Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksChính trị

Chào mừng quý vị đến với Cổng thông tin điện tử Đảng bộ tỉnh An Giang!
 
Chính trị
 

HOÀNG KỲ(*)

 
 
 
 
  
  
  
  
  
Tóm tắt
  
  
  
  
Nội dung
  
  
Phân loại
  
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIIIBài viếtP.NTổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII/SiteAssets/Bemac-HNTW5-1.jpg
10/05/2022 10:00 CHYesĐã ban hành

(TUAG)- Cổng TTĐT Đảng bộ tỉnh An Giang trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng bế mạc Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII, chiều 10/5 với nhan đề: “Ra sức phấn đấu, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII”.

Bemac-HNTW5-1.jpg

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII.

Dưới đây là toàn văn bài phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng:

“Kính thưa Trung ương,

Thưa các đồng chí tham dự Hội nghị,

Sau 6 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc và với tinh thần trách nhiệm cao, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII đã hoàn thành toàn bộ nội dung chương trình đề ra. Các đồng chí Uỷ viên Trung ương và các đồng chí tham dự Hội nghị đã tập trung công sức, trí tuệ, nghiên cứu tài liệu, tổng kết thực tiễn, phát huy dân chủ, thảo luận thẳng thắn, sôi nổi, đóng góp nhiều ý kiến tâm huyết, sâu sắc vào các tờ trình, báo cáo, đề án. Bộ Chính trị đã tiếp thu tối đa và giải trình có sức thuyết phục những vấn đề còn có ý kiến khác nhau. Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã nhất trí cao thông qua các Nghị quyết và Kết luận của Hội nghị. Để kết thúc Hội nghị, tôi xin thay mặt Bộ Chính trị, phát biểu, nhấn mạnh và làm rõ thêm một số vấn đề và khái quát lại những kết quả quan trọng chủ yếu mà Hội nghị của chúng ta lần này đã đạt được.

1. Về vấn đề quản lý và sử dụng đất đai

Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã bám sát Cương lĩnh của Đảng, Hiến pháp của Nhà nước, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và kết quả tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khoá XI, dành nhiều thời gian để nghiên cứu, thảo luận và đã thống nhất cao ban hành Nghị quyết mới về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất; tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao". Trung ương cho rằng, cần phải kế thừa, bổ sung, phát triển Nghị quyết Trung ương 6 theo hướng tiếp tục khẳng định: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào các mục đích quốc phòng, an ninh, phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và các dự án phát triển kinh tế - xã hội theo luật định, bảo đảm công bằng, công khai, minh bạch. Quản lý và sử dụng đất phải bảo đảm lợi ích chung của toàn dân; nhân dân được tạo điều kiện tiếp cận, sử dụng đất một cách công bằng, hiệu quả và bền vững. Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo lãnh thổ quốc gia, cả về diện tích, chất lượng, giá trị kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, môi trường; phân công hợp lý giữa các cơ quan quản lý nhà nước ở Trung ương, đồng thời có sự phân cấp, phân quyền phù hợp, hiệu quả đối với các địa phương.

Các đại biểu dự Hội nghị.

Quyền sử dụng đất là quyền sử dụng một loại tài sản và hàng hoá đặc biệt nhưng không phải là quyền sở hữu; quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được pháp luật bảo hộ. Người sử dụng đất có quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã được Nhà nước giao cho các tổ chức, cá nhân khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách, pháp luật về đất đai; không đặt vấn đề điều chỉnh lại đất nông nghiệp đã giao cho hộ gia đình, cá nhân; có chính sách để đất nông nghiệp được sử dụng một cách có hiệu quả cao nhất. Thể chế, chính sách về đất đai phải được hoàn thiện đồng bộ và phù hợp với thể chế phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó có chính sách phù hợp đối với đối tượng, loại hình sử dụng đất để khơi dậy tiềm năng, phát huy cao nhất nguồn lực tài nguyên đất đai; kiên quyết khắc phục tình trạng đầu cơ đất, sử dụng đất không đúng mục đích, lãng phí, tham nhũng, tiêu cực, gây khiếu kiện, bức xúc trong nhân dân.

Nâng cao hơn nữa hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước về đất đai. Hiện đại hoá công tác quản lý đất đai và dịch vụ công về đất đai. Củng cố, hoàn thiện hệ thống tổ chức bộ máy quản lý đất đai một cách tập trung, đồng bộ, thống nhất. Nâng cao vai trò và năng lực của các cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan tư pháp trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai. Đất đai phải được điều tra, đánh giá, thống kê, kiểm kê, lượng hoá, hạch toán đầy đủ trong nền kinh tế; được quy hoạch sử dụng hợp lý, với tầm nhìn dài hạn, hài hoà lợi ích giữa các thế hệ, các vùng, miền; giữa Trung ương và địa phương; giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh; bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu; bảo đảm an ninh lương thực quốc gia. Giải quyết tốt những bất cập, vướng mắc trong việc quản lý và sử dụng đất do lịch sử để lại và từ yêu cầu mới đặt ra của thực tiễn.

Trên cơ sở thống nhất về nhận thức, quán triệt đầy đủ, sâu sắc những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo nêu trên, Hội nghị Trung ương lần này đã đi sâu phân tích, đánh giá và thống nhất cao về các giải pháp, chủ trương, định hướng tiếp tục đổi mới, hoàn thiện và tổ chức thực hiện tốt hơn nữa luật pháp, chính sách về đất đai, trước hết là sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai năm 2013 và các luật pháp có liên quan để khắc phục những hạn chế, yếu kém tồn tại kéo dài lâu nay, đặc biệt là những hạn chế, yếu kém liên quan đến công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, giao đất, cho thuê đất; hỗ trợ, bồi thường, tái định cư, thu hồi đất; chính sách tài chính đất đai và xác định giá đất; chế độ quản lý và sử dụng đất nông nghiệp; đất có nguồn gốc từ nông, lâm trường quốc doanh, đất dành cho việc thờ tự, tôn giáo, nghĩa trang, nghĩa địa; quản lý nhà nước về đất đai...

Trung ương còn nhấn mạnh, trong quá trình tổ chức thực hiện, cần thường xuyên tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước; phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và toàn dân để tạo sự đồng thuận, đưa chính sách, pháp luật về đất đai thực sự đi vào cuộc sống.

Hội nghị đã thông qua nhiều nội dung quan trọng về xây dựng Đảng và phát triển kinh tế. 

2. Về vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn

Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã thảo luận sôi nổi và cho nhiều ý kiến tâm huyết, trách nhiệm để hoàn thiện "Báo cáo tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn". Trung ương nhận thấy: Sau gần 15 năm thực hiện Nghị quyết, với sự vào cuộc tích cực của cả hệ thống chính trị, sự chung sức, đồng lòng của toàn dân, nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, toàn diện, nhất là trong việc cơ cấu lại nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn và cải thiện đời sống của nhân dân, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước ngày càng được củng cố, nâng cao.

Nông nghiệp đang tiếp tục được phát triển cả về quy mô và trình độ sản xuất, duy trì tăng trưởng ở mức khá cao và tiếp tục khẳng định được vai trò và vị trí quan trọng, là trụ đỡ của nền kinh tế, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia. Sản xuất, kinh doanh nông nghiệp đang chuyển mạnh theo hướng nâng cao chất lượng và giá trị gia tăng, từng bước thích ứng với biến đổi khí hậu; phát huy lợi thế vùng, miền, địa phương; chú trọng ứng dụng khoa học - công nghệ, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi. Hệ thống tổ chức sản xuất, kinh doanh ngày càng được hoàn thiện, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị nông sản toàn cầu. Tỉ lệ nông sản qua chế biến tăng dần; thị trường tiêu thụ được mở rộng cả trong và ngoài nước; xuất khẩu tăng nhanh cả về sản lượng, giá trị và tỉ trọng sản phẩm chất lượng cao. Việt Nam đã trở thành một trong những nước xuất khẩu nông sản lớn trên thế giới.

Nông dân nước ta đã phát huy tốt hơn vai trò là chủ thể, tích cực trong chuyển đổi cơ cấu sản xuất, ứng dụng khoa học - công nghệ, tham gia hợp tác, liên kết, khôi phục và phát triển ngành nghề nông thôn; xây dựng nông thôn mới, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở nông thôn. Thu nhập của nông dân ngày càng tăng, đời sống vật chất và tinh thần không ngừng được cải thiện; tỉ lệ hộ nghèo ở nông thôn giảm nhanh; dân chủ cơ sở ngày càng được phát huy.

Nông thôn đang có nhiều thay đổi rõ rệt, khá toàn diện, thể hiện rõ vai trò là địa bàn chiến lược trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cơ cấu kinh tế của khu vực nông thôn chuyển đổi tích cực; tỉ trọng kinh tế công nghiệp và dịch vụ tăng khá. Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới đã trở thành phong trào sâu rộng, có sức lan toả mạnh mẽ, nhận được sự tham gia tích cực của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở, của toàn dân và cộng đồng doanh nghiệp, đã về đích sớm hơn 1,5 năm so với mục tiêu đề ra.

Để tiếp tục phát huy những kết quả, thành tựu đã đạt được, khắc phục những hạn chế, yếu kém còn tồn tại, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa, thực hiện thành công những mục tiêu, nhiệm vụ mà Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã đề ra, chúng ta phải nhận thức thật đầy đủ và đúng đắn hơn nữa về vị trí, vai trò có ý nghĩa chiến lược lâu dài của phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn đối với sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; coi đây là cơ sở và lực lượng đặc biệt quan trọng để phát triển nhanh, bền vững kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng, an ninh; bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá và sức mạnh con người Việt Nam. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Nhà nước cần phải tiếp tục ưu tiên nguồn lực đầu tư cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Phát triển hài hoà giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng, miền; gắn kết chặt chẽ giữa công nghiệp, dịch vụ với nông nghiệp; giữa phát triển nông thôn bền vững với quá trình đô thị hoá theo hướng "nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh".

Khẳng định Nông dân là chủ thể, là trung tâm của quá trình phát triển nông nghiệp. Chú trọng nâng cao trình độ, năng lực làm chủ của nông dân theo hướng phát triển toàn diện, văn minh; phát huy tinh thần yêu nước, đoàn kết, tự chủ, tự lực, tự cường, đổi mới sáng tạo; ý chí vươn lên, khát vọng xây dựng quê hương, đất nước phồn vinh, hạnh phúc; có trình độ tổ chức sản xuất tiên tiến, nếp sống văn minh, trách nhiệm xã hội, tôn trọng pháp luật, bảo vệ môi trường; được thụ hưởng những thành quả phát triển kinh tế - xã hội và tiếp cận các dịch vụ, tiệm cận với đô thị. Phát triển nông nghiệp, nông thôn phải hướng tới nâng cao toàn diện đời sống vật chất, tinh thần của nông dân và người dân nông thôn; lấy lợi ích của người dân là mục tiêu cao nhất.

Hội nghị diễn ra từ ngày 4 - 10/5/2022.

Phải nhận thức và xác định rõ, nông nghiệp là một lợi thế của quốc gia, là trụ đỡ của nền kinh tế. Phát triển nông nghiệp hiệu quả, bền vững, minh bạch, trách nhiệm, tích hợp đa giá trị theo hướng giữ vững an ninh lương thực quốc gia, bảo vệ môi trường sinh thái; khuyến khích phát triển nông nghiệp xanh, hữu cơ, tuần hoàn. Phát huy lợi thế vùng, miền; tổ chức sản xuất, kinh doanh nông nghiệp theo chuỗi giá trị, dựa trên nền tảng khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo; giảm phát thải khí nhà kính, thích ứng với biến đổi khí hậu. Chuyển mạnh từ sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ sang phát triển kinh tế nông nghiệp gắn với nhu cầu thị trường, nâng cao giá trị gia tăng, năng lực cạnh tranh; phát triển cả thị trường trong nước và thị trường xuất khẩu.

Xây dựng nông thôn hiện đại, phồn vinh, hạnh phúc, dân chủ, văn minh; có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ, kết nối với đô thị; có đời sống văn hoá lành mạnh, phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc; có môi trường xanh, sạch, đẹp; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm. Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội cần chú trọng phát triển hài hoà, đồng bộ cả nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, gắn với cơ cấu lại lao động, tạo sinh kế, việc làm tại chỗ, nâng cao thu nhập cho nông dân và người dân nông thôn. Xây dựng nông thôn mới ngày càng đi vào chiều sâu, thực chất, hiệu quả và bền vững. Quản lý, sử dụng một cách hiệu quả, tiết kiệm tài nguyên đất, bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, phát triển bền vững các hệ sinh thái. Chủ động phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu; nâng cao khả năng chống chịu, bảo đảm an toàn cho người dân.

Phát triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống của nông dân và người dân nông thôn là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, là nhiệm vụ trọng tâm của cả hệ thống chính trị. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, đề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu. Nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước. Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trong việc giám sát, phản biện và vận động đoàn viên, hội viên, người dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.

3. Về vấn đề phát triển kinh tế tập thể

Hội nghị Trung ương lần này cũng đã thống nhất cao về sự cần thiết phải tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò và những kết quả quan trọng đã đạt được của kinh tế tập thể nước ta trong suốt 20 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khoá IX; đồng thời chỉ ra những hạn chế, yếu kém còn tồn tại và nguyên nhân. Trung ương cho rằng, có nhiều nguyên nhân, cả khách quan và chủ quan, nhưng nguyên nhân chủ quan vẫn là chủ yếu, đặc biệt là do: Nhận thức của nhiều cấp uỷ, tổ chức đảng, chính quyền, đảng viên và người dân về bản chất, vị trí, vai trò của khu vực kinh tế tập thể, hợp tác xã trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta chưa thật đầy đủ, thiếu thống nhất, thậm chí còn bị chi phối, ảnh hưởng bởi định kiến về mô hình hợp tác xã kiểu cũ. Việc lãnh đạo, chỉ đạo của nhiều cấp uỷ đảng và chính quyền còn hình thức, chưa thực sự quan tâm, thậm chí còn lúng túng, hoài nghi về sự thành công của kinh tế tập thể. Công tác hướng dẫn, chỉ đạo thực hiện Nghị quyết, xây dựng thể chế, chính sách còn chậm, thiếu cụ thể, hiệu quả chưa cao. Chính sách ưu đãi, hỗ trợ cho kinh tế tập thể tuy đã có nhiều nhưng còn dàn trải, phân tán, chưa thống nhất, thiếu nguồn lực để tổ chức thực hiện. Bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế tập thể chưa được kiện toàn, còn nhiều bất cập, không thống nhất, thiếu chặt chẽ, phân tán, hoạt động chưa hiệu quả; ở một số nơi còn tình trạng buông lỏng quản lý hoặc can thiệp quá sâu, không đúng đối với tính chất tổ chức, hoạt động của hợp tác xã; hoạt động thanh tra, kiểm tra việc thực thi pháp luật về kinh tế tập thể chưa sâu sát, chưa thường xuyên. Việc đánh giá về hiệu quả và đóng góp của kinh tế tập thể còn phiến diện, thiên về mặt kinh tế, chưa chú ý đúng mức đến mặt chính trị, văn hoá, xã hội, môi trường,... dẫn đến hạ thấp vai trò, vị trí của kinh tế tập thể trong nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta. Kinh tế tập thể, hợp tác xã phần lớn có quy mô còn nhỏ, năng lực nội tại còn yếu; đội ngũ cán bộ hợp tác xã cơ bản chưa được đào tạo chuyên sâu. Việc tổng kết lý luận và thực tiễn về kinh tế tập thể chưa kịp thời; tâm lý xã hội nói chung còn rất e ngại đối với kinh tế tập thể; thành viên hợp tác xã vẫn còn tâm lý ỷ lại, dựa dẫm lẫn nhau hoặc trông chờ sự trợ cấp của Nhà nước.

Các đại biểu tại phiên bế mạc Hội nghị.

Ban Chấp hành Trung ương Đảng yêu cầu, trong thời gian tới, phải tiếp tục quán triệt, nhận thức sâu sắc, đầy đủ, thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Đại hội XIII và Nghị quyết của Trung ương lần này về phát triển kinh tế tập thể phù hợp với yêu cầu và tính chất của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng của nước ta. Phải thường xuyên quan tâm đổi mới, phát triển, nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác, mà nòng cốt là các hợp tác xã kiểu mới; coi đây là một thành phần kinh tế quan trọng cùng với kinh tế nhà nước ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Khẳng định phát triển kinh tế tập thể là xu thế tất yếu khách quan và phải xuất phát từ nhu cầu thiết thực của các thành viên; bảo vệ lợi ích và tạo điều kiện cho các thành viên hăng say làm việc, lao động tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất kinh doanh, phát triển bền vững; tôn trọng các giá trị, nguyên tắc hoạt động của hợp tác xã, phù hợp với điều kiện, đặc điểm kinh tế - xã hội của từng địa phương, từng vùng và của cả nước. Kinh tế tập thể có nhiều hình thức tổ chức, hợp tác đa dạng, phát triển từ thấp đến cao (tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã...), trong đó hợp tác xã là nòng cốt. Kinh tế tập thể phát triển dựa trên sở hữu riêng của thành viên và sở hữu chung của tổ chức; tổ chức hoạt động theo nguyên tắc đối nhân, không chỉ phụ thuộc vào vốn góp; phân phối theo mức độ tham gia dịch vụ, theo lao động và theo vốn góp. Kinh tế tập thể lấy lợi ích kinh tế là chính, bao gồm cả lợi ích của thành viên, của tập thể và lợi ích của xã hội, của Nhà nước; đồng thời coi trọng lợi ích về chính trị, văn hoá, xã hội trên địa bàn. Thành viên kinh tế tập thể bao gồm các cá nhân và pháp nhân, thành viên chính thức và thành viên liên kết, cả người ít vốn và người nhiều vốn, cùng góp vốn, góp sức trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi, và quản lý dân chủ. Khuyến khích việc tích lũy và sử dụng có hiệu quả vốn, tài sản chung trong tổ chức kinh tế hợp tác. Phát triển kinh tế tập thể cả về số lượng và chất lượng, trong đó chú trọng về chất lượng; bảo đảm sự hài hoà trong tất cả các ngành, các lĩnh vực, các địa bàn của nền kinh tế; có chính sách ưu tiên các tổ chức kinh tế hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp, gắn hoạt động sản xuất kinh doanh với chuỗi giá trị sản phẩm, ứng dụng khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; ưu tiên phát triển các tổ chức kinh tế hợp tác gắn với kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế tri thức. Đánh giá hiệu quả của kinh tế tập thể phải toàn diện, cả về kinh tế lẫn chính trị, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh; về hiệu quả của tổ chức và của các thành viên. Phải nhận thức rõ: Phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của kinh tế tập thể là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị. Cấp uỷ đảng, chính quyền các cấp phải trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế tập thể, và coi đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng, thường xuyên. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, Liên minh hợp tác xã phải phối hợp chặt chẽ trong việc tuyên truyền, vận động quần chúng tham gia phát triển kinh tế tập thể.

4. Về vấn đề xây dựng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên

Hội nghị đã thảo luận sôi nổi, tâm huyết và thống nhất cao về sự cần thiết phải tạo cho được sự chuyển biến mạnh mẽ và thực chất hơn nữa trong việc nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng của đội ngũ cán bộ, đảng viên, góp phần xây dựng Đảng ta và hệ thống chính trị ở nước ta thật sự trong sạch, vững mạnh toàn diện từ gốc, từ cơ sở; xây dựng đội ngũ cấp uỷ viên, nhất là bí thư cấp uỷ có đủ năng lực, uy tín lãnh đạo tổ chức cơ sở đảng thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ chính trị; nâng cao chất lượng công tác phát triển đảng viên và chất lượng đảng viên, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới. Trung ương đặc biệt nhấn mạnh: Để thực hiện thành công mục tiêu tổng quát cũng như các mục tiêu cụ thể đến năm 2025 và năm 2030 như đã đề ra, cần phải nâng cao hơn nữa sự thống nhất về nhận thức, và đổi mới, hành động quyết liệt hơn nữa. Cụ thể là:

Về nhận thức, phải xác định rõ tổ chức cơ sở đảng là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở, là cầu nối giữa Đảng với nhân dân, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng ở cơ sở, có vị trí rất quan trọng trong hệ thống tổ chức của Đảng. Đội ngũ đảng viên có vai trò trực tiếp và là nhân tố cơ bản quyết định năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng. Công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh; nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, liên tục, là trách nhiệm của các cấp uỷ đảng, đảng viên, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, thực hiện thành công sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng phải gắn liền với xây dựng tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; phải lấy kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị của từng cơ sở và sự hài lòng của nhân dân làm thước đo năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng. Quá trình thực hiện phải thường xuyên kết hợp giữa xây dựng cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh với củng cố, chấn chỉnh cơ sở đảng yếu kém; coi trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải đi đôi với xây dựng, củng cố hệ thống chính trị thực sự trong sạch, vững mạnh; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; bảo đảm tính lãnh đạo, tính giáo dục, tính chiến đấu, vai trò tiên phong, gương mẫu trong sinh hoạt đảng; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đồng thời, cần tạo môi trường để đảng viên rèn luyện, phấn đấu, nâng cao bản lĩnh chính trị, tính tiên phong, gương mẫu, thực hiện nghiêm các nguyên tắc về sinh hoạt đảng và lời thề của đảng viên khi vào Đảng. Phát huy thật tốt dân chủ trong Đảng và trong xã hội; tăng cường mối quan hệ máu thịt với nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân; phải dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng và rèn luyện đảng viên. Coi trọng chất lượng phát triển đảng viên, chú trọng hơn nữa đến việc rèn luyện, bồi dưỡng quần chúng, đối tượng cảm tình đảng, trước khi vào Đảng phải thực sự là những quần chúng ưu tú không chỉ về năng lực công tác mà phải thực sự tiêu biểu về phẩm chất, đạo đức, lối sống, có động cơ trong sáng với phương châm "quý hồ tinh bất quý hồ đa". Thường xuyên rà soát, sàng lọc, kịp thời và kiên quyết đưa những người không còn đủ tư cách đảng viên ra khỏi Đảng.

Về hành động, cần khẩn trương, nghiêm túc xây dựng và tổ chức thực hiện thật tốt các chương trình, kế hoạch hành động liên quan đến việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu mà Nghị quyết lần này của Trung ương đã đề ra, như: Đổi mới, hoàn thiện tổ chức của các loại hình tổ chức cơ sở đảng; rà soát, sửa đổi, bổ sung chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, mối quan hệ công tác cho phù hợp với từng loại hình tổ chức cơ sở đảng. Xác định rõ những mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ và giải pháp đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng; nâng cao chất lượng sinh hoạt của đảng bộ, chi bộ; bồi dưỡng, nâng cao năng lực lãnh đạo, kỹ năng nghiệp vụ cho đội ngũ cấp uỷ viên các cấp...

Để thực hiện thành công mục tiêu, yêu cầu và các nhiệm vụ và giải pháp đề ra, Ban Tổ chức Trung ương và các Ban Đảng, các cơ quan tham mưu, giúp việc ở Trung ương cần sớm có hướng dẫn tổ chức thực hiện; các tỉnh, thành uỷ, các đảng bộ trực thuộc Trung ương phải thực sự năng động, chủ động cụ thể hoá các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp mà Nghị quyết của Trung ương đã đề ra, sao cho thật sát hợp với yêu cầu, nhiệm vụ chính trị và đặc điểm của địa phương mình, ngành mình, cơ quan, đơn vị mình; và đặc biệt là từng cơ sở đảng phải đề ra và tổ chức thực hiện thật nghiêm, thật tốt những nhiệm vụ, giải pháp cụ thể, phù hợp với cơ sở mình. Từng đảng viên cũng phải xác định rõ bổn phận và trách nhiệm thiêng liêng và cao cả của mình khi được đứng trong hàng ngũ của Đảng, không ngừng phấn đấu và rèn luyện bản lĩnh chính trị, tu dưỡng về phẩm chất đạo đức, lối sống; thường xuyên tự phê bình và phê bình, gương mẫu học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức phong cách Hồ Chí Minh. Chỉ có như vậy thì tổ chức đảng và đảng viên mới thật sự trong sạch, vững mạnh, có uy tín với quần chúng nhân dân. Trong quá trình thực hiện Nghị quyết, cần hết sức coi trọng tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, qua đó kịp thời phát hiện, biểu dương, nhân rộng các điển hình tiên tiến; kịp thời củng cố các tổ chức đảng yếu kém; xử lý nghiêm các đảng viên thoái hoá, biến chất, vi phạm pháp luật và kỷ luật đảng. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội thông qua các hoạt động của mình, phát huy vai trò của đoàn viên, hội viên và nhân dân tham gia xây dựng Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên ngày càng trong sạch, vững mạnh.

5. Về Báo cáo kết quả kiểm điểm, tự phê bình và phê bình của Bộ Chính trị, Ban Bí thư năm 2021

Ban Chấp hành Trung ương đánh giá cao sự chuẩn bị và tiến hành kiểm điểm hết sức nghiêm túc, trách nhiệm, gương mẫu của Bộ Chính trị, Ban Bí thư; và hoàn toàn đồng tình, nhất trí cao với Báo cáo, đặc biệt là những bài học kinh nghiệm dẫn đến thành công của năm 2021 được rút ra, đó là: (1) Tập thể Bộ Chính trị, Ban Bí thư, lãnh đạo chủ chốt là một tập thể đoàn kết, thống nhất, trên dưới đồng lòng, đã phát huy những bài học kinh nghiệm được rút ra tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; tập trung chỉ đạo triển khai quyết liệt, toàn diện, đồng bộ, thường xuyên công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; xây dựng Nhà nước và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; quán triệt, thực hiện nghiêm túc quan điểm "dân là gốc"; lãnh đạo, chỉ đạo với quyết tâm chính trị cao, hành động quyết liệt, có bước đi phù hợp; chủ động nghiên cứu, nắm bắt, dự báo đúng tình hình; kiên quyết, kiên trì bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế; khai thác, sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực để phát triển đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. (2) Trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã bám sát Quy chế làm việc, Chương trình làm việc toàn khoá và Chương trình làm việc năm 2021, bảo đảm sự chỉ đạo, điều hành khoa học, phối hợp nhịp nhàng, thống nhất, không có tình trạng chồng chéo hoặc "trống đánh xuôi, kèn thổi ngược". (3) Phương thức lãnh đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư có đổi mới, có sự phân công, phân nhiệm cụ thể, rõ ràng, bảo đảm được sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành trực tiếp, toàn diện.

Đồng thời, Trung ương cũng đồng tình, nhấn mạnh thêm sự cần thiết phải tập trung ưu tiên lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức triển khai thực hiện 5 nhóm nhiệm vụ trọng tâm trong năm 2022 do Bộ Chính trị, Ban Bí thư đề ra trong Báo cáo.

6. Về một số vấn đề quan trọng khác

Các đại biểu biểu quyết thông qua Nghị quyết Hội nghị.

Bên cạnh những vấn đề nêu trên đây, Ban Chấp hành Trung ương cũng đã bàn và thống nhất rất cao về chủ trương thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, coi đây là việc làm cần thiết, đúng đắn, phù hợp với tình hình thực tế hiện nay. Nghiêm túc tổ chức, hoạt động theo đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn như nêu trong Đề án chắc chắn sẽ góp phần tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ từ Trung ương đến địa phương, tạo sự chuyển biến tích cực, mạnh mẽ hơn nữa, hiệu lực, hiệu quả cao hơn nữa trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta theo đúng tinh thần: "Trên Dưới đồng lòng, Dọc Ngang thông suốt!".

Tại Hội nghị này, Trung ương cũng đã nghe báo cáo chuyên đề về cuộc "Xung đột Nga - U-crai-na: Tác động quốc tế và những vấn đề đặt ra". Hội nghị đã biểu thị sự đồng tình, đánh giá cao về những chủ trương, quyết sách kịp thời, đúng đắn, sáng suốt của Đảng và Nhà nước ta trước những diễn biến mới rất phức tạp tại U-crai-na và trên thế giới; đồng thời yêu cầu phải tiếp tục theo dõi sát sao tình hình; dự báo các tình huống, khả năng có thể xẩy ra để chủ động có các phương án ứng phó kịp thời, phù hợp, có hiệu quả; giảm thiểu tối đa những tác động tiêu cực, theo đúng tinh thần "Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy, có trách nhiệm của tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế".

Thưa các đồng chí,

Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII đã thành công tốt đẹp, hoàn thành có chất lượng cao một khối lượng công việc lớn, rất quan trọng. Chúng ta đã bàn và nhất trí cao về nhiều chủ trương, định hướng cơ bản, quan trọng trên các lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ mới.

Thành công của Hội nghị Trung ương lần này, ngoài sự nỗ lực tích cực, đầy tinh thần trách nhiệm của các đồng chí Trung ương, các đồng chí tham dự Hội nghị, các cấp uỷ, chính quyền, các cơ quan và cán bộ tham mưu, còn có phần đóng góp quan trọng của cán bộ, đảng viên và nhân dân cả nước, đặc biệt là các đồng chí cán bộ lão thành, các chuyên gia, nhà nghiên cứu, nhà quản lý, những người luôn luôn quan tâm, nhiệt tình hưởng ứng và có nhiều ý kiến đóng góp tâm huyết, trí tuệ cho công việc chung của Đảng và Nhà nước. Thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng, tôi xin trân trọng cảm ơn những tình cảm và sự đóng góp quý báu đó. Tôi tin tưởng rằng, với thành công của Hội nghị lần này và với truyền thống đoàn kết, nhất trí trong Đảng, trước hết là trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư; sự ủng hộ, hưởng ứng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, nhất định chúng ta sẽ tổ chức thực hiện thành công các Nghị quyết, Kết luận của Hội nghị Trung ương lần này, góp phần từng bước thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.

Tôi xin tuyên bố bế mạc Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII. Chúc các đồng chí mạnh khoẻ, hạnh phúc, hoàn thành xuất sắc trọng trách trước Đảng và nhân dân với niềm tin mới và khí thế mới.

Tôi xin trân trọng cảm ơn!"


TrueĐưa Nghị quyết vào cuộc sống
Infographics - Những điểm chính tại Hội nghị Trung ương 5 khóa XIIIBài viếtAdminInfographics - Những điểm chính tại Hội nghị Trung ương 5 khóa XIIIhttps://www.angiang.dcs.vn/SiteAssets/TBT-khaimac-TW5-5.jpg
10/05/2022 8:00 CHNoĐã ban hành

(TUAG)- Sau 6 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, với tinh thần trách nhiệm cao, Hội nghị lần thứ năm, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã hoàn thành toàn bộ nội dung, chương trình đề ra.

Hoi_nghi_lan_thu_5_ban_chap_hanh_trung_uong_dang_khoa_xiii_hoan_thanh.jpg

FalseĐưa Nghị quyết vào cuộc sống
Thông báo Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIIITinQ.HThông báo Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII/SiteAssets/Thongbao-HNTW5-1.jpg
10/05/2022 7:00 CHNoĐã ban hành

(TUAG)- Cổng Thông tin điện tử Đảng bộ tỉnh An Giang trân trọng giới thiệu toàn văn Thông báo Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII.

Thongbao-HNTW5-1.jpg

Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII diễn ra từ ngày 4 - 10/5/2022.

“Thực hiện Chương trình làm việc toàn khóa, từ ngày 04/5/2022 đến ngày 10/5/2022, tại Thủ đô Hà Nội, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII họp Hội nghị lần thứ năm để thảo luận, cho ý kiến và quyết định về các nội dung: (1) Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa XI về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới. (2) Tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. (3) Tổng kết 20 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa IX về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể. (4) Đề án xây dựng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên. (5) Đề án thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. (6) Báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư năm 2021 và một số vấn đề quan trọng khác. Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì, phát biểu khai mạc và bế mạc Hội nghị.

1. Sau khi xem xét, thảo luận các tờ trình, đề án và báo cáo của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã quyết nghị thông qua nội dung các văn kiện:

- Nghị quyết về “Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất; tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao”.

Ban Chấp hành Trung ương Đảng đánh giá cao các kết quả đã đạt được của 10 năm thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về “Tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”; khẳng định việc tổng kết Nghị quyết số 19-NQ/TW và ban hành Nghị quyết mới về đất đai lần này là một yêu cầu cần thiết nhằm thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, kịp thời tháo gỡ những vướng mắc trong công tác quản lý và sử dụng đất đai, bảo đảm hài hòa các lợi ích của Nhà nước, người dân và nhà đầu tư, tạo nguồn lực và động lực mới để phấn đấu đến năm 2030 nước ta trở thành nước công nghiệp hiện đại, có thu nhập trung bình cao; và đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao.

- Nghị quyết về “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”.

Ban Chấp hành Trung ương Đảng đánh giá khách quan, toàn diện tình hình thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa X, chỉ ra những kết quả, thành tựu đã đạt được; đồng thời, thẳng thắn nhận diện những hạn chế, yếu kém còn tồn tại và nguyên nhân. Từ đó, đề ra quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục đổi mới đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; và thống nhất cao ban hành Nghị quyết mới để tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo đổi mới, phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong thời kỳ mới.

 - Nghị quyết về “Tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể trong giai đoạn mới”.

Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã thảo luận, đánh giá khách quan, khoa học về những kết quả, thành tích đã đạt được; đồng thời, phân tích sâu sắc những hạn chế, yếu kém còn tồn tại và nguyên nhân sau 20 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa IX về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể. Trên cơ sở đó, ban hành Nghị quyết mới nhằm tạo sự thống nhất cao trong toàn Đảng, toàn dân về mục tiêu, quan điểm, tư tưởng chỉ đạo và những nhiệm vụ, giải pháp lớn cần được quán triệt, triển khai thực hiện để kinh tế tập thể ngày càng phát triển mạnh hơn, đúng đắn và lành mạnh hơn, thực sự trở thành một thành phần kinh tế quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

- Nghị quyết về “Tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong tình hình mới”

Ban Chấp hành Trung ương Đảng xác định công tác lãnh đạo, chỉ đạo củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên là công việc có ý nghĩa quan trọng trong hệ thống tổ chức của Đảng, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, thực hiện thành công sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trên tinh thần đó, các đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã nghiên cứu, thảo luận, cho ý kiến vào Đề án “Về xây dựng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên” và thống nhất ban hành Nghị quyết nhằm tạo bước chuyển biến, đổi mới mạnh mẽ, thực chất, hiệu quả, nâng cao hơn nữa chất lượng, sức mạnh và tính chiến đấu của Đảng.

Ban Chấp hành Trung ương Đảng giao BộChính trị, căn cứ ý kiến thảo luận của Trung ương và báo cáo tiếp thu, giải trình của BộChính trị để hoàn chỉnh các nghị quyết nêu trên và chỉ đạo việc ban hành, tổ chức thực hiện.

Các đồng chí chủ trì Hội nghị trao đổi sau khi bế mạc Hội nghị.

 2. Theo Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị và Ban Bí thư khóa XIII, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã xem xét, thảo luận, tán thành Báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư năm 2021 gắn với thực hiện Kết luận của Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; đánh giá việc kiểm điểm, tự phê bình và phê bình lần này đã được thực hiện nghiêm túc, bài bản, đúng nguyên tắc, theo quy chế, quy trình từng bước hợp lý, đặc biệt, từng đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã liên hệ đến trách nhiệm cá nhân đối với lĩnh vực được phân công, thấy rõ những ưu điểm để phát huy, nhận ra những hạn chế để có các giải pháp tích cực khắc phục trong thời gian tới.

 3. Sau khi xem xét, nghiên cứu kỹ lưỡng, nghiêm túc Đề án thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, Ban Chấp hành Trung ương Đảng thống nhất nhận định Đề án đã trình bày đầy đủ, đúng đắn, có cơ sở lý luận và thực tiễn về sự cần thiết, căn cứ và nguyên tắc thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, quan hệ công tác của Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Ban Chấp hành Trung ương Đảng cũng đã thảo luận dân chủ, góp ý thẳng thắn, khách quan vào nội dung của Đề án và thống nhất cao về chủ trương thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực nhằm góp phần tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ từ Trung ương đến địa phương công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta.

4. Ban Chấp hành Trung ương Đảng kêu gọi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân tăng cường đoàn kết, thống nhất, phát huy những kết quả đã đạt được, nỗ lực phấn đấu, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền lãnh thổ và an ninh quốc gia, hoàn thành thắng lợi các mục tiêu đã đề ra cho năm 2022 và các năm tiếp theo; tổ chức thực hiện các Nghị quyết của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ năm, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng”./.

FalseChính trị
Điện Biên Phủ - 56 ngày đêm chấn động địa cầuBài viếtHòa BìnhĐiện Biên Phủ - 56 ngày đêm chấn động địa cầu/SiteAssets/Chien-thang-DBP-VoNgGiap.jpg
07/05/2022 9:00 SANoĐã ban hành

(TUAG)- Chiến thắng Điện Biên Phủ đi vào lịch sử của dân tộc Việt Nam như một Bạch Đằng, một Chi Lăng, hay một Đống Đa trong thế kỷ 20 và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công chói lọi đột phá thành trì của hệ thống nô dịch thuộc địa kiểu cũ của chủ nghĩa đế quốc.


Theo đánh giá của tướng H.Navarre và các nhà quân sự Pháp-Mỹ thì "Điện Biên Phủ là một vị trí chiến lược quan trọng đối với chiến trường Đông Dương và cả miền Đông Nam Á, nằm trên trục giao thông nối liền các miền biên giới của Lào, Thái Lan, Miến Điện (Myanmar) và Trung Quốc. Từ Điện Biên Phủ, quân Pháp có thể bảo vệ được Lào, rồi từ đó đánh chiếm lại các vùng đã mất ở Tây Bắc trong những năm 1952-1953 và tạo điều kiện thuận lợi để tiêu diệt các sư đoàn chủ lực của Việt Nam". Đánh giá Điện Biên Phủ là một vị trí chiến lược quan trọng bậc nhất ở Đông Dương, nên sau khi đánh chiếm Điện Biên Phủ vào ngày 20/11/1953, quân Pháp không ngừng tăng thêm binh lực, vũ khí, trang thiết bị quân sự, xây thêm nhiều công sự, đồn lũy và các loại vật tư khác. Được sự giúp đỡ của Mỹ về cố vấn, trang bị kỹ thuật, kinh tế, Pháp đã xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm quân sự mạnh nhất Đông Dương.

Tính đến tháng 3/1954, tại Điện Biên Phủ đã có 12 tiểu đoàn và bảy đại đội bộ binh, ba tiểu đoàn pháo binh, một đại đội xe tăng, một phi đội máy bay thường trực (14 chiếc). Sau này trong quá trình chiến dịch, quân Pháp tăng viện thêm bốn tiểu đoàn, hai đại đội lính dù, tổng cộng có 17 tiểu đoàn, phần lớn đều là lính tinh nhuệ. Ngoài ra còn có các quân chủng pháo binh, công binh, thiết giáp, phân đội hỏa pháo. Tổng số quân tăng lên hơn 16.000 người và 300 máy bay vận tải tiếp tế, có sự chi viện của không quân Mỹ.

Tại Hội nghị phổ biến nhiệm vụ quân sự và kế hoạch tác chiến Đông Xuân 1953-1954 diễn ra cùng thời điểm quân Pháp nhảy dù xuống Điện Biên Phủ, Tổng Tư lệnh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho rằng, "địch nhảy dù xuống Điện Biên Phủ là để che chở cho Lai Châu và Thượng Lào bị uy hiếp. Như vậy là bị động phân tán lực lượng để đối phó với ta. Vô luận rồi đây, địch tình thay đổi thế nào, địch nhảy dù xuống Điện Biên Phủ căn bản là có lợi cho ta."

Ngày 6/12/1953, Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ với bí danh Trần Đình, nhất trí thông qua phương án tác chiến của Tổng Quân ủy. Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy, đồng chí Hoàng Văn Thái - Tham mưu trưởng, Lê Liêm - Chủ nhiệm Chính trị, Đặng Kim Giang - Chủ nhiệm Cung cấp.

Với những nỗ lực cao nhất, Việt Nam đã dồn hết sức người, sức của cho chiến dịch Điện Biên Phủ. Nhiều tầng lớp nhân dân hăng hái lên đường tham gia chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ như công nhân, nông dân, trí thức, văn nghệ sỹ… Và đã có biết bao tấm gương hy sinh trên đường ra trận, nhiều anh hùng quên mình xả thân cho cuộc kháng chiến. Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, đỉnh cao của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã khẳng định đường lối kháng chiến đúng đắn, sáng tạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh là đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ tự lực cánh sinh, đã phát huy cao độ truyền thống yêu nước, ý chí chiến đấu vì độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam.

Đầu tháng 3/1954, thời gian chuẩn bị mọi mặt cho cuộc tiến công vào tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ với phương châm "đánh chắc, tiến chắc" đã hoàn thành. Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ có tất cả 49 cứ điểm, được chia làm ba phân khu. Trên chiến trường, ta mở ba đợt tiến công vào Điện Biên Phủ.

Đợt một của chiến dịch Điện Biên Phủ mở màn ngày 13/3/1954, với trận tiêu diệt cụm cứ điểm Him Lam thuộc vòng ngoài Phân khu Bắc của tập đoàn cứ điểm. Đợt hai diễn ra ngày 30/3/1954, đánh vào phân khu trung tâm. Đợt ba chiến dịch diễn ra ngày 1/5 và kết thúc ngày 7/5/1954, đánh chiếm các cứ điểm phía Đông và tổng công kích tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Sau 56 ngày đêm chiến đấu, hy sinh, gian khổ, quân và dân Việt Nam đã tiêu diệt toàn bộ Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Chiến thắng Điện Biên Phủ đã nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, buộc thực dân Pháp phải ngồi vào bàn Hội nghị cùng ký Hiệp định Geneva chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược (1945-1954) ở Đông Dương, miền Bắc Việt Nam được hoàn toàn giải phóng. Hiệp định Geneva đã tạo được cục diện mới, tạo tiền đề và cơ sở pháp lý rất quan trọng để dân tộc Việt Nam tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975).


Những cột mốc đáng nhớ trong chiến dịch Điện Biên Phủ

20/11/1953, Pháp cho quân nhảy dù xuống Điện Biên Phủ, manh nha ý định xây dựng căn cứ quân sự ở đây và ngăn chặn quân chủ lực Việt Nam chiếm đóng Tây Bắc.

03/12/1953, Navarre chính thức quyết định xây dựng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ sau khi nghiên cứu, xem xét và cân nhắc những điều kiện thuận lợi tại thung lũng lòng chảo phía Tây Bắc Việt Nam. Quyết định này đưa tới sự ra đời của tập đoàn cứ điểm "chưa từng thấy" ở Đông Dương với 49 cứ điểm mạnh mẽ, được đầu tư viện trợ tối đa và binh lực và hỏa lực và sự dẫn dắt, chỉ huy của Đại tá De Castries.

06/12/1953, Bộ Chính trị quyết định chọn Điện Biên Phủ làm điểm quyết chiến chiến lược trong Đông - Xuân 1953 - 1954 của ta với Thực dân Pháp, đồng thời cử Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Bí thư kiêm Tổng tư lệnh mặt trận.

26/01/1954, Tổng tư lệnh mặt trận, Đại tướng Võ Nguyên Giáp quyết định chuyển phương châm tác chiến từ "Đánh nhanh, thắng nhanh" sang "Đánh chắc, tiến chắc".

31/01/1954, Sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ chuyển vị trí đóng quân đến khu rừng Mường Phăng trên đại điểm xã Mường Phăng, huyện Điện Biên cách Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ khoảng 40km đường bộ và khoảng hơn 15km đường chim bay.

13/3/1954, Sau khi chuẩn bị kỹ lưỡng về mọi mặt, ta chính thức mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ tại Trung tâm đề kháng Him Lam, một trong những cụm cứ điểm mạnh nhất của Pháp nằm phía Đông Bắc Tập đoàn cứ điểm.

31/3/1954, Đợt tấn công thứ hai vào Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, nhiệm vụ tập trung vào dãy cao điểm phía Đông, khu sân bay Mường Thanh, thừa cơ tiến vào khu trung tâm, nơi có Sở chỉ huy của De Castries.

01/5/1954, Đợt tấn công cuối cùng nhằm kết thúc số phận của Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ được tiến hành. Nhiệm vụ quan trọng nhất là tiêu diệt nốt A1 và C2, thừa cơ tiến hành tổng công kích.

06/5/1954, vào lúc 20 giờ 30 phút, khối bộc phá 960kg nổ trên Đồi A1 báo hiệu ngày tàn của Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

07/5/1954, sau khi mở được chiếc chìa khóa cuối cùng A1, quân ta từ các hướng tiến thẳng vào hầm chỉ huy của De Castries. Không có sự kháng cự, De Castries cùng Bộ chỉ huy quân Pháp và sau đó là toàn bộ quân đồn trú từ các hầm trú ẩn và các cứ điểm ra hàng.

21/7/1954, Hiệp định Gionever được ký kết, Pháp và các nước tham gia công nhận độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia, rút quân khỏi Đông Dương.

H.B

FalseChính trị
Chiến thắng Điện Biên Phủ - sức mạnh tổng hợp chiến tranh nhân dânBài viếtNgọc HânChiến thắng Điện Biên Phủ - sức mạnh tổng hợp chiến tranh nhân dân/SiteAssets/Chien-thang-DBP-VoNgGiap.jpg
05/05/2022 10:20 SAYesĐã ban hành

(TUAG)- Cách đây 68 năm, dân tộc Việt Nam đã lập nên chiến công huy hoàng trong chiến dịch Điện Biên Phủ - đỉnh cao của chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954. Với chiến thắng Điện Biên Phủ, quân và dân ta đã đập tan chiến tranh cao nhất của thực dân Pháp và can thiệp của đế quốc Mỹ, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến 9 năm, giải phóng hoàn toàn miền Bắc. Chiến thắng Điện Biên Phủ là thắng lợi của tư tưởng chiến tranh nhân dân Hồ Chí Minh và đường lối kháng chiến đúng đắn của Đảng. Chính tư tưởng chiến tranh nhân dân của Người đi vào cuộc sống, thấm sâu vào quần chúng đã tạo ra một sức mạnh to lớn để chiến thắng kẻ thù, giành thắng lợi trong chiến tranh cách mạng.

Chienthang-DBP1.jpg

Dùng "toàn lực của Nhân dân về đủ mọi mặt" để giành thắng lợi trong chiến tranh

Trước thế kỷ XX, dân tộc Việt Nam đã từng tiến hành nhiều cuộc chiến tranh với sự tham gia của Nhân dân theo các mức độ khác nhau và đã dánh bại nhiều thế lực xâm lược hung bạo, trong đó có cả kẻ thù sừng sỏ Mông - Nguyên. Nhưng sau Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, dân tộc ta lại phải đương đầu với kẻ thù hoàn toàn mới, khác hẳn với các kẻ thù thời trước. Điều kiện lịch sử mới phải có lí luận mới về chiến tranh Nhân dân hiện đại, trong đó việc xác định đặc điểm thời đại, tính chất chiến tranh, nguồn lực cơ bản để tiến hành kháng chiến được đặt lên hàng đầu.

Bởi vậy, ngay trong thời kỳ đầu chuẩn bị cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược trên phạm vi cả nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ sự khác nhau giữa chiến tranh hiện đại và chiến tranh trước đây; qua đó, xác định vai trò và nguồn lực chủ yếu để giành thắng lợi trong chiến tranh hiện đại. Người viết: "Trước kia, chỉ có quân đội đánh nhau ở tiền tuyến và trên mặt đất hay trên mặt nước, nên người ta gọi là bình diện chiến tranh. Ngày nay, đánh nhau ở cả trên không và cả ở tiền tuyến cũng như ở hậu phương, nên người ta gọi là lập thể chiến tranh. Trước kia, chỉ đánh nhau về mặt quân sự, ngày nay đánh nhau về đủ mọi mặt quân sự, kinh tế, chính trị, tư tưởng nên người ta gọi là toàn diện chiến tranh. Chiến tranh ngày nay phức tạp và hết sức khó khăn. Không dùng toàn lực của Nhân dân về đủ mọi mặt để ứng phó thì không thể thắng lợi được"[1]. Phát triển quan điểm đó, trong "Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến", Người khẳng định: "Bất kỳ đàn ông, đàn bà, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc, bất kỳ người già, người trẻ. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm. Không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước"[2].

Để quần chúng có điều kiện và hăng hái tham gia kháng chiến, Người chủ trương: Thứ nhất, phải thường xuyên bồi dưỡng cho Nhân dân "tín tâm và quyết tâm". Thứ hai, cơ quan lãnh đạo chiến tranh cách mạng phải hết sức sáng suốt, nhạy bén, nỗ lực cao về trí tuệ, "đem tất cả tinh thần và lực lượng ra để đưa toàn dân quay về một hướng"… Khi hoạch định đường lối cũng như trong quá trình tiến hành kháng chiến, "chính sách của Chính phủ phải hợp với nguyện vọng và quyền lợi của dân chúng... Chính phủ phải thi hành một nền chính trị liêm khiết, cải thiện đời sống cho dân, cứu tế thất nghiệp, phát triển kinh tế, văn hóa...".

Quán triệt tư tưởng của Người, trong suốt quá trình kháng chiến, Đảng và Chính phủ đã đề ra nhiều chủ trương chính sách nhằm nâng cao đời sống tinh thần và vật chất cho Nhân dân. Với chủ trương "vừa kháng chiến vừa kiến quốc", xây dựng chế độ mới, củng cố hậu phương, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, thực hiện giảm tô tiến tới cải cách ruộng đất... Đảng ta đã khơi dậy được sức mạnh phi thường của quần chúng, tạo ra khả năng lớn để huy động sức người, sức của chi viện cho tiền tuyến, đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn cho cuộc kháng chiến. Được Đảng và Chính phủ chăm lo về mọi mặt, Nhân dân tự giác đứng vào hàng ngũ chiến đấu. hăng hái tham gia đánh giặc lập công, lực lượng dân quân du kích không ngừng lớn mạnh trong Đông Xuân 1953-1954.

Chiến tranh du kích phát triển nhanh buộc địch phải phân tán lực lượng đối phó; do đó bộ đôi chủ lực của ta có điều kiện tập trung ưu thế binh lực tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Suốt 9 năm kháng chiến, Nhân dân ta đã tích cực phục vụ tiền tuyến, nhưng chưa bao giờ quần chúng lại góp sức người sức của nhiều như trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Cả hậu phương hừng hực tinh thần cách mạng, dồn sức người, sức của ra tiền tuyến. Nhân dân đã góp 261.453 dân công với 3.130.000 ngày công và 25.056 tấn gạo. Đồng bào Tây Bắc đã có cố gắng rất lớn, dồn hết sức mình tiếp tế cho bộ đội 7.310 tấn gạo, 389 tấn thịt, 700-800 tấn rau xanh[3]. Chính sức mạnh tinh thần, vật chất và sự đóng góp to lớn của quần chúng là một nhân tố quyết định làm nên chiến thắng. Không có sự đóng góp sức người, sức của to lớn đó của Nhân dân thì không có chiến thắng Điện Biên Phủ.

Chiến tranh nhân dân với lực lượng vũ trang gồm ba thứ quân làm nòng cốt

Có được sự ủng hộ từ Nhân dân, trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Đảng ta hết sức chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân bao gồm: Bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc. Lực lượng này phản ánh tính chất toàn dân rộng rãi của tổ chức quân sự kiểu mới của cách mạng nước ta.

Trên cơ sở cuộc kháng chiến phát triển, thực lực cách mạng ngày càng mạnh, trong đó lực lượng vũ trang ba thứ quân phát triển nhanh về số lượng, chất lượng và trình độ tác chiến, tháng 9/1953, Bộ Chính trị thông qua kế hoạch quân sự Đông Xuân 1953-1954 và ngày 6/12/1953 quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ. Chấp hành Nghị quyết Bộ Chính trị, cùng với Nhân dân cả nước, các lực lượng vũ trang địa phương thi đua đánh giặc "chia lửa" với chiến trường chính.

Quán triệt tư tưởng "Du kích là cách đánh giặc của dân tộc bị áp bức chống đế quốc", "Kiên quyết không ngừng thế tấn công... Tấn công phòng thủ không sơ hở". "Đánh chắc thắng" của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhân dân và lực lượng vũ trang địa phương đã sáng tạo nhiều cách đánh tài giỏi tiêu hao sinh lực địch. Bộ đội chủ lực trên chiến trường Điện Biên Phủ thực hiện nghệ thuật biết thắng từng bước, tiến công từ bộ phận đến toàn bộ, tập trung sức mạnh đánh tan từng mục tiêu, tiến lên đánh bại hoàn toàn quân địch ở tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Hoạt động của quân và dân ta ở chiến trường chính và các chiến trường phối hợp đã tạo nên sức mạnh tổng hợp, sức mạnh của chiến tranh nhân dân đánh thắng chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp. Sau này, khi nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng chí Phạm Văn Đồng viết: "Cống hiến lớn nhất của Hồ Chí Minh vào lý luận về phương pháp cách mạng là lý luận chiến tranh nhân dân. Có lẽ hiếm có ở đâu chiến tranh nhân dân trong thực tế lại đúng với tên gọi của nó như vậy, thực sự sâu rộng trong Nhân dân và thực sự vô địch như nhân dân"[4].

68 năm qua Chiến thắng Điện Biên Phủ lắng đọng sâu xa trong tâm trí Nhân dân Việt Nam về nguồn sức mạnh chiến tranh nhân dân chống xâm lược. Đó là sức mạnh toàn dân đánh giặc, sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân được xây dựng theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Càng lùi xa với thời gian, ý nghĩa cụm từ "Việt Nam - Hồ Chí Minh - Điện Biên Phủ" càng lung linh tỏa sáng. Dưới ánh sáng tư tưởng chiến tranh nhân dân Hổ Chí Minh, dân tộc Việt Nam đã làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ vĩ đại và nhiều chiến thắng rực rỡ khác đã được kiểm chứng qua thời gian./.

NGỌC HÂN

______________

[1] Q.Th: Hình thức chiến tranh ngày nay. Báo Cứu Quốc, ngày 20/9/1946.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 8, Nxb CTQG, H.2000, tr. 160.

[3] Dẫn theo: Quân  và dân Tây Bắc với chiến thắng Điện Biên phủ, Nxb QĐND, H. 1999, tr.459.

[4] Phạm Văn Đồng, Hồ Chí Minh – một con người, một dân tộc, một thời đại, Nxb ST, H.1990, tr.19.


TrueChính trị
Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khai mạc Hội nghị Trung ương 5, khoá XIIIBài viếtP.NToàn văn phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khai mạc Hội nghị Trung ương 5, khoá XIII/SiteAssets/TBT-khaimac-TW5-1.jpg
04/05/2022 10:00 SANoĐã ban hành
(TUAG)- Sáng 4/5, tại Trụ sở Trung ương Đảng đã khai mạc trọng thể Hội nghị lần thứ năm, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì và phát biểu khai mạc Hội nghị. Cổng TTĐT Đảng bộ tỉnh An Giang trân trọng giới thiệu tới bạn đọc toàn văn bài phát biểu của Tổng Bí thư:
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu khai mạc Hội nghị. (Ảnh: Phạm Cường)  

“Kính thưa Trung ương,

Thưa các đồng chí tham dự Hội nghị,

Thực hiện Chương trình làm việc toàn khoá, hôm nay Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII bắt đầu họp Hội nghị lần thứ năm để thảo luận, cho ý kiến và quyết định về các nội dung: (1) Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khoá XI về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới. (2) Tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. (3) Tổng kết 20 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khoá IX về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể. (4) Đề án xây dựng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên. (5) Đề án thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. (6) Báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư năm 2021; và một số vấn đề quan trọng khác.

Trước hết, tôi xin được thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, và với tình cảm cá nhân, nhiệt liệt chào mừng các đồng chí Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, các vị đại biểu khách mời đã về dự Hội nghị và xin gửi tới các đồng chí lời thăm hỏi chân tình và lời chúc tốt đẹp nhất.

Thưa các đồng chí,

Để chuẩn bị cho Hội nghị Trung ương lần này, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã sớm thành lập các ban chỉ đạo nghiên cứu, tổng kết, xây dựng các báo cáo, đề án về những nội dung nêu trên để báo cáo Bộ Chính trị thảo luận, cho ý kiến và trình Trung ương xem xét, quyết định. Các ban chỉ đạo đã bám sát Cương lĩnh của Đảng, Hiến pháp của Nhà nước và Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư cũng như tình hình thực tiễn của đất nước, khu vực và thế giới để tiến hành tổng kết, nghiên cứu, xây dựng các báo cáo, đề án, tờ trình, dự thảo các nghị quyết trình Trung ương. Bộ Chính trị, Ban Bí thư cũng đã nghiêm túc kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư năm 2021 gắn với thực hiện Kết luận của Hội nghị Trung ương 4 khoá XIII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị để xây dựng các báo cáo trình Hội nghị Trung ương lần này.

Theo Quy chế làm việc, Văn phòng Trung ương Đảng đã gửi các tài liệu để các đồng chí nghiên cứu trước. Sau đây, tôi xin phát biểu lưu ý thêm một số vấn đề liên quan đến nội dung của các báo cáo, đề án, có tính chất gợi mở, mong được các đồng chí quan tâm trong quá trình thảo luận, xem xét, quyết định.

1. Về tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khoá XI về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai

Chúng ta đều đã biết, đất đai là tài sản đặc biệt của quốc gia, là tư liệu sản xuất cơ bản, là tài nguyên vô cùng quý giá, là nguồn sống của nhân dân và nguồn lực to lớn của đất nước, thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Tôi đã nhiều lần nhắc lại câu nói của Các Mác rằng: "Lao động là cha, đất đai là mẹ của của cải vật chất"; nhiều người giàu lên nhờ đất, nhưng cũng có không ít người nghèo đi vì đất, thậm chí bị đi tù cũng vì đất, mất cả tình nghĩa cha con, anh em vì đất... Không phải ngẫu nhiên mà trong thời gian qua có tới hơn 70% số vụ tố cáo, khiếu nại thuộc về lĩnh vực đất đai. Vì vậy, việc tổng kết thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khoá XI về đất đai lần này là một yêu cầu cần thiết nhằm thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, kịp thời tháo gỡ những vướng mắc trong công tác quản lý và sử dụng đất đai, bảo đảm hài hoà các lợi ích của Nhà nước, người dân và nhà đầu tư, tạo nguồn lực và động lực mới để phấn đấu đến năm 2030 nước ta trở thành nước công nghiệp hiện đại, có thu nhập trung bình cao; và đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao.

Hình ảnh tại Hội nghị. (Ảnh: Phạm Cường) 

Đây là một lĩnh vực rất rộng lớn, cơ bản, hết sức phức tạp, nhạy cảm, đặc biệt quan trọng, hệ trọng đối với sự ổn định và phát triển bền vững đất nước, hiện vẫn còn không ít ý kiến khác nhau. Khi thảo luận, đánh giá tình hình và nguyên nhân, chúng ta cần nắm vững phương pháp duy vật biện chứng, các quan điểm và nguyên tắc cơ bản đã được xác định trong Cương lĩnh của Đảng và Hiến pháp của Nhà nước để phân tích một cách toàn diện, khách quan kết quả thực hiện các chủ trương, chính sách, biện pháp nêu trong Nghị quyết Trung ương 6 khoá XI và pháp luật về đất đai; chỉ rõ nội dung của Nghị quyết đã được thể chế hoá như thế nào? Những điểm gì thể chế hoá đúng, điểm gì chưa đúng? Những quan điểm, yêu cầu quan trọng nào của Nghị quyết chưa được thể chế hoá hoặc chưa được thực hiện một cách nghiêm túc? Tình hình thực hiện trong thực tế như thế nào? Những chủ trương, chính sách gì cần bổ sung, sửa đổi, điều chỉnh?...

Đồng thời với việc khẳng định những chuyển biến tích cực và những kết quả nổi bật đã đạt được trong gần 10 năm qua, cũng cần thẳng thắn chỉ ra những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân. Tập trung làm rõ: Vì sao nguồn lực đất đai chưa được phát huy đầy đủ để trở thành nội lực quan trọng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội? Vì sao ở nhiều nơi, việc sử dụng đất còn lãng phí, hiệu quả thấp; tệ tham nhũng, tiêu cực liên quan đến đất đai chậm được đẩy lùi, thậm chí gia tăng? Vì sao số vụ khiếu nại, tố cáo thuộc về lĩnh vực đất đai vẫn còn nhiều và phức tạp? Vì sao thị trường bất động sản phát triển thiếu lành mạnh, chưa bền vững và còn tiềm ẩn nhiều rủi ro?... Đâu là nguyên nhân thuộc về quan điểm, chủ trương, chính sách nêu trong Nghị quyết và bất cập của Luật Đất đai năm 2013? Đâu là do các quy định dưới luật còn bất cập; có quá nhiều quy định chồng chéo, mâu thuẫn? Và đâu là do việc tổ chức thực hiện yếu kém của các cơ quan quản lý nhà nước; do nhận thức chưa đầy đủ và ý thức chấp hành luật pháp chưa nghiêm?...

Các đại biểu dự Hội nghị. (Ảnh: Phạm Cường) 

Trên cơ sở đó, đề xuất các chủ trương, định hướng tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách về đất đai; chú ý các vấn đề hiện đang vướng mắc hoặc gây bức xúc trong xã hội và những nội dung còn có ý kiến khác nhau. Chẳng hạn như: Nhận thức như thế nào cho thật đầy đủ, đúng đắn về sở hữu toàn dân về đất đai do Nhà nước làm đại diện chủ sở hữu; quyền hạn, trách nhiệm của Nhà nước với vị trí, vai trò là đại diện chủ sở hữu, thực hiện chức năng, nhiệm vụ thống nhất quản lý nhà nước về đất đai và khi là chủ thể sử dụng đất. Chủ trương, chính sách về đất đai, nhất là về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; về giao đất, cho thuê đất; về hỗ trợ, bồi thường, tái định cư, thu hồi đất; về tài chính đất đai, xác định giá đất và phát triển thị trường bất động sản; về chế độ quản lý và sử dụng đất nông nghiệp, đất có nguồn gốc từ nông, lâm trường quốc doanh, và đất cho tôn giáo, tín ngưỡng; việc quản lý nhà nước về đất đai... cần tiếp tục được đổi mới, hoàn thiện như thế nào cho đúng, sát hợp với thực tế và đáp ứng được yêu cầu phát triển trong thời kỳ mới?...

2. Về tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn

Thực hiện sự chỉ đạo của Bộ Chính trị và Ban Bí thư, thời gian qua Ban Chỉ đạo Trung ương tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đã triển khai tổng kết Nghị quyết một cách nghiêm túc, bài bản, công phu, khoa học, có sự tham gia, phối hợp chặt chẽ, với tinh thần trách nhiệm cao của các ban, bộ, ngành Trung ương và các địa phương, các chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý; kế thừa kết quả tổng kết các Nghị quyết Trung ương về chính sách, pháp luật đất đai và kinh tế tập thể. Báo cáo tổng kết trình Trung ương tại Hội nghị lần này đã đánh giá một cách khách quan, toàn diện tình hình thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khoá X, chỉ ra những kết quả, thành tựu to lớn, toàn diện, rất ấn tượng đã đạt được; đồng thời, cũng thẳng thắn nhận diện những hạn chế, yếu kém còn tồn tại và nguyên nhân. Từ đó, đề ra quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục đổi mới đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; và kiến nghị Trung ương xem xét ban hành Nghị quyết mới để tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo đổi mới, phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong thời kỳ mới.

Đề nghị các đồng chí tham dự Hội nghị hôm nay tập trung nghiên cứu, thảo luận, tạo sự thống nhất cao về tình hình thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và những quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đề ra, đáp ứng yêu cầu phát triển của thời kỳ mới - đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; tiếp tục phát huy thật tốt những kết quả, thành tựu và bài học kinh nghiệm thành công đã đạt được; khắc phục triệt để những hạn chế, yếu kém còn tồn tại và nguyên nhân được rút ra trong quá trình tổng kết là: Nông nghiệp phát triển còn thiếu bền vững, tốc độ tăng trưởng có xu hướng giảm, tổ chức sản xuất chủ yếu vẫn dựa vào nông hộ nhỏ, thiếu liên kết trong sản xuất kinh doanh; kinh tế tập thể, hợp tác xã chậm phát triển. Việc nghiên cứu, ứng dụng khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, nguồn nhân lực chất lượng cao chưa trở thành động lực chính để tạo đột phá phát triển. Nhiều loại giống cây trồng, giống vật nuôi, vật tư đầu vào còn phụ thuộc việc nhập khẩu. Thu hút đầu tư cho phát triển công nghiệp, dịch vụ ở nông thôn gặp nhiều khó khăn. Cơ giới hoá chưa đồng bộ, công nghiệp cơ khí, công nghiệp chế biến nông sản phát triển còn chậm. Đào tạo nghề, giải quyết việc làm, chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn chưa đạt yêu cầu. Lao động nông thôn có xu hướng già hoá, năng suất lao động còn thấp. Thu nhập của phần lớn nông dân chưa cao, chênh lệch với thành thị và giữa các vùng, miền còn lớn; tỉ lệ hộ nghèo ở nông thôn còn nhiều, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Xây dựng nông thôn mới chưa đồng đều, nhiều nơi chưa chú trọng đúng mức tới phát triển sản xuất, tạo sinh kế cho người dân; xây dựng đời sống văn hoá, bảo vệ môi trường; mức đạt tiêu chí nông thôn mới ở những vùng khó khăn còn thấp; nhiều vấn đề xã hội phát sinh, gây bức xúc trong nhân dân; ô nhiễm môi trường nông thôn gia tăng ở nhiều địa phương. Năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu còn yếu; phòng, chống thiên tai, dịch bệnh chưa đáp ứng yêu cầu. 

3. Về tổng kết 20 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khoá IX tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể

Cương lĩnh của Đảng, Hiến pháp của Nhà nước và các Nghị quyết Đại hội Đảng đều khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của kinh tế tập thể; xác định phát triển kinh tế tập thể cùng với kinh tế nhà nước ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Để đổi mới, nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể phù hợp với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, khắc phục những hạn chế, yếu kém của mô hình hợp tác xã kiểu cũ, ngày 18/3/2002, Hội nghị Trung ương 5 khoá IX đã ban hành Nghị quyết số 13-NQ/TW về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể.

Báo cáo tổng kết 20 năm (2002 - 2022) thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khoá IX đã được xây dựng công phu, nghiêm túc trên cơ sở Báo cáo tổng kết, báo cáo chuyên đề của các bộ, ngành, cơ quan Trung ương và 63 tỉnh uỷ, thành uỷ trực thuộc Trung ương; kết quả nghiên cứu, khảo sát của Ban Chỉ đạo tại một số địa phương; ý kiến tham gia tại 12 cuộc hội thảo chuyên gia, 3 Hội nghị cán bộ toàn quốc tổng kết 20 năm thực hiện Nghị quyết, và Báo cáo tư vấn của Hội đồng Lý luận Trung ương.

Qua tổng kết cho thấy, sau 20 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khoá IX, khu vực kinh tế tập thể nước ta đã có những chuyển biến tích cực. Nhận thức trong hệ thống chính trị, các tầng lớp nhân dân về phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã được nâng lên. Hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách được quan tâm xây dựng, phù hợp với từng giai đoạn phát triển. Hợp tác xã đã cơ bản hoàn thành việc chuyển đổi theo quy định của pháp luật. Số lượng hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã thành lập mới tăng đáng kể; nhiều hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã phát triển đa dạng hơn về ngành nghề, quy mô và trình độ, hỗ trợ tốt hơn cho kinh tế thành viên, tạo việc làm và thu nhập thường xuyên cho người lao động. Tổ hợp tác với cơ cấu tổ chức gọn nhẹ, nội dung hoạt động đơn giản nhưng thiết thực, đáp ứng được nhu cầu liên kết linh hoạt và mang tính ngắn hạn của người dân. Liên kết giữa các hợp tác xã với nhau và với các tổ chức kinh tế khác bước đầu có sự phát triển. Khu vực kinh tế tập thể cơ bản đã khắc phục được tình trạng yếu kém kéo dài, góp phần xây dựng nông thôn mới, bảo đảm an sinh, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, từng bước khẳng định vị trí, vai trò nền tảng trong nền kinh tế quốc dân.

Tuy nhiên, khu vực kinh tế tập thể của nước ta đến nay vẫn chưa đạt mức phát triển như mục tiêu, yêu cầu đề ra. Đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể còn gặp nhiều khó khăn. Tốc độ tăng trưởng, tỉ trọng đóng góp vào GDP cả nước của khu vực kinh tế tập thể còn thấp và có xu hướng giảm dần. Hợp tác xã phát triển không đồng đều giữa các vùng, miền; giữa khu vực nông nghiệp và phi nông nghiệp. Hoạt động hợp tác xã chưa trở thành phong trào để thu hút xã viên, hội viên. Số lượng hợp tác xã tuy tăng, nhưng số lượng thành viên bình quân trong hợp tác xã có xu hướng giảm; thành viên tham gia vào hoạt động của hợp tác xã còn hình thức, chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình trong hợp tác xã. Năng lực nội tại của hợp tác xã còn yếu, hiệu quả hoạt động chưa cao. Phần lớn các tổ hợp tác, hợp tác xã có quy mô nhỏ, vốn ít, phạm vi hoạt động hẹp, lợi ích mang lại cho thành viên còn thấp; tính liên kết trong nội bộ hợp tác xã rất yếu; các hoạt động liên doanh, liên kết giữa các hợp tác xã và giữa hợp tác xã với các tổ chức kinh tế khác chưa phổ biến. Số lượng liên hiệp hợp tác xã ít; tổ chức và hoạt động của tổ hợp tác thiếu ổn định; nhiều hợp tác xã chuyển đổi còn mang tính hình thức, chưa thực sự có chuyển biến về chất.

Đề nghị các đồng chí Trung ương và các đồng chí tham dự hội nghị xuất phát từ thực tiễn, thảo luận, đánh giá một cách khách quan, khoa học về những kết quả, thành tích đã đạt được; đồng thời phân tích sâu sắc những hạn chế, yếu kém còn tồn tại và nguyên nhân. Từ đó, bám sát Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và thực tế đất nước, tập trung thảo luận làm rõ, tạo sự thống nhất cao trong toàn Đảng, toàn dân về mục tiêu, quan điểm, tư tưởng chỉ đạo và những nhiệm vụ và giải pháp lớn cần được quán triệt và triển khai thực hiện để kinh tế tập thể ngày càng phát triển mạnh hơn, đúng đắn và lành mạnh hơn, thực sự trở thành một thành phần kinh tế quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Hội nghị Trung ương 5, khóa XIII thảo luận 6 nội dung quan trọng. (Ảnh: Phạm Cường) 

4. Về Đề án xây dựng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên

Lâu nay, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư các khoá đều rất quan tâm, chú trọng công tác lãnh đạo, chỉ đạo củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên theo đúng tinh thần Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhiều lần nhấn mạnh: "Để lãnh đạo cách mạng, Đảng phải mạnh. Đảng mạnh là do chi bộ tốt; chi bộ tốt là do các đảng viên đều tốt". Phong trào xây dựng "đảng bộ bốn tốt", "chi bộ bốn tốt", "đảng viên bốn tốt" được phát động và duy trì thường xuyên ở nhiều nơi. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả, thành tích đã đạt được, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của không ít tổ chức cơ sở đảng còn yếu, thậm chí mất sức chiến đấu; chưa đủ sức phát hiện, giải quyết những vấn đề phức tạp xẩy ra ở cơ sở, nhất là những nơi có tình hình an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội phức tạp. Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, rèn luyện bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên chưa thường xuyên, thậm chí một số nơi còn xem nhẹ. Không ít cán bộ, đảng viên bản lĩnh chính trị chưa vững vàng; vai trò tiên phong, gương mẫu còn hạn chế; tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình còn yếu. Năng lực, trình độ của một số cấp uỷ viên, bí thư cấp uỷ, cán bộ, đảng viên chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ; phương thức lãnh đạo, lề lối làm việc, nội dung, chế độ sinh hoạt cấp uỷ, đảng bộ, chi bộ chậm đổi mới. Nhiều nơi, chi bộ chưa thể hiện được vai trò là hạt nhân chính trị, tiên phong, gương mẫu nên nhân dân chưa thực sự tin tưởng. Thậm chí có một bộ phận cán bộ, đảng viên còn suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá", vi phạm nguyên tắc, kỷ luật đảng, vi phạm pháp luật, làm giảm sút niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

Chính vì vậy, thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng về vấn đề này, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã chỉ đạo tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 22-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khoá X, Kết luận số 38-KL/TW của Bộ Chính trị khoá XII và xây dựng dự thảo Nghị quyết về tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong tình hình mới trình Trung ương xem xét, quyết định tại Hội nghị lần này.

Đề án đã đề cập một cách khách quan, toàn diện tình hình thực hiện Nghị quyết và Kết luận, chỉ ra những kết quả chủ yếu đã đạt được; những hạn chế, yếu kém còn tồn tại và phân tích rõ nguyên nhân. Từ đó đề ra quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu tiếp tục đổi mới, tăng cường xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong tình hình mới. Đề nghị các đồng chí nghiên cứu thật kỹ, thảo luận thật dân chủ, thẳng thắn, tạo sự thống nhất cao về những vấn đề nêu trong Tờ trình, để sau Hội nghị Trung ương lần này chúng ta có bước chuyển biến, tiến bộ mới, thực chất, mạnh mẽ, hiệu quả, nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng, sức mạnh và tính chiến đấu của Đảng ta theo đúng tinh thần tư tưởng của Lê-nin "Thà ít mà tốt"; "những đảng viên hữu danh vô thực thì cho không chúng ta cũng không cần!".

5. Về Đề án thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực

Thực hiện Chương trình công tác năm 2022 và Kết luận tại phiên họp thứ 21 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, Kết luận của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác này, Bộ Chính trị đã giao cho Ban Nội chính Trung ương chủ trì, phối hợp với các cơ quan hữu quan khẩn trương, nghiêm túc nghiên cứu, xây dựng Đề án thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Đề án có sự kế thừa kết quả sơ kết 5 năm thực hiện Kết luận số 10-KL/TW của Bộ Chính trị khoá XII về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khoá X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí; sơ kết 5 năm thực hiện Chỉ thị số 50-CT/TW của Bộ Chính trị khoá XI về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phát hiện, xử lý các vụ việc, vụ án tham nhũng; tổng kết công tác phòng, chống tham nhũng giai đoạn 2013 - 2020; và xuất phát từ những yêu cầu đặt ra đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong tình hình mới. Ban Nội chính Trung ương đã tổ chức hội thảo lấy ý kiến góp ý của các chuyên gia, các cán bộ có kinh nghiệm thực tiễn về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; gửi xin ý kiến các ban, bộ, ngành, địa phương và các thành viên Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực để tiếp thu, hoàn thiện Đề án. Qua góp ý xây dựng Đề án, đã có tất cả 63/63 tỉnh uỷ, thành uỷ nhất trí với chủ trương thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Đề án đã trình bày đầy đủ, đúng đắn, có cơ sở lý luận và thực tiễn về sự cần thiết, căn cứ và nguyên tắc thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, quan hệ công tác của Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, và cũng đã dự thảo các văn bản liên quan. Đề nghị Trung ương nghiên cứu, xem xét, quyết định về những kiến nghị, đề xuất nêu trong Tờ trình của Bộ Chính trị, nhất là về chủ trương thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực nhằm góp phần tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ từ Trung ương đến địa phương công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, theo tinh thần tôi đã nhiều lần nói là "Trên Dưới đồng lòng, Dọc Ngang thông suốt!".

6. Về kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư năm 2021 gắn với thực hiện Kết luận Hội nghị Trung ương 4 khoá XIII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị

Thực hiện Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư khoá XIII, trong tháng 01 năm 2022, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã dành 3 ngày để tiến hành kiểm điểm, tự phê bình và phê bình về sự lãnh đạo, chỉ đạo của tập thể và cá nhân từng đồng chí Uỷ viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư năm 2021 gắn với việc thực hiện Kết luận của Hội nghị Trung ương 4 khoá XIII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

Việc kiểm điểm, tự phê bình và phê bình lần này đã được thực hiện một cách nghiêm túc, bài bản, theo quy chế, quy trình từng bước hợp lý. Các báo cáo kiểm điểm đều được chuẩn bị theo đúng quy định, hướng dẫn. Không khí kiểm điểm theo tinh thần tự phê bình, phê bình nghiêm túc, thẳng thắn, dân chủ, đoàn kết, chân tình. Các đồng chí được góp ý đã tiếp thu nghiêm túc, cầu thị, coi đây như là cơ hội quý để học tập, chia sẻ lẫn nhau. Trong quá trình kiểm điểm, từng đồng chí Uỷ viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã liên hệ đến trách nhiệm cá nhân đối với lĩnh vực được phân công, thấy rõ những ưu điểm để phát huy, nhận ra những khuyết điểm, hạn chế để khắc phục.

Theo Chương trình, Hội nghị dự kiến bế mạc vào ngày 10/5. 

Qua kiểm điểm tập thể và cá nhân, Bộ Chính trị, Ban Bí thư nhận thấy: Năm 2021, trong bối cảnh có rất nhiều khó khăn, thách thức, Bộ Chính trị, Ban Bí thư luôn luôn đoàn kết, thống nhất, bình tĩnh, kiên định, sáng suốt trước khó khăn, thử thách, có nhiều đổi mới và sáng tạo, bám sát quan điểm, chủ trương, đường lối, cụ thể hoá các nội dung quan trọng của Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, đã có các quyết sách đúng đắn, kịp thời và phù hợp với tình hình thực tiễn để lãnh đạo, chỉ đạo toàn Đảng, toàn dân và toàn quân tổ chức triển khai thực hiện, đạt được những kết quả quan trọng, khá toàn diện, có những dấu ấn nổi bật, được cán bộ, đảng viên và nhân dân ghi nhận, bạn bè thế giới đánh giá cao.

Tuy nhiên, công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư cũng còn một số hạn chế, khuyết điểm. Công tác dự báo chiến lược, hoạch định đường lối, chính sách và tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận có lúc, có việc chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu, đòi hỏi của tình hình mới. Trong phòng, chống dịch bệnh có lúc, có nơi còn lơ là, chủ quan, bị động, lúng túng hoặc cứng nhắc, thiếu thống nhất, đồng bộ trong lãnh đạo, chỉ đạo xử lý các tình huống cụ thể, đột xuất; còn có những hạn chế, bất cập trong nghiên cứu, dự báo, phân tích tình hình để xây dựng và triển khai thực hiện có bài bản và kịp thời các phương án ngắn hạn cũng như dài hạn, bảo đảm vừa phòng, chống dịch bệnh, vừa phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm các hoạt động bình thường.

Những kết quả, thành tích cũng như hạn chế, yếu kém cụ thể đã được nêu đầy đủ trong Báo cáo của Bộ Chính trị gửi các đồng chí Uỷ viên Trung ương Đảng. Đề nghị Trung ương với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, xem xét, đánh giá kỹ lưỡng những ưu điểm, những hạn chế, khuyết điểm trong lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư gắn với thực hiện Kết luận Trung ương 4 khoá XIII trên các lĩnh vực. Đặc biệt, cần chỉ rõ những nguyên nhân, rút ra những bài học kinh nghiệm và đề ra các giải pháp tích cực khắc phục trong thời gian tới.

Thưa các đồng chí,

Những nội dung trình Hội nghị Trung ương lần này là những vấn đề rất lớn, rất khó và rất hệ trọng đối với việc thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng trên các lĩnh vực trọng yếu như: Đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội của đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh toàn diện từ gốc, từ cơ sở, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của cách mạng trong giai đoạn mới;... Đề nghị Trung ương phát huy cao độ tinh thần trách nhiệm, tập trung nghiên cứu, thảo luận kỹ lưỡng, cho ý kiến để hoàn thiện và xem xét, quyết định vào cuối kỳ họp.

Với tinh thần đó, tôi xin tuyên bố khai mạc Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII. Chúc Hội nghị của chúng ta thành công tốt đẹp!

Tôi xin trân trọng cảm ơn!”

False
Giá trị bền vững của chủ nghĩa MácBài viếtTTCTTTGiá trị bền vững của chủ nghĩa Mác/SiteAssets/C-Mac.jpg
04/05/2022 9:00 SAYesĐã ban hành

(TUAG)- ​Chủ nghĩa Mác do C.Mác và Ph.Ăngghen sáng lập vào khoảng giữa những năm 40 thế kỷ XIX ở Tây Âu. Chủ nghĩa Mác ra đời là một cuộc cách mạng trong lịch sử tư tưởng nhân loại. Bằng sự chỉ ra quy luật vận động khách quan của xã hội, những nhiệm vụ lịch sử cần giải quyết để từng bước giải phóng áp bức, giải phóng con người và xã hội loài người, tư tưởng của Mác có giá trị trường tồn và sức sống bền vững trong lòng nhân loại tiến bộ trên thế giới và Nhân dân Việt Nam.

(Kỷ niệm 204 năm Ngày sinh của C.Mác 5/5/1818 - 5/5/2022)

Các Mác và những cống hiến tiêu biểu

Các Mác (Karl Marx) sinh ngày 05/5/1818, trong một gia đình trung lưu ở thành phố Rhineland, Trier - Đức. Năm 12 tuổi (1830), Mác vào học trường trung học ở Trier, học giỏi, đặc biệt nổi bật ở những lĩnh vực đòi hỏi tính độc lập sáng tạo. Mác cũng tỏ ra có năng lực về toán học. Mùa thu năm 1835, Mác tốt nghiệp trung học, sau đó, tháng 10/1835, Mác vào trường Đại học Tổng hợp Bonn để học luật. Hai tháng sau, theo lời khuyên của bố, Mác theo học ở trường Đại học Tổng hợp Berlin. Năm 1836, trong dịp nghỉ hè, Mác đính hôn với người bạn gái từ thuở ấu thơ hơn Mác bốn tuổi, Gianny Vôn Vecphalen. Ở trường Đại học Tổng hợp Berlin, năm 1836, ngoài luật học, sử học và ngoại ngữ Mác bắt đầu đi sâu nghiên cứu triết học. Mùa xuân 1837, Mác bắt đầu nghiên cứu kỹ tác phẩm của Hêgen, sang năm 1839 thì đi sâu nghiên cứu triết học, suốt cả năm 1939 và một phần của năm 1840 Mác tập trung nghiên cứu những vấn đề của lịch sử triết học cổ đại. Ngày 15/4/1841, khi mới 23 tuổi, Mác nhận được bằng Tiến sĩ triết học với luận án “Về sự khác nhau giữa triết học tự nhiên của Đêmôcrit  và triết học tự nhiên của Êpiquơ” tại trường Đại học Tổng hợp Jena. Tháng 6/1843, Mác chính thức làm lễ thành hôn với Gianny bất chấp sự phản đối kịch liệt của gia đình Gianny.

Sau khi hoàn thành luận án tiến sĩ, Các Mác chuyển sang báo chí và bắt đầu cộng tác với tờ Rheinische Zeitung. Ông nhanh chóng trở thành chủ bút, nhưng sau đó bị các nhà chức trách cho đóng cửa tờ báo vào tháng 5/1843 và chuyển về lại Paris.

Giữa năm 1844, Mác viết Bản thảo kinh tế - triết học, thực chất là những phôi thai của những tư tưởng hết sức quan trọng mà sau này Mác phát triển một cách khoa học trong bộ “Tư bản”.

Tháng 2/1845, cuốn sách Gia đình thần thánh của Mác và Ăngghen viết chung ra đời đã phê phán mạnh mẽ chủ nghĩa duy tâm chủ quan của phái Hêghen trẻ, thực chất là phê phán toàn bộ chủ nghĩa duy tâm, đồng thời nêu ra vai trò quyết định của quần chúng nhân dân trong lịch sử.

Mác cùng với Ăngghen hợp sức viết Hệ tư tưởng Đức (1845 - 1846) tiếp tục phê phán chủ nghĩa duy tâm của Hêghen và phái Hêghen trẻ đồng thời phê phán chủ nghĩa duy vật không nhất quán của Luivich Phoiơbach. Trong cuốn Sự bần cùng của triết học (1847) Mác đã chống lại triết học tiểu tư sản của Pruđông và trình bày những cơ sở của chủ nghĩa duy vật lịch sử và chính trị kinh tế học vô sản.

Năm 1848 được sự uỷ nhiệm của Đại hội II Liên đoàn những người cộng sản, Mác và Ăngghen viết Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản - một văn kiện mang tính chất cương lĩnh của chủ nghĩa Mác và đảng vô sản, nó soi sáng cho giai cấp công nhân toàn thế giới con đường đấu tranh để thoát khỏi chế độ nô lệ tư bản chủ nghĩa và đưa cách mạng vô sản đến thắng lợi.

Tháng 6/1859, công trình thiên tài của Mác "Góp phần phê phán môn chính trị kinh tế học" ra đời viết về tiền tệ và lưu thông tiền tệ; nhưng điều đặc biệt quan trọng là lần đầu tiên tác phẩm đã trình bày học thuyết Mác xít về giá trị, cơ sở của học thuyết kinh tế của Mác.

Mác là người tổ chức và là lãnh tụ của Quốc tế cộng sản I thành lập ngày 28/9/1864 ở London. Mác dốc toàn bộ tâm sức của mình để thống nhất phong trào công nhân các nước liên hợp lại.

Năm 1867, Bộ Tư bản (tập I) - tác phẩm chủ yếu của Mác ra đời. Tập II và III Mác không kịp hoàn tất, Ăngghen đảm nhiệm việc xuất bản hai tập này. Trong bộ Tư bản của mình Mác đã vạch rõ quy luật giá trị thặng dư dưới hình thái giá trị thặng dư tuyệt đối và giá trị thặng dư tương đối; và quy luật giá trị với tư cách là quy luật chung của nền sản xuất hàng hoá được phát triển trong quy luật cung và cầu, trong những quy luật của lưu thông tiền tệ,v.v… Trong kết luận của bộ Tư bản, Mác nêu lên sự tất yếu phải thủ tiêu nền sản xuất tư bản chủ nghĩa và thay thế nó bằng một hình thái tổ chức cao hơn của xã hội cộng sản chủ nghĩa.

Trong cuốn "Phê phán cương lĩnh Gôta" (1875), Mác đã kịch liệt phê phán những sai lầm cơ hội chủ nghĩa của những người lãnh đạo đảng xã hội dân chủ Đức, đề ra một vấn đề hết sức quan trọng về thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản và hai giai đoạn của chủ nghĩa cộng sản, nghĩa là bản thân xã hội cộng sản phải phát triển qua hai giai đoạn: Giai đoạn thấp - chủ nghĩa xã hội và giai đoạn cao - chủ nghĩa cộng sản. Năm 1876, sau khi Quốc tế I giải tán, Mác nêu lên ý kiến thành lập các đảng vô sản ở các nước là nhiệm vụ chính trị hàng đầu trong phong trào công nhân. Như vậy, Mác đã đặt nền móng cho chủ nghĩa xã hội khoa học, học thuyết về sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân và giải phóng loài người khỏi mọi hình thức áp bức, bóc lột và tha hóa.

Giá trị tư tưởng của chủ nghĩa Mác

Triết học duy vật biện chứng của Mác đã đập tan mọi thứ triết học duy tâm, siêu hình, coi thế giới là do thần linh sáng tạo ra; vạch rõ thế giới bao gồm vô số sự vật và hiện tượng muôn hình muôn vẻ, vốn có một cách khách quan. Mác cũng đã sáng lập ra chủ nghĩa duy vật lịch sử, vạch ra quy luật phát triển của xã hội loài người. Ông khẳng định, lịch sử loài người trước hết là lịch sử phát triển của nền sản xuất xã hội, phương thức sản xuất đời sống vật chất quyết định sinh hoạt chính trị, tinh thần của xã hội nói chung. Quần chúng nhân dân là động lực phát triển của lịch sử, là đội quân chủ lực của các cuộc cách mạng xã hội thay thế chế độ xã hội cũ, lỗi thời bằng chế độ xã hội mới, tiến bộ hơn. Đảng Cộng sản, chính đảng của giai cấp công nhân, có lý luận tiền phong soi đường, là lực lượng lãnh đạo quần chúng nhân dân làm cách mạng để phá bỏ chế độ áp bức, bóc lột cũ, xây dựng chế độ mới, chế độ cộng sản chủ nghĩa.

Mác đã tìm ra quy luật vận động của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa của xã hội tư bản và ông cũng chứng minh về mặt lý luận rằng, giai cấp vô sản nhất thiết phải đấu tranh chống giai cấp tư sản và nhất định giai cấp vô sản sẽ chiến thắng, chủ nghĩa xã hội nhất định sẽ thay thế chủ nghĩa tư bản.

Chủ nghĩa Mác đã tìm ra quy luật phát triển của xã hội và lực lượng xã hội có thể tiêu diệt chế độ tư bản và sáng tạo xã hội mới, đó là giai cấp vô sản. Mác và Ăngghen chỉ ra cho giai cấp vô sản là trước hết phải tự mình vùng lên đánh đổ chế độ tư bản chủ nghĩa. Và trong cuộc đấu tranh đó, giai cấp vô sản phải đoàn kết chung quanh mình tất cả những người lao động. Cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản phải đi tới lập nên nhà nước chuyên chính vô sản, giai cấp vô sản dùng nó làm công cụ để xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.

Chủ nghĩa Mác là ngọn đèn soi sáng con đường cách mạng cho giai cấp vô sản và nhân dân lao động toàn thế giới. Thiên tài của Mác là đã giải đáp các vấn đề mà loài người tiên tiến nêu lên nhưng chưa giải đáp được. Sự ra đời của chủ nghĩa Mác chấm dứt thời kỳ mò mẫm như trong đêm tối của hàng triệu nhân dân lao động sống dưới ách áp bức và bóc lột, tìm đường giải phóng cho mình.

Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mãi đồng hành cùng dân tộc Việt Nam

Đối với cách mạng Việt Nam, có chủ nghĩa Mác - Lênin, giai cấp công nhân và Nhân dân Việt Nam ta mới tìm được con đường đi tới độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Từ khi Người thanh niên yêu nước Nguyễn Ái Quốc tìm thấy ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, thì chủ nghĩa Mác - Lênin luôn là ngọn đuốc dẫn đường cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trải qua hơn 90 năm đấu tranh anh dũng, Đảng ta luôn lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của mình.

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng khẳng định tiếp tục: “Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; thường xuyên củng cố, tăng cường đoàn kết trong Đảng và hệ thống chính trị; thực hiện nghiêm nguyên tắc xây dựng Đảng; thường xuyên đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng”.

NGUYỄN HỮU THỊNH

Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy


TrueChính trị
Khai mạc Hội nghị lần thứ 5, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIIITinH.TKhai mạc Hội nghị lần thứ 5, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII/SiteAssets/TBT-khaimac-TW5-2.jpg
04/05/2022 9:00 SANoĐã ban hành

(TUAG)- Sáng 4/5, tại Trụ sở Trung ương Đảng đã khai mạc trọng thể Hội nghị lần thứ năm, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì Hội nghị.

TBT-khaimac-TW5-1.jpg
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu khai mạc Hội nghị.

Thực hiện Chương trình làm việc toàn khoá, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII họp Hội nghị lần thứ năm để thảo luận, cho ý kiến và quyết định về các nội dung: Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khoá XI về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới. Tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Tổng kết 20 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khoá IX về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể. Đề án xây dựng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên. Đề án thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư năm 2021; và một số vấn đề quan trọng khác.

Để chuẩn bị cho Hội nghị Trung ương lần này, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã sớm thành lập các ban chỉ đạo nghiên cứu, tổng kết, xây dựng các báo cáo, đề án về những nội dung nêu trên để báo cáo Bộ Chính trị thảo luận, cho ý kiến và trình Trung ương xem xét, quyết định. Các ban chỉ đạo đã bám sát Cương lĩnh của Đảng, Hiến pháp của Nhà nước và Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư cũng như tình hình thực tiễn của đất nước, khu vực và thế giới để tiến hành tổng kết, nghiên cứu, xây dựng các báo cáo, đề án, tờ trình, dự thảo các nghị quyết trình Trung ương.

Bộ Chính trị, Ban Bí thư cũng đã nghiêm túc kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư năm 2021 gắn với thực hiện Kết luận của Hội nghị Trung ương 4 khoá XIII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị để xây dựng các báo cáo trình Hội nghị Trung ương lần này.

Phát biểu khai mạc Hội nghị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã lưu ý thêm một số vấn đề liên quan đến nội dung của các báo cáo, đề án, có tính chất gợi mở để Trung ương quan tâm trong quá trình thảo luận, xem xét, quyết định.

Thảo luận thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực

 Hình ảnh tại Hội nghị.

Bộ Chính trị đã giao cho Ban Nội chính Trung ương chủ trì, phối hợp với các cơ quan hữu quan khẩn trương, nghiêm túc nghiên cứu, xây dựng Đề án thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Ban Nội chính Trung ương đã tổ chức hội thảo lấy ý kiến góp ý của các chuyên gia, các cán bộ có kinh nghiệm thực tiễn về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; gửi xin ý kiến các ban, bộ, ngành, địa phương và các thành viên Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực để tiếp thu, hoàn thiện Đề án. Qua góp ý xây dựng Đề án, đã có tất cả 63/63 tỉnh uỷ, thành uỷ nhất trí với chủ trương thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Đề án đã trình bày đầy đủ, đúng đắn, có cơ sở lý luận và thực tiễn về sự cần thiết, căn cứ và nguyên tắc thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, quan hệ công tác của Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, và cũng đã dự thảo các văn bản liên quan.

Tại Hội nghị lần này, Tổng Bí thư đề nghị Trung ương nghiên cứu, xem xét, quyết định về những kiến nghị, đề xuất nêu trong Tờ trình của Bộ Chính trị, nhất là về chủ trương thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực nhằm góp phần tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ từ Trung ương đến địa phương công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta.

Góp ý nội dung kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư

Các đại biểu dự Hội nghị. 

Thực hiện Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư khoá XIII, trong tháng 01 năm 2022, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã dành 3 ngày để tiến hành kiểm điểm, tự phê bình và phê bình về sự lãnh đạo, chỉ đạo của tập thể và cá nhân từng đồng chí Uỷ viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư năm 2021 gắn với việc thực hiện Kết luận của Hội nghị Trung ương 4 khoá XIII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

Tổng Bí thư cho biết, việc kiểm điểm, tự phê bình và phê bình lần này đã được thực hiện một cách nghiêm túc, bài bản, theo quy chế, quy trình từng bước hợp lý. Các báo cáo kiểm điểm đều được chuẩn bị theo đúng quy định, hướng dẫn. Không khí kiểm điểm theo tinh thần tự phê bình, phê bình nghiêm túc, thẳng thắn, dân chủ, đoàn kết, chân tình. Các đồng chí được góp ý đã tiếp thu nghiêm túc, cầu thị, coi đây như là cơ hội quý để học tập, chia sẻ lẫn nhau. Trong quá trình kiểm điểm, từng đồng chí Uỷ viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã liên hệ đến trách nhiệm cá nhân đối với lĩnh vực được phân công, thấy rõ những ưu điểm để phát huy, nhận ra những khuyết điểm, hạn chế để khắc phục.

Qua kiểm điểm tập thể và cá nhân, Bộ Chính trị, Ban Bí thư nhận thấy: Năm 2021, trong bối cảnh có rất nhiều khó khăn, thách thức, Bộ Chính trị, Ban Bí thư luôn luôn đoàn kết, thống nhất, bình tĩnh, kiên định, sáng suốt trước khó khăn, thử thách, có nhiều đổi mới và sáng tạo, bám sát quan điểm, chủ trương, đường lối, cụ thể hoá các nội dung quan trọng của Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, đã có các quyết sách đúng đắn, kịp thời và phù hợp với tình hình thực tiễn để lãnh đạo, chỉ đạo toàn Đảng, toàn dân và toàn quân tổ chức triển khai thực hiện, đạt được những kết quả quan trọng, khá toàn diện, có những dấu ấn nổi bật, được cán bộ, đảng viên và nhân dân ghi nhận, bạn bè thế giới đánh giá cao.

Tuy nhiên, công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư cũng còn một số hạn chế, khuyết điểm. Công tác dự báo chiến lược, hoạch định đường lối, chính sách và tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận có lúc, có việc chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu, đòi hỏi của tình hình mới. Trong phòng, chống dịch bệnh có lúc, có nơi còn lơ là, chủ quan, bị động, lúng túng hoặc cứng nhắc, thiếu thống nhất, đồng bộ trong lãnh đạo, chỉ đạo xử lý các tình huống cụ thể, đột xuất; còn có những hạn chế, bất cập trong nghiên cứu, dự báo, phân tích tình hình để xây dựng và triển khai thực hiện có bài bản và kịp thời các phương án ngắn hạn cũng như dài hạn, bảo đảm vừa phòng, chống dịch bệnh, vừa phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm các hoạt động bình thường.

Tổng Bí thư đề nghị Trung ương với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, xem xét, đánh giá kỹ lưỡng những ưu điểm, những hạn chế, khuyết điểm trong lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư gắn với thực hiện Kết luận Trung ương 4 khoá XIII trên các lĩnh vực. Đặc biệt, cần chỉ rõ những nguyên nhân, rút ra những bài học kinh nghiệm và đề ra các giải pháp tích cực khắc phục trong thời gian tới.

Tổng Bí thư khẳng định, những nội dung trình Hội nghị Trung ương lần này là những vấn đề rất lớn, rất khó và rất hệ trọng đối với việc thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng trên các lĩnh vực trọng yếu như: Đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội của đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh toàn diện từ gốc, từ cơ sở, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của cách mạng trong giai đoạn mới;... Tổng Bí thư đề nghị Trung ương phát huy cao độ tinh thần trách nhiệm, tập trung nghiên cứu, thảo luận kỹ lưỡng, cho ý kiến để hoàn thiện và xem xét, quyết định vào cuối kỳ họp./.

Nguồn: ĐCSVN


False
Phát huy tinh thần Đại thắng mùa Xuân năm 1975 Hoàng KỳPhát huy tinh thần Đại thắng mùa Xuân năm 1975 /SiteAssets/Bia-47nam.jpg

HOÀNG KỲ(*)

29/04/2022 7:00 SAYesĐã ban hành

(TUAG)- Cách đây 47 năm (ngày 30/4/1975), dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, bằng sức mạnh "thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng", quân và dân ta đã giành thắng lợi chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, lá cờ của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tung bay trên nóc Dinh Độc lập, kết thúc 21 năm trường kỳ kháng chiến chống đế quốc Mỹ, đưa nước ta bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên Độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Chienthang-304.jpg

Xe tăng của lực lượng giải phóng tiến vào Dinh Độc Lập ngày 30/4/1975

Cuối năm 1974, đầu năm 1975, trước tình hình cách mạng có nhiều chuyển biến tích cực, Đảng ta chủ trương giải phóng hoàn toàn miền Nam trong hai năm 1975 - 1976. Thực hiện lời hiệu triệu "đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào" của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 đã giành thắng lợi vang dội tại chiến trường Tây Nguyên và Huế - Đà Nẵng, tạo khí thế và thời cơ cách mạng cho chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Sau khi nổ súng mở màn chiến dịch vào ngày 26/4/1975, đến sáng ngày 30/4, quân ta đã tiến công và cắm lá cờ Mặt trận dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam trên nóc Dinh Độc lập. Vào lúc 11 giờ 30 phút, ngày 30/4/1975, Tổng thống ngụy quyền Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện.

Thực hiện chỉ đạo của Trung ương Cục miền Nam, hai tỉnh Long Châu Tiền và Long Châu Hà (tách từ An Giang theo tên gọi của chính quyền cách mạng) khẩn trương lên kế hoạch hành động với tinh thần "1 ngày bằng 20 năm", củng cố, phát triển lực lượng vũ trang từ tỉnh đến xã, ấp; tiêu diệt từng phân chi khu địch, mở rộng vùng kiểm soát, kết hợp quân chủ lực giải phóng toàn tỉnh.

Tại Ba Thê, lực lượng khởi nghĩa tại chỗ đã giành chính quyền trước khi bộ đội tỉnh về. Sáng 01/5/1975, lực lượng vũ trang tỉnh bao vây, gọi hàng Chi khu Núi Sập. Trưa cùng ngày, sau khi làm chủ hoàn toàn quận Huệ Đức, lực lượng vũ trang tỉnh tiến về thị xã Long Xuyên.

Chienthang-304a.jpg

Niềm vui của người dân trong Ngày Giải phóng 30/4/1975

Tại Long Xuyên, từ ngày 26/4/1975, lực lượng nội ô với 2 tiểu đội tự vệ mật đã bám các mục tiêu, chờ lực lượng phối hợp. Sau lời tuyên bố đầu hàng của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa, chiều 30/4/1975, Tỉnh trưởng An Giang đã rời nhiệm sở bỏ trốn. Tận dụng thời cơ, chiều ngày 01/5, một đại đội chủ lực của lực lượng vũ trang Quân khu 9 từ Cần Thơ công phá các tuyến phòng ngự của địch, kết hợp lực lượng vũ trang tỉnh, thị xã giải phóng hoàn toàn thị xã Long Xuyên vào lúc 18 giờ 30 phút cùng ngày.

Ở Châu Đốc, sáng ngày 01/5/1975, lực lượng cách mạng tại chỗ khởi nghĩa chiếm các công sở chính trong nội ô, kết hợp lực lượng vũ trang giành chính quyền thị xã vào trưa ngày 01/5, các huyện:  Châu Thành, Châu Phú, Tri Tôn… cũng lần lượt được giải phóng. Đến 15 giờ ngày 06/5/1975, huyện Chợ Mới - địa phương cuối cùng của tỉnh An Giang (hiện nay) được giải phóng hoàn toàn.

Đại thắng mùa Xuân năm 1975 của dân tộc ta đã để lại những giá trị lịch sử to lớn, đó là chân lý "Không có gì quý hơn độc lập, tự do", "độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội"; xây dựng và thực hiện đường lối đúng đắn, sáng tạo, độc lập, tự chủ; tăng cường, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi.

Sau đại thắng mùa Xuân 1975, Đảng bộ, quân và dân An Giang phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tinh thần quyết chiến, quyết thắng, thực hiện tốt nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại; góp phần xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.

Đất nước thống nhất không lâu, năm 1977, An Giang phải đối mặt với chiến tranh biên giới Tây Nam do bọn Pônpốt – IêngSaRy gây ra. Với tinh thần quyết tâm bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc, quân - dân An Giang đã tổ chức những trận đánh thép tiêu biểu tại biên giới Châu Đốc, An Phú, Tịnh Biên, góp phần bảo vệ vững chắc biên cương.

Tuy có xuất phát điểm thấp, nhưng bằng bản lĩnh, quyết tâm chính trị, An Giang đã phát huy tinh thần đoàn kết trong chiến đấu, lao động, sản xuất, phát triển trở thành tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, là trung tâm đầu mối về nông nghiệp với hai mặt hàng chủ lực là lúa gạo, cá tra, góp phần quan trọng đảm bảo an ninh lương thực và xuất khẩu của cả nước.

T1-hoang-ky.jpg

Trong tiến trình phát triển, An Giang có những chủ trương, giải pháp đột phá quan trọng, như: tăng cường khai hoang, mở rộng diện tích canh tác, chuyển đổi lúa một vụ sang lúa ngắn ngày; vận động nông dân đắp đập chống lũ sản xuất vụ hè thu; thực hiện "mua cao, bán cao" trong thu mua lúa gạo; giao ruộng đất ổn định, lâu dài cho nông dân, đồng thời cho phép chuyển nhượng, kế thừa hoa lợi và thành quả lao động,… Từ đó, sản lượng lương thực của tỉnh lần đầu tiên vượt ngưỡng 01 triệu tấn vào năm 1988; kim ngạch xuất khẩu năm 1989 đạt trên 60 triệu USD, gấp 9 lần năm 1985. Năm 1990, với việc tập trung vốn gần 70 tỷ đồng đầu tư, phát triển hạ tầng thủy lợi, đưa sản lượng lương thực vượt 1,5 triệu tấn, xuất khẩu 120.600 tấn, tăng 16 lần so năm 1985. Đến năm 2021, sản lượng lúa cả năm của tỉnh đạt 4,1 triệu tấn; tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 1,14 tỷ USD, trong đó nông sản và thủy sản chiếm trên 70%. Lĩnh vực kinh tế - xã hội cũng đạt nhiều thành tựu quan trọng. Tốc độ tăng trưởng GRDP giai đoạn 2015 - 2020 đạt 5,25% (Năm 2021, mặc dù chịu ảnh hưởng nặng nề của đại dịch Covid-19, An Giang là một trong số ít tỉnh trong cả nước có tốc độ tăng trưởng dương 2,15%); quy mô nền kinh tế tăng, cơ cấu chuyển dịch đúng hướng; các chỉ số cải cách hành chính, năng lực cạnh tranh cấp tỉnh tăng qua từng năm. Đời sống người dân không ngừng cải thiện. Quốc phòng, an ninh được giữ vững. Công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị được tăng cường; tổ chức bộ máy được nâng chất, tinh gọn, hoạt động ngày càng hiệu lực, hiệu quả…

Trong xu thế hội nhập, An Giang đứng trước nhiều thời cơ, thách thức với đường biên giới gần 100km giáp Vương quốc Campuchia, 2 cửa khẩu quốc tế (Vĩnh Xương, Tịnh Biên), 2 cửa khẩu quốc gia (Vĩnh Hội Đông, Khánh Bình), là cửa ngõ thông thương trục Đông Tây giữa Đồng bằng sông Cửu Long và các nước Đông Nam Á; là tỉnh giàu truyền thống lịch sử, văn hóa với 88 di tích được xếp hạng, trong đó có 02 di tích cấp quốc gia đặc biệt (Khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng và khu di tích khảo cổ Óc Eo), 28 di tích cấp quốc gia và 58 di tích cấp tỉnh; nơi khởi nguồn của Phật giáo Hòa Hảo, Bửu Sơn Kỳ Hương và Phật giáo Tứ Ân Hiếu Nghĩa… tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch, thương mại, dịch vụ và kinh tế biên mậu. Bên cạnh đó, tình hình dịch bệnh thứ tư diễn biến phức tạp, gây hậu quả hết sức to lớn. Kết cấu hạ tầng giao thông còn yếu kém, chưa đồng bộ, chi phí vận chuyển hàng hóa cao; vấn đề về an ninh biên giới, an ninh nguồn nước sông Mê Kông, diễn biến nhanh chóng của biến đổi khí hậu, sạt lở bờ sông… tiềm ẩn nhiều nguy cơ trong quá trình phát triển của tỉnh.

Bia-47nam.jpg

Nghị quyết số 13-NQ/TW, ngày 02/4/2022 của Bộ Chính trị về phương hướng phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã xác định phát triển An Giang trở thành trung tâm đầu mối về nông nghiệp gắn với vùng nguyên liệu về thủy sản nước ngọt, trái cây, lúa gạo ở Đồng bằng sông Cửu Long và cả nước. Nghị quyết xác định quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ cốt lõi, nhằm định hướng phát triển vùng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, đây là kim chỉ nam, là cơ sở rất quan trọng cho Đồng bằng sông Cửu Long, cũng như An Giang trong thực hiện các giải pháp lãnh đạo, điều hành trong quá trình phát triển.

Để triển khai thực hiện hiệu quả Nghị quyết 13-NQ/TW,  ngày 02/4/2022 của Bộ Chính trị, ngoài những chính sách Trung ương hỗ trợ đầu tư, An Giang tập trung thực hiện 03 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm:

Một là, tập trung hoàn thiện thể chế, chính sách phát triển và đẩy mạnh liên kết vùng Đồng bằng sông Cửu Long; có cơ chế, chính sách ưu đãi đặc thù nhưng không trái quy định pháp luật để phát triển mạnh Khu kinh tế cửa khẩu An Giang. Xây dựng mới và hiện đại hóa hệ thống thủy lợi đa mục tiêu, đa chức năng để phát triển nông nghiệp và thích ứng biến đổi khí hậu. Huy động mọi nguồn lực đầu tư, phát triển kết cấu hạ tầng các cụm ngành nông nghiệp, trung tâm logistic, chợ đầu mối, chợ truyền thống. Hoàn thiện hạ tầng giao thông, kết nối các vùng chuyên canh chủ lực với nhà máy chế biến, các tuyến giao thông đường bộ, cảng sông, cảng biển và thị trường tiêu thụ.

Hai là, tiếp tục cơ cấu lại ngành Nông nghiệp phát triển toàn diện, theo hướng hiện đại, góp phần phát triển nhanh và bền vững. Tập trung phát triển nông nghiệp sinh thái, hữu cơ, thân thiện môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu. Chuyển từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang tư duy kinh tế nông nghiệp; sản xuất sản phẩm giá trị cao, đa giá trị phù hợp yêu cầu thị trường. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo trục thủy sản - cây ăn quả - lúa gạo.

Ba là, phát triển các vùng nguyên liệu theo chuỗi giá trị quy mô lớn phù hợp từng vùng sinh thái; quan tâm khôi phục, phát triển các loại cây ăn quả đặc thù của địa phương để bảo tồn, quảng bá và phục vụ du lịch.

Phát huy tinh thần đại thắng mùa Xuân năm 1975, tiếp nối truyền thống vẻ vang của dân tộc, Đảng bộ, Chính quyền và Nhân dân tỉnh An Giang đoàn kết, sáng tạo, quyết tâm vượt qua khó khăn, thách thức, xây dựng quê hương Chủ tịch Tôn Đức Thắng ngày càng văn minh, hiện đại. 

____________

(*)TS. LÊ HỒNG QUANG

Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy An Giang

TrueChính trị
“Cả nước vì Đồng bằng sông Cửu Long; Đồng bằng sông Cửu Long vươn lên cùng cả nước và vì cả nước”Bài viếtNgọc Hân“Cả nước vì Đồng bằng sông Cửu Long; Đồng bằng sông Cửu Long vươn lên cùng cả nước và vì cả nước”/SiteAssets/HN-kinhte-dbscl-tw-5.jpg
22/04/2022 4:00 CHYesĐã ban hành

(TUAG)- Là tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/TW của Bộ Chính trị khoá XIII về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 vào sáng ngày 22/4.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu tại hội nghị

Kết luận Hội nghị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh và làm rõ thêm một số vấn đề trong triển khai Nghị quyết, tập trung vào trả lời 3 câu hỏi: (1) Vì sao vào lúc này Bộ Chính trị lại ra Nghị quyết về phương hướng phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045"; (2) Những ý tưởng mới, tinh thần mới, nội dung mới của Nghị quyết lần này là gì?; (3) Chúng ta cần làm gì và làm như thế nào để tổ chức thực hiện có kết quả những mục tiêu, nhiệm vụ mà Nghị quyết lần này của Bộ Chính trị đề ra, biến Nghị quyết thành hiện thực sinh động?

Vì sao vào lúc này Bộ Chính trị lại ra Nghị quyết về phương hướng phát triển kinh tế-xã hội vùng Đồng bằng sông Cửu Long?

Tổng Bí thư nêu rõ, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết lần này là để quán triệt sâu sắc hơn và tổ chức triển khai thực hiện tốt hơn chủ trương, đường lối của Đảng, nhất là Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng về phát triển vùng.

Vùng Đồng bằng sông Cửu Long thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, là một trong 6 vùng kinh tế - xã hội của cả nước; là vùng cực Nam của Tổ quốc - một địa bàn có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng. Vùng Đồng bằng sông Cửu Long có nhiều tiềm năng, lợi thế cho phát triển; là một trong những đồng bằng lớn nhất, phì nhiêu nhất ở Đông Nam Á và thế giới; là vùng sản xuất và xuất khẩu lương thực, thực phẩm, thuỷ hải sản và trái cây lớn nhất của cả nước.

Đặc biệt, đây là vùng đất giàu truyền thống lịch sử, văn hoá và cách mạng, hào hùng và rất vẻ vang; là địa bàn sinh sống, gắn bó đoàn kết lâu đời của cộng đồng các dân tộc Việt, Khơ Me, Hoa, Chăm,... với những nét văn hoá hết sức đặc thù và nền văn minh sông nước độc đáo,… Người dân nơi đây kết tinh nhiều đức tính quý báu: Chịu thương, chịu khó; tự chủ, tự lực, tự cường; năng động, sáng tạo; kiên cường, bất khuất, vượt qua những cảnh ngộ, bất trắc của cuộc sống; luôn coi trọng nghĩa tình; sống bình dị, chân thực, chân tình, cởi mở, phóng khoáng, mang nặng tình yêu thương con người, với cảnh quan, cỏ cây, sông nước, đúng như lời trong bài thơ "Chín dòng sông hò hẹn"…

Với những đặc điểm nêu trên, vùng Đồng bằng sông Cửu Long thực sự là địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của cả nước; là "Vùng cực Nam - Thành đồng của Tổ quốc", cửa ngõ phía Tây Nam của quốc gia, có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng cần được phát huy cao hơn, và tiềm năng, lợi thế to lớn cho phát triển cần được khai thác có hiệu quả hơn trên cơ sở xây dựng, ban hành và tổ chức triển khai thực hiện thật tốt Nghị quyết của Bộ Chính trị lần này về phát triển vùng, đáp ứng mục tiêu, yêu cầu phát triển của vùng và cả nước trong thời kỳ mới.

Tổng Bí thư nhấn mạnh, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết mới lần này là để tiếp tục phát huy những kết quả thành tựu to lớn đã đạt được, khắc phục những hạn chế, yếu kém còn tồn tại, và vượt qua những khó khăn, thách thức mới đang đặt ra.

HN-kinhte-dbscl-tw-1.jpg

Những ý tưởng mới, tinh thần mới, nội dung mới của Nghị quyết

Nêu rõ những điểm mới đáng chú ý trong Nghị quyết số 13-NQ/TW của Bộ Chính trị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho biết, nếu như Nghị quyết số 21-NQ/TW chỉ nêu rất ngắn gọn (15 dòng) về phương hướng chung thì Nghị quyết lần này đã đề ra 6 quan điểm chỉ đạo quan trọng và mới mẻ. Để tạo chuyển biến có tính đột phá trong việc phát huy tốt hơn nữa tiềm năng, lợi thế của vùng và khắc phục triệt để những hạn chế, yếu kém còn tồn tại trong thời gian qua, Nghị quyết lần này tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của vùng về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Yêu cầu phải phát triển nhanh và bền vững, phù hợp với vị trí, vai trò chiến lược của vùng; coi đây là nhiệm vụ xuyên suốt, trọng tâm, có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của các địa phương trong vùng và cả nước.

Phải đặt vấn đề phát triển vùng trong tổng thể phát triển chung của cả nước, bảo đảm phù hợp với Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, thống nhất với hệ thống quy hoạch quốc gia; phù hợp với chiến lược phát triển bền vững, chiến lược tăng trưởng xanh quốc gia, thích ứng với biến đổi khí hậu; lấy con người là trung tâm, tài nguyên nước là yếu tố cốt lõi; tôn trọng quy luật tự nhiên; phù hợp với điều kiện thực tế của vùng; chú trọng bảo vệ, tôn tạo và phát triển văn hoá - xã hội và bảo vệ tài nguyên, môi trường, hệ sinh thái tự nhiên. Tăng cường và đổi mới liên kết vùng, hoàn thiện thể chế, chính sách điều phối phát triển vùng hiệu quả, thúc đẩy liên kết giữa các địa phương trong vùng, giữa vùng với Thành phố Hồ Chí Minh và vùng Đông Nam bộ; mở rộng kết nối với các nước trong khu vực ASEAN, đặc biệt là các nước thuộc Tiểu vùng sông Mê Công...

Nhấn mạnh về mục tiêu, Tổng Bí thư nêu rõ, có thể xem đây là nội dung hoàn toàn mới. Nếu như Nghị quyết số 21-NQ/TW trước đây không đề cập thì Nghị quyết lần này đã xác định rất rõ mục tiêu tổng quát và một số chỉ tiêu cụ thể đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Lưu ý điểm mới về nhiệm vụ và giải pháp, Tổng Bí thư cho biết, Nghị quyết lần này đề ra đầy đủ, đồng bộ các giải pháp, đáp ứng yêu cầu của giai đoạn phát triển mới, bao gồm các nhóm nhiệm vụ, giải pháp về hoàn thiện thể chế, chính sách phát triển và đẩy mạnh liên kết vùng; về phát triển nhanh và bền vững kinh tế vùng; về phát triển văn hoá, xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân; về bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh; về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị…

Để thực hiện có kết quả Nghị quyết của Bộ Chính trị

Làm gì và làm như thế nào để thực hiện có kết quả Nghị quyết của Bộ Chính trị lần này về vùng Đồng bằng sông Cửu Long? Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề nghị cần phải nhận thức thật đầy đủ và sâu sắc mục đích, ý nghĩa, yêu cầu, nội dung của Nghị quyết, nắm vững những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, những công việc phải làm, trên cơ sở đó có sự thống nhất cao về ý chí, quyết tâm của cả nước, toàn vùng, từng địa phương trong vùng, các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương. "Xác định rõ đây là trách nhiệm của toàn hệ thống chính trị, chứ không chỉ là nhiệm vụ riêng của vùng và các địa phương trong vùng. Đồng thời, phải nhận thức thật đúng và giải quyết thật tốt mối quan hệ giữa phát triển vùng và phát triển chung của cả nước: Cả nước vì vùng và vùng vì cả nước".


Tổng Bí thư yêu cầu, phải khơi dậy và phát huy mạnh mẽ hơn nữa truyền thống cách mạng, tinh thần yêu nước; tính chủ động, sáng tạo; ý thức tự lực, tự cường và khát vọng vươn lên của cán bộ, đảng viên và Nhân dân các địa phương trong vùng; quyết vượt lên chính mình, khắc phục tư tưởng tự mãn, bằng lòng với những gì đã làm, trung bình chủ nghĩa; trái lại, phải có ý chí và quyết tâm cao hơn nữa, quyết không cam chịu đói nghèo, thua kém các tỉnh khác, vùng khác. Đồng thời tranh thủ sự hỗ trợ của Trung ương, sự hợp tác, giúp đỡ của các địa phương trong cả nước, nhất là Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh vùng Đông Nam bộ để phát triển kinh tế vùng nhanh và bền vững hơn, giàu có, trù phú hơn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vùng đạt mức cao hơn bình quân chung của cả nước trên cơ sở từng bước đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng để phát huy tốt hơn nữa tiềm năng, lợi thế to lớn vốn có của vùng đất trù phú bậc nhất ở nước ta và trên thế giới.

Tổng Bí thư cũng đề nghị Chính phủ và các cơ quan ở Trung ương cần tăng cường phối hợp với các địa phương trong vùng khẩn trương xây dựng, hoàn thiện, ban hành và triển khai thực hiện luật pháp, chính sách ưu tiên, có tính đặc thù cho phát triển vùng. Xây dựng và tổ chức thực hiện thật tốt quy hoạch phát triển vùng giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo hướng xanh, bền vững và toàn diện; phù hợp với quy hoạch tổng thể quốc gia, bảo đảm tích hợp, đa ngành; gắn kết giữa phát triển nông nghiệp với phát triển công nghiệp và dịch vụ; giữa phát triển đô thị với xây dựng nông thôn mới; giữa phát triển kinh tế với quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường; ứng phó với thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, xâm nhập mặn; hình thành được các chuỗi giá trị ngành, sản phẩm của vùng…

Tăng cường, nâng cao hơn nữa chất lượng công tác xây dựng bộ máy tổ chức và cán bộ; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các cấp uỷ, tổ chức đảng; hiệu lực, hiệu quả quản lý của các cấp chính quyền; tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ…

Tổng Bí thư mong đợi và tin tưởng rằng: Cấp uỷ, chính quyền và Nhân dân các tỉnh trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long nhất định sẽ phát huy truyền thống cách mạng vẻ vang của phong trào "đồng khởi", khí phách anh hùng "thành đồng" Tổ quốc và phẩm chất cao quý, rất tốt đẹp của người miền Tây… nỗ lực phấn đấu mạnh mẽ hơn nữa, thực hiện thắng lợi Nghị quyết của Bộ Chính trị lần này, tạo ra bước chuyển biến mới có tính đột phá trong phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh trên vùng Đồng bằng sông Cửu Long - vùng đất 9 rồng theo tinh thần: Cả nước vì đồng bằng sông Cửu Long; đồng bằng sông Cửu Long vươn lên cùng cả nước và vì cả nước./.

NGỌC HÂN (tổng hợp)

TrueĐưa Nghị quyết vào cuộc sống
THÀ ÍT MÀ TỐT!Bài viếtHữu ThịnhTHÀ ÍT MÀ TỐT!/SiteAssets/Ngaysinhvilenin-152a.jpg

​TS. NGUYỄN HỮU THỊNH


Kỷ niệm 152 năm Ngày sinh V.I.Lênin (22/4/1870 - 22/4/2022)

18/04/2022 6:00 SAYesĐã ban hành

(TUAG)- Trong di sản đồ sộ mà V.I.Lênin để lại, có rất nhiều tác phẩm, bài viết thể hiện tính cách mạng, sáng tạo của ông trong việc phát triển chủ nghĩa Mác trên cả phương diện lý luận và thực tiễn. Tác phẩm "Thà ít mà tốt" ra đời là kết quả của những trăn trở sâu sắc, sự thôi thúc nội tâm của V.I.Lênin trước vấn đề cải tiến hệ thống chính trị nước Nga xô - viết, mà trung tâm của nó là cải tiến bộ máy nhà nước để đáp ứng yêu cầu thực tiễn trong nước cũng như quốc tế đang cấp bách đặt ra. Tư tưởng của V.I.Lênin có ý nghĩa to lớn trong xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước Việt Nam hiện nay.

 Ngaysinhvilenin-152a.jpg

V.I.Lênin sinh ngày 22/4/1870 ở Simbirsk (nay là Ulianovsk), là một lãnh tụ của phong trào cách mạng vô sản Nga, là người phát triển học thuyết của Các Mác và Phriđơrich Ăngghen. Ông là người sáng lập ra Quốc tế Cộng sản; đồng thời lãnh đạo nhân dân Nga tiến hành Cách mạng tháng Mười Nga, thành lập ra Nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới do Đảng của giai cấp vô sản lãnh đạo (7/11/1917). V.I.Lênin qua đời ngày 21/4/1924 ở làng Gorki, gần thủ đô Mátxcơva.  

Trước khi qua đời, V.I.Lênin đã để lại những bản di huấn bất hủ, được ví như những bản Di chúc. Một trong những  tác phẩm nổi tiếng đó là "Thà ít mà tốt". Tác phẩm ra đời khi V.I.Lênin đang lâm bệnh nặng. Trên giường bệnh mỗi ngày Người đọc cho thư ký chép 5 - 10 phút. Tác phẩm hoàn thành vào ngày 02/3/1923, công bố trên báo Sự thật số 49 ngày 04/3/1923. 

Trong tác phẩm được xem là Di chúc chính trị cuối cùng này, V.I.Lênin đã trình bày một cách rõ ràng về vấn đề cải tiến hệ thống chính trị ở Nga mà trung tâm của nó là bộ máy nhà nước xô - viết đầu tiên trên thế giới. Trên cương vị Chủ tịch nhà nước, V.I.Lênin đã đánh giá cao bản chất tốt đẹp của nhà nước chuyên chính vô sản Nga, nhưng Người cũng thẳng thắn chỉ ra những nhược điểm của nó. Đó là bộ máy quan liêu, cồng kềnh, đông người, lề mề, giấy tờ. Nhân viên của bộ máy nhà nước, của Đảng mắc bệnh quan liêu đang vận hành sử dụng một cách kém hiệu quả quyền lực công cộng. Người nói: "Xin nói thêm ở ta bọn quan liêu ấy đang tồn tại không những trong những chính quyền xô-viết mà cả trong những cơ quan đảng nữa"[1]. Đó là bộ máy mà nạn hối lộ đang tồn tại phổ biến trên cơ sở trình độ văn hóa còn rất hạn chế. Đó là bộ máy còn rất hạn chế về năng lực, trình độ lại mắc bệnh kiêu ngạo. V.I.Lênin cho rằng tình hình đó rất đáng buồn, nếu không muốn nói là rất tồi tệ. Chính vì vậy, V.I.Lênin yêu cầu:"Phải kịp thời tỉnh ngộ. Phải thấm sâu thái độ bất tín nhiệm bổ ích đối với lối khinh suất muốn lao bừa lên, đối với mọi lối huênh hoang,v.v.. Phải nghĩ đến chuyện kiểm tra lại những chủ trương mà chúng ta tuyên bố hàng giờ, quyết định hàng phút, rồi từng giây chứng minh tính chất không vững chắc, không kiên định và khó hiểu của những chủ trương đó. Điều tai hại nhất ở đây là hấp tấp. Điều tai hại nhất là tưởng rằng chúng ta biết được một tý như thế là đủ rồi, hoặc tưởng rằng chúng ta đã có được một số nhân tố khá lớn để xây dựng được một bộ máy thật sự mới và thật sự xứng đáng với danh hiệu là bộ máy xã hội chủ nghĩa, bộ máy xô-viết…"[2]. Bộ máy đó mang danh là bộ máy nhà nước xô-viết, bộ máy xã hội chủ nghĩa với bản chất ưu việt nhưng trong thực tế bộ máy nhà nước Nga chưa đạt được những tiêu chí mang tính nguyên lý của một bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa đúng nghĩa của nó. "Bộ máy ấy, có thể nói là chúng ta chưa có, và ngay cả những yếu tố cho phép xây dựng được bộ máy ấy chúng ta cũng có ít ỏi đến nực cười"[3].

Mục tiêu cải tiến của bộ máy nhà nước Nga thời bấy giờ, theo V.I.Lênin là khắc phục những yếu kém, hạn chế của bộ máy nhà nước, xây dựng một bộ máy đủ năng lực và trình độ để lãnh đạo, quản lý, điều hành xây dựng đất nước, đưa nước Nga thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, trở thành một nước xã hội chủ nghĩa thực sự đúng nghĩa của nó tức là ưu việt hơn các nước tư bản phát triển nhất của Tây Âu. Song, V.I.Lênin cũng khẳng định rằng, "muốn xây dựng được bộ máy ấy, chúng ta không được ngại tốn thời gian, rằng việc đó đòi hỏi nhiều, nhiều, rất nhiều năm tháng"[4].

Để việc cải tiến bộ máy nhà nước đạt được mục tiêu đề ra, V.I.Lênin đề ra các nguyên tắc cơ bản sau đây:

Cải tiến không làm thay đổi bản chất tốt đẹp của nhà nước. Theo V.I.Lênin, việc cải tiến bộ máy nhà nước không được làm thay đổi bản chất tốt đẹp của nó; phải củng cố và bảo toàn chính quyền công nhân và duy trì sự lãnh đạo của giai cấp công nhân và lòng tin của giai cấp nông nhân đối với chính quyền xô-viêt. Bởi vì nếu chính quyền bị lung lay hay sụp đổ thì giai cấp công nhân không còn công cụ quyền lực để thực hiện lý tưởng, mục tiêu đã đề ra. Người nói: "Chúng ta cần tỏ ra hết sức thận trọng để bảo toàn chính quyền công nhân của ta, để duy trì tầng lớp tiểu nông và tiểu tiểu nông của ta dưới quyền lực và sự lãnh đạo của chính quyền đó"[5].

Phát huy tối đa nội lực. V.I.Lênin thực sự đề cao việc phát huy nội lực, Người nói: "Tất cả cái gì thật sự là ưu tú trong chế độ xã hội của chúng ta phải được đem sử dụng một cách hết sức thận trọng, có suy nghĩ và với một sự am hiểu cặn kẽ"[6].

Cải tiến có trọng tâm trọng điểm. Theo V.I.Lênin, việc cải tiến một cách sâu sắc toàn diện và triệt để bộ máy nhà nước Nga là một điều cấp thiết. Nhưng không thể cùng một lúc cải tiến một cách tràn lan, dàn trải ở tất cả các cơ quan, bộ phận của bộ máy nhà nước mà phải cải tiến một cách có trọng tâm trọng điểm. Phải chọn khâu đột phá để qua đó tác động đến toàn thể bộ máy nhà nước. Đó chính là Bộ dân uỷ Thanh tra công nông. Cơ quan này được V.I.Lênin ví như  "trung tâm của hệ thần kinh" mà nếu tác động đến nó sẽ làm rung chuyển toàn bộ bộ máy nhà nước. "Chúng ta phải làm cho Bộ dân uỷ thanh tra công nông là công cụ để cải tiến bộ máy của ta thành một cơ quan thật sự gương mẫu"[7], Người nói tiếp: "nghĩa là đủ khả năng cải tiến hành cải tiến bộ máy nhà nước của ta một cách có hệ thống, không mắc sai lầm, được tín nhiệm của giai cấp công nhân, của Đảng cộng sản Nga và toàn thể nhân dân nước Cộng hòa của chúng ta"[8].

Thà ít mà tốt. V.I.Lênin cho rằng: "Phải tuân theo nguyên tắc này: Thà ít mà tốt"[9]. Theo V.I.Lênin trong quá trình cải tiến bộ máy nhà nước không được chạy theo số lượng "Cần phải tỏ ra đặc biệt keo cú về mặt số lượng"[10] mà phải đặc biệt chú trọng chất lượng. Đối với cán bộ phải chọn được những người thật sự tài năng, được người nào chắc người ấy, thà ít mà tốt. Chọn người đủ năng lực trình độ đảm đương công việc một cách tốt nhất thông qua kiểm tra hết sức nghiêm ngặt. "Theo ý tôi, phải vĩnh viễn vứt bỏ ngay tất cả những tiêu chuẩn chung về số lượng nhân viên của các cơ quan thuộc bộ ấy. Chúng ta phải lựa chọn đặc biệt cẩn thận những cán bộ của Bộ dân uỷ thanh tra công nông, căn cứ vào một sự kiểm tra nghiêm ngặt nhất, chứ không khác được"[11]. Đối với các cơ quan tổ chức cũng vậy, phải kiểm tra cẩn thận xem những cơ quan, bộ phận nào mà thực sự không cần thiết hoặc trùng lặp về chức năng nhiệm vụ thì tinh giản và sát nhập cho khoa học hợp lý. V.I.Lênin còn cho rằng việc kết hợp cơ quan đảng với cơ quan chính quyền xô - viết là vô cùng có ích.

Tiến hành một cách kiên trì, triệt để, hiệu quả, thận trọng nhưng tránh lề mề. Theo V.I.Lênin, nếu không kiên trì thực hiện, không kiên định mục tiêu thì đừng nên bắt tay vào. Người nói "Nếu không kiên nhẫn, nếu không giành cho công tác ấy nhiều năm tháng thì tốt hơn đừng bắt tay vào việc"[12]. Trên cơ sở kiên trì để tiến hành một cách vững chắc, có hiệu quả, dù đó là hiệu qủa còn khiêm tốn. Người nói: "thà mất hai năm thậm chí ba năm còn hơn hấp tấp vội vàng mà không chút hy vọng nào đào tạo được một nhân liệu tốt"[13]. Cải tiến là phải thực hiện cho bằng được mục tiêu đề ra, tuyệt đối không được hành động nửa vời. "Ở đây những biện pháp nửa chừng sẽ hết sức tai hại"[14]. 

Trong tác phẩm "Thà ít mà tốt", V.I.Lênin còn chỉ ra một số định hướng lớn để xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước, như:

Tăng cường kiểm tra. Người xác định phải đi từ khâu kiểm tra để tác động đến toàn bộ bộ máy nhà nước. Đây là điểm xuất phát, là khâu đột phá, là cải tiến có trọng tâm trọng điểm. Để kiểm tra đạt hiệu quả phải có bộ máy để kiểm tra tốt. Do đó phải cải tiến bộ máy kiểm tra đó chính là cải tiến Bộ dân uỷ thanh tra công nông "Bộ dân uỷ thanh tra công nông chính là phải chú ý đến toàn thể bộ máy nhà nước của ta và phải hướng sự hoạt động của mình vào tất cả các cơ quan nhà nước không trừ một cơ quan nào cả, dù là ở địa phương hay ở trung ương, thuộc ngành thương nghiệp hay thuần tuý hành chính, giáo dục, lưu trữ, hay sân khấu, v.v., nói tóm lại, tất cả các cơ quan, không trừ một cơ quan nào"[15].  V.I.Lênin chỉ rõ, muốn bộ máy kiểm tra hoạt động tốt thì phải có cán bộ kiểm tra có đủ năng lực trình độ và bản lĩnh. Cán bộ kiểm tra không được chạy ngoài rìa công việc mà phải thực sự nắm bắt được các đối tượng cần kiểm tra.

Tinh giảm biên chế, tiết kiệm nghiêm ngặt. Về mặt tổ chức không những phải giảm bớt số nhân viên trong biên chế mà còn phải giảm bớt các cơ quan, tổ chức trong bộ máy nhà nước mà thực sự không cần thiết hoặc trùng lặp chức năng nhiệm vụ gây lãng phí. Đó cũng là điều kiện cần để cho chính quyền xô-viết tồn tại. V.I.Lênin khẳng định: "chỉ có làm cho bộ máy cuả chúng ta trong sạch đến tột mức, chỉ có giảm bớt đến mức tối đa tất cả những cái không tuyệt đối cần thiết, chúng ta mới có thể đứng vững được"[16].

Đào tạo cán bộ, lãnh đạo quản lý trên cơ sở tri thức khoa học. V.I.Lênin chỉ ra hai yếu tố để tiến hành xây dựng bộ máy. Một là: những công nhân hăng hái đấu tranh cho chủ nghĩa xã hội. Họ chưa có đầy đủ học thức. Nhưng họ rất muốn đem lại cho chúng ta một bộ máy tốt hơn. Nhưng họ không biết làm như thế nào. Hai là: những yếu tố kiến thức, học thức, giáo dục,v.v.. chính vì vậy, học tập là yêu cầu bắt buộc trong xây dựng bộ máy nhà nước. V.I.Lênin nói: "Muốn đổi mới bộ máy nhà nước của chúng ta phải cố hết sức tự đặt cho mình nhiệm vụ sau đây: Một là học tập, hai là học tập, ba là học tập mãi, và sau nữa phải làm sao cho học thức ở nước ta không nằm trên giấy hoặc là một lời nói theo mốt nữa (điều này phải thú thực là thường hay xảy ra ở nước ta), phải làm sao cho học thức thật sự ăn sâu vào trí não, hoàn toàn thực tế trở thành một bộ phận khắng khít của cuộc sống của chúng ta"[17].

Trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước cần kết hợp giữa tổ chức bộ máy cơ quan nhà nước với cơ quan đảng. Sở dĩ V.I.Lênin đặt vấn đề như vậy là vì thực tế đã chứng minh: Bộ dân uỷ ngoại giao ngay từ ngày đầu thành lập đã làm như vậy và hoạt động rất hiệu quả. Chính vì vậy, V.I.Lênin đặt câu hỏi: "Làm thế nào để kết hợp được một cơ quan đảng và một cơ quan chính quyền xô-viết?". Và Người tự trả lời: "Thật vậy, tại sao lại không kết hợp hai loại cơ quan đó lại khi lợi ích của công việc đòi hỏi phải làm như thế?...Phải chăng sự kết hợp linh hoạt của nhân tố chính quyền với nhân tố đảng lại không phải là nguồn gốc sức mạnh phi thường trong chính sách của chúng ta? Tôi tin rằng điều gì đã được chứng thực là đúng, đã đứng vững chắc trong chính sách ngoại giao của ta và đã ăn sâu vào phong tục tập quán đến mức không còn gây ra một chút hoài nghi nào về phương diện ấy nữa, thì ít ra cũng sẽ thích hợp như thế (và tôi nghĩ sẽ thích hợp nhiều hơn) với toàn thể bộ máy nhà nước của chúng ta"[18].

Từ bài học về sự kết hợp giữa Bộ dân uỷ ngoại giao với cơ quan đối ngoại của đảng, V.I.Lênin đã liên hệ tới sự kết hợp giữa cơ quan kiểm tra của nhà nước (Bộ dân uỷ thanh tra công nông) với cơ quan kiểm tra của đảng (Ban kiểm tra trung ương). V.I.Lênin đặt vấn đề: "Tại sao, đối với cơ quan ấy lại không thừa nhận là có thể hợp nhất một cách độc đáo bộ máy kiểm tra của đảng với bộ máy kiểm tra của chính quyền?"[19]. Và người giải quyết vấn đề: "Về phần tôi, tôi thấy là làm như vậy không có một trở ngại nào cả. Hơn nữa, tôi tin rằng sự hợp nhất ấy là điều kiện đảm bảo duy nhất cho một hoạt động có hiệu quả. Tôi nghĩ rằng tất cả mọi hoài nghi đối với điều đó đều phát ra từ những xó xỉnh bụi bặm nhất của bộ máy nhà nước của chúng ta, và những hoài nghi ấy chỉ đáng có một điều là: đem ra mà chế giễu"[20].

Gần một thế kỷ đã trôi qua nhưng những tư tưởng được V.I.Lênin đề cập trong tác phẩm vẫn vẹn nguyên giá trị cả về lý luận và thực tiễn. Thà ít mà tốt là một cống hiến lý luận quan trọng của V.I.Lênin về xây dựng Nhà nước. Tác phẩm góp phần trang bị cho những người cộng sản tri thức, lý luận về xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước nhằm bảo tồn chế độ và phát triển kinh tế - xã hội. Nó có ý nghĩa không chỉ trong phạm vi nước Nga, mà còn có tác dụng to lớn đối với các đảng cộng sản trên toàn thế giới khi nó cung cấp những tri thức và kinh nghiệm trong việc giành, giữ và củng cố chính quyền công nông để thực hiện đến thắng lợi cuối cùng công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Chính vì vậy, tác phẩm cũng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với phong trào cộng sản quốc tế.

Tác phẩm cung cấp phương pháp luận khoa học để cải tiến một bộ phận, một cơ quan tổ chức hay là cả bộ máy nhà nước. Theo đó, muốn cải tiến thì trước hết phải đánh giá thực trạng một cách khách quan về đối tượng cần cải tiến, nêu rõ nguyên nhân của hạn chế yếu kém. Đề ra mục tiêu và những nguyên tắc cải tiến một cách đúng đắn và phù  hợp. Trên cơ sở đó đề ra những giải pháp, biện pháp cải tiến phù hợp, đồng bộ và có hiệu quả cộng hưởng.

Tác phẩm còn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong vấn đề hợp tác quốc tế. Đó là tinh thần học tập và hợp tác. Trong quá trình cải tiến bộ máy nhà nước phải học tập, hợp tác một cách cầu thị. Cần mở rộng hợp tác giữa các cơ quan nhà nước, và cơ quan đảng. Đồng thời học hỏi kinh nghiệm quý báu về sự lãnh đạo của đảng, về quản lý nhà nước, về đào tạo cán bộ, về tổ chức bộ máy…. của các đảng, nhà nước khác, kể cả là nhà nước của giai cấp tư sản.

Hiện  nay, nước ta đang đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện đất nước và hội nhập quốc tế, đổi mới và sắp xếp lại tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, quyết tâm ngăn chặn và đẩy lùi quan liêu, tham nhũng, sự suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống, tự diễn biến, tự chuyển hóa trong một bộ phận cán bộ, đảng viên,v.v.. Do đó, tư tưởng "Thà ít mà tốt" của V.I.Lênin có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và vẫn luôn mang tính thời sự. Nghiên cứu và vận dụng tốt những tư tưởng của V.I. Lênin sẽ giúp chúng ta vừa có lý luận soi đường, vừa có kinh nghiệm thực tiễn và có thêm niềm tin để thực hiện thành công đường lối đổi mới mà Đảng và nhà nước ta đang tiến hành, đặc biệt là trong việc đổi mới hệ thống chính trị và đấu tranh phòng chống quan liêu, tham nhũng hiện nay.

N.H.T

____________

[1] V.I.Lênin, Toàn  tập, Nxb TB, M., T.45, tr. 451.

[2] Sđd, tr.443.

[3] Sđd, tr.443.

[4] Sđd, tr. 444.

[5] Sđd, tr.457.

[6] Sđd, tr.445.

[7] Sđd, tr.445.

[8] Sđd, tr.448.

[9] Sđd, tr. 445.

[10] Sđd, tr.446.

[11] Sđd, tr.446 .

[12] Sđd, tr. 447.

[13] Sđd, tr. 445.

[14] Sđd, tr.448.

[15] Sđd, tr. 452 - 453.

[16] Sđd, tr.459.

[17] Sđd, tr.444.

[18]  Sđd, tr.452.

[19] Sđd, tr.453.

[20] Sđd, tr.453.

True
Tư duy độc lập, sáng tạo  của cố Tổng Bí thư Lê DuẩnBài viếtHòa BìnhTư duy độc lập, sáng tạo  của cố Tổng Bí thư Lê Duẩn/SiteAssets/TBT-Le-Duan-115.jpg
07/04/2022 4:00 CHYesĐã ban hành

(TUAG)- ​Đồng chí Lê Duẩn tên thật là Lê Văn Nhuận, sinh ngày 07/4/1907, tại làng Bích La Đông, xã Triệu Đông, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, trong một gia đình giàu truyền thống yêu nước. Là người sớm giác ngộ tinh thần cách mạng, đồng chí Lê Duẩn gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Năm 1930, đồng chí trở thành một trong những đảng viên lớp đầu của Đảng Cộng sản Việt Nam do đồng chí Nguyễn Ái Quốc sáng lập. Cuộc đời hoạt động cách mạng gần 60 năm của đồng chí gắn liền với quá trình cách mạng Việt Nam từ những năm 20 đến những năm 80 của thế kỷ XX. Đồng chí đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, đưa nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội.

TBT-Le-Duan-115.jpg

Một trong những đặc điểm nổi bật ở đồng chí Lê Duẩn là tư duy độc lập, sáng tạo, đặc biệt là trong những tình huống phức tạp, trước những bước ngoặt của lịch sử.

Năm 1939, khi được giao trọng trách Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng, đồng chí Lê Duẩn đã cùng với đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Tổng Bí thư của Đảng, chủ trì Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tháng 11/1939). Hội nghị đã mở ra thời kỳ mới cho cách mạng Việt Nam: Từ đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ sang đấu tranh trực tiếp đánh đổ chính quyền của đế quốc và tay sai, từ hoạt động hợp pháp nửa hợp pháp sang hoạt động bí mật và bất hợp pháp “bước tới bạo động làm cách mạng giải phóng dân tộc".

Trong thời kỳ chống thực dân Pháp xâm lược, trên cương vị Phó bí thư, rồi Bí thư Xứ ủy Nam Bộ và từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (1951) là Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Cục miền Nam, đồng chí đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh giao phó, đó là: Trực tiếp lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở Nam Bộ. Đồng chí Lê Duẩn đã vận dụng sáng tạo đường lối, phương châm kháng chiến do Trung ương Đảng đề ra, cùng với Xứ ủy Nam Bộ, Trung ương Cục miền Nam giải quyết một loạt vấn đề quan trọng: Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, thống nhất các lực lượng vũ trang, chia ruộng đất cho nông dân nghèo, củng cố liên minh công nông, phát huy sức mạnh to lớn của Mặt trận thống nhất, động viên mọi tầng lớp nhân dân đứng lên chống giặc cứu nước, từ đây, quân và dân Nam Bộ đã anh dũng kháng chiến, làm thất bại hoàn toàn âm mưu của địch đánh chiếm Nam Bộ, tách Nam Bộ khỏi Việt Nam.

Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trên cương vị Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng ở vào thời điểm lịch sử đầy cam go và nặng nề, cùng một lúc phải thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, đương đầu với một đế quốc có tiềm lực quân sự với bộ máy chiến tranh khổng lồ, đồng chí Lê Duẩn là người chịu trách nhiệm chủ yếu trước Đảng về phong trào cách mạng ở miền Nam. Đồng chí đã cùng với tập thể Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương Đảng hoạch định, phát triển và từng bước hoàn chỉnh đường lối chiến lược, phương pháp cách mạng và phương thức tiến hành chiến tranh cách mạng. Bằng kinh nghiệm thực tiễn nhiều năm bám sát cuộc đấu tranh của đồng bào miền Nam, đồng chí Lê Duẩn đã khởi thảo bản văn kiện nổi tiếng “Đề cương cách mạng miền Nam”. Trong Đề cương, đồng chí Lê Duẩn phân tích chính xác âm mưu, thủ đoạn và khả năng của Mỹ - Ngụy; thái độ của các giai cấp, tầng lớp nhân dân; phân tích tình hình chính trị, kinh tế, xã hội miền Nam... Trên cơ sở đó, đồng chí xác định đối tượng của cách mạng miền Nam là đế quốc và phong kiến, kẻ thù cụ thể và trước mắt của cách mạng miền Nam là đế quốc Mỹ xâm lược, địa chủ phong kiến, tư sản mại bản phản động, tay sai của đế quốc Mỹ. Lần đầu tiên, đồng chí gọi đúng bản chất của chính quyền Ngô Đình Diệm là “con đẻ của chủ nghĩa thực dân mới”. Việc xác định đúng tính chất xã hội miền Nam, xác định đúng kẻ thù của cách mạng ở thời điểm đó có ý nghĩa hết sức quan trọng, thể hiện tư duy sắc sảo và nhãn quan chính trị sáng suốt của đồng chí Lê Duẩn. Từ bản đề cương này, hàng loạt phong trào đấu tranh chống Mỹ ở miền Nam nổ ra, dọn đường cho Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam tấn công và giải phóng hoàn toàn miền Nam vào năm 1975 kết thúc cuộc kháng chiến vĩ đại.

Đánh giá về cống hiến và tư duy sáng tạo của đồng chí Lê Duẩn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười đã viết: “Suốt hai mươi năm chống Mỹ, có thể nói, trong mỗi quyết sách chiến lược đối nội cũng như đối ngoại, trong mỗi thắng lợi của tiền tuyến cũng như ở hậu phương, trên chiến trường cũng như trên bàn đàm phán, trong giai đoạn mở đầu cũng như trong giai đoạn kết thúc chiến tranh, ở đâu cũng có dấu ấn tư duy độc lập, trí tuệ sáng tạo và nghị lực phi thường của anh Ba”.

Đất nước thống nhất, cả nước đi lên Chủ nghĩa xã hội, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV (1976), lần thứ V (1982) của Đảng và nhiều Hội nghị Trung ương, đồng chí Lê Duẩn đã cùng với Ban Chấp hành Trung ương từng bước xây dựng một hệ thống quan điểm về chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và đã lãnh đạo thực hiện đạt được những thành tựu quan trọng, đó là: Việc xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật ban đầu của chủ nghĩa xã hội; sự đảm bảo vững chắc về chính trị và an ninh quốc phòng; những thành tựu về văn hóa, đạo đức, cùng quan hệ tốt đẹp giữa người với người. Sự sáng suốt của đồng chí nổi bật ở chỗ, trước những bước ngoặt của lịch sử và những tình huống phức tạp của cách mạng, đồng chí đã cũng Bộ Tham mưu của Đảng tìm câu trả lời và vạch hướng đi đúng, đưa sự nghiệp cách mạng của Nhân dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Trong bài thơ "Nhớ về anh", nhà thơ Tố Hữu khái quát hóa trong mấy câu rất cô đọng về tư duy độc lập, sáng tạo ở đồng chí Lê Duẩn:

“Vẫn là anh...

Chân tình, bình dị,

Vượt khuôn sáo ngôn từ,

Vắt óc trầm tư,

Xóa lối mòn, đào sâu chân lý”.

Cho đến cuối đời, đồng chí Lê Duẩn vẫn không ngừng tìm tòi con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa phù hợp với điều kiện xã hội Việt Nam. Có thể có những vấn đề do yếu tố khách quan và do hạn chế bởi điều kiện lịch sử cụ thể mà đồng chí chưa có kết luận đầy đủ, thỏa đáng, nhưng cách tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo từ cuộc đời hoạt động cách mạng nhiệt tình và sôi nổi, một lòng một dạ trung thành với lý tưởng, trung thành với Đảng, với dân tộc của anh Ba - tên gọi thân thương mà đồng bào, đồng chí dành cho cố Tổng Bí thư Lê Duẩn - là tấm gương quý báu để chúng ta noi theo.

HÒA BÌNH

TrueChính trị
“Lệ Bác Hồ rơi trên chữ Lênin”Bài viếtNgọc Hân“Lệ Bác Hồ rơi trên chữ Lênin”/SiteAssets/Ngaysinh-Lenin1.jpg06/04/2022 3:00 CHNoĐã ban hành

(TUAG)- Hình tượng thơ vô cùng đẹp! trong Bài thơ "Người đi tìm hình của nước" của Nhà thơ Chế Lan Viên đã khắc họa giây phút người thanh niên yêu nước Nguyễn Ái Quốc hạnh phúc khi tiếp cận Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin - bước ngoặt của cách mạng Việt Nam.

Ngược dòng lịch sử

Ngày 5/6/1911, Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước với tuổi đời còn rất trẻ và từ một xã hội thuộc địa, nửa phong kiến. Lúc đó Nguyễn Tất Thành chưa có một khái niệm rõ ràng về giai cấp, đấu tranh giai cấp, đảng chính trị, Chủ nghĩa Mác - Lênin… Hành trang Người mang trong mình là truyền thống yêu nước, cốt cách văn hóa, truyền thống và kinh nghiệm dựng nước, giữ nước của dân tộc Việt Nam. "Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba… Tôi kính yêu Lênin vì Lênin là một người yêu nước vĩ đại đã giải phóng đồng bào mình".[1]

Ngaysinh-Lenin-BacHo.jpg

Từ ngày 25 đến ngày 30/12/1920, chàng thanh niên yêu nước Nguyễn Ái Quốc tham dự Đại hội lần thứ 18 Đảng Xã hội Pháp ở thành phố Tours với tư cách đại biểu Đông Dương. Nguyễn Ái Quốc trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và cũng là người cộng sản đầu tiên của dân tộc Việt Nam

Khi ra nước ngoài, đến nước Pháp, nước Mỹ, nước Anh và nhiều nước khác nữa, Người sống và lao động cùng những người công nhân, những người lao động nghèo và tìm thấy ở đó những điểm tương đồng với hoàn cảnh của người dân Việt Nam. Người trở lại Pháp tham gia các hoạt động chính trị. Đầu năm 1919, Người gia nhập Đảng Xã hội Pháp, vì theo Người, đây là tổ chức duy nhất theo đuổi lý tưởng cao quý: "Tự do - Bình đẳng - Bác ái".

Sau khi Chiến tranh thế giới lần thứ nhất kết thúc, ngày 18/6/1919, đại biểu các nước đế quốc tham chiến họp Hội nghị ở Vécxây (Pháp). Thay mặt Hội những người Việt Nam yêu nước tại Pháp, Nguyễn Tất Thành cùng Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường thảo ra bản "Yêu sách của nhân dân An Nam" gửi tới Hội nghị Vécxây (ký tên Nguyễn Ái Quốc).

Đồng thời, Người tích cực hoạt động trong phong trào công nhân, nhân dân lao động nghèo khổ khắp đường phố Pari, đặc biệt là các hoạt động kêu gọi nhân dân Pháp ủng hộ cuộc cách mạng của nước Nga Xô Viết chống lại cuộc bao vây của các nước đế quốc như: Rải truyền đơn, tuyên truyền vận động nhân dân Pháp quyên góp tiền ủng hộ nước Nga Xô Viết… Ngày 11/2/1920, Nguyễn Ái Quốc thuyết trình đề tài "Chủ nghĩa cộng sản ở Châu Á và vấn đề ruộng công điền ở Trung Quốc và Việt Nam" tại Hội nghị những người thanh niên Cộng sản Quận 2 (Pari). Đến ngày 27/3/1920, Người nói chuyện với thanh niên ở quận này về chủ nghĩa xã hội…

Những hoạt động của Nguyễn Ái Quốc chứng tỏ nhận thức chính trị của Người đã có bước phát triển mạnh mẽ, hướng gần đến Cách mạng Tháng Mười Nga và chủ nghĩa Mác - Lênin. Người liên tục theo dõi các sự kiện chính trị xã hội trên các báo ra hàng ngày.

Ngày 16 và 17/7/1920, Nguyễn Ái Quốc đã được những người bạn Pháp trao cho tờ báo Nhân đạo (L'Humanité) - Cơ quan ngôn luận của Đảng Xã hội Pháp, số ra ngày 16 và 17/7/1920 đăng Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin (thường được gọi tắt là Luận cương của Lênin). Người đã thốt lên: "Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!".[2]

Cẩm nang thần kỳ của cách mạng Việt Nam

Con đường Nguyễn Ái Quốc đến với Luận cương của Lênin hoàn toàn không phải ngẫu nhiên, đó là hành động đáp ứng nhu cầu của lịch sử dân tộc và xu thế thời đại, một tất yếu lịch sử. Luận cương của Lênin đã mở ra con đường đưa Nguyễn Ái Quốc đến với Chủ nghĩa Mác - Lênin và chính Luận cương của Lênin đã tạo ra bước ngoặt căn bản về chất trong sự phát triển nhận thức, tư tưởng và lập trường chính trị của Nguyễn Ái Quốc. Nguyễn Ái Quốc đã tiếp thu và phát triển một cách sáng tạo những tư tưởng cách mạng của Lênin, xúc tiến hàng loạt các hoạt động nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, đưa phong trào công nhân chuyển dần từ trình độ tự phát lên tự giác, đưa phong trào yêu nước chuyển dần sang lập trường cộng sản. Các tác phẩm của Nguyễn Ái Quốc như Bản án chế độ thực dân Pháp (năm 1925), Đường Kách Mệnh (năm 1927), các tờ báo do Người sáng lập như: Báo Người Cùng Khổ - Le Paria (năm 1922), báo Thanh Niên (tháng 6/1925) và nhiều bài báo Người viết về Lênin, về Cách mạng Tháng Mười Nga, về giai cấp công nhân là những tài liệu đầu tiên truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam. Những tài liệu này đã có tác dụng vạch trần bộ mặt áp bức, bóc lột tàn bạo của bọn thực dân Pháp và phong kiến tay sai, thức tỉnh lòng yêu nước của người dân Việt Nam, chỉ ra xu thế tất yếu của dân tộc và thời đại, đó là con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, "chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ. Người khẳng định "Chủ nghĩa Lênin đối với chúng ta, những người cách mạng và nhân dân Việt Nam, không những là cái "cẩm nang" thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản".[3]

Giá trị trường tồn

Đảng ta từ khi thành lập đến nay luôn luôn và sẽ mãi mãi lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của mình và đã dẫn dắt cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác: Từ chiến thắng của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đến thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, giành độc lập dân tộc và thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Ngaysinh-Lenin.jpg

Ngay trong đêm 7/11/1917, Đại hội các Xô Viết được triệu tập, thành lập Chính quyền Xô Viết do V.I.Lê-nin đứng đầu

Đảng ta đã tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, làm sáng tỏ nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam phù hợp với thực tiễn của nước ta và xu thế phát triển của thế giới. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng khẳng định, nhìn lại 35 năm đổi mới và 30 năm thực hiện Cương lĩnh 1991, đặc biệt trong 10 năm thực hiện Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) (Cương lĩnh khẳng định "Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của mình) đã tiếp tục khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại.

Đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt cả về vật chất và tinh thần. Đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Đó cũng là bài học lớn đầu tiên trong năm bài học lớn mà Đảng đã đúc kết tại Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về các văn kiện trình Đại hội XIII: "Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; thường xuyên củng cố, tăng cường đoàn kết trong Đảng và hệ thống chính trị; thực hiện nghiêm nguyên tắc xây dựng Đảng; thường xuyên đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng".

Trung thành, kiên định Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đặt nó trên "cơ sở hiện thực" mới đương đại, vận dụng sáng tạo vào thực tiễn, thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới đất nước là câu trả lời rõ ràng của chúng ta, làm thất bại, phá sản mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Đó là trung thành, đi theo một học thuyết cách mạng và khoa học, một học thuyết thực tế; là đi tiếp lịch sử dân tộc ta; là sự nối tiếp hiện thực-thực tiễn chủ nghĩa xã hội đã có, đang có ở Việt Nam, chứ không phải là "khư khư giữ lấy" một "chủ nghĩa hết thời", "phi hiện thực", một "lý tưởng mơ hồ", cũng không phải là để "tự trấn an" như sự xuyên tạc của các thế lực thù địch./.

 NGỌC HÂN

______________

[1] Hồ Chí Minh toàn tâp, Tập 12, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.561

[2] Hồ Chí Minh toàn tâp, Tập 12, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.562

[3] Hồ Chí Minh toàn tâp, Tập 12, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.563

FalseChính trị
Phát huy tinh thần Chiến thắng 30/4/1975Bài viếtTTCTTTPhát huy tinh thần Chiến thắng 30/4/1975/SiteAssets/Bia-47nam.jpg
05/04/2022 4:00 CHNoĐã ban hành

(TUAG)- ​Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, đế quốc Mỹ có tiềm lực rất mạnh, nổi lên cầm đầu phe đế quốc, hiếu chiến và âm mưu bá chủ thế giới, từng bước khẳng định sự có mặt ở Đông Dương. Sau thất bại của thực dân Pháp ở Điện Biên Phủ, chủ nghĩa thực dân cũ sụp đổ, đế quốc Mỹ nhảy vào miền Nam Việt Nam, áp đặt chủ nghĩa thực dân mới, âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta. Vào thời điểm này, trên thế giới đã phân chia thành hai hệ thống đối đầu gay gắt bằng cuộc “Chiến tranh lạnh” và chạy đua vũ trang quyết liệt. Hệ thống chủ nghĩa xã hội, phong trào công nhân ở các nước tư bản, phong trào giải phóng dân tộc ở khắp nơi trên thế giới dâng cao. Trong nước, sau chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp, miền Bắc được giải phóng, bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam vẫn dưới ách thống trị của đế quốc Mỹ và tay sai. Đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước trở thành nhiệm vụ thiêng liêng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta.

Bia-47nam.jpg

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta đã đương đầu với tên đế quốc giàu mạnh nhất và hung bạo nhất trong phe đế quốc. Cuộc kháng chiến này phải trải qua nhiều giai đoạn, phải đối phó lần lượt với các kế hoạch chiến lược của đế quốc Mỹ. Đó là 05 giai đoạn: (1) Từ tháng 7/1954 đến hết năm 1960, ta tập trung đấu tranh giữ gìn lực lượng, chuyển dần sang thế tiến công, làm thất bại bước đầu phương thức chủ nghĩa thực dân mới của đế quốc Mỹ; (2) Từ đầu năm 1961 đến giữa năm 1965, ta giữ vững và phát triển thế tiến công, đánh bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ; (3) Từ giữa năm 1965 đến hết năm 1968, Đảng phát động toàn dân chống Mỹ, cứu nước, đánh bại chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ ở miền Nam, đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân lần thứ nhất ở miền Bắc; (4) Từ năm 1969 đến 1973, quân và dân ta phát huy sức mạnh chiến đấu Việt Nam - Lào - Campuchia, làm thất bại một bước chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân lần thứ hai ở miền Bắc, tạo thế mạnh trong đàm phán; (5) Từ cuối năm 1973 đến ngày 30/4/1975 là giai đoạn tạo thế và lực, tạo thời cơ, kiên quyết tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975, kết thúc thắng lợi trọn vẹn cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Một trong những nguyên nhân của thắng lợi vĩ đại này là cả nước đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động trên dưới một lòng, triệu người như một, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Có thể thấy rõ là một dân nhỏ bé, nghèo nàn, lạc hậu như Việt Nam nhưng lại có thể chiến thắng kẻ địch hùng mạnh như đế quốc Mỹ với trang bị vũ khí hiện đại, tất cả là nhờ cả dân tộc ta đã đoàn kết một lòng, “triệu người như một”. Cũng chính nhờ sức mạnh của khối đại đoàn kết ấy, chúng ta lại tiếp tục vượt qua những đau thương, mất mát của chiến tranh đạt được thành tựu nhất định trong công cuộc đổi mới đất nước, đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Trải qua 47 năm, phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng, Đảng ta lãnh đạo toàn thể dân tộc Việt Nam vững bước trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Lòng yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng tiếp tục được thể hiện sinh động trên tất cả các lĩnh vực. Đảng ta lãnh đạo Nhân dân vượt qua mọi khó khăn, thách thức, từng bước tiến kịp thời đại, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững, có vị thế xứng đáng trên thế giới. Khát vọng đó của dân tộc, cũng thiêng liêng và mãnh liệt như ý chí giành độc lập, thống nhất Tổ quốc.

Cùng với cả nước, từ sau ngày giải phóng miền Nam đến nay, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân An Giang đã ra sức vượt qua mọi khó khăn, đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, vận dụng và thực hiện sáng tạo các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào điều kiện cụ thể của địa phương và đã đạt được những thành tựu quan trọng: Kinh tế của tỉnh phát triển ổn định; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực; nhiều công trình, dự án quan trọng được hoàn thành, đưa vào sử dụng đã phát huy hiệu quả; quốc phòng, an ninh được củng cố, tăng cường; dân chủ xã hội và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân được phát huy. Đặc biệt, tỉnh đã luôn suy nghĩ tìm ra giải pháp tháo gỡ các “điểm nghẽn” trong thu hút đầu tư, nhất là về cải cách thủ tục hành chính, khuyến khích tập trung đất đai, mời gọi đầu tư phát triển nông nghiệp công nghệ cao, tập trung giải quyết bài toán giữa sản xuất - chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. Thực hiện đồng bộ việc nâng cấp, chỉnh trang đô thị trung tâm; xây dựng nông thôn mới vượt tiến độ đề ra. Thu nhập bình quân đầu người năm 2021 ước đạt trên 48,905 triệu đồng (tăng 18 triệu đồng so năm 2015).

Dù gặp nhiều khó khăn, nhưng tỉnh lồng ghép nhiều nguồn lực, đặc biệt là chăm lo tốt an sinh xã hội, cải thiện đời sống Nhân dân. Tỉ lệ hộ nghèo đa chiều đến năm 2021 giảm còn 1% (giảm bình quân 1,5%/năm). Chất lượng giáo dục, hiệu quả đào tạo được nâng lên. Công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe Nhân dân, phòng, chống dịch bệnh (nhất là dịch COVID-19) đạt được nhiều kết quả tích cực; phong trào xây dựng nông thôn mới ngày càng phát triển mạnh mẽ, đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân được nâng lên.

Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XI, nhiệm kỳ 2020 - 2025 đã xác định: Phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, khát vọng phát triển, xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, dân chủ, đổi mới, sáng tạo; giữ vững quốc phòng - an ninh; khai thác tốt lợi thế và tiềm năng, tạo động lực mới để đến năm 2025 kinh tế An Giang thuộc nhóm đầu khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và đạt mức trung bình cả nước; đến năm 2030 đạt trên mức trung bình cả nước.

Kỷ niệm 47 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước là dịp để chúng ta cùng ôn lại những trang sử hào hùng của dân tộc, nỗ lực quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng, nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp; xây dựng và phát triển An Giang - quê hương Bác Tôn ngày thêm giàu đẹp./.

TTCTTT (số 04-2022)

False
Phát hiện sớm, xử lý nghiêm các vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực Bài viếtĐảng Cộng sản VNPhát hiện sớm, xử lý nghiêm các vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực /SiteAssets/nchinh-31hh.jpg
02/04/2022 10:00 SANoĐã ban hành
(ĐCSVN) – Đồng chí Võ Văn Thưởng yêu cầu tiếp tục tăng cường phối hợp, tham mưu chỉ đạo đẩy mạnh công tác phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; phát hiện sớm, xử lý kịp thời, nghiêm các vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực...
Đồng chí Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, Phó Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị. 

Sáng 31/3, Ban Nội chính Trung ương tổ chức Hội nghị trực tuyến sơ kết 7 năm thực hiện Quy chế phối hợp giữa Ban Nội chính Trung ương với Đảng ủy Công an Trung ương, Ban cán sự đảng Tòa án nhân dân tối cao, Ban cán sự Đảng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao.

Đồng chí Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, Phó Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (PCTN, TC) dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị.

Phát biểu khai mạc Hội nghị, Đại tướng Tô Lâm, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Đảng ủy Công an Trung ương, Phó Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN, TC nhấn mạnh: Sau 7 năm thực hiện Quy chế phối hợp giữa các cơ quan trong lĩnh vực nội chính, phòng, chống tham nhũng và gần đây đã bổ sung phòng chống tiêu cực, cải cách tư pháp, các cơ quan phối hợp đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, song cũng còn những tồn tại, hạn chế nhất định. Vì vậy, Hội nghị này có ý nghĩa hết sức quan trọng nhằm đánh giá tình hình, kết quả đã đạt được, những tồn tại, hạn chế, khó khăn, vướng mắc, làm rõ nguyên nhân và kinh nghiệm rút ra trong quá trình triển khai thực hiện các Quy chế phối hợp; từ đó, xác định phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phối hợp giữa các cơ quan cho những năm tiếp theo. Đồng chí đề nghị, các ý kiến phát biểu thiết thực, hiệu quả, tránh hình thức, phát huy dân chủ, trách nhiệm; tập trung thảo luận, đánh giá để làm rõ những thành tích đã đạt được, cũng như những hạn chế, khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp để thực hiện tốt nhiệm vụ phối hợp trong công tác nội chính, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và cải cách tư pháp năm 2022 và những năm tiếp theo.

Báo cáo sơ kết Quy chế phối hợp của 4 cơ quan nêu rõ: Qua 7 năm thực hiện Quy chế đã phối hợp nghiên cứu, tham mưu Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội, Chính phủ ban hành gần 200 nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước về lĩnh vực nội chính, PCTN, tiêu cực và cải cách tư pháp; phối hợp tham mưu xây dựng, ban hành các chủ trương, chính sách lớn về đảm bảo an ninh quốc gia; về xây dựng và hoàn thiện chính sách, pháp luật hình sự, dân sự, tố tụng tư pháp... tạo cơ sở chính trị - pháp lý siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và bộ máy Nhà nước, xử lý vi phạm và tội phạm; từng bước hình thành cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để “không thể tham nhũng”.

Công tác điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng, kinh tế được tiến hành mạnh mẽ, quyết liệt, không để oan sai, không bỏ lọt tội phạm, nhiều vụ việc, vụ án tham nhũng, kinh tế đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, nhất là các vụ án, vụ việc thuộc diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo; các cơ quan đã phối hợp tham mưu đưa 965 vụ án, vụ việc vào theo dõi, chỉ đạo ở 3 cấp độ, trong đó Ban Chỉ đạo trực tiếp theo dõi, chỉ đạo 171 vụ án, 130 vụ việc. Các Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân đã thụ lý 123 vụ án, 925 bị can, 72 vụ việc; VKSND các cấp đã thụ lý 160 vụ án/1121 bị can, 124 vụ việc; đã truy tố 118 vụ/1056 bị can; TAND các cấp đã đưa ra xét xử sơ thẩm 112 vụ án/ 1008 bị cáo, xét xử phúc thẩm 77 vụ án/ 666 bị cáo.

Hình ảnh tại Hội nghị. 

Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị, thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đồng chí Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, Phó Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (Ban Chỉ đạo) hoan nghênh, chúc mừng những kết quả đạt được trong thực hiện các Quy chế phối hợp giữa các cơ quan trong thời gian qua.

Nhất trí với các nhiệm vụ, giải pháp đã nêu trong Báo cáo, đồng chí Võ Văn Thưởng lưu ý, trong thời gian tới, cần tiếp tục tăng cường, nâng cao hơn nữa hiệu quả phối hợp trong công tác nghiên cứu, tham mưu các chủ trương, quan điểm, định hướng lớn của Đảng về lĩnh vực nội chính, PCTN, tiêu cực và cải cách tư pháp; các chủ trương, giải pháp về bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội; đấu tranh phòng, chống tội phạm. Trước mắt cần tập trung phối hợp nghiên cứu, xây dựng Đề án về chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045; Đề án về mô hình cơ quan đơn vị chuyên trách chống tham nhũng; Đề án về kiểm soát quyền lực để phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án...

Nâng cao hiệu quả phối hợp trong công tác thẩm định, tham gia ý kiến các đề án, văn bản về lĩnh vực nội chính, PCTN và cải cách tư pháp trước khi trình Bộ Chính trị, Ban Bí thư, bảo đảm cho pháp luật phù hợp với Cương lĩnh, quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng.

Tiếp tục tăng cường phối hợp, tham mưu chỉ đạo đẩy mạnh công tác phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; phát hiện sớm, xử lý kịp thời, nghiêm các vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực; phối hợp chặt chẽ hơn nữa trong tham mưu, chỉ đạo tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ điều tra, xử lý dứt điểm các vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm, nhất là các vụ án, vụ việc thuộc diện Ban chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo, theo đúng chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Trưởng Ban Chỉ đạo “Có vụ việc thì phải xác minh làm rõ; tích cực, khẩn trương, rõ đến đâu xử lý đến đó; có dấu hiệu phạm tội thì phải khởi tố, điều tra; kết luận có tội thì phải truy tố, xét xử theo quy định của pháp luật”; và “không có vùng cấm, không có đặc quyền, không có ngoại lệ, không chịu sức ép của bất cứ tổ chức, cá nhân nào”.

Đồng chí nhấn mạnh, những vi phạm có tính chất thách thức đối với đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thách thức dư luận xã hội cần xử lý nghiêm minh và kịp thời. Một số vụ việc cần đẩy mạnh hơn, nhất là các vụ việc mà dư luận xã hội quan tâm, liên quan tới nhiều người, đặc biệt là lãnh đạo chủ chốt đã có chỉ đạo thì phải khẩn trương giải quyết.

Đồng chí Võ Văn Thưởng yêu cầu, chủ động phối hợp, tham mưu chỉ đạo xử lý kịp thời các vụ án, vụ việc có liên quan đến chính trị, đối ngoại, dư luận xã hội đặc biệt quan tâm theo đúng Chỉ thị của Bộ Chính trị và Hướng dẫn của Ban Bí thư. Quan tâm phối hợp chỉ đạo, hướng dẫn xử lý các khó khăn, vướng mắc, tạo chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa trong công tác điều tra, xử lý các vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực ở địa phương; phối hợp tham mưu chỉ đạo giải quyết kịp thời các vấn đề phức tạp, nổi lên về an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, nhất là về an ninh biên giới, an ninh trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số, an ninh tôn giáo, an ninh nông thôn; hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động; hoạt động của các loại tội phạm nguy hiểm; những bức xúc, khiếu kiện đông người kéo dài, phức tạp... không để phát sinh “điểm nóng”, bị động, bất ngờ.

Tăng cường phối hợp kiểm tra, giám sát việc thực hiện đường lối, chủ trương, quy định của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước ở các cơ quan nội chính, nhất là kiểm tra, giám sát hoạt động thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; thực hiện kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Trưởng Ban Chỉ đạo tại các phiên họp, cuộc họp của Ban Chỉ đạo và thực hiện kiến nghị của các Đoàn kiểm tra, giám sát của Ban Chỉ đạo.

Nâng cao hiệu quả phối hợp trong công tác nghiên cứu, đề xuất các chủ trương, chính sách về tổ chức và hoạt động của các cơ quan nội chính; xây dựng đội ngũ cán bộ các cơ quan nội chính, tư pháp trong sạch, liêm chính, có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước; chủ động phối hợp, nghiên cứu, đề xuất các chủ trương, chính sách để hoàn thiện tổ chức, bộ máy, nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan nội chính; tham gia ý kiến trong việc quy hoạch, bổ nhiệm, khen thưởng, kỷ luật đối với các chức danh cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư, tỉnh ủy, thành ủy quản lý trong các cơ quan nội chính. Phối hợp tham mưu cơ chế sàng lọc, thay thế kịp thời những người không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm pháp luật, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp; đổi mới cơ chế tuyển chọn, bổ nhiệm các chức danh tư pháp…, xây dựng đội ngũ cán bộ các cơ quan nội chính nói chung, cơ quan tư pháp nói riêng thực sự liêm chính, bản lĩnh, công tâm, khách quan "phụng công thủ pháp"; phải là những "bao công" trong thời đại mới.../.

PV (Nguồn: ĐCSVN)
FalseChính trị
Khơi dậy năng lực nội sinh của dân tộc nhằm xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúcBài viếtTGTWKhơi dậy năng lực nội sinh của dân tộc nhằm xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc/SiteAssets/khoi-day-nang-luc-noi-sinh-cua-dan-toc.jpg
14/03/2022 11:00 SANoĐã ban hành

Nhận thức sâu sắc được vị trí, vai trò, tầm quan trọng của văn hóa đối với sự phát triển đất nước, Đảng đã lãnh đạo xây dựng và phát huy sức mạnh của nền văn hóa và con người Việt Nam để đấu tranh giành độc lập, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và phát triển đất nước nhanh, bền vững.

khoi-day-nang-luc-noi-sinh-cua-dan-toc.jpg

SỨC MẠNH VĂN HÓA VÀ CON NGƯỜI VIỆT NAM

Nhận thức sâu sắc vị trí, tầm quan trọng của văn hóa, Đề cương về văn hóa Việt Nam ( năm 1943) của khẳng định: “Mặt trận văn hóa là một trong ba mặt trận (kinh tế, chính trị, văn hóa) ở đó người cộng sản phải hoạt động”(1). Trên quan điểm mác-xít, Đề cương nêu lên những nguyên tắc lớn của cuộc vận động văn hóa Việt Nam là: dân tộc hóa, khoa học hóa và đại chúng hóa. Quan điểm về xây dựng của Đảng đã tạo ra một luồng sinh khí mới, góp phần quy tụ đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ và tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân đứng lên giành độc lập cho dân tộc, với tinh thần “… dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải cương quyết giành cho được độc lập”(2).Khát vọng giành độc lập mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh thắp lên là ngọn cờ quy tụ và phát huy sức mạnh của toàn dân đứng lên giành thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước Dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, sức mạnh văn hóa và con người Việt Nam một lần nữa được phát huy với tinh thần: “Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”(3). Quyết tâm sắt đá đó đã thức tỉnh chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, là ánh sáng soi đường để chiến thắng kẻ thù xâm lược. Trong quá trình lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thức sâu sắc: văn hóa “không thể đứng ngoài mà phải ở trong kinh tế và chính trị”(4). Trong diễn văn khai mạc Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất (năm 1946), Người chỉ rõ: “Văn hóa có liên lạc với chính trị rất là mật thiết. Phải làm thế nào cho văn hóa vào sâu trong tâm lý của quốc dân, nghĩa là văn hóa phải sửa đổi được tham nhũng, lười biếng, phù hoa, xa xỉ. Tâm lý của ta lại còn muốn lấy tự do, độc lập làm gốc. Văn hóa phải làm thế nào cho ai cũng có lý tưởng tự chủ, độc lập, tự do”(5).

Tại Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ hai (năm 1948), Tổng Bí thư Trường Chinh công bố tác phẩm Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam, với nội dung cơ bản là: Xây dựng “nền văn hóa mới Việt Nam phải theo ba nguyên tắc dân tộc hóa, khoa học hóa, đại chúng hóa”(6). Trên cơ sở chiến lược văn hóa đó, “văn hóa - văn nghệ là một mặt trận”, “văn nghệ sĩ là chiến sĩ trên mặt trận ấy”. Khẩu hiệu hành động là: Kháng chiến hóa văn hóa và văn hóa hoá kháng chiến.

Những quan điểm, định hướng về phát triển văn hóa của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khơi dậy ý thức tự tôn, tự hào dân tộc cũng như tinh thần yêu nước được đúc kết từ hàng nghìn năm lịch sử và trách nhiệm của mỗi người dân Việt Nam đối với sứ mệnh giải phóng dân tộc. Nhờ vậy, đã quy tụ và nhân lên sức mạnh của toàn dân tộc đánh bại các chiến lược quân sự của kẻ thù, làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” vào năm 1954.

Sau thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chúng ta phải biến một nước dốt nát, cực khổ thành một nước văn hóa cao và đời sống tươi vui hạnh phúc”(7). Đề cập đến tính dân tộc của văn hóa, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Không chú trọng đến đặc điểm của dân tộc mình trong khi học tập kinh nghiệm của các nước anh em, là sai lầm nghiêm trọng, là phạm chủ nghĩa giáo điều. Nhưng nếu quá nhấn mạnh đặc điểm dân tộc để phủ nhận giá trị phổ biến của những kinh nghiệm lớn, cơ bản của các nước anh em, thì sẽ mắc sai lầm nghiêm trọng của chủ nghĩa xét lại”(8).

Nhờ đường lối văn hóa, văn nghệ đúng đắn, sáng tạo của Đảng mà qua hai cuộc kháng chiến, dân tộc Việt Nam đã xây dựng được một nền văn hóa cung cấp đủ năng lượng tinh thần cho hàng triệu con người Việt Nam trở thành những chiến sĩ xả thân vì lý tưởng “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Trên nền văn hóa ấy, văn học - nghệ thuật nước ta “xứng đáng đứng vào hàng ngũ tiên phong của những nền văn học, nghệ thuật chống đế quốc và phong kiến”.

NĂNG LỰC NỘI SINH ĐỂ XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC PHỒN VINH, HẠNH PHÚC

Trong thời kỳ đổi mới, tư duy lý luận của Đảng ngày càng đổi mới khi xác định: Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển. Nhờ vậy, sự nghiệp văn hóa cũng đạt được kết quả quan trọng. Tuy nhiên, mặt trái của cơ chế thị trường đã tác động tiêu cực đến xã hội, khiến cho các bậc thang giá trị bị đảo lộn. Trước tình hình đó, để chấn hưng văn hóa dân tộc, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương, khóa VIII ra Nghị quyết về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Hội nghị nêu ra 5 quan điểm chỉ đạo, 10 nhiệm vụ và 4 giải pháp xây dựng văn hóa trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nghị quyết đánh dấu bước phát triển trong tư duy lý luận của Đảng về văn hóa trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Trong các kỳ Đại hội, Đảng khẳng định nội dung quan trọng nhất trong xây dựng, phát triển văn hóa là phát triển con người và xây dựng môi trường văn hóa. Nhằm nâng cao chất lượng xây dựng văn hóa và phát triển con người Việt Nam, Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI thảo luận và ban hành Nghị quyết số 33 về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước. Hội nghị nhấn mạnh: Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Cùng với việc nêu ra 5 quan điểm chỉ đạo, Hội nghị đề ra 6 nhiệm vụ và đề ra 4 giải pháp nhằm nâng cao chất lượng văn hóa và phát triển con người Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế.

Trong bối cảnh mới, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng xác định: “Lấy giá trị văn hóa, con người Việt Nam làm nền tảng, sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững”(9). Đại hội chủ trương: “Phát huy tối đa nhân tố con người; con người là trung tâm, chủ thể, là nguồn lực chủ yếu và mục tiêu của sự phát triển. Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại”(10).Trong đó, chú trọng giáo dục tinh thần yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, lòng nhân ái, tinh thần đoàn kết, đồng thuận xã hội. Bảo vệ và phát huy các giá trị tốt đẹp, bền vững trong truyền thống văn hóa dân tộc.Chăm lo giáo dục đạo đức, nhân cách, năng lực sáng tạo và các giá trị cốt lõi, nhất ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ. Gắn giáo dục tri thức, đạo đức, thẩm mỹ, kỹ năng sống với giáo dục thể chất, nâng cao tầm vóc của con người Việt Nam.

Đường lối đúng đắn và sự chỉ đạo sát sao, kịp thời của Đảng tạo nên những chuyển biến tích cực về xây dựng văn hóa và phát triển con người Việt Nam: Nhiều chuẩn mực đạo đức mới, tiến bộ được hình thành. Các tầng lớp nhân dân tích cực học tập, lao động sản xuất để đưa đất nước thoát khỏi nghèo đói. Lớp trẻ có tinh thần vượt khó để lập thân, lập nghiệp và cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước; những giá trị truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc được phát huy; các di sản văn hóa dân tộc được bảo tồn và phát huy; nhiều giá trị văn hóa mới hình thành và phát triển; môi trường văn hóa ngày càng lành mạnh; giao lưu văn hóa với nước ngoài được mở rộng; thể chế văn hóa từng bước được hoàn thiện; hệ thống truyền thông đại chúng ngày càng tiên tiến, hiện đại; phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” trở thành hành động tự giác của mỗi người dân; đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân được cải thiện. Sự lãnh đạo của Đảng đã hướng các hoạt động văn hóa đến các giá trị chân, thiện, mỹ và đảm bảo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa.

Bên cạnh những kết quả đạt được, thành tựu về xây dựng văn chưa tương xứng với những thành tựu về kinh tế; nhiều giá trị văn hóa tốt đẹp và bản sắc văn hóa dân tộc bị mai một; đạo đức xã hội xuống cấp; di sản văn hóa bị xâm hại nghiêm trọng; văn hóa phẩm phản động, độc hại tràn lan trên thị trường; khoảng cách về văn hóa giữa các vùng miền còn chênh lệch; môi trường văn hóa thiếu lành mạnh, ngoại lai, trái với thuần phong, mỹ tục của dân tộc; phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” còn mang tính hình thức; văn học - nghệ thuật còn thiếu những tác phẩm đỉnh cao về tư tưởng…

Trước tình hình đó, để văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội và trở thành năng lực nội sinh thúc đẩy đất nước phát triển nhanh, bền vững cần chú trọng một số vấn đề sau: 1) Kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng, đồng thời tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vự văn hóa. 2) Đi đôi với việc giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc lên một tầm cao mới, không ngừng sáng tạo những giá trị văn hóa mới để văn hóa Việt Nam vẫn giữ được "cốt cách" (bản sắc) dân tộc, vừa theo kịp bước tiến chung của nhân loại. 3) Xây dựng và phát triển con người Việt Nam toàn diện, hướng tới những giá trị “chân, thiện, mỹ”, nâng cao ý thức tự tôn, tự cường dân tộc, khơi dậy khát vọng xây dựng đất nước hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc. 4) Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh trong mỗi gia đình, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và toàn xã hội. 5) Bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa dân tộc đi đôi với giữ gìn những giá trị văn hóa đa dân tộc, nhiều màu sắc của cộng đồng các dân tộc Việt Nam nhằm khơi dậy tiềm năng của các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể - nguồn lực nội sinh để phát triển kinh tế đất nước. 6) Xây dựng ngành công nghiệp văn hóa và dịch vụ văn hóa trên cơ sở phát huy bản sắc văn hóa và ngoại giao văn hóa - sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam; vận dụng có hiệu quả các giá trị, tinh hoa và thành tựu mới của văn hóa, khoa học, kỹ thuật, công nghệ của thế giới. 7) Đẩy mạnh phát triển các phương tiện thông tin đại chúng trên cơ sở tranh thủ những thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư để hiện đại hóa hệ thống báo chí, xuất bản, truyền thanh, truyền hình nhằm quảng bá hình ảnh của đất nước ra toàn thế giới./.


PGS. TS. Nguyễn Danh Tiên

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh  

----------

(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập (1940-1945), Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2000, t. 7, tr.316.

(2) Hồ Chí Minh: Biên niên tiểu sử, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2016, t.2, tr.225.

(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2011, t. 6, tr.579.

(4) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng và Nhà nước về văn hoá, văn nghệ từ 1943 đến 1968, Nxb. Sự thật, H, 1970, tr.588.

(5) Hồ Chí Minh: Về công tác văn hoá nghệ thuật, Nxb. Sự thật, H, 1977, tr.90.

(6) Trường Chinh: Về văn hoá nghệ thuật, Nxb. Văn học, H, 1985, tr.30.

(8) (9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 11, tr. 92, 97-98.

(10) (11) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, T.I, tr.216, 47.

FalseĐưa Nghị quyết vào cuộc sống
Nhận thức mới, khí thế mới, tạo đà phát triển mới cho phong trào phụ nữ Bài viếtĐảng Cộng sản VNNhận thức mới, khí thế mới, tạo đà phát triển mới cho phong trào phụ nữ /SiteAssets/vna-potal-dai-hoi-dai-bieu-phu-nu.jpg
10/03/2022 2:00 CHNoĐã ban hành

Phát biểu chỉ đạo tại Đại hội đại biểu phụ nữ toàn quốc lần thứ XIII, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tin tưởng sau Đại hội, trong xã hội mà trước tiên là những cán bộ, hội viên, phụ nữ sẽ có nhận thức mới, khí thế mới, tạo đà phát triển mới cho phong trào phụ nữ bảo đảm đồng bộ, toàn diện, thiết thực, hiệu quả hơn.

Vai trò chủ thể và tầm ảnh hưởng của phụ nữ trong gia đình và xã hội ngày càng nâng cao.

Phát biểu chỉ đạo tại Đại hội, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đánh giá báo cáo của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trình bày tại Đại hội rất sâu sắc, toàn diện và đầy đủ; 5 năm qua, phụ nữ Việt Nam và các cấp Hội đã tham gia tích cực, hiệu quả vào nỗ lực chung của hệ thống chính trị và toàn xã hội, đưa đất nước vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm, đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng, khá toàn diện, tạo dấu ấn nổi bật. Đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ ngày càng được cải thiện. Vai trò chủ thể và tầm ảnh hưởng của phụ nữ trong gia đình và xã hội ngày càng nâng cao. Phong trào phụ nữ tiếp tục có bước phát triển, đóng góp tích cực vào công cuộc đổi mới của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính phát biểu chỉ đạo tại Đại hội

"5 năm qua, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã triển khai tích cực, hiệu quả Nghị quyết Đại hội Đại biểu phụ nữ toàn quốc lần thứ XII với 2 khâu đột phá, 3 nhiệm vụ trọng tâm, 6 nhóm giải pháp lớn. Hội đã phát huy vai trò nòng cốt trong công tác phụ nữ và sự nghiệp bình đẳng giới; thực hiện ngày càng tốt hơn chức năng đại diện, chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của phụ nữ. Hội là cầu nối giữa Đảng với các hội viên, phụ nữ; tham gia xây dựng Đảng, chính quyền và hệ thống chính trị, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tôi đánh giá cao việc Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã chủ động nghiên cứu, đề xuất các nội dung thúc đẩy bình đẳng giới trong 3 Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021-2025 và chủ trì thực hiện nội dung Vun đắp giá trị gia đình Việt Nam trong Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới... 

Hơn hai năm qua, trong bối cảnh đất nước gặp nhiều khó khăn do đại dịch COVID-19, phát huy cao nhất tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, trách nhiệm, các cấp Hội cùng cán bộ, hội viên, phụ nữ cả nước đã đồng lòng, chung sức nỗ lực tham gia tích cực vào cuộc chiến chống lại dịch bệnh với nhiều cách làm hay, mô hình sáng tạo, hiệu quả. Đã tổ chức nhiều chương trình thiết thực, ý nghĩa, mang đậm dấu ấn của tổ chức Hội và phụ nữ, góp phần nhân thêm niềm tin, lan tỏa hành động đẹp trong cộng đồng. Tiêu biểu là các chương trình “Mẹ đỡ đầu” , “Triệu phần quà san sẻ yêu thương”... Đặc biệt, có nhiều nữ cán bộ y tế, nữ chiến sĩ đã gác lại mọi nỗi niềm riêng, xung phong lên tuyến đầu chống dịch để giành giật từng hơi thở, từng sinh mạng của người bệnh. Nhiều nữ doanh nhân, những bà mẹ nghèo, các vị nữ tu hành, nữ nghệ sĩ, các bà, các mẹ, các chị… không phân biệt già trẻ, nghề nghiệp, tôn giáo hay những em gái nhỏ ở những vùng còn nhiều gian khó, chắt chiu từng đồng tiền tích cóp, từng mớ rau, quả trứng, cân thịt… gửi lên tuyến đầu. Những hành động, nghĩa cử cao đẹp đó đã khẳng định vai trò và sự đóng góp của tổ chức Hội, chung tay cùng hệ thống chính trị thực hiện “đa mục tiêu”, vừa phòng, chống dịch hiệu quả, vừa phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội, chăm lo an sinh xã hội; bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội và tích cực hội nhập sâu rộng", Thủ tướng nói.

Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Thủ tướng Chính phủ nhiệt liệt chúc mừng, ghi nhận và biểu dương những thành tích to lớn của phong trào phụ nữ và Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong nhiệm kỳ qua. Hoan nghênh, ghi nhận và cảm ơn sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của các cấp ủy đảng, sự phối hợp chặt chẽ của chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các ban, bộ, ngành, đoàn thể, sự ủng hộ, giúp đỡ của nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp trong công tác phụ nữ và bình đẳng giới. Cảm ơn sự ủng hộ, hợp tác hiệu quả của bạn bè, đối tác quốc tế đối với sự nghiệp thúc đẩy mục tiêu bình đẳng giới, sự phát triển của phụ nữ, trẻ em Việt Nam và tổ chức Hội.

Đại biểu dự Đại hội đại biểu phụ nữ toàn quốc lần thứ XIII

Xây dựng xã hội tốt đẹp trên nền tảng tôn trọng, tôn vinh, chăm lo, bảo vệ phụ nữ

Cơ bản đồng tình với phương hướng, nhiệm vụ nhiệm kỳ 2022 - 2027, những mục tiêu, các khâu đột phá và nhiệm vụ trọng tâm đã đề ra trong báo cáo của Đại hội, chỉ ra những tồn tại, hạn chế trong phong trào phụ nữ và hoạt động của tổ chức Hội , trong giai đoạn tới, để Hội có thể khẳng định, nâng cao vai trò nòng cốt trong công tác phụ nữ, trở thành tổ chức hoạt động chuyên nghiệp, hiệu quả, chủ động tham gia giải quyết các vấn đề của phụ nữ, vận động xã hội thực hiện mục tiêu bình đẳng giới trong khu vực và quốc tế, Thủ tướng gợi mở thêm một số vấn đề để Đại hội thảo luận, xem xét, quyết định. Đó là:

Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam cần nắm vững, quán triệt sâu sắc, cụ thể hóa những quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, nhất là Văn kiện Đại hội XIII của Đảng; có những giải pháp, biện pháp cụ thể, mạnh mẽ, khả thi để đưa chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước vào cuộc sống. Tăng cường tuyên truyền, giáo dục, vận động các tầng lớp phụ nữ thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, phát huy vai trò, tiềm năng, thế mạnh của phụ nữ trên tất cả các lĩnh vực, địa bàn; đồng thời làm tốt hơn nữa việc chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của phụ nữ. Tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp để xây dựng người phụ nữ Việt Nam phát triển, hội nhập với những giá trị thời đại gắn với giữ gìn, phát huy giá trị truyền thống dân tộc: Yêu nước, đoàn kết, trung hậu, đảm đang, tự cường, nghĩa tình, trung thực, trách nhiệm, sáng tạo và phát triển toàn diện. 

Gắn kết chặt chẽ các phong trào, cuộc vận động, hoạt động của Hội với các nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, đất nước. Bảo đảm lợi ích của tổ chức hội, hội viên, phụ nữ gắn với lợi ích quốc gia, dân tộc. Chủ động đề xuất với cấp có thẩm quyền để Hội tham gia giải quyết những vấn đề thiết thực được xã hội và phụ nữ quan tâm như: Xây dựng các thiết chế nhà ở, nhà trẻ và tổ chức hoạt động phục vụ đời sống văn hóa, tinh thần cho lao động nữ tại các khu công nghiệp; hỗ trợ phụ nữ cao tuổi, phụ nữ đơn thân, phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn, yếu thế, trẻ mồ côi...

Các cấp Hội cần tiếp tục kiện toàn tổ chức, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động để trở thành tổ chức hoạt động chuyên nghiệp, hiệu quả vì sự phát triển toàn diện của phụ nữ và sự hùng cường, phồn vinh, thịnh vượng của đất nước. Tiếp tục khẳng định vai trò, vị thế là tổ chức tiên phong vì bình đẳng giới và sự phát triển của phụ nữ Việt Nam, có tầm ảnh hưởng trong khu vực và quốc tế. 

Thủ tướng Phạm Minh Chính thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước tặng hoa chúc mừng Đại hội 

Cần đa dạng hóa nội dung hoạt động, hướng mạnh về cơ sở; nắm vững tình hình và xử lý tốt các vấn đề phát sinh từ cơ sở, tham gia thực hiện tốt công tác hòa giải ở cơ sở; đẩy mạnh cải cách hành chính và ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác chỉ đạo, điều hành, triển khai hoạt động. Tích cực tham mưu, đề xuất cơ chế, chính sách về công tác phụ nữ, công tác cán bộ nữ; luật pháp, chính sách về bình đẳng giới, trước mắt là các chính sách bảo đảm an sinh xã hội, gắn với các vấn đề thiết thực cho phụ nữ, nhất là các nhóm phụ nữ đặc thù. Hội cần mở rộng tính liên hiệp, tập hợp rộng rãi các đối tượng là phụ nữ; đa dạng hóa các hình thức tập hợp để thu hút đông đảo các tầng lớp, đối tượng phụ nữ tham gia Hội, nhất là phụ nữ ở lứa tuổi thanh niên, trong các khu công nghiệp, phụ nữ ở vùng miền núi, vùng khó khăn, vùng dân tộc, tôn giáo. 

Phát huy tiềm năng, sức sáng tạo của phụ nữ, nhất là những người có tầm ảnh hưởng, có khả năng truyền cảm hứng, lôi cuốn, dẫn dắt phong trào như: Nữ lãnh đạo, quản lý, trí thức, văn nghệ sỹ, doanh nhân, phụ nữ tài năng trên các lĩnh vực kinh tế, khoa học, nghệ thuật, văn hóa, thể thao, đối ngoại và khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo… Có hình thức phù hợp động viên phụ nữ Việt Nam định cư ở nước ngoài đoàn kết, phát triển, hướng về Tổ quốc. Tổ chức Hội cần đẩy mạnh phân cấp, phân công nhiệm vụ theo hướng “Trung ương định hướng chiến lược, Tỉnh vận dụng sáng tạo, Huyện đồng hành cơ sở, Xã nắm chắc hội viên, Chi thấu hiểu phụ nữ”.

Xây dựng đội ngũ cán bộ Hội, nhất là người đứng đầu có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực, uy tín, tư duy đổi mới, có kỹ năng vận động phụ nữ, gương mẫu đi đầu và là hình ảnh tiêu biểu của người phụ nữ Việt Nam thời đại mới. Phát huy vai trò người đứng đầu của tổ chức Hội khi tham gia cấp ủy, cơ quan dân cử và các thiết chế đại diện khác. Nâng cao năng lực, kỹ năng và bản lĩnh của cán bộ Hội trong giám sát, phản biện xã hội. Đề cao trách nhiệm của các cấp Hội, đặc biệt là cấp cơ sở, đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động của các chi Hội, tổ phụ nữ. Kịp thời phát hiện, bồi dưỡng, lựa chọn giới thiệu cán bộ nữ, cán bộ Hội có đủ tiêu chuẩn tham gia cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị.

Thủ tướng yêu cầu Hội cần tổ chức thật nghiêm túc công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm trong hội viên, phụ nữ; khơi dậy ý chí, khát vọng, tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc, phát huy truyền thống tốt đẹp của phụ nữ Việt Nam. Vận động phụ nữ rèn luyện phẩm chất đạo đức “Tự tin, tự trọng, trung hậu, đảm đang” gắn với đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Tiếp tục nâng cao nhận thức chính trị, ý thức chấp hành pháp luật, trách nhiệm công dân; bồi dưỡng kỹ năng, phương pháp công tác để cán bộ, hội viên, phụ nữ thực hiện có hiệu quả công tác giám sát, phản biện xã hội. Khắc phục biểu hiện an phận, thực dụng, suy thoái đạo đức, lối sống... của một bộ phận phụ nữ. Cần phải làm cho mỗi cán bộ Hội ở các cấp và mỗi người phụ nữ Việt Nam thực sự trở thành một chiến sĩ trên mặt trận văn hóa, tư tưởng, tích cực, chủ động tham gia xây dựng, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia, dân tộc.

Bên cạnh đó, cần phát huy vai trò của tổ chức Hội và các tầng lớp phụ nữ trong xây dựng, vun đắp giá trị gia đình Việt Nam với những giá trị cốt lõi: No ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh; xây dựng môi trường an toàn cho phụ nữ, trẻ em. Thực hiện tốt Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2030. Các cấp Hội tiếp tục tổ chức, hướng dẫn, hỗ trợ phụ nữ thực hiện các chính sách về hôn nhân - gia đình, chăm sóc sức khỏe, bảo vệ bà mẹ - trẻ em, bảo vệ môi trường..., bảo vệ thuần phong, mỹ tục, truyền thống, giá trị tốt đẹp của đất nước, con người và phụ nữ Việt Nam. Kịp thời phát hiện, lên tiếng, bênh vực, bảo vệ, giúp đỡ, kiến nghị giải quyết các vụ việc liên quan đến phụ nữ, trẻ em và bình đẳng giới. 

Thủ tướng đề nghị các cấp ủy đảng, chính quyền, các ban, bộ, ngành, đoàn thể cần quán triệt sâu sắc các quan điểm, mục tiêu công tác phụ nữ trong tình hình mới. Tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn cũng như xây dựng các chương trình, kế hoạch hoạt động cụ thể để tạo bước chuyển biến rõ rệt về chất lượng, hiệu quả công tác phụ nữ ở từng ngành, địa phương, đơn vị. Hoàn thiện các chính sách có lồng ghép giới theo quy định của Luật Bình đẳng giới, tạo điều kiện để phụ nữ có cơ hội được tiếp cận, thụ hưởng đầy đủ các chính sách an sinh xã hội. Tiếp tục quan tâm hỗ trợ xây dựng, củng cố tổ chức, đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các cấp Hội. Có cơ chế, chính sách huy động mọi nguồn lực xã hội để hỗ trợ, đồng hành cùng các phong trào, hoạt động của các cấp hội phụ nữ; hỗ trợ, giúp đỡ phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn vươn lên trong cuộc sống. Đặc biệt, tiếp tục giao một số nhiệm vụ và bảo đảm nguồn lực để Hội Phụ nữ tham gia thực hiện một số mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, một số nhiệm vụ trong 03 chương trình mục tiêu quốc gia, các đề án của Chính phủ phù hợp với khả năng, thế mạnh của tổ chức Hội.

Các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, tổ chức xã hội, cơ quan thông tin đại chúng cần tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm về giới và thực hiện bình đẳng giới cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Tiếp tục thúc đẩy bình đẳng giới, coi đó là một tiêu chí của tiến bộ, văn minh, thực hiện tốt các cam kết quốc tế về phụ nữ và phát triển mà Việt Nam tham gia, nhất là Chương trình Nghị sự 2030 của Liên hợp quốc về phát triển bền vững. Xây dựng xã hội tốt đẹp trên nền tảng tôn trọng, tôn vinh, chăm lo, bảo vệ phụ nữ; phong cách ứng xử văn minh, văn hóa đối với phụ nữ; phát huy vai trò, tiềm năng, thế mạnh của phụ nữ. Chú trọng tuyên truyền, biểu dương, nhân rộng những tập thể, cá nhân phụ nữ điển hình tiên tiến. Kiên quyết phê phán, đấu tranh với tư tưởng, thái độ coi thường phụ nữ, các hành vi phân biệt đối xử, xúc phạm nhân phẩm, xâm hại phụ nữ, trẻ em. 

"Sau Đại hội này, trong xã hội mà trước tiên là những cán bộ, hội viên, phụ nữ sẽ có nhận thức mới, khí thế mới, tạo đà phát triển mới cho phong trào phụ nữ nước ta, bảo đảm đồng bộ, toàn diện, thiết thực, hiệu quả hơn. Hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam sẽ có nhiều đổi mới, nâng tầm, bứt phá hơn nữa, đóng góp xứng đáng vào việc thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng, vì một nước Việt Nam "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh", vì sự phát triển hùng cường, thịnh vượng", Thủ tướng tin tưởng./.

Nguồn: ĐCSVN

False
Cuốn sách của sự kết tinh trí tuệ, tâm huyết và lẽ sống cao đẹpBài viếtNgọc HânCuốn sách của sự kết tinh trí tuệ, tâm huyết và lẽ sống cao đẹp/SiteAssets/Cuonsach-cua-TBT.jpg
17/02/2022 10:00 SANoĐã ban hành

(TUAG)- Ngay sau khi cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội (CNXH) và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ra mắt bạn đọc, nhiều ý kiến khẳng định, với ngôn từ dễ hiểu cùng những luận cứ sâu sắc, sự phân tích toàn diện lý luận và thực tiễn, các bài viết của Tổng Bí thư đã củng cố vững chắc niềm tin của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân vững tin vào con đường cách mạng đã lựa chọn. Đây thật sự là cuốn sách của sự kết tinh trí tuệ, tâm huyết và lẽ sống đẹp của chính tác giả.

Cuonsach-cua-TBT.jpg

Cuốn sách thể hiện dấu ấn nổi bật, vai trò cá nhân của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, thể hiện trí tuệ của toàn Đảng, của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương. Đây cũng là tâm huyết, trăn trở của Tổng Bí thư về CNXH ở Việt Nam trong bối cảnh tình hình thế giới thay đổi rất nhanh, phức tạp, có nhiều biến cố mà chúng ta phải lựa chọn con đường chưa từng có tiền lệ. Đây là con đường đầy gian nan nhưng cũng đầy vẻ vang để thực hiện thành công CNXH ở Việt Nam.

Trong cuốn sách, 29 bài viết, bài phát biểu của Tổng Bí thư được tuyển chọn ngay trước, trong và sau Đại hội XIII của Đảng. Đây là một sự bổ sung cả về lý luận và thực tiễn, kết tinh trí tuệ qua nhiều nhiệm kỳ, đặc biệt là tổng kết 35 năm đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH mà trọng tâm là 10 năm thực hiện Cương lĩnh năm 2011. Như Tổng Bí thư đã nói, những vấn đề gì đã chín, đã rõ thì cần phải được tổng kết để hoàn thiện về mặt lý luận. Đến nay, công trình này là một sự trả lời rất thuyết phục và rất rõ ràng là có một nền lý luận về CNXH Việt Nam, một mô hình CNXH Việt Nam của Nhân dân Việt Nam.

tbt-nguyen-phu-trong.jpg

Nội dung xuyên suốt trong 29 bài viết đã thể hiện 3 trụ cột quan trọng, khắc họa mô hình CNXH ở Việt Nam đó là: Kinh tế thị trường định hướng XHCN; xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng; xây dựng nền dân chủ XHCN. Trong đó khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định sự thành công; cội nguồn của sức mạnh, năng lực nội sinh chính là Nhân dân Việt Nam. Quý hơn là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thể hiện những vấn đề lý luận toàn diện, nhưng sử dụng ngôn từ rất dễ nhớ, dễ hiểu, đó là điều kiện rất thuận lợi giúp cơ sở và người dân nắm chắc, hiểu sâu, vận dụng hiệu quả vào thực tiễn từng cơ quan, đơn vị, địa phương.

Tổng Bí thư đặt ra cho chúng ta nhiệm vụ phải kết nối và tiếp tục hoàn thiện lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Cuốn sách không chỉ phục vụ công tác lãnh đạo, chỉ đạo, không chỉ phục vụ công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, phản động, cơ hội chính trị, không chỉ là tài liệu phục vụ học tập, quán triệt mà đây còn là tài liệu rất quan trọng trong công tác lý luận của Đảng, là một cẩm nang quan trọng để Đảng ta tiếp tục hoàn thiện lý luận về đường lối đổi mới và con đường đi lên CNXH của cách mạng Việt Nam. Trong đó, chính ý chí, quyết tâm chính trị và tấm gương mẫu mực của tác giả đã tự có tính nêu gương và sức mạnh lan tỏa, quy tụ cả hệ thống chính trị, cùng toàn xã hội chung sức, đồng lòng thực hiện.

Để lan tỏa giá trị của cuốn sách quý đến đông đảo bạn đọc, các tầng lớp nhân dân và cán bộ, đảng viên..., song song với việc xuất bản sách giấy truyền thống, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật đã xuất bản phiên bản điện tử cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”. Nhằm giúp cho cán bộ, đảng viên và Nhân dân trên địa bàn tỉnh An Giang dễ dàng tiếp cận bản điện tử cuốn sách này, Cổng Thông tin điện tử Đảng bộ tỉnh An Giang trân trọng giới thiệu bản điện tử của cuốn sách, xin mời nhấn vào địa chỉ sau: SACH-TBT-NPT.pdf

Ngọc Hân

FalseĐưa Nghị quyết vào cuộc sống
Đảng là mùa Xuân của dân tộc!Bài viếtTTCTTTĐảng là mùa Xuân của dân tộc!https://www.angiang.dcs.vn/Imagesnews/2020-01/Vao-xuan_Key_24012020223256.jpg

NGUYỄN HỮU THỊNH

30/01/2022 9:00 CHYesĐã ban hành

(TUAG)- Một mùa Xuân mới - Xuân Nhâm Dần 2022 đang về trên khắp các nẻo đường của dải đất hình chữ S - Tổ quốc Việt Nam. Và có một sự tình cờ rất đặc biệt với người dân Việt Nam, đó là cứ mỗi độ xuân về cả dân tộc lại hân hoan chào đón kỷ niệm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Mùa xuân với Đảng, Đảng với mùa xuân đã trở thành một cặp song hành với sự ngưỡng mộ, tin yêu và chào đón của mỗi người con đất Việt. Cứ mỗi độ xuân về, chúng ta lại thốt lên tự trái tim mình: MỪNG ĐẢNG, MỪNG XUÂN.


Trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đất nước ta chìm trong đêm đen nô lệ bởi kẻ thù xâm lược. Nhân dân ta liên tiếp nổi dậy chống ách áp bức bóc lột của thực dân cướp nước và phong kiến tay sai. Các phong trào diễn ra mạnh mẽ, tràn đầy khí phách bất khuất và sáng ngời tinh thần yêu nước, nhưng tất cả đều không thành công, vì thiếu một đường lối đúng. Trong bối cảnh ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh với lòng yêu nước cháy bỏng, đã bôn ba khắp thế giới để tìm đường cứu nước, cứu dân, và Người đã tìm thấy ở chủ nghĩa Mác - Lênin con đường giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Ngày 3-2-1930, dưới sự chủ trì của Người, các tổ chức cộng sản ở Việt Nam khi đó (Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn) đã họp Hội nghị hợp nhất thành một Đảng thống nhất lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam.

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời với Cương lĩnh chính trị đầu tiên đã mở ra thời kỳ mới cho cách mạng Việt Nam - thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội. Cương lĩnh đầu tiên của Đảng ra đời, đã xác định được những nội dung cơ bản nhất của con đường cách mạng Việt Nam; đáp ứng được những nhu cầu bức thiết của lịch sử và trở thành ngọn cờ tập hợp, đoàn kết thống nhất các tổ chức cộng sản, các lực lượng cách mạng và toàn thể dân tộc. Từ đây "Đảng ta đã giương cao ngọn cờ cách mạng, đoàn kết và lãnh đạo toàn dân ta tiến lên đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp. Màu cờ đỏ của Đảng chói lọi như mặt trời mới mọc, xé tan cái màn đen tối, soi đường lối cho nhân dân ta vững bước tiến lên con đường thắng lợi"[1].

Có lẽ chưa có dân tộc nào trên thế giới mà Nhân dân lại có một sự trân trọng, tự hào, tin yêu Đảng như dân tộc Việt Nam. Hai chữ "Đảng ta" thật thiêng liêng, khắc sâu trong tâm thức của các thế hệ người Việt Nam trong suốt 92 năm qua. Dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng đã tiến những bước dài chưa từng có trong lịch sử. Trong chặng đường lịch sử vẻ vang 92 năm qua, được Nhân dân tin yêu, ủng hộ, Đảng đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Dân tộc ta còn nhớ như in Mùa Xuân năm 1968 với lời thơ chúc Tết bất hủ, đồng thời cũng là lời hiệu triệu của Bác Hồ "Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!" như tiếp thêm sức mạnh, thúc giục miền Nam nổi dậy tiến công đồng loạt, làm "rung chuyển Lầu Năm góc"; miền Bắc nén đau thương, đánh bại siêu pháo đài bay B.52- niềm kiêu hãnh của không lực Hoa Kỳ, làm nên huyền thoại 12 ngày đêm "Điện Biên Phủ trên không" trên bầu trời Hà Nội, buộc Mỹ phải ký vào Hiệp định Pa-ri mùa Xuân năm 1973, tạo bước ngoặt để Mùa Xuân năm 1975, dưới sự lãnh đạo của Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiến hành cuộc tổng tiến công và nổi dậy, mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, đưa dân tộc ta bước vào một mùa Xuân bất tận - cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Thực tiễn phong phú của cách mạng Việt Nam trong suốt 92 năm qua đã chứng minh rằng, sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng nước ta. Đảng không có lợi ích nào khác ngoài việc phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân. Đồng thời, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta được tôi luyện, thử thách và không ngừng trưởng thành, dày dạn kinh nghiệm để ngày càng xứng đáng với vai trò và sứ mệnh lãnh đạo cách mạng, xứng đáng với sự tin cậy của Nhân dân.


Dân tộc ta không chỉ tự hào về Đảng quang vinh, Bác Hồ vĩ đại mà chính Đảng và Bác Hồ đã tiếp thêm sức mạnh, nguồn sống và niềm tin cho cả dân tộc Việt Nam. Mùa Xuân năm Canh Tý, ngày 5-1-1960, tại lễ kỷ niệm 30 năm thành lập Đảng, Bác Hồ đã có bài nói quan trọng nêu bật truyền thống đấu tranh cách mạng của dân tộc ta, sự vĩ đại của Đảng ta: "Với tất cả tinh thần khiêm tốn của người cách mạng, chúng ta vẫn có quyền nói rằng: Đảng ta thật là vĩ đại!"[2]. Trước khi kết thúc bài nói chuyện, Bác Hồ dẫn mấy câu thơ:

"Đảng ta vĩ đại như biển rộng, như núi cao,

 Ba mươi năm phấn đấu và thắng lợi biết bao nhiêu tình.

 Đảng ta là đạo đức, là văn minh,

 Là thống nhất, độc lập, là hòa bình ấm no.

 Công ơn Đảng thật là to,

 Ba mươi năm lịch sử Đảng là cả một pho lịch sử bằng vàng"[3].

Nhìn lại chặng đường vẻ vang, mỗi người dân Việt Nam càng tự hào về Đảng quang vinh và Bác Hồ vĩ đại. Và chính Bác Hồ là đỉnh cao của đạo đức và văn minh! Là hình ảnh tuyệt đẹp về mối liên hệ mật thiết, gắn bó giữa Đảng với Nhân dân. Sức mạnh của Đảng chính là đại đoàn kết toàn dân, là sự gắn bó máu thịt với Nhân dân. 92 năm qua, "ý Đảng, lòng Dân" hòa quyện, gắn bó chặt chẽ với nhau, tạo nên mùa Xuân với Đảng, Đảng với mùa Xuân. Đó là niềm tin và lẽ sống, trở thành vũ khí bách chiến, bách thắng trước mọi khó khăn, thử thách.

Xuân Nhâm Dần - 2022, Đảng ta có 92 mùa xuân đồng hành với dân tộc, Đảng đã lãnh đạo con thuyền cách mạng vượt bao chông gai, thử thách, giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Những trang sử vàng của dân tộc Việt Nam 92 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhân dân ta có quyền tự hào với một niềm tin mãnh liệt: Chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam mới đem lại những mùa Xuân cho đất nước, sức Xuân của lòng người. Một mùa Xuân mới đã về. Với bản chất bản lĩnh chính trị được rèn luyện qua 92 mùa Xuân, với sức sáng tạo luôn tươi mới như "chồi non, lộc biếc", chúng ta có quyền tự hào và tin tưởng rằng Đảng sẽ lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách phía trước, sớm chiến thắng đại dịch COVID-19, chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua mọi thác ghềnh để cập bến vinh quang, hạnh phúc./.

NGUYỄN HỮU THỊNH

___________________

[1] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb chính trị quốc gia  - sự thật, tập 12, H.2011, trang 401.

[2] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb chính trị quốc gia  - sự thật, tập 12, H.2011, trang 400.

[3] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb chính trị quốc gia  - sự thật, tập 12, H.2011, trang 403 - 404.

True
Vững mãi một niềm tin với Đảng Bài viếtNgọc HânVững mãi một niềm tin với Đảng /SiteAssets/MungDang-mungXuan-2022.jpg
30/01/2022 4:30 CHYesĐã ban hành

(TUAG)- 92 năm, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhân dân Việt Nam đã tiến những bước mạnh mẽ và vững chắc trên con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Khẳng định niềm tin vững chắc vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhân dân Việt Nam gọi Đảng với sự yêu mến và thân thương nhất là Đảng ta, hai chữ Đảng ta nói lên mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với Nhân dân. Đảng coi cách mạng là sự nghiệp của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; ngược lại, Nhân dân coi Đảng là chính đảng của chính mình.

MungDang-mungXuan-2022.jpg

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nước ta đã đạt được những thành tựu vô cùng to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân vững chắc, xây dựng nền ngoại giao “đa phương hóa, đa dạng hóa” đủ sức bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và phát triển đất nước.

Cũng từng ấy năm đi qua, kể từ đầu tháng 4 năm 1930, Chi bộ Long Điền (Chợ Mới)- Chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam đầu tiên của An Giang ra đời đã tạo ra một bước ngoặt cho phong trào cách mạng An Giang tiến lên một bước mới vô cùng quan trọng, hòa nhịp và có ý nghĩa lớn đối với phong trào cách mạng cả nước. Đến nay, Đảng bộ An Giang đã có 16 đảng bộ trực thuộc (11 đảng bộ huyện, thị, thành phố và 5 đảng bộ khối, ngành, Trường Đại học An Giang), với trên 65.000 đảng viên. Hơn 90 năm qua,  Đảng bộ và Nhân dân tỉnh nhà luôn đoàn kết, phát huy trí tuệ, bản lĩnh vượt qua biết bao gian nan, thử thách; phấn đấu giành được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên tất cả các lĩnh vực.

Kết quả, từ một tỉnh đứng trước ngưỡng thiếu lương thực với sản lượng lúa khoảng 848 ngàn tấn (năm 1986) đến có dư thừa để xuất khẩu, đạt trên mức 02 triệu tấn lần đầu tiên vào năm 1996, trên mức 03 triệu tấn vào năm 2007 và hiện nay là một trong những tỉnh có sản lượng lúa đứng đầu cả nước. Vui mừng phấn khởi hơn, ngày 18/01 vừa qua, nhà máy gạo Hạnh Phúc của Tập đoàn Tân Long – nhà máy gạo lớn nhất châu Á với 100% công nghệ nhập khẩu từ châu Âu, tổng công suất gạo thành phẩm đạt 1.000 tấn/ngày được khánh thành tại An Giang.

Kinh tế - xã hội của tỉnh phát triển khá rõ nét, tốc độ tăng trưởng kinh tế GRDP của tỉnh tăng dần qua từng năm; thu hút đầu tư ở các lĩnh vực mũi nhọn ngày càng hiệu quả, cụ thể hàng loạt tập đoàn lớn như: T&T, Tân Long, Sao Mai, TH, Việt Úc, THACO và Nam Việt … đã lần lượt về An Giang “làm tổ” với những dự án điển hình…; thu nhập bình quân đầu người được cải thiện, đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân ngày càng được nâng lên. Năm 2021, thu ngân sách từ kinh tế địa bàn đạt 6.923 tỷ đồng (vượt kế hoạch 60 tỷ đồng); tỷ lệ đô thị hóa đạt 40% (đạt chỉ tiêu); 66,5% lao động được đào tạo so với tổng số lao động đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân (đạt chỉ tiêu). Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm bình quân 1% (đạt chỉ tiêu). Các lĩnh vực văn hóa, y tế, giáo dục, khoa học và công nghệ có sự chuyển biến tích cực. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” ngày càng đi vào thực chất. Có thêm 9 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao (vượt chỉ tiêu 4 xã), nâng tổng số toàn tỉnh có 20 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao; 20% cơ quan nhà nước các cấp hoàn thiện chính quyền điện tử (đạt chỉ tiêu);…tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị bước đầu được sắp xếp, kiện toàn và nâng cao chất lượng hoạt động; quốc phòng - an ninh, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; công tác đối ngoại và hợp tác quốc tế ngày càng mở rộng, hiệu quả... tạo tiền đề cho sự phát triển của tỉnh ở giai đoạn tiếp theo.

Cùng với tập trung phát triển kinh tế-xã hội, đảm bảo vững chắc an ninh-quốc phòng, Tỉnh ủy luôn quan tâm công tác xây dựng Đảng bộ thực sự đoàn kết, trong sạch, vững mạnh; đặc biệt quan tâm thực hiện tốt các nghị quyết về xây dựng Đảng, gần đây là thực Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII, XIII; gắn với thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về “đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”.

Ban Thường vụ Tỉnh uỷ luôn yêu cầu các cấp, các ngành, mỗi cán bộ đảng viên lựa chọn những việc trọng tâm, bức xúc, nổi cộm, được dư luận Nhân dân quan tâm để giải quyết; phân công trách nhiệm, lộ trình cụ thể gắn với tăng cường kiểm tra, giám sát… Qua đó, các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” được nhận dạng rõ hơn, giúp các cấp uỷ và từng cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt tự tu dưỡng, rèn luyện và nghiêm túc sửa chữa, khắc phục khuyết điểm. Một số vụ việc phức tạp, bức xúc kéo dài được tập trung giải quyết dứt điểm, tạo sự đồng tình, niềm tin trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân. Phần lớn các tổ chức và cá nhân cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, các ngành giữ vững lập trường chính trị, đạo đức, lối sống, an tâm công tác, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của địa phương.

Những thắng lợi trên, là minh chứng hùng hồn cho sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, là sự gắn bó máu thịt giữa Đảng với Nhân dân. 92 năm qua, “ý Đảng, lòng Dân” hòa quyện, gắn bó chặt chẽ với nhau, tạo nên mùa Xuân với Đảng, Đảng với mùa Xuân. Đó là niềm tin và lẽ sống, trở thành vũ khí bách chiến, bách thắng trước mọi khó khăn, thử thách của Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân An Giang.

Trong thời gian tới đây, đặc biệt là năm 2022, An Giang đang chuẩn bị kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự đồng lòng của Nhân dân và trên nền tảng “Phát huy truyền thống văn hóa, con người An Giang - quê hương Chủ tịch Tôn Đức Thắng”, Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân An Giang quyết tâm phấn đấu, đoàn kết một lòng, thi đua xây dựng quê hương Bác Tôn ngày càng giàu đẹp - văn minh!

 NGỌC HÂN

TrueChính trị
Mãi mãi sáng ngời danh hiệu tiên phong!Bài viếtTrung ThànhMãi mãi sáng ngời danh hiệu tiên phong!/SiteAssets/Mungdang-mungxuan.jpg
28/01/2022 3:00 CHYesĐã ban hành

(TUAG)- Lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc ta đã chứng minh chủ nghĩa yêu nước là truyền thống cực kỳ quý báu. Nhưng do khi thịnh, lúc suy, cá biệt xuất hiện những trường hợp "mãi quốc cầu vinh", "cõng rắn cắn gà nhà", "rước voi giày mả tổ"… Bọn chúng khom lưng, cúi đầu làm tay sai cho giặc, để "vinh thân phì gia", hưởng chút bơ thừa, sữa cặn…: "Lũ bán nước lột da dân nước/Tan mồ cha cũng rước voi giày"…

Mungdang-mungxuan.jpg

Từ cuối thế kỷ XIX, nước ta từ một quốc gia phong kiến độc lập trở thành thuộc địa của thực dân Pháp. Nhân dân ta từ Nam chí Bắc đã hăng hái tham gia các cuộc khởi nghĩa và các phong trào kháng Pháp. Quá trình đấu tranh diễn ra liên tục và mạnh mẽ: Non một thế kỷ, hơn ba trăm cuộc khởi nghĩa, nhưng do thiếu đường lối đúng đắn, tất cả đều không thành. Cách mạng Việt Nam chìm trong cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lối: "Kiếp người cơm vãi cơm rơi/Biết đâu nẻo đất phương trời mà đi!".

Trước cảnh "trời sầu, đất thảm" đó, ngày 05/6/1911 người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã ra đi tìm đường cứu nước. Anh Nguyễn sinh ra tại vùng quê, xưa thuộc "Hoan Châu"; là nơi thường được gọi là "đất phên dậu", "địa linh nhân kiệt"… Gia đình Anh là nơi nhiều sĩ phu lui tới luận bàn thế sự, Người kể: "Nhân dân Việt Nam trong đó có ông cụ thân sinh ra tôi, lúc này thường tự hỏi nhau ai sẽ là người giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp. Người này nghĩ là Anh, có người lại cho là Mỹ. Tôi thấy phải đi ra nước ngoài xem cho rõ. Sau khi xem xét họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi"... Năm 1925, cụ Phan cũng đã kể: "… Nhớ lại hai mươi năm trước, khi đến nhà cháu uống rượu, gõ án ngâm thơ, anh em cháu đều chưa thành niên, lúc đó Phan Bội Châu này đâu có ngờ rằng cháu sẽ trở thành một tiểu anh hùng như thế này".

Ròng rã nhiều năm tìm kiếm, học hỏi; đặc biệt là đã đến ba nước đế quốc lớn là Mỹ, Anh và Pháp… Đây là những năm tháng "thấm dầy thực tiễn", giúp Anh tự mình đi đến kết luận: "Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột". Đầu năm 1919, Người tham gia Đảng Xã hội Pháp. Tháng 7/1920, sau khi đọc bản "Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa" của Lênin, Nguyễn Ái Quốc đã: "sáng tỏ" nhiều điều và khẳng định: "Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta". Cuối tháng 12/1920, Nguyễn Ái Quốc tham dự Đại hội lần thứ 18 Đảng Xã hội Pháp và trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Từ đó, vừa tiếp tục hoạt động trong Đảng Cộng sản Pháp, Người vừa tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam.

Khác với sự đơm đặt của bọn cơ hội chính trị: Chính hai Cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh đều nói rằng, con đường các cụ đi "một trăm thất bại không một thành công". Cuối đời cụ Sào Nam nói: "Hiện nay đã có người khác giỏi hơn lớp chúng tôi nhiều đứng ra đảm đương công việc để làm tròn cái việc mà lớp chúng tôi không làm xong. Đó là Nguyễn Ái Quốc"… Còn trong một bức thư gởi cho Nguyễn Ái Quốc, cụ Phan Châu Trinh tự thán: "… thân tôi như con ngựa già hết nước kiệu, phi nước tế…", cuối thư, Cụ vui mừng cho rằng Nguyễn Ái Quốc "như cây đương lộc, nghị lực có thừa, dày công học hành, lý thuyết tinh thông" và Cụ tin: "không bao lâu nữa cái chủ nghĩa mà Nguyễn tôn thờ (ý nói chủ nghĩa Mác - Lênin) sẽ thâm căn cố đế (sâu rễ bền gốc) trong đám dân tình chí sĩ nước ta". Cụ Tây Hồ tuy không phải là người cộng sản nhưng trong thư ngày 30/6/1922 gửi Ulysse Leriche, báo L'Humanité, Cụ viết: "Mặc dầu tôi ở ngoài Đảng, nhưng tôi luôn đồng ý và tôn trọng những châm ngôn của Đảng rất là hợp lý, quảng đại và nhân đạo".

Sau khi trưởng thành vượt bậc về lý luận chính trị, Nguyễn Ái Quốc khẳng định, để làm cách mạng "Trước hết phải có đảng cách mệnh... Đảng có vững cách mệnh mới thành công... Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt". "Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin". Chính nhờ hoạt động không mệt mỏi của Người và nhiều nhà cách mạng tiền bối mà đến Xuân Canh Ngọ 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra đời với một Cương lĩnh đúng đắn; mở ra thời kỳ mới cho cách mạng Việt Nam - thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Bác Hồ tổng kết: "Từ ngày mới ra đời, Ðảng ta liền giương cao ngọn cờ cách mạng, đoàn kết và lãnh đạo toàn dân ta tiến lên đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp. Mầu cờ đỏ của Ðảng chói lọi như mặt trời mới mọc, xé tan cái màn đen tối, soi đường dẫn lối cho nhân dân ta vững bước tiến lên".

Suốt hơn 90 năm qua, Đảng ta đã xác lập, củng cố và ngày càng nâng cao vai trò lãnh đạo, sức mạnh và uy tín của Đảng bằng chính bản lĩnh, nghị lực, trí tuệ, lý luận tiên phong; bằng đường lối đúng đắn mang lại lợi ích thiết thân cho nhân dân, cho đất nước; bằng sự nêu gương, hy sinh quên mình, phấn đấu không mệt mỏi của đội ngũ cán bộ, đảng viên; bằng một tổ chức đoàn kết, thống nhất chặt chẽ, vững chắc; bằng mối liên hệ máu thịt với Nhân dân, được Nhân dân hết lòng tin yêu, ủng hộ và bảo vệ.

Dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, Nhân dân ta đã giành được hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, lập nên những kỳ tích trong thế kỷ XX; trong thời kỳ đổi mới, Đảng tiếp tục lãnh đạo Nhân dân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay.

Chúng ta tin tưởng vững chắc rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ tiếp tục hoàn thành xuất sắc trọng trách của mình. Lịch sử ngày càng lùi xa, chúng ta ngày càng tự hào về bản chất tốt đẹp, truyền thống anh hùng và lịch sử vẻ vang của Đảng ta- lực lượng tiên phong, người đại biểu trung thành của dân tộc Việt Nam ngàn năm văn hiến.

"Mùa xuân đó, con chim én mới
Rộn đồng chiêm, chấp chới trời xanh
Đời ta gương vỡ lại lành
Cây khô cây lại đâm cành nở hoa"./.

Trung Thành

True
Quyết tâm thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng trên địa bàn tỉnhBài viếtTTCTTTQuyết tâm thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng trên địa bàn tỉnh/SiteAssets/daihoixiii-13.jpg
27/01/2022 11:00 SANoĐã ban hành

(TUAG)- Công tác nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng để mỗi cán bộ, đảng viên, Nhân dân hiểu sâu sắc những nhiệm vụ trọng tâm của Nghị quyết nhằm tạo sự thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội, là nhiệm vụ rất quan trọng, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị.

daihoixiii-13.jpg

Nhận thức rõ công tác tổ chức học tập, quán triệt, tuyên truyền, triển khai nghị quyết là khâu đầu tiên, quan trọng, tạo tiền đề đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống. Ngay sau khi Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 01-CT/TW, ngày 09/3/2021, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành Kế hoạch số 08-KH/TU, ngày 25/3/2021 về việc nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Trong 02 ngày, từ ngày 27 đến ngày 28/3/2021, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã phối hợp tổ chức “Hội nghị trực tuyến toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng” với 153 điểm cầu, 10.417 đại biểu tham dự. Song song đó, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy ban hành Hướng dẫn số 14-HD/BTGTU, ngày 07/4/2021 về nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.
Trên cơ sở Kế hoạch, Hướng dẫn của tỉnh, các địa phương, đơn vị đã chủ động xây dựng kế hoạch tổ chức nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Trong đó, nhiều địa phương tổ chức học tập theo hình thức trực tuyến từ cấp huyện đến cơ sở, góp phần đảm bảo tiến độ. Tính đến đầu tháng 12/2021, hầu hết các địa phương, đơn vị cơ bản quán triệt xong trong toàn đảng bộ với 1.289 lớp, 61.074/64.457 đảng viên tham dự, đạt tỷ lệ 94,75%. Cùng với việc tổ chức học tập, việc xây dựng chương trình hành động được các cấp ủy quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện, chủ động bám sát những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo nêu trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Chương trình hành động của Tỉnh ủy gắn với chức năng, nhiệm vụ; phù hợp với đặc điểm, tình hình địa phương, cơ quan, đơn vị; bảo đảm rõ mục tiêu, nhiệm vụ trước mắt và thường xuyên, lâu dài. Việc xây dựng chương trình hành động kịp thời hoàn thành ngay sau khi học tập, quán triệt.
Bên cạnh kết quả đạt được, do tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, các cấp ủy phải tập trung chống dịch nên công tác tổ chức triển khai, quán triệt Nghị quyết chưa đảm bảo tiến độ thời gian theo quy định; việc ban hành chương trình hành động thực hiện Nghị quyết chậm tiến độ; công tác tuyên truyền Nghị quyết cũng gặp nhiều khó khăn; công tác theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, giám sát có nơi chưa thường xuyên.
Qua thực tế tình hình, để Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng thấm sâu vào cuộc sống, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị, các cấp, các ngành cần quan tâm thực hiện tốt những nhiệm vụ như:
Tiếp tục xác định rõ việc học tập, quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết là công tác thường xuyên, cơ bản, phải được thực hiện trong cả nhiệm kỳ. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kịp thời chấn chỉnh, uốn nắn những trường hợp nhận thức chưa đúng, chưa đầy đủ; chủ động định hướng dư luận, tạo sự đồng thuận tích cực trong xã hội; phát hiện, nhân rộng các cách làm hay, mô hình hiệu quả trong quá trình quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết qua đó khắc phục tình trạng có nghị quyết đúng nhưng cách triển khai chưa đúng, chưa trúng, kém hiệu quả. Cùng với đó, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.
Trên cơ sở Chương trình hành động số 07-CTr/TU, ngày 13/8/2021 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, các cấp ủy khẩn trương xây dựng, ban hành chương trình hành động thực hiện các Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng ở cấp mình. Trong đó, chú trọng đánh giá những tác động lớn đến kinh tế - xã hội, đến công tác xây dựng Đảng và các mặt đời sống xã hội do tình hình dịch Covid-19 thời gian qua để rà soát bổ sung vào chương trình hành động của cấp mình, đảm bảo có tính khả thi, phù hợp tình hình thực tiễn tại địa phương, đơn vị mình. Đặc biệt, quán triệt sâu sắc tinh thần chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại phiên bế mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng là “Không phải Đại hội xong là coi như xong. Đây chỉ là mở đầu. Làm được hay không, có biến Nghị quyết thành hiện thực sinh động hay không, có làm ra của cải vật chất, mang lại giàu có và hạnh phúc cho Nhân dân hay không mới là thành công thực tế của Đại hội”.
Phát động phong trào thi đua sâu rộng, động viên các tầng lớp nhân dân đồng lòng, chung sức, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, nỗ lực cao nhất cùng với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phấn đấu đạt được các mục tiêu đã đề ra, chuyển hóa những quyết sách lớn trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng thành hiện thực sinh động trong đời sống xã hội.

TTCTTT - 01/2022

FalseĐưa Nghị quyết vào cuộc sống
Công tác Dân vận của Đảng không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả thiết thực đáp ứng yêu cầu trong tình hình mớiTinNguyễn ToànCông tác Dân vận của Đảng không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả thiết thực đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới/SiteAssets/DVTW-tongket21-4.jpg
13/01/2022 5:00 CHNoĐã ban hành

(TUAG)- Đó là phát biểu nhấn mạnh của đồng chí Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư trong Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác Dân vận và đánh giá kết quả thực hiện năm "đẩy mạnh thực hiện quy chế dân chủ cơ sở" năm 2021, triển khai nhiệm vụ 2022 do Ban Dân vận Trung ương tổ chức vào sáng ngày 13/01/2022 (bằng hình thức trực tuyến).

Tại điểm cầu Trung ương còn có đồng chí Bùi Thị Minh Hoài, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Dân vận Trung ương, cùng đại diện lãnh đạo các bộ, ban, ngành Trung ương tham dự.

 DVTW-tongket21-1.jpg

Tại điểm cầu tỉnh, có đồng chí Võ Nguyên Nam, Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng Ban Dân vận Tỉnh ủy; đồng chí Lê Văn Phước, Ủy viên Ban Thường vụ, Phó Chủ tịch UBND tỉnh tham dự hội nghị.

Năm 2021, trong bối cảnh dịch bệnh diễn biến phức tạp, dưới sự lãnh đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp ủy các cấp cùng với sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, công tác dân vận tiếp tục đổi mới về nội dung, phương thức. Các cấp ủy, tổ chức Đảng quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo việc quán triệt, triển khai thực hiện nội dung công tác dân vận theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Nghị quyết đại hội Đảng các cấp gắn với thực hiện Quyết định số 23-QĐ/TW, ngày 30/7/2021 của Bộ Chính trị về việc ban hành Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị, Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 03/6/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới. Tập trung tuyên truyền vận động nhân dân tham cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021 – 2026 đạt kết quả cao. Vận động nhân dân tích cực hưởng ứng thực hiện các biện pháp phòng chống dịch; huy động nguồn lực xã hội tham gia vào công tác phòng chống dịch; hệ thống dân vận đã có nhiều cách làm hay, sáng tạo, hình thành nhiều mô hình phòng chống dịch thiết thực.

 DVTW-tongket21-2.jpg

Chính quyền các cấp quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công tác dân vận chính quyền, nhất là triển khai thực hiện các chính sách an sinh xã hội, hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch; tăng cường thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở; đối thoại với nhân dân và đẩy mạnh cải cách hành chính. Các chủ trương, chính sách về công tác dân tộc, tôn giáo được các cấp tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện. Lực lượng vũ trang phát huy tốt vai trò nòng cốt trong phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, bảo vệ chủ quyền đất nước, là lực lượng tuyến đầu trong công tác phòng chống dịch bệnh. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội tập trung phát động nhiều phong trào thi đua, các cuộc vận động, góp phần củng cố sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Công tác dân vận của hệ thống chính trị đã góp phần quan trọng trong việc phát huy dân chủ, tăng cường sự đồng thuận trong Nhân dân, hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh.

 DVTW-tongket21-3.jpg

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác dân vận năm 2021 vẫn còn một số khó khăn, hạn chế nhất định. Tại hội nghị, Ban Dân vận Trung ương cũng đã đề ra nhiều giải pháp, nhiệm vụ để triển khai thực tốt hơn trong thời gian tới.

Năm 2022, dự báo tình hình thế giới, trong nước bên cạnh những thuận lợi còn có những khó khăn, thách thức đan xen, đặc biệt là tình hình dịch bệnh vẫn còn diễn biến phức tạp sẽ tác động đến nhiều mặt, nhất là đến sự phát triển kinh tế - xã hội, đời sống nhân dân. Bên cạnh đó, các thế lực thù địch cũng không ngừng gia tăng các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước… phần nào ảnh hưởng đến tư tưởng, tâm trạng của các tầng lớp nhân dân. Do đó, công tác dân vận của Đảng sẽ gặp khó khăn hơn trong thời gian tới.

 DVTW-tongket21-4.jpg

Đồng chí Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư đã đề nghị ngành dân vận các cấp cần tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp, trong đó, đặc biệt là phải tiếp tục, không ngừng đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao chất lượng hoạt động, tạo sự chuyển biến thật sự trong nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy đảng và cả hệ thống chính trị đối với công tác dân vận của Đảng theo hướng thiết thực gắn bó mật thiết với cuộc sống nhân dân; lấy chất lượng cuộc sống, sự hài lòng và tín nhiệm của nhân làm tiêu chí quan trọng để đánh giá; phải nâng cao chất lượng, quan tâm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ ngành dân vận các cấp đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới…

Nguyễn Toàn

FalseĐưa Nghị quyết vào cuộc sống
 Ngành Tuyên giáo An Giang - nỗ lực gặt hái thêm nhiều thành tựu mới trong năm 2022 Bài viếtNgọc Hân Ngành Tuyên giáo An Giang - nỗ lực gặt hái thêm nhiều thành tựu mới trong năm 2022 /SiteAssets/HN-Tket-ctac-TG-2021-5.jpg
06/01/2022 1:45 CHYesĐã ban hành

(TUAG)- Là phát biểu thể hiện sự quyết tâm nỗ lực phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm 2022 của người đứng đầu ngành Tuyên giáo An Giang - đồng chí Trần Thị Thanh Hương, Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh tại Hội nghị tổng kết công tác Tuyên giáo năm 2021, triển khai nhiệm vụ năm 2022 tổ chức vào sáng ngày 06/01.

 HN-Tket-ctac-TG-2021-5.jpg

Năm 2021 - trước tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp, nhưng trên cơ sở định hướng của Ban Tuyên giáo Trung ương và bám sát sự chỉ đạo của cấp ủy, hệ thống Tuyên giáo các cấp trong tỉnh đã nêu cao tinh thần trách nhiệm, tích cực nghiên cứu đổi mới nội dung, nâng cao chất lượng hoạt động. Công tác Tuyên giáo tỉnh nhà đã góp phần tích cực vào việc ổn định tình hình chính trị, tư tưởng, vào thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh - tạo tiền đề quan trọng để toàn ngành Tuyên giáo An Giang triển khai thực hiện đạt kết quả cao trong năm 2022.

Phát biểu kết luận Hội nghị, đồng chí Trần Thị Thanh Hương, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy nhận định năm 2022, nhiệm vụ đặt ra cho ngành Tuyên giáo ngày càng nặng nề với yêu cầu ngày càng cao, nhất là khi tình hình dịch bệnh còn diễn biến phức tạp. Tình hình mới, yêu cầu mới đòi hỏi công tác Tuyên giáo phải tiếp tục chủ động đổi mới, sáng tạo; thích ứng linh hoạt, hiệu quả và nâng cao hơn nữa tính thiết thực, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Xuất phát từ tình hình thực tiễn; căn cứ hướng dẫn của Ban Tuyên giáo Trung ương; ý kiến chỉ đạo của Thường trực Tỉnh ủy, đồng chí đề nghị toàn ngành Tuyên giáo tỉnh cần lưu ý, quan tâm, tập trung thực hiện các nội dung:

Thứ nhất, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, phản tuyên truyền

Theo đồng chí, làm tốt công tác tuyên truyền cũng chính là làm tốt công tác phản tuyên truyền - góp phần đấu tranh phản bác với các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Đồng chí đề nghị, trong thời gian tới, ngành Tuyên giáo sẽ tiếp tục phát huy hiệu quả việc phối hợp giữa ban tuyên giáo các cấp với các ngành liên quan theo Quy định 238-QĐ/TW của Ban Bí thư. Qua đó, tăng cường phối hợp đồng bộ, nhịp nhàng, hiệu quả với các ngành, các cấp từ Trung ương, đến các sở, ngành tỉnh và đến tận các địa phương, cơ sở - phát huy sức mạnh, huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị cùng làm tốt công tác tư tưởng.

Tiếp tục triển khai thực hiện tốt Đề án 07-ĐA/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy trên cơ sở tăng cường đổi mới, tích cực ứng dụng công nghệ thông tin - nâng cao chất lượng hiệu quả công tác dư luận xã hội. Trên cơ sở kịp thời nắm bắt tình hình tư tưởng dư luận xã hội; kịp thời phản ánh những vấn đề bức xúc, nổi cộm mà cán bộ, đảng viên và Nhân dân đang quan tâm cho cấp ủy để kịp thời chỉ đạo, định hướng tư tưởng - đóng góp tích cực vào công tác xây dựng Đảng, phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh. Làm cho công tác Tuyên giáo ngày càng bám sát thực tiễn, góp phần quan trọng tạo sự thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận xã hội, củng cố, nâng cao niềm tin của cán bộ, đảng viên và Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước.

Tham mưu cấp ủy kịp thời chỉ đạo, định hướng tuyên truyền thông qua việc đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp phong phú, đa dạng - với mục tiêu tăng cường hướng về cơ sở; kịp thời, ngắn gọn, sát với tình hình thực tiễn; phù hợp với đối tượng - làm cho thông tin thực sự lan tỏa sâu rộng trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân.

Việc thông tin kịp thời, chất lượng là điều kiện quan trọng để định hướng tư tưởng và dư luận. Trong bối cảnh thông tin đa chiều, đa diện, nhiều loại hình và phương thức thông tin; cùng với hệ thống Tuyên giáo, các cơ quan báo chí, lực lượng báo cáo viên, tuyên truyền viên, lực lượng Ban Chỉ đạo 35... đóng vai trò quan trọng trong việc góp phần kịp thời chuyển tải thông tin chính thống mang tính thời sự, vừa đáp ứng nhu cầu thông tin, vừa định hướng tư tưởng chính trị trước những vấn đề phức tạp, nhạy cảm - nhất là trước tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp. Theo đồng chí Trần Thị Thanh Hương, đây là vấn đề cần tiếp tục phát huy trong thời gian tới.

Thứ hai, đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh

Căn cứ vào Kế hoạch của Ban Thường vụ Tỉnh ủy thực hiện Kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW; năm 2022, Trung ương không xây dựng chuyên đề mà giao cho các địa phương chủ động xây dựng. Xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ tại địa phương, Ban Thường vụ Tỉnh ủy xác định sẽ triển khai Chuyên đề về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh năm 2022 trên địa bàn tỉnh với chủ đề: "Xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên thật sự tiên phong, gương mẫu, đủ phẩm chất, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ". Trong tháng 01/2022, tỉnh sẽ tổ chức triển khai và theo kế hoạch việc triển khai trên địa bàn tỉnh sẽ hoàn thành trong quý I/2022. Đồng chí đề nghị, cấp ủy các địa phương quan tâm; đồng thời, chú trọng việc chỉ đạo lựa chọn nội dung ngắn gọn phù hợp đưa vào sinh hoạt Chi bộ định kỳ để đảng viên học và làm theo - góp phần đưa việc học tập và làm theo Bác trên địa bàn tỉnh ngày càng thiết thực, hiệu quả.

Đồng chí cũng nhấn mạnh, để việc học tập và làm theo Bác ngày càng đi vào thực chất, có 3 yêu cầu đặt ra: Quan tâm nghiên cứu đổi mới, nâng cao chất lượng việc quán triệt, triển khai các chuyên đề - sao cho thiết thực, hiệu quả hơn, trong đó chú trọng nâng cao chất lượng nội dung học tập và làm theo trong sinh hoạt chi bộ, gắn với tự phê bình và phê binh; gắn với việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 - tránh hình thức; Đổi mới, sáng tạo hơn trong xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch làm theo, cần xác định rõ khâu đột phá, góp phần giải quyết những vấn đề bức xúc đặt ra tại địa phương; Chú trọng nhiều hơn việc phát hiện song song với tuyên truyền gương điển hình trong thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW. Thông qua đó, kịp thời phát hiện, nhân rộng các gương điển hình tiến tiến, tôn vinh những giá trị văn hóa, đạo đức, những tấm gương người tốt việc tốt - góp phần nâng cao đạo đức xã hội, đấu tranh chống suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống; tích cực đấu tranh phòng, chống tham nhũng lãng phí, tiêu cực trên địa bàn tỉnh.


Thứ ba, nâng cao công tác Giáo dục lý luận chính trị, công tác Lịch sử Đảng

Đối với nội dung này, đồng chí đề nghị: Đổi mới biện pháp, cách thức triển khai quán triệt các chỉ thị, nghị quyết của Đảng; các chủ trương, chỉ đạo của cấp ủy địa phương - tùy vào nội dung, thành phần mà vận dụng hình thức trực tuyến, hay nội dung nào phải trực tiếp - nhưng đều phải đảm bảo nghiêm túc, chất lượng (không qua loa, hình thức).

Kịp thời tham mưu cấp ủy xây dựng kế hoạch, chương trình hành động gắn với việc triển khai thực hiện nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp, sát hợp với tình hình cụ thể tại địa phương, đơn vị - vấn đề quan trọng là phải quan tâm tổ chức thực hiện những nội dung đã đề ra.

Song song đó, tích cực tham mưu cấp ủy tăng cường kiểm tra, giám sát, đôn đốc việc triển khai thực hiện các mặt công tác xây dựng Đảng, nhất là thực hiện Kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với thực hiện Kết luận số 21-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị.

Cùng với Trường Chính trị Tôn Đức Thắng, đề nghị cấp ủy các địa phương quan tâm chỉ đạo Trung tâm chính trị các huyện đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục lý luận chính trị - gắn lý luận với thực tiễn; đưa việc bồi dưỡng lý luận chính trị, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên ngày càng đi vào nề nếp; góp phần từng bước khắc phục tình trạng lười học, ngại học lý luận chính trị trong cán bộ, đảng viên. Đây cũng là vấn đề thiết thực góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, góp phần xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và đạo đức.

Trong công tác Lịch sử Đảng, bên cạnh việc biên soạn lịch sử; một trong những yêu cầu đặt ra là quan tâm tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục lịch sử truyền thống trên địa bàn, nhất là đối với thế hệ trẻ. Thời gian qua, việc làm này chưa được quan tâm đúng mức. Đồng chí đề nghị các cấp ủy địa phương quan tâm hơn nữa vấn đề này trong thời gian tới.

Theo kế hoạch, trong quý I/2022, tỉnh sẽ tổ chức Hội thi giảng viên lý luận chính trị giỏi cấp tỉnh. Đây là đợt sinh hoạt về chuyên môn nghiệp vụ, nhằm nâng cao năng lực, kỹ năng giảng dạy lý luận chính trị của đội ngũ giảng viên đồng thời là dịp để các giảng viên giao lưu, trao đổi, học tập kinh nghiệm, thúc đẩy phong trào thi đua "dạy tốt, học tốt", góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy lý luận chính trị. Đồng chí đề nghị các địa phương quan tâm lựa chọn và tạo điều kiện tốt nhất để các giảng viên trung tâm chính trị huyện, thị, thành phố tham gia Hội thi.

Thứ tư, phát huy hiệu quả công tác Khoa giáo, Văn hóa - Văn nghệ

Năm 2022, ngành Tuyên giáo có trách nhiệm tham mưu sơ, tổng kết rất nhiều chỉ thị, nghị quyết trên lĩnh vực Khoa giáo như: Dạy nghề cho lao động nông thôn; công tác dân số; chăm sóc, giáo dục, bảo vệ trẻ em; chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân... Đề nghị các cấp ủy, các ngành, đơn vị quan tâm phối hợp: Không chỉ là tổng hợp báo cáo, nắm tình hình hoạt động, nắm số liệu mà cần quan tâm nghiên cứu, tổng kết thực tiễn - nâng cao hơn nữa chất lượng nội dung các báo cáo của các ngành trên lĩnh vực công tác Khoa giáo.

Vấn đề quan trọng là tham mưu đúng, trúng những vấn đề liên quan đến công tác Khoa giáo - là những vấn đề liên quan trực tiếp đến con người đang đặt ra trên từng địa bàn; từ đó, đề xuất phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả từng lĩnh vực cụ thể mà cán bộ, đảng viên và Nhân dân đang quan tâm. Thông qua làm tốt công tác Khoa giáo, góp phần tích cực vào việc phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương.

Trong lĩnh vực Văn hóa - Văn nghệ, làm tốt công tác Văn hóa chính là góp phần xây dựng đạo đức; xây dựng hình ảnh quê hương, con người An Giang.

Năm 2022, bên cạnh việc tổ chức kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh; Hội nghị văn hóa toàn quốc vừa qua, cùng với những chỉ đạo cụ thể trong thời gian tới của Trung ương sẽ đặt ra nhiều nhiệm vụ quan trọng, đòi hỏi toàn ngành Tuyên giáo cần bám sát để tập trung triển khai thực hiện.

Với bốn nhiệm vụ trên, trước mắt đồng chí Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Trần Thị Thanh Hương đề nghị trên cơ sở hướng dẫn của Ban Tuyên giáo Trung ương, nội dung chỉ đạo của đồng chí Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh Lê Văn Nưng, hệ thống Tuyên giáo các cấp trong tỉnh cần tiếp tục nghiên cứu, tìm ra nhiều giải pháp thiết thực, đồng thời sẽ bắt tay ngay vào cụ thể hóa, xác định những nội dung trọng tâm, để tập trung triển khai thực hiện ngay từ những ngày đầu, tháng đầu năm - góp phần gặt hái thêm nhiều thành tựu mới trong năm 2022./.

 NGỌC HÂN (tổng hợp)

TrueĐưa Nghị quyết vào cuộc sống
Phát huy truyền thống đoàn kết, nỗ lực, phấn đấu, cùng với Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh An Giang xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, văn minhBài viếtNgọc HânPhát huy truyền thống đoàn kết, nỗ lực, phấn đấu, cùng với Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh An Giang xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, văn minh/SiteAssets/Khaimac-DHPN-tinh-4.jpg
24/12/2021 11:00 SAYesĐã ban hành

(TUAG)- Dự Đại hội đại biểu Phụ nữ tỉnh An Giang lần thứ XI, nhiệm kỳ 2021-2026 vào sáng ngày 24/12, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Lê Hồng Quang có bài phát biểu quan trọng chỉ đạo Đại hội.

 

Đồng chí Lê Hồng Quang, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy phát biểu chỉ đạo Đại hội.

Đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Lê Hồng Quang đánh giá Đại hội đại biểu Phụ nữ tỉnh lần thứ XI diễn ra vào thời điểm Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân An Giang đang ra sức thi đua, thực hiện Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XI; trong bối cảnh còn nhiều khó khăn, thách thức, đặc biệt là tình hình dịch COVID-19 diễn biến phức tạp, ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế - xã hội và đời sống Nhân dân; các cấp, các ngành trong tỉnh đang tập trung chỉ đạo, thực hiện hiệu quả kế hoạch phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội trong điều kiện thích ứng an toàn với dịch COVID-19, từng bước đưa cuộc sống Nhân dân về trạng thái "Bình thường mới".

Nhìn lại nhiệm kỳ 5 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Ban Thường vụ Tỉnh ủy và Trung ương Hội LHPN Việt Nam, Ban Chấp hành Hội LHPN tỉnh đã không ngừng phát huy tinh thần đoàn kết, năng động, sáng tạo, đưa phong trào phụ nữ tỉnh phát triển. Thông qua phong trào thi đua "Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc" gắn với thực hiện "Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh", 02 Cuộc vận động "Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch", "Rèn luyện phẩm chất đạo đức: Tự tin, tự trọng, trung hậu, đảm đang" và 3 nhiệm vụ trọng tâm của Hội, đã tạo nên những phong trào thi đua sôi nổi, thiết thực, đóng góp công sức, trí tuệ vào sự phát triển của tỉnh nhà.

Với đức tính cần cù, sáng tạo, chịu thương chịu khó, các tầng lớp phụ nữ trong tỉnh đã và đang vượt qua những khó khăn, thách thức, nỗ lực phấn đấu trong học tập, lao động, công tác. Hoạt động Hội và phong trào phụ nữ có nhiều đổi mới, sáng tạo; nâng cao chất lượng hoạt động, hướng về cơ sở, tổ chức nhiều hoạt động thiết thực, có nhiều giải pháp hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp, mang lại hiệu quả kinh tế cao. Thực hiện tốt việc tuyên truyền, vận động hội viên tham gia nhiều mô hình hiệu quả, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới, góp phần quan trọng trong xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, xây dựng nền quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân vững chắc.

Đặc biệt, trong thời điểm dịch bệnh COVID-19 diễn biến phức tạp, toàn hệ thống Hội đã thể hiện vai trò, trách nhiệm cao với hàng ngàn cán bộ Hội và hội viên trực tiếp tham gia phòng, chống dịch; có nhiều mô hình hay, cách làm sáng tạo, với tinh thần không quản ngại khó khăn, chung sức, đồng lòng cùng toàn hệ thống chính trị của tỉnh trong cuộc chiến phòng, chống dịch,… một lần nữa khẳng định vai trò, trí tuệ, bản lĩnh, sự hy sinh của các thế hệ phụ nữ tỉnh nhà!

Những đóng góp của các cấp Hội đã góp phần quan trọng trong thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2015 - 2020, đồng thời đóng góp tích cực vào sự phát triển chung của tỉnh. Thay mặt Ban Thường vụ Tỉnh ủy, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Lê Hồng Quang nhiệt liệt chúc mừng, ghi nhận và biểu dương sự nỗ lực, cố gắng, những thành tích xuất sắc của cán bộ, hội viên và các tầng lớp phụ nữ trong tỉnh đã đạt được trong nhiệm kỳ qua.

Bên cạnh những thành tích đã đạt được, hoạt động Hội và phong trào phụ nữ các cấp vẫn còn một số hạn chế mà Ban Chấp hành Hội LHPN tỉnh khóa X đã nghiêm túc, thẳng thắn chỉ ra trong báo cáo. Với tinh thần trách nhiệm trước Đảng bộ và các cấp hội phụ nữ trong tỉnh,  đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Lê Hồng Quang đề nghị các đại biểu cần thảo luận, phân tích rõ nguyên nhân và đề ra giải pháp khắc phục nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả hoạt động trong thời gian tới.

Đồng chí Lê Hồng Quang, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy tặng bức trướng cho Đại hội.

Để triển khai có hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ công tác Hội phụ nữ trong nhiệm kỳ tới, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ tỉnh, đồng chí đề nghị Đại hội nghiêm túc tiếp thu ý kiến phát biểu chỉ đạo sâu sắc, toàn diện của đồng chí Hà Thị Nga, Ủy viên BCHTW Đảng, Chủ tịch Hội LHPN Việt Nam, để bổ sung hoàn thiện văn kiện và nghị quyết Đại hội. Đồng thời, đề nghị thực hiện tốt một số nội dung sau:

Thứ nhất, tiếp tục nâng cao vai trò nòng cốt của tổ chức Hội trong công tác phụ nữ và bình đẳng giới theo tinh thần Nghị quyết số 11-NQ/TW và Chỉ thị 21-CT/TW của Ban Bí thư (khóa XII) về tiếp tục đẩy mạnh công tác phụ nữ trong tình hình mới. Quán triệt sâu sắc quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về công tác phụ nữ. Chủ động tham mưu, đề xuất với cấp ủy, chính quyền các giải pháp thực hiện có hiệu quả công tác Hội, tạo điều kiện để phụ nữ được phát triển về mọi mặt, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, phát huy vai trò trong thời kỳ đất nước đổi mới và hội nhập, có nhiều đóng góp cho sự phát triển chung của tỉnh, vì sự bình đẳng và phát triển của phụ nữ An Giang.

Thứ hai, tập trung củng cố, xây dựng và phát triển hệ thống Hội các cấp vững mạnh; nâng cao chất lượng hoạt động tổ chức cơ sở Hội và hội viên. Đa dạng hóa các hình thức tập hợp, đổi mới nội dung phương thức hoạt động của Hội LHPN các cấp trong giai đoạn hiện nay; củng cố tổ chức bộ máy ngang tầm với nhiệm vụ được giao, trở thành tổ chức chính trị - xã hội vững mạnh trong hệ thống chính trị của tỉnh. Triển khai thực hiện hiệu quả khâu đột phá "Nâng cao năng lực, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ Hội các cấp; cải thiện hiệu quả hoạt động Hội và phong trào phụ nữ tỉnh An Giang", góp phần thực hiện khâu đột phá về "nâng cao năng lực, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ; cải thiện hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị" theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh khóa XI đã đề ra.

Thứ ba, tích cực triển khai toàn diện các phong trào thi đua, Cuộc vận động và 03 nhiệm vụ trọng tâm của Hội, góp phần xây dựng nông thôn mới, nông thôn mới nâng cao và xây dựng đô thị văn minh. Quan tâm chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho các tầng lớp phụ nữ, nhất là phụ nữ nghèo, có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, phụ nữ yếu thế. Hướng dẫn, hỗ trợ phụ nữ nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng, chống mua bán người, xâm hại phụ nữ, trẻ em; xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh, phát huy giá trị văn hóa truyền thống của gia đình Việt Nam. Đặc biệt, chủ động tham mưu và tham gia giải quyết có hiệu quả những vấn đề xã hội có liên quan đến phụ nữ, triển khai thực hiện tốt các Đề án của Hội được Chính phủ phê duyệt nhằm phát huy tốt tiềm năng, sức sáng tạo của các tầng lớp phụ nữ.

Thứ tư, tiếp tục làm tốt vai trò tham mưu đối với Tỉnh ủy, đề xuất, phối hợp với các cấp, các ngành trong tỉnh thực hiện hiệu quả các chủ trương, chính sách liên quan trực tiếp đến phụ nữ và trẻ em. Phát huy vai trò thực hiện Quy chế giám sát và phản biện xã hội của tổ chức Hội trong chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho phụ nữ.

Thứ năm, căn cứ vào các văn bản chỉ đạo của Trung ương Hội LHPN Việt Nam, của BTV Tỉnh ủy và phương án nhân sự trình tại Đại hội, các đại biểu cần nêu cao tinh thần trách nhiệm, sáng suốt lựa chọn, bầu Ban Chấp hành Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh nhiệm kỳ 2021- 2026, đảm bảo tiêu chuẩn và cơ cấu hợp lý, có đủ trình độ và năng lực lãnh đạo thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Phụ nữ tỉnh lần thứ XI, góp phần vào thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ các cấp, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XI, nhiệm kỳ 2020 - 2025.

Kết lời bài phát biểu, đồng chí tin tưởng và mong rằng các cấp Hội LHPN trong tỉnh sẽ tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết, nỗ lực, phấn đấu, cùng với Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh An Giang xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, văn minh./.

 NGỌC HÂN

True
An Giang phát huy truyền thống “Bộ đội cụ Hồ” quyết tâm bảo vệ biên cương Tổ quốcBài viếtHoàng KỳAn Giang phát huy truyền thống “Bộ đội cụ Hồ” quyết tâm bảo vệ biên cương Tổ quốc/Imagesnews/2021-12/22-12-2021_Key_21122021035545.jpg

​HOÀNG KỲ*

21/12/2021 11:00 SAYesĐã ban hành

(TUAG)- Dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, kế thừa và phát huy tinh thần yêu nước, nghệ thuật quân sự của dân tộc, được sự thương yêu, đùm bọc, giúp đỡ của nhân dân, sự ủng hộ của bạn bè quốc tế, trong 77 năm qua, Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng luôn tỏ rõ bản lĩnh của đội quân cách mạng, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu; là lực lượng chính trị đặc biệt, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta; cùng toàn dân chiến đấu và giành được những thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp đấu tranh cách mạng, giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm tròn nghĩa vụ quốc tế cao cả.

Những chiến công hiển hách

Ngay sau ngày thành lập, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã mưu trí, anh dũng, xuất sắc lập chiến công trong hai trận Phai Khắt và Nà Ngần, mở đầu cho truyền thống Quyết chiến, Quyết thắng của Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam, cùng nhân dân cả nước vùng lên phá tan ách thống trị của thực dân, giành thắng lợi trong cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 lịch sử, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Trong các cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc và bảo vệ Tổ quốc, dù phải trải qua nhiều hy sinh, gian khổ, các thế hệ "Bộ đội Cụ Hồ" luôn đoàn kết, mưu trí, dũng cảm, cùng toàn Đảng, toàn dân lập nên những chiến công hiển hách, lần lượt đánh bại các cuộc chiến tranh xâm lược, mà đỉnh cao là Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu" năm 1954 và Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mùa Xuân năm 1975, giành lại độc lập, hòa bình và thống nhất đất nước.

Hòa trong khí thế cao trào Cách mạng Tháng Tám năm 1945, chiều ngày 26/8/1945, tại Thành PC (tỉnh Châu Đốc), tất cả "Thanh niên tiền phong" đã tập hợp, thành lập đại đội "Cộng hòa vệ binh" do đồng chí Hùng Cẩm Hòa làm Tổng Chỉ huy. Đây là đơn vị lực lượng vũ trang (LLVT) đầu tiên của An Giang và ngày 26/8 trở thành ngày truyền thống LLVT tỉnh.


Trải qua 76 năm chiến đấu, xây dựng và trưởng thành, LLVT An Giang đã vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ, lập nhiều chiến công hào hùng, có ý nghĩa lịch sử, góp phần thắng lợi trong công cuộc giải phóng dân tộc, bảo vệ thành quả đất nước và xây dựng Chủ nghĩa xã hội. Điển hình là Chiến thắng Đồi Tức Dụp (núi Cô Tô, huyện Tri Tôn) với 128 ngày đêm (từ 7/11/1968 đến 23/2/1969), mặc dù chỉ có 37 chiến sỹ, phải đương đầu quân địch đông gấp 400 lần và chịu hàng ngàn tấn bom pháo suốt hơn 3 tháng liền, nhưng với "Lá chắn Anh hùng", quân và dân ta đã kiên trì bám trụ, chiến đấu loại khỏi vòng chiến hàng ngàn tên địch, bắn cháy nhiều xe tăng, máy bay… làm quân địch phải rút lui và tiêu hao đến 2 triệu đô la Mỹ lúc bấy giờ và đồi Tức Dụp vinh dự nhận tên "Đồi 2 triệu đô la". Tinh thần bất khuất ấy được Trung ương Đảng ghi nhận bằng 8 chữ vàng "Kiên cường bám trụ, giữ vững Núi Tô".

Sau khi thống nhất đất nước không lâu, năm 1977, LLVT An Giang phải đối mặt với chiến tranh biên giới Tây Nam do bọn Pônpốt - IêngSaRy gây ra. Với tinh thần quyết tâm bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc, quân - dân An Giang đã tổ chức những trận đánh thép tiêu biểu tại biên giới Châu Đốc, An Phú, Tịnh Biên, góp phần bảo vệ vững chắc biên cương. Ngoài ra, LLVT An Giang đã tích cực tham gia thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả, giúp nước bạn giải phóng 2 tỉnh Kandal và Takeo, cứu hơn 1 triệu người dân Campuchia thoát chết dưới bàn tay Pol Pot vào năm 1978. Một bộ phận LLVT tỉnh tiếp tục được phân công tham gia đội quân tình nguyện ở lại giúp Bạn xây dựng và bảo vệ thành quả cách mạng đến năm 1988…

Những thành tích xuất sắc của LLVT nói chung và Quân đội nhân dân tỉnh An Giang nói riêng, góp phần quan trọng vào sự nghiệp củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường tiềm lực và thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân; giữ vững và tô thắm hình ảnh cao đẹp "Bộ đội Cụ Hồ", xứng đáng với niềm tin yêu và những phần thưởng, danh hiệu cao quý mà Đảng, nhà nước và nhân dân trao tặng. Với những thành tích đặc biệt xuất sắc trong kháng chiến chống Mỹ, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế giúp nước bạn Campuchia, năm 2000, quân và dân An Giang vinh dự được Chủ tịch nước tuyên dương danh hiệu "Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân" cho 66 tập thể và 44 cá nhân. Đây là niềm tự hào, là động lực tinh thần to lớn, cổ vũ, động viên cán bộ, chiến sĩ LLVT tỉnh tiếp tục phấn đấu, phát huy phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ", hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Những năm qua, mặc dù gặp nhiều khó khăn, thách thức nhưng kinh tế - xã hội của tỉnh luôn tăng trưởng khá, GRDP bình quân hàng năm đạt 5-7%. Năm 2021, mặc dù đại dịch Covid-19 tác động tiêu cực đến mọi mặt đời sống xã hội, nhưng với nỗ lực của cấp ủy, chính quyền các cấp và nhân dân, GRDP của tỉnh vẫn đạt 2,15%; quốc phòng, an ninh được giữ vững; công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị được tăng cường, tổ chức bộ máy hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng. Chương trình xây dựng nông thôn mới được triển khai thực chất, nhân dân đồng thuận, diện mạo nông thôn, đời sống người dân khởi sắc hơn… Những kết quả trên có sự đóng góp tích cực của LLVT tỉnh trong tham mưu đối sách phù hợp, xử lý linh hoạt, đúng đắn các tình huống phức tạp, các vấn đề nhạy cảm về quốc phòng - an ninh, trong quan hệ đối nội và đối ngoại. Qua đó, không để bị động, bất ngờ về chiến lược; không để các thế lực thù địch lợi dụng, chống phá; giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và quan hệ tốt với nước láng giềng; bảo đảm sự ổn định chính trị - xã hội, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội tỉnh nhà.


Những thách thức an ninh chính trị ở biên giới và nội địa hiện nay

An Giang là địa bàn trọng điểm về quốc phòng, an ninh, có nhiều đồng bào dân tộc, tỷ lệ tín đồ tôn giáo khá lớn. Các thế lực thù địch và tổ chức phản động thường xuyên lợi dụng vấn đề biên giới, lãnh thổ, Việt kiều, những bất đồng về lịch sử... tuyên truyền, xuyên tạc, chia rẽ quan hệ hai quốc gia, dân tộc; ủng hộ biện pháp cưỡng chế, xua đuổi, di dời các bè cá, nhà nổi trên sông của người Campuchia ở thành phố Phnôm Pênh xuôi hạ nguồn về phía Việt Nam. Trên lĩnh vực dân tộc, họ đẩy mạnh phát triển lực lượng chống đối trong vùng đồng bào Khmer, nhất là ở khu vực biên giới; tăng cường hoạt động "hướng về cội nguồn", lợi dụng việc xử lý vi phạm pháp luật đối với người Khmer để tạo cớ, xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, đàn áp người Khmer, kêu gọi Liên Hiệp Quốc, các tổ chức phi chính phủ can thiệp; kích động tư tưởng ly khai, tự trị…

Bên cạnh đó, các tổ chức phản động lưu vong luôn tìm cách đưa người về nước để chống phá, nhất là trong các ngày lễ, sự kiện chính trị trọng đại của đất nước. Tình hình buôn lậu qua biên giới, xuất nhập cảnh trái phép diễn ra rất phức tạp, qui mô lớn, thủ đoạn tinh vi, lợi dụng địa hình đồng bằng, sông nước và qua lại biên giới lao động tự do, gây khó khăn cho công tác đấu tranh, xử lý.

Trong nội địa, các đối tượng phản động đẩy mạnh hoạt động chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng. Các tổ chức phản động lưu vong, đối tượng cực đoan trong tôn giáo, dân tộc thường xuyên liên kết, móc nối, thực hiện các hoạt động chống phá; các mối đe dọa về an ninh phi truyền thống ngày càng bộc lộ và diễn biến phức tạp; các tổ chức phi chính phủ, phần tử cơ hội chính trị... không ngừng đẩy mạnh các hoạt động chống phá ta bằng chiến lược "Diễn biến hòa bình", thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Đặc biệt, dịch bệnh Covid-19 ngày càng phức tạp, ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân, phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và hoạt động của LLVT.

Xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; quyết tâm bảo vệ biên cương tổ quốc.

Để tăng cường sức mạnh quốc phòng toàn dân, bảo vệ vững chắc biên cương Tổ quốc, LLVT An Giang cùng cấp ủy, chính quyền các cấp tiếp tục quán triệt sâu sắc và thực hiện hiệu quả đường lối, quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân. Tiếp tục xây dựng, củng cố tiềm lực, thế trận, lực lượng quốc phòng ở từng địa phương, hợp thành thế trận phòng thủ đất nước vững chắc. Kết hợp chặt chẽ xây dựng và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh trong một chiến lược thống nhất; phát huy tối đa mọi nguồn lực, tạo sức mạnh tổng hợp để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành và toàn dân đối với sự nghiệp củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Quán triệt sâu sắc bài học kết hợp chặt chẽ giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; đẩy mạnh công tác đối ngoại quốc phòng.


Trong lãnh, chỉ đạo phải quán triệt, nắm chắc các quan điểm, đường lối của Đảng về quân sự, quốc phòng, an ninh và đối ngoại; các hiệp định, quy chế biên giới, cửa khẩu; các văn bản luật có liên quan để vận dụng, cụ thể hóa sát với tình hình thực tế của địa phương, đơn vị. Nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia phải đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự chỉ đạo của chính quyền, với sự tham gia của cả hệ thống chính trị và quần chúng nhân dân, trong đó lực lượng vũ trang làm nòng cốt.

Bên cạnh đó, LLVT thường xuyên nắm chắc, đánh giá và dự báo đúng tình hình, kịp thời tham mưu, đề xuất giải quyết các vấn đề xảy ra trên biên giới đúng chủ trương, đối sách, kiên quyết, khôn khéo, mềm dẻo, giữ vững chủ quyền lãnh thổ, không để xảy ra căng thẳng, tạo điểm nóng, không tạo sơ hở để bị lợi dụng kích động chống phá.

Duy trì thực hiện hiệu quả quy chế phối hợp với cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương và các lực lượng có liên quan. Nâng cao đời sống vật chất, tinh thần đồng bào dân tộc và nhân dân vùng viên giới. Thường xuyên nắm bắt tư tưởng cán bộ, chiến sĩ, đảng viên… kịp thời giải quyết những vướng mắc, chấn chỉnh những lệch lạc; đồng thời kiên quyết đấu tranh với mọi biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"…

Trải qua 76 năm chiến đấu, xây dựng và trưởng thành, LLVT trang An Giang tiếp tục phát huy truyền thống "Bộ đội Cụ Hồ", xây dựng lực lượng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, quyết tâm bảo vệ vững chắc biên cương Tổ quốc, góp phần giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia./.

TS. Lê Hồng Quang

Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy,

Bí thư Đảng ủy Quân sự tỉnh An Giang.

True
Khơi dậy khát vọng dân tộc từ Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến Bài viếtNguyễn LamKhơi dậy khát vọng dân tộc từ Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến /SiteAssets/75nam-toanquockhangchien.jpg
17/12/2021 10:00 SANoĐã ban hành
(TUAG)- Cách đây 75 năm, để bảo vệ nền độc lập cho dân tộc, tự do cho Nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (19/12/1946 - 19/12/2021). Đó là lời hiệu triệu toàn thể dân tộc Việt Nam đoàn kết, đứng lên chiến đấu chống thực dân Pháp xâm lược, khẳng định khát vọng hòa bình, ý chí và quyết tâm sắt đá để “giữ gìn đất nước”, để “Việt Nam độc lập và thống nhất muôn năm!”.
75nam-toanquockhangchien.jpg

Ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa vừa mới ra đời đã phải đương đầu với “thù trong, giặc ngoài”, nạn đói hoành hành, khó khăn muôn vàn, đe dọa nền độc lập của dân tộc. Từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc, hơn 20 vạn quân của Tưởng Giới Thạch tràn vào làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật, nhưng nuôi dưỡng mưu đồ lật đổ chính quyền cách mạng, thành lập chính quyền tay sai. Từ vĩ tuyến 16 trở vào Nam, quân đội Anh vào làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật, nhưng thực chất là “dọn đường” giúp đỡ thực dân Pháp trở lại xâm lược Việt Nam. Ngày 23/9/1945, quân Pháp nổ súng gây hấn ở Sài Gòn, tăng cường sử dụng biện pháp quân sự mở rộng phạm vi chiếm đóng toàn Nam Bộ.

Với dã tâm xâm lược nước ta một lần nữa, thực dân Pháp mỗi lúc một điên cuồng lấn tới. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm hết sức mình để tránh một cuộc chiến tranh đổ máu cho hai dân tộc Việt - Pháp, nhưng khi kẻ thù đã buộc chúng ta phải cầm súng bảo vệ Tổ quốc thì Nhân dân ta không sợ hy sinh, gian khổ, kiên quyết chiến đấu để bảo vệ độc lập, tự do của dân tộc. Đêm 19/12/1946, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Đại diện cho tinh thần yêu nước và ý chí đấu tranh bất khuất của dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, thúc giục toàn dân đứng lên cứu nước; đây là một định hướng chiến lược đối với toàn dân ta ngay từ đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa! Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ... Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước”…

Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tiếng của non sông đất nước, là lời hịch cứu quốc, khơi dậy mạnh mẽ khát vọng dân tộc, lòng tự hào, truyền thống anh hùng, bất khuất, kiên cường của Nhân dân ta; thôi thúc cả nước sục sôi đứng lên chiến đấu, vì độc lập, tự do thiêng liêng của Tổ quốc. Đáp lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân cả nước ta với ý chí “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” đã nhất tề đứng lên tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, mở đầu là cuộc chiến đấu của quân và dân thủ đô Hà Nội. Cùng với quân dân Thủ đô, quân dân các địa phương trong cả nước đã chiến đấu ngoan cường, giam chân địch. Đường lối kháng chiến của Đảng ta xác định ngay từ đầu là chiến tranh toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mình là chính, phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc. Sau 9 năm chiến đấu vô cùng oanh liệt, quân và dân ta đã đánh thắng thực dân Pháp và can thiệp Mỹ mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”.

Cùng với cả nước, quân dân Long Xuyên, Châu Đốc đã đứng lên theo lời kêu gọi bất hủ ấy, kiên quyết đấu tranh bảo vệ quê hương, đất nước bằng những hành động cụ thể: Vừa đẩy mạnh sản xuất, vừa tiếp tục cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài. Trải qua buổi đầu kháng chiến khó khăn, gian khổ, quân dân hai tỉnh đã có bước trưởng thành về nhận thức và hành động, tự tin bước vào giai đoạn chiến đấu mới. Lực lượng vũ trang đã có những trận đánh, phục kích thắng lợi, giết nhiều lính Pháp như: Trận phục kích tại cua Chợ Thủ (Chợ Mới) diệt 4 tên, làm bị thương 1 tên. Trận phục kích tại Cột Dây Thép (Chợ Mới) làm chìm tàu giặc, diệt 12 sĩ quan Pháp và thu một số vũ khí…

Thời gian đã lùi xa, nhưng lời hiệu triệu đó vẫn còn nguyên giá trị, kỷ niệm 75 năm Toàn quốc kháng chiến là dịp để chúng ta ôn lại và phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tự hào, tin tưởng vào sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng, khơi dậy khát vọng dân tộc, ý chí tự lực, tự cường, vượt qua khó khăn, thách thức, ra sức phấn đấu xây dựng quê hương An Giang giàu đẹp, văn minh góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới đất nước.
Năm 2021 là năm đầu triển khai thực hiện nghị quyết đại hội đảng các cấp, tuy nhiên, trong đợt dịch bệnh COVID-19 lần thứ 4 bùng phát mạnh tại các tỉnh phía Nam đã ảnh hưởng rất lớn đến việc triển khai các nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội ở An Giang. Bằng chiến lược tiếp cận chủ động, linh hoạt, ngay từ khi xuất hiện các ca F0 đầu tiên trong cộng đồng, An Giang đã triển khai thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch của Trung ương, địa phương phù hợp với diễn biến của dịch bệnh. Sự chủ động, sáng tạo, những quyết sách đúng đắn, phương pháp khoa học, tinh thần nỗ lực, quyết tâm cao là những yếu tố quan trọng, cốt lõi để An Giang đạt được thành tựu tích cực trong công tác phòng, chống dịch thời gian qua. Nhưng có một yếu tố không thể không kể đến, đó là tinh thần đoàn kết, tấm lòng sẻ chia, nhân ái, chung sức, đồng lòng của cán bộ và toàn thể Nhân dân tỉnh nhà.

Về kinh tế - xã hội, năm 2021 tổng sản phẩn trên địa bàn tỉnh (GRDP) tăng 2,15% so cùng kỳ; thực hiện đạt và vượt 13/15 chỉ tiêu Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, trong đó có 06 chỉ tiêu đạt và 08 chỉ tiêu vượt. Đây là sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị và sự đóng góp của Nhân dân, doanh nghiệp tỉnh nhà. Thành quả này, tin chắc rằng sẽ tạo thêm “xung lực” để tiếp tục phát huy Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, khơi dậy khát vọng để An Giang thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2022.
Nguyễn Lam
False
Biến nghị quyết Trung ương 4 khóa XIII thành hiện thực sinh độngBài viếtSự ThậtBiến nghị quyết Trung ương 4 khóa XIII thành hiện thực sinh động/SiteAssets/Hoinghi-tw-ve-xdda.jpg
10/12/2021 4:00 CHNoĐã ban hành

(TUAG)- Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có bài phát biểu đặc biệt quan trọng tại Hội nghị cán bộ toàn quốc quán triệt, triển khai Kết luận và Quy định của Ban Chấp hành Trung ương về công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng vào sáng ngày 09/12/2021. Bài phát biểu đã làm rõ 3 vấn đề và trả lời cho 3 câu hỏi: Vì sao lần này Trung ương lại tiếp tục bàn và ra Nghị quyết về vấn đề xây dựng và chỉnh đốn Đảng; những tinh thần mới, nội dung mới của lần này là gì? và chúng ta phải làm gì để thực hiện có kết quả Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 lần này.


Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu tại Hội nghị.

Vì sao Hội nghị Trung ương 4 khoá XIII tiếp tục bàn về việc đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng?

Trả lời cho câu hỏi này, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định, sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng nước ta; và công tác xây dựng Đảng luôn là nhiệm vụ then chốt của Đảng, có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng nước ta.

Việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI và khoá XII gắn với việc thực hiện Chỉ thị số 05 "Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" thời gian qua đã tạo sự chuyển biến tích cực, rõ rệt trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, được Nhân dân tin yêu, đồng tình, ủng hộ, góp phần rất quan trọng vào việc thực hiện nhiệm vụ chính trị nói chung, thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của Đất nước.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả, thành tích đạt được, việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khoá XII của Đảng còn những hạn chế, khuyết điểm. Chính vì vậy, yêu cầu Đảng phải tiếp tục nâng cao hơn nữa bản lĩnh và trí tuệ, thực sự "là đạo đức là văn minh"; nỗ lực hơn nữa trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Đảng ta và hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh, ngang tầm nhiệm vụ, đủ sức để lãnh đạo xây dựng, phát triển đất nước nhanh và bền vững hơn, trong đó có việc phát huy những tác động tích cực, khắc phục những tác động tiêu cực, mặt trái của kinh tế thị trường, mở cửa, hội nhập quốc tế. Kết luận của Hội nghị Trung ương 4 lần này về xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã bám sát Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng để kế thừa, bổ sung, phát triển nhiều nội dung quan trọng của các nghị quyết Trung ương trước đây, đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 4 khoá XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Tinh thần mới, nội dung mới của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII

Kết luận Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII đã kế thừa, bổ sung, làm rõ hơn và yêu cầu phải tiến hành đồng bộ và quyết liệt hơn nữa nhiều công việc cụ thể, thiết thực, tập trung vào 4 nhóm nhiệm vụ, giải pháp mà Hội nghị Trung ương 4 khoá XII đã đề ra về công tác chính trị, tư tưởng, tự phê bình và phê bình; về cơ chế, chính sách; về kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; về phát huy vai trò của Nhân dân và Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội. Đồng thời bổ sung, nhấn mạnh thêm nhóm nhiệm vụ, giải pháp về "Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu gắn với đổi mới, sắp xếp tổ chức, bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả". Bảo đảm nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ; quán triệt sâu sắc vai trò của công tác cán bộ là "then chốt của then chốt", có ý nghĩa quyết định mọi thành công của cách mạng nước ta, cả trước mắt và lâu dài.

Biến Nghị quyết thành hiện thực sinh động

Để biến Nghị quyết thành hiện thực sinh động. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ quan điểm toàn Đảng, toàn dân phải nhận thức thật đầy đủ và sâu sắc mục đích, ý nghĩa, yêu cầu, nội dung của Kết luận số 21 của Ban Chấp hành Trung ương; Kế hoạch số 03 của Bộ Chính trị về triển khai thực hiện Kết luận số 21 và Quy định 37 về những điều đảng viên không được làm, nắm vững những tư tưởng chỉ đạo, những công việc phải làm, trên cơ sở đó có sự thống nhất cao về ý chí, quyết tâm, thấy đầy đủ trách nhiệm của mình để gương mẫu, tự giác thực hiện và chỉ đạo, tổ chức thực hiện Kết luận và Quy định trên mỗi cương vị công tác tại địa bàn, lĩnh vực do mình phụ trách; mở đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện.

"Mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, đặc biệt là người đứng đầu, người chủ trì phải gương mẫu, tự giác làm trước; căn cứ vào Nghị quyết, Kết luận và Quy định lần này, nghiêm túc tự phê bình, kiểm điểm, tự soi lại mình, đơn vị mình, gia đình mình, cái gì tốt thì phát huy, cái gì khiếm khuyết thì tự điều chỉnh, cái gì xấu thì tự gột rửa, tự sửa mình. Mọi đảng viên đều phải làm như vậy, chứ không phải chỉ đứng ngoài mà "phán", hoặc "chờ xem", coi như mình vô can.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng bày tỏ tin tưởng, với truyền thống và bản chất tốt đẹp của Đảng ta, với quyết tâm chính trị rất cao của toàn Đảng, toàn hệ thống chính trị, cùng với sự kỳ vọng, hưởng ứng, đồng tình ủng hộ của Nhân dân, nhất định chúng ta sẽ vượt qua mọi khó khăn, thực hiện thắng lợi Kết luận, Quy định của Hội nghị Trung ương 4 khoá XIII và các nghị quyết, quyết định khác, tạo bước chuyển biến mới trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh toàn diện, thật sự là đạo đức, là văn minh, xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của toàn dân tộc./.

 Sự thật

FalseĐưa Nghị quyết vào cuộc sống
Kỷ niệm 75 năm Ngày Toàn quốc kháng chiến (19/12/1946 - 19/12/2021)Bài viếtKhánh ChâuKỷ niệm 75 năm Ngày Toàn quốc kháng chiến (19/12/1946 - 19/12/2021)/SiteAssets/Toanquockhangchien-2021a.jpg
08/12/2021 9:00 SANoĐã ban hành

​Khí phách quật cường của dân tộc

(TUAG)- Ngày 19/12/1946, trước việc không thể cứu vãn được một cuộc chiến tranh sẽ bùng nổ do sự cố tình của giới thực dân Pháp. Đêm hôm đó, tại Vạn Phúc, Hà Đông (nay là thành phố Hà Nội), Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp mở rộng do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì, đề ra đường lối, quyết định cả nước bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Toanquockhangchien-2021.jpg

Chiều ngày 19/12/1946, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Võ Nguyên Giáp quyết định chuyển đến các đơn vị lực lượng vũ trang mật lệnh về ngày và giờ của cuộc giao chiến trong toàn quốc. Đến 20 giờ ngày 19/12/1946, tín hiệu bắt đầu kháng chiến toàn quốc được phát ra, đồng thời quân và dân Thủ đô Hà Nội nổ súng mở đầu cuộc kháng chiến trong toàn quốc.

Sáng ngày 20/12/1946, Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh được phát đi khắp cả nước:

“Hỡi đồng bào toàn quốc!

Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa!

Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.

Hỡi đồng bào!

Chúng ta phải đứng lên!

Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước.

Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân!

Giờ cứu quốc đã đến. Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng để giữ gìn đất nước.

Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta!

Việt Nam độc lập và thống nhất muôn năm!

Kháng chiến thắng lợi muôn năm!

Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến - đó là lời hịch cứu nước, thể hiện ý chí quyết tâm sắt đá của cả dân tộc, khơi dậy sức mạnh chủ nghĩa yêu nước, truyền thống anh hùng bất khuất; động viên, thôi thúc, cổ vũ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta bước vào cuộc kháng chiến giành lại độc lập, tự do cho Tổ quốc.

Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến cùng với Chỉ thị Toàn dân kháng chiến của Ban Thường vụ Trung ương Đảng (viết xong ngày 12/12/1946) và tác phẩm Kháng chiến nhất định thắng lợi của Tổng Bí thư Trường Chinh đã xác lập đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ và dựa vào sức mình là chính; trở thành ánh sáng soi đường cho dân tộc ta đi đến thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Hưởng ứng Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, cả dân tộc đã đoàn kết một lòng chiến đấu chống thực dân Pháp xâm lược, giành thắng lợi vẻ vang. Thủ đô Hà Nội, nơi có Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh là nơi thực dân Pháp có ý định đánh úp cơ quan đầu não và tiêu diệt lực lượng vũ trang của ta đã trở thành chiến trường chính trong những ngày đầu kháng chiến toàn quốc. Sau đòn tiến công chủ động, đồng loạt và bất ngờ lúc 20 giờ ngày 19/12/1946, quân và dân Thủ đô tiếp tục triển khai thế trận chiến tranh nhân dân, toàn dân đánh giặc. Quân và dân Thủ đô đã đánh hàng trăm trận, làm tiêu hao nhiều sinh lực địch, giam chân chúng dài ngày trong thành phố, tạo điều kiện để cả nước bước vào chiến tranh, triển khai thế trận chiến đấu lâu dài. Quân và dân Nam Bộ cũng đẩy mạnh chiến tranh du kích, đánh phá kế hoạch bình định, kiềm chế không cho địch đưa lực lượng chi viện cho Trung Bộ và Bắc Bộ. Đến tháng 3/1947, các cơ quan của Trung ương Đảng, Chính phủ, Quân đội, Mặt trận đã được chuyển lên Việt Bắc an toàn.

Cuộc chiến đấu oanh liệt, sáng tạo của quân, dân Thủ đô Hà Nội và của cả nước trong những ngày đầu Toàn quốc kháng chiến đã giáng một đòn mạnh vào chiến lược “đánh nhanh, thắng nhanh” và ý chí xâm lược của kẻ thù, làm tiền đề vững chắc cho những thắng lợi tiếp theo của cuộc kháng chiến.

Khi cơ hội tìm kiếm giải pháp hòa bình không còn, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng chủ động mở đầu cuộc kháng chiến đúng thời điểm và kịp thời chuyển cả nước vào thời chiến, xây dựng thực lực và thế trận chiến tranh nhân dân.

Thu - Đông năm 1947, quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương huy động lực lượng lớn, mở cuộc hành quân lên Việt Bắc nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não của ta. Nhưng dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Trung ương Đảng và tinh thần sáng tạo, quyết tâm cao, quân và dân ta chiến đấu ngoan cường, giành thắng lợi vẻ vang trong chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông năm 1947, làm thất bại hoàn toàn chiến lược “đánh nhanh, thắng nhanh” của thực dân Pháp, mở ra giai đoạn mới cho cuộc kháng chiến.

Đến năm 1950, lực lượng kháng chiến của ta trưởng thành về mọi mặt, Đảng và Chính phủ quyết định mở Chiến dịch Biên giới nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch. Sau 29 ngày đêm chiến đấu kiên cường, quân dân ta đã làm nên thắng lợi quan trọng, tạo ra bước ngoặt căn bản, đưa cuộc kháng chiến của quân và dân ta bước sang giai đoạn phản công và tiến công.

Lợi dụng sự sa lầy cuộc chiến tranh Đông Dương của thực dân Pháp, đế quốc Mỹ tăng cường viện trợ cho Pháp. Trước tình hình đó, Đại hội toàn quốc lần thứ II của Đảng (tháng 02/1951) xác định nhiệm vụ chủ yếu của cách mạng lúc này là tiêu diệt thực dân Pháp xâm lược và đánh bại bọn can thiệp Mỹ, giành độc lập, thống nhất hoàn toàn, bảo vệ hòa bình thế giới. Phát huy thế tiến công, quân dân ta giành được những thắng lợi quan trọng trên các chiến trường như: Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng Lào,… Chiến tranh nhân dân phát triển đã đẩy quân địch lún sâu vào thế bị động.

Trên cơ sở đường lối kháng chiến “toàn dân”, “toàn diện”, “trường kỳ”, “dựa vào sức mình là chính”, phát huy truyền thống đoàn kết, yêu nước của toàn dân tộc, Đảng đã lãnh đạo nhân dân lần lượt đánh bại mọi âm mưu, kế hoạch xâm lược của kẻ thù, đặc biệt là thắng lợi trong Chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954 với đỉnh cao là Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Genevơ (năm 1954), chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Miền Bắc nước ta được hoàn toàn giải phóng.

Kỷ niệm 75 năm Ngày Toàn quốc kháng chiến là dịp để ôn lại truyền thống yêu nước và lịch sử vẻ vang, ý chí độc lập tự do, khí phách quật cường của dân tộc ta trong cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm; khẳng định chủ trương phát động toàn quốc kháng chiến là quyết định đúng đắn của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh; góp phần củng cố, bồi đắp thêm niềm tin của nhân dân vào đường lối và sự lãnh đạo của Đảng. Khơi dậy niềm tự hào, tự tôn dân tộc; cổ vũ, động viên các tầng lớp nhân dân phát huy tinh thần đại đoàn kết dân tộc, ý chí cách mạng, quyết tâm vượt qua mọi khó khăn, thách thức đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới đất nước, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Khánh Châu


FalseChính trị
Cây vĩ cầm thứ hai, bên cạnh C.Mác!Bài viếtTTCTTTCây vĩ cầm thứ hai, bên cạnh C.Mác!/SiteAssets/Angghen.jpg
25/11/2021 1:00 CHNoĐã ban hành

(TUAG)- ​Ngày 28/11/2021, những người cộng sản và công nhân trên khắp thế giới kỷ niệm lần thứ 201 ngày sinh của Ph.Ăng-ghen - Vị lãnh tụ thiên tài, người thầy vĩ đại của giai cấp vô sản, người bạn chí tình, chí nghĩa của C.Mác. Tuy có nhiều đóng góp quan trọng vào sự nghiệp của C.Mác, nhưng ông chỉ khiêm nhường coi mình là “Cây vĩ cầm thứ hai, bên cạnh C.Mác”.

Ph.Ăng-ghen - Nhà lý luận lỗi lạc và chiến sĩ cách mạng vĩ đại trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế

Ph.Ăng-ghen sinh ngày 28/11/1820 ở thành phố Ba-rơ-men tỉnh Ranh, Vương quốc Phổ (ngày nay là nước Đức) trong một gia đình là chủ xưởng dệt. Tuy xuất thân từ một gia đình thuộc giai cấp tư sản, nhưng Ph.Ăng-ghen đã dành tất cả con tim, khối óc, tình cảm và trí tuệ cho giai cấp vô sản, hiến dâng cả cuộc đời mình cho sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân, nhằm mục tiêu, lý tưởng cao đẹp là giải phóng giai cấp công nhân, giải phóng nhân dân lao động khỏi mọi ách áp bức, bóc lột.

Cuối năm 1842, trên đường sang Anh, Ph.Ăng-ghen ghé thăm trụ sở tờ Nhật báo tỉnh Ranh ở Koln và lần đầu tiên, Ph.Ăng-ghen có cuộc gặp gỡ với C.Mác, Tổng Biên tập tờ báo. Năm 1844, Ph.Ăng-ghen viết tác phẩm “Phê phán chính trị kinh tế học” được đăng trên tờ “Niên giám Pháp - Đức”. Đây được coi là tác phẩm mở đầu cho tư duy phê phán của Ph.Ăng-ghen khi xem xét những tư tưởng về chính trị, kinh tế của các nhà tư tưởng đương thời. Điều này được C.Mác, người chủ của tờ “Niên giám Pháp - Đức” lúc bấy giờ, đánh giá rất cao và coi đây là “một cuốn đại cương tài tình về khoa học chính trị của giai cấp vô sản”. Có thể nói, đây cũng chính là mối lương duyên cho cuộc gặp gỡ và tình bạn vĩ đại của C.Mác và Ph.Ăng-ghen sau này.

Sau cuộc gặp gỡ C.Mác năm 1844, Ph.Ăng-ghen đã trở thành người bạn, người đồng chí gần gũi thân thiết của C.Mác, xây đắp nên một tình bạn cảm động và vĩ đại nhất của các lãnh tụ giai cấp công nhân và nhân dân lao động. V.I.Lê-nin viết: “Sau bạn ông là C.Mác, Ph.Ăng-ghen là nhà bác học và người thầy lỗi lạc nhất của giai cấp vô sản hiện đại trong toàn thế giới văn minh. Từ ngày mà vận mệnh đã gắn liền C.Mác với Ph. Ăng-ghen thì sự nghiệp suốt đời của hai người bạn ấy trở thành sự nghiệp chung của họ. Cho nên, muốn hiểu Ph.Ăng-ghen đã làm gì cho giai cấp vô sản thì phải nhận rõ ý nghĩa của học thuyết và hoạt động của C.Mác đối với sự phát triển của phong trào công nhân hiện đại”.

Tháng 2/1845, C.Mác và Ph.Ăng-ghen cho ra đời cuốn sách “Gia đình thần thánh”, phê phán mạnh mẽ chủ nghĩa duy tâm chủ quan của phái Hêghen trẻ, đồng thời nêu lên luận điểm hết sức quan trọng về vai trò quyết định của quần chúng nhân dân trong lịch sử. Trong hai năm 1845, 1846, C.Mác và Ph.Ăng-ghen cùng viết công trình nổi tiếng “Hệ tư tưởng Đức”, phê phán mạnh mẽ chủ nghĩa duy tâm của Hêghen và phái Hêghen trẻ; đồng thời, phê phán chủ nghĩa duy vật không nhất quán của Phoi-ơ-bắc, nêu ra những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Năm 1848, Đại hội II Liên đoàn những người cộng sản đã uỷ nhiệm C.Mác và Ph.Ăng-ghen cùng viết “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” - đó là Cương lĩnh cách mạng đầu tiên của giai cấp vô sản thế giới, là ngọn đuốc soi đường cho giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức vùng lên đấu tranh phá bỏ xiềng xích và mọi sự áp bức, bất công trong xã hội tư bản.

Ph.Ăng-ghen được ngưỡng mộ, kính trọng không chỉ bởi trí tuệ của một nhà bác học, nhiệt huyết của một chiến sĩ cách mạng vĩ đại, mà còn bởi phẩm chất cao cả thể hiện trong tình bạn, tình đồng chí khăng khít, thủy chung, cảm động, hiếm có với C.Mác. Từ năm 1849 cho đến năm 1883, gia đình C.Mác cực kỳ khó khăn về kinh tế. Trong bối cảnh ấy, Ph.Ăng-ghen luôn là người chung lưng gánh vác cùng C.Mác. Tháng tháng, vào những ngày nhất định, Ph.Ăng-ghen lại gửi tiền về Luân Đôn cho gia đình C.Mác. Chính sự giúp đỡ tài chính thường xuyên của Ph.Ăng-ghen mới cho phép C.Mác chịu nổi gánh nặng của cuộc đấu tranh mệt nhọc chống lại sự thiếu thốn để hoàn thành các tác phẩm của mình. Ngay cả trước khi từ trần, trong di chúc, Ph.Ăng-ghen cũng không quên để lại một phần tài sản của mình cho những người thân trong gia đình C.Mác.

Ngày 14/3/1883, C.Mác qua đời khi công trình khoa học đồ sộ nhất của ông là bộ “Tư bản” mới xuất bản được quyển I, còn lại là hàng ngàn trang bản thảo với chi chít những dòng chữ rất khó đọc và rất nhiều những chú thích, ký hiệu cần trích dẫn nhưng chưa ghi rõ nguồn gốc. Ph.Ăng-ghen đã gác những công trình nghiên cứu của mình, dành toàn bộ sức lực biên tập, hiệu đính, bổ sung và xuất bản hai tập cuối của bộ “Tư bản”. Hơn mười năm lao động miệt mài trong hoàn cảnh tuổi già, bệnh tật, bằng sự uyên bác và mẫn cảm khoa học, cùng với sự đồng điệu về tư tưởng và tâm hồn, ông đã cho xuất bản trọn vẹn quyển II (1885) và quyển III (1894) của bộ “Tư bản”.

Sau khi C.Mác qua đời, nhiều ý kiến đề xuất tên của hai người là tên của lý luận, nhưng Ph.Ăng-ghen đã rất khiêm nhường bày tỏ quan điểm của mình với nội dung là: "Tôi không hề phủ nhận công lao của tôi trong 40 năm cộng tác với C.Mác, nhưng những gì tôi đã làm thì không có tôi C.Mác vẫn có thể làm được, còn những gì C.Mác đã làm thì tôi và chúng ta chưa thể nào làm được, C.Mác đứng cao hơn tôi một cái đầu, nhìn xa hơn tôi một tầm, C.Mác là thiên tài còn chúng ta giỏi lắm chỉ là người có tài mà thôi, tôi chỉ xứng đáng là cây vĩ cầm thứ hai đứng bên cạnh C.Mác, bởi vậy học thuyết này xứng đáng được mang tên của C.Mác". V.I.Lê-nin viết: “Ph.Ăng-ghen đã dựng cho người bạn thiên tài của ông một đài kỷ niệm trang nghiêm, trên đó Ph.Ăng-ghen cũng không ngờ là đã khắc luôn cả tên mình bằng những chữ không bao giờ phai mờ được”.

Những năm tháng cuộc đời, Ph.Ăng-ghen dồn sức nghiên cứu, hoàn thành nhiều tác phẩm có giá trị rất sâu sắc như: “Biện chứng của tự nhiên”, “Nguồn gốc của gia đình, sở hữu tư nhân và Nhà nước”, “Lút-vích Phơ-bách và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức”, “Vấn đề nông dân ở Pháp và Đức”, “Phê phán cương lĩnh Ecphuốc”,v.v..

Cống hiến của Ph.Ăng-ghen đối với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế nói chung, với học thuyết Mác nói riêng là rất to lớn, trường tồn. C.Mác cho rằng Ph.Ăng-ghen là một khối óc sắc sảo, một pho bách khoa toàn thư; còn V.I.Lê-nin lại khẳng định: “Muốn đánh giá đúng đắn những quan điểm của C.Mác, tuyệt đối phải đọc những tác phẩm của người cùng tư tưởng và người cộng tác gần gũi nhất của C.Mác là Ph.Ăng-ghen. Không thể nào hiểu được chủ nghĩa Mác và trình bày đầy đủ được chủ nghĩa Mác, nếu không chú ý đến toàn bộ những tác phẩm của Ph.Ăng-ghen”.

Kỷ niệm 201 năm ngày sinh Ph.Ăng-ghen, mỗi chúng ta mãi trân trọng tất cả những gì ông đã cống hiến cho khoa học, cho cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản vì lương tri và phẩm giá con người, vì sự bình đẳng và tiến bộ xã hội của các quốc gia, dân tộc trên thế giới. Chúng ta hết sức trân trọng và học tập ở ông tấm gương sáng ngời về nhân cách của người chiến sĩ cộng sản, đức khiêm tốn, sống có nghĩa, có tình, trong sáng, thủy chung... Phải chăng cũng chính vì lẽ đó mà Bác Hồ đã từng căn dặn cán bộ, đảng viên: “Hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin là phải sống với nhau có tình, có nghĩa”.

TS. NGUYỄN HỮU THỊNH

Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy An Giang

FalseChính trị
1 - 30Next