa, Long An. Cuộc biểu tình xuất phát từ Đức Hòa, quần chúng kéo lên Chợ Lớn đưa yêu sách: Đòi giảm thuế, kêu gọi đồng bào đòi giải phóng dân tộc… Lính của tỉnh và lính quận đã được điều tới, dàn hàng ngang chặn trước đoàn người. Bọn chúng chĩa súng và đoàn biểu tình. Mặc dù kẻ thù rất hung hăng nhưng đoàn biểu tình vẫn không hề nao núng, kiên quyết tiến lên. Trước sự dũng cảm, kiên cường của đoàn biểu tình, kẻ thù đã nổ súng. Chúng bắn thẳng vào người chỉ huy đoàn biểu tình. Đồng chí Châu Văn Liêm đã hy sinh trong lúc lãnh đạo đấu tranh trực diện với kẻ thù.

Đồng chí Châu Văn Liêm là một chiến sĩ cách mạng dũng cảm, là tấm gương kiên trung bất khuất. Đồng chí Châu Văn Liêm đã gieo mầm cách mạng ở Nam Bộ. Đặc biệt là vùng Chợ Mới và Long Xuyên, tỉnh An Giang, đồng chí Châu Văn Liêm đã có công đóng góp rất lớn trong việc lập nên Chi Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đầu tiên của tỉnh Long Xuyên, rồi Tỉnh bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên tỉnh Long Xuyên tiền thân của tổ chức Đảng ở An Giang sau đó.

Mặc dù cuộc đời hoạt động cách mạng ngắn ngủi, nhưng những đóng góp của đồng chí cho quê hương, đất nước, trong đó có tỉnh An Giang luôn trường tồn với núi sông và trong lòng mỗi người dân An Giang, người dân Nam Bộ, cũng như cả nước.

Đảng bộ và Nhân dân An Giang mãi mãi khắc ghi những công lao đóng góp to lớn của đồng chí Châu Văn Liêm và nguyện một lòng xây dựng Đảng bộ luôn trong sạch vững mạnh, đoàn kết, chung tay xây dựng quê hương Chủ tịch Tôn Đức Thắng ngày càng giàu đẹp.

Lâm Văn Giàu

FalseChính trị
Bí thư Tỉnh ủy An Giang Lê Hồng Quang gửi thư chúc mừng 97 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam 21/6Bài viếtAdminBí thư Tỉnh ủy An Giang Lê Hồng Quang gửi thư chúc mừng 97 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam 21/6/Imagesnews/2022-06/Baochi-CMVN-21-6_Key_20062022215745.png
20/06/2022 9:00 CHYesĐã ban hành

(TUAG)- Nhân kỷ niệm 97 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam (21/6/1925-21/6/2022), đồng chí Lê Hồng Quang, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy An Giang đã gửi thư chúc mừng các cơ quan báo chí, truyền thông Trung ương và địa phương.

Thu-chucmung-baochi-cyaBT-ag.jpg

True
Cán bộ báo chí là chiến sĩ cách mạngBài viếtHữu ThịnhCán bộ báo chí là chiến sĩ cách mạng/SiteAssets/BH-ngoiviet.jpg
NGUYỄN HỮU THỊNH
Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy An Giang

20/06/2022 9:00 SAYesĐã ban hành

(TUAG)- Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt nền móng cho sự ra đời và xây dựng nền báo chí cách mạng Việt Nam; là người tuyên truyền, cổ động, tổ chức và cũng là nhà báo lỗi lạc của nền báo chí ấy; những lời dạy của Người về báo chí là tài sản vô cùng to lớn, quý giá đối nền báo chí cách mạng Việt Nam.

BH-ngoiviet.jpg

Chủ tịch Hồ Chí Minh sửa bản tin tại Phủ Chủ tịch.

Là người sáng lập, người thầy vĩ đại của báo chí cách mạng Việt Nam, ngay từ những ngày đầu ra nước ngoài tìm đường cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm tham gia các hoạt động báo chí. Khi hoạt động tại Pháp, Người đã tham gia sáng lập tờ báo Le Paria (Ng­ười cùng khổ) để tạo một kênh thông tin, lên tiếng tố cáo bản chất tàn bạo của thực dân Pháp, làm cho nhân dân thế giới biết đến cuộc sống "cùng khổ" của người dân Việt Nam; từ đó lên tiếng ủng hộ Việt Nam trong đấu tranh "tự giải phóng". Ngày 21/6/1925, tại Quảng Châu (Trung Quốc), Người đã sáng lập Báo Thanh Niên. Đây là tờ báo cách mạng đầu tiên của Việt Nam do Bác Hồ sáng lập, chỉ đạo và là người biên tập chính.

Trong hơn nửa thế kỷ vừa hoạt động cách mạng vừa cầm bút, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có hàng ngàn bài viết, với hàng trăm bút danh khác nhau, được đăng ở nhiều báo trong, ngoài nước bằng nhiều thứ tiếng. Không chỉ viết báo, Người còn làm mọi công việc liên quan đến "nghề báo" như: tổ chức, lãnh đạo, chỉ đạo việc làm báo, sửa bài, biên tập, in ấn, phát hành… Thực tiễn phong phú đó đã góp phần tạo nên tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng - một di sản vô cùng quý giá, đặc biệt mà Bác đã để lại cho thế hệ sau.

Về tôn chỉ, mục đích của báo chí cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Báo chí của ta thì cần phải phục vụ nhân dân lao động, phục vụ chủ nghĩa xã hội, phục vụ cho đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, cho hoà bình thế giới", suy rộng ra là phục vụ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và đóng góp tích cực cho hòa bình thế giới vì mục tiêu của thời đại là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Về vai trò, nhiệm vụ của báo chí cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi người hoạt động báo chí là một chiến sĩ cách mạng, vì "nói đến báo chí trước hết phải nói đến những người làm báo chí". Đối với người làm báo cách mạng, "cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ", do đó "Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng". Vì vậy, nhiệm vụ của người làm báo là quan trọng và vẻ vang. Để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang của mình, cán bộ báo chí cần phải "Cố gắng trau dồi tư tưởng, nghiệp vụ và văn hóa; chú trọng học tập chính trị để nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ; đi sâu vào thực tế, đi sâu vào quần chúng lao động".

Về tính Đảng của báo chí cách mạng Việt Nam: Đây là điều căn cốt nhất trong tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng Việt Nam, là cơ sở để phân biệt báo chí cách mạng với báo chí phản cách mạng. Người cho rằng, báo chí chỉ đúng về chính trị khi nó được lãnh đạo của một đảng, dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, một đảng mang bản chất của giai cấp công nhân và gắn bó mật thiết với dân tộc, với nhân dân.

Về xây dựng đội ngũ nhà báo vừa "hồng", vừa "chuyên", Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu những người làm báo phải thường xuyên tu dưỡng đạo đức cách mạng, trau dồi tư tưởng, học tập chính trị để nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đi sâu vào thực tế, đi sâu vào quần chúng lao động, phải luôn nâng cao trình độ văn hoá, rèn giũa nghiệp vụ, mài sắc ngòi bút của mình; nhất là phải trau dồi lập trường chính trị vững chắc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu nhà báo phải là người có trí thức rộng và sâu, đặc biệt là có trách nhiệm với công việc, sản phẩm của mình; với hiệu quả, hệ quả của sản phẩm đó. Trong thư gửi lớp học viết báo Huỳnh Thúc Kháng (9/6/1949), Người viết: "Muốn viết báo khá thì cần: (1) Gần gũi dân chúng, cứ ngồi trong phòng giấy mà viết thì không thể viết thiết thực; (2) Ít nhất cũng phải biết một thứ tiếng nước ngoài để xem báo nước ngoài mà học kinh nghiệm của người; (3) Khi viết xong một bài, tự mình phải xem lại ba bốn lần, sửa chữa lại cho cẩn thận. Tốt hơn nữa, là đưa nhờ một vài người ít văn hóa xem và hỏi họ những câu nào, chữ nào không hiểu thì sửa lại cho dễ hiểu; (4) Luôn luôn gắng học hỏi, luôn luôn cầu tiến bộ...".

Đối với công việc viết báo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có nhiều bài viết, chia sẻ kinh nghiệm với đồng nghiệp hoặc cán bộ cấp dưới. Tại Đại hội lần thứ III của Hội Nhà báo Việt Nam ngày 8/9/1962, Người nói: "Kinh nghiệm của tôi là thế này: Mỗi khi viết một bài báo, thì đặt câu hỏi: Viết cho ai xem? Viết để làm gì? Viết thế nào cho phổ thông dễ hiểu, ngắn gọn dễ đọc? Khi viết xong, thì nhờ anh em xem và sửa giùm".

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà báo phải "chân thực" - chân thực là sức mạnh vì nó có lòng tin. Mỗi bài viết của phóng viên phải bắt nguồn từ thực tế cuộc sống với những con số, những sự kiện đã được xem xét, kiểm tra, chọn lọc. Bài viết phải đem lại cho người đọc lượng thông tin cao và chính xác. Viết phải đúng sự thật, không được bịa ra, không nên nói ẩu, chưa điều tra, chưa nghiên cứu, chưa biết rõ, chớ nói, chớ viết...

Di sản của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với nền báo chí cách mạng Việt Nam là vô cùng to lớn, là "kim chỉ nam" dẫn đường cho báo chí cách mạng và những người làm báo tiếp tục đóng góp có hiệu quả vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

N.H.T

True
1 - 30Next