Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksChính trị

Chào mừng quý vị đến với Cổng thông tin điện tử Đảng bộ tỉnh An Giang!
 
Chính trị
 
 
 
  
  
  
  
  
Tóm tắt
  
  
  
  
Nội dung
  
  
Phân loại
  
Văn kiện Đại hội XIV của Đảng phải phản ánh đầy đủ thực tiễn mới của đất nước TinĐảng Cộng sản VNVăn kiện Đại hội XIV của Đảng phải phản ánh đầy đủ thực tiễn mới của đất nước /SiteAssets/Hop-banVK14-1.jpg
24/02/2024 7:00 SANoĐã ban hành

(TUAG)- Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: Việc chuẩn bị các văn kiện cho Đại hội XIV của Đảng, đặc biệt là Báo cáo chính trị phải được tiến hành một cách khoa học, nghiêm túc, có đổi mới trong cách làm; phản ánh đầy đủ thực tiễn mới của đất nước.

Ngày 23/2, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tiểu ban Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã tiến hành phiên họp đầu tiên. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng Tiểu ban chủ trì Phiên họp.

Các Ủy viên Bộ Chính trị: Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng; Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính; Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ cùng các thành viên Tiểu ban Văn kiện, Thường trực Tổ Biên tập Văn kiện cùng tham dự.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng Tiểu ban Văn kiện phát biểu chỉ đạo Phiên họp. Ảnh: Trí Dũng

Theo kế hoạch, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng dự kiến được tổ chức vào tháng 1/2026. Để chuẩn bị cho Đại hội XIV của Đảng, Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII đã quyết định thành lập 5 Tiểu ban, trong đó có Tiểu ban Văn kiện do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng làm Trưởng Tiểu ban.

Tiểu ban Văn kiện có nhiệm vụ chuẩn bị Báo cáo Chính trị và Báo cáo Tổng kết 40 năm đổi mới trình Đại hội XIV của Đảng. Để giúp việc Tiểu ban Văn kiện, Ban Bí thư đã quyết định thành lập Tổ Biên tập Văn kiện.

Tại phiên họp, đồng chí Nguyễn Xuân Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, Tổ trưởng Tổ Biên tập Văn kiện, báo cáo kết quả hoạt động của Thường trực Tiểu ban Văn kiện, Tổ Biên tập Văn kiện từ khi thành lập đến nay; tổng hợp ý kiến của các thành viên Tiểu ban Văn kiện về dự thảo Tờ trình, dự thảo Quy chế làm việc và Kế hoạch hoạt động của Tiểu ban Văn kiện Đại hội XIV của Đảng.

Phát biểu chỉ đạo tại phiên họp, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ, Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng là một sự kiện chính trị cực kỳ quan trọng. Đại hội XIV của Đảng sẽ tiến hành vào thời điểm rất có ý nghĩa: Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang chung sức đồng lòng, tranh thủ mọi thời cơ, thuận lợi, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, thực hiện thắng lợi nhiều chủ trương, mục tiêu, nhiệm vụ được xác định trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Trải qua 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 35 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh năm 1991), 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, đất nước ta đã giành được nhiều kết quả rất quan trọng, nổi bật, với nhiều điểm sáng, tạo tiền đề để cho nước ta bước vào một giai đoạn phát triển mới với những thời cơ, thuận lợi và khó khăn thách thức mới lớn hơn đan xen.

Đại hội XIV của Đảng có nhiệm vụ đi sâu kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII, tổng kết 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, từ đó rút ra những bài học quan trọng; xác định phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong 5 năm tới (2026 - 2030), tiếp tục thực hiện thắng lợi Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2021 - 2030).

Đại hội XIV sẽ kiểm điểm sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII; kiểm điểm việc thi hành Điều lệ Đảng khóa XIII và tiến hành sửa đổi Điều lệ Đảng; bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.

Đại hội XIV sẽ lại là một dấu mốc quan trọng trên con đường phát triển của đất nước ta, dân tộc ta, có ý nghĩa định hướng tương lai; khích lệ, cổ vũ, động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiếp tục kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, khẳng định đây là sự lựa chọn đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, phấn đấu đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng: Nước ta là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao; xây dựng một nước Việt Nam "giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc", vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: Việc chuẩn bị các văn kiện cho Đại hội XIV, đặc biệt là Báo cáo chính trị là báo cáo trung tâm, có vai trò định hướng cho các văn kiện khác của Đại hội phải được tiến hành một cách khoa học, nghiêm túc, có đổi mới trong cách làm, phải bảo đảm thật sự có chất lượng, phản ánh đầy đủ thực tiễn mới của đất nước. Đây là công việc có ý nghĩa hết sức quan trọng, bảo đảm sự thành công của Đại hội.

Hình ảnh tại Phiên họp.  

Để bảo đảm chất lượng công việc, Tổng Bí thư đề nghị các thành viên Tiểu ban, Thường trực Tiểu ban, đặc biệt là các thành viên trong Tổ Biên tập, Thường trực Tổ Biên tập cần quán triệt sâu sắc và thống nhất cao một số vấn đề về phương châm, phương pháp tư tưởng, hệ quan điểm chỉ đạo và cách làm để đạt hiệu quả cao nhất.

Kiên định hệ quan điểm chỉ đạo mang tính nguyên tắc là: Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tổng Bí thư chỉ rõ, kiên định phải đi đôi với đổi mới nhưng là sự đổi mới có nguyên tắc, không tuỳ tiện, nóng vội. Phải nắm vững và xử lý tốt "bốn kiên định", đặc biệt là kiên định một cách sáng tạo và sáng tạo một cách kiên định, theo phương pháp cách mạng Hồ Chí Minh, vì con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là lâu dài và chưa có tiền lệ, còn rất nhiều khó khăn, thách thức.

Tổng Bí thư nhấn mạnh, trong quá trình xây dựng các văn kiện Đại hội XIV của Đảng, phải gắn kết nhuần nhuyễn việc nghiên cứu lý luận với tổng kết thực tiễn phát triển trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; với xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, hình thành đồng bộ thể chế phát triển nhanh và bền vững đất nước dựa trên những trụ cột là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

“Báo cáo chính trị của Đại hội Đảng toàn quốc lần này phải là một công trình khoa học kết tinh trình độ lý luận, tầm cao trí tuệ của toàn Đảng, niềm tin, khát vọng của cả dân tộc, phản ánh những quy luật khách quan của thực tiễn, xu thế vận động mới của thực tiễn. Coi trọng tổng kết thực tiễn và nắm chắc lý luận khoa học; kết hợp nhuần nhuyễn giữa nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn với định hướng chính sách để phát hiện, tìm tòi những chủ trương, nhiệm vụ, giải pháp đang xuất hiện có sức sống từ trong thực tiễn, từ những nhân tố mới của thực tiễn, những mâu thuẫn chín muồi trong thực tiễn. Chú ý làm rõ những chủ trương, chính sách nào đã được thực tế khẳng định là đúng đắn, phù hợp và cái gì cần tiếp tục đổi mới, bổ sung, phát triển”, Tổng Bí thư chỉ rõ.

Về cách làm, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, Văn kiện Đại hội, trong đó có Báo cáo chính trị của Đại hội XIV là sản phẩm của trí tuệ tập thể, là một công trình tập thể của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, cho nên phải phát huy dân chủ, phát huy trí tuệ tập thể và theo đó phải có sự tham gia đóng góp của các cơ quan, ban, bộ, ngành Trung ương, các địa phương, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân; tranh thủ sự tham gia đóng góp của các đồng chí nguyên lãnh đạo, của giới trí thức, các nhà nghiên cứu, quản lý. Đặc biệt, phải chú trọng khai thác kết quả nghiên cứu khoa học ở trong nước và quốc tế, chắt lọc kết quả nghiên cứu của các chương trình, đề tài nghiên cứu khoa học lý luận chính trị đặc biệt cấp quốc gia giai đoạn 2021 - 2025, các chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến 2045…

Tổng Bí thư lưu ý, trong quá trình thảo luận, bàn bạc, cần cầu thị, lắng nghe, tôn trọng ý kiến lẫn nhau, cùng tìm ra chân lý, tạo sự thống nhất cao, nhất là những vấn đề mới, vấn đề khó để Báo cáo chính trị phải là báo cáo trung tâm, phải đạt ở tầm quan điểm, đường lối, chủ trương lớn; báo cáo chiến lược phát triển kinh tế - xã hội là báo cáo chuyên đề, bảo đảm  không trùng lặp; nhất quán về quan điểm, chủ trương của Đảng về phát triển đất nước giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045, góp phần tiếp tục bổ sung, phát triển nhận thức lý luận của Đảng ta về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Tổng Bí thư chỉ rõ, sắp tới, công việc của Tiểu ban, Thường trực Tiểu ban rất nhiều, rất khó, đòi hỏi phải có sự cố gắng rất lớn, sự tập trung, nỗ lực rất cao để hoàn thành công việc với chất lượng cao, đúng tiến độ./.

PV
FalseChính trị
Huy hiệu Đảng - vinh dự của người đảng viênBài viếtThúy UyênHuy hiệu Đảng - vinh dự của người đảng viên/SiteAssets/HuyhieuDang-vinhdu-2.JPG
06/02/2024 4:00 CHYesĐã ban hành

(TUAG)- Những ngày đầu tháng 02, các địa phương trong tỉnh tổ chức trọng thể lễ tặng, truy tặng Huy hiệu Đảng nhân dịp kỷ niệm 94 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930 - 3/2/2024). Đây là hoạt động có ý nghĩa chính trị sâu sắc, ghi nhận những cống hiến của các đồng chí đảng viên cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

HuyhieuDang-vinhdu-2.JPG
Lãnh đạo tỉnh trao tặng Huy hiệu Đảng cho các đồng chí cao niên tuổi Đảng đợt 3/2

Huy hiệu Đảng là phần thưởng cao quý ghi nhận, tôn vinh quá trình phấn đấu, rèn luyện, cống hiến của đảng viên cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và Nhân dân. Lễ trao Huy hiệu Đảng là đợt sinh hoạt chính trị có ý nghĩa quan trọng và được tổ chức hàng năm vào dịp kỷ niệm các ngày lễ lớn như: Ngày thành lập Đảng 3/2, Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh 19/5, Ngày Quốc khánh 2/9, Cách mạng Tháng Mười Nga 7/11… Theo quy định, đảng viên hoạt động cách mạng lâu năm, giữ gìn được tư cách đảng viên sẽ được xét tặng Huy hiệu Đảng; nếu bị kỷ luật, khiển trách thì việc xét tặng Huy hiệu Đảng sẽ dừng lại. Vì vậy, Huy hiệu Đảng không đơn thuần chỉ là sự ghi nhận về số tuổi Đảng mà còn là sự ghi nhận về quá trình phấn đấu, cống hiến, về phẩm chất đạo đức, bản lĩnh chính trị của người đảng viên. Việc tổ chức trao tặng Huy hiệu Đảng cho đảng viên đủ tiêu chuẩn trở thành nét đẹp, nhân thêm niềm tự hào về Đảng trong đội ngũ đảng viên và quần chúng Nhân dân. Căn cứ hướng dẫn của Trung ương, các cấp uỷ đảng ở nhiều địa phương đã xem Lễ trao Huy hiệu Đảng là đợt sinh hoạt chính trị quan trọng và có những cách làm hay, sáng tạo, góp phần làm sâu sắc thêm và lan tỏa ý nghĩa của Lễ trao Huy hiệu Đảng trong Đảng và toàn xã hội. Lễ trao Huy hiệu Đảng không chỉ là nơi tôn vinh, ghi nhận những đóng góp, cống hiến, mà còn nhắc nhở, phát huy trách nhiệm nêu gương, “đi trước” của đảng viên mà còn là dịp các đảng viên chúc mừng đồng chí của mình, có thêm động lực, niềm tin để tiếp tục học tập, rèn luyện, phấn đấu theo tấm gương của những người đi trước.

Nhân kỷ niệm 94 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930 - 3/2/2024), Ban Thường vụ Tỉnh ủy An Giang quyết định tặng và truy tặng Huy hiệu Đảng cho 336 đảng viên có đủ 65 năm, 60 năm, 55 năm, 50 năm, 45 năm, 40 năm và 30 năm tuổi Đảng trong toàn tỉnh nhằm ghi nhận công lao, vinh danh những đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với Đảng, với tổ quốc và Nhân dân; không ngại hy sinh, gian khổ, luôn nỗ lực vượt qua mọi khó khăn, đóng góp sức mình cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc, của Đảng qua các thời kỳ kháng chiến, bảo vệ Tổ quốc cũng như trong thời kỳ xây dựng quê hương, đất nước.

Đồng chí Nguyễn Chí Dũng (sinh hoạt tại Đảng bộ phường Mỹ Bình, TP Long Xuyên) nhận huy hiệu 60 năm tuổi Đảng, chia sẻ: “Được nhận Huy hiệu Đảng lần này là niềm tự hào, vinh dự rất lớn của cuộc đời chiến đấu và tham gia tổ chức Đảng của mình. Tôi tin tưởng rằng, Đảng, các tổ chức Đảng và lãnh đạo tỉnh sẽ tiếp tục đạt được được nhiều thành tích tốt, đưa tỉnh nhà ngày càng phát triển hơn nữa. Riêng bản thân tôi sẽ cố gắng phấn đấu học tập, luôn giữ lý tưởng cộng sản của người đảng viên”.

Đồng chí Nguyễn Minh Khuyên (sinh hoạt tại Đảng bộ phường Mỹ Xuyên, TP Long Xuyên) nhận huy hiệu 55 năm tuổi Đảng, chia sẻ: “Tôi hết sức vui mừng, phấn khởi, rất vinh dự và tự hào được nhận Huy hiệu Đảng đợt 3/2 này. Từ khi tham gia cách mạng cho đến khi vào Đảng, nhờ sự lãnh đạo của Đảng, các đồng chí lãnh đạo đã dạy bảo, giúp đỡ, hướng dẫn, chăm lo… bản thân tôi mới được như hôm nay. Dù tuổi đã hơi cao nhưng tôi xin hứa vẫn tiếp tục phấn đấu hoàn thành trách nhiệm, vai trò nhiệm vụ người đảng viên, để xứng đáng với sự tin yêu của bạn bè đồng chí cũng như sự quan tâm của Đảng, góp phần làm cho đảng vững mạnh, xây dựng tỉnh nhà ngày càng giàu đẹp, Nhân dân ngày càng hạnh phúc”.

Đồng chí Đoàn Văn Hiển (đang sinh hoạt tại Đảng bộ Xã Đào Hữu Cảnh, huyện Châu Phú), chia sẻ: “Từ ngày được vào Đảng đến nay, tôi chấp hành tốt sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được phân công. Tôi luôn giữ vững phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống của người cách mạng và bản lĩnh của người đảng viên, một lòng kiên trung với Đảng. Vinh dự được nhận Huy hiệu 30 năm tuổi Đảng, tôi rất vui mừng, vinh dự và xin cám ơn các đồng chí lãnh đạo, các đồng chí cao niên tuổi Đảng đã dìu dắt, giáo dục, giúp đỡ tôi trong thời gian qua. Vinh dự được nhận Huy hiệu Đảng, tôi càng thấy trách nhiệm của mình đối với đảng và Nhân dân, bản thân sẽ tiếp tục phấn đấu, rèn luyện và học tập làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách sáng ngời của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu để thật sự xứng đáng là người đảng viên trong phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh. Tôi xin hứa sẽ mãi mãi giữ vững nhân cách, phẩm chất chính trị và đạo đức lối sống của một người đầu mạng làm thật tốt bốn nhiệm vụ của người đảng viên và gương mẫu uy tín để xứng đáng lòng tin của các đồng chí và quần chúng Nhân dân”.

HuyhieuDang-vinhdu-1.JPG

Phát biểu tại buổi Lễ trao Huy hiệu Đảng đợt 3/2/2024 cho các đồng chí cao niên tuổi Đảng, thay mặt Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy An Giang Lê Hồng Quang ghi nhận, biểu dương những đóng góp quý báu của các đồng chí cao niên tuổi Đảng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời chúc mừng và khẳng định đây không chỉ là niềm tự hào của các đồng chí cao niên tuổi Đảng được nhận Huy hiệu Đảng đợt này mà còn là niềm tự hào của Đảng bộ và Nhân dân tỉnh nhà.

Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy An Giang Lê Hồng Quang bày tỏ tin tưởng rằng: “Các đảng viên cao niên tuổi Đảng sẽ tiếp tục giữ vững phẩm chất chính trị; dù ở cương vị, hoàn cảnh nào, các đồng chí luôn tích cực, gương mẫu, đi đầu trong các phong trào cách mạng ở địa phương, đơn vị; thường xuyên học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và tấm gương của Bác Tôn kính mến. Với kinh nghiệm, khả năng của mình, thông qua những hình thức phù hợp, tiếp tục tham gia xây dựng Đảng, chính quyền, Mặt trận, đoàn thể và trong phong trào cách mạng quần chúng tại địa phương. Mãi là những chiến sĩ cộng sản kiên trung, những tấm gương sáng để các thế hệ cán bộ, con cháu noi theo, xứng đáng với phần thưởng cao quý được Đảng trao tặng”.

THÚY UYÊN

TrueChính trị
Khi Đảng ở trong tim của người đảng viên cho đến hơi thở cuối cùngBài viếtNgọc HânKhi Đảng ở trong tim của người đảng viên cho đến hơi thở cuối cùng/SiteAssets/Bac-5-Ha-hhd-1.jpg
03/02/2024 5:00 CHYesĐã ban hành

(TUAG)- Trong cuộc đời mỗi người, ai cũng từng mang nặng một lời thề nào đó bắt nguồn từ niềm tin vào những điều thiêng liêng nhất trong trái tim mình. Đối với đảng viên, trong giây phút thiêng liêng được kết nạp vào Đảng, đã tuyên thệ "Tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng, chấp hành nghiêm Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước;...". Lời thề chính là sự cam kết chính trị về lòng trung thành, ý chí phấn đấu suốt đời vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng và của dân tộc mình; là trách nhiệm, lương tâm, danh dự của người cộng sản.

Với những đảng viên có ý thức và giàu lòng tự trọng, lời thề trong ngày lễ kết nạp Đảng luôn trong trái tim của họ cho đến tận hơi thở cuối cùng. Đảng viên Trần Sơn Hà, nguyên Phó Trưởng ban Tuyên huấn Tỉnh ủy An Giang, cán bộ lão thành cách mạng với 76 năm tuổi Đảng là một điển hình như thế.

 Bac-5-Ha-hhd-1.jpg

Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy An Giang Lê Hồng Quang trao Huy hiệu 75 năm tuổi Đảng cho đồng chí Trần Sơn Hà

Khi Cách mạng Tháng Tám 1945 diễn ra, thiếu niên 13 tuổi Trần Sơn Hà tham gia lực lượng thiếu niên tiền phong xã Ba Trinh, rồi làm nhân viên Huyện đoàn Thanh niên Cứu quốc Kế Sách (tỉnh Sóc Trăng). 15 tuổi, làm chiến sĩ phòng đặc phái viên Bộ Tư lệnh Quân khu 7 miền Đông. Ngày 10/8/1949, chưa tròn 17 tuổi, ông trở thành Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Suốt những năm tháng kháng chiến chống đế quốc Mỹ, đảng viên Trần Sơn Hà công tác ở nhiều đơn vị, giữ nhiều chức vụ khác nhau. Tháng 01/1976, ông giữ chức Phó Trưởng ban Tuyên huấn Tỉnh ủy, phụ trách huấn học và tuyên truyền, cho đến khi về hưu (tháng 10/1989). Đồng chí Trần Sơn Hà, trút hơi thở cuối cùng vào lúc 9 giờ sáng ngày 03/02/2024.

Quá trình hoạt động cách mạng, đồng chí được Đảng và Nhà nước tặng thưởng: Huy hiệu 75 năm tuổi Đảng, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Quyết thắng hạng Nhất, Huân chương chống Mỹ hạng Nhì, Huân chương Giải phóng hạng Nhì, Huân chương Chiến sĩ hạng Nhì, hạng Ba, Huân chương Chiến thắng hạng Ba, Huân chương Thành Đồng Tổ Quốc, Huy hiệu vì thế hệ trẻ, Huy hiệu chiến sĩ Văn hóa, nhiều bằng khen, giấy khen...

Tuổi đời gần tròn một thế kỷ, song khi còn sống, đồng chí luôn tâm niệm phải sống sao cho đúng với khí chất của người đảng viên, là tấm gương để thế hệ đảng viên trẻ và con cháu noi theo. Nhân dịp nhận Huy hiệu 75 tuổi Đảng vào ngày 27/12/2023, đồng chí khẳng định "Luôn tin và bảo vệ Đảng đến hơi thở cuối cùng". Đồng chí thật sự là tấm gương sáng, luôn tự hào, đặt niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tình nguyện, trung thành, sắt son một lòng theo Đảng, vì sự nghiệp vẻ vang của Đảng, của dân tộc như lời thơ của Nhà thơ Tố Hữu đã viết: "Còn một giây, một phút tàn hơi; Là vẫn còn chiến đấu quyết không thôi!".

Tấm gương sáng một đời theo Đảng của đồng chí Trần Sơn Hà sẽ mãi là niềm tự hào của ngành Tuyên giáo An Giang nói riêng và của Đảng bộ tỉnh An Giang nói chung. Đây cũng là hình mẫu chuẩn mực về đạo đức, lối sống của người đảng viên gương mẫu cho thế hệ hôm nay học tập, noi theo.

Tình đồng chí cao đẹp giữa người trước - người sau, giữa quá khứ - hiện tại… xin kính cẩn nghiêng mình chào tiễn biệt đồng chí Trần Sơn Hà!

    Ta lại viết bài thơ trên báng súng

    Con lớn lên viết tiếp theo cha

    Người đứng dậy viết tiếp người ngã xuống

    Người hôm nay viết tiếp người hôm qua[1]…/.

NGỌC HÂN


_________

[1] Thơ của Hoàng Trung Thông.


TrueChính trị
Bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhân kỷ niệm 94 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt NamBài viếtH.TBài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhân kỷ niệm 94 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam/SiteAssets/Tong%20Bi%20th%C6%B0%20Nguyen%20Phu%20Trong.jpg
01/02/2024 8:10 SANoĐã ban hành

(TUAG)- Nhân kỷ niệm 94 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2024), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có bài viết "Tự hào và tin tưởng dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, quyết tâm xây dựng một nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh, văn minh, văn hiến và anh hùng". Cổng TTĐT Đảng bộ tỉnh An Giang trân trọng giới thiệu cùng quý độc giả.

Như chúng ta đều đã biết, Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập vào ngày 3/2/1930, có nghĩa là đến ngày 3/2/2025 tới đây, Đảng ta sẽ tròn 95 tuổi, và đến năm 2030 sẽ tròn 100 tuổi. Đây là những mốc son chói lọi, có ý nghĩa lịch sử to lớn của Đảng, của Đất nước và Dân tộc ta.

Hiện nay, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang chung sức đồng lòng, tranh thủ mọi thời cơ và thuận lợi, vượt qua mọi khó khăn và thách thức, quyết tâm thực hiện thắng lợi nhiều chủ trương, mục tiêu, nhiệm vụ được đề ra trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; đồng thời, khởi động quá trình chuẩn bị cho đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

Tong Bi thư Nguyen Phu Trong.jpg
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng

Đại hội XIV sẽ đi sâu kiểm điểm, đánh giá việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII, tổng kết 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, từ đó rút ra những bài học quan trọng; xác định phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong 5 năm tới (2026 - 2030); tiếp tục thực hiện thắng lợi Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2021 - 2030).

Đại hội XIV sẽ lại là một dấu mốc quan trọng trên con đường phát triển của đất nước ta, dân tộc ta, có ý nghĩa định hướng tương lai; khích lệ, cổ vũ, động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiếp tục kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, khẳng định đây là sự lựa chọn đúng đắn, sáng suốt, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; tiếp tục đẩy mạnh toàn diện và đồng bộ công cuộc đổi mới, bảo vệ vững chắc Tổ quốc; phấn đấu đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng, nước ta sẽ là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao.

Để góp phần thiết thực kỷ niệm Ngày thành lập Đảng 3/2/2024, khơi dậy niềm tự hào về Đảng quang vinh, Bác Hồ vĩ đại, Dân tộc Việt Nam anh hùng; tăng cường niềm tin đối với sự lãnh đạo của Đảng và tương lai tươi sáng của Đất nước ta, Dân tộc ta; cũng như nêu cao hơn nữa trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trong toàn hệ thống chính trị, tiếp tục phát huy tinh thần yêu nước và cách mạng của toàn dân tộc, quyết tâm xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh, văn minh, văn hiến và anh hùng, chúng ta cần nhìn lại, đánh giá một cách khách quan, toàn diện những kết quả, thành tựu và bài học kinh nghiệm chủ yếu mà Đảng ta, Đất nước ta, Dân tộc ta đã đạt được qua các chặng đường lịch sử:

(1) Đảng ra đời, lãnh đạo cách mạng, giành chính quyền (từ năm 1930 đến năm 1945); (2) Toàn quốc kháng chiến, lập lại hoà bình ở miền Bắc (từ năm 1946 đến năm 1954); (3) Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc; đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (từ năm 1955 đến năm 1975); (4) Khắc phục hậu quả chiến tranh, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, từng bước đi lên chủ nghĩa xã hội (từ năm 1976 đến năm 1985); (5) Tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước ta ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn; mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng; đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay (từ năm 1986 đến nay); (6) và từ nay đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm Ngày thành lập Đảng.

Từ đó, đề ra các nhiệm vụ và giải pháp nhằm tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo - cầm quyền của Đảng; đẩy mạnh đồng bộ và toàn diện công cuộc đổi mới; thực hiện thắng lợi mục tiêu mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra là đến năm 2025 và năm 2030 xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh, dân chủ, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Bài viết này là một trong những ý tưởng theo tinh thần nêu trên và xin được trình bày theo bố cục gồm 3 phần chính như sau:

PHẦN THỨ NHẤT: ĐẢNG TA RA ĐỜI, LÃNH ĐẠO ĐẤU TRANH GIÀNH ĐỘC LẬP DÂN TỘC, GIẢI PHÓNG MIỀN NAM, THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC

Lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc ta đã chứng minh rằng, yêu nước và giữ nước, kiên quyết chống ngoại xâm, bảo vệ độc lập, chủ quyền và thống nhất đất nước là truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc ta. Nối tiếp truyền thống đó, từ giữa thế kỷ XIX, khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, không cam chịu làm thân phận nô lệ, Nhân dân ta đã liên tiếp vùng lên đấu tranh qua các phong trào yêu nước diễn ra liên tục và mạnh mẽ bằng nhiều con đường với nhiều khuynh hướng khác nhau. Từ con đường cứu nước của các sĩ phu cho đến các cuộc khởi nghĩa nông dân và con đường cách mạng tư sản... mặc dù đã đấu tranh rất kiên cường, đầy tâm huyết và chịu những hy sinh to lớn, song, do hạn chế lịch sử, nhất là thiếu một đường lối đúng, các phong trào đó đã không thành công. Lịch sử đòi hỏi phải tìm con đường mới.

Năm 1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành (tức là Bác Hồ muôn vàn kính yêu của chúng ta) đã ra đi tìm con đường mới cho sự nghiệp cứu nước, đấu tranh giành độc lập dân tộc. Mang trong mình khát vọng lớn lao, cháy bỏng, Người đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, tìm thấy ở học thuyết cách mạng này con đường cứu nước đúng đắn - con đường cách mạng vô sản. Sau nhiều năm bôn ba hoạt động ở nước ngoài, Người đã kiên trì nghiên cứu, học tập, vận dụng sáng tạo và từng bước truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin về Việt Nam, dày công chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho việc thành lập một đảng cách mạng chân chính. Ngày 03/02/1930, Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản họp ở bán đảo Cửu Long, thuộc Hồng Kông (Trung Quốc), dưới sự chủ trì của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, đã quyết định thống nhất các tổ chức cộng sản ở nước ta thành một Đảng duy nhất, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là một bước ngoặt lịch sử trọng đại, chấm dứt cuộc khủng hoảng kéo dài về tổ chức và đường lối của cách mạng Việt Nam.

Việc Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là thành quả của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước; chứng tỏ giai cấp công nhân Việt Nam đã trưởng thành và đủ sức gánh vác sứ mệnh lịch sử lãnh đạo cách mạng. Luận cương chính trị đầu tiên của Đảng được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng đã xác định con đường cơ bản của cách mạng Việt Nam, đáp ứng yêu cầu cấp thiết của Dân tộc và nguyện vọng tha thiết của Nhân dân.

Sau khi ra đời, gắn bó máu thịt với Nhân dân, được Nhân dân đồng tình, ủng hộ và tin tưởng tuyệt đối; chỉ trong vòng 15 năm, Đảng ta đã lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, tiến hành ba cao trào cách mạng: Cao trào cách mạng 1930 - 1931, với đỉnh cao là phong trào Xô Viết - Nghệ Tĩnh; Cao trào cách mạng đòi dân sinh, dân chủ (1936 - 1939) và Cao trào cách mạng giải phóng dân tộc (1939 - 1945), để đến năm 1945, khi thời cơ cách mạng chín muồi, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo toàn thể dân tộc Việt Nam làm nên thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 "long trời, lở đất", thành lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà vào ngày 02/9/1945 (năm 2025 chúng ta sẽ kỷ niệm tròn 80 năm).

Ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, cách mạng đã phải đối mặt với nhiều khó khăn, thử thách; cùng một lúc phải đương đầu với "giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm". Trong hoàn cảnh hiểm nghèo đó, Đảng đã lãnh đạo Nhân dân ta vượt qua tình thế "ngàn cân treo sợi tóc", kiên cường bảo vệ và xây dựng chính quyền non trẻ, đồng thời tích cực chuẩn bị về mọi mặt để bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Trên cơ sở đường lối kháng chiến "toàn dân", "toàn diện", "trường kỳ", "dựa vào sức mình là chính", phát huy truyền thống đoàn kết, yêu nước của toàn dân tộc, Đảng ta đã lãnh đạo Nhân dân ta lần lượt đánh bại mọi âm mưu, kế hoạch xâm lược của kẻ thù, đặc biệt là thắng lợi trong Chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954 với đỉnh cao là Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu", buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Geneve (năm 1954), chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.

Từ năm 1955 đến năm 1975, đất nước ta lại bị chia cắt làm hai miền. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, miền Bắc vừa nỗ lực xây dựng chủ nghĩa xã hội và chống lại cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, vừa dốc sức làm tròn nghĩa vụ của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn miền Nam. Nhân dân miền Nam tiếp tục cuộc đấu tranh kiên cường để giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước. Với tinh thần "thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ", "không có gì quý hơn độc lập, tự do"; trên cơ sở đường lối đúng đắn, sáng tạo của Đảng, với sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, quân và dân ta đã lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, thu giang sơn về một mối vào ngày 30/4/1975. Thắng lợi đó "mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người Việt Nam, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc" (năm 2025 chúng ta sẽ kỷ niệm tròn 50 năm).

Tong Bi thư Nguyen Phu Trong du quochoi.jpg
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng, Thủ tướng Phạm Minh Chính, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ và các đại biểu dự Kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa XV

Trong lúc phải khẩn trương khắc phục những hậu quả vô cùng nặng nề do chiến tranh để lại, Nhân dân Việt Nam lại tiếp tục phải đương đầu với những cuộc chiến tranh mới. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân ta vừa tập trung khôi phục kinh tế - xã hội, vừa chiến đấu bảo vệ biên giới, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc; đồng thời, làm tròn nghĩa vụ quốc tế giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi hoạ diệt chủng và tiến hành công cuộc hồi sinh đất nước.

Nhìn lại chặng đường 1930 - 1975, chúng ta rất đỗi tự hào, tin tưởng và biết ơn sâu sắc Đảng quang vinh, Bác Hồ vĩ đại đã luôn luôn sáng suốt lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi vang dội này đến thắng lợi vang dội khác, viết tiếp vào lịch sử của Dân tộc Việt Nam văn hiến và anh hùng những trang vàng chói lọi, được thế giới ngưỡng mộ, đánh giá cao: Tiến hành thắng lợi cuộc Cách mạng Tháng Tám long trời lở đất, giành chính quyền về tay Nhân dân, đưa nước ta ra khỏi ách nô lệ của thực dân, đế quốc vào năm 1945; Trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, kết thúc bằng Hiệp định Geneve và thắng lợi của chiến dịch Điện Biên phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu; Vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội và chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc, vừa đấu tranh chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, kết thúc bằng chiến dịch Điện Biên Phủ trên không và chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

PHẦN THỨ HAI: ĐẢNG LÃNH ĐẠO KHẮC PHỤC HẬU QUẢ CHIẾN TRANH; TIẾN HÀNH CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ; XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC TA NGÀY CÀNG ĐÀNG HOÀNG HƠN, TO ĐẸP HƠN

Sau khi đất nước được thống nhất, nước ta phải đối mặt với nhiều hậu quả rất nặng nề của 30 năm chiến tranh để lại. Để khắc phục hậu quả chiến tranh, tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước, Đảng ta đã tập trung lãnh đạo xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 1976 - 1980 và 1981 - 1985. Qua đó, hạ tầng kinh tế - xã hội, nhất là các cơ sở công nghiệp, nông nghiệp, y tế, giáo dục - đào tạo, giao thông, thuỷ lợi từng bước được khôi phục. Kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể được chăm lo phát triển, có nhiều đóng góp cho sự phát triển của đất nước.

Tuy nhiên, trước những yêu cầu mới của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện đất nước đã hoà bình, để khắc phục những bất cập của cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu, bao cấp, dẫn tới sự khủng hoảng kinh tế - xã hội những năm sau chiến tranh, trên cơ sở tổng kết sáng kiến, sáng tạo trong thực tiễn của Nhân dân, Đảng ta đã tiến hành công cuộc đổi mới, trước hết là đổi mới tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội, từng phần trong nông nghiệp, công nghiệp và từng bước hình thành Đường lối đổi mới đất nước.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng 12/1986), trên cơ sở phân tích sâu sắc tình hình đất nước và qua quá trình tìm tòi, khảo nghiệm thực tiễn, với tinh thần "nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật", "đổi mới tư duy" đã đề ra Đường lối đổi mới toàn diện đất nước, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trên con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đường lối đổi mới ra đời đã đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn lịch sử, thể hiện bản lĩnh vững vàng, tư duy sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và mở ra một thời kỳ mới cho sự phát triển của đất nước.

Sau Đại hội VI, Đảng đã từng bước hoàn thiện, cụ thể hoá đường lối đổi mới mà nội dung cơ bản, cốt lõi được thể hiện trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh năm 1991 và Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011) và các văn kiện quan trọng của Đảng qua các kỳ Đại hội. Những năm 90 của thế kỷ XX, vượt qua thách thức từ sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu, Đảng Cộng sản Việt Nam, Dân tộc Việt Nam đã kiên định, tiếp tục vững bước và sáng tạo trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với điều kiện cụ thể và đặc điểm của Việt Nam. Ban Chấp hành Trung ương Đảng từ khoá VI đến khoá XIII đã ban hành nhiều nghị quyết về những vấn đề cơ bản, hệ trọng của Đảng và sự phát triển của đất nước.

Cho đến nay, mặc dù vẫn còn một số vấn đề cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu, nhưng chúng ta đã hình thành nhận thức tổng quát: Xã hội xã hội chủ nghĩa mà Nhân dân Việt Nam đang phấn đấu xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do Nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới.

Để thực hiện được mục tiêu đó, chúng ta đã xác định cần phải: Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức; Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; Bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hoá, đa dạng hoá; hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp với sức mạnh thời đại; Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện.

Càng đi vào chỉ đạo thực tiễn, Đảng ta càng nhận thức được rằng, quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một sự nghiệp lâu dài, vô cùng khó khăn và phức tạp, vì nó phải tạo ra được sự biến đổi sâu sắc về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa; lực lượng sản xuất rất thấp, lại phải trải qua mấy chục năm chiến tranh, hậu quả rất nặng nề; các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách phá hoại cho nên lại càng khó khăn, phức tạp, do đó nhất thiết phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước đi, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen nhau, có sự đấu tranh giữa cái cũ và cái mới. Nói bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là bỏ qua chế độ áp bức, bất công, bóc lột tư bản chủ nghĩa; bỏ qua những thói hư tật xấu, những thiết chế, thể chế chính trị không phù hợp với chế độ xã hội chủ nghĩa, chứ không phải bỏ qua cả những thành tựu, giá trị văn minh mà nhân loại đã đạt được trong thời kỳ phát triển chủ nghĩa tư bản. Đương nhiên, việc kế thừa những thành tựu này cũng phải có sự chọn lọc trên quan điểm khoa học, phát triển.

Đưa ra khái niệm phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng tạo của Đảng ta, là thành quả lý luận quan trọng qua gần 40 năm thực hiện đường lối đổi mới, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của thế giới. Theo nhận thức của chúng ta, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đó là một kiểu kinh tế thị trường mới trong lịch sử phát triển của kinh tế thị trường; một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội, thể hiện trên cả ba mặt: Sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối. Đây không phải là nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và cũng chưa phải là nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa đầy đủ (vì nước ta còn đang trong thời kỳ quá độ).

Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế. Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác không ngừng được củng cố và phát triển; kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển phù hợp với chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Quan hệ phân phối bảo đảm công bằng và tạo động lực cho phát triển; thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội. Nhà nước quản lý nền kinh tế bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách và lực lượng vật chất để định hướng, điều tiết, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Một đặc trưng cơ bản, một thuộc tính quan trọng của định hướng xã hội chủ nghĩa trong kinh tế thị trường ở Việt Nam là phải gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển. Điều đó có nghĩa là: Không chờ đến khi kinh tế đạt tới trình độ phát triển cao rồi mới thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; càng không "hy sinh" tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần. Trái lại, mỗi chính sách kinh tế đều phải hướng tới mục tiêu phát triển xã hội; mỗi chính sách xã hội phải nhằm tạo ra động lực thúc đẩy phát triển kinh tế; khuyến khích làm giàu hợp pháp phải đi đôi với xoá đói, giảm nghèo bền vững, chăm sóc những người có công, những người có hoàn cảnh khó khăn. Đây là một yêu cầu có tính nguyên tắc để bảo đảm sự phát triển lành mạnh, bền vững, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Chúng ta coi văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc; xác định phát triển văn hoá đồng bộ, hài hoà với tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội là một định hướng căn bản của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Nền văn hoá mà chúng ta xây dựng là nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, một nền văn hoá thống nhất trong đa dạng, dựa trên các giá trị tiến bộ, nhân văn; chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội; kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của tất cả các dân tộc trong nước, tiếp thu những thành tựu, tinh hoa văn hoá nhân loại, phấn đấu xây dựng một xã hội văn minh, lành mạnh vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người, với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực, lối sống và thẩm mỹ ngày càng cao. Đảng ta luôn xác định: Con người giữ vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển; phát triển văn hoá, xây dựng con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới; phát triển giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ là quốc sách hàng đầu; bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề sống còn, là tiêu chí để phát triển bền vững; xây dựng gia đình hạnh phúc, tiến bộ làm tế bào lành mạnh, vững chắc của xã hội, thực hiện bình đẳng giới là tiêu chí của tiến bộ, văn minh.

Xã hội chủ nghĩa là xã hội hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, dựa trên nền tảng lợi ích chung của toàn xã hội hài hoà với lợi ích chính đáng của con người, khác hẳn về chất so với các xã hội cạnh tranh để chiếm đoạt lợi ích riêng giữa các cá nhân và phe nhóm, do đó cần và có điều kiện để xây dựng sự đồng thuận xã hội thay vì đối lập, đối kháng xã hội. Trong chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân là mối quan hệ giữa các chủ thể thống nhất về mục tiêu và lợi ích; mọi đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật và hoạt động của Nhà nước đều vì lợi ích của Nhân dân, lấy hạnh phúc của Nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Mô hình chính trị và cơ chế vận hành tổng quát là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và Nhân dân làm chủ. Dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về Nhân dân là một nhiệm vụ trọng yếu, lâu dài của cách mạng Việt Nam. Đảng ta chủ trương không ngừng phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, trên cơ sở liên minh giữa công nhân, nông dân và trí thức do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Nhà nước đại diện cho quyền làm chủ của Nhân dân, đồng thời là người tổ chức thực hiện đường lối của Đảng; có cơ chế để Nhân dân thực hiện quyền làm chủ trực tiếp và dân chủ đại diện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, tham gia quản lý xã hội.

Chúng ta nhận thức rằng, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa về bản chất khác với nhà nước pháp quyền tư sản là ở chỗ: Pháp quyền dưới chế độ tư bản chủ nghĩa về thực chất là công cụ bảo vệ và phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản, còn pháp quyền dưới chế độ xã hội chủ nghĩa là công cụ thể hiện và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm và bảo vệ lợi ích của đại đa số nhân dân. Thông qua thực thi pháp luật, Nhà nước bảo đảm các điều kiện để Nhân dân là chủ thể của quyền lực chính trị, thực hiện chuyên chính với mọi hành động xâm hại lợi ích của Tổ quốc và Nhân dân. Đồng thời, Đảng ta xác định: Đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn sức mạnh và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp cách mạng ở Việt Nam; không ngừng thúc đẩy sự bình đẳng và đoàn kết giữa các dân tộc, tôn giáo.

Tong Bi thư Nguyen Phu Trong du txct.jpg
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong một cuộc tiếp xúc cử tri trước Kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XV

Nhận thức sâu sắc sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc đổi mới và bảo đảm cho đất nước phát triển theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta đặc biệt chú trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, coi đây là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa. Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam; Đảng ra đời, tồn tại và phát triển là vì lợi ích của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và của cả dân tộc.

Khi Đảng cầm quyền, lãnh đạo cả dân tộc, được toàn dân thừa nhận là đội tiên phong lãnh đạo của mình và do đó Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam. Nói như vậy không có nghĩa là hạ thấp bản chất giai cấp của Đảng, mà là thể hiện sự nhận thức bản chất giai cấp của Đảng một cách sâu sắc hơn, đầy đủ hơn, vì giai cấp công nhân là giai cấp có lợi ích thống nhất với lợi ích của Nhân dân lao động và toàn dân tộc.

Đảng ta kiên trì lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động cách mạng, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản. Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra, giám sát và bằng hành động gương mẫu của đảng viên; thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ. Ý thức được nguy cơ đối với đảng cầm quyền là tham nhũng, quan liêu, thoái hoá..., nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đặt ra yêu cầu phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa cá nhân, chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí, thoái hoá... trong nội bộ Đảng và trong toàn bộ hệ thống chính trị.

* * ​*

Công cuộc đổi mới, trong đó có việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, thực sự đem lại những thay đổi lớn lao, rất tốt đẹp cho đất nước trong gần 40 năm qua, góp phần làm cho "Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay".

Từ một nước thuộc địa, nửa phong kiến, nước ta đã trở thành một nước độc lập, có chủ quyền; giang sơn gấm vóc 330 nghìn km2 từ Hữu Nghị Quan đến Mũi Cà Mau với hơn 3.200 km bờ biển và địa chính trị, địa kinh tế có tầm quan trọng đặc biệt đã được thu về một mối. Trước Đổi mới (năm 1986), Việt Nam vốn là một nước nghèo lại bị chiến tranh tàn phá rất nặng nề, để lại những hậu quả hết sức to lớn cả về người, về của và môi trường sinh thái. Sau chiến tranh, Mỹ và phương Tây đã áp đặt bao vây, cấm vận kinh tế với Việt Nam trong suốt gần 20 năm. Tình hình khu vực và quốc tế cũng diễn biến phức tạp, gây nhiều bất lợi cho chúng ta. Lương thực, hàng hoá nhu yếu phẩm hết sức thiếu thốn, đời sống nhân dân hết sức khó khăn, khoảng 3/4 dân số sống dưới mức nghèo khổ.

Nhờ thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế bắt đầu phát triển và tăng trưởng liên tục với tốc độ tương đối cao trong suốt 40 năm qua với mức tăng trưởng trung bình gần 7% mỗi năm. Quy mô GDP không ngừng được mở rộng, năm 2023 đạt khoảng 430 tỉ USD, trở thành nền kinh tế lớn thứ 5 trong ASEAN và thứ 35 trong 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới. GDP bình quân đầu người tăng 58 lần, lên mức khoảng 4.300 USD năm 2023; Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008 và sẽ trở thành nước có thu nhập trung bình cao vào năm 2030 (khoảng 7.500 USD).

Từ một nước bị thiếu lương thực triền miên, đến nay Việt Nam không những đã bảo đảm được an ninh lương thực mà còn trở thành một nước xuất khẩu gạo và nhiều nông sản khác đứng hàng đầu thế giới. Công nghiệp và dịch vụ phát triển khá nhanh, liên tục tăng và hiện nay chiếm khoảng 88% GDP. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng mạnh, năm 2023 đạt gần 700 tỉ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt trên 355 tỉ USD, xuất siêu đạt mức kỷ lục 28 tỉ USD; Việt Nam đã trở thành đối tác thương mại lớn thứ 22 toàn cầu. Dự trữ ngoại hối tăng mạnh, đạt 100 tỉ USD vào năm 2023. Đầu tư nước ngoài liên tục phát triển, vốn đăng ký tăng 32%, vốn thực hiện tăng 3%, đạt 23 tỉ USD trong năm 2023, cao nhất từ trước đến nay; và Việt Nam đã trở thành một trong những quốc gia hàng đầu ASEAN về thu hút FDI. Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) của Việt Nam năm 2023 được các tổ chức quốc tế đánh giá đứng thứ 46/132 nước được xếp hạng.

Hiện Việt Nam vẫn đang ở thời kỳ dân số vàng với quy mô dân số hơn 100 triệu người (năm 1945, 1975, 1986 lần lượt là hơn 20, 47 và 61 triệu người), đứng thứ 16 thế giới, trong đó có khoảng 53 triệu lao động từ 15 tuổi trở lên và 54 dân tộc anh em; khối đại đoàn kết các dân tộc không ngừng được củng cố, tăng cường. Chất lượng dân số từng bước được cải thiện, nâng cao gắn với sự chăm lo đầu tư phát triển các ngành y tế, giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ theo đúng tinh thần coi ưu tiên đầu tư phát triển các lĩnh vực này là quốc sách hàng đầu; hiện đã có 12,5 bác sĩ và 32 giường bệnh trên 1 vạn dân; cùng với Trung Quốc, Việt Nam được Ngân hàng thế giới (WB) đánh giá là hai quốc gia tiên phong trong đổi mới giáo dục và đã đạt được sự phát triển rất ấn tượng trong lĩnh vực này.

Phát triển kinh tế đã giúp đất nước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội những năm 80 và cải thiện đáng kể đời sống của Nhân dân. Tỉ lệ hộ nghèo trung bình mỗi năm giảm khoảng 1,5%; giảm từ 58% theo chuẩn cũ năm 1993 của Chính phủ xuống còn 2,93% theo chuẩn nghèo đa chiều (tiêu chí cao hơn trước) năm 2023. Đến nay, có 78% số xã đạt chuẩn nông thôn mới; hầu hết các xã nông thôn đều có đường ô tô đến trung tâm, có điện lưới quốc gia, trường tiểu học và trung học cơ sở, trạm y tế và mạng điện thoại. Quá trình đô thị hoá được đẩy mạnh gắn với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; tỉ lệ đô thị hoá đã đạt khoảng 43%; hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở cả nông thôn và đô thị, nhất là hạ tầng y tế, giáo dục - đào tạo, giao thông, bưu chính viễn thông đều có bước phát triển mạnh mẽ; đã đưa vào sử dụng nhiều sân bay, bến cảng hiện đại, hơn 1.900 km đường cao tốc và phủ sóng rộng rãi mạng 4G, 5G.

Trong khi chưa có điều kiện để bảo đảm giáo dục miễn phí cho mọi người ở tất cả các cấp, Việt Nam tập trung hoàn thành xoá mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học vào năm 2000 và phổ cập giáo dục trung học cơ sở năm 2014; số sinh viên đại học, cao đẳng tăng gần 20 lần trong gần 40 năm qua. Hiện nay, Việt Nam có gần 99% số người lớn biết đọc, biết viết. Trong khi chưa thực hiện được việc bảo đảm cung cấp dịch vụ y tế miễn phí cho toàn dân, Việt Nam mở rộng diện bảo hiểm y tế bắt buộc và tự nguyện, đến nay đã đạt mức 93,35% (năm 1993 mới chỉ là 5,4%); đồng thời tập trung vào việc tăng cường y tế phòng ngừa, phòng, chống dịch bệnh, hỗ trợ các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn. Nhiều dịch bệnh vốn phổ biến trước đây đã được khống chế thành công. Người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi và người cao tuổi được cấp bảo hiểm y tế miễn phí. Tỉ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em và tỉ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh giảm gần 3 lần. Tuổi thọ trung bình của dân cư tăng từ 62 tuổi năm 1990 lên 73,7 tuổi năm 2023. Cũng nhờ kinh tế có bước phát triển nên chúng ta đã có điều kiện để chăm sóc tốt hơn những người có công, phụng dưỡng các Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng, chăm lo cho phần mộ của các liệt sĩ đã hy sinh cho Tổ quốc.

Đời sống văn hoá cũng được cải thiện đáng kể; sinh hoạt văn hoá phát triển phong phú, đa dạng. Hiện Việt Nam có gần 80% dân số sử dụng Internet, là một trong những nước có tốc độ phát triển công nghệ tin học cao nhất thế giới. Liên Hợp Quốc đã công nhận Việt Nam là một trong những nước đi đầu trong việc hiện thực hoá các Mục tiêu Thiên niên kỷ. Năm 2022, chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đạt mức 0,737, thuộc nhóm nước có HDI cao của thế giới, nhất là so với các nước có trình độ phát triển cao hơn. Chỉ số hạnh phúc của Việt Nam năm 2023 được các tổ chức xếp thứ 65/137 quốc gia được xếp hạng.

Trong điều kiện xây dựng, phát triển đất nước trong hoà bình, Đảng ta vẫn thường xuyên sát sao lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc; đã ban hành và chỉ đạo tổ chức thực hiện thắng lợi nhiều Chiến lược bảo vệ Tổ quốc qua các thời kỳ; mới đây nhất là Nghị quyết Trung ương 8 khoá XIII về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Trong đó, đã khẳng định: Luôn luôn phải giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng; sự quản lý, điều hành tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; dựa vào dân, lấy "dân là gốc", khơi dậy, phát huy ý chí tự lực, tự cường, truyền thống văn hoá, yêu nước, sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng "thế trận lòng dân", lấy "yên dân" là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Chú trọng bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên Hợp Quốc, luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Tập trung ưu tiên thực hiện thắng lợi đồng bộ các nhiệm vụ chính trị: Phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hoá là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên quyết, kiên trì, chủ động tạo lập thời cơ, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định và điều kiện thuận lợi để xây dựng, phát triển đất nước. Kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tăng cường đầu tư thích đáng cho việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân, lực lượng vũ trang nhân dân, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; giữ nước từ khi nước chưa nguy; tuyệt đối không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; chủ động, tích cực hội nhập, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế.

Nhờ đó, nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân luôn luôn được củng cố, tăng cường, nâng cao hiệu quả; chủ quyền quốc gia, môi trường hoà bình, ổn định luôn luôn được giữ vững; trật tự, an toàn xã hội luôn luôn được bảo đảm; quân đội nhân dân, công an nhân dân được chăm lo đầu tư, xây dựng ngày càng tinh, gọn, mạnh cả về chính trị, tư tưởng và vũ khí, trang thiết bị theo phương châm: Người trước, súng sau; từng bước tiến lên hiện đại, có một số quân, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Các tình huống phức tạp trên biển và tuyến biên giới được xử lý linh hoạt, hiệu quả và phù hợp. Các biện pháp bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội được tăng cường; tập trung trấn áp các loại tội phạm; bảo đảm an ninh, an toàn các sự kiện chính trị quan trọng của đất nước. Kịp thời đấu tranh, phản bác các quan điểm, tư tưởng sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, tổ chức phản động; đối thoại thẳng thắn với những người có chính kiến khác. Chỉ số hoà bình toàn cầu năm 2023 của Việt Nam đứng thứ 41 trong số 163 nước được xếp hạng. Nước ta được các nhà đầu tư nước ngoài và du khách quốc tế đánh giá là điểm đến hấp dẫn và an toàn hàng đầu thế giới.

Tong Bi thư Nguyen Phu Trong sach doingoai.jpg
Cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về xây dựng và phát triển nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam

Nhìn lại chặng đường đối ngoại vừa qua, chúng ta vui mừng và tự hào nhận thấy: Trong gần 40 năm đổi mới, Đảng ta đã kế thừa và phát huy bản sắc, cội nguồn và truyền thống dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa thế giới và tư tưởng tiến bộ của thời đại, phát triển trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, hình thành nên một trường phái đối ngoại, ngoại giao rất đặc sắc và độc đáo, mang đậm bản sắc "cây tre Việt Nam". Đó là vừa kiên định về nguyên tắc, vừa uyển chuyển về sách lược; mềm mại, khôn khéo nhưng cũng rất kiên cường, quyết liệt; linh hoạt, sáng tạo nhưng rất bản lĩnh, vững vàng trước mọi khó khăn, thách thức, vì độc lập, tự do của dân tộc, vì hạnh phúc của Nhân dân; đoàn kết, nhân ái nhưng luôn luôn kiên quyết, kiên trì bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc.

Kết quả là, từ một nước bị bao vây, cấm vận, đến nay, nước ta đã mở rộng, làm sâu sắc thêm quan hệ ngoại giao với 193 nước, trong đó có 3 nước quan hệ đặc biệt, 6 nước đối tác chiến lược toàn diện, 12 nước đối tác chiến lược và 12 nước đối tác toàn diện. Đặc biệt là, nước ta hiện đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện hoặc đối tác chiến lược với tất cả 5 nước Uỷ viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, và mở rộng quan hệ kinh tế - thương mại với 230 quốc gia và vùng lãnh thổ. Việt Nam đã và đang thể hiện tốt vai trò là bạn, là đối tác tin cậy của cộng đồng quốc tế; có nhiều sáng kiến, đề xuất và chủ động, tích cực tham gia có hiệu quả vào các hoạt động của ASEAN, tổ chức Liên Hợp Quốc và nhiều tổ chức quốc tế khác.

Các hoạt động đối ngoại diễn ra hết sức sôi động, liên tục và là điểm sáng nổi bật của năm 2023 với nhiều kết quả, thành tựu quan trọng, có ý nghĩa lịch sử. Lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước ta đã đi thăm chính thức nhiều nước, tham dự nhiều diễn đàn quốc tế lớn, đạt được nhiều kết quả quan trọng. Việc tổ chức đón rất thành công Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình, Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào Thoonglun, Chủ tịch Đảng Nhân dân Campuchia Hun Sen và nhiều nguyên thủ quốc gia các nước đến thăm Việt Nam được đánh giá là những sự kiện có ý nghĩa lịch sử, góp phần khẳng định "đất nước ta chưa bao giờ có được vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay".

Những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử của sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo tổ chức thực hiện là sản phẩm kết tinh sức sáng tạo, là kết quả của cả một quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục qua nhiều nhiệm kỳ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; tiếp tục khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của chúng ta là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Cương lĩnh chính trị của Đảng tiếp tục là ngọn cờ tư tưởng, lý luận dẫn dắt dân tộc ta vững vàng tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; là nền tảng để Đảng ta hoàn thiện đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới.

Thực tiễn phong phú và sinh động của cách mạng Việt Nam từ ngày có Đảng đến nay đã chứng tỏ, sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng, lập nên nhiều kỳ tích trên đất nước Việt Nam. Mặt khác, thông qua quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta được tôi luyện và ngày càng trưởng thành, xứng đáng với vai trò và sứ mệnh lãnh đạo cách mạng và sự tin cậy, kỳ vọng của Nhân dân. Thực tiễn đó khẳng định một chân lý: Ở Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Và cũng chính trong quá trình đó, Đảng ta đã tích luỹ và đúc rút được nhiều bài học quý báu, hun đúc nên những truyền thống vẻ vang mà hôm nay chúng ta có trách nhiệm phải ra sức giữ gìn và phát huy. Đó là truyền thống trung thành vô hạn với lợi ích của dân tộc và giai cấp, kiên định mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Đó là truyền thống giữ vững độc lập, tự chủ về đường lối; nắm vững, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tham khảo kinh nghiệm của quốc tế để đề ra đường lối đúng và tổ chức thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ cách mạng. Đó là truyền thống gắn bó máu thịt giữa Đảng và Nhân dân, luôn luôn lấy việc phục vụ Nhân dân làm lẽ sống và mục tiêu phấn đấu. Đó là truyền thống đoàn kết thống nhất, có tổ chức và kỷ luật chặt chẽ, nghiêm minh trên cơ sở nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình, phê bình và tình thương yêu đồng chí. Đó là truyền thống đoàn kết quốc tế thuỷ chung, trong sáng dựa trên những nguyên tắc và mục tiêu cao cả. Với tất cả sự khiêm tốn của người cách mạng, chúng ta vẫn có thể nói rằng: "Đảng ta thật là vĩ đại! Nhân dân ta thật là anh hùng! Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay".

PHẦN THỨ BA: PHÁT HUY HƠN NỮA TRUYỀN THỐNG YÊU NƯỚC VÀ CÁCH MẠNG VẺ VANG, QUYẾT TÂM THỰC HIỆN THẮNG LỢI MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC ĐẾN NĂM 2025 VÀ NĂM 2030, XÂY DỰNG MỘT NƯỚC VIỆT NAM NGÀY CÀNG GIÀU MẠNH, VĂN MINH, VĂN HIẾN VÀ ANH HÙNG

Chúng ta tự hào, tin tưởng tiến lên dưới lá cờ vẻ vang của Đảng trong bối cảnh tình hình thế giới, trong nước bên cạnh những thời cơ, thuận lợi cũng sẽ còn có nhiều khó khăn, thách thức lớn. Trên thế giới, cạnh tranh chiến lược, cạnh tranh kinh tế, chiến tranh thương mại tiếp tục diễn ra gay gắt; sự tranh chấp chủ quyền biển, đảo diễn biến phức tạp; các cuộc xung đột quân sự ở một số khu vực trên thế giới tác động đến địa chính trị, địa kinh tế, an ninh năng lượng và chuỗi cung ứng toàn cầu; khoa học - công nghệ và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, tạo ra cả thời cơ và thách thức mới đối với mọi quốc gia, dân tộc; biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh và các vấn đề an ninh truyền thống, phi truyền thống ngày càng tác động mạnh, nhiều mặt, có thể đe doạ nghiêm trọng đến sự ổn định, bền vững của thế giới, khu vực và đất nước ta...

Tong Bi thư Nguyen Phu Trong hop pctntc.jpg
Tổng Bí thư chủ trì họp Thường trực Ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng, tiêu cực

Ở trong nước, chúng ta vẫn đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức lớn: Để hoàn thành được mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội do Đại hội XIII của Đảng đề ra thì tốc độ tăng trưởng bình quân 6 năm 2024 - 2030 phải đạt khoảng 8%, khu vực công nghiệp chế biến, chế tạo và dịch vụ phải phát triển mạnh mẽ hơn, tăng khoảng 4,5 điểm phần trăm đóng góp cho tăng trưởng kinh tế; đây là mức rất cao, đòi hỏi chúng ta phải có sự quyết tâm cao và nỗ lực rất lớn mới có thể đạt được.

Thị trường tài chính - tiền tệ, nhất là thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp sẽ diễn biến rất phức tạp, tiềm ẩn nhiều rủi ro. Thanh khoản của một số ngân hàng thương mại yếu kém và doanh nghiệp, dự án lớn sẽ gặp nhiều khó khăn. Lãi suất ngân hàng vẫn ở mức cao, sức ép lạm phát còn lớn. Hoạt động sản xuất kinh doanh ở một số ngành, lĩnh vực có xu hướng suy giảm; số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường tăng; nhiều doanh nghiệp phải giảm nhân công, giảm giờ làm, cho người lao động nghỉ việc; đời sống của người lao động gặp nhiều khó khăn. Giải ngân vốn đầu tư công chưa đạt yêu cầu. Vốn đầu tư nước ngoài đăng ký mới, đăng ký bổ sung hoặc góp vốn, mua cổ phần giảm.

Tốc độ tăng thu ngân sách nhà nước có dấu hiệu suy giảm; nợ xấu ngân hàng, nợ thuế nhà nước có xu hướng tăng; bảo đảm an ninh kinh tế, an ninh mạng, trật tự, an toàn xã hội, chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ nhân dân,... hiện vẫn là những vấn đề lớn có nhiều khó khăn, thách thức cần khắc phục. Việc tổ chức thực hiện luật pháp, chính sách, thực thi công vụ vẫn là khâu yếu; kỷ luật, kỷ cương ở nhiều nơi chưa nghiêm, thậm chí còn có hiện tượng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm; cái gì có lợi thì kéo về cho cơ quan, đơn vị và cá nhân mình; cái gì khó khăn thì đùn đẩy ra xã hội, cho cơ quan khác, người khác. Trong khi đó, các thế lực xấu, thù địch, phản động tiếp tục lợi dụng tình hình này để đẩy mạnh việc thực hiện chiến lược "diễn biến hoà bình", thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ chúng ta nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta.

Tình hình trên đây đòi hỏi chúng ta tuyệt đối không được chủ quan, tự mãn, quá say sưa với những kết quả, thành tích đã đạt được, và cũng không quá bi quan, dao động trước những khó khăn, thách thức; mà trái lại, cần phải hết sức bình tĩnh, sáng suốt, phát huy thật tốt những kết quả, bài học kinh nghiệm đã có, khắc phục những hạn chế, yếu kém còn tồn tại, nhất là từ đầu nhiệm kỳ khoá XIII đến nay, để tiếp tục đẩy mạnh đổi mới, nỗ lực phấn đấu, tranh thủ mọi thời cơ, thuận lợi; vượt qua mọi khó khăn, thách thức, triển khai thực hiện thắng lợi các chương trình, kế hoạch, mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra cho nhiệm kỳ khoá XIII và đến năm 2030. Đặc biệt là, cần phải tiếp tục quán triệt, vận dụng sáng tạo những bài học kinh nghiệm Đại hội XIII của Đảng đã đúc kết được.

Đó là, (1) Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị phải được triển khai quyết liệt, toàn diện, đồng bộ, thường xuyên, hiệu quả cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; thường xuyên củng cố, tăng cường đoàn kết trong Đảng và hệ thống chính trị; thực hiện nghiêm các nguyên tắc xây dựng Đảng, thường xuyên đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng. Xây dựng Nhà nước và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; hoàn thiện cơ chế kiểm soát chặt chẽ quyền lực: Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Công tác cán bộ phải thực sự là "then chốt của then chốt", tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ cấp chiến lược và người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; phát huy trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên theo phương châm chức vụ càng cao càng phải gương mẫu, nhất là Uỷ viên Bộ Chính trị, Uỷ viên Ban Bí thư, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

(2) Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn luôn quán triệt sâu sắc quan điểm "dân là gốc"; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng". Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của Nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của Nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân, dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng; củng cố và tăng cường niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa.

(3) Trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện, phải có quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, năng động, sáng tạo, tích cực; có bước đi phù hợp, phát huy mọi nguồn lực, động lực và tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa; kịp thời tháo gỡ các điểm nghẽn, vướng mắc; đề cao trách nhiệm của người đứng đầu gắn liền với phát huy sức mạnh đồng bộ của cả hệ thống chính trị; phát huy dân chủ đi đôi với giữ vững kỷ cương; coi trọng tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận; thực hiện tốt sự phối hợp trong lãnh đạo, quản lý, điều hành; coi trọng chất lượng và hiệu quả thực tế; tạo đột phá để phát triển.

(4) Tập trung ưu tiên xây dựng đồng bộ thể chế phát triển, bảo đảm hài hoà giữa kiên định và đổi mới; kế thừa và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, văn hoá, xã hội; giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá, con người, giải quyết các vấn đề xã hội, bảo vệ tài nguyên, môi trường; giữa phát triển kinh tế, xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh; giữa độc lập, tự chủ với hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý với Nhân dân làm chủ; giữa thực hành dân chủ với tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội... Thực sự coi trọng, phát huy hiệu quả vai trò động lực của con người, văn hoá, của giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ trong phát triển đất nước.

(5) Chủ động nghiên cứu, nắm bắt, dự báo đúng tình hình, tuyệt đối không được chủ quan, không để bị động, bất ngờ. Kiên quyết, kiên trì bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc đi đôi với giữ vững môi trường hoà bình, ổn định, an ninh, an toàn để phát triển đất nước. Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường. Xử lý đúng đắn, hiệu quả mối quan hệ với các nước lớn và các nước láng giềng theo đúng tinh thần là bạn, là đối tác tin cậy, có trách nhiệm với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế; đánh giá đúng xu thế, nắm bắt trúng thời cơ. Phát huy hiệu quả sức mạnh tổng hợp của đất nước kết hợp với sức mạnh của thời đại. Khai thác, sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Xác định những bài học kinh nghiệm đó là cơ sở quan trọng để Đảng ta tiếp tục vận dụng, phát huy và phát triển sáng tạo trong lãnh đạo, chỉ đạo, giúp chúng ta kiên định, vững vàng và tự tin vượt qua những khó khăn, thách thức mới và nhiệm vụ nặng nề hơn khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới.

Đồng thời, cần tiếp tục quán triệt, vận dụng thật tốt một số bài học kinh nghiệm về việc đổi mới phương thức lãnh đạo và phong cách, lề lối làm việc được rút ra tại Hội nghị Trung ương giữa nhiệm kỳ khoá XIII:

Một là, Phải luôn luôn nắm vững và nghiêm túc chấp hành Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, Quy chế làm việc và chủ trương, đường lối của Đảng, luật pháp, chính sách của Nhà nước. Thực hiện thật tốt các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, đặc biệt là nguyên tắc tập trung dân chủ; đoàn kết thống nhất; kiên định, nhất quán, giữ vững nguyên tắc trước những vấn đề khó khăn, thách thức mới. Đối với những vấn đề lớn, khó, phức tạp, hệ trọng, cấp bách, nhạy cảm, chưa có tiền lệ, còn có nhiều ý kiến khác nhau, thì cần phải đưa ra họp bàn, thảo luận một cách dân chủ, thẳng thắn; cân nhắc cẩn trọng, kỹ lưỡng để có những quyết định kịp thời, đúng đắn và phù hợp với tình hình.

Hai là, Phải bám sát Chương trình làm việc toàn khoá của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư để xây dựng và thực hiện cho bằng được chương trình công tác hằng năm, hằng quý, hằng tháng, hằng tuần theo đúng kế hoạch; đồng thời nhạy bén, linh hoạt, kịp thời điều chỉnh, bổ sung vào chương trình công tác những công việc hệ trọng, phức tạp, mới phát sinh trên các lĩnh vực để kịp thời lãnh đạo, chỉ đạo có hiệu quả toàn diện mọi hoạt động trong đời sống xã hội. Cần tiếp tục phát huy điểm mới trong nhiệm kỳ XIII, đó là: Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã chỉ đạo tổ chức nhiều hội nghị cán bộ toàn quốc (trực tiếp, trực tuyến) để triển khai, quán triệt nhanh, đồng bộ Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, các nghị quyết của Trung ương và Bộ Chính trị toàn diện ở tất cả các ngành, các lĩnh vực, các địa bàn, theo cả chiều dọc và chiều ngang; thống nhất từTrung ương đến địa phương và giữa các địa phương trong các vùng, miền. Định kỳ hằng tháng hoặc khi cần thiết, các đồng chí lãnh đạo chủ chốt đều họp để nắm bắt toàn diện, cụ thể, thực chất tình hình; trao đổi, bàn bạc, thống nhất quan điểm, chủ trương, định hướng chỉ đạo những vấn đề lớn, hệ trọng, cấp bách của Đảng, của Đất nước; đôn đốc, kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, nhằm đẩy nhanh tiến độ, hiệu quả công việc đã đề ra. Sau mỗi cuộc họp đều ban hành kết luận chỉ đạo, phân công rõ trách nhiệm thực hiện đối với từng vấn đề; góp phần quan trọng để lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành nhất quán, thống nhất, kịp thời, chặt chẽ, đồng bộ, thông suốt, đặc biệt là trong bối cảnh phải phòng, chống dịch bệnh Covid-19 và xử lý các tình huống phức tạp vừa qua; khắc phục những sự chồng lấn, trùng lắp trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành; tạo sự đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động trong các đồng chí lãnh đạo chủ chốt; tạo sự lan toả đến Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng và cả hệ thống chính trị.

Ba là, Tập trung ưu tiên ban hành đồng bộ và có chất lượng hệ thống pháp luật, các quy định, quy chế, quy trình công tác để thực hiện nghiêm túc, thống nhất trong toàn Đảng và cả hệ thống chính trị; đổi mới, nâng cao chất lượng công tác triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; có sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng, sự vào cuộc với quyết tâm cao, nỗ lực lớn của cả hệ thống chính trị, sự đoàn kết nhất trí của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân theo đúng tinh thần "Tiền hô hậu ủng", "Nhất hô bá ứng", "Trên dưới đồng lòng", "Dọc ngang thông suốt".

Bốn là, Tập thể Bộ Chính trị, Ban Bí thư và từng đồng chí Uỷ viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư phải chấp hành nghiêm túc các quy chế, chế độ công tác; hoạt động trên cơ sở Quy chế làm việc, Chương trình công tác toàn khoá và hằng năm. Chuẩn bị kỹ nội dung, chương trình các cuộc họp; sắp xếp nội dung một cách khoa học, bài bản; thời gian tương đối hợp lý; mỗi phiên họp giải quyết được nhiều vấn đề; phát huy trí tuệ tập thể, đề cao trách nhiệm cá nhân, thảo luận dân chủ, cẩn trọng, kỹ lưỡng; văn bản hoá nhanh, kịp thời các kết luận của phiên họp.

Việc phân công, phân cấp trong giải quyết công việc giữa Bộ Chính trị và Ban Bí thư, giữa tập thể Bộ Chính trị, Ban Bí thư và cá nhân các đồng chí Uỷ viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư phụ trách từng lĩnh vực và quan hệ lãnh đạo giữa Bộ Chính trị, Ban Bí thư với các Đảng đoàn, Ban cán sự đảng, cấp uỷ trực thuộc Trung ương cũng phải rõ ràng, cụ thể. Bộ Chính trị, Ban Bí thư giải quyết công việc theo đúng thẩm quyền; báo cáo kịp thời, đầy đủ với Ban Chấp hành Trung ương Đảng những vấn đề quan trọng trước khi quyết định và những công việc Bộ Chính trị đã giải quyết giữa hai kỳ hội nghị Trung ương.

Năm là, Từng đồng chí Uỷ viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư cần phát huy cao độ tinh thần nêu gương, thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng; nghiêm túc tự soi, tự sửa, tự phê bình và phê bình; giữ vững kỷ luật, kỷ cương, tự giác nhận trách nhiệm chính trị lĩnh vực mình phụ trách; kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân và các biểu hiện tiêu cực khác; giữ gìn sự đoàn kết nội bộ; tư tưởng, chính trị vững vàng, quan điểm đúng đắn; gương mẫu về đạo đức, lối sống trong công tác, trong cuộc sống của bản thân, gia đình và người thân. Hết sức tránh tình trạng "Chân mình còn lấm bê bê; Lại cầm bó đuốc đi rê chân người!".

Trên cơ sở đó, tập trung ưu tiên triển khai thực hiện thật tốt những nhiệm vụ trọng tâm sau đây:

Thứ nhất, về phát triển kinh tế: Cần tiếp tục quán triệt thật sâu sắc, tổ chức thực hiện thật nghiêm, thật tốt các chủ trương, đường lối của Đảng và luật pháp, chính sách của Nhà nước về phát triển nhanh và bền vững. Chú trọng củng cố, tăng cường nền tảng kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, nâng cao năng lực nội tại và tính tự chủ của nền kinh tế trên cơ sở lành mạnh hoá, giữ vững sự phát triển ổn định, an toàn của hệ thống các tổ chức tín dụng, thị trường tiền tệ, thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp. Tập trung ưu tiên cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; giải quyết có hiệu quả những khó khăn, hạn chế, yếu kém, cả trước mắt lẫn lâu dài của nền kinh tế để giữ vững đà phục hồi, tăng trưởng nhanh và bền vững, thực chất hơn; tạo chuyển biến mạnh hơn trong việc thực hiện các đột phá chiến lược, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số, xã hội số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn,... gắn với tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường.

Thứ hai, về phát triển văn hoá, xã hội: Cần quan tâm hơn nữa đến nhiệm vụ phát triển văn hoá, xã hội, hài hoà và ngang tầm với phát triển kinh tế; bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội; không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân. Thực hiện có hiệu quả chính sách hỗ trợ người dân, người lao động mất việc làm và doanh nghiệp gặp khó khăn. Chăm lo đời sống người có công với cách mạng, người có hoàn cảnh khó khăn; xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, gắn với bảo tồn, phát huy các giá trị, bản sắc văn hoá nông thôn, đô thị, giải quyết việc làm, giảm nghèo bền vững; ưu tiên bố trí nguồn lực thực hiện các chương trình, đề án, chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Tiếp tục làm tốt hơn nữa công tác phòng, chống dịch bệnh; nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ cho Nhân dân; bảo đảm vệ sinh, an toàn thực phẩm. Nâng cao hiệu quả của các thiết chế văn hoá, nhất là ở các khu công nghiệp, khu đô thị mới; bảo tồn và phát huy các giá trị di sản, văn hoá tốt đẹp. Xây dựng nếp sống văn hoá lành mạnh; ngăn chặn sự suy thoái về đạo đức, lối sống và quan tâm hơn nữa đến việc phòng, chống bạo lực gia đình, xâm hại trẻ em và tệ nạn xã hội.

Thứ ba, về quốc phòng, an ninh, đối ngoại: Cần tiếp tục củng cố, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội; nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế. Chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, phản động; tuyệt đối không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Thực hiện đồng bộ các giải pháp bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; tích cực đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm và tệ nạn xã hội; thực hiện các giải pháp bảo đảm an ninh mạng, an toàn giao thông, phòng, chống cháy, nổ.

Tổ chức thật tốt các hoạt động đối ngoại, nhất là đối ngoại cấp cao; chủ động, tích cực, làm sâu sắc, thực chất hơn nữa quan hệ với các đối tác; đẩy mạnh đối ngoại đa phương; giữ vững đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, lấy lợi ích quốc gia, dân tộc là trên hết, trước hết. Triển khai thực hiện có hiệu quả các hiệp định thương mại đã ký kết, tranh thủ tối đa lợi ích mà các hiệp định này có thể đem lại.

Thứ tư, về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị: Cần tiếp tục đẩy mạnh và làm tốt hơn nữa công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị thực sự trong sạch, vững mạnh, đặc biệt là hệ thống các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp từ Trung ương đến địa phương. Xây dựng Chính phủ, chính quyền các địa phương thật sự trong sạch, liêm chính, vững mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Cụ thể là, phải có chương trình, kế hoạch triển khai thực hiện một cách nghiêm túc, ráo riết, có kết quả cụ thể các nghị quyết, kết luận của Trung ương về vấn đề này, nhất là Nghị quyết Trung ương 4 khoá XII và Kết luận của Hội nghị Trung ương 4 khoá XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá", gắn với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Làm tốt hơn nữa công tác cán bộ để lựa chọn, bố trí đúng những người thật sự có đức, có tài, liêm chính, tâm huyết; thật sự vì nước, vì dân vào các vị trí lãnh đạo của bộ máy nhà nước. Kiên quyết đấu tranh loại bỏ những người sa vào tham nhũng, hư hỏng; chống mọi biểu hiện chạy chức, chạy quyền, cục bộ, ưu ái tuyển dụng người nhà, người thân không đủ tiêu chuẩn. Phát huy dân chủ, nâng cao ý thức trách nhiệm, nêu gương; tinh thần phục vụ nhân dân của cán bộ, công chức, viên chức. Có cơ chế, chính sách khuyến khích, bảo vệ những người năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Siết chặt kỷ luật, kỷ cương; thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong việc thực thi công vụ; nâng cao đạo đức, văn hoá, tính chuyên nghiệp của cán bộ, công chức, viên chức. Kiên trì, kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực gắn với việc đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện luật pháp, cơ chế, chính sách để "không thể, không dám, không muốn tham nhũng".

Thứ năm, về chuẩn bị cho đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng: Các Tiểu ban chuẩn bị cho Đại hội XIV của Đảng cần khẩn trương, nghiêm túc chủ trì, phối hợp với các ban, bộ, ngành Trung ương và các cấp uỷ, chính quyền các địa phương tiến hành tổng kết những vấn đề lý luận và thực tiễn qua 40 năm đổi mới, tập trung vào 10 năm gần đây; xây dựng có chất lượng dự thảo các văn kiện trình đại hội đảng bộ các cấp và tham gia góp ý hoàn thiện dự thảo các văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng; làm tốt hơn nữa công tác xây dựng quy hoạch và công tác cán bộ lãnh đạo các cấp, đặc biệt là công tác quy hoạchvà công tác cán bộ Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư khoá XIV, nhiệm kỳ 2026 - 2031; chuẩn bị và tiến hành thật tốt đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2025 - 2030, tiến tới Đại hội XIV của Đảng.

* *​ *

Tự hào, tin tưởng vào Đảng quang vinh qua 30 năm kể từ ngày thành lập, nhà thơ Tố Hữu, nhà thơ cách mạng nổi tiếng của chúng ta đã có tác phẩm bất hủ "30 năm đời ta có Đảng", trong đó có đoạn viết:

"Đảng ta đó, trăm tay nghìn mắt

Đảng ta đây, xương sắt da đồng

Đảng ta, muôn vạn công nông

Đảng ta, chung một tấm lòng niềm tin"

Niềm tự hào, niềm tin đó của Nhân dân ta đối với Đảng từng bước được vun đắp, nâng cao, ngày càng bền chặt hơn qua suốt chặng đường cách mạng vẻ vang của Đảng từ năm 1930 đến nay với những kết quả, thành tựu mà toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng đã nỗ lực phấn đấu đạt được trong đấu tranh cách mạng giành chính quyền; kháng chiến kiến quốc; xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc; đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; khắc phục hậu quả chiến tranh, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, từng bước đi lên chủ nghĩa xã hội; và trong tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước ta ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn; mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; góp phần làm cho đất nước ta có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay.

Tiếp tục trên chặng đường vinh quang dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa vô cùng yêu dấu của chúng ta ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn, Đảng ta, Đất nước ta và Dân tộc ta sẽ tiếp tục hướng tới năm 2030, kỷ niệm 100 năm Ngày thành lập Đảng, nước ta trở thành nước có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; và đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam: phấn đấu đưa nước ta trở thành nước phát triển, thu nhập cao; xây dựng đất nước Việt Nam ta ngày càng "cường thịnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc", vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Tự hào về Đảng quang vinh, Bác Hồ vĩ đại và Dân tộc Việt Nam anh hùng; tin tưởng vào sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng cách mạng chân chính và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam văn hiến và anh hùng, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta quyết tâm xây dựng một nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh, văn minh, văn hiến và anh hùng theo định hướng xã hội chủ nghĩa".

Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Phú Trọng
Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam
FalseChính trị
Tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ cán bộ bằng thể chế và một số khuyến nghị chính sáchBài viếtAdminTư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ cán bộ bằng thể chế và một số khuyến nghị chính sách/SiteAssets/TT-HCM-ve-nuoi-bv-cb-1.jpg
14/01/2024 7:00 SANoĐã ban hành

“Nuôi dạy và giữ gìn cán bộ” là vấn đề trọng tâm, bao trùm toàn bộ tư tưởng và thực tiễn lãnh đạo, xây dựng đội ngũ cán bộ của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vận dụng đúng đắn, sáng tạo những chỉ dẫn của Người về vấn đề này là yêu cầu tiên quyết, góp phần bảo đảm thực hiện tốt chủ trương “xây dựng đội ngũ cán bộ”(1) và “làm tốt công tác bảo vệ cán bộ”(2) của Đảng ta trong giai đoạn mới.

TT-HCM-ve-nuoi-bv-cb-1.jpg
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cùng lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các đại biểu dự khai mạc Hội nghị Trung ương giữa nhiệm kỳ khóa XIII _Ảnh: TTXVN


Bảo vệ cán bộ bằng thể chế - Tiếp cận từ tư tưởng Hồ Chí Minh

Cán bộ là đội ngũ những người ưu tú, giữ vị trí tiên phong trong lãnh đạo và tổ chức các hoạt động nhằm mục tiêu phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”(3). Để có được đội ngũ cán bộ tốt, Người yêu cầu thực hiện tốt hai mảng công việc song trùng là “nuôi dạy cán bộ”(4) và “giữ gìn cán bộ”(5). Trong đó, nuôi dạy cán bộ là tạo lập các điều kiện, tiền đề giúp cán bộ có môi trường thuận lợi để phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực trước yêu cầu, nhiệm vụ công tác; giữ gìn cán bộ là bảo vệ trước các nguy cơ mất cán bộ.

Tuy không trực tiếp bàn luận, song thông qua các bài nói, bài viết về công tác cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập đến vấn đề bảo vệ cán bộ trên cả hai phương diện. Theo nghĩa rộng, bảo vệ cán bộ là hoạt động bao hàm trong đó cả phòng, chống các nguy cơ gây “mất cán bộ” và “nuôi dưỡng” bằng cách tạo ra các điều kiện thuận lợi cho cán bộ phát triển phẩm chất, năng lực. Với nghĩa này, toàn bộ công tác cán bộ, xét đến cùng chính là bảo toàn đội ngũ “cán bộ tốt” đáp ứng yêu cầu của “việc cách mạng”. Theo nghĩa hẹp, bảo vệ cán bộ chính là giữ gìn cán bộ, như giữ gìn vốn quý, trước các nguy cơ gây hại làm mất cán bộ.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề bảo vệ cán bộ bằng thể chế có thể khái quát những quan điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, để bảo vệ cán bộ hiệu quả, nhất thiết phải lập các khuôn khổ, nguyên tắc hoạt động của chế độ mới. Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thắng lợi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Người đã xác định “Vấn đề thứ ba” trong “Những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” là “tổ chức càng sớm càng hay cuộc TỔNG TUYỂN CỬ với chế độ phổ thông đầu phiếu”(6) để hình thành tổ chức, bộ máy và “phải có một hiến pháp dân chủ”(7) để thiết lập các khuôn khổ, nguyên tắc pháp lý nền tảng cho tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị trong chế độ mới. Các khuôn khổ, nguyên tắc này là nền tảng định hình những việc được làm, nên làm và những việc không nên làm, không được làm của mọi cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị của chế độ mới. Khi các khuôn khổ, nguyên tắc hoạt động được xác lập thì cán bộ và cơ quan quản lý, sử dụng cán bộ có những nền tảng chuẩn mực để tuân theo, biết những nghiêm cấm để tránh xa, nghĩa là cán bộ được làm việc trong hệ thống khuôn khổ, nguyên tắt này.

Thứ hai, xác lập “lối làm việc” của cán bộ và cơ quan quản lý, sử dụng. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thấy cán bộ phát triển tốt hay suy thoái rồi bị đào thải đều thể hiện trong quá trình thực thi công vụ, nên “sửa đổi lối làm việc” là một trong những yêu cầu tiên quyết. Nhiều sai lầm, khuyết điểm, căn bệnh trong lối làm việc được Người chỉ ra cặn kẽ và xem là một trong những nguyên nhân dẫn đến “mất cán bộ”. Để “giữ gìn cán bộ”, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu “phải sửa chữa lối làm việc cho hợp lý”(8). Người nêu những nguyên tắc nền tảng cho lối làm việc của cán bộ, bao gồm: “Lề lối làm việc phải dân chủ”(9), “theo đúng đường lối của Chính phủ và Đoàn thể, hợp với lòng dân”(10); “Lề lối làm việc: Mọi việc bất kỳ to nhỏ, phải có kế hoạch, phải bàn bạc kỹ. Phải giải thích cho dân hiểu rõ, sao cho dân vui vẻ thi đua làm. Hết sức tránh bệnh quan liêu, bệnh mệnh lệnh”(11). Tuân theo các nguyên tắc này nghĩa là cán bộ đi đúng con đường trở thành “cán bộ tốt”; thực hiện không đúng nguyên tắc này, thậm chí vi phạm, làm ngược, đồng nghĩa cán bộ có biểu hiện chệch hướng, sa vào “cán bộ kém”, có nguy cơ bị đào thải. “Giữ gìn cán bộ” là mục tiêu chính yếu của “phong trào sửa đổi lối làm việc”.

Thứ ba, xác lập yêu cầu, nguyên tắc trong quản lý, sử dụng cán bộ. Việc quản lý, sử dụng cán bộ có liên hệ mật thiết đến bảo vệ cán bộ. Trong thực tế, cùng một khuôn khổ thể chế, song với thực tiễn quản lý, sử dụng khác nhau, có cơ quan tạo cảm hứng, động lực cho cán bộ gắn bó lâu dài và phát triển; ngược lại, có cơ quan tạo tâm lý tiêu cực dẫn đến nguy cơ mất cán bộ. Người thẳng thắn chỉ ra “khuyết điểm lớn” của một số cơ quan là “thiếu óc tổ chức”. Khuyết điểm này vừa khiến “việc cũng đến hỏng”, vừa không quản lý, sử dụng cán bộ tốt dẫn đến nguy cơ “mất cán bộ”(12). Cơ quan quản lý, sử dụng cán bộ tốt tức là thực hiện tốt các nguyên tắc, khuôn khổ hoạt động của chế độ mới, thực hành “lối làm việc” mới, kiến tạo môi trường với những điều kiện thuận lợi cho cán bộ rèn luyện, phát triển. Việc quản lý, sử dụng cán bộ tốt cũng góp phần loại trừ những nguy cơ tiêu cực từ cơ chế quản lý và môi trường làm việc gây hại đến cán bộ. Người nhấn mạnh: “Dùng cán bộ không đúng tài năng của họ, cũng là một cớ thất bại. Thí dụ: người viết giỏi nhưng nói kém lại dùng vào những việc cần phải nói. Người nói khéo nhưng viết xoàng lại dùng vào công việc viết lách. Thành thử hai người đều không có thành tích”(13).

Mục tiêu của việc bảo vệ cán bộ là giúp “cán bộ làm được việc, phải khiến cho họ yên tâm làm việc, vui thú làm việc”(14). Trong quản lý, sử dụng cán bộ, Người nêu ra những định hướng nguyên tắc gồm: Tập trung dân chủ; tự phê bình và phê bình; dựa vào công việc và sở trường của cán bộ để giao việc; kỷ cương gắn liền với tình đồng chí yêu thương; chí công vô tư; cảnh giác, đấu tranh với thành phần xấu. Theo Người, làm được như vậy là giúp cho Đảng có “cán bộ phụ trách, có gan làm việc, ham làm việc”(15). Không làm được như vậy sẽ có “một mớ cán bộ nhát gan, dễ bảo “đập đi, hò đứng”, không dám phụ trách. Như thế là một việc thất bại cho Đảng”(16).

Thứ tư, xác lập yêu cầu, nguyên tắc trong kiểm soát và đánh giá cán bộ. Chủ tịch Hồ Chí Minh xem kiểm tra, kiểm soát là nhân tố quan trọng bảo đảm sự lãnh đạo đúng. Người yêu cầu “phải luôn luôn kiểm soát cán bộ”(17) để giúp họ rút kinh nghiệm, sửa chữa khuyết điểm, phát huy ưu điểm. Khi phát hiện khuyết điểm thì phải tùy nặng nhẹ mà xử trí cho đúng mức để mọi người biết mà tránh. Xử lý kỷ luật phải tuân thủ phương châm “giáo dục là chính, trừng phạt là phụ”(18). Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Phải hết sức chú ý vấn đề dân chủ và kỷ luật. Kỷ luật trong dân chủ, dân chủ phải có kỷ luật”(19). Đánh giá cán bộ để có cơ sở “giữ gìn cán bộ”. Hồ Chí Minh cho rằng, mỗi lần xem xét lại cán bộ, một mặt sẽ tìm thấy những nhân tài mới, mặt khác thì những người yếu kém sẽ bị lòi ra. Yêu cầu, chuẩn mực dùng để đánh giá cán bộ phải phù hợp với từng thời kỳ, từng địa phương, từng lĩnh vực, đánh giá một cách hoàn toàn công minh, khách quan. Đánh giá cán bộ phải toàn diện, xét người và xét việc, cả quá khứ, hiện tại và tiềm năng trong tương lai. Khi xem xét phải chú ý cả hiện tượng và bản chất, không nên chỉ xem xét mặt bên ngoài, xem xét qua một việc, mà phải xem xét kỹ toàn bộ công việc của cán bộ đó.

Thứ năm, xác lập quyền hạn, trách nhiệm của cán bộ, “đoàn thể”, nhân dân trong “giữ gìn cán bộ”. Theo Hồ Chí Minh, bảo vệ cán bộ bao gồm tự bảo vệ và được bảo vệ. Tự bảo vệ nghĩa là cán bộ chủ động, tự giác thực hiện các biện pháp phòng vệ trước các nguy cơ hoặc đấu tranh trước các “kẻ địch” đang tấn công, gây hại. Dù là yêu cầu tự thân, song mỗi cán bộ chỉ có thể tự bảo vệ trên cơ sở được xác lập rõ quyền hạn, trách nhiệm công tác và mối quan hệ với các chủ thể khác. Theo Người, cán bộ có quyền được thực thi công vụ theo quy định, thụ hưởng chính sách, được ý kiến, chăm lo, được che chở bảo vệ. Theo Hồ Chí Minh, “cán bộ tốt là làm đúng nghĩa vụ của đảng viên”(20), trong đó có kiên quyết đấu tranh chống kẻ địch của cách mạng. Để cán bộ có thể tự bảo vệ, Người nêu cơ chế: “Cấp trên phải thường kiểm tra cấp dưới. Cấp dưới phải phê bình cấp trên. Giúp nhau kinh nghiệm và sáng kiến, giúp nhau tiến bộ. Tự phê bình và phê bình nhau theo tinh thần thân ái và lập trường cách mệnh”(21). Đó chính là mối quan hệ giữa các cán bộ trong tự bảo vệ. Được bảo vệ nghĩa là cơ quan quản lý, sử dụng cán bộ và nhân dân thực hiện các hoạt động bảo vệ cán bộ. Cơ quan, tổ chức có quyền quản lý, sử dụng cán bộ, đồng thời có trách nhiệm phải “nuôi dạy” và “giữ gìn cán bộ”. Để tẩy sạch các căn bệnh, khuyết điểm gây tổn hại đến cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra năm cách: Chỉ đạo (giao phụ trách nhưng định rõ phương hướng, cách thức công tác); nâng cao (tìm cách cho học tập); kiểm tra; cải tạo; giúp đỡ (bảo đảm điều kiện sinh sống đầy đủ mà làm việc). Người nhấn mạnh, dựa vào dân để “giữ gìn cán bộ” là tất yếu thắng lợi. Nhân dân có “trăm tai nghìn mắt” nên thấy hết mọi điều, từ ưu điểm đến hạn chế. Theo Người, “Nhân dân thì giúp Chính phủ và Đoàn thể kiểm tra công việc và hành vi của các cán bộ”; “tất cả các cơ quan Nhà nước là phải dựa vào nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự kiểm soát của nhân dân”(22). Nhân dân bãi miễn cán bộ thông qua cơ chế dân chủ theo quy định của pháp luật.

TT-HCM-ve-nuoi-bv-cb-2.jpg

Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Trương Thị Mai chia sẻ, giao lưu với các đại biểu tại Hội nghị đánh giá giữa nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh _Ảnh: vietnamnet.vn


Một số khuyến nghị hoàn thiện thể chế bảo vệ cán bộ theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Từ khi thành lập đến nay, Đảng ta luôn nhất quán xác định bảo vệ cán bộ là nhiệm vụ tất yếu, quan trọng. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Đảng đã đề ra chủ trương: “Khuyến khích bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung”(23). Thực hiện chủ trương của Đại hội, Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 14-KL/TW, ngày 22-9-2021, “Về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung” với yêu cầu  “cần đặc biệt quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, có bản lĩnh chính trị, trí tuệ, gương mẫu, quyết tâm đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, sẵn sàng đương đầu với khó khăn, thử thách, luôn nỗ lực hành động vì lợi ích chung”. Đặc biệt, tại Nghị định số 73/2023/NĐ-CP, ngày 29-9-2023, của Chính phủ, “Quy định về khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung” đã khẳng định “Cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung phải được khuyến khích, bảo vệ”. Để việc bảo vệ cán bộ bằng thể chế ngày càng thiết thực và hiệu quả, trong thời gian tới, cần quan tâm thực hiện một số quan điểm:

Một là, thể chế bảo vệ cán bộ không trái với các khuôn khổ, nguyên tắc vận hành hệ thống chính trị, đặc biệt là Hiến pháp và Điều lệ Đảng. Điều này đặt ra khi một số quy định pháp luật còn bất cập, không phù hợp thực tiễn, cần sửa đổi, bổ sung hoặc trong trường hợp cần ban hành các quy định mới. Trong trường hợp đó, thể chế bảo vệ cán bộ không được trái Điều lệ Đảng.

Hai là, thể chế bảo vệ cán bộ phải xác định được các chủ thể tham gia với những quy định chi tiết về quyền hạn, trách nhiệm và mối quan hệ. Hiện nay, thể chế khuyến khích bảo vệ cán bộ “6 dám”(24) cần xác định được lực lượng thực hiện với những quy định cụ thể, chi tiết về chức năng, nhiệm vụ và mối quan hệ. Nhiều văn bản pháp quy(25) trong hệ thống chính trị đã quy định quyền hạn, trách nhiệm của cán bộ, công chức và cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị, những quy định về quyền và nghĩa vụ giám sát của nhân dân đối với hệ thống chính trị. Dựa trên các quy định này, thể chế bảo vệ cán bộ cần cụ thể hóa, chi tiết hóa, bổ sung thêm để trả lời rõ ràng, xác đáng những câu hỏi lớn đang đặt ra: Ai bảo vệ cán bộ? Nội hàm của quyền bảo vệ cán bộ? Nội dung của trách nhiệm bảo vệ cán bộ? Phối hợp như thế nào trong bảo vệ cán bộ?...

Ba là, thể chế bảo vệ cán bộ cần xác lập được các tiêu chí đánh giá cụ thể, phù hợp. Các tiêu chí này là cơ sở để xác định xếp loại cán bộ. Trong đó, cần chú ý khi cán bộ thực hiện thí điểm mà kết quả không đạt hoặc chỉ đạt được một phần mục tiêu đề ra hoặc gặp rủi ro, xảy ra thiệt hại thì cấp có thẩm quyền phải kịp thời xác định rõ nguyên nhân khách quan, chủ quan, đánh giá công tâm để xem xét, xử lý phù hợp, nếu thực hiện đúng chủ trương, có động cơ trong sáng, vì lợi ích chung thì được xem xét miễn hoặc giảm nhẹ trách nhiệm. Xử lý nghiêm việc lợi dụng chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ để thực hiện hoặc bao che hành vi vụ lợi, tham nhũng, tiêu cực, vi phạm kỷ luật của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Cần cụ thể hóa hơn nữa các tiêu chí đánh giá, để cán bộ biết khuôn khổ của “6 dám” để thực hiện; cơ quan quản lý, sử dụng có thẩm quyền biết khuôn khổ để “xem xét, quyết định cho thực hiện hoặc thực hiện thí điểm”. Các tiêu chí này cũng là cơ sở để tổng kết, đánh giá “đề xuất đổi mới, sáng tạo của cán bộ”, qua đó quyết định nhân rộng thực hiện, điều chỉnh hoặc không tiếp tục thực hiện.

Bốn là, thể chế bảo vệ cán bộ cần xác lập được cơ chế kiểm soát cán bộ và phương cách thực hiện. Cơ chế kiểm soát cán bộ nói chung, cán bộ “6 dám” nói riêng cần xác lập trên nguyên tắc: (i) thực hiện kiểm soát để thúc đẩy cái mới, cái tiến bộ chứ không phải làm cho thoái giảm; (ii) xác định rõ chủ thể với quyền hạn, trách nhiệm cụ thể; (iii) vừa tuân theo quy trình kiểm tra, kiểm soát chung, vừa phải xác định những đặc điểm riêng. Về phương cách, cần làm rõ nội hàm, phạm vi, cách thức của kiểm soát từ trên xuống, từ dưới lên, kiểm soát nội bộ, kiểm soát từ bên ngoài bởi nhân dân. Trong kiểm soát, cần minh định rõ những biểu hiện là nguy cơ, sai phạm hiện hữu và các mức độ của sai phạm. Đó là cơ sở để xác định mức độ, biện pháp kiểm soát và hình thức, biện pháp xử lý sau đó./.


PGS, TS NGUYỄN THỊ TUYẾT MAI - TS NGUYỄN PHƯƠNG AN
Phó Giám đốc Học viện Chính trị khu vực II - Học viện Chính trị khu vực II

--------------------

(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 187

(2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 188

(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 5, tr. 280

(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 313

(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 314

(6), (7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr. 7        

(8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 6, tr. 16

(9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 6, tr. 312

(10) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 6, tr. 397

(11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 6, tr. 489

(12) Xem: Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 42

(13) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 283

(14) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 319

(15) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 320

(16) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 320

(17) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 314

(18) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 7, tr. 361

(19) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr. 574

(20) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 6, tr. 375

(21) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 6, tr. 312

(22) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 12, tr. 375             

(23) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 179

(24) Bao gồm: Dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám nói, dám đột phá sáng tạo và dám đương đầu với khó khăn, thử thách

(25) Luật Cán bộ, công chức; Luật Tổ chức chính quyền địa phương; Luật Tổ chức Chính phủ; Luật Tổ chức Quốc hội; Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam…

Nguồn: TCCS

FalseChính trị
Thắng lợi của ý chí, quyết tâm bảo vệ chủ quyền quốc gia, dân tộc và hoàn thành xuất sắc nghĩa vụ quốc tếBài viếtH.TThắng lợi của ý chí, quyết tâm bảo vệ chủ quyền quốc gia, dân tộc và hoàn thành xuất sắc nghĩa vụ quốc tế/SiteAssets/Thudo-Phnompenh-campuchia.jpg
07/01/2024 7:00 SANoĐã ban hành

Cách đây 45 năm, bằng cuộc tổng phản công trên toàn tuyến biên giới Tây Nam, quân và dân ta đã đập tan cuộc chiến tranh xâm lược lãnh thổ Việt Nam của tập đoàn Pôn Pốt - Iêng Xary, tạo điều kiện cùng nhân dân Campuchia giải phóng đất nước khỏi họa diệt chủng.

Đây là thành quả của cuộc chiến đấu vì chính nghĩa, thể hiện ý chí, quyết tâm bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc cũng như thực hiện xuất sắc nghĩa vụ quốc tế cao cả giúp cách mạng Campuchia.

Thudo-Phnompenh-campuchia.jpg
Người dân thủ đô Phnôm Pênh (Campuchia) lưu luyến chia tay quân tình nguyện Việt Nam hoàn thành nghĩa vụ quốc tế trở về nước, tháng 6-1984. Ảnh: TTXVN

Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ

Ngay sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam thắng lợi, Nhà nước Campuchia Dân chủ do Pôn Pốt đứng đầu ra sức kích động thù hằn dân tộc chống Việt Nam; phủ nhận lịch sử đoàn kết, liên minh chiến đấu chống kẻ thù chung của nhân dân ba nước Đông Dương, thậm chí vu cáo Việt Nam có mưu đồ lập Liên bang Đông Dương; công khai đòi hoạch định lại biên giới Việt Nam - Campuchia với những yêu sách vô lý.

Từ tháng 5-1975, phía Campuchia Dân chủ đã tiến hành đánh chiếm một số đảo và nhiều điểm nằm sâu trong nội địa Việt Nam. Tuy nhiên, với tinh thần hữu nghị, Việt Nam đã chủ động đề xuất các biện pháp nhằm giải quyết những xung đột, xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, nhưng đã bị Nhà nước Campuchia Dân chủ khước từ, đơn phương cắt đứt quan hệ ngoại giao. Tháng 12-1978, Pôn Pốt - Iêng Xary tập trung 19 sư đoàn áp sát biên giới Campuchia - Việt Nam. Ngày 23-12-1978, chúng huy động 10 trong số 19 sư đoàn bố trí ở biên giới mở cuộc tiến công toàn tuyến biên giới Tây Nam Việt Nam. Trước chiều hướng leo thang chiến tranh của tập đoàn phản động Pôn Pốt - Iêng Xary, nhân dân và các lực lượng vũ trang Việt Nam buộc phải giáng trả thích đáng, đánh đuổi toàn bộ quân xâm lược ra khỏi lãnh thổ, tạo điều kiện giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng.

Đối với nhân dân Campuchia, đứng trước sự tồn vong của dân tộc, lực lượng cách mạng chân chính đã đứng lên tập hợp lực lượng đấu tranh với bọn phản động Pôn Pốt. Được sự giúp đỡ của Việt Nam, cùng với nỗ lực của đội ngũ cán bộ cốt cán trong lực lượng cách mạng Campuchia, ngày 2-12-1978, Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia ra đời, đánh dấu bước phát triển quan trọng của cách mạng Campuchia.

Với sự ra đời của Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia, cùng với so sánh tương quan lực lượng có lợi cho ta, ngày 6 và 7-12-1978, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương họp, thông qua quyết tâm mở cuộc tổng tiến công tiêu diệt quân địch, hoàn thành cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam; đồng thời, sẵn sàng hỗ trợ cho các lực lượng vũ trang yêu nước Campuchia nổi dậy đánh đổ tập đoàn Pôn Pốt - Iêng Xary, giành chính quyền về tay nhân dân. Thực hiện quyết tâm chiến lược của Trung ương Đảng, từ ngày 23 đến 31-12-1978, quân và dân Việt Nam mở cuộc tổng phản công và tiến công trên toàn tuyến biên giới, đánh tan 10 sư đoàn quân Pôn Pốt, thu hồi toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ Tổ quốc.

Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quốc tế cao cả

Ngay sau khi quân dân Việt Nam mở cuộc phản công trên toàn tuyến biên giới Tây Nam, ngày 23-12-1978, Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia, xác định: Do sinh lực địch nhất định sẽ bị quân và dân Việt Nam tiêu diệt hoặc kìm chân tại chỗ. Vì vậy, đây là thời cơ tốt nhất để các lực lượng vũ trang cách mạng đoàn kết cứu nước Campuchia cùng với nhân dân và binh sĩ khởi nghĩa trên toàn quốc đánh vào đầu não của bè lũ Pôn Pốt - Iêng Xary. Tiếp đó, Ủy ban Trung ương Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia đã phát động toàn dân tận dụng thời cơ và sự giúp đỡ của bộ đội Việt Nam, tập trung lực lượng đứng lên đánh đổ chế độ diệt chủng Pôn Pốt - Iêng Xary, giành chính quyền về tay nhân dân. Đáp lại lời kêu gọi của Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia, các đơn vị bộ đội chủ lực Việt Nam đã cùng với lực lượng vũ trang yêu nước Campuchia xây dựng phương án tiến công truy quét quân diệt chủng. Đến 17h ngày 7-1-1979, các đơn vị Quân đội nhân dân Việt Nam cùng lực lượng vũ trang cách mạng và nhân dân Campuchia hoàn toàn làm chủ Phnôm Pênh.

Đây là chiến thắng có ý nghĩa lịch sử vô cùng trọng đại. Nhân dân Campuchia thoát khỏi chế độ diệt chủng Pôn Pốt - Iêng Xary, bước vào kỷ nguyên độc lập, tự do. Hơn nữa, đây còn là thắng lợi của tinh thần quốc tế cao cả của nhân dân Việt Nam. Tiến sĩ Chhay Yi Heang, Cố vấn Chính phủ Hoàng gia Campuchia khẳng định: “Việc nhân dân, Chính phủ và quân tình nguyện Việt Nam giúp đỡ nhân dân Campuchia thoát khỏi thảm họa diệt chủng Pôn Pốt và hồi sinh dân tộc là một sự nghiệp cao cả, sáng ngời chính nghĩa trong thế kỷ XX”.

Thắng lợi trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam và giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng đã khẳng định ý chí, quyết tâm bảo vệ chủ quyền quốc gia, dân tộc của quân và dân ta; là thắng lợi của tinh thần quốc tế, trách nhiệm với đồng loại của nhân dân Việt Nam, góp phần giữ vững hòa bình, ổn định ở khu vực Đông Nam Á; vạch trần bản chất phản động, hiếu chiến, phân biệt chủng tộc, sắc tộc, chế độ độc tài Campuchia Dân chủ, cảnh báo cho nhân loại hãy cảnh giác trước nguy cơ của “chủ nghĩa phát xít mới”.

Đặc biệt, chiến thắng này đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Đó là bài học phải nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, nhạy bén trong nhận diện đối tượng, đối tác, nắm chắc diễn biến tình hình, kịp thời đề ra chủ trương biện pháp, chủ động ứng phó với mọi tình huống; bài học về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang nhân dân và sự nghiệp quốc phòng, quân sự, trọng tâm là củng cố, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc; kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ quốc phòng, quân sự với phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt ở vùng biên giới, hải đảo, ở các địa bàn trọng điểm. Thường xuyên chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang có sức chiến đấu cao; chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Cùng với đó, đẩy mạnh công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế để phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Chú trọng củng cố đoàn kết hữu nghị với các quốc gia láng giềng, xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển. Từ cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam và giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng, chúng ta cần làm tốt hơn nữa công tác truyền thông nhằm giúp bạn bè quốc tế hiểu hơn về Việt Nam, tạo sự ủng hộ to lớn của quốc tế, cô lập các đối tượng chống phá, xâm phạm độc lập, chủ quyền, lợi ích quốc gia, dân tộc.

***

Hiện nay, trước tình hình quốc tế và khu vực luôn có những diễn biến phức tạp, khó lường, những bài học được đúc kết từ thắng lợi trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam và giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng là những vấn đề có giá trị lý luận, thực tiễn sâu sắc, cần được vận dụng và phát huy trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới; đồng thời, góp phần giáo dục truyền thống cách mạng, phê phán và đấu tranh với các luận điểm sai trái, xuyên tạc sự thật lịch sử của các thế lực thù địch nhằm chia rẽ mối quan hệ hữu nghị, truyền thống lâu đời giữa Việt Nam - Campuchia. Từ đó, góp phần quan trọng vào việc phát triển mối quan hệ đoàn kết hữu nghị Việt Nam - Campuchia lên một tầm cao mới, phù hợp với lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân hai nước; đóng góp vào hòa bình, ổn định trên thế giới và khu vực.

Đại tá, PGS,TS Nguyễn Văn Sáu
Phó Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự

Nguồn: Hà Nội mới

FalseChính trị
Trang bị trên 14 triệu bản sách cho cơ sở xã, phường, thị trấnTinTrúc LinhTrang bị trên 14 triệu bản sách cho cơ sở xã, phường, thị trấn/SiteAssets/HN-tket-trangbi-sach-2.JPG
28/12/2023 10:00 CHNoĐã ban hành

(TUAG)- Chiều ngày 28/12/2023, Ban Tuyên giáo Trung ương phối hợp với Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật tổ chức Hội nghị tổng kết 15 năm thực hiện Đề án trang bị sách cho cơ sở xã, phường, thị trấn (2009 - 2023) bằng hình thức trực tuyến kết nối từ điểm cầu Trung ương đến các tỉnh, thành trên cả nước. Đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương; Trần Văn Lâm, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương; Vũ Trọng Lâm, Giám đốc, Tổng Biên tập Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật, đồng chủ trì hội nghị.

HN-tket-trangbi-sach-2.JPG

Tham dự tại điểm cầu An Giang có các đồng chí: Nguyễn Hữu Thịnh, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy cùng đại diện lãnh đạo các cơ quan tham mưu giúp việc Tỉnh ủy; lãnh đạo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Sở Thông tin và Truyền thông; Sở Giáo dục và Đào tạo; Trường Chính trị Tôn Đức Thắng; Báo An Giang; Đài Phát thanh - Truyền hình An Giang; Bưu điện tỉnh; Thư viện tỉnh.

Tại hội nghị, các đại biểu đã được nghe báo cáo tình hình triển khai thực hiện Đề án từ năm 2009 đến năm 2023. Thực hiện chỉ đạo của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Ban Tuyên giáo Trung ương và Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật đã phối hợp với các ban, bộ, ngành Trung ương và các địa phương triển khai thực hiện trang bị sách cho cơ sở xã, phường, thị trấn. Giai đoạn 2009 - 2023, Đề án đã cung cấp gần 593 đầu sách, với tổng số 14.408.340 bản in về cơ sở. Sách của Đề án có nội dung phong phú, thiết thực, bảo đảm tính chính xác, khách quan, khoa học. Sách biên soạn có tính chất cẩm nang, nhiều cuốn được trình bày dưới dạng hỏi - đáp dễ đọc, dễ hiểu, dễ nhớ, nội dung cập nhật thông tin mới, tiện tra cứu và phù hợp với đối tượng người đọc là cán bộ, đảng viên, các tầng lớp Nhân dân ở cơ sở.

HN-tket-trangbi-sach-1.JPG

Bên cạnh đó, từ đầu năm 2020, thư viện điện tử đã ra mắt phục vụ bạn đọc; đến nay đã có hơn 729.000 lượt cán bộ, đảng viên và quần chúng Nhân dân truy cập để đọc, tra cứu, học tập trực tiếp. Đây là sự đổi mới về hình thức sách để phù hợp với những thay đổi trong thói quen của cán bộ, đảng viên và sự phổ biến của các thiết bị di động được sử dụng để cập nhật thông tin, tri thức hàng ngày.

HN-tket-trangbi-sach-3.JPG

Tham luận tại hội nghị, các đại biểu đều thống nhất đánh giá cao hiệu quả của Đề án “Trang bị sách cho cơ sở xã, phường, thị trấn”. Sách của Đề án là những tài liệu bổ ích, cần thiết góp phần đáp ứng kịp thời nhu cầu tự nghiên cứu, học tập của đội ngũ cán bộ, đảng viên và Nhân dân ở xã, phường, thị trấn.

Theo đánh giá của Ban Tuyên giáo Trung ương, đề án có ý nghĩa rất thiết thực đối với việc đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở, đội ngũ cán bộ, đảng viên ở cấp xã. Sách của đề án là những tài liệu bổ ích, cần thiết góp phần đáp ứng kịp thời nhu cầu nghiên cứu, tham khảo, học tập của đội ngũ cán bộ, đảng viên và Nhân dân. Thông qua đó, nâng cao nhận thức, củng cố kiến thức, ứng dụng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, vận dụng trong công tác quản lý, lãnh đạo của cán bộ, đảng viên, trong lao động sản xuất của Nhân dân.

Trúc Linh

FalseĐưa Nghị quyết vào cuộc sống
An Giang: Hội nghị giao ban, tổng kết công tác giáo dục lý luận chính trị năm 2023TinAn Giang: Hội nghị giao ban, tổng kết công tác giáo dục lý luận chính trị năm 2023/SiteAssets/HN-tket-llct23-1.jpg
26/12/2023 10:00 SANoĐã ban hành

(TUAG)- Sáng ngày 26/12/2023, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy phối hợp với Huyện ủy An Phú tổ chức Hội nghị giao ban, tổng kết công tác giáo dục lý luận chính trị năm 2023 và đề ra phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm năm 2024.

HN-tket-llct23-3.jpg

Dự và chỉ đạo Hội nghị có đồng chí Nguyễn Hữu Thịnh - Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, đồng chí Nguyễn Thành Nhân - Phó Hiệu Trưởng Trường Chính trị Tôn Đức Thắng, đồng chí Phùng Minh Tâm - Phó Bí thư Thường trực phụ trách Đảng bộ huyện. Tham dự Hội nghị còn có đại diện lãnh đạo Ban Tuyên giáo các huyện ủy, thị ủy, thành ủy, Đảng ủy ngành trực thuộc Tỉnh ủy, đại diện lãnh đạo và giảng viên các Trung tâm chính trị cấp huyện.

Hội nghị đã nghe Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy báo cáo, đánh giá kết quả thực hiện các chương trình đào tạo, bồi dưỡng, học tập về lý luận chính trị; cập nhật kiến thức; các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước theo hướng dẫn của Trung ương và tỉnh.

Tại Hội nghị, các đại biểu đã thảo luận, trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm, kỹ năng, chuyên môn, nghiệp vụ trong công tác giáo dục lý luận chính trị, những thuận lợi, khó khăn nhất là trong triển khai thực hiện Quy định 208-QĐ/TW của Ban Bí thư về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Trung tâm Chính trị huyện, thị, thành ủy; Quyết định 883-QĐ/BTGTW ban hành Quy chế đào tạo, bồi dưỡng của Trung tâm Chính trị huyện, thị thành ủy và những đề xuất, kiến nghị với tỉnh, Trung ương.

Kết luận Hội nghị đồng chí Nguyễn Hữu Thịnh đã giải đáp những vướng mắc, khó khăn trong công tác giáo dục lý luận chính trị và các vấn đề khác có liên quan. Đồng thời, biểu dương, ghi nhận những mô hình hay, cách làm sáng tạo, hiệu quả, những đề xuất các nhiệm vụ, giải pháp phù hợp góp phần nâng cao chất lượng công tác giáo dục lý luận chính trị trên địa bàn trong thời gian tới./.

Nguyễn Văn On

FalseĐưa Nghị quyết vào cuộc sống
Xây dựng Trường Chính trị Tôn Đức Thắng đạt chuẩn mức 1TinNguyễn LamXây dựng Trường Chính trị Tôn Đức Thắng đạt chuẩn mức 1/SiteAssets/Khaosat-Truong-CT-TDT-muc-1-9.jpg
22/12/2023 7:30 CHYesĐã ban hành

(TUAG)- Chiều ngày 22/12, Thường trực Tỉnh ủy An Giang đã có buổi làm việc với Đoàn khảo sát của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh để khảo sát, đánh giá hồ sơ, kiểm tra thực tế, làm cơ sở xem xét công nhận Trường Chính trị Tôn Đức Thắng đạt chuẩn mức 1.

Khaosat-Truong-CT-TDT-muc-1-1.jpg
Đồng chí Lê Văn Nưng - Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh An Giang; PGS.TS. Hoàng Phúc Lâm - Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy, Phó Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch Hội đồng thẩm định chủ trì buổi làm việc.

Khaosat-Truong-CT-TDT-muc-1-2.jpg

Thành viên Đoàn khảo sát của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

Khaosat-Truong-CT-TDT-muc-1-3.jpg

TS Hồ Ngọc Trường - Tỉnh ủy viên, Hiệu trưởng Trường Chính trị Tôn Đức Thắng báo cáo kết quả xây dựng Trường Chính trị Tôn Đức Thắng đạt chuẩn mức 1

Dự buổi làm việc còn có đồng chí Nguyễn Thị Minh Thúy - Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh; đồng chí Nguyễn Như Anh - Tỉnh ủy viên, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Tổ chức Tỉnh ủy; TS Hồ Ngọc Trường - Tỉnh ủy viên, Hiệu trưởng Trường Chính trị Tôn Đức Thắng; lãnh đạo một số sở, ban, ngành của tỉnh và lãnh đạo các phòng, khoa Trường Chính trị Tôn Đức Thắng.

Trường Chính trị Tôn Đức Thắng hiện có 3 khoa giảng dạy và 2 phòng chức năng với tổng số 43 cán bộ, viên chức, trong đó có 37 giảng viên, 06 viên chức hành chính; về trình độ chuyên môn có 03 tiến sĩ, 31 thạc sĩ, 09 đại học, 02 viên chức đang học nghiên cứu sinh, 03 viên chức đang học thạc sĩ. Cán bộ lãnh đạo, quản lý các phòng, khoa đều có trình độ thạc sĩ trở lên, cao cấp hoặc cử nhân lý luận chính trị, được bồi dưỡng ngạch chuyên viên chính, giảng viên chính và bồi dưỡng lãnh đạo, quản lý cấp phòng, cấp sở và tương đương. 

Theo báo cáo, sau 2 năm triển khai thực hiện Đề án 04-ĐA/TU, ngày 22/12/2021 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy An Giang về xây dựng và phát triển Trường Chính trị Tôn Đức Thắng đạt các tiêu chí trường chính trị chuẩn mức 1, đối chiếu với các tiêu chí theo Quy định số 11-QĐ/TW, ngày 19/5/2021 của Ban Bí thư và Hướng dẫn số 381-HD/HVCTQG, ngày 06/9/2021 của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, đến thời điểm này, Trường Chính trị Tôn Đức Thắng đã đạt 6/6 nhóm tiêu chí với 55/55 chỉ tiêu chuẩn mức 1, trong đó có 11 chỉ tiêu vượt; một số tiêu chí quan trọng đều đạt chuẩn và trên chuẩn, như: tiêu chí về đội ngũ cán bộ, viên chức; hoạt động đào tạo, bồi dưỡng; nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn… 

Khaosat-Truong-CT-TDT-muc-1-4.jpg

Khaosat-Truong-CT-TDT-muc-1-5.jpg

Khaosat-Truong-CT-TDT-muc-1-6.jpg

Khaosat-Truong-CT-TDT-muc-1-7.jpg

Tại buổi làm việc, các đại biểu đã phân tích những thuận lợi, khó khăn, cũng như chia sẻ các giải pháp để giữ vững, nâng cao chất lượng các tiêu chí của trường chuẩn mức độ 1.

Khaosat-Truong-CT-TDT-muc-1-8.jpg

Phát biểu tại buổi làm việc, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Lê Văn Nưng trân trọng cảm ơn sự quan tâm của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh đối với tỉnh An Giang và Trường Chính trị Tôn Đức Thắng trong những năm qua, nhất là đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của tỉnh An Giang và hướng dẫn xây dựng trường đạt chuẩn mức 1. 

Qua 75 năm thành lập, Trường Chính trị Tôn Đức Thắng luôn được Tỉnh ủy và các thế hệ lãnh đạo của tỉnh qua các thời kỳ quan tâm tạo điều kiện để nhà trường hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao. Thực hiện Quy định số 11-QĐ/TW, Tỉnh ủy An Giang thường xuyên quan tâm chỉ đạo, lãnh đạo nhà trường chủ động rà soát, hoàn thiện các tiêu chí theo quy định. Đồng chí mong muốn Đoàn khảo sát quan tâm, thẩm định, để trên cơ sở đó báo cáo Hội đồng thẩm định của Học viện sớm quyết định công nhận Trường Chính trị Tôn Đức Thắng đạt chuẩn mức 1.

Để Trường Chính trị Tôn Đức Thắng có những bước phát triển mới, Tỉnh ủy sẽ tiếp tục tập trung lãnh đạo, chỉ đạo để xây dựng đội ngũ cán bộ, giảng viên của nhà trường giỏi về chuyên môn, tâm huyết, yêu nghề, góp phần đào tạo đội ngũ cán bộ chủ chốt từ tỉnh đến cơ sở. Nhà trường cần tiếp tục nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp cơ sở, cấp xã, cấp huyện.

 Khaosat-Truong-CT-TDT-muc-1-9.jpg

Phát biểu kết luận buổi làm việc, PGS.TS Hoàng Phúc Lâm - Phó Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh ghi nhận và đánh giá cao sự quan tâm chỉ đạo sát sao, quyết liệt của Tỉnh ủy An Giang đối với việc triển khai Quy định số 11-QĐ/TW của Ban Bí thư; sự nỗ lực, quyết tâm của tập thể cán bộ, giảng viên Trường Chính trị Tôn Đức Thắng xây dựng trường đạt chuẩn mức 1. Qua đó, đề nghị Trường Chính trị Tôn Đức Thắng tiếp tục phát huy tinh thần đoàn kết, bám sát sự chỉ đạo của Học viện, Tỉnh ủy, UBND tỉnh quyết tâm đẩy mạnh tiến độ thực hiện trường chuẩn, tiếp tục giữ vững và nâng các tiêu chí đã đạt được.

Phó Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Hoàng Phúc Lâm khẳng định: Đoàn khảo sát Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh thống nhất sẽ đề nghị Hội đồng thẩm định Trung ương công nhận Trường Chính trị Tôn Đức Thắng đạt chuẩn mức 1.

Trước khi làm việc, Đoàn khảo sát của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh đã tiến khảo sát thực tế về cơ sở vật chất tại Trường Chính trị Tôn Đức Thắng.

Nguyễn Lam

TrueĐưa Nghị quyết vào cuộc sống; Chính trị
Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua,  kẻ thù nào cũng đánh thắngBài viếtTrung ThànhNhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua,  kẻ thù nào cũng đánh thắng/SiteAssets/QDNDVN-22-12-2023.jpg
19/12/2023 5:30 SAYesĐã ban hành

(TUAG)- Ngay từ lúc ra đời, trong Cương lĩnh đầu tiên của mình Đảng ta đã xác định mục tiêu chính trị của mình là: Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến… Tổ chức ra quân đội công nông. Khi thời cơ đến: Hội nghị Trung ương lần thứ tám (tháng 5/1941) đã quyết định đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, xúc tiến xây dựng căn cứ địa, chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền. Ngày 22/12/1944, tại huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam được thành lập theo sự chỉ đạo của Bác Hồ.

QDNDVN-22-12-2023.jpg

Đội quân do đồng chí Võ Nguyên Giáp chỉ huy, lúc đầu chỉ có 34 cán bộ, chiến sĩ nhưng đã sớm kế thừa và phát huy truyền thống chống ngoại xâm và nghệ thuật quân sự của dân tộc. Chỉ sau hai ngày thành lập, thực hiện đúng chỉ thị "Trận đầu phải thắng" của Bác: Đội quân của ta mưu trí, dũng cảm, dùng lối đánh bất ngờ, đã đánh thắng cả hai trận đầu liên tiếp ở Phai Khắt và Nà Ngần. Đây là một cột mốc lịch sử, mở đầu cho truyền thống đánh tiêu diệt, đánh chắc thắng, đánh thắng ngay trận đầu của Quân đội ta. Ngày 15//5/1945, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được sáp nhập với lực lượng Cứu quốc quân và đổi tên thành Việt Nam giải phóng quân, trở thành lực lượng quân sự chủ yếu của Mặt trận Việt Minh tiến hành cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945; cùng toàn Đảng, toàn dân ra sức xây dựng và bảo vệ Nhà nước non trẻ, đập tan âm mưu bạo loạn của các thế lực phản động, giữ gìn an ninh trật tự, bảo vệ vững chắc chính quyền cách mạng vừa mới thành lập, đẩy mạnh xây dựng lực lượng, chuẩn bị trường kỳ kháng chiến.

Phát huy truyền thống đánh thắng trận đầu, quân và dân ta đã bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp lâu dài và gian khổ (1945-1954). Tuy nước ta mới giành được độc lập, gặp phải muôn vàn khó khăn; quân đội còn non trẻ, trang bị hết sức thô sơ, chưa có kinh nghiệm tác chiến,… Nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta đã tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài, lần lượt đánh bại các chiến lược quân sự của thực dân Pháp với một quân đội nhà nghề cùng trang thiết bị hiện đại, đỉnh cao là Chiến dịch Điện Biên Phủ, giải phóng một nửa đất nước, đưa miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH).

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tiếp tục phát huy truyền thống đánh thắng trận đầu, chúng ta đã chiến đấu ngoan cường, mưu trí, sáng tạo, lập nhiều chiến công xuất sắc. Quân và dân miền Nam đã lần lượt đánh bại chiến lược "Chiến tranh đặc biệt", "Chiến tranh cục bộ", "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ-ngụy. Quân và dân miền Bắc hăng hái lao động sản xuất xây dựng CNXH, là hậu phương vững chắc cho cách mạng miền Nam, đánh bại hai cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của Mỹ ra miền Bắc, góp phần giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên CNXH, thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa (XHCN).

Chiến thắng trận đầu của Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, tiền thân của QĐND Việt Nam để lại cho chúng ta những bài học vô cùng quý giá. Đó là bài học về tinh thần dám đánh, quyết đánh và đánh thắng kẻ thù xâm lược, nhất là xây dựng bản lĩnh chính trị, ý chí quyết tâm chiến đấu cao, tạo nên sức mạnh đè bẹp ý chí của kẻ thù. Đó cũng là sự sáng tạo trong cách đánh, quyết tâm giành thế chủ động, đánh thắng địch ngay từ loạt đạn đầu, trận đầu. Cùng với đó là bài học về tổ chức, xây dựng lực lượng, bố trí đội hình, thế trận trong tác chiến, vừa bảo toàn lực lượng của ta, vừa tiêu diệt được nhiều sinh lực địch... Những bài học cơ bản trên là cơ sở để chúng ta nghiên cứu, vận dụng sáng tạo trong điều kiện mới, sẵn sàng đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Ngày nay, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đang đứng trước những thời cơ và thách thức lớn. Mặc dù hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế chủ đạo, song tình hình thế giới, khu vực và trong nước tiếp tục diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nhiều nhân tố khó lường. Các thế lực thù địch, cơ hội chính trị với bản chất hiếu chiến và phản động tiếp tục đẩy mạnh thực hiện "diễn biến hòa bình", thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", "phi chính trị hóa quân đội" hòng xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang, từng bước chuyển hóa chế độ chính trị ở nước ta đi theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa… Thực tế cho thấy, các cuộc chiến tranh và xung đột cục bộ trên thế giới vừa qua đều xảy ra trong thời gian ngắn, cường độ cao. Bên tiến công thường sử dụng vũ khí công nghệ cao; mở đầu chiến tranh và xung đột cục bộ thường bắt đầu bằng tập kích đường không, với những phát triển mới cả về không gian, thời gian, quy mô, tính chất, mức độ và các loại vũ khí, phương tiện sử dụng. 

Vì vậy, Đảng ta xác định: "Củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt". Kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa. Nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp hoà bình phù hợp với luật pháp quốc tế. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát triển.

Tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh; xây dựng và phát huy mạnh mẽ thế trận lòng dân trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân; xây dựng và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân. Xây dựng Quân đội nhân dân chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm năm 2030 phấn đấu xây dựng Quân đội nhân dân chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.

Từ khi thành lập đến nay, Quân đội nhân dân Việt Nam ngày càng lớn mạnh, trưởng thành, cùng toàn dân vượt qua mọi khó khăn, thử thách, lập nên những chiến công hiển hách, đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược, xứng đáng với lời khen ngợi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng"./.

Trung Thành

TrueChính trị
An Giang 15.330 đại biểu dự Hội nghị nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Trung ương 8TinNguyễn LamAn Giang 15.330 đại biểu dự Hội nghị nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Trung ương 8/SiteAssets/AG-hoc-NQTW8-1.jpg
04/12/2023 10:00 SANoĐã ban hành

(TUAG)- Sáng ngày 04/12, Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng tổ chức Hội nghị trực tuyến toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII. Dự và chỉ đạo Hội nghị có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng; Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính; Thường trực Ban Bí thư, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Trương Thị Mai.

 AG-hoc-NQTW8-1.jpg

Chủ trì Hội nghị tại điểm cầu Văn phòng Tỉnh ủy

 AG-hoc-NQTW8-2.jpg

Toàn cảnh Hội nghị tại điểm cầu Văn phòng Tỉnh ủy

Tại An Giang, đồng chí Lê Văn Nưng - Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh; đồng chí Nguyễn Thanh Bình - Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh chủ trì tại điểm cầu Văn phòng Tỉnh ủy. Hội nghị được trực tuyến đến 268 điểm cầu tỉnh, huyện, xã, có 15.330 đại biểu tham dự.

Theo chương trình, Hội nghị diễn ra trong 1,5 ngày (trong đó, 1 ngày nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết; 0,5 ngày dành cho các tỉnh, thành ủy và đảng ủy trực thuộc Trung ương triển khai chương trình hành động thực hiện Nghị quyết).

Dự Hội nghị, các đại biểu sẽ được nghe Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng truyền đạt chuyên đề: Tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc.

Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính truyền đạt chuyên đề: Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới.

Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng truyền đạt chuyên đề: Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Nguyễn Trọng Nghĩa truyền đạt chuyên đề: Tiếp tục xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong giai đoạn mới.

 AG-hoc-NQTW8-3.jpg

Điểm cầu tại Hội trường Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy

Nội dung các chuyên đề tập trung vào những vấn đề cốt lõi, những điểm mới của các nghị quyết Hội nghị Trung ương tám khóa XIII nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên trong triển khai thực hiện các nhiệm vụ theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương tám khóa XIII.

Trên cơ sở đó, các cấp ủy, tổ chức đảng, các ban, bộ, ngành, địa phương tiếp tục quán triệt, tuyên truyền sâu rộng các nghị quyết Hội nghị Trung ương tám khóa XIII ở địa phương, cơ quan, đơn vị; xây dựng kế hoạch, chương trình hành động triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương tám khóa XIII cụ thể, thiết thực và hiệu quả.

Nguyễn Lam

FalseĐưa Nghị quyết vào cuộc sống
Đảng bộ An Giang tiếp tục tăng cường công tác tư tưởng trong tình hình mới Bài viếtAn BìnhĐảng bộ An Giang tiếp tục tăng cường công tác tư tưởng trong tình hình mới /SiteAssets/HN-giua-nk-TrungHieu.jpg
29/11/2023 10:00 SAYesĐã ban hành

(TUAG)- Công tác tư tưởng là công tác tinh vi nhất vì nó tác động đến tâm tư, tình cảm của con người, nó nắm được mạch sống của xã hội và có khả năng phát huy tính tự giác, tính tích cực, chủ động và óc sáng tạo của quần chúng để hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ của Đảng đề ra. Do đó, công tác chính trị, công tác tư tưởng là linh hồn của mọi công tác, không những nhằm phục vụ những nhiệm vụ cụ thể trước mắt mà còn nhằm cải tiến bộ mặt tinh thần của xã hội.

HN-giua-nk-TrungHieu.jpg

Nhận rõ vị trí, tầm quan trọng đặc biệt của công tác tư tưởng đối với việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chinh trị của địa phương, trong nữa nhiệm kỳ qua, được sự quan tâm lãnh đạo của Tỉnh ủy, nhất là vai trò lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên, sâu sắc của Ban Thường vụ Tỉnh ủy và Thường trực Tỉnh ủy, công tác tư tưởng trong toàn Đảng bộ luôn được chú trọng, đề cao, ngày càng đi vào chiều sâu, chất lượng và hiệu quả công tác tư tưởng ngày càng được nâng cao. Tỉnh ủy và các cấp ủy đảng luôn quan tâm lãnh đạo đổi mới nội dung, phương thức công tác tư tưởng theo hướng chủ động, thiết thực, kịp thời và hiệu quả; không ngừng đổi mới nội dung, phương pháp học tập, tuyên truyền các chủ trương, nghị quyết của Đảng. Công tác nắm bắt và định hướng dư luận xã hội có nhiều tiến bộ, góp phần định hướng đúng đắn, kịp thời các vấn đề tư tưởng trong cán bộ, đảng viên nhân dân; tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Đặc biệt, công tác xây dựng Đảng về đạo đức trở thành việc làm thường xuyên của cấp uỷ, tổ chức đảng và là nhiệm vụ quan trọng của mỗi cán bộ, đảng viên trong toàn đảng bộ. Việc đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với gắn với Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, khóa XII, Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25/10/2021, của Ban Chấp hành Trung ương "về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"... được cấp ủy, chính quyền các cấp thực hiện nghiêm túc, bài bản, hiệu quả thiết thực.

Từ năm 2020 đến nay, tình hình thế giới, trong nước và trong tỉnh đối mặt nhiều khó khăn, thách thức chưa có tiền lệ, nhất là đại dịch COVID-19 đã gây nhiều thách thức trong công tác quản lý, điều hành, ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng, tâm trạng của cán bộ, đảng viên và đời sống của các tầng lớp nhân dân. Trong bối cảnh đó, với ý chí, quyết tâm cao và tinh thần đoàn kết, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã lãnh đạo tốt công tác tư tưởng, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai tổ chức thực hiện một cách quyết liệt, đồng bộ, có hiệu quả các mục tiêu mục tiêu kép "vừa phòng, chống dịch COVID-19, vừa phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội", góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ đã đề ra.   


Trước yêu cầu, nhiệm vụ mới, để công tác tư tưởng tiếp tục đóng vai trò "đi trước mở đường, đi cùng thực hiện, đi sau tổng kết" đối với hành trình phát triển của quê hương An Giang cần quan tâm một số vấn đề sau:   

Các cấp ủy, tổ chức Đảng thật sự coi trọng, tiếp tục quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo công tác tư tưởng; xác định công tác tư tưởng là nhiệm vụ của toàn Đảng, của tất cả đảng viên, trước hết là cấp uỷ các cấp và đồng chí bí thư cấp uỷ, của cả hệ thống chính trị với sự tham gia, đóng góp của nhân dân, trong đó lực lượng nòng cốt là đội ngũ chuyên trách làm công tác tư tưởng, lý luận, báo chí của Đảng.

Nắm chắc nhiệm vụ chính trị của tỉnh, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy và hệ thống Tuyên giáo các cấp cần tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác nghiên cứu, quán triệt và triển khai thực hiện các nghị quyết của Đảng, gắn với việc tham mưu xây dựng, nâng cao chất lượng, tính khả thi của các chương trình, kế hoạch hành động của cấp ủy, tổ chức Đảng. 

Tăng cường hơn nữa công tác tư tưởng, tạo sự thống nhất tư tưởng trong toàn Đảng bộ và Nhân dân, quyết tâm thực hiện thắng lợi các mục tiêu đã đề ra. Muốn vậy, công tác tư tưởng cần phải đi trước một bước, nhất là trong các vấn đề liên quan đến đời sống người dân. Hệ thống Tuyên giáo tiếp tục đổi mới công tác thông tin, tuyên truyền, bằng nhiều hình thức phong phú, sinh động, thiết thực, phù hợp với từng đối tượng. Đồng thời, chỉ đạo, định hướng kịp thời các cơ quan báo chí, truyền thông trước các sự kiện, các vấn đề quan trọng, phức tạp, nhạy cảm, góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp.

Phát huy vai trò tiên phong, chủ lực của ngành Tuyên giáo trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Tăng cường hơn nữa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Chủ tịch Tôn Đức Thắng. Làm tốt hơn nữa công tác xây dựng, chỉnh đón Đảng về chính trị, tư tưởng và đạo đức, góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị thực sự trong sạch, vững mạnh; ngăn chặn, đẩy lùi các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên.; kết hợp giữa "xây""chống", trong đó "xây" là căn bản, thường xuyên; "chống" phải quyết liệt, lấy tích cực đẩy lùi tiêu cực.

Tiếp tục đổi mới công tác giáo dục lý luận chính trị, khắc phục tính hình thức, đối phó, áp đặt nội dung và sự khô cứng, tẻ nhạt trong phương pháp giáo dục lý luận chính trị. Đồng thời, tiếp tục bám sát cơ sở, nâng cao hiệu quả công tác nghiên cứu, nắm bắt tình hình tư tưởng, tâm trạng, dư luận xã hội; tham mưu xử lý kịp thời những vấn đề phức tạp nảy sinh, không để hình thành các "điểm nóng" và bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.

Có thể nói, công tác tư tưởng của Đảng là công tác đối với con người, một nhiệm vụ khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải nắm vững những quy luật riêng của tư tưởng, có thái độ, phương pháp khoa học, kết hợp chặt chẽ giữa yêu cầu định hướng tư tưởng với sự tự nguyện của cá nhân, giữa lý trí và tình cảm, giữa lời nói và việc làm, giữa "xây" và "chống", lấy "xây" là chính, lấy tích cực đẩy lùi tiêu cực.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: Công tác tư tưởng là hoạt động xây dựng Đảng về trí tuệ, tư tưởng - chính trị, góp phần bảo đảm cho Đảng luôn là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đủ năng lực lãnh đạo chính trị đối với toàn xã hội. Giáo dục tư tưởng và lãnh đạo tư tưởng là việc quan trọng nhất của Đảng, phải kiên quyết chống cái thói xem nhẹ tư tưởng. Bởi lẽ, trong Đảng và ngoài Đảng có nhận rõ tình hình mới, hiểu rõ nhiệm vụ mới, thì tư tưởng mới thống nhất, tư tưởng thống nhất thì hành động mới thống nhất. Nếu trong Đảng và ngoài Đảng từ trên xuống dưới, từ trong đến ngoài đều tư tưởng thống nhất và hành động thống nhất thì nhiệm vụ tuy nặng nề, công việc tuy khó khăn phức tạp, ta cũng nhất định thắng lợi. Muốn vậy, trước hết phải hiểu tư tưởng của mỗi cán bộ, đảng viên để giúp đỡ trong công tác, vì tư tưởng thông suốt thì làm việc tốt, tư tưởng "nhùng nhằng" thì không làm được việc/.

AN BÌNH

TrueĐưa Nghị quyết vào cuộc sống
Bản sắc đối ngoại, ngoại giao “cây tre Việt Nam”Bài viếtAn BìnhBản sắc đối ngoại, ngoại giao “cây tre Việt Nam”/SiteAssets/sach%20ngoai%20giao%20tang%20sach-1.jpeg
22/11/2023 10:20 SANoĐã ban hành

​(TUAG)- Chiều 21/11, tại Hà Nội, Ban Đối ngoại Trung ương, Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Ngoại giao và Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật phối hợp tổ chức Lễ giới thiệu cuốn sách: Xây dựng và phát triển nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

sach ngoai giao tang sach-1.jpeg

Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã hình thành nền đối ngoại, ngoại giao độc đáo, đậm truyền thống, bản sắc dân tộc: đề cao hòa bình, hòa hiếu, hữu nghị, trọng lẽ phải, đấu tranh vì chính nghĩa, tinh tế, uyển chuyển, nhân ái, kiên quyết, kiên trì bảo vệ, gìn giữ nền độc lập, bảo vệ bờ cõi đất nước. Truyền thống đó được ông cha ta đúc kết thành những tư tưởng như: “Lấy đại nghĩa để thắng hung tàn. Lấy chí nhân để thay cường bạo”; Dập tắt chiến tranh cho muôn đời; Để mở nền thái bình muôn thuở.

Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập, nền đối ngoại, ngoại giao cách mạng được hình thành. Kế thừa truyền thống của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt nền móng, trực tiếp chỉ đạo và định hướng cho sự phát triển nền đối ngoại, ngoại giao của nước Việt Nam hiện đại. Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh là nền tảng, kim chỉ nam để Đảng ta lãnh đạo công tác đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân.

Đó là đường lối độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, vì lợi ích quốc gia-dân tộc; phát huy nội lực, khai thác và tranh thủ ngoại lực, tạo nên sức mạnh tổng hợp, góp phần vào thắng lợi của công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Gần 40 năm thực hiện đường lối đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đã đạt những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, trong đó có những đóng góp quan trọng của công tác đối ngoại, ngoại giao.

Đường lối đối ngoại “độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại”; “là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”; kiên định về nguyên tắc, mục tiêu, linh hoạt, khôn khéo về sách lược được thực hiện nhất quán, đồng bộ, hiệu quả; đồng thời, phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân.

Việc thực hiện đường lối đối ngoại đúng đắn của Đảng đã góp phần quan trọng giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, tạo thuận lợi cho công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế-xã hội, nâng cao vị thế, uy tín của đất nước.

Về đối ngoại đảng, đến nay Đảng ta đã có quan hệ với 253 đảng ở 115 quốc gia trên thế giới, trong đó có 92 đảng cộng sản, 63 đảng cầm quyền, 38 đảng tham gia liên minh cầm quyền, tham chính… Về ngoại giao nhà nước, Việt Nam đã mở rộng, làm sâu sắc quan hệ với 193 nước và vùng lãnh thổ, trong đó có 3 nước quan hệ đặc biệt, 5 nước đối tác chiến lược toàn diện, 13 nước đối tác chiến lược và 12 nước đối tác toàn diện.

Việt Nam đã trở thành thành viên tích cực, chủ động và đóng góp đầy trách nhiệm với tất cả các tổ chức, diễn đàn khu vực và quốc tế. Việt Nam được đánh giá cao trong việc thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỷ, tham gia Phái bộ gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc. Đặc biệt, trước tác động của đại dịch Covid-19, kinh tế và thương mại toàn cầu suy giảm, nền kinh tế Việt Nam vẫn tiếp tục tăng trưởng khá và được Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) đánh giá là một điểm sáng “trong bức tranh xám màu” của kinh tế toàn cầu.

Về đối ngoại nhân dân, các đoàn thể, tổ chức nhân dân của ta có quan hệ hợp tác, hữu nghị với hơn 1.200 tổ chức, đối tác nước ngoài; hình ảnh đất nước và con người Việt Nam tươi đẹp, thân thiện, hiếu khách với nền văn hóa phong phú, đa dạng, giàu bản sắc dân tộc, luôn được lan tỏa tới bạn bè quốc tế, góp phần nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam. “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.

Thành tựu của công tác đối ngoại Việt Nam những năm qua là thành quả của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, trong đó nhân tố quan trọng nhất, có ý nghĩa quyết định là sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Nhằm hệ thống hóa sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong xây dựng và triển khai đường lối đối ngoại, ngoại giao; giúp các ban, bộ, ngành, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, chính quyền địa phương, các cơ quan làm công tác đối ngoại, ngoại giao, người Việt Nam ở trong nước, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và bạn bè quốc tế hiểu rõ chủ trương, đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng ta, đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng; Ban Đối ngoại Trung ương Đảng, Bộ Ngoại giao và Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật phối hợp xuất bản cuốn sách Xây dựng và phát triển nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”.

sach ngoai giao tang sach.jpg

Việc xuất bản và ra mắt cuốn sách Xây dựng và phát triển nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là một đóng góp to lớn nữa, góp phần hoàn thiện hệ thống lý luận và cơ sở thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta. Cuốn sách thể hiện tư tưởng nhất quán, xuyên suốt của người đứng đầu Đảng ta về đường lối đối ngoại, ngoại giao Việt Nam trong thời kỳ đổi mới; là minh chứng cho bước trưởng thành, phát triển về tư duy và thành tựu của đối ngoại, ngoại giao Việt Nam.

Nội dung cuốn sách gồm ba phần:

Phần thứ nhất: Vai trò quan trọng và đóng góp to lớn của công tác đối ngoại trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, gồm bài viết tổng quan và 7 bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại các hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, hội nghị ngoại giao, hội nghị đối ngoại toàn quốc. Các bài viết, bài phát biểu thể hiện tư duy chiến lược của người đứng đầu Đảng ta về đường lối, chính sách đối ngoại, ngoại giao Việt Nam.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ: Việt Nam là một quốc gia đang phát triển mạnh mẽ, có vị trí địa chiến lược quan trọng trong những chuyển dịch hiện nay của thời đại. Trong thế giới biến động và khó lường, thách thức luôn luôn đan xen với cơ hội, rủi ro luôn đi kèm với thời cơ.

Để hiện thực hóa các mục tiêu phát triển của đất nước đến năm 2025, 2030 và 2045, Tổng Bí thư yêu cầu phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại, xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”: gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển; trong đó, “tiên phong trước hết cần thể hiện trong tư duy, nhận thức; tiên phong trong bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; tiên phong trong kiến tạo cơ hội để thúc đẩy lợi ích quốc gia – dân tộc; tiên phong trong kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, huy động sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nhất là gắn kết sức mạnh cộng đồng người Việt Nam trong và ngoài nước”.

Thực hiện chủ trương của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng về “Xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại với ba trụ cột là đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân”, trong các bài phát biểu, bài viết, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: Đối ngoại là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, quản lý tập trung của Nhà nước; sự gắn kết chặt chẽ, nhịp nhàng giữa đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân, giữa đối ngoại chính trị, đối ngoại kinh tế, đối ngoại văn hóa, đối ngoại quốc phòng, đối ngoại an ninh và đối ngoại trong các lĩnh vực khác.

Đây vừa là truyền thống quý báu, vừa thể hiện sự sáng tạo, độc đáo của nghệ thuật đối ngoại, ngoại giao cách mạng Việt Nam, được Tổng Bí thư phân tích, lý giải và định hướng cụ thể bằng nhãn quan chính trị sâu sắc và tầm tư duy chiến lược; là bước phát triển về tư duy đối ngoại Việt Nam, vừa là yêu cầu cấp thiết, vừa có ý nghĩa lâu dài, đáp ứng nhiệm vụ trong tình hình mới.

Phần thứ hai: Đối ngoại Việt Nam vì độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, gồm 78 bài nói, bài viết, bài phát biểu, trả lời phỏng vấn, thư, điện… của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại các hoạt động và diễn đàn ngoại giao song phương, đa phương, thể hiện sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các trụ cột đối ngoại là đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân.

Trải qua các giai đoạn, trên các cương vị: Chủ tịch Quốc hội, Tổng Bí thư, Tổng Bí thư - Chủ tịch nước, các bài viết, bài phát biểu của đồng chí Nguyễn Phú Trọng thể hiện quan điểm, chủ trương đối ngoại trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, triển khai đồng bộ, sáng tạo, hiệu quả hoạt động đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng.

Việt Nam đã có quan hệ hợp tác rộng mở cả song phương và đa phương với các đối tác, trong các lĩnh vực, ở tất cả các cấp, các ngành, đưa các quan hệ đối ngoại đi vào chiều sâu, ổn định, hiệu quả, thực chất, gia tăng tin cậy chính trị và đan xen lợi ích; huy động và kết hợp hiệu quả các nguồn lực bên ngoài với nội lực trong nước nhằm chủ động tham gia, tích cực đóng góp, nâng cao vai trò của Việt Nam trong xây dựng, định hình các thể chế đa phương và trật tự chính trị-kinh tế quốc tế vì lợi ích quốc gia - dân tộc và lợi ích chung của cộng đồng quốc tế trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế.

Trong quan hệ song phương, các bài nói, bài viết, bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng luôn luôn thể hiện sự đánh giá cao mối quan hệ hữu nghị, hợp tác với các quốc gia trên nguyên tắc tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng, hợp tác cùng có lợi.

Phát huy truyền thống hòa hiếu của ông cha, Tổng Bí thư khẳng định cần tiếp tục đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ với các nước láng giềng, đối tác chiến lược toàn diện, đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và bạn bè truyền thống, tăng cường tin cậy, phát huy điểm đồng, linh hoạt, sáng tạo trong xử lý các tranh chấp và thúc đẩy hòa bình, hợp tác cùng phát triển nhằm củng cố vững chắc cục diện đối ngoại ổn định, phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trong quan hệ với các đảng cộng sản, công nhân, các đảng cầm quyền và các đảng dân chủ, vì hòa bình, tiến bộ trên thế giới, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng luôn dành sự quan tâm đặc biệt, đóng góp cả lý luận và thực tiễn vào kho tàng chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh từ công cuộc đổi mới của Việt Nam, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, xây dựng một xã hội công bằng và tiến bộ, thật sự vì con người.

Tổng Bí thư nhấn mạnh, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa, với các đảng cộng sản, công nhân và bạn bè truyền thống. Trong các bài nói, bài viết, bài phát biểu, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng luôn dành sự quan tâm và tình cảm tới cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và người dân nước sở tại, luôn tích cực giới thiệu hình ảnh đất nước Việt Nam hòa bình, hòa hiếu, thân thiện, mến khách, năng động và phát triển trong con mắt của bạn bè quốc tế.

Phần thứ ba: Dấu ấn đối ngoại, ngoại giao, gồm 52 ý kiến của các chuyên gia, nhà chính trị, nhà ngoại giao, nhà nghiên cứu, bạn bè quốc tế về vai trò, đóng góp của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong việc hình thành và phát triển trường phái ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”.

Đó là những kỷ niệm, tình cảm, câu chuyện của các đại sứ, các cán bộ làm công tác đối ngoại, ngoại giao, các nhà báo, người Việt Nam ở nước ngoài được tháp tùng, được gặp Tổng Bí thư trong các chuyến thăm và làm việc ở trong và ngoài nước. Những ý kiến thể hiện sự kính trọng, tình cảm trân quý đối với Tổng Bí thư và niềm tin tưởng, tự hào về những thành tựu to lớn của đất nước, trong đó có đóng góp quan trọng của công tác đối ngoại, ngoại giao Việt Nam.

Các bài nói, bài viết, bài phát biểu, trả lời phỏng vấn, thư, điện… của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng được tuyển chọn trong cuốn sách là sự tổng kết những bài học kinh nghiệm có giá trị của công tác đối ngoại, ngoại giao Việt Nam, thể hiện bước phát triển tư duy chiến lược của Đảng ta, đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư, góp phần định hướng mục tiêu, nhiệm vụ của công tác đối ngoại, ngoại giao trong giai đoạn mới.

Phát biểu tại buổi lễ ra mắt quyển sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, đồng chí Trương Thị Mai, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương nhấn mạnh: Việc xuất bản cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng càng cho thấy Đảng ta luôn coi đối ngoại là trọng yếu, thường xuyên, là nhiệm vụ quan trọng của cả hệ thống chính trị, có vai trò và đóng góp to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Đồng chí Trương Thị Mai yêu cầu: “Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì, phối hợp với Bộ Ngoại giao, Ban Đối ngoại Trung ương, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật và các cơ quan báo chí tập trung tuyên truyền, giới thiệu về nội dung cuốn sách đến đông đảo cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân, các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài và chỉ đạo dịch cuốn sách ra tiếng nước ngoài để bạn bè quốc tế hiểu rõ hơn về giá trị của cuốn sách và đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, hội nhập quốc tế của Việt Nam…

Các cấp ủy, tổ chức đảng, đặc biệt là các cơ quan làm công tác đối ngoại, ngoại giao, sớm tổ chức cho cán bộ, đảng viên đọc, nghiên cứu, quán triệt sâu sắc nội dung cuốn sách; các chi bộ mở sinh hoạt chuyên đề về nội dung cuốn sách. Đề nghị hệ thống giáo dục toàn quốc, nhất là các học viện, trường chính trị, trường đại học, cao đẳng cả nước xây dựng thành tài liệu học tập, nghiên cứu về công tác đối ngoại, ngoại giao trên cơ sở nội dung cuốn sách./.

Sự Thật

FalseChính trị
“Ngàn năm, làm sao đếm hết công ơn người Thầy”Bài viếtNgọc Hân“Ngàn năm, làm sao đếm hết công ơn người Thầy”/SiteAssets/Ngay-nhagiao-vn-1.jpg
20/11/2023 7:00 SANoĐã ban hành

(TUAG)- Những ngày cuối tháng 11- những ngày đầu Đông gió se se lạnh. Đâu đó vang lên bài hát "Người Thầy" của tác giả Nguyễn Nhất Huy. Bài hát với giai điệu và ca từ tha thiết, chân tình, giàu hình ảnh như một câu chuyện kể. Bài hát làm ai trong chúng ta cũng gợi nhớ về với những ký ức xa xưa về hình ảnh người Thầy, người Cô của chính mình "lặng lẽ đi về sớm trưa. Từng ngày giọt mồ hôi rơi nhẹ trang giấy", với đầy những cung bậc cảm xúc.

Ngay-nhagiao-vn-1.jpg 

Dạy học là một thiên chức đạo đức, vì nó cố gắng phát triển không chỉ sự hiểu biết, mà còn là sự tận tụy trong phụng sự, định hình không chỉ tri thức mà cả ý chí, nuôi dưỡng cả trí tuệ và tâm hồn của học sinh. Dạy học là tạo dựng tương lai. Giáo dục để tạo ra một con người toàn diện và có khả năng phát triển thiên hướng bản thân. Biết rằng, những mỹ từ cao nhã về người thầy không phải đúng cho tất cả, không phải người thầy nào cũng là ngôi sao sáng, nhưng tổng thể họ đã dành thời gian, tâm thức, trí tuệ và tình yêu thương, thậm chí cả mạng sống của mình cho các thế hệ học trò.

Hôm nay, mỗi người trong chúng ta khi lớn lên có những công việc khác nhau, quay trong guồng quay cuộc sống, nhưng nếu chúng ta không có những ước mơ được gieo vào sau bài giảng của thầy cô, không có những khát khao ẩn sâu sau trang sách, không có những vùng trời xa lạ mà thầy cô mang đến để đi tìm, chắc tôi, chúng ta đã không đi qua được chặng đường có lắm gian nan.

Một cái cây lớn khởi đầu từ cái mầm nhỏ. Mấy ai có thể thành công, đi suốt cuộc đời mà không có người thầy, người cô dẫn lối. Lời giảng của thầy cô vẫn mãi văng vẳng trong hồi ức tuổi thơ của tôi và của nhiều người. Những nụ cười rạng rỡ trên môi khi thấy học trò của mình đạt điểm cao, có nhiều thành tích tốt trong học tập, đang dần trưởng thành theo năm tháng. Những giọt nước mắt đượm buồn khi thấy học sinh bị điểm kém, không nghe lời, lười học,… Tất cả đều là tâm huyết, là tình yêu trọn vẹn đối với nghề của thầy cô kính yêu.

Một bác sĩ có thể mổ tim để cứu một đứa trẻ, nhưng người thầy có thể chạm đến đáy sâu con tim của trẻ, đánh thức những khát vọng diệu kỳ nhất trong hồn trẻ. Mục đích cuối cùng của giáo dục, của thầy cô giáo là kiến thức, là tính trung thực và lòng vị tha. Hãy hình dung, nếu không có nhà trường, không có thầy cô, thì cùng lắm ta chỉ biết cha mẹ, ông bà, còn ngoài đời thì lạ lẫm biết bao! Tất cả chúng ta lớn lên từ tình thương và trách nhiệm, từ bao dung và chân thật của thầy cô.

Thật thiêng liêng, trân quý biết bao những nhà giáo chỉ cho mà không bận lòng nghĩ đến nhận; là con ong chăm chỉ trải qua vạn kiếp ong bay để đem cho đời mật ngọt; là cây thân mộc vươn mình trong nắng gió, đem đến cho đời bóng mát.

Cogiao-hocsinh-ngay22-11a.jpg

Cuộc sống có biết bao biến đổi thăng trầm nhưng sẽ chẳng bao giờ có thể làm phai mờ đi tình cảm của người thầy, người cô dành cho học sinh thân yêu, và ngược lại  là tình cảm ấy thiêng liêng của các thế hệ học trò dành cho thầy, cô của mình.

Có ai đó đã nói rằng: "Hãy cảm ơn ngọn đèn vì ánh sáng của nó nhưng đừng quên người cầm đèn đang đứng trong bóng đêm". Thầy cô là những người cầm ngọn đèn bất diệt của tri thức, trí tuệ soi sáng con đường tương lai cho tôi/ chúng ta, chắp cánh cho những ước mơ bay cao, bay xa.

Và ai ơi, giữa cuộc sống hối hả thiên chức của thầy, cô giáo vẫn ngàn năm cao quý lắm. Xin đừng nghĩ đơn thuần vì miếng cơm manh áo mà những người thầy, cô giáo đã chọn và ở lại với nghề giáo cao quý; hãy sẻ chia những lo toan quá đỗi đời thường mà thầy cô phải dốc tâm, dốc sức cho nó. Một mình ngành Giáo dục và chỉ riêng đội ngũ thầy cô giáo sẽ không làm được tất cả. Hãy chung tay bằng hành động cụ thể và trách nhiệm vì một nền giáo dục tiến bộ và tậm sâu trong trái tim mỗi người hãy dành sự tri ân đến thầy, cô giáo.

Thầy cô ơi! "Dù năm tháng vô tình trôi mãi mãi, có hay bao mùa lá rơi, dẫu đếm hết sao trời đêm nay, dẫu đến hết lá mùa thu rơi, nhưng ngàn năm làm sao em đếm hết công ơn cô, thầy"!

NGỌC HÂN

FalseĐưa Nghị quyết vào cuộc sống
Nhiệm vụ hết sức vất vả nhưng vô cùng cao quý!Bài viếtTrung ThànhNhiệm vụ hết sức vất vả nhưng vô cùng cao quý!/SiteAssets/CM-ngay-20-11-nam-nay20221118163417.jpg
17/11/2023 9:00 SANoĐã ban hành

(TUAG)- Dân tộc ta có truyền thống văn hiến lâu đời, Nhân dân ta coi trọng sự học, quan niệm: "Muốn sang thì bắc cầu kiều/ Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy". Ý thức về tầm quan trọng của sự học luôn gắn với coi trọng người thầy: "Nhất tự vi sư, bán tự vi sư" - một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy; có thờ thầy mới được làm thầy… Thành ngữ "lừa thầy phản bạn" là câu chỉ trích, phê phán những kẻ vong ân bội nghĩa,…

CM-ngay-20-11-nam-nay20221118163417.jpg

Một bậc đại nho đã tổng kết: "Học nhiên hậu nhi bất túc, giáo nhiên hậu tri khốn!". Tạm dịch: Có học mới biết không bao giờ đủ, có dạy mới biết vô cùng khó! Vì vậy, người thầy phải luôn đề cao ý thức, phẩm chất, vai trò "mô phạm"; phải là tấm gương sáng cho học trò nhìn vào đó noi theo. Thầy giáo không chỉ dạy chữ mà quan trọng hơn là dạy đạo lý ở đời và làm người. Thầy giáo vừa truyền dạy kiến thức vừa tận tâm bồi đắp cho mỗi tâm hồn người học thêm tốt đẹp để vừa phát triển về trí tuệ, vừa hoàn thiện về nhân cách. Nhà thơ Quách Mạt Nhược khẳng định: "Mặt trời mọc, mặt trời tắt. Trăng tròn rồi trăng lại khuyết. Nhưng ánh sáng người thầy không bao giờ tắt"…

Trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đã sinh ra biết bao người thầy, nhiều người được tôn vinh. Đó không chỉ là người dạy chữ thánh hiền, mà còn là người tượng trưng cho những gì chuẩn mực nhất, cao đẹp nhất. Đặc biệt có những vị thuộc hàng "lương sư hưng quốc". Điển hình như "vạn thế sư biểu" Chu Văn An - người từng trực tiếp dạy học cho thái tử, cũng là trung thần đã dâng "Thất trảm sớ" xin vua chém đầu lũ gian thần rồi cáo quan về quê dạy học, sống cuộc đời thanh bạch. Đó còn là các bậc minh sư cao quý như Nguyễn Bỉnh Khiêm, La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp… Đất Nam bộ có danh sư Võ Trường Toản, Cụ đồ Nguyễn Đình Chiểu, người vừa dạy học vừa bốc thuốc chữa bệnh, vừa là nhà thơ lớn hết lòng yêu nước thương dân… Trong công cuộc đấu tranh kháng Pháp có biết bao thầy giáo đi tiên phong, tiêu biểu là Cụ Phan Bội Châu,… Nhiều thầy giáo trở thành lãnh tụ cách mạng như Nguyễn Tất Thành, Trần Phú, Hồ Tùng Mậu, Võ Nguyên Giáp, …

Sau khi Cách mạng Tháng 8 thành công, đất nước đứng trước muôn vàn khó khăn, song Bác Hồ luôn quan tâm đến nhiệm vụ giáo dục nhằm diệt "giặc dốt", nâng cao trình độ dân trí. Người rất đề cao sứ mệnh của người thầy giáo Bác nói: "… Người thầy giáo tốt - thầy giáo xứng đáng là thầy giáo - là người vẻ vang nhất…". Bác khẳng định "Nhiệm vụ giáo dục rất vất vả nhưng thật vẻ vang, không có thầy cô giáo thì không có giáo dục"…

Thực hiện chỉ dạy của Người, Đảng và Nhà nước ta luôn đặc biệt quan tâm đến sự nghiệp giáo dục và đội ngũ giáo viên. Giáo dục và đào tạo trong những năm qua tiếp tục được đổi mới và có bước phát triển. Chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo được tích cực triển khai, bước đầu có hiệu quả. Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục được chú trọng cả về số lượng và chất lượng. Chi đầu tư cho giáo dục được tăng cường.

Để đủ sức "sánh vai" với các cường quốc, trong thời gian tới đây Đảng ta xác định phải "Tạo đột phá trong đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút và trọng dụng nhân tài". Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt được trình độ tiên tiến trong khu vực. Cùng với đó là thúc đẩy nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng mạnh mẽ thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, chú trọng một số ngành, lĩnh vực trọng điểm, có tiềm năng, lợi thế để làm động lực cho tăng trưởng theo tinh thần bắt kịp, tiến cùng và vượt lên ở một số lĩnh vực so với khu vực và thế giới.

Hopmat-40nam-gdvn-3-transformed.jpg

Tiếp tục phát huy truyền thống gắn bó với sự nghiệp khai sáng dân trí, chấn hưng giáo dục, vun đắp tài năng, ngày nay, nhà giáo phải tiếp tục là những người trực tiếp đáp ứng yêu cầu không ngừng nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài vì sự phồn thịnh của đất nước. Nhà giáo còn có vai trò rất quan trọng trong xây dựng xã hội học tập - một điều kiện tiên quyết để phát triển kinh tế và xã hội bền vững. Sự có mặt của những nhà giáo vững về chuyên môn, nhiệt huyết và được hỗ trợ đầy đủ có tầm đặc biệt quan trọng đối với tất cả các hình thức và cấp độ giáo dục. Dù xã hội ngày càng có những thay đổi to lớn, nhưng người thầy luôn giữ vai trò định hướng về tri thức và phương pháp, là tấm gương về nhân cách đối với người học. Cùng với đề cao vị trí, vai trò và trách nhiệm xã hội, cần đổi mới mạnh mẽ chính sách đãi ngộ, chăm lo xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Đây phải được coi là khâu then chốt. Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng nhấn mạnh: "Thực hiện đồng bộ các cơ chế, chính sách và giải pháp để cải thiện mức sống, nâng cao trình độ và chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục".

Đội ngũ thầy, cô giáo nhất định tiếp tục tỏa sáng về trí tuệ và đức độ để làm tròn sứ mệnh vô cùng cao quý!

Trung Thành

FalseĐưa Nghị quyết vào cuộc sống
Quy định 131 của Bộ Chính trị về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cựcTinQ.HQuy định 131 của Bộ Chính trị về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực/SiteAssets/BM-TW8-23-3.jpg
10/11/2023 10:00 SANoĐã ban hành

(TUAG)- Ngày 27/10/2023, thay mặt Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trương Thị Mai đã ký ban hành Quy định 131-QĐ/TW (Quy định 131) về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng và trong hoạt động thanh tra, kiểm toán. Cổng TTĐT Đảng bộ tỉnh An Giang trân trọng giới thiệu toàn văn Quy định 131.

 

Toàn cảnh phiên bế mạc Hội nghị Trung ương 8 Khóa XIII.

Chương I: QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng

1. Quy định về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng và trong hoạt động thanh tra, kiểm toán.

2. Đối tượng áp dụng là tổ chức (gồm cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị), cá nhân có thẩm quyền trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng và hoạt động thanh tra, kiểm toán; tổ chức, cá nhân được kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, bị thi hành kỷ luật đảng (sau đây gọi tắt là đối tượng kiểm tra).

Điều 2. Giải thích từ ngữ

Trong Quy định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau: 

1. Quyền lực trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng và trong hoạt động thanh tra, kiểm toán là thẩm quyền của tổ chức, cá nhân trong công tác và hoạt động này theo quy định của Đảng và Nhà nước.

2. Kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng và trong hoạt động thanh tra, kiểm toán là việc sử dụng cơ chế, biện pháp nhằm bảo đảm thực hiện nghiêm các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, quy chế làm việc, quy định, quy trình nghiệp vụ để phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, xử lý các vi phạm, nhất là hành vi lạm dụng, lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao.

3. Tham nhũng trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng và trong hoạt động thanh tra, kiểm toán là việc người có thẩm quyền lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn được giao để vụ lợi hoặc vì động cơ cá nhân khác.

4. Tiêu cực trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng và hoạt động thanh tra, kiểm toán là hành vi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm quy chế, quy định, quy trình nghiệp vụ dẫn đến việc làm không đúng với quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước khi thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng, thanh tra, kiểm toán.

5. Tổ chức, cá nhân lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng và hoạt động thanh tra, kiểm toán là cấp uỷ, tổ chức đảng; cơ quan và lãnh đạo các cơ quan kiểm tra, thanh tra, kiểm toán; đoàn kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng, thanh tra, kiểm toán; lãnh đạo cơ quan được giao chức năng thanh tra chuyên ngành; cán bộ, đảng viên được giao nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng, thanh tra, kiểm toán. 

6. Người có quan hệ gia đình là vợ (chồng); bố, mẹ, người trực tiếp nuôi dưỡng hoặc bố, mẹ, người trực tiếp nuôi dưỡng vợ (chồng); con đẻ, con nuôi, con dâu, con rể; anh, chị, em ruột; anh, chị, em ruột của vợ (chồng) theo quy định của pháp luật.

Điều 3. Nguyên tắc kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng và trong hoạt động thanh tra, kiểm toán

1. Bảo đảm lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất, chặt chẽ, toàn diện của Đảng đối với công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng; kiểm soát của các cơ quan nhà nước trong hoạt động thanh tra, kiểm toán; giám sát của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và Nhân dân trong các hoạt động này.

2. Có cơ chế để phòng ngừa và bảo đảm mọi quyền lực được kiểm soát chặt chẽ, quyền hạn phải gắn với trách nhiệm. Công khai, minh bạch gắn với trách nhiệm giải trình của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng và hoạt động thanh tra, kiểm toán.

3. Bảo đảm tính độc lập, khách quan, thực hiện đầy đủ, chấp hành nghiêm quy chế làm việc, quy định, quy trình kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng, thanh tra, kiểm toán; xây dựng, thực hiện văn hoá liêm chính, không tham nhũng, tiêu cực trong thực hiện nhiệm vụ.

4. Kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý nghiêm minh hành vi lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn, tham nhũng, tiêu cực trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng và hoạt động thanh tra, kiểm toán.

5. Tuân thủ chủ trương, quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

Chương II: KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC, PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG, TIÊU CỰC TRONG CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT, THI HÀNH KỶ LUẬT ĐẢNG VÀ TRONG HOẠT ĐỘNG THANH TRA, KIỂM TOÁN

Điều 4. Những hành vi tham nhũng, tiêu cực trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng và trong hoạt động thanh tra, kiểm toán 

1. Hối lộ, nhận hối lộ, môi giới hối lộ, mua chuộc người có trách nhiệm, chức vụ, quyền hạn hoặc người có liên quan nhằm giảm nhẹ, trốn tránh trách nhiệm cho đối tượng vi phạm.

2. Cung cấp, tiết lộ thông tin, tài liệu, hồ sơ của đối tượng kiểm tra cho tổ chức và cá nhân không có thẩm quyền, trách nhiệm, nhất là thông tin, tài liệu, hồ sơ đang trong quá trình kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng hoặc thanh tra, kiểm toán.

3. Nhận tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác hoặc lợi ích phi vật chất, tham gia hoạt động vui chơi, giải trí của đối tượng kiểm tra hoặc người có liên quan đến đối tượng kiểm tra. 

4. Lợi dụng các mối quan hệ thân quen hoặc sử dụng lợi thế, vị trí công tác, uy tín của mình, người khác để tác động, tranh thủ, gây sức ép với đối tượng kiểm tra hoặc tổ chức, cá nhân có liên quan nhằm trục lợi hoặc động cơ cá nhân khác.

5. Lợi dụng việc nắm được thông tin nội bộ hoặc thông tin bất lợi của tổ chức, cá nhân để đặt điều kiện, gây sức ép đối với đối tượng kiểm tra, người có thẩm quyền, trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng, thanh tra, kiểm toán nhằm trục lợi hoặc động cơ cá nhân khác.

6. Để người có quan hệ gia đình lợi dụng ảnh hưởng chức vụ, quyền hạn của mình nhằm thao túng, can thiệp vào việc kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng, thanh tra, kiểm toán.

7. Đưa ý đồ cá nhân, đề ra tiêu chí, điều kiện, nhận xét, đánh giá mang tính áp đặt, không đúng bản chất, không đúng sự thật để có lợi hoặc gây bất lợi cho đối tượng kiểm tra.

8. Xác nhận, nhận xét, đánh giá, kết luận và kiến nghị không đúng sự thật hoặc làm giả, làm sai lệch nội dung hồ sơ, bản chất vụ việc, vi phạm của đối tượng kiểm tra.

9. Thoả thuận, đặt điều kiện với đối tượng kiểm tra hoặc người có liên quan đến đối tượng; thực hiện không đúng, không đầy đủ các quy định để làm thay đổi, sai lệch kết quả, kết luận kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán.

10. Không kiến nghị, đề xuất chuyển đến cơ quan có thẩm quyền để xử lý theo quy định của pháp luật khi phát hiện vụ việc có dấu hiệu tội phạm; không kiến nghị hoặc chỉ đạo, xử lý thu hồi vật chất, xử lý kỷ luật theo thẩm quyền đối với các vi phạm khi tiến hành kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán.

11. Chỉ đạo hoặc cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật, chưa được phép công bố hoặc không thực hiện đúng kết luận, kiến nghị về kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng, thanh tra, kiểm toán. 

12. Gặp gỡ, tiếp xúc, trao đổi không đúng quy định với đối tượng kiểm tra; sử dụng các tài liệu thẩm tra, xác minh không đúng mục đích. 

13. Bao che, tiếp tay, trì hoãn hoặc không kết luận, không xử lý hoặc kết luận, xử lý không đúng nội dung, tính chất, mức độ vi phạm hoặc không báo cáo cấp có thẩm quyền xử lý theo quy định đối với tổ chức, cá nhân vi phạm.

14. Thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng, thanh tra, kiểm toán vượt thẩm quyền; không đúng quy trình nghiệp vụ, phạm vi, đối tượng, nội dung, thời gian theo quy định. Cản trở, can thiệp trái quy định vào việc kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng, thanh tra, kiểm toán.

15. Tiết lộ bí mật nhà nước, bí mật nghề nghiệp, sách nhiễu, gây khó khăn, có thái độ áp đặt, thiếu tôn trọng, không đúng quy định của ngành, can thiệp trái quy định vào hoạt động của đối tượng kiểm tra. 

16. Không xử lý hoặc không báo cáo cấp có thẩm quyền xử lý theo quy định khi nhận được thông tin, đơn, thư phản ánh, tố cáo đối tượng kiểm tra. 

17. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc dùng uy tín, ảnh hưởng của bản thân và gia đình để gợi ý, tác động, gây áp lực đối với người có thẩm quyền quyết định hoặc tham mưu về các kết luận kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng, thanh tra, kiểm toán không đúng bản chất sự việc.

18. Tác động đến người có thẩm quyền nhằm giúp cho đối tượng kiểm tra có được kết quả, quyền lợi không chính đáng ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân.

19. Trực tiếp hoặc gián tiếp hỗ trợ đối tượng kiểm tra thực hiện các hành vi nhằm trốn tránh, giảm nhẹ trách nhiệm. 

20. Không kịp thời thay đổi thành viên đoàn kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng, thanh tra, kiểm toán khi có căn cứ xác định thành viên không vô tư, khách quan trong công tác; không kịp thời chỉ đạo, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc của đoàn.

21. Không kịp thời kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán đối với những tổ chức, cơ quan, đơn vị và cá nhân có dấu hiệu vi phạm, đơn, thư phản ánh, tố cáo đã được xác định là có cơ sở.

22. Các hành vi tham nhũng, tiêu cực khác theo quy định của Đảng và pháp luật. 

Điều 5. Trách nhiệm của cấp uỷ, tổ chức đảng, người đứng đầu, thành viên cấp uỷ, tổ chức đảng

Không thực hiện hành vi quy định tại Điều 4, đồng thời có trách nhiệm: 

1. Đối với cấp uỷ

1.1. Lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể hoá và tổ chức thực hiện nghiêm quy định của Đảng về công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng; quy định của pháp luật về hoạt động thanh tra, kiểm toán.

1.2. Chỉ đạo xây dựng, phê duyệt kế hoạch và tổ chức thực hiện kiểm tra, giám sát theo kế hoạch; phối hợp chặt chẽ giữa đoàn kiểm tra, giám sát của cấp uỷ với uỷ ban kiểm tra cấp trên trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng.

1.3. Thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát cấp uỷ, tổ chức đảng thuộc thẩm quyền quản lý; các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp uỷ và uỷ ban kiểm tra của cấp uỷ thực hiện nghiêm quy định của Đảng, chỉ đạo của cấp uỷ, uỷ ban kiểm tra cấp trên, kịp thời chấn chỉnh hạn chế, khuyết điểm trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng. 

1.4. Chỉ đạo thực hiện các biện pháp phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; chủ động phát hiện, xử lý nghiêm vi phạm trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng.

2. Đối với uỷ ban kiểm tra các cấp 

2.1. Chỉ đạo cụ thể hoá hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền ban hành, sửa đổi, bổ sung các quy định về công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng. Quy định rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân trong thực hiện nhiệm vụ, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch.

2.2. Thường xuyên chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát cấp uỷ, tổ chức đảng, đảng viên của tổ chức mình và cấp dưới thực hiện đầy đủ quy định của Đảng về công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật. Kịp thời chấn chỉnh hạn chế, khuyết điểm, xử lý vi phạm theo thẩm quyền.

2.3. Không bố trí theo dõi địa bàn, lĩnh vực hoặc tham gia, chỉ đạo các đoàn kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đối với người có quan hệ gia đình hoặc có quyền, lợi ích liên quan với đối tượng kiểm tra.

2.4. Điều động hoặc chuyển đổi vị trí công tác đối với người đã phụ trách, theo dõi một địa bàn, lĩnh vực từ đủ 2 năm đến 5 năm theo đặc thù của ngành, lĩnh vực hoặc khi thấy cần thiết. 

2.5. Bảo vệ, khen thưởng kịp thời tổ chức, cá nhân phát hiện, phản ánh, tố cáo vi phạm trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng. 

3. Đối với tổ chức đảng lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động thanh tra, kiểm toán

3.1. Lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đầy đủ, nghiêm túc quy định của Đảng, pháp luật, chương trình, kế hoạch và quy trình nghiệp vụ trong hoạt động thanh tra, kiểm toán. 

3.2. Chỉ đạo hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền ban hành, sửa đổi, bổ sung các quy định, quy trình hoạt động thanh tra, kiểm toán và các quy định khác có liên quan, bảo đảm kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động thanh tra, kiểm toán.

3.3. Phối hợp với cấp uỷ cùng cấp trong việc tự kiểm tra, kịp thời chấn chỉnh hạn chế, khuyết điểm và xử lý nghiêm vi phạm trong thực hiện nhiệm vụ thanh tra, kiểm toán.

3.4. Chỉ đạo việc bảo vệ, khen thưởng tổ chức, cá nhân phát hiện, phản ánh, tố cáo vi phạm trong hoạt động thanh tra, kiểm toán; thường xuyên chỉ đạo hoặc phối hợp chỉ đạo kiểm tra, giám sát tổ chức đảng, đảng viên, cán bộ, công chức trong cơ quan, đơn vị; kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý hoặc kiến nghị xử lý vi phạm trong hoạt động thanh tra, kiểm toán.

3.5. Điều động hoặc chuyển đổi vị trí công tác đối với người đã phụ trách, theo dõi thanh tra, kiểm toán tại một địa bàn, lĩnh vực từ đủ 2 năm đến 5 năm theo đặc thù của ngành, lĩnh vực hoặc khi thấy cần thiết.

4. Đối với người đứng đầu, thành viên cấp uỷ, tổ chức đảng

4.1. Người đứng đầu cấp uỷ, tổ chức đảng

- Chịu trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước; trách nhiệm khi để xảy ra vi phạm quy định về kiểm soát quyền lực, tham nhũng, tiêu cực trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng và trong hoạt động thanh tra, kiểm toán.

- Triệu tập đầy đủ, đúng thành phần, bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ trong thảo luận và quyết định các vấn đề theo thẩm quyền; không được vận động, dẫn dắt, thao túng, áp đặt ý kiến chủ quan, tác động, gây sức ép để người khác nhận xét, đánh giá, biểu quyết, quyết định theo ý mình.

- Báo cáo kịp thời, trung thực, khách quan, đầy đủ ý kiến của tập thể lãnh đạo với cấp có thẩm quyền, nhất là những vấn đề còn có ý kiến khác nhau.

- Công khai thông báo, kết luận về công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng và hoạt động thanh tra, kiểm toán theo quy định. Cung cấp đầy đủ hồ sơ, tài liệu theo yêu cầu của cấp có thẩm quyền. 

4.2. Thành viên cấp uỷ, tổ chức đảng

- Chấp hành các nghị quyết, quyết định của tập thể; cùng chịu trách nhiệm với tập thể về các quyết định được thảo luận, biểu quyết. Được kiến nghị, đề xuất và bảo lưu ý kiến.

- Chịu trách nhiệm về kiến nghị, đề xuất thuộc địa bàn, lĩnh vực được phân công phụ trách.

- Chịu trách nhiệm khi để xảy ra vi phạm liên quan đến kiểm soát quyền lực, tham nhũng, tiêu cực thuộc địa bàn, lĩnh vực được phân công phụ trách.

Điều 6. Trách nhiệm của lãnh đạo, người đứng đầu cơ quan, tổ chức kiểm tra, thanh tra, kiểm toán và cá nhân có liên quan

Không thực hiện hành vi quy định tại Điều 4, đồng thời có trách nhiệm:

1. Đối với lãnh đạo cơ quan uỷ ban kiểm tra

1.1. Thực hiện đúng, đầy đủ trách nhiệm, quyền hạn của mình theo quy định và quy chế làm việc. Phản ánh kịp thời, đầy đủ, chính xác, trung thực đến cấp có thẩm quyền những nội dung có liên quan đến lĩnh vực, địa bàn mà cá nhân được phân công phụ trách, quản lý, theo dõi. Thể hiện rõ chính kiến, chịu trách nhiệm về ý kiến của mình và được bảo lưu ý kiến.

1.2. Kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện, việc làm trái chủ trương, quy định của Đảng về công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng.

1.3. Chịu trách nhiệm về đề xuất kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng và trong việc nhận xét, đánh giá, kiến nghị thuộc thẩm quyền. Cùng tập thể chịu trách nhiệm đối với quyết định, kết luận không đúng trong kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng (trừ trường hợp không đồng ý với quyết định, kết luận không đúng của tập thể).

1.4. Tự giác báo cáo với cấp uỷ, tổ chức đảng, lãnh đạo cơ quan khi có cổ phần, có người thân là người có quyền, lợi ích liên quan đến đối tượng kiểm tra.

1.5. Chịu trách nhiệm khi để xảy ra tham nhũng, tiêu cực, sai phạm của đoàn kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật được phân công chỉ đạo.

2. Đối với lãnh đạo cơ quan thanh tra, kiểm toán 

2.1. Thực hiện nghiêm chủ trương, quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước trong hoạt động thanh tra, kiểm toán.

2.2. Thường xuyên kiểm tra, kịp thời chấn chỉnh và chịu trách nhiệm về những vi phạm, khuyết điểm trong hoạt động thanh tra, kiểm toán thuộc thẩm quyền được giao.

2.3. Người đứng đầu, lãnh đạo cơ quan, đơn vị được giao chủ trì cuộc thanh tra, kiểm toán: 

- Lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đúng, đầy đủ, nghiêm chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, quy định và quy trình nghiệp vụ trong hoạt động thanh tra, kiểm toán; theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kết luận và kiến nghị thanh tra, kiểm toán theo thẩm quyền.

- Thường xuyên tự kiểm tra để kịp thời chấn chỉnh và chịu trách nhiệm về những khuyết điểm, vi phạm trong hoạt động thanh tra, kiểm toán thuộc thẩm quyền được giao.

- Công khai, minh bạch nội dung về hoạt động thanh tra, kiểm toán cho tổ chức, cá nhân có liên quan theo quy định.

- Ban hành hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền ban hành, sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ quy định của pháp luật, quy trình nghiệp vụ trong hoạt động thanh tra, kiểm toán để bảo đảm việc kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

- Chịu trách nhiệm khi để xảy ra tham nhũng, tiêu cực, sai phạm của đoàn thanh tra, kiểm toán được phân công chỉ đạo.

3. Đối với đoàn kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng, thanh tra, kiểm toán

3.1. Thành viên đoàn

- Tự giác báo cáo với tổ chức đảng, lãnh đạo cơ quan, đơn vị và xin không làm thành viên đoàn khi: Có quyền, lợi ích liên quan đến đối tượng kiểm tra; có quan hệ gia đình với đối tượng kiểm tra hoặc cùng là thành viên đoàn.

- Chấp hành nghiêm chủ trương, quy định của Đảng về công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng và pháp luật về hoạt động thanh tra, kiểm toán; quy định của ngành, cơ quan, tổ chức, đơn vị mình công tác.

- Thực hiện nghiêm quyết định, kế hoạch, phân công nhiệm vụ của đoàn; kịp thời báo cáo trưởng đoàn hoặc lãnh đạo cơ quan, đơn vị, cấp có thẩm quyền khi phát hiện hành vi tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động của đoàn.

- Chịu trách nhiệm về tính chính xác, đúng đắn về nội dung báo cáo công việc được phân công và được bảo lưu ý kiến của mình.

- Không nhận quà vật chất và các lợi ích phi vật chất của đối tượng kiểm tra, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng và hoạt động thanh tra, kiểm toán dưới mọi hình thức.

3.2. Trưởng đoàn 

Ngoài việc thực hiện quy định tại Mục 3.1, trưởng đoàn còn chịu trách nhiệm trước cấp uỷ, tổ chức đảng, thủ trưởng cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền về: 

- Việc điều hành hoạt động của đoàn theo chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước và quy chế, quy định, quy trình của ngành, cơ quan.

- Tính đúng đắn, chính xác của các nội dung đã kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng, thanh tra, kiểm toán; các đề xuất, kiến nghị của đoàn.

- Chịu trách nhiệm chính khi để xảy ra tham nhũng, tiêu cực trong đoàn khi thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng, thanh tra, kiểm toán.

4. Đối với cán bộ làm công tác tham mưu

Ngoài việc chấp hành nghiêm chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng, thanh tra, kiểm toán và quy định, quy chế, quy trình của cơ quan, đơn vị còn phải: 

- Tự giác báo cáo với tổ chức đảng, lãnh đạo cơ quan, đơn vị khi có quan hệ gia đình với người đứng đầu địa bàn, lĩnh vực, có cổ phần tại doanh nghiệp được phân công theo dõi, phụ trách. 

- Chịu trách nhiệm về kiến nghị, đề xuất của mình đối với lĩnh vực, địa bàn được phân công theo dõi, phụ trách.

- Không nhận quà vật chất và các lợi ích phi vật chất của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc địa bàn, lĩnh vực mình được phân công theo dõi, phụ trách dưới mọi hình thức.

Điều 7. Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân khác 

1. Cấp uỷ, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo và người đứng đầu địa phương, cơ quan, đơn vị là đối tượng kiểm tra trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm: 

1.1. Không thực hiện những yêu cầu, đòi hỏi nằm ngoài nội dung kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng, thanh tra, kiểm toán. Kịp thời phát hiện, tiếp nhận thông tin để xử lý hoặc báo cáo cơ quan có liên quan về hành vi tham nhũng, tiêu cực hoặc hành vi bao che, tiếp tay cho tham nhũng, tiêu cực trong khi đang được kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, bị thi hành kỷ luật đảng.

1.2. Cung cấp kịp thời, đầy đủ, chính xác các thông tin, tài liệu và thực hiện nghiêm yêu cầu của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong quá trình được kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, bị thi hành kỷ luật đảng.

1.3. Bảo vệ và khen thưởng kịp thời những tổ chức, cá nhân phát hiện, phản ánh, tố cáo đúng hành vi tham nhũng, tiêu cực hoặc hành vi bao che, tiếp tay cho tham nhũng, tiêu cực; xử lý nghiêm người tố cáo sai làm ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của tổ chức, cá nhân. 

1.4. Nghiêm cấm các hành vi: 

- Can thiệp trái quy định vào hoạt động kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng, thanh tra, kiểm toán; lợi dụng ảnh hưởng của mình tác động đến người làm nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng, thanh tra, kiểm toán.

- Thiết lập quan hệ để hối lộ, mua chuộc người có trách nhiệm, chức vụ, quyền hạn hoặc người có liên quan nhằm mục đích chạy tội, trốn tránh trách nhiệm cho đối tượng vi phạm. 

- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc dùng uy tín, ảnh hưởng của bản thân và gia đình gợi ý, tác động, gây áp lực để người có thẩm quyền quyết định hoặc tham mưu, đề xuất, nhận xét, đánh giá, biểu quyết về kết luận, quyết định kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng, thanh tra, kiểm toán không đúng bản chất sự việc. 

- Báo cáo sai lệch, không trung thực, không đầy đủ, không kịp thời hoặc thiếu khách quan thông tin liên quan đến kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng, thanh tra, kiểm toán.

- Các hành vi tham nhũng, tiêu cực khác liên quan đến công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng, thanh tra, kiểm toán.

2. Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, cơ quan dân cử các cấp, công dân nếu phát hiện hành vi tham nhũng, tiêu cực, bao che, tiếp tay cho tham nhũng, tiêu cực phải kịp thời kiến nghị tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý theo quy định.

3. Cán bộ, đảng viên có trách nhiệm xử lý thông tin phản ánh, tố cáo về tham nhũng, tiêu cực, bao che, tiếp tay cho tham nhũng, tiêu cực để kịp thời báo cáo, phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền xử lý hành vi tham nhũng, tiêu cực. 

4. Các cơ quan thông tin, truyền thông phát huy vai trò, trách nhiệm trong việc kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng và trong hoạt động thanh tra, kiểm toán.

Chương III: XỬ LÝ VI PHẠM

Điều 8. Xử lý hành vi lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn, lạm quyền, tham nhũng, tiêu cực 

1. Kịp thời xem xét, thi hành kỷ luật nghiêm minh theo quy định của Đảng đối với cấp uỷ, tổ chức đảng, đảng viên có hành vi tham nhũng, tiêu cực, bao che, tiếp tay cho tham nhũng, tiêu cực trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng và trong hoạt động thanh tra, kiểm toán. Trường hợp vi phạm chưa đến mức phải xử lý kỷ luật thì phải tự kiểm điểm, có biện pháp khắc phục vi phạm, khuyết điểm và cam kết không tái phạm.

2. Đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức (kể cả người đã chuyển công tác hoặc nghỉ hưu) vi phạm nội dung nêu tại Điều 4 Quy định này thì bị xử lý theo quy định hiện hành. Ngoài ra, cá nhân đang công tác còn bị áp dụng các biện pháp xử lý như sau: 

2.1. Đình chỉ công tác, chức vụ, không bố trí làm công tác tham mưu, nghiệp vụ về kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng, thanh tra, kiểm toán. 

2.2. Không quy hoạch, điều động, luân chuyển, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, phong, thăng cấp bậc hàm, giới thiệu bầu cử, ứng cử chức vụ tương đương và cao hơn, công nhận chức danh, phong tặng danh hiệu, khen thưởng theo quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

2.3. Huỷ bỏ, thu hồi kết luận, quyết định ban hành không đúng về công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng và hoạt động thanh tra, kiểm toán (nếu vi phạm về thẩm quyền, đối tượng, nội dung, kiến nghị, đề nghị, quyết định về hình thức xử lý kỷ luật đảng, chính quyền, đoàn thể). 

3. Đối với vi phạm đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì phải kịp thời chuyển hồ sơ sang cơ quan chức năng để xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật; nghiêm cấm giữ lại để xử lý hành chính hoặc nội bộ. 

4. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải kịp thời giải quyết đúng quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước về thông tin phản ánh, tố cáo hành vi tham nhũng, tiêu cực, bao che, tiếp tay cho tham nhũng, tiêu cực trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng và trong hoạt động thanh tra, kiểm toán. 

Điều 9. Xử lý trách nhiệm khi để xảy ra tham nhũng, tiêu cực 

1. Đối với tổ chức

1.1. Xử lý kỷ luật nghiêm minh theo quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước đối với cấp uỷ, tổ chức đảng vi phạm Quy định này.

1.2. Cấp uỷ, tổ chức đảng bị kỷ luật phải xem xét trách nhiệm của người đứng đầu, thành viên cấp uỷ, tổ chức đảng, thành viên tập thể lãnh đạo có liên quan; kịp thời thay thế, bố trí công tác khác đối với trường hợp không còn đủ uy tín lãnh đạo cơ quan, đơn vị.

2. Đối với lãnh đạo cấp uỷ, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị

2.1. Chịu trách nhiệm chính và bị xem xét, xử lý kỷ luật theo quy định của Đảng khi vi phạm Điều 4 Quy định này, để xảy ra tham nhũng, tiêu cực tại cơ quan, đơn vị mình.

2.2. Được xem xét miễn, giảm trách nhiệm trong trường hợp sau đây: 

- Không thể biết hoặc đã áp dụng các biện pháp cần thiết để phòng ngừa, ngăn chặn tham nhũng, tiêu cực trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng và trong hoạt động thanh tra, kiểm toán. 

- Đã áp dụng các biện pháp cần thiết để ngăn chặn, khắc phục hậu quả của hành vi tham nhũng, tiêu cực hoặc kịp thời phát hiện, chủ động báo cáo và xử lý hành vi tham nhũng, tiêu cực. 

- Chủ động xin thôi giữ chức vụ, từ chức trước khi cơ quan có thẩm quyền phát hiện, xử lý, trừ trường hợp bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Chương IV: ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 10. Tổ chức thực hiện

1.  Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Ban cán sự đảng Thanh tra Chính phủ, Ban cán sự đảng Kiểm toán Nhà nước, các tỉnh uỷ, thành uỷ trực thuộc Trung ương và các cấp uỷ, tổ chức đảng có liên quan lãnh đạo, chỉ đạo việc quán triệt, xây dựng chương trình, kế hoạch tổ chức thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Quy định này.

2. Giao  Ủy ban Kiểm tra Trung ương chủ trì, phối hợp với Ban Nội chính Trung ương, Ban cán sự đảng Thanh tra Chính phủ, Ban cán sự đảng Kiểm toán Nhà nước, Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc thực hiện Quy định; xử lý kỷ luật, đề nghị xử lý kỷ luật tập thể, cá nhân vi phạm Quy định; định kỳ sơ kết, tổng kết, báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư.

Điều 11. Hiệu lực thi hành

Quy định này có hiệu lực kể từ ngày ký, phổ biến đến chi bộ. Trong quá trình thực hiện nếu có vướng mắc hoặc cần sửa đổi, bổ sung thì báo cáo Bộ Chính trị (qua Ủy ban Kiểm tra Trung ương) xem xét, quyết định./.


FalseChính trị; Đưa Nghị quyết vào cuộc sống
Cảnh giác trước luận điệu xuyên tạc việc lấy phiếu tín nhiệm Bài viếtĐảng Cộng sản VNCảnh giác trước luận điệu xuyên tạc việc lấy phiếu tín nhiệm /SiteAssets/TW-lay-phieu-tinnhiem23-1.jpg
28/10/2023 6:00 CHNoĐã ban hành
Chiều 25/10 vừa qua, Quốc hội đã chính thức công bố kết quả lấy phiếu tín nhiệm đối với 44 người giữ chức danh do Quốc hội khóa XV bầu hoặc phê chuẩn bảo đảm khách quan, nghiêm túc, công khai, minh bạch, đúng quy trình, thủ tục theo quy định của pháp luật, được cử tri và Nhân dân cả nước quan tâm, đánh giá cao. Thế nhưng bất chấp thực tế đó, các đối tượng thù địch lại tung ra những luận điệu hết sức sai trái, lố bịch.

Nhận diện âm mưu, thủ đoạn nham hiểm

Lấy phiếu tín nhiệm là việc Quốc hội, Hội đồng nhân dân thực hiện quyền giám sát, đánh giá mức độ tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn để làm cơ sở xem xét đánh giá cán bộ.

Các chức danh do Quốc hội bầu, phê chuẩn được lấy phiếu tín nhiệm gồm: Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước; Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội, Tổng Thư ký Quốc hội; Thủ tướng, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng, thành viên khác của Chính phủ; Chánh án TAND Tối cao, Viện trưởng VKSND Tối cao và Tổng Kiểm toán Nhà nước.

Theo đó, có 49 chức danh do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn. Tuy nhiên, những trường hợp có thông báo nghỉ công tác chờ nghỉ hưu hoặc được bầu, bổ nhiệm trong năm lấy phiếu tín nhiệm không thuộc diện lấy phiếu tín nhiệm. Vì vậy, Quốc hội sẽ không lấy phiếu tín nhiệm đối với 5 nhân sự: Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng, các Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà và Trần Lưu Quang, Bộ trưởng Tài nguyên và Môi trường Đặng Quốc Khánh và Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội Lê Quang Mạnh, do được bầu, phê chuẩn bổ nhiệm trong năm 2023.

 Lãnh đạo Đảng và Nhà nước bỏ phiếu tín nhiệm sáng 25/10 (Ảnh: VGP)

Vậy nhưng cố tình phớt lờ sự thật trên, các thế lực thù địch, phản động cơ hội chính trị lại bẻ lái, xuyên tạc đưa ra bài viết với lời lẽ lố bịch như “việc lấy phiếu là hình thức”, “không có gì thay đổi sau khi bỏ phiếu”, “tại sao không bỏ phiếu với các chức danh khác?”; tỏ vẻ quan tâm khi đưa ra yêu cầu rằng “lấy phiếu tín nhiệm phải có “bất tín nhiệm” trong phiếu”... Đây là những luận điệu hết sức xảo trá của những kẻ có mưu đồ chống phá Đảng, Nhà nước.

Việc xuyên tạc công tác lấy phiếu tín nhiệm là vấn đề không mới, được dùng đi dùng lại nhiều lần, đặc biệt vào dịp Đảng, Quốc hội ra các quy định, nghị quyết về lấy phiếu tín nhiệm thì những ngôn từ bịa đặt, những bài viết, video, hình ảnh sai trái, xuyên tạc lại được dịp “bung nở” trên các trang mạng xã hội. Thậm chí, có hãng truyền thông hải ngoại vốn thù địch với Việt Nam mở các diễn đàn, tiến hành phỏng vấn số đối tượng núp bóng “luật sư nhân quyền”, “nhà dân chủ” giả hiệu để bình luận, cổ xúy, diễn trò bôi nhọ, phủ nhận các quy đinh, nghị quyết về lấy phiếu tín nhiệm và kết quả thực thi trên thực tế. Tuy là trò cũ nhưng âm mưu, thủ đoạn hết sức nguy hiểm, thâm độc, nếu không tỉnh táo nhận diện thì rất dễ rơi vào cái bẫy do các thế lực thù địch, phản động giăng ra.

Có thể thấy những luận điệu xảo trá trên nhằm kích thích sự quan tâm của công chúng, cung cấp những thông tin sai lệch để đánh lừa nhận thức dư luận về việc lấy phiếu tín nhiệm; tìm cách làm xói mòn niềm tin của cử tri, Nhân dân về vị trí vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Quốc hội; làm giảm sự đóng góp, giúp đỡ, xây dựng của Nhân dân đối với hoạt động của Quốc hội, HĐND các cấp; bôi nhọ cán bộ và công tác cán bộ của Đảng; xuyên tạc mối quan hệ giữa Đảng với Quốc hội...

Khẳng định vị thế, uy tín của Quốc hội

Từ khi ra đời đến nay, thực tiễn lịch sử đã chứng minh, Quốc hội luôn xứng đáng là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; thực hiện tốt quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước.

Để xứng đáng với niềm tin, sự kỳ vọng của Nhân dân, cử tri cả nước, hoạt động lấy phiếu, bỏ phiếu tín nhiệm là việc làm vô cùng cần thiết nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội; nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước; góp phần đánh giá uy tín và kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao của người được lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm, giúp họ thấy được mức độ tín nhiệm của mình để tiếp tục phấn đấu, rèn luyện, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác; làm cơ sở để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xem xét quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng cán bộ.

Trên thực tế, việc lấy phiếu tín nhiệm có ý nghĩa to lớn đối với các cơ quan, tổ chức và cá nhân người được lấy phiếu tín nhiệm. Đối với cơ quan, tổ chức có cá nhân được lấy phiếu tín nhiệm là dịp để rà soát, đánh giá một phần cán bộ để có các giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ, công tác cán bộ thông qua mức phiếu lấy tín nhiệm.

Đối với người lấy phiếu tín nhiệm, thông qua mức độ tín nhiệm để tự kiểm tra lại quá trình công tác, rèn luyện; giúp cá nhân tự soi, tự sửa, hoàn thiện bản thân hơn. Đối với các chức danh chủ chốt thì việc lấy phiếu tín nhiệm càng có giá trị đặc biệt khi không chỉ giúp nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý, điều hành, phương pháp, tác phong công tác của bản thân cá nhân, mà còn lan tỏa tinh thần cống hiến đối với các bộ, ngành, bộ phận, khối do mình phụ trách.

Nội dung lấy phiếu tín nhiệm toàn diện trên các nội dung về: phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, việc chấp hành Hiến pháp và pháp luật; kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao.

Lấy phiếu tín nhiệm là thực chất, hoàn toàn không có chuyện hình thức như các thế lực thù địch rêu rao. Bởi người được lấy phiếu tín nhiệm phải chịu hệ quả được quy định trong Điều 12 Nghị quyết 96/2023/QH15 về việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội đồng Nhân dân bầu hoặc phê chuẩn đó là: “Người được lấy phiếu tín nhiệm có quá nửa đến dưới hai phần ba tổng số phiếu đánh giá “tín nhiệm thấp” thì có thể xin từ chức; trường hợp không xin từ chức thì Ủy ban Thường vụ Quốc hội trình Quốc hội, Thường trực Hội đồng Nhân dân trình Hội đồng Nhân dân tiến hành bỏ phiếu tín nhiệm tại kỳ họp đó hoặc kỳ họp gần nhất; trường hợp một người đã được lấy phiếu tín nhiệm cùng một lần với nhiều chức vụ thì việc bỏ phiếu tín nhiệm được thực hiện một lần đối với các chức vụ đó; người được lấy phiếu tín nhiệm có từ hai phần ba tổng số phiếu đánh giá “tín nhiệm thấp” trở lên thì cơ quan hoặc người có thẩm quyền giới thiệu người đó để Quốc hội, Hội đồng Nhân dân bầu hoặc phê chuẩn có trách nhiệm trình Quốc hội, Hội đồng Nhân dân tiến hành miễn nhiệm hoặc phê chuẩn đề nghị miễn nhiệm tại kỳ họp đó hoặc kỳ họp gần nhất; trường hợp một người đã được lấy phiếu tín nhiệm cùng một lần với nhiều chức vụ thì thực hiện việc miễn nhiệm hoặc phê chuẩn đề nghị miễn nhiệm đối với các chức vụ đó”. Kết quả lấy phiếu tín nhiệm được sử dụng để đánh giá cán bộ, làm cơ sở cho công tác quy hoạch, điều động, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử, miễn nhiệm và thực hiện chế độ, chính sách đối với cán bộ.

Cũng theo Nghị quyết 96, đối với trường hợp lấy phiếu tín nhiệm, mẫu phiếu được chia làm ba mức “tín nhiệm cao”, “tín nhiệm”, “tín nhiệm thấp”. Trường hợp bỏ phiếu tín nhiệm thì mẫu phiếu có hai mức “tín nhiệm”, “không tín nhiệm”. Như vậy, hai mẫu phiếu của hai trường hợp là khác nhau, không thể sử dụng mẫu phiếu bỏ phiếu tín nhiệm sang mẫu phiếu lấy phiếu tín nhiệm. Rõ ràng, số đối tượng phát tán thông tin sai trái, đưa ra các bài viết chống phá thể hiện sự thiếu hiểu biết về mẫu phiếu quy định trong Nghị quyết 96 hoặc cố tình không hiểu để quy chụp về phiếu sử dụng trong lấy phiếu tín nhiệm và bỏ phiếu tín nhiệm là giống nhau.

Đây là lần đầu tiên Quốc hội lấy phiếu tín nhiệu từ khi Nghị quyết 96 ban hành. Từ ngày 23/6 đến chiều ngày 25/10/2023, Quốc hội đã hoàn thành việc lấy phiếu tín nhiệm trên thực tế. Như vậy, chỉ trong thời gian 4 tháng Quốc hội không chỉ chứng minh tính đúng đắn ở mặt chủ trương, ở khâu ra Nghị quyết mà còn cho thấy quyết tâm cao trong hành động; bảo đảm nhanh chóng, chính xác trong tổ chức thực hiện theo đúng chương trình đã đề ra. Từ đó, cho thấy sự thống nhất biện chứng trong “nói đi đôi với làm” của Quốc hội, từ việc ra quyết sách đến quá trình hành động đều rõ ràng, nhất quán. Mặt khác, việc lấy phiếu tín nhiệm vừa qua được công bố rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng để các tầng lớp nhân dân nắm, theo dõi, giám sát càng cho thấy tính minh bạch, công khai trong các hoạt động của Quốc hội.

Các đại biểu Quốc hội đại diện cho cử tri cả nước thể hiện rõ chính kiến, công tâm, trách nhiệm trong việc lấy phiếu tín nhiệm đối với các chức danh do Quốc hội bầu; từ đó phát huy tốt quyền dân chủ của Nhân dân, góp phần khẳng định bản chất tốt đẹp của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân. 481 đại biểu Quốc hội đã đại diện cho ý chí, nguyện vọng của cử tri cả nước, cho quyền làm chủ của Nhân dân, hoàn thành tốt trọng trách được giao phó. Đây là tiền đề để đại biểu HĐND các cấp học tập, phát huy.

Kết quả lấy phiếu của Quốc hội vừa qua một lần nữa cho thấy hiệu quả cao trong hoạt động của cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước ta, đồng thời khẳng định Quốc hội luôn chú trọng “tự chỉnh đốn, tự đổi mới”, luôn hướng tới phong cách làm việc dân chủ, khoa học, bài bản, thực chất, thể hiện rõ quyết tâm chính trị vì nước, vì dân; thông qua kết quả lấy phiếu tín nhiệm cũng cho thấy các đại biểu Quốc hội là người có uy tín, trách nhiệm cao đối với công việc, đáp ứng với những niềm mong chờ, tin tưởng, kỳ vọng của cử tri và Nhân dân cả nước. Đó là minh chứng rõ nét, sống động phản bác lại những thông tin sai trái, xuyên tạc./.

Chu Xuân Đại Thắng
Nguồn: ĐCSVN
FalseChính trị
Trọng dụng đội ngũ trí thức - chìa khóa để phát triển đất nướcBài viếtAn BìnhTrọng dụng đội ngũ trí thức - chìa khóa để phát triển đất nước/SiteAssets/BM-TW8-23-1.jpg
16/10/2023 8:00 CHNoĐã ban hành

(TUAG)- Vừa qua, đông đảo cán bộ, đảng viên, trí thức và các tầng lớp nhân dân cả nước đặc biệt quan tâm đến đề nghị của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong việc ban hành Nghị quyết mới của Trung ương phải tập trung "phát triển, thu hút, đãi ngộ và tôn vinh đội ngũ trí thức".

Các đại biểu tại Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII.

Sau 7 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc và đầy tinh thần trách nhiệm (2-8/10/2023), Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã hoàn thành toàn bộ nội dung, chương trình đề ra và bế mạc vào sáng ngày 8/10/2023. Tại hội nghị, nhiều vấn đề hệ trọng của Đảng, đất nước đã được đem ra bàn thảo, kết luận, trong đó Trung ương thống nhất cao ban hành Nghị quyết mới của Trung ương về tiếp tục xây dựng đội ngũ trí thức nước nhà, bồi đắp nguyên khí quốc gia vững mạnh hơn nữa nhằm đáp ứng yêu cầu chủ động, tích cực tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4, đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và chấn hưng văn hóa, xây dựng con người Việt Nam thời đại mới.

Trung ương nhấn mạnh, cần phải đổi mới mạnh mẽ hơn nữa cả về tư duy và hành động theo hướng: Xác định trí thức Việt Nam là nguồn lực lao động chất lượng cao, là lực lượng lao động sáng tạo, có vinh dự và bổn phận tiên phong, trực tiếp tham gia sự nghiệp đổi mới, cống hiến xây dựng, phát triển đất nước; nâng cao dân trí, nhân lực; bồi dưỡng, đào tạo nhân tài trên các lĩnh vực, góp phần quan trọng nâng tầm trí tuệ và sức mạnh dân tộc, thúc đẩy đất nước phát triển nhanh, bền vững; là lực lượng có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng liên minh giữa giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng; phát huy truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Xây dựng đội ngũ trí thức vững mạnh cả về số lượng và chất lượng, có cơ cấu hợp lý, có lộ trình và bước đi phù hợp, gắn với phát huy vai trò, trách nhiệm và năng lực của trí thức trong thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị, các hội nghề nghiệp của trí thức và toàn xã hội.

Tôn trọng, phát huy tự do tư tưởng, học thuật, thực hành dân chủ trong hoạt động nghiên cứu sáng tạo; trọng dụng nhân tài, trí thức tinh hoa, nhà khoa học đầu ngành chính là tạo môi trường, điều kiện thuận lợi và động lực căn bản để xây dựng, phát triển đội ngũ trí thức và phát huy vai trò, vị trí và sự cống hiến của trí thức, thực sự xứng tầm là nguyên khí quốc gia.

Trên cơ sở thống nhất cao về nhận thức, cần tập trung ưu tiên xây dựng, hoàn thiện thể chế, chính sách phát triển đồng bộ, toàn diện khoa học - công nghệ, văn hóa, văn học, nghệ thuật gắn với phát huy vai trò của đội ngũ trí thức.

Trung ương yêu cầu khẩn trương xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện thật tốt các chính sách, biện pháp phù hợp nhằm đổi mới, nâng cao hơn nữa chất lượng công tác lãnh đạo, phát triển đội ngũ trí thức; tạo chuyển biến căn bản trong đào tạo, bồi dưỡng trí thức; phát triển, thu hút, đãi ngộ và tôn vinh đội ngũ trí thức; tạo môi trường và điều kiện thuận lợi để trí thức khởi nghiệp và lao động sáng tạo, phát huy tài năng, trí tuệ của tập thể và cá nhân các nhà khoa học; đẩy mạnh việc huy động và đa dạng hóa các nguồn lực đầu tư cho xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức; đề cao trách nhiệm, tăng cường tính chủ động, tích cực của bản thân đội ngũ trí thức, củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của các hội nghề nghiệp trong đội ngũ trí thức...

Đông đảo cán bộ, đảng viên, trí thức và các tầng lớp nhân dân cả nước đặc biệt quan tâm đến đề nghị của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong việc ban hành Nghị quyết mới phải tập trung "phát triển, thu hút, đãi ngộ và tôn vinh đội ngũ trí thức". Bởi lẽ, việc này sẽ góp phần quan trọng giúp đội ngũ trí thức có môi trường và điều kiện thuận lợi để lao động sáng tạo, phát huy hết sức tài năng, trí tuệ của tập thể và cá nhân./.

Sự thật

FalseĐưa Nghị quyết vào cuộc sống
Thông báo Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIIITinH.TThông báo Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII/SiteAssets/BM-TW8-23-3.jpg
08/10/2023 5:55 CHNoĐã ban hành
(TUAG)- Thực hiện Công văn số 2780-CT/BTGTW, ngày 8/10/2023 của Ban Tuyên giáo Trung ương, Cổng TTĐT Đảng bộ tỉnh An Giang đăng toàn văn Thông báo Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII.
Hình ảnh tại Hội nghị. 

Thực hiện Chương trình làm việc toàn khóa, từ ngày 02/10 đến ngày 08/10/2023, tại Thủ đô Hà Nội, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII họp Hội nghị lần thứ tám để thảo luận, cho ý kiến về các nội dung: Tình hình kinh tế - xã hội, ngân sách Nhà nước năm 2023, kế hoạch năm 2024 và kế hoạch tài chính - ngân sách Nhà nước 3 năm 2024 - 2026 và lộ trình thực hiện chế độ tiền lương mới; Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW, ngày 25/10/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 15-NQ/TW, ngày 10/6/2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI về một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012 - 2020; Tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 06/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; Tổng kết 20 năm thực hiện Nghị quyết số 23-NQ/TW, ngày 12/3/2002 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; Quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV, nhiệm kỳ 2026 - 2031 và một số vấn đề quan trọng khác.

Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì và có các bài phát biểu quan trọng khai mạc, bế mạc Hội nghị.

1. Về kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước năm 2023 - 2024

 Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã dành nhiều thời gian nghiên cứu, thảo luận kỹ lưỡng, góp nhiều ý kiến sâu sắc, toàn diện vào Tờ trình và các Báo cáo của Ban cán sự đảng Chính phủ về các vấn đề kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước năm 2023 - 2024, trong đó, tập trung thảo luận, phân tích sâu những đặc điểm nổi bật của năm 2023, làm rõ những kết quả đã đạt được, những hạn chế, yếu kém còn tồn tại, những khó khăn, vướng mắc phải giải quyết, những thách thức phải tiếp tục vượt qua.
Trên cơ sở phân tích, dự báo các khả năng có thể xảy ra, bám sát với tình hình thực tiễn, Trung ương xác định những quan điểm phát triển, tư tưởng chỉ đạo, mục tiêu tổng quát, một số chỉ tiêu cơ bản, quan trọng và những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu những tháng còn lại của năm 2023 và cả năm 2024; sự cần thiết, đúng đắn của việc thực hiện chế độ tiền lương mới từ ngày 01/7/2024.

2. Về tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa XI một số vấn đề về chính sách xã hội

 Ban Chấp hành Trung ương Đảng thống nhất nhận định, trong 10 năm qua, đất nước ta đạt được nhiều kết quả, thành tựu quan trọng, thể hiện ngày càng rõ tính ưu việt của Chế độ ta: Kinh tế, văn hóa, xã hội phát triển ổn định và hài hòa hơn. Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân trên mọi miền đất nước được nâng lên. Việt Nam là quốc gia đi đầu trong việc giảm nghèo, thực hiện các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ và các mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc. Tuy nhiên, chính sách xã hội và quản lý phát triển xã hội vẫn còn bộc lộ không ít những hạn chế, yếu kém cần sớm có giải pháp khắc phục.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng thống nhất ban hành Nghị quyết về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới. Nghị quyết lần này xác định rõ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả các chính sách xã hội để hướng tới toàn dân, bảo đảm toàn diện, công bằng, hiện đại, bao trùm, bền vững, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của Nhân dân.

3. Về tổng kết 20 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa IX về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc

Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã thảo luận, đánh giá khách quan, khoa học về những kết quả, thành tích đã đạt được; phân tích sâu sắc những hạn chế, khuyết điểm cần sớm được khắc phục; nguyên nhân và bài học kinh nghiệm sau 20 năm thực hiện Nghị quyết số 23-NQ/TW, ngày 12/3/2002 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá xác định rõ những chủ trương, chính sách tiếp tục phát huy mạnh mẽ hơn nữa truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc, Ban Chấp hành Trung ương Đảng thống nhất ban hành Nghị quyết mới của Trung ương về tiếp tục phát huy truyền thống đại đoàn kết dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.

4. Về tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khoá X về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Ban Chấp hành Trung ương Đảng thống nhất xác định ý nghĩa, tầm quan trọng của việc xây dựng, phát triển và phát huy mạnh mẽ hơn nữa vai trò, vị trí và sự đóng góp của đội ngũ trí thức nước nhà - nguyên khí của quốc gia, đáp ứng yêu cầu chủ động, tích cực tham gia Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Phát huy tinh thần trách nhiệm, thẳng thắn, Trung ương đã nghiên cứu, thảo luận kỹ lưỡng, đóng góp nhiều ý kiến thiết thực, cụ thể, toàn diện tình hình thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa X về xây dựng đội ngũ trí thức, chỉ ra những kết quả chủ yếu đã đạt được, những hạn chế, yếu kém còn tồn tại và nguyên nhân, bài học kinh nghiệm; phân tích, dự báo bối cảnh tình hình mới. Ban Chấp hành Trung ương Đảng thống nhất ban hành Nghị quyết mới đề ra quan điểm, tư tưởng chỉ đạo và mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu để tiếp tục xây dựng và phát huy vai trò đội ngũ trí thức đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong giai đoạn mới.

5. Về tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới

Ban Chấp hành Trung ương Đảng đánh giá cao các kết quả đã đạt được của 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; khẳng định việc tổng kết Nghị quyết là việc làm hết sức cần thiết để Trung ương phân tích, đánh giá một cách toàn diện, sâu sắc, có hệ thống tình hình và đề ra các chủ trương, chính sách, biện pháp đúng đắn, phù hợp, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh, tình hình thế giới, khu vực đã và đang có nhiều diễn biến mới, phức tạp, khó lường.

Sau khi xem xét, thảo luận các tờ trình, đề án và báo cáo của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã thống nhất thông qua Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Việc ban hành Nghị quyết đặc biệt quan trọng này nhằm tạo sự thống nhất cao trong toàn Đảng, toàn dân về quan điểm, mục tiêu, phương châm chỉ đạo và những nhiệm vụ, giải pháp lớn cần được quán triệt, triển khai thực hiện để trong mọi tình huống, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và Chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; bảo vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; giữ vững ổn định chính trị và môi trường hòa bình để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam.

6. Về quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV nhiệm kỳ 2026 - 2031

Ban Chấp hành Trung ương Đảng xác định quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhiệm kỳ 2026 - 2031 là một bước chuẩn bị rất quan trọng, là cơ sở cho công tác nhân sự Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV; được đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp và tuyệt đối của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, đáp ứng yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ cấp cao của Đảng đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; nếu phát hiện có sai phạm, không đủ tiêu chuẩn, điều kiện thì phải kịp thời đưa ra khỏi quy hoạch; đồng thời, tiếp tục xem xét, phân tích kỹ lưỡng chất lượng, cơ cấu, thành phần trên các lĩnh vực công tác để kịp thời phát hiện, kiến nghị, giới thiệu bổ sung quy hoạch, báo cáo Bộ Chính trị trình Trung ương xem xét ở các Hội nghị sau.

Thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy tinh thần trách nhiệm, công tâm, khách quan, Trung ương đã nghiên cứu kỹ lưỡng, thể hiện đầy đủ thẩm quyền, chính kiến đối với dự kiến Quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.

Trung ương yêu cầu ngay sau Hội nghị, căn cứ vào kết quả giới thiệu của Trung ương, sự rà soát, thẩm định của Ban Chỉ đạo, các ban đảng Trung ương và các cơ quan chức năng, Bộ Chính trị sớm xem xét, quyết định một bước quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhiệm kỳ 2026 - 2031 làm cơ sở để đào tạo, bồi dưỡng và thường xuyên theo dõi, kiểm tra, giám sát đối với những cán bộ đã được đưa vào quy hoạch.

7. Trung ương đã thảo luận và thống nhất quyết định thành lập 05 Tiểu ban chuẩn bị Đại hội XIV của Đảng, bao gồm: Tiểu ban Văn kiện; Tiểu ban Kinh tế - Xã hội; Tiểu ban Nhân sự; Tiểu ban Điều lệ Đảng; và Tiểu ban Tổ chức phục vụ Đại hội.

8. Ban Chấp hành Trung ương Đảng bầu bổ sung đồng chí Lê Hoài Trung, Ủy viên Trung ương Đảng, Trưởng Ban Đối ngoại Trung ương giữ chức Ủy viên Ban Bí thư Trung ương Đảng khoá XIII; bầu bổ sung Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương khoá XIII, gồm các đồng chí: Đào Thế Hoằng, Vụ trưởng Vụ Địa bàn VI, Cơ quan Ủy ban Kiểm tra Trung ương; Lê Nguyễn Nam Ninh, Vụ trưởng Vụ Nghiên cứu, Cơ quan Ủy ban Kiểm tra Trung ương và Thiếu tướng Vũ Hồng Văn, Cục trưởng Cục An ninh chính trị nội bộ, Bộ Công an.

9. Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã biểu quyết, thống nhất để đồng chí Điểu K’ré, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Đắk Nông, thôi giữ chức vụ Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIII.

10. Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định thi hành kỷ luật Cách chức tất cả các chức vụ trong Đảng đối với đồng chí Lê Đức Thọ, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre và đồng chí Trịnh Văn Chiến, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bí thư Tỉnh ủy, nguyên Bí thư Đảng đoàn, nguyên Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh, nguyên Bí thư Ban cán sự đảng, nguyên Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

11. Ban Chấp hành Trung ương Đảng kêu gọi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân tăng cường đoàn kết, thống nhất, phát huy những kết quả đã đạt được, nỗ lực phấn đấu vượt qua mọi khó khăn, thách thức, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền lãnh thổ và an ninh quốc gia, hoàn thành thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ đề ra cho năm 2023 và các năm tiếp theo; tổ chức thực hiện có hiệu quả các nghị quyết và kết luận của Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng./.


FalseĐưa Nghị quyết vào cuộc sống
Bế mạc Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIIITinĐảng Cộng sản VNBế mạc Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII/SiteAssets/BM-TW8-23-1.jpg
08/10/2023 2:00 CHNoĐã ban hành
Sau 7 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc và đầy tinh thần trách nhiệm, Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII đã hoàn thành toàn bộ nội dung, chương trình đề ra và bế mạc vào sáng 8/10. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì và phát biểu bế mạc Hội nghị.
Các đại biểu tại Hội nghị. 

Tại Hội nghị, các đồng chí Uỷ viên Trung ương Đảng và các đồng chí tham dự Hội nghị đã nêu cao tinh thần trách nhiệm, phát huy dân chủ, trí tuệ, thẳng thắn thảo luận, đóng góp nhiều ý kiến tâm huyết, quan trọng vào các đề án, báo cáo. Bộ Chính trị đã tiếp thu tối đa và giải trình những vấn đề còn có ý kiến khác nhau; Ban Chấp hành Trung ương đã thống nhất cao thông qua các nghị quyết của Hội nghị.

Phát biểu bế mạc Hội nghị, thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã làm rõ thêm một số vấn đề và khái quát lại những kết quả quan trọng mà Hội nghị đã đạt được trong các nội dung: Về kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước năm 2023 – 2024; Về tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khoá XI một số vấn đề về chính sách xã hội; Về tiếp tục phát huy truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời kỳ mới; Về tiếp tục xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ mới; Về tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khoá XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; Về quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhiệm kỳ 2026 – 2031 và các nội dung quan trọng khác.

Cũng tại Hội nghị lần này, Trung ương đã thảo luận và thống nhất quyết định thành lập 5 Tiểu ban chuẩn bị Đại hội XIV của Đảng, bao gồm: Tiểu ban Văn kiện; Tiểu ban Kinh tế - Xã hội; Tiểu ban Nhân sự; Tiểu ban Điều lệ Đảng; và Tiểu ban Tổ chức phục vụ Đại hội. Khi xem xét, quyết định thành lập các Tiểu ban, Trung ương đã thảo luận, cho ý kiến điều chỉnh về cơ cấu, chức năng, nhiệm vụ và nhân sự cụ thể của từng Tiểu ban; coi đây là công việc khởi đầu cho quá trình chuẩn bị Đại hội XIV của Đảng. Các Tiểu ban cần khẩn trương xây dựng chương trình, kế hoạch để sớm đi vào hoạt động, bảo đảm chất lượng và hiệu quả.

Đồng thời, Ban Chấp hành Trung ương Đảng cũng đã xem xét quyết định một số vấn đề về công tác cán bộ.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu bế mạc Hội nghị. 

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định, Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng với nhiều quyết định quan trọng đã thành công tốt đẹp. Kết quả của Hội nghị thể hiện tinh thần trách nhiệm, sự đoàn kết thống nhất cao của Trung ương, chắc chắn sẽ góp phần quan trọng vào việc củng cố, phát huy những kết quả, thành tích rất đáng trân trọng mà toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã nỗ lực phấn đấu đạt được từ đầu nhiệm kỳ đến nay, góp phần tạo ra khí thế mới, xung lực mới cho sự nghiệp tiếp tục đổi mới đồng bộ và toàn diện, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, phát triển đất nước nhanh và bền vững vì Tổ quốc Việt Nam yêu quý của chúng ta.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề nghị mỗi đồng chí Trung ương, trên từng cương vị công tác của mình, hãy nêu cao hơn nữa tinh thần trách nhiệm trước Đảng, trước Nhân dân và đất nước, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quán triệt, tổ chức thực hiện thật tốt các nghị quyết của Trung ương lần này, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và tiến hành chuẩn bị thật tốt đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIV của Đảng./.

Hiền Hòa/ĐCSVN
FalseChính trị
Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh làm việc với Thường trực Tỉnh ủy An GiangTinGiám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh làm việc với Thường trực Tỉnh ủy An Giang/SiteAssets/AG-Lamviec-HDLLTW-23-1.jpg
07/10/2023 4:40 CHYesĐã ban hành

(TUAG)- Chiều ngày 04/10/2023, tại Trụ sở Hội đồng lý luận Trung ương, GS.TS Nguyễn Xuân Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng lý luận Trung ương đã có buổi làm việc với Thường trực Tỉnh ủy An Giang về kết quả đạt được và thúc đẩy xây dựng Trường Chính trị Tôn Đức Thắng đạt chuẩn mức 1 trong năm 2023.

 AG-Lamviec-HDLLTW-23-1.jpg

Đồng chí Lê Hồng Quang, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy An Giang đã báo cáo tình hình tỉnh An Giang triển khai thực hiện Quy định số 11-QĐ/TW, ngày 19/5/2021 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khoá XIII) về trường chính trị chuẩn: Ban Thường vụ Tỉnh ủy An Giang đã sớm ban hành Đề án số 04-ĐA/TU, ngày 22/12/2021 về xây dựng và phát triển Trường Chính trị Tôn Đức Thắng đạt các tiêu chí trường chính trị chuẩn. Thường trực Tỉnh ủy đã có 02 buổi làm việc với Trường và các sở ngành liên quan để tháo gỡ khó khăn, giúp Trường thuận lợi trong triển khai thực hiện Đề án 04. Ủy ban nhân dân tỉnh đã đẩy mạnh thực hiện dự án đầu tư xây dựng trường giai đoạn 1 và cho chủ trương sẽ tiếp tục dự án đầu tư xây dựng trường giai đoạn 2,… giúp Trường đạt và vượt các chỉ tiêu về cơ sở vật chất, kỹ thuật của trường chuẩn mức 1.

 AG-Lamviec-HDLLTW-23-2.jpg

Đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ nhấn mạnh nhờ được sự quan tâm của Ban Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh đã tạo các điều kiện thuận lợi cho tỉnh An Giang triển khai thực hiện nhiệm vụ xây dựng Trường Chính trị Tôn Đức Thắng đạt các tiêu chí trường chuẩn mức 1. Lãnh đạo Học viện đã có hai lần làm việc với Thường trực Tỉnh ủy, các sở, ngành và Trường Chính trị Tôn Đức Thắng tỉnh An Giang để nắm tình hình thuận lợi, khó khăn trong thực hiện nhiệm vụ chính trị của Trường và có yêu cầu, đề nghị tạo điều kiện xây dựng Trường chính trị sớm đạt chuẩn mức 1. Học viện đã quan tâm mở 01 lớp bồi dưỡng kiến thức kinh điển Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và 01 lớp phương pháp nghiên cứu khoa học tại An Giang, tạo điều kiện cho giảng viên trường chính trị đạt các chỉ tiêu chuẩn mức 1…

Đồng chí Hồ Ngọc Trường, Tỉnh ủy viên, Hiệu trưởng Trường Chính trị Tôn Đức Thắng và đồng chí Nguyễn Thị Thanh Nhàn, Vụ trưởng Vụ Các Trường chính trị đã báo cáo kết quả hoàn thiện các tiêu chí đạt chuẩn mức 1 của Trường Chính trị Tôn Đức Thắng tỉnh An Giang: Sự quan tâm của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh và Ban Thường vụ, Thường trực Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh, đã tạo các điều kiện thuận lợi cho Trường triển khai thực hiện nhiệm vụ xây dựng Trường đạt các tiêu chí trường chuẩn mức 1. Tính đến nay, Trường Chính trị Tôn Đức Thắng đã đạt và vượt 46/55 chỉ tiêu trường chuẩn mức 1 (chiếm 84%); chưa đạt 9/55 chỉ tiêu (chiếm 16%), các chỉ tiêu chưa đạt đang được hoàn thiện, dự kiến sẽ đạt vào cuối tháng 10 năm 2023.

 AG-Lamviec-HDLLTW-23-3.jpg

Sau khi nghe thông tin báo cáo của tỉnh và Vụ Các Trường chính trị, GS.TS Nguyễn Xuân Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng lý luận Trung ương đề nghị Thường trực Tỉnh ủy An Giang tiếp tục quan tâm lãnh đạo hoàn thiện các tiêu chí, chỉ tiêu còn chưa đạt. Các Vụ thuộc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh tiếp tục quan tâm hướng dẫn, tạo điều kiện cho Trường Chính trị sớm hoàn thiện các tiêu chí, xây dựng hồ sơ trường chuẩn mức 1. Đồng chí kỳ vọng với sự quan tâm của Học viện, sự lãnh đạo sâu sát của Thường trực Tỉnh ủy, Trường Chính trị Tôn Đức Thắng tỉnh An Giang sẽ sớm hoàn thành các tiêu chí và đạt trường chuẩn mức 1 trong năm 2023.

Thành Nhân

TrueĐưa Nghị quyết vào cuộc sống
An Giang: Trao quyết định công nhận người hoạt động cách mạng trước năm 1945TinHải ĐăngAn Giang: Trao quyết định công nhận người hoạt động cách mạng trước năm 1945/SiteAssets/Trao-QD-hoatdong-cmtruoc45-3.jpg
04/10/2023 5:00 CHNoĐã ban hành

(TUAG)- Chiều ngày 04/10/2023, đồng chí Hà Minh Trang - Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy Chợ Mới đã đến trao Quyết định của Ban Thường vụ Tỉnh ủy An Giang về việc công nhận người hoạt động cách mạng trước ngày 01/01/1945 cho thân nhân gia đình đồng chí Nguyễn Văn Liền ở xã Long Điền B.

 Trao-QD-hoatdong-cmtruoc45-1.jpg

Đồng chí Nguyễn Văn Liền, tức Lê Văn Liền, bí danh Sáu Liền, sinh năm 1885, vào Đảng năm 1933. Quê quán xã Long Điền B, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Địa chỉ gia đình hiện nay ở ấp Long Quới 2, xã Long Điền B, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Là người hoạt động cách mạng trước ngày 01/01/1945, có thời gian tham gia từ năm 1933 đến năm 1953. Nguyên là cán bộ tham gia hoạt động cách mạng tại Trà Thôn, xã Long Điền, huyện Chợ Mới, đã từ trần năm 1953.

 Trao-QD-hoatdong-cmtruoc45-2.jpg

Trao-QD-hoatdong-cmtruoc45-3.jpg

Được sự ủy quyền của Ban Thường vụ Tỉnh ủy An Giang, đồng chí Hà Minh Trang - Phó Bí thư Huyện ủy Chợ Mới đã trao Quyết định và số tiền trợ cấp một lần cho ông Lê Tấn Sĩ, là cháu nội của lão thành cách mạng Nguyễn Văn Liền (tức Lê Văn Liền), với số tiền trợ cấp là 10 triệu 068 ngàn đồng.

Việc trao quyết định công nhận người hoạt động cách mạng cho thân nhân gia đình đồng chí Nguyễn Văn Liền thể hiện lòng biết ơn đối với những đóng góp to lớn, sự hy sinh của các bậc lão thành cách mạng và cán bộ vì sự nghiệp cách mạng của Đảng, vì hạnh phúc của Nhân dân./.

Thu Trang, Hải Đăng

FalseChính trị
Trung ương thảo luận về tình hình kinh tế - xã hội và Chiến lược bảo vệ Tổ quốc TinH.TTrung ương thảo luận về tình hình kinh tế - xã hội và Chiến lược bảo vệ Tổ quốc /SiteAssets/Khaimac-HNTW8-13-3.jpg
03/10/2023 3:00 CHNoĐã ban hành
Bước sang ngày làm việc thứ hai (ngày 03/10) của Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII đã thảo luận 2 nội dung. Đồng chí Phạm Minh Chính, Uỷ viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ thay mặt Bộ Chính trị điều hành thảo luận tại Hội trường.
Các đại biểu dự Hội nghị 

Xem xét việc thực hiện chế độ tiền lương mới từ ngày 01/7/2024

Buổi sáng, Ban Chấp hành Trung ương Đảng làm việc tại Hội trường thảo luận về tình hình kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước năm 2023, kế hoạch năm 2024, kế hoạch tài chính - ngân sách nhà nước 3 năm 2024 - 2026 và lộ trình thực hiện chế độ tiền lương mới. Đồng chí Phạm Minh Chính, Uỷ viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ thay mặt Bộ Chính trị điều hành thảo luận.

Việc Trung ương xem xét, cho ý kiến về các vấn đề kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước năm 2023 - 2024 được đặt trong bối cảnh tình hình thế giới tiếp tục có nhiều biến động nhanh chóng, phức tạp, khó lường, chưa từng có tiền lệ, khó khăn, thách thức nhiều hơn, lớn hơn so với thời cơ, thuận lợi và so với dự báo, đã ảnh hưởng tiêu cực, rất nặng nề đối với việc triển khai thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của nước ta. Trong khi ở trong nước, chúng ta vẫn phải tiếp tục đối mặt với "tác động kép" từ các yếu tố tiêu cực bên ngoài đối với nền kinh tế có độ mở cao như nước ta, và những tồn tại, hạn chế, yếu kém nội tại, kéo dài từ lâu của nền kinh tế tiếp tục bộc lộ rõ và gay gắt hơn trong quá trình khắc phục hậu quả của đại dịch COVID-19.
Phát biểu gợi mở tại phiên Khai mạc Hội nghị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đề nghị các đồng chí Trung ương nghiên cứu thật kỹ Tờ trình và các Báo cáo của Ban cán sự đảng Chính phủ, tập trung thảo luận, phân tích sâu những đặc điểm nổi bật của năm 2023, làm rõ những kết quả đã đạt được; những hạn chế, yếu kém còn tồn tại, những khó khăn, vướng mắc phải giải quyết, những thách thức phải tiếp tục vượt qua; chỉ ra những nguyên nhân khách quan, chủ quan và bài học kinh nghiệm; dự báo những khả năng, những tình huống sắp tới, trước hết là từ nay đến cuối năm 2023 và năm 2024 với tinh thần thật sự khách quan, toàn diện. Chú ý đến những khó khăn, hạn chế đã và sẽ phải đối mặt như: Kinh tế vĩ mô ổn định chưa vững chắc do phải chịu nhiều áp lực từ thị trường nước ngoài; thị trường tài chính - tiền tệ, bất động sản, chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp còn khó khăn và tiềm ẩn rủi ro; hoạt động sản xuất kinh doanh và đời sống của người lao động trong nhiều lĩnh vực gặp khó khăn; sức chống chịu của doanh nghiệp bị bào mòn sau đại dịch COVID-19; một số cơ chế, chính sách, quy định của pháp luật chậm được bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện hoặc chưa được thực hiện nghiêm minh; một bộ phận cán bộ sợ trách nhiệm, sợ sai, đùn đẩy, né tránh giải quyết công việc thuộc thẩm quyền; tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở một số địa bàn còn tiềm ẩn phức tạp...
Từ đó, xác định rõ ràng, đúng đắn những quan điểm phát triển, tư tưởng chỉ đạo, mục tiêu tổng quát, một số chỉ tiêu cơ bản, quan trọng và những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu của những tháng còn lại của năm 2023 và cho năm 2024; trong đó có sự cần thiết, đúng đắn của việc thực hiện chế độ tiền lương mới từ ngày 01/7/2024.

Phân tích thấu đáo bối cảnh tình hình trong nước, quốc tế để bảo vệ  Tổ quốc từ sớm, từ xa, trong mọi tình huống  

Buổi chiều, Ban Chấp hành Trung ương Đảng làm việc tại tổ thảo luận về Đề án Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khoá XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Cách đây 10 năm, Hội nghị Trung ương 8 khoá XI đã ban hành Nghị quyết về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới với sự đổi mới tư duy mạnh mẽ và có nhiều chủ trương, chính sách, biện pháp mang tính đột phá, khả thi cao. Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết quan trọng này là việc làm hết sức cần thiết để Trung ương phân tích, đánh giá một cách toàn diện, sâu sắc, có hệ thống tình hình và đề ra các chủ trương, chính sách, biện pháp đúng đắn, phù hợp, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh, tình hình thế giới, khu vực đã và đang có nhiều diễn biến mới, phức tạp, khó lường.

Phát biểu gợi mở tại phiên Khai mạc Hội nghị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đề nghị các đồng chí ủy viên Trung ương tập trung phân tích, đánh giá thật khách quan, toàn diện những kết quả đã đạt được, những hạn chế, yếu kém còn tồn tại và phân tích nguyên nhân, rút ra những bài học kinh nghiệm chủ yếu. Chỉ rõ những mục tiêu, quan điểm, phương châm, tư tưởng chỉ đạo và những nhiệm vụ, giải pháp nào đã được thực tế kiểm nghiệm là đúng đắn, cần tiếp tục kiên trì, nghiêm túc thực hiện.
Đồng thời, cần phân tích thật thấu đáo bối cảnh tình hình trong nước, quốc tế, thấy rõ những biến đổi sâu sắc, diễn biến phức tạp, khó lường và dự báo xu hướng phát triển trong thời gian tới để kịp thời bổ sung, phát triển một số quan điểm, tư tưởng chỉ đạo và điều chỉnh một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cho phù hợp với tình hình mới. Tập trung làm rõ những thuận lợi, cơ hội cần nắm bắt, những khó khăn, thách thức phải vượt qua để chủ động từ sớm, từ xa, trong mọi tình huống đều bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và Chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; bảo vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội và nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; giữ vững ổn định chính trị và môi trường hoà bình để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Từ đó, cho ý kiến góp ý hoàn thiện dự thảo Nghị quyết mới của Trung ương về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới./.

PV (Nguồn: ĐCSVN)
FalseChính trị
Phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khai mạc Hội nghị Trung ương 8 khóa XIIIBài viếtAdminPhát biểu của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khai mạc Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII/SiteAssets/Khaimac-HNTW8-13-1.jpg
02/10/2023 9:00 SANoĐã ban hành
(TUAG)- Sáng 02/10, Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã khai mạc trọng thể tại Thủ đô Hà Nội. Cổng TTĐT Đảng bộ An Giang trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khai mạc Hội nghị.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu khai mạc Hội nghị. 

“Kính thưa Trung ương; Thưa các đồng chí tham dự Hội nghị,

Trong không khí hân hoan, phấn khởi của toàn Đảng, toàn dân ta trước những kết quả, thành tích về các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội; bảo đảm quốc phòng - an ninh; xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; đặc biệt là về một loạt những hoạt động đối ngoại quan trọng, sôi động, được dư luận trong nước và quốc tế rất quan tâm, hôm nay Ban Chấp hành Trung ương khai mạc Hội nghị toàn thể lần thứ tám của khoá XIII với nhiều nội dung rất cơ bản và quan trọng. Cụ thể là Trung ương sẽ bàn và cho ý kiến kết luận về các vấn đề sau: (1) Tình hình kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước năm 2023, kế hoạch năm 2024; Kế hoạch tài chính - ngân sách nhà nước 3 năm 2024 - 2026 và lộ trình thực hiện chế độ tiền lương mới. (2) Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khoá XI về một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012 - 2020. (3) Tổng kết 20 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khoá IX về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. (4) Tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khoá X về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. (5) Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khoá XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. (6) Quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV; và một số vấn đề quan trọng khác.

Trước hết, tôi xin được thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư nhiệt liệt chào mừng các đồng chí Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, các đại biểu tham dự Hội nghị và xin gửi tới các đồng chí lời chào thân ái, lời thăm hỏi chân tình và lời chúc tốt đẹp nhất.

Thưa các đồng chí,

Theo Quy chế làm việc, Văn phòng Trung ương Đảng đã gửi tài liệu để các đồng chí nghiên cứu trước. Sau đây, tôi xin phát biểu một số ý kiến, có tính chất gợi mở, nêu vấn đề mong được các đồng chí quan tâm trong quá trình nghiên cứu, thảo luận, xem xét, quyết định.

1. Về kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước năm 2023 - 2024

Việc Trung ương xem xét, cho ý kiến về các vấn đề kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước năm 2023 - 2024 được đặt trong bối cảnh tình hình thế giới tiếp tục có nhiều biến động nhanh chóng, phức tạp, khó lường, chưa từng có tiền lệ, khó khăn, thách thức nhiều hơn, lớn hơn so với thời cơ, thuận lợi và so với dự báo, đã ảnh hưởng tiêu cực, rất nặng nề đối với việc triển khai thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của nước ta. Trong khi ở trong nước, chúng ta vẫn phải tiếp tục đối mặt với "tác động kép" từ các yếu tố tiêu cực bên ngoài đối với nền kinh tế có độ mở cao như nước ta, và những tồn tại, hạn chế, yếu kém nội tại, kéo dài từ lâu của nền kinh tế tiếp tục bộc lộ rõ và gay gắt hơn trong quá trình khắc phục hậu quả của đại dịch Covid-19.

Các đại biểu dự Hội nghị. 

Đề nghị các đồng chí Trung ương nghiên cứu thật kỹ Tờ trình và các Báo cáo của Ban cán sự đảng Chính phủ, tập trung thảo luận, phân tích sâu những đặc điểm nổi bật của năm 2023, làm rõ những kết quả đã đạt được; những hạn chế, yếu kém còn tồn tại, những khó khăn, vướng mắc phải giải quyết, những thách thức phải tiếp tục vượt qua; chỉ ra những nguyên nhân khách quan, chủ quan và bài học kinh nghiệm; dự báo những khả năng, những tình huống sắp tới, trước hết là từ nay đến cuối năm 2023 và năm 2024 với tinh thần thật sự khách quan, toàn diện. Chú ý đến những khó khăn, hạn chế đã và sẽ phải đối mặt như: Kinh tế vĩ mô ổn định chưa vững chắc do phải chịu nhiều áp lực từ thị trường nước ngoài; thị trường tài chính - tiền tệ, bất động sản, chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp còn khó khăn và tiềm ẩn rủi ro; hoạt động sản xuất kinh doanh và đời sống của người lao động trong nhiều lĩnh vực gặp khó khăn; sức chống chịu của doanh nghiệp bị bào mòn sau đại dịch Covid-19; một số cơ chế, chính sách, quy định của pháp luật chậm được bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện hoặc chưa được thực hiện nghiêm minh; một bộ phận cán bộ sợ trách nhiệm, sợ sai, đùn đẩy, né tránh giải quyết công việc thuộc thẩm quyền; tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở một số địa bàn còn tiềm ẩn phức tạp...

Từ đó, xác định rõ ràng, đúng đắn những quan điểm phát triển, tư tưởng chỉ đạo, mục tiêu tổng quát, một số chỉ tiêu cơ bản, quan trọng và những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu của những tháng còn lại của năm 2023 và cho năm 2024; trong đó có sự cần thiết, đúng đắn của việc thực hiện chế độ tiền lương mới từ ngày 01/7/2024.

2. Về tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khoá XI về một số vấn đề chính sách xã hội

Trong 10 năm qua, đất nước ta đã phát triển, đạt được nhiều kết quả, thành tựu quan trọng, thể hiện ngày càng rõ tính ưu việt của Chế độ ta: Kinh tế, văn hoá, xã hội phát triển ổn định và hài hoà hơn; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân trên mọi miền đất nước được nâng lên; Việt Nam là một quốc gia đi đầu trong việc giảm nghèo, thực hiện các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ và các mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc. Các chính sách xã hội không ngừng được hoàn thiện, từng bước nâng cao chất lượng, mức hỗ trợ và mở rộng diện bao phủ theo hướng công bằng, tiến bộ, tiếp cận các chuẩn mực quốc tế, cơ bản bảo đảm an sinh của người dân theo quy định của Hiến pháp. Thực hiện tốt chính sách ưu đãi và tôn vinh đối với người có công. Thể chế thị trường lao động từng bước được hoàn thiện; việc làm cho người lao động cơ bản được bảo đảm. Hệ thống y tế, giáo dục, an sinh và trợ giúp xã hội tiếp tục được kiện toàn và mở rộng. Quy mô, năng lực, chất lượng dịch vụ xã hội cơ bản, thiết yếu được nâng lên; công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân ngày càng được cải thiện. Nguồn lực thực hiện chính sách xã hội được Nhà nước ưu tiên đầu tư, gắn với đẩy mạnh xã hội hoá, thu hút sự tham gia của toàn xã hội...

Các đại biểu nghiên cứu tài liệu Hội nghị. 

Tuy nhiên, chính sách xã hội và quản lý phát triển xã hội vẫn còn bộc lộ không ít những hạn chế, yếu kém, và nhìn chung chưa đáp ứng tốt yêu cầu phát triển nhanh và bền vững. Để thực hiện được mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ do Đại hội XIII của Đảng đề ra, chúng ta cần tập trung thảo luận làm rõ, tạo sự thống nhất cao về nhận định, đánh giá tình hình, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm; sự cần thiết, đúng đắn của việc ban hành Nghị quyết mới của Trung ương về vấn đề đặc biệt quan trọng này. Từ đó, phân tích, dự báo một cách có cơ sở khoa học về bối cảnh tình hình mới, yêu cầu, nhiệm vụ mới; xác định rõ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả các chính sách xã hội đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của Nhân dân trong thời kỳ mới.

3. Về tổng kết 20 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khoá IX về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc

Báo cáo tổng kết, Tờ trình và dự thảo Nghị quyết mới của Trung ương đã được chuẩn bị công phu, nghiêm túc trên cơ sở nghiên cứu, tổng hợp các báo cáo tổng kết, báo cáo chuyên đề, kết quả khảo sát, hội thảo, lấy ý kiến của các địa phương, cơ quan, đơn vị, các chuyên gia, nhà khoa học, và tiếp thu ý kiến chỉ đạo trực tiếp của tập thể Bộ Chính trị, Ban Bí thư để hoàn thiện. Trong đó, đã phân tích, đánh giá một cách khách quan, toàn diện những kết quả, thành tựu đã đạt được, những hạn chế, khuyết điểm còn tồn tại và nguyên nhân, bài học kinh nghiệm; đồng thời phân tích, dự báo bối cảnh tình hình mới; từ đó đề xuất quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, mục tiêu, yêu cầu và chủ trương chính sách cần phải triển khai thực hiện trong thời kỳ mới theo đúng tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Đề nghị các đồng chí Trung ương và các đại biểu tham dự Hội nghị nghiên cứu thật kỹ, phát biểu, thảo luận thật sôi nổi, đóng góp nhiều ý kiến cụ thể, sát hợp với tình hình. Chú ý phân tích, làm rõ, tạo sự thống nhất cao về bối cảnh tình hình mới, yêu cầu, nhiệm vụ mới, sự phát triển và thay đổi về nhu cầu, lợi ích của các giai tầng xã hội hiện nay; những kết quả, thành tựu chủ yếu cần tiếp tục được phát huy; những hạn chế, khuyết điểm cần sớm được khắc phục, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm được rút ra, và chủ trương, chính sách tiếp tục phát huy mạnh mẽ hơn nữa truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc. Từ đó, cho ý kiến về sự cần thiết, đúng đắn của việc ban hành Nghị quyết mới và những nội dung chủ yếu của dự thảo Nghị quyết về "Tiếp tục phát huy truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc".

4. Về xây dựng đội ngũ trí thức đáp ứng yêu cầu của thời kỳ phát triển mới

Như chúng ta đều biết, trong mọi thời đại và ở bất cứ quốc gia nào, đội ngũ trí thức luôn luôn là lực lượng nòng cốt sáng tạo và truyền bá tri thức, có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng thúc đẩy sự phát triển của xã hội, tạo nên sức mạnh của mỗi quốc gia, dân tộc. Thế giới ngày nay đã, đang và sẽ đứng trước nhiều thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức mới đan xen đối với sự phát triển nhanh và bền vững dưới tác động của Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Trí tuệ nhân tạo và một số thành tựu công nghệ mới có khả năng thay thế con người trên một số lĩnh vực, tạo ra khối lượng thông tin, tri thức khổng lồ và những hiệu ứng làm thay đổi cả về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, con người và lối sống.

Hội nghị dự kiến diễn ra từ ngày 2 đến 8/10/2023. 

Bối cảnh tình hình mới đòi hỏi chúng ta phải quan tâm xây dựng, phát triển và phát huy mạnh mẽ hơn nữa vai trò, vị trí và sự đóng góp của đội ngũ trí thức nước nhà - Nguyên khí của quốc gia, đáp ứng yêu cầu chủ động, tích cực tham gia Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Đề nghị Trung ương nghiên cứu thật kỹ các tài liệu, tập trung thảo luận, cho ý kiến đánh giá khách quan, toàn diện tình hình thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khoá X về xây dựng đội ngũ trí thức, chỉ ra những kết quả chủ yếu đã đạt được, những hạn chế, yếu kém còn tồn tại và nguyên nhân, bài học kinh nghiệm; phân tích, dự báo bối cảnh tình hình mới; từ đó đề ra quan điểm, tư tưởng chỉ đạo và mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu tiếp tục đẩy mạnh xây dựng đội ngũ trí thức; chú ý kế thừa những nội dung còn nguyên giá trị của Nghị quyết Trung ương 7 khoá X, và bổ sung, phát triển những nội dung mới, phù hợp với thời kỳ mới.

5. Về tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khoá XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới

Cách đây 10 năm, Hội nghị Trung ương 8 khoá XI đã ban hành Nghị quyết về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới với sự đổi mới tư duy mạnh mẽ và có nhiều chủ trương, chính sách, biện pháp mang tính đột phá, khả thi cao. Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết quan trọng này là việc làm hết sức cần thiết để Trung ương phân tích, đánh giá một cách toàn diện, sâu sắc, có hệ thống tình hình và đề ra các chủ trương, chính sách, biện pháp đúng đắn, phù hợp, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh, tình hình thế giới, khu vực đã và đang có nhiều diễn biến mới, phức tạp, khó lường. Đề nghị các đồng chí tập trung phân tích, đánh giá thật khách quan, toàn diện những kết quả đã đạt được, những hạn chế, yếu kém còn tồn tại và phân tích nguyên nhân, rút ra những bài học kinh nghiệm chủ yếu. Chỉ rõ những mục tiêu, quan điểm, phương châm, tư tưởng chỉ đạo và những nhiệm vụ, giải pháp nào đã được thực tế kiểm nghiệm là đúng đắn, cần tiếp tục kiên trì, nghiêm túc thực hiện.

Đồng thời, cần phân tích thật thấu đáo bối cảnh tình hình trong nước, quốc tế, thấy rõ những biến đổi sâu sắc, diễn biến phức tạp, khó lường và dự báo xu hướng phát triển trong thời gian tới để kịp thời bổ sung, phát triển một số quan điểm, tư tưởng chỉ đạo và điều chỉnh một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cho phù hợp với tình hình mới. Tập trung làm rõ những thuận lợi, cơ hội cần nắm bắt, những khó khăn, thách thức phải vượt qua để chủ động từ sớm, từ xa, trong mọi tình huống đều bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và Chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; bảo vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội và nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; giữ vững ổn định chính trị và môi trường hoà bình để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Từ đó, cho ý kiến góp ý hoàn thiện dự thảo Nghị quyết mới của Trung ương về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

6. Về quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương khoá XIV

Các đại biểu biểu quyết thông qua Chương trình Hội nghị. 

Như chúng ta đều biết, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc"; và thực hiện lời dạy của Bác, Đảng ta lâu nay luôn luôn xác định: Cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược, là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ; công tác cán bộ được coi là khâu then chốt trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng. Và trong công tác cán bộ thì việc quy hoạch cán bộ là khâu mở đầu, có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, là cơ sở để làm tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng, điều động, bổ nhiệm, sử dụng cán bộ.

Xuất phát từ ý nghĩa, tầm quan trọng đặc biệt đó của công tác quy hoạch cán bộ cấp chiến lược, ngày 07/7/2023 vừa qua, căn cứ vào quy chế làm việc và Quy định số 50-QĐ/TW, ngày 27/12/2021 của Bộ Chính trị về công tác quy hoạch cán bộ, Bộ Chính trị đã ban hành Kế hoạch số 17-KH/TW về xây dựng quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư khoá XIV, nhiệm kỳ 2026 - 2031, trong đó xác định rõ các quan điểm, nguyên tắc; mục đích yêu cầu; tiêu chuẩn; số lượng và cơ cấu; đối tượng và độ tuổi; quy trình giới thiệu, phê duyệt quy hoạch và hồ sơ nhân sự; số lượng phát hiện, giới thiệu đưa vào quy hoạch...

Thời gian qua, trên cơ sở phát hiện, giới thiệu của các cấp uỷ, tổ chức đảng trong toàn hệ thống chính trị, Ban Chỉ đạo xây dựng quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư khoá XIV, nhiệm kỳ 2026 - 2031 đã khẩn trương, nghiêm túc phối hợp với các cơ quan chức năng ở Trung ương rà soát, thẩm định, báo cáo Bộ Chính trị xem xét, cho định hướng hoàn thiện thêm một bước dự kiến quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV để trình Trung ương xem xét, cho ý kiến tại Hội nghị lần này.

Đề nghị các đồng chí phát huy cao độ tinh thần trách nhiệm, thật sự khách quan, công tâm, thể hiện chính kiến của mình đối với Tờ trình và dự kiến Quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV.

Thưa các đồng chí,

Hội nghị Trung ương lần này xem xét, quyết định nhiều vấn đề trọng đại, phức tạp, nhạy cảm, có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị của Ban Chấp hành Trung ương khoá XIII từ nay đến hết nhiệm kỳ. Đề nghị Trung ương và các đồng chí tham dự Hội nghị phát huy trí tuệ, nêu cao tinh thần trách nhiệm, tập trung nghiên cứu, thảo luận kỹ lưỡng, cho ý kiến để hoàn thiện các báo cáo, đề án và xem xét, quyết định vào cuối kỳ họp.

Với tinh thần đó, tôi xin tuyên bố khai mạc Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII. Chúc Hội nghị của chúng ta thành công tốt đẹp.

Tôi xin trân trọng cảm ơn".

FalseChính trị
Bồi dưỡng, cập nhật kiến thức cho 42 ủy viên Trung ương Đảng khoá XIIITinĐảng Cộng sản VNBồi dưỡng, cập nhật kiến thức cho 42 ủy viên Trung ương Đảng khoá XIII/SiteAssets/TW-lop-bdkt-uvtw-2.jpg
25/09/2023 10:00 SANoĐã ban hành

Ngày 25/9, tại Hà Nội, Ban Tổ chức Trung ương, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức Lễ khai giảng Lớp bồi dưỡng, cập nhật kiến thức đối với ủy viên Trung ương Đảng khoá XIII (lớp thứ ba). Đồng chí Trương Thị Mai, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, Trưởng ban Tổ chức Trung ương dự và phát biểu chỉ đạo. Cùng dự có Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương Nguyễn Xuân Thắng.

TW-lop-bdkt-uvtw-1.jpg

Thường trực Ban Bí thư, Trưởng ban Tổ chức Trung ương Trương Thị Mai mong muốn mỗi một ủy viên Trung ương Đảng, người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng phải tập trung cao độ, nỗ lực nhiều hơn, nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực công tác, sẵn sàng nhận và hoàn thành nhiệm vụ được giao, đóng góp xứng đáng cho sự vững mạnh toàn diện của Đảng.

Phát biểu tại Lễ khai giảng, Thường trực Ban Bí thư, Trưởng ban Tổ chức Trung ương Trương Thị Mai nêu rõ: Việc bồi dưỡng, cập nhật kiến thức là yêu cầu đặt ra trong nhiệm kỳ đối với mỗi ủy viên Trung ương Đảng. Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay, tình hình thế giới và trong nước tiếp tục có những diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường, một số diễn biến vượt qua dự báo. Để góp phần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong tình hình mới, Đảng đặt yêu cầu rất cao đối với công tác cán bộ, đặc biệt là cán bộ cấp chiến lược, trong đó có vấn đề đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật thông tin, kiến thức, nâng cao năng lực. Ban Bí thư yêu cầu phải tiếp tục đổi mới chương trình bồi dưỡng, cập nhật kiến thức theo hướng thiết thực, hiệu quả sát với thực tiễn, gắn với xây dựng tư duy tầm nhìn chiến lược và giao cho Ban Tổ chức Trung ương, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh phối hợp, chuẩn bị.

“Lớp bồi dưỡng, cập nhật kiến thức là dịp để chúng ta nhìn lại tổng quát kết quả nửa nhiệm kỳ qua kèm theo các phụ lục của các cơ quan để các đồng chí có dịp đọc và nhìn lại; tăng cường thêm nhận thức, hiểu được thuận lợi, điểm mạnh cũng như hạn chế, điểm yếu trong thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng, trong đó, có Nghị quyết Đại hội Đảng của các đảng bộ và Nghị quyết Đại hội XIII gắn với trách nhiệm của từng đồng chí đối với nhiệm vụ được giao. Do vậy, Ban Bí thư mong muốn, các đồng chí nêu cao trách nhiệm xây dựng tinh thần, thái độ nghiêm túc trong tham gia chương trình”, Thường trực Ban Bí thư, Trưởng ban Tổ chức Trung ương nói.

Đồng chí Trương Thị Mai cũng cho rằng, quá trình phát triển đất nước, hội nhập ngày càng sâu rộng đang đòi hỏi năng lực lãnh đạo cầm quyền của Đảng, để Đảng thực sự là hình ảnh tiêu biểu cho đạo đức, trí tuệ và văn minh. Mỗi một ủy viên Trung ương Đảng, người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng phải tập trung cao độ, nỗ lực nhiều hơn, nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực công tác, sẵn sàng nhận và hoàn thành nhiệm vụ được giao, không dao động, không lùi bước trước khó khăn, thử thách, đóng góp xứng đáng cho sự vững mạnh toàn diện của Đảng. Đồng chí mong muốn các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng học tập nghiêm túc, tích cực trao đổi, thảo luận đóng góp ý kiến, tận dụng tốt nhất thời gian học tập để nghiên cứu, trao đổi, để lớp bồi dưỡng, học tập thực sự hữu ích.

Chương trình của lớp bồi dưỡng, cập nhật kiến thức có nội dung chủ yếu gồm 9 chuyên đề bao quát toàn diện các vấn đề quan trọng liên quan đến công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng gắn với Nghị quyết Đại hội XIII, các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030, 2045. Báo cáo viên là các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, chuyên gia đầu ngành trong nước và quốc tế./.

M.C (Nguồn: ĐCSVN)

FalseĐưa Nghị quyết vào cuộc sống
Người mang tên Đại NghĩaBài viếtAn BìnhNgười mang tên Đại Nghĩa/SiteAssets/tran-dai-nghia-1.jpg
13/09/2023 3:00 CHYesĐã ban hành

(TUAG)- Trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, nhiều tri thức đã sẵn sàng từ bỏ vinh hoa phú quý, từ bỏ cuộc sống an nhàn đi theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, dấn thân vì nghĩa lớn, chấp nhận mọi gian khổ, hy sinh. Thiếu tướng, Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa là một trong số đó.

 tran-dai-nghia-1.jpg

Thiếu tướng, Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa (1913 - 1997) là một "Đại trí thức", không chỉ là người nổi tiếng trong giới quân sự Việt Nam mà còn là nhà khoa học nổi tiếng với nhiều đóng góp to lớn cho đất nước. Ông được phong Thiếu tướng vào tháng 3/1948 nhân dịp Bác Hồ phong tướng đầu tiên, là một trong những nhà khoa học Việt Nam đầu tiên được phong tặng Anh hùng Lao động (1952), Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô (1966), Huân chương Hồ Chí Minh (1984) và giải thưởng Hồ Chí Minh (1996). Trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, cứu nước, tên tuổi của Ông đã trở thành một huyền thoại đối với nhiều thế hệ người Việt cũng như bạn bè quốc tế với danh xưng "Ông vua vũ khí" của Việt Nam. Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp thì gọi Ông là "Ông Phật cầm súng".

Thiếu tướng, Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa tên khai sinh là Phạm Quang Lễ, sinh ngày 13/9/1913 ở xã Chánh Hiệp, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long, trong một gia đình nhà giáo, sống lương thiện, trong sạch, có truyền thống yêu nước. Năm ông mới lên 7 tuổi thì thân phụ của ông là Cụ Phạm Văn Mùi qua đời, thân mẫu của ông là Cụ Lý Thị Diệu và chị gái ông đã vượt qua rất nhiều khó khăn, tần tảo nuôi ông ăn học. Với tư chất thông minh, giàu nghị lực, Ông đã cố gắng vươn lên và luôn đạt kết quả học tập xuất sắc trong mọi bậc học. Năm 1926, Ông thi đỗ hạng ưu vào Trường Trung học Mỹ Tho, được nhận học bổng 4 năm học (1926-1930). Năm 1930, Ông được tuyển thẳng vào Trường Trung học Pétrus Ký (Sài Gòn) và được học bổng 3 năm liền. Đến năm 1933, người thanh niên Phạm Quang Lễ đã giành được hai bằng tú tài hạng ưu: Tú tài Việt và Tú tài Tây. Tháng 9/1935, Ông sang Pháp du học.

Chính phủ Pháp nghiêm cấp người dân thuộc địa học tại các trường dạy về vũ khí hay vào làm các viện nghiên cứu, các nhà máy sản xuất vũ khí. Với lòng đam mê khoa học kỹ thuật, nhất là kỹ thuật sản xuất vũ khí, Ông đã theo học và lấy bằng cử nhân, chứng chỉ của các trường: Đại học Quốc gia Cầu đường Paris, Đại học điện, Đại học Sorbonne, Học viên Kỹ thuật Hàng không, Đại học Mỏ địa chất, Đại học Cơ khí bách khoa.

Năm 1939, Ông làm việc tại Nhà máy điện Thomson, rồi nhà máy sản xuất máy bay tại Pháp. Năm 1942, Ông sang Đức để làm việc tại hãng chế tạo máy bay ở Halle và Viện nghiên cứu vũ khí. Sau đó, Ông trở lại Pháp làm việc cho Công ty Sud Avion và một số công ty chế tạo máy bay của Pháp, tham gia Hội Việt Nam Ái hữ tại Pháp.

Người Pháp, người Đức khi nhận Ông vào làm trong các viện nghiên cứu, hãng sản xuất trọng yếu về vũ khí với mức lương tương đương hàng chục cây vàng đã không thể hiểu nổi động cơ, mục đích làm việc của Ông. Họ cần Ông vì Ông là người tài năng hiếm có, họ không nghi ngờ Ông vì họ nghĩ Ông đã đạt đến trình độ cao như vậy trong ngành nghiên cứu, chế tạo vũ khí rồi thì Ông sẽ phải phụ thuộc họ, chỉ có làm việc cho họ thì tài năng của Ông mới được phát huy, họ cho rằng với cuộc sống tiện nghi ở châu Âu, với mức lương hậu hĩnh thì mục đích của Ông đã đạt được và Ông không có lý do gì để từ bỏ vinh hoa, phú quý đó. Nhưng họ không thể hiểu được ý chí quyết tâm sắt đá của một người yêu nước, có lý tưởng cách mạng cao đẹp, nung nấu khát vọng cống hiến để đem lại độc lập, tự do cho quê hương đang chìm trong đêm dài nô lệ. Những năm tháng quý báu làm việc trong các viện nghiên cứu, hãng chế tạo vũ khí của Pháp, Đức đã giúp kỹ sư Phạm Quang Lễ một mặt trau dồi thêm kiến thức chuyên môn về thiết kế, chế tạo vũ khí, một mặt tiếp thu, tích lũy những kiến thức về phương thức tổ chức nghiên cứu, chế tạo vũ khí của những nền công nghiệp phát triển nhất châu Âu.

Cách mạng Tháng Tám thành công đã làm nức lòng những trí thức Việt Nam yêu nước đang làm việc tại nước ngoài, trong đó có kỹ sư Phạm Quang Lễ. Tháng 9/1946, Ông và các trí thức yêu nước như kỹ sư luyện kim Võ Quý Huân, bác sĩ Trần Hữu Tước, kỹ sư mỏ Võ Đình Quỳnh được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh khi Người sang Pháp thương thuyết với Nhà cầm quyền Pháp về độc lập, tự do cho Việt Nam. Được Chủ tịch Hồ Chí Minh giác ngộ, Ông cùng các Ông Võ Quý Huân, Trần Hữu Tước, Võ Đình Quỳnh, Đỗ Đình Thiện (thư ký), Vũ Đình Huỳnh (cận vệ) đã về nước cùng với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hành trang của ông là 1 tấn sách liên quan đến chế tạo vũ khí. Sự kiện này mang nhiều ý nghĩa cao đẹp của chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng.

Sáng ngày 5/12/1946, Phạm Quang Lễ đang lo sản xuất vũ khí ở Thái Nguyên thì được điện về Hà Nội gấp để gặp Bác Hồ. Bác Hồ đã trực tiếp giao nhiệm vụ cho Phạm Quang Lễ, Bác nói: "Kháng chiến sắp đến nơi rồi, bữa nay tôi gọi chú lại để giao cho chú nhiệm vụ làm Cục trưởng Cục Quân giới. Chú lo vũ khí cho bộ đội. Việc sản xuất vũ khí để đánh giặc cứu nước là việc làm đại nghĩa, vì thế Bác đặt tên mới cho chú là Trần Đại Nghĩa. Đây là bí danh từ nay trở đi của chú, để giữ bí mật và cũng giữ an toàn cho bà con thân thuộc của chú ở trong miền Nam". Từ đây, nhà khoa học Trần Đại Nghĩa đã có những cống hiến quan trọng cho cuộc đấu tranh giành lại độc lập tự do cho dân tộc. 

Trong hoàn cảnh hết sức khó khăn, thiếu cơ sở nghiên cứu, thiếu phương tiện, vật tư, thiếu cán bộ, công nhân kỹ thuật nhưng với chức trách của người đứng đầu ngành quân giới, Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa đã chỉ đạo và góp phần quan trọng vào hoàn chỉnh việc nghiên cứu chế tạo súng và đạn Bazoka; chế tạo súng và đạn chống tăng AT; chế tạo súng và đạn SKZ, tạo nên kỳ tích phi thường của ngành kỹ thuật quân sự, đánh dấu sự tiến bộ của đội ngũ cán bộ công nhân kỹ thuật nước nhà. Điều đáng khâm phục hơn đó là những vũ khí thế hệ mới, do các cường quốc kỹ thuật quân sự chế tạo, như súng không giật SKZ mới xuất hiện lần đầu trong trận quân Mỹ đổ bộ lên đảo Okinawa (Nhật Bản) vào cuối Chiến tranh Thế giới thứ hai, nhưng lại được chế tạo từ những xưởng quân giới với máy móc, công cụ thô sơ, từ những bằng những vật liệu lấy từ ray đường sắt, từ phân dơi,…. Hoàn cảnh khó khăn càng tỏa sáng tài năng và nghị lực phi thường của nhà trí thức yêu nước; những vũ khí do Ông chủ trì nghiên cứu, chế tạo đã trở thành nỗi kinh hoàng cho đội quân thực dân, góp phần nâng cao hiệu suất chiến đấu và nghệ thuật tác chiến của quân đội nhân dân Việt Nam.

tran-dai-nghia-2.jpg

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa đã có những đóng góp to lớn trong nghiên cứu cải tiến vũ khí do các nước giúp đỡ cho phù hợp với cách đánh của Việt Nam. Ông cũng tập trung tìm hiểu những vũ khí của địch, từ đó tìm cách hạn chế tính năng, tác dụng, vô hiệu hóa chúng. Dưới sự chỉ đạo của Ông, đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật nước nhà đã nghiên cứu, cải tiến thủy lôi áp suất APS, giúp cho bộ đội đặc công lập nhiều chiến công trên chiến trường sông biển; cải tiến dàn hỏa tiễn Cachiusa của Liên Xô từ chỗ phải có ô tô vận chuyển, thành gọn nhẹ, từng người có thể mang vác được nhưng vẫn đảm bảo công năng. Cùng với đó là hàng loạt giải pháp kỹ thuật khắc chế các phương tiện, khí tài của địch trên đường Trường Sơn, điển hình là xe phóng từ trường từ khoảng cách 130 mét, giúp bộ đội công binh nhanh chóng giải tỏa các trọng điểm đánh phá bằng bom từ trường của địch; giải pháp rà phá thủy lôi chống địch phong tỏa sông biển miền Bắc. Đặc biệt, Ông đã tham gia chỉ đạo công trình nghiên cứu tìm biện pháp khắc phục gây nhiễu của máy bay B.52; cải tiến độ nổ phân mảnh của đầu đạn tên lửa SAM-2; tìm ra cách thay đổi về công suất điện áp của cánh sóng để chế áp điện tử gây nhiễu của máy bay địch,…. Đây là những giải pháp kỹ thuật quan trọng giúp quân và dân ta đánh bại "pháo đài bay" của không lực Hoa Kỳ, đập tan những nỗ lực cuối cùng của đế quốc Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.

Những đóng góp của Thiếu tướng, Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa cùng với đội ngũ các nhà khoa học do Ông góp phần xây dựng đã góp phần giúp lực lượng vũ trang giành thắng lợi trên mặt trận quân sự, qua đó giành thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.

Chiều ngày 30/4/1975, Thiếu tướng, Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa đã ghi vào sổ tay của mình: "Nhiệm vụ của Bác giao cho tôi và tập thể các nhà khoa học Việt Nam là tham gia về mặt vũ khí và khoa học quân sự trong hai cuộc kháng chiến đã hoàn thành. Từ nay đến hàng nghìn năm sau, chúng tôi xin bàn giao lại nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc cho thế hệ ngày nay và thế hệ mai sau".

Giáo sư, Viện sĩ, Thiếu tướng, anh hùng Trần Đại Nghĩa có lần tâm sự: Tôi nhớ mãi Bác Hồ kính yêu, vô cùng biết ơn Bác cho theo về nước, Bác luôn luôn chăm sóc và hướng dẫn tôi và trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, đã cho tôi các cương vị để có thể hoàn thành các nhiệm vụ của đời tôi một cách hiệu quả nhất và cái tên mà Bác đã đặt cho tôi cũng luôn luôn nhắc nhở tôi. Bác luôn luôn là hình ảnh thiêng liêng nhưng rất gần gũi với tôi. Trong tâm khảm tôi, một bên là ba má và chị tôi, một bên là Bác Hồ. Bạn bè của tôi ở lại bên Pháp, họ đều sung sướng, đầy đủ hơn tôi rất nhiều. Nhưng về khía cạnh phụng sự Tổ quốc, họ chẳng có gì cả,v.v.. 

Đã 77 năm trôi qua kể từ ngày Kỹ sư Phạm Quang Lễ trở về phụng sự Tổ Quốc theo tiếng gọi thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thế giới đã bao đổi thay, đất nước cũng đã trải qua bao thăng trầm lịch sử, nhưng những bài học vô giá từ cuộc đời và sự nghiệp cao quý của Ông để lại cho chúng ta vẫn còn tươi mới và nguyên giá trị. Chính lòng nhiệt thành yêu nước đã đưa người thanh niên Phạm Quang Lễ vượt qua mọi khó khăn, quyết tâm kiếm tìm tri thức chế tạo vũ khí để đánh đuổi ngoại xâm; quyết tâm dứt bỏ mức lương tương đương 22 lượng vàng/tháng để trở về phụng sự Tổ quốc, đưa ông trở thành nhà "đại trí thức", một vị tướng của Quân đội cách mạng. Phẩm chất kiên trung đã làm nên một Trần Đại Nghĩa rất giản dị, gần gũi, chan hòa với đồng chí, đồng bào nhưng vô cùng kiên định về lý tưởng, lập trường và tinh thần cống hiến bền bỉ cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp viết về Ông "Suốt đời làm việc vì đại nghĩa, không biết mệt mỏi, dù ở cương vị nào, là Cục trưởng Quân giới đầu tiên hay Viện trưởng đầu tiên của Viện Khoa học Việt Nam, ở những trọng trách khác trong các ngành kinh tế, khoa học, anh đều hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc, đã có những cống hiến xứng đáng đối với quân đội, đối với dân tộc… một tấm gương sáng của một nhà trí thức tiêu biểu, mẫu mực và đức độ: Liêm khiết, công tâm, về tài năng thông minh và sáng tạo, ăn ở đoàn kết, thủy chung".

Kỷ niệm 110 năm Ngày sinh của cố Thiếu tướng, Giáo sư, Viện sĩ, Trần Đại Nghĩa (13/9/1913 - 13/9/2023) là dịp để chúng ta tưởng nhớ, tôn vinh và tri ân một trí thức lớn, một nhà khoa học quân sự tài năng cống hiến hết mình sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc. Cuộc đời hoạt động và sự nghiệp của Ông là một tấm gương sáng về ý chí vượt khó, lòng yêu nước, về lý tưởng, sự cống hiến cho dân tộc và đạo đức cách mạng cho các thế hệ hôm nay, đặc biệt cho đội ngũ cán bộ làm công tác khoa học học tập và noi theo.

Sự Thật

TrueChính trị
Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức Hội nghị Báo cáo viên tháng 9/2023TinTrúc LinhBan Tuyên giáo Trung ương tổ chức Hội nghị Báo cáo viên tháng 9/2023/SiteAssets/HN-BCVTW9-2023-1.JPG
08/09/2023 1:00 CHNoĐã ban hành
(TUAG)- Sáng ngày 08/9/2023, Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức Hội nghị trực tuyến Báo cáo viên Trung ương tháng 9/2023. Đồng chí Phan Xuân Thủy, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì hội nghị.

Tại điểm cầu An Giang, hội nghị được kết nối trực tuyến đến 61 điểm cầu, có 2.017 đại biểu tham dự. Đồng chí Trần Thị Thanh Hương, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Trưởng đoàn Đại biểu quốc hội chủ trì hội nghị, cùng dự có Báo cáo viên Trung ương công tác tại tỉnh, Báo cáo viên cấp tỉnh, lãnh đạo các sở, ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh, lãnh đạo phòng Công tác Đảng và công tác chính trị, Công an tỉnh, lãnh đạo phòng Chính trị, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, lãnh đạo Ban Tuyên giáo Đảng ủy Trường Đại học An Giang, lãnh đạo các ban phụ trách công tác tuyên giáo thuộc Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh và các đoàn thể chính trị - xã hội cấp tỉnh, lãnh đạo các phòng, đơn vị thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo; Ngoại vụ, Báo cáo viên cấp huyện và tương đương tham dự hội nghị.

Tại hội nghị, các đại biểu được nghe Lãnh đạo Bộ Giáo dục và Đào tạo thông tin chuyên đề: “Những nhiệm vụ trọng tâm năm học 2023 - 2024 và định hướng lớn của ngành Giáo dục và Đào tạo trong thời gian tới”; Lãnh đạo Bộ Ngoại giao thông tin chuyên đề: “Cạnh tranh chiến lược nước lớn hiện nay - Tác động và chính sách của Việt Nam”.

HN-BCVTW9-2023-2.JPG

Định hướng tuyên truyền trong thời gian tới, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Phan Xuân Thủy đề nghị Ban Tuyên giáo, đội ngũ báo cáo viên các cấp và tuyên truyền viên cơ sở tập trung tuyên truyền các nội dung đã được lãnh đạo Bộ Giáo dục và Đào tạo, lãnh đạo Bộ Ngoại giao thông tin tại hội nghị.

Trong đó tuyên truyền về những nỗ lực, quyết tâm, hành động quyết liệt của ngành Giáo dục trong triển khai các nhiệm vụ được giao và đạt được những kết quả tích cực. Đặc biệt tuyên truyền nhấn mạnh sự quan tâm của cấp ủy đảng, chính quyền các cấp đối với sự nghiệp giáo dục; không khí hồ hởi, phấn khởi, lạc quan của thầy và trò khi bước vào năm học mới 2023 - 2024; những tấm gương tiêu biểu trong dạy và học, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo…

Đồng thời tuyên truyền về sự kiện định của Việt Nam thực hiện đường lối đối ngoại của Đại hội XIII là độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, vì lợi ích quốc gia - dân tộc.

Cùng với đó, tuyên truyền tình hình kinh tế - xã hội tháng 8 năm 2023 với sự chủ động, quyết liệt, sát sao của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành triển khai nhiều giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy tăng trưởng, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, các cân đối lớn. Tập trung tuyên truyền sự quyết tâm, nỗ lực của các cấp, các ngành, địa phương trong hoạt động chỉ đạo, điều hành, triển khai thực hiện các nghị quyết, kết luận của Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ về phát triển kinh tế - xã hội; làm nổi bật những nhiệm vụ, giải pháp lớn của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế trong những tháng cuối năm 2023.

Tuyên truyền về các hoạt động đối ngoại, sự kiện quốc tế quan trọng như kết quả chuyến thăm chính thức Việt Nam từ ngày 27 - 29/8/2023 của Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long; kết quả Hội nghị Cấp cao Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) lần thứ 43 và các hội nghị cấp cao liên quan; chuyến thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam của Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden từ ngày 10-11/9/2023 theo lời mời của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, trong đó nhấn mạnh đây là chuyến thăm có ý nghĩa đặc biệt khi diễn ra trong bối cảnh Việt Nam và Hoa Kỳ kỷ niệm 10 năm xác lập quan hệ Đối tác toàn diện (2013 - 2023), đánh dấu lần đầu tiên cả Tổng thống và Phó Tổng thống thăm Việt Nam trong một nhiệm kỳ, chuyến thăm thể hiện sự coi trọng của Hoa Kỳ đối với Việt Nam nói chung và cá nhân Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói riêng; khẳng định vị thế, uy tín của Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Hoa Kỳ…

Trúc Linh
FalseĐưa Nghị quyết vào cuộc sống
Toàn văn phát biểu của Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng tại Lễ kỷ niệm 78 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2023)Bài viếtAdminToàn văn phát biểu của Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng tại Lễ kỷ niệm 78 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2023)/SiteAssets/CTN-VoVanThuong-2923-1.jpg
02/09/2023 7:30 SANoĐã ban hành

​Ngày 31/8/2023, tại Nhà hát Lớn Hà Nội, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng và Phu nhân chủ trì Lễ kỷ niệm 78 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2023). Phát biểu tại buổi lễ, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng khẳng định, Việt Nam kiên trì phấn đấu thực hiện lý tưởng độc lập dân tộc, gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân đã lựa chọn; phấn đấu hiện thực hóa khát vọng trở thành một quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, luôn đặt nhân dân ở vị trí trung tâm, là chủ thể, động lực và mục tiêu của mọi chính sách phát triển. Cổng TTĐT Đảng bộ tỉnh An Giang trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu của Chủ tịch nước:

CTN-VoVanThuong-2923-1.jpg

Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng phát biểu tại Lễ kỷ niệm 78 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2-9-1945 - 2-9-2023) _Ảnh: TTXVN

Thưa các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,
Thưa Ngài Đại sứ Xa-đi Xa la ma, Trưởng Đoàn ngoại giao,
Thưa các vị đại sứ, đại biện, trưởng đại diện các tổ chức quốc tế tại Việt Nam,
Thưa các vị khách quý và các bạn,

Hôm nay, tôi rất vui mừng được gặp gỡ các đồng chí và quý vị đại biểu trong Chương trình kỷ niệm 78 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thay mặt Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam, tôi xin gửi tới các đồng chí lãnh đạo, các vị đại biểu khách quý, các bạn lời chào trân trọng và lời chúc mừng tốt đẹp nhất.

Thưa các đồng chí và quý vị đại biểu,

1. Tháng Tám năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn thể dân tộc Việt Nam triệu người như một đã vùng lên tiến hành tổng khởi nghĩa, đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến giành chính quyền về tay nhân dân.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một trong những trang sử vàng chói lọi nhất của dân tộc Việt Nam, khẳng định sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, mở ra bước ngoặt vĩ đại, đưa dân tộc Việt Nam bước sang kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; người dân Việt Nam từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cách mạng Tháng Tám đã lật đổ nền quân chủ mấy mươi thế kỷ, đã đánh tan xiềng xích thực dân gần 100 năm, đã đưa chính quyền lại cho nhân dân, đã xây nền tảng cho nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa độc lập, tự do, hạnh phúc. Đó là một cuộc thay đổi cực kỳ to lớn trong lịch sử của nước ta”. 

Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) và tuyên bố với thế giới rằng: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ quyền tự do và độc lập ấy”.

2. Từ mùa thu Cách mạng năm 1945, với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, dân tộc Việt Nam đã kiên cường, anh dũng trải qua nhiều cuộc trường chinh vô cùng gian khổ, ác liệt, với sự hy sinh của hàng triệu người con ưu tú để giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bước vào thời kỳ đổi mới, với mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, một lần nữa nhân dân Việt Nam lại bước vào cuộc chiến đấu đầy gian khó để xóa đói, giảm nghèo, lạc hậu và đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Chính trị - xã hội ổn định. Quốc phòng, an ninh được giữ vững. An sinh xã hội được bảo đảm. Đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện. Từ một đất nước không có tên trên bản đồ thế giới, đến hôm nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 192 quốc gia; đã vươn lên, trở thành một nền kinh tế năng động hàng đầu ở châu Á - Thái Bình Dương, một mắt xích quan trọng trong nhiều liên kết kinh tế, hiệp định thương mại tự do, chuỗi sản xuất khu vực và toàn cầu. Việt Nam là đất nước của hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, là điểm đến tươi đẹp, an toàn, thân thiện, giàu lòng mến khách. 

Thưa các đồng chí và quý vị đại biểu,

3. Tài sản vô giá, sức mạnh to lớn để nhân dân Việt Nam vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hy sinh chính là tinh thần yêu nước, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, ý chí kiên cường và lòng quả cảm, tinh thần quyết tâm, tự lực, tự cường, khát vọng mãnh liệt vì độc lập, tự do, hòa bình, hạnh phúc. Các giá trị cao đẹp ấy được hun đúc, bồi đắp, giữ gìn và phát huy qua lịch sử hàng nghìn năm dựng nước, giữ nước của dân tộc Việt Nam. 

Việt Nam kiên trì phấn đấu thực hiện lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân đã lựa chọn. Trên con đường hiện thực hóa khát vọng trở thành một quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, phải tiếp tục phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kiên trì đẩy mạnh đồng bộ và toàn diện sự nghiệp đổi mới, hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng; tiếp tục hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, giữ gìn, phát huy những di sản quý báu mà các thế hệ người Việt Nam đã dày công vun đắp. Trong tiến trình ấy, nhân dân luôn ở vị trí trung tâm, là chủ thể, động lực và mục tiêu xuyên suốt của mọi chính sách phát triển.

4. Lãnh tụ Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc - Danh nhân văn hóa thế giới từng nói, Việt Nam là một bộ phận của thế giới, mọi việc trong thế giới đều có quan hệ với Việt Nam. Thực hiện lời dạy của Người, những năm qua, Việt Nam luôn nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa, là bạn, là đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển trên thế giới. Việt Nam đã hoàn thành tốt nhiều trọng trách tại các diễn đàn đa phương, chung tay thực hiện các mục tiêu phát triển, bảo vệ quyền con người và đóng góp tích cực vào gìn giữ hòa bình thế giới, được bạn bè quốc tế yêu mến. Trong mỗi chặng đường phát triển của Việt Nam đều in đậm dấu ấn tình cảm tốt đẹp, sự ủng hộ, hợp tác hiệu quả, thiết thực, sự giúp đỡ chí tình, chí nghĩa của bạn bè trên thế giới. 

Nhân ngày lễ trọng đại của dân tộc, thay mặt Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam, một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn các quốc gia, đối tác và nhân dân tiến bộ trên thế giới đã đồng hành với Việt Nam, dành cho Việt Nam sự yêu mến, tin cậy, sự chia sẻ, hỗ trợ quý báu, góp phần vào những thành tựu của Việt Nam 78 năm qua, để “Việt Nam có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Tôi tin rằng, đó là nền tảng vững chắc để chúng ta vun đắp tình hữu nghị và quan hệ hợp tác bền chặt trong thời gian tới. 

Thưa các đồng chí và quý vị đại biểu,

5. Chúng ta đang sống trong một thời đại nhiều biến động và phức tạp, nguy cơ, khó khăn, thách thức và những vấn đề lớn đặt ra cho mỗi quốc gia ngày càng nhiều. Những vấn đề toàn cầu, an ninh truyền thống và phi truyền thống tiếp tục diễn biến phức tạp, đe dọa ổn định và phát triển bền vững. Xung đột và chia rẽ vẫn tiếp diễn ở nhiều khu vực, căng thẳng địa chính trị gia tăng, chủ nghĩa đa phương, luật pháp quốc tế đứng trước nhiều thách thức. 

Chúng tôi cho rằng, để gìn giữ hòa bình và thịnh vượng chung cho tất cả các quốc gia, chúng ta cần cùng nhau đoàn kết, thúc đẩy hợp tác; củng cố chủ nghĩa đa phương; tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế. 

Việt Nam sẵn sàng làm cầu nối cho hợp tác và đối thoại, củng cố chủ nghĩa đa phương, thúc đẩy giải quyết bằng biện pháp hòa bình, thông qua đối thoại về các tranh chấp trên cơ sở Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế; sẽ luôn là người bạn chân thành, thủy chung, là đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. 

Tôi tin rằng, các vị đại sứ, đại biện và trưởng đại diện các tổ chức quốc tế sẽ tiếp tục là những nhịp cầu, đại diện tiêu biểu của lòng thiện chí, của sự chân thành, tin cậy, gắn bó, có nhiều đóng góp thiết thực nhằm thúc đẩy quan hệ hợp tác bền chặt giữa Việt Nam và các đối tác khác trên toàn thế giới.

Thưa các đồng chí và quý vị đại biểu,

6. Nghệ thuật là ngôn ngữ diệu kỳ đưa con người đến với nhau, kết nối tâm hồn bằng sự rung động của con tim. Những giai điệu âm nhạc trong chương trình nghệ thuật hôm nay sẽ mang đến cho các quý vị và các bạn nhiều cung bậc cảm xúc. Tinh thần hòa hiếu, nhân nghĩa từ trong mạch nguồn văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam đã vượt qua thử thách của không gian và thời gian, hòa quyện với tinh hoa văn hóa nhân loại, đưa Việt Nam đến với thế giới và đưa thế giới đến với Việt Nam. 

Một lần nữa xin cảm ơn các đồng chí và quý vị đại biểu đã tới dự chương trình hôm nay.
Chúc các đồng chí và quý vị luôn mạnh khỏe, hạnh phúc và thành công.
Xin trân trọng cảm ơn./.

BBT

FalseChính trị
Nhà nước thuộc về Nhân dân - một cuộc thay đổi cực kỳ to lớn!Bài viếtTrung ThànhNhà nước thuộc về Nhân dân - một cuộc thay đổi cực kỳ to lớn!/SiteAssets/CMT8-1945-23a.jpg
28/08/2023 3:25 CHNoĐã ban hành

(TUAG)- Ngay từ năm 1927, trong cuốn “Đường Kách mệnh”, Nguyễn Ái Quốc đã chỉ rõ: “Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh, thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang”. Với quan điểm chủ đạo đó, Đảng ta đã lãnh đạo Nhân dân ta làm nên Cách Mạng Tháng Tám giành chính quyền về tay Nhân dân. Bác Hồ khẳng định: “Đó là một cuộc thay đổi cực kỳ to lớn trong lịch sử của nước ta”.


Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nước ta là nước thuộc địa nửa phong kiến, Nhân dân ta bị cai trị bởi bộ máy của thực dân và triều đình nhà Nguyễn. Vì vậy, ngay từ khi bước lên vũ đài chính trị, Cương lĩnh của Đảng đã xác định mục tiêu số một về phương diện chính trị là “ Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến. Làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập. Dựng ra chính phủ công nông binh…”. Khi thời cơ đến. Trong quá trình chuẩn bị cho cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền, Đảng và Bác Hồ đã chủ trương triệu tập Đại hội đại biểu quốc dân để thành lập một cơ cấu đại biểu cho sự chân thành đoàn kết và hành động nhất trí của toàn thể quốc dân ta, tạo nên sức mạnh dân tộc bên trong và tranh thủ ngoại viện của quốc tế nhằm chớp thời cơ thuận lợi thực hiện cho được mục tiêu độc lập, tự do.

Ngày 16/8/1945, tại đình Tân Trào (huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang), Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tổng bộ Việt Minh (Việt Nam độc lập Đồng minh hội) đã khai mạc Đại hội đại biểu quốc dân (nay gọi là Quốc dân Đại hội Tân Trào). Lịch sử coi đây là tiền thân của Quốc Hội nước ta. Đại hội đã tán thành chủ trương phát động Tổng khởi nghĩa. Thông qua 10 chính sách của Việt Minh và hiệu triệu đồng bào tích cực phấn đấu thực hiện, trong đó, điểm mấu chốt đầu tiên là giành lấy chính quyền, xây dựng một nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trên nền tảng hoàn toàn độc lập. Thành lập Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch mà sau này trở thành Chính Phủ Lâm Thời, … Quốc dân Đại hội  là một tiến bộ lớn trong lịch sử đấu tranh giải phóng của dân tộc ta. Đây là một Đại hội mang tầm vóc lịch sử của một Quốc hội, một cơ quan quyền lực nhà nước lâm thời của nước Việt Nam. Ủy ban Dân tộc giải phóng-là người đại diện chân chính, hợp pháp duy nhất của Nhân dân Việt Nam để thực hiện những quyết sách lớn của công cuộc cứu nước và kiến quốc.

Cách mạng Tháng Tám không chỉ đánh đổ ách thống trị thực dân, giành độc lập dân tộc, mà còn đập tan chế độ quân chủ, lập nên chế độ dân chủ cộng hòa. Để xây dựng nhà nước độc lập, tự chủ, dân chủ cộng hòa. Ngày 2/9/1945, Quảng trường Ba Đình lịch sử, trước cuộc mít tinh của đông đảo đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời, đã trang trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố với quốc dân đồng bào cả nước và toàn thể nhân loại trên thế giới về sự ra đời của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Người tuyên bố: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã trở thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy.”

Ngay sau khi giành được chính quyền, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xúc tiến Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa I thành công, theo đó Chính phủ ban hành và thực hiện Sắc lệnh về tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân hành chính ở các cấp. Để đảm bảo quyền làm chủ của Nhân dân, Chính phủ đã ban hành nhiều sắc lệnh và các quy định quan trọng, như: Sắc lệnh quy định về việc bảo vệ quyền tự do cá nhân; Quy định chế độ tự do báo chí; Quy định về chế độ tự do lập hội, … Đặc biệt, ngày 09-11-1946, Quốc hội khóa I thông qua Hiến pháp- bản Hiến pháp dân chủ tiến bộ nhất ở khu vực Đông Nam Á. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới nước Việt Nam đã độc lập. Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới biết dân tộc Việt Nam đã có đủ mọi quyền tự do,…”. Những quan điểm cơ bản của nhà nước mới - nhà nước độc lập, tự chủ, dân chủ cộng hòa được Hiến định: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa. Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, trai gái, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo” (Điều thứ nhất); “Những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết” (Điều thứ 32), … Như vậy, sau hàng ngàn năm bị áp bức, bóc lột, Nhân dân ta đã thật sự trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội, làm chủ chính bản thân mình – Đây là cái quý báu nhất mà Nhân dân ta đã có được và là thành quả vĩ đại nhất của Cách mạng!

Và để bảo vệ thành quả đó. Cách Mạng phải luôn đề cao cảnh giác cả “thù trong-giặc ngoài”. Trước nhất là phải ra sức chống chủ nghĩa quan liêu-“Kẻ thù bên trong tệ hại nhất của chúng ta”. Vì thế, chỉ mấy tháng sau ngày độc lập, Bác nhận thấy có “những điều không bình thường”, tháng 10.1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết “Thư gửi UBND các kỳ, tỉnh, huyện và làng”. Trong thư Bác khẳng định nguyên nhân cách mạng thành công là “Nhờ dân ta đoàn kết một lòng và Chính phủ lãnh đạo khôn khéo”. “Nhưng nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì.”. Và Người đã chỉ dạy: “Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân...”. “Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta.”. Người phê phán những “lầm lỗi rất nặng nề” làm cho người dân oán thán như: “Cậy thế mình ở trong ban này ban nọ, rồi ngang tàng phóng túng, muốn sao được vậy, coi khinh dư luận, không nghĩ đến dân”. “Hủ hóa - Ăn muốn cho ngon, mặc muốn cho đẹp, càng ngày càng xa xỉ”… Thậm chí, lấy của công dùng vào việc tư, quên cả thanh liêm, đạo đức...”. “Tư túng - Kéo bè, kéo cánh, bà con bạn hữu mình, không tài năng gì cũng kéo vào chức này chức nọ. Người có tài có đức, nhưng không vừa lòng mình thì đẩy ra ngoài…”. “Kiêu ngạo - Tưởng mình ở trong cơ quan chính phủ là thần thánh rồi. Coi khinh dân gian, nói phô, cử chỉ lúc nào cũng vác mặt "quan cách mạng" lên...”. Cuối thư, khuyến cáo: “Chúng ta không sợ sai lầm, nhưng đã nhận biết sai lầm thì phải ra sức sửa chữa. Vậy nên, ai không phạm những lầm lỗi trên này thì nên chú ý tránh đi, và gắng sức cho thêm tiến bộ. Ai đã phạm những lầm lỗi trên này thì phải hết sức sửa chữa; nếu không tự sửa chữa thì Chính phủ sẽ không khoan dung.”.

Với tư cách là người khai sinh ra chế độ mới, đứng đầu Nhà nước, Người nhiều lần tuyên bố mạnh mẽ, dứt khoát: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, nghĩa là nhân dân làm chủ”. “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”. “NƯỚC TA LÀ NƯỚC DÂN CHỦ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân”.

Kế thừa và phát huy những thành quả to lớn từ khi dựng nên Nhà nước kiểu mới-của Dân, vì Dân và do Dân. Từ ngày Đổi mới đến nay công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân đã đạt được những thành tựu rất quan trọng. Trong thời gian tới đây cần tiếp tục nắm vững và xử lý tốt các mối quan hệ lớn giữa Đảng lãnh đạo với Nhà nước quản lý và Nhân dân làm chủ; giữa nhà nước, thị trường và xã hội; giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội. Thực hiện nhất quán nguyên tắc: tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ, kiểm soát hiệu quả giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền: lập pháp, hành pháp, tư pháp…Nhằm khẳng định vững chắc vai trò làm chủ của Nhân dân!  

Trung Thành

FalseChính trị
Bộ Chính trị ban hành quy định về xin lỗi và phục hồi quyền lợi của đảng viên bị kỷ luật oanBài viếtAn BìnhBộ Chính trị ban hành quy định về xin lỗi và phục hồi quyền lợi của đảng viên bị kỷ luật oanhttps://www.angiang.dcs.vn/SiteAssets/HN-BCHTW-giua-nhiemky-23-2.jpg
28/08/2023 8:25 SANoĐã ban hành

(TUAG)- Ngày 18/8/2023, Bộ Chính trị ban hành Quy định số 117-QĐ/TW về xin lỗi và phục hồi quyền lợi của tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan, được dư luận đặc biệt quan tâm đánh giá cao về văn hóa Đảng.

 

Xin lỗi là hành động tự nhận khuyết điểm, sai lầm về mình, đồng thời là sự đồng cảm, sẻ chia với người bị làm tổn thương, thiệt hại. Lời xin lỗi được xem là cách chứng tỏ lòng kính trọng và thiện cảm đối với tập thể, cá nhân bị oan.

Đảng cũng có những sai lầm, khuyết điểm trong lãnh đạo, chỉ đạo, trong xử lý thi hành kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên, do vậy cần phải xin lỗi và phục hồi quyền lợi cho họ. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Người đời ai cũng có khuyết điểm. Có làm việc thì có sai lầm". Theo Hồ Chí Minh, Đảng có khuyết điểm, cán bộ mắc sai lầm thì không nên giấu giếm. Bởi vì, "Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính". 

Sự nghiệp cách mạng là lâu dài và đối mặt với muôn vàn khó khăn, Đảng có sai thì phải xin lỗi, xin lỗi để sửa lỗi, khắc phục. Việc đó không có gì xấu hổ mà chính là một cử chỉ rất văn hóa, đó là văn hóa xin lỗi, sửa lỗi của cán bộ, đảng viên. Câu chuyện trong cải cách ruộng đất ở nước ta là một ví dụ. Khi đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thẳng thắn nhận khuyết điểm, chịu trách nhiệm trước Đảng, trước dân và tiến hành sửa sai. Hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh lấy khăn lau nước mắt khiến mọi người chạnh lòng xót xa, cảm động, sẵn lòng bao dung và càng thương Bác hơn, tin Đảng nhiều hơn. Bởi đó là lời xin lỗi chân thành, được thốt lên từ trái tim của một người suốt cả cuộc đời chỉ biết hy sinh, một lòng vì nước, vì dân!

Việc Bộ Chính trị ban hành Quy định 117 về xin lỗi và phục hồi quyền lợi của tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan chính là để hoàn thiện thể chế kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng. Sao cho quy định vừa nghiêm khắc, nghiêm minh nhưng thấm đượm giá trị văn hóa, nhân văn tình đồng chí, đồng đội.

Đây là quy định đầu tiên của Đảng về xin lỗi và phục hồi quyền lợi của tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan. Quy định gồm 4 chương, 15 điều, đề cập cụ thể từ phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, nguyên tắc, căn cứ, trình tự thủ tục, thời hạn giải quyết việc xin lỗi và phục hồi quyền lợi… cũng như những trường hợp bị oan thật nhưng không được xin lỗi, phục hồi quyền lợi.

Theo đó, căn cứ để xác định một đảng viên hoặc tổ chức đảng bị oan gồm: Kết luận hoặc quyết định của tổ chức đảng có thẩm quyền xác định tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan. Kết luận, quyết định, bản án của cơ quan pháp luật xác định đảng viên bị điều tra, truy tố, xét xử oan dẫn đến tổ chức đảng quyết định kỷ luật oan.

Về nguyên tắc là việc xin lỗi, phục hồi quyền lợi cho tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan phải thực hiện kịp thời, công khai, khách quan và do chính tổ chức đảng đã ra quyết định gây oan chịu trách nhiệm thực hiện. Cùng với đó là bãi bỏ, thu hồi quyết định kỷ luật oan; xem xét trách nhiệm của tổ chức, đảng viên tham mưu, quyết định kỷ luật oan. Giải quyết oan phải triệt để. Kể cả khi người bị oan đã qua đời thì vẫn phải tổ chức xin lỗi với thân nhân đảng viên.

Quy định 117 của Bộ Chính trị nêu rõ kết luận, quyết định xác định việc kỷ luật oan phải được gửi ngay đến tổ chức, cá nhân liên quan. Trong vòng 60 ngày kể từ ngày nhận được các kết luận, quyết định, tổ chức đảng đã ra quyết định kỷ luật oan có trách nhiệm chủ động thông báo bằng văn bản đến tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan (hoặc thân nhân đảng viên) về việc tổ chức xin lỗi và phục hồi quyền lợi. Chủ động thu hồi, bãi bỏ quyết định kỷ luật oan; đồng thời gửi đến cơ quan, tổ chức nơi đảng viên đang công tác, sinh hoạt để thu hồi, xóa bỏ quyết định kỷ luật hành chính, kỷ luật đoàn thể đối với đảng viên (nếu có). Chủ động phục hồi quyền lợi hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền phục hồi quyền lợi của tổ chức, đảng viên bị kỷ luật oan.

Với đảng viên, tổ chức đảng bị kỷ luật oan, trong vòng 30 ngày kể từ khi nhận được kết luận, quyết định minh oan thì gửi văn bản đề nghị xin lỗi, phục hồi quyền lợi đến tổ chức đảng đã ra quyết định kỷ luật oan cho mình. Việc xin lỗi được tổ chức dưới hình thức hội nghị tại chi bộ hoặc cấp ủy, ban thường vụ đang trực tiếp quản lý đảng viên, hoặc tại tổ chức đảng nơi đảng viên đó từng là thành viên…

Quy định 117 cũng đề cập 5 trường hợp đảng viên bị kỷ luật oan không được xin lỗi và phục hồi quyền lợi: 1. Sau khi bị kỷ luật oan đã không giữ được tư cách, phẩm chất, tiêu chuẩn đảng viên hoặc vi phạm bị kỷ luật; 2. Nhận lỗi thay cho người khác dẫn đến bị kỷ luật oan; 3. Từ chối việc xin lỗi và phục hồi quyền lợi; 4. Tự ý bỏ sinh hoạt đảng; 5. Không cung cấp kịp thời, đầy đủ, trung thực thông tin, tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc thi hành kỷ luật oan; không phối hợp thực hiện các trình tự, thủ tục có liên quan đến việc giải quyết kỷ luật oan.

Quy định 117 của Đảng về xin lỗi và phục hồi quyền lợi của tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan là một giá trị nhân văn trong việc thực hành văn hóa Đảng. Xin lỗi tổ chức đảng và đảng viên bị kỷ luật oan góp phần xoa dịu tinh thần của đảng viên, giúp họ tạo được niềm tin với Đảng cầm quyền. Do đó đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt, người đứng đầu các cấp, các cơ quan, đơn vị phải đề cao và thực hiện thật tốt văn hóa xin lỗi khi phát hiện có oan, sai. Tổ chức, đảng viên không được coi việc xin lỗi là biện pháp, đối sách để trốn tránh trách nhiệm hay làm giảm nhẹ phần trách nhiệm của mình; không viện dẫn bất cứ lý do gì để biện minh trong xin lỗi mà xin lỗi phải kèm theo những hành động, biện pháp cụ thể để chấn chỉnh, khắc phục trong thời gian sớm nhất. Đó là cách xin lỗi chân thành.

AN BÌNH

FalseĐưa Nghị quyết vào cuộc sống
1 - 30Next