Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksKinh Tế

Chào mừng quý vị đến với Cổng thông tin điện tử Đảng bộ tỉnh An Giang!
 
Kinh Tế
 

(TUAG)- Ngày 12/2/2020, Đoàn công tác tỉnh An Giang gồm lãnh đạo Sở Công Thương, Trung tâm Xúc tiến thương mại và Đầu tư, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Hội Nông dân tỉnh, đã có buổi làm việc với lãnh đạo huyện Chợ Mới về tình hình sản xuất, tiêu thụ nông sản trên địa bàn huyện. Tiếp đoàn có đồng chí Bí thư Huyện ủy Chợ Mới Võ Nguyên Nam.

 
 

​(TUAG)- Ngày 11/2, UBND huyện Châu Thành tổ chức họp mặt doanh nghiệp đầu năm 2020. Bí thư huyện ủy Đinh Thị Việt Huỳnh, Chủ tịch UBND huyện Phan Văn Cường chủ trì buổi họp mặt. Tham dự còn có lãnh đạo các sở, ngành tỉnh, các tổ chức tín dụng, hợp tác xã, doanh nghiệp và cơ sở sản xuất - kinh doanh trên địa bàn huyện.

 
 

Những ngày này, tình hình xâm nhập mặn và khô hạn tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long lại tiếp tục xuất hiện, trong đó, đợt xâm nhập mặn từ ngày 8 đến 16/2 được cho là ở mức rất cao…

 
 

(TUAG)- Thành phố Long Xuyên là trung tâm chính trị - kinh tế - văn hóa và xã hội của tỉnh An Giang. Trong những năm qua, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố Long Xuyên đã tập trung mọi nguồn lực để xây dựng thành phố quê hương Bác Tôn ngày thêm giàu đẹp, văn minh. Đến nay, Long Xuyên đã phát triển khá toàn diện, cơ bản đáp ứng các tiêu chí, chỉ tiêu của đô thị loại I.

 
 

​(TUAG)- Nhân dịp đầu năm mới và đón Tết cổ truyền Canh Tý của dân tộc, đồng chí Nguyễn Thanh Bình, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh đã dành thời gian trả lời phỏng vấn về những kết quả đạt được trong năm vừa qua và quyết tâm của tỉnh thực hiện mục tiêu phát triển trong năm 2020.

 
 

(TUAG)- Chào Xuân Canh Tý 2020, thị xã Tân Châu với nhiều khởi sắc và triển vọng mới, năm qua kinh tế - xã hội của thị xã không ngừng phát triển, an ninh chính trị từ nội địa, đến biên giới được đảm bảo và giữ vững, văn minh đô thị từng bước được chỉnh trang, diện mạo nông thôn mới trên đà khởi sắc, đời sống Nhân dân nâng cao về vật chất, chuyển biến tích cực về tinh thần... 

 
 

(TUAG)- Ngày 17/01/2020, UBND huyện Châu Phú tổ chức hội nghị triển khai Nghị quyết của HĐND huyện về nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội năm 2020 và chương trình công tác của UBND huyện. Hội nghị được trực tuyến đến các điểm cầu xã, thị trấn trên địa bàn huyện; Bí thư, Chủ tịch UBND huyện Trần Thanh Nhã chủ trì hội nghị.

 
 

(TUAG)- Chiều ngày 16/1, UBND huyện Châu Thành tổ chức Hội nghị triển khai kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh và phát động phong trào thi đua năm 2020. Đồng chí Phan Văn Cường - Phó Bí thư, Chủ tịch UBND huyện chủ trì.

 
 
(TUAG)- Từ ngày 14 đến 23-1, tại Trung tâm Thương mại Vincom Plaza Long Xuyên (TP. Long Xuyên, tỉnh An Giang) diễn ra “Chợ Tết Xanh”, hoạt động trưng bày, bán sản phẩm, do Sở Công thương phối hợp UBND TP. Long Xuyên, Trung tâm Thương mại Vincom Plaza Long Xuyên tổ chức.
 
 

(TUAG)- Hôm nay 4/1, Tỉnh ủy, UBND tỉnh An Giang tổ chức hội thảo lấy ý kiến đề án “Tái cơ cấu kinh tế tỉnh An Giang: Tạo đột phá hướng đến phát triển bền vững”.

 
 
 
 
  
Phân loại
  
  
  
  
  
Tóm tắt
  
  
  
  
Nội dung
  
Đoàn công tác tỉnh làm việc tại Chợ Mới về tình hình sản xuất, tiêu thụ nông sảnTinĐoàn công tác tỉnh làm việc tại Chợ Mới về tình hình sản xuất, tiêu thụ nông sản/XDDImages/2020-02/CM-tinh1_Key_15022020122533.jpg

(TUAG)- Ngày 12/2/2020, Đoàn công tác tỉnh An Giang gồm lãnh đạo Sở Công Thương, Trung tâm Xúc tiến thương mại và Đầu tư, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Hội Nông dân tỉnh, đã có buổi làm việc với lãnh đạo huyện Chợ Mới về tình hình sản xuất, tiêu thụ nông sản trên địa bàn huyện. Tiếp đoàn có đồng chí Bí thư Huyện ủy Chợ Mới Võ Nguyên Nam.

14/02/2020 9:00 SANoĐã ban hành


Theo báo cáo, Vụ Đông xuân năm nay huyện Chợ Mới xuống giống hơn 13.000 ha lúa, rau màu xuống giống gần 4.800 ha, thu hoạch được 1.422ha. Hiện tại do ảnh hưởng của dịch bệnh Corona, đường xuất khẩu chính ngạch qua Trung Quốc đã bị tạm ngưng, một số Công ty lương thực thu mua với số lượng cầm chừng; Thị trường tiêu thụ rau màu chủ yếu ở nội địa, phân phối ở các siêu thị nhưng đã bị giảm 50%. Riêng diện tích xoài có khoảng trên 6.116 ha, trong đó diện tích xoài đến tuổi cho trái khoảng 4.172ha; Hơn 90% sản lượng xoài được xuất tiểu ngạch sang thị trường Trung Quốc. Sau khi Trung Quốc đóng cửa, phần lớn các vựa xoài đều ngưng hoạt động, chỉ một số vựa hoạt động cầm chừng, tiêu thụ nội địa với giá rất thấp, (xoài loại I từ 7.000-8.000 đồng/kg; xoài loại II và loại III từ 2.000- 4.000 đồng/kg, so với thời điểm trước khi có dịch bệnh, gia xoài thu mua bình quân 15.000 đồng/kg. Hiện tại các vựa xoài còn tồn hơn 100 tấn chưa tiêu thụ được.

CM-tinh.jpg

Tại buổi làm việc, những người trồng rau màu trên địa bàn xã Kiến An cho biết vào thời điểm trước Tết Nguyên đán có giá nhưng sau khi bị dịch bệnh Corona đã ảnh hưởng, giá cả đã giảm rất nhiều; Nông dân 3 xã Cù Lao Giêng (Tấn Mỹ, Mỹ Hiệp, Bình Phước Xuân) chia sẻ với các cấp lãnh đạo: Sản lượng và chất lượng trái xoài năm nay thấp hơn so mọi năm, chưa đa dạng hình thức tiêu thụ sản phẩm; Chi phí đầu tư sản xuất cao nhưng giá xoài thu mua lại rất thấp, nông dân rất lo lắng. Đặc biệt, do ảnh hưởng dịch bệnh Corona số lượng xoài thu của các vựa đã giảm đi rất nhiều. Với giá thành thấp, một số nhà vườn không bán đến khi trái trên cây chín và rơi rụng. Còn các vựa xoài hiện tại còn tồn đọng hàng thu mua trước đó rất nhiều nên không thể tiếp tục thu mua. Tuy nhiên theo một Công ty ở Đồng Tháp, do chất lượng xoài nông dân chưa đảm bảo về tiêu chuẩn, không đáp ứng được yêu cầu để xuất khẩu nên doanh nghiệp không thể thu mua. Hiện tại 1 ngày Công ty này thu mua 30 tấn xoài để xuất khẩu, số lượng hàng Công ty cần để xuất khẩu vẫn còn thiếu rất nhiều, nếu nông dân chấp nhận với giá rẻ công ty có thể thu mua với số lượng lớn để giải cứu trái xoài.

Kết thúc buổi làm việc, đại diện lãnh đạo các Sở, Ngành tỉnh đã ghi nhận những ý kiến, kiến nghị, cũng như những khó khăn của bàn con, kịp thời báo cáo lãnh đạo cấp trên để có những giải pháp tiếp theo tháo gỡ khó khăn. Bên cạnh, lãnh đạo các Sở, ngành cũng lưu ý địa phương cần vận động người dân sản xuất theo định hướng của thị trường, tham gia vào các mô hình hợp tác sản xuất để đảm bảo đầu ra ổn định, bền vững. Ngoài việc hỗ trợ xúc tiến tiêu thụ của các cơ quan nhà nước, chính người nông dân phải tuân thủ sản xuất theo qui trình VietGAP. Đây cũng là cơ hội để vận động người dân chuyển dịch cơ câu cây trồng có giá trị kinh tế cao không phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc./.

Hải Đăng


False
Châu Thành tổ chức họp mặt doanh nghiệp đầu năm 2020Đầu tư khởi nghiệpTinChâu Thành tổ chức họp mặt doanh nghiệp đầu năm 2020/XDDImages/2020-02/Chau-thanh-hop-mat-doanh-nghiep-1_Key_12022020144622.jpg

​(TUAG)- Ngày 11/2, UBND huyện Châu Thành tổ chức họp mặt doanh nghiệp đầu năm 2020. Bí thư huyện ủy Đinh Thị Việt Huỳnh, Chủ tịch UBND huyện Phan Văn Cường chủ trì buổi họp mặt. Tham dự còn có lãnh đạo các sở, ngành tỉnh, các tổ chức tín dụng, hợp tác xã, doanh nghiệp và cơ sở sản xuất - kinh doanh trên địa bàn huyện.

12/02/2020 3:00 CHNoĐã ban hành


Lãnh đạo huyện ủy, UBND huyện tham dự buổi họp mặt

Tại buổi họp mặt, Chủ tịch UBND huyện Phan Văn Cường đã thông tin nhanh với các doanh nghiệp về tình hình phát triển kinh tế – xã hội trên địa bàn huyện năm 2019 và định hướng phát triển kinh tế - xã hội trong năm 2020. Trong năm qua, với sự chỉ đạo sâu sát của Huyện ủy, sự điều hành tập trung của UBND huyện, cùng sự nỗ lực của các ngành, các cấp, các doanh nghiệp và nhân dân, huyện đã thực hiện đạt và vượt 13/14 chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Riêng đối với lĩnh vực công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp phát triển ổn định, tăng 19% so với kế hoạch. Trong năm, toàn huyện phát triển mới 24 cơ sở sản xuất, tổng vốn đầu tư trên 3,1 tỷ đồng, hiện toàn huyện có 1.115 cơ sở, giải quyết việc làm cho trên 2.700 lao động. Hoạt động thương mại - dịch vụ trên địa bàn huyện tiếp tục phát triển, có 274 cơ sở phát triển mới, thu hút hơn 606 lao động, tổng vốn đầu tư trên 26,4 tỷ đồng. Hiện toàn huyện có 8.516 cơ sở, với hơn 14.000 lao động, tổng vốn đầu tư trên 433,2 tỷ đồng.   

 

Trên tinh thần đồng thuận, cởi mở, tại buổi họp mặt, đại diện các doanh nghiệp đã thẳng thắn trình bày với lãnh đạo huyện những khó khăn, vướng mắc trong triển khai các dự án sản xuất – kinh doanh; mong muốn huyện tiếp tục quan tâm, giải quyết kịp thời các kiến nghị của doanh nghiệp, nhà đầu tư liên quan đến công tác quản lý quy hoạch, bảo vệ môi trường, tiếp cận vốn vay, đầu ra sản phẩm…, tạo điều kiện để doanh nghiệp yên tâm sản xuất, kinh doanh.


Các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất – kinh doanh tham dự buổi họp mặt

Tại buổi họp mặt, ông Phan Văn Cường - Chủ tịch UBND huyện nhấn mạnh, những kết quả đạt được trên lĩnh vực kinh tế - xã hội trong năm 2019, huyện ghi nhận có sự đóng góp và ủng hộ của các doanh nghiệp đã góp phần quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội và công tác an sinh xã hội ở địa phương. Trong thời gian tới, huyện sẽ tiếp tục rà soát, đơn giản hóa, giảm thời gian giải quyết các thủ tục hành chính đối với doanh nghiệp; tiếp tục củng cố và đẩy mạnh hoạt động của Tổ hỗ trợ doanh nghiệp cũng như phát huy hiệu quả hoạt động của Chi hội Doanh nghiệp của huyện để giải quyết kịp thời những khó khăn, vướng mắc trong quá trình đầu tư, hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, cơ sở. Đồng thời, kêu gọi các doanh nghiệp phát huy tối đa những tiềm năng lợi thế của huyện, ra sức sáng tạo, đề ra các giải pháp đóng góp tích cực cho sự phát triển doanh nghiệp và kinh tế của huyện nhà trong thời gian tới.

Trúc Phương

False
Đồng bằng sông Cửu Long thiệt hại nặng nề do xâm nhập mặn và khô hạn TinĐảng Cộng sản VNĐồng bằng sông Cửu Long thiệt hại nặng nề do xâm nhập mặn và khô hạn /XDDImages/2020-02/lua-kho_Key_11022020181646.jpg

Những ngày này, tình hình xâm nhập mặn và khô hạn tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long lại tiếp tục xuất hiện, trong đó, đợt xâm nhập mặn từ ngày 8 đến 16/2 được cho là ở mức rất cao…

11/02/2020 7:00 CHNoĐã ban hành

Nhiều nơi bị xâm nhập mặn sâu hơn so với năm 2016

Nhiều diện tích lúa ở ĐBSCL bị chết khô do thiếu nước (Ảnh: K.V) 


Cụ thể, với ranh mặn 4g/l tại các cửa sông Vàm Cỏ (Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây) với phạm vi ảnh hưởng sâu từ 95-100 km, sâu hơn trung bình nhiều năm lớn nhất từ 15-20 km, sâu hơn cùng kỳ năm 2016 từ 4 - 6 km, thấp hơn 20 - 30 km so với mức sâu nhất năm 2016 (năm có mức hạn, mặn cao nhất từ trước đến nay). Sông Cổ Chiên có phạm vi ảnh hưởng sâu khoảng 68 km, sâu hơn trung bình nhiều năm lớn nhất 24 km, sâu hơn cùng kỳ năm 2016 khoảng 3 km, sâu hơn khoảng 3km so với mức sâu nhất năm 2016. Sông Hậu có phạm vi ảnh hưởng sâu khoảng 66 km, sâu hơn trung bình nhiều năm lớn nhất 26 km, sâu hơn cùng kỳ năm 2016 khoảng 6 km, sâu hơn khoảng 6 km so với mức sâu nhất năm 2016….

Tại huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng, địa phương có đến hàng nghìn ha lúa vụ Đông Xuân muộn được bà con xuống giống đã và đang thiếu nước trầm trọng, có nguy cơ sẽ mất trắng. Đã có những cánh đồng lúa chuyển dần qua màu trắng, cháy khô, đất mặt ruộng khô, nứt nẻ. Ông Trần Trí Dũng, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thị trấn Long Phú cho biết, vụ lúa Đông Xuân muộn năm nay trên địa bàn thị trấn sản xuất hơn 238 ha. Thời điểm này, nhiều diện tích xem như mất trắng do xâm nhập mặn đến sớm.

Không chỉ thị trấn Long Phú, ruộng lúa tại nhiều cánh đồng ở các xã khác trên địa bàn huyện Long Phú như Long Đức, Trường Khánh, Tân Hưng… cũng trong tình trạng tương tự. Theo thống kê của Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Long Phú, vụ Đông Xuân muộn năm nay trên địa bàn huyện có khoảng 3.700 ha, diện tích này đã giảm nhiều so với hơn 15.000 ha của vụ mùa năm ngoái.

Ông Lâm Văn Vũ, Trưởng Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Long Phú cho biết, ngay từ đầu năm ngành nông nghiệp huyện đã tham mưu Uỷ ban nhân dân Huyện khuyến cáo bà con không sản xuất lúa vụ 3; đồng thời, tiến hành nạo vét trên 23 công trình thủy lợi để giữ nước phục vụ cho sản xuất và thống kê lại các tuyến dân cư tập trung để có phương án cấp nước sinh hoạt nếu mặn kéo dài. Nhưng do nhiều nông dân vẫn chủ quan, xuống giống vụ 3, nên đã có hơn 1.500 ha bị ảnh hưởng nặng, dự báo thời gian tới diện tích này sẽ tiếp tục tăng, thậm chí là mất trắng toàn diện tích vụ lúa Đông Xuân muộn của địa phương.

Theo Chi cục Thủy lợi tỉnh Hậu Giang, trong tuần đầu tiên của tháng 2/2020, nồng độ mặn trên địa bàn tỉnh này tăng dần theo hai hướng triều biển Đông và biển Tây. Ông Trần Thanh Toàn, Chi cục trưởng Chi cục Thủy lợi tỉnh Hậu Giang cho biết, trước tình hình nhiễm mặn diễn biến phức tạp, Văn phòng Thường trực Ban Chỉ huy Phòng, chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn tỉnh thường xuyên cập nhật diễn biến xâm nhập mặn trong khu vực và trên địa bàn tỉnh từ các cơ quan dự báo khí tượng thủy văn ở trung ương cũng như ở địa phương; cử cán bộ quan trắc độ mặn hàng ngày và thông tin cho tất cả các thành viên Ban Chỉ huy từ tỉnh đến huyện, thị xã, thành phố và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các xã, phường, thị trấn vùng xâm nhập mặn.

Ngành thủy lợi cũng sẵn sàng vận hành các công trình theo diễn biến xâm nhập mặn nhằm giữ nước ngọt và không làm ảnh hưởng việc đi lại bằng đường thủy của người dân. Trên địa bàn tỉnh Hậu Giang có 100 cống hở, 11 cống tròn thuộc 3 hệ thống công trình thủy lợi gồm đê bao Ô Môn - Xà No, hệ thống cống Nam Xà No, đê bao ngăn mặn Long Mỹ - Vị Thanh luôn trong tình trạng sẵn sàng phục vụ công tác phòng, chống xâm nhập mặn.

Còn tại tỉnh Tiền Giang, trong vụ Đông Xuân 2019 – 2020, toàn vùng dự án ngọt hóa Gò Công bao gồm 4 huyện, thị duyên hải là: Chợ Gạo, Gò Công Đông, Gò Công Tây và thị xã Gò Công đã gieo sạ gần 24.500 ha; trong đó có trên 21.000 ha đang ở độ tuổi từ 31 ngày đến dưới 60 ngày tuổi đang cần nước bơm tưới chống hạn. Theo ngành chức năng, mùa khô năm nay thời tiết thủy văn khắc nghiệt. Mặn trên hệ sông Tiền xuất hiện sớm hơn cùng kỳ khoảng 1 tháng và lấn sâu vào nội đồng.

Hiện nay, ranh mặn theo cửa sông Tiền đã vượt qua khỏi thành phố Mỹ Tho xâm lấn sâu về phía thượng lưu, bao vây tứ phía các huyện vùng dự án ngọt hóa Gò Công. Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Khai thác công trình thủy lợi Tiền Giang – đơn vị quản lý vận hành hệ thống công trình thủy lợi tại đây, đã cho đóng toàn bộ các cống lấy nước để ngăn mặn triệt để, không cho xâm nhập vào nội đồng ảnh hưởng đến trà lúa vụ Đông Xuân.

Theo Phó Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Khai thác công trình thủy lợi Tiền Giang Đỗ Thành Sơn, trước tình hình diễn biến hạn mặn phức tạp đồng thời để đảm bảo hiệu quả phục vụ tưới tiêu cho trà lúa Đông Xuân trong vùng dự án, ngay từ đầu mùa khô 2019 - 2020, hàng trăm cán bộ, nhân viên của đơn vị chia nhau trực 24/24. Người trực tại các cống ngăn mặn, người lo đo và cập nhật diễn biến mặn ngoài sông Tiền, người thay phiên nhau trực bơm tát chống hạn tại những địa bàn trọng điểm.

Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Trà Vinh cho biết, hiện diện tích lúa Đông Xuân hơn 50.000 ha của địa phương này từ 25 đến 40 ngày tuổi đang nằm trong tình trạng thiếu nước ngọt. Tại các vùng chịu ảnh hưởng trực tiếp từ sông Tiền, xa các tuyến kênh đầu mối, vùng gò cao thuộc các huyện cầu Ngang, Trà Cú, Châu Thành đã có gần 10.000 ha lúa Đông Xuân bị thiệt hại từ 30% đến 70% diện tích do khô hạn, nhiễm mặn.

Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Phạm Minh Truyền cho hay, hiện ngành nông nghiệp đang cùng các địa phương khảo sát thực tế đồng đánh giá thực trạng, kiểm kê nguồn nước ngọt tại các hồ chứa, hệ thống thuỷ lợi trên từng địa bàn để điều phối cân bằng nước, bổ sung phương án chống hạn, phòng xâm nhập mặn; đảm bảo sử dụng nước ngọt tiết kiệm cho lúa và cây trồng khác.

Chủ động các giải pháp ứng phó

Người dân ĐBSCL chuyển đổi sang trồng những loại cây chịu được hạn, mặn (Ảnh: K.V) 


Trước tình hình hạn hán và xâm nhập mặn diễn ra gay gắt tại các địa phương khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường cùng Đoàn công tác của Bộ vừa có chuyến làm việc tại tỉnh Sóc Trăng về công tác ứng phó với tình hình hạn, mặn. Đoàn đã khảo sát khu vực thu hoạch lúa Đông xuân và cống ngăn mặn trên địa bàn hai huyện Trần Đề và Long Phú.

Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường đề nghị các đơn vị liên quan trực thuộc Bộ nghiên cứu và đánh giá sâu về các cống theo công nghệ mới, cách làm mới để hoàn thiện hệ thống thủy lợi không chỉ riêng của Sóc Trăng mà cả vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Ứng phó với hạn, mặn, nhiều địa phương ở Đồng bằng sông Cửu Long đã chủ động từ khá sớm.

Ví dụ như tỉnh Cà Mau đã có văn bản chỉ đạo các Sở, ngành chức năng, địa phương thực hiện các giải pháp ứng phó hạn hán, xâm nhập mặn. Trong đó, các địa phương xây dựng phương án điều tiết nước phù hợp với điều kiện nguồn nước cụ thể; thống kê diện tích lúa, hoa màu bị thiệt hại, đối chiếu theo quy định để hướng dẫn lập thủ tục đề nghị hỗ trợ khôi phục sản xuất; bổ sung kế hoạch phòng cháy, chữa cháy rừng mùa khô 2019-2020 phù hợp với diễn biến của thời tiết; phân công, bố trí lực lượng, phương tiện, trang thiết bị trên tinh thần chủ động, linh hoạt, sẵn sàng ứng phó kịp thời khi có sự cố.

Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Bến Tre Nguyễn Hữu Lập cho hay dự báo hạn mặn mùa khô năm 2019-2020 diễn biến phức tạp, nên từ giữa năm 2019, tỉnh này đã triển khai các giải pháp ứng phó. Đến nay, tỉnh đã bố trí 46 điểm đo mặn nhằm tăng cường đo kiểm tra trên các sông, kênh rạch, các công trình đầu mối, các nhà máy nước để vận hành công trình lấy, trữ nước hợp lý. Ngoài ra, Tỉnh còn thi công nạo vét kênh mương với tổng khối lượng khoảng 557.000 m3...

Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Hoàng Hiệp, dự báo, hạn, xâm nhập mặn khả năng vẫn tiếp tục và không còn theo quy luật thường 5 năm lặp lại như trước đây. Vì tình hình bị tác động bởi từ thượng lưu, biển và nội tại của Đồng bằng sông Cửu Long. Cả 3 yếu tố này sẽ tác động mạnh mẽ đến hạn, mặn. Về thượng lưu, các thủy điện chính trên sông Mekong, sông Lan Thương - hai dòng chảy chính về Đồng bằng sông Cửu Long càng ngày sẽ càng có nhiều hơn và bắt đầu đưa vào sử dụng. Nguy cơ cao là các nước thượng nguồn như Campuchia, Thái Lan, Trung Quốc... cũng rất khó khăn về nguồn nước. Như vậy nước về Đồng bằng sông Cửu Long sẽ ngày càng ít đi.

Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp đánh giá, hạn, mặn năm 2015-2016, Việt Nam mất 1 triệu tấn lúa và 500.000 hộ gia đình thiếu nước ngọt... Năm đó, ngành nông nghiệp lần đầu tiên tăng trưởng âm. Như vậy sự tác động ở Đồng bằng sông Cửu Long với toàn quốc là rất lớn. Năm 2019-2020, thiệt hại sẽ thấp hơn rất nhiều so với năm 2015-2016. Bởi diện tích lúa dự báo sẽ chỉ bị ảnh hưởng khoảng 100.000ha, cây ăn trái khoảng 130.000 ha, 100.000 hộ thiếu nước. Nhưng đến thời điểm này, cùng với các giải pháp của Bộ, sự vào cuộc quyết liệt của địa phương, người dân, thiệt hại sẽ thấp.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng như các bộ, ngành khác lập Quy hoạch tổng thể vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Trong quy hoạch này sẽ đưa ra tất cả những cảnh báo, giải quyết bài toán về mặn, ngọt. Đối với sản xuất nông nghiệp sẽ xoay trục, hiện nay cơ cấu sản xuất khu vực này là lúa-trái cây-thủy sản, nhưng sau 2020, trục sản xuất sẽ là thủy sản-trái cây-lúa. Như vậy lúa sẽ giảm, tăng trái cây, đặc biệt là thủy sản.

Muốn xoay được trục này phải tận dụng được cơ hội, phải xác định nước ngọt, nước lợ, nước mặn đều là tài nguyên. Cùng với đó, hạ tầng nông nghiệp phải phục vụ được nhiệm vụ này. Chính vì thế hạ tầng thủy lợi phải đáp ứng được yêu cầu của tái cơ cấu nông nghiệp, quy hoạch thủy lợi phải đáp ứng được cả sản xuất và sinh hoạt. Thủy lợi phải đa mục tiêu chứ không chỉ là tưới tiêu.

Sẽ có nhiều công trình được đầu tư theo hướng điều tiết mặn, ngọt bằng giải pháp là các cống đóng mở chủ động. Việc điều tiết này sẽ góp phần hạn chế việc lấy nước từ nước ngầm, tránh tác động đến sụt lún. Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã có quyết định thành lập Tổ tiền phương phòng chống hạn hán, thiếu nước và xâm nhập mặn mùa khô năm 2019-2020 ở Đồng bằng sông Cửu Long.

Theo Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp, Tổ có 3 nhiệm vụ chính. Đó là Tổ phải nắm được thực trạng để từ đó đưa ra các quyết sách. Tổ sẽ phối hợp, hỗ trợ các tỉnh vì trong tổ rất nhiều chuyên gia để bàn các giải pháp trước mắt và lâu dài về cả công trình và phi công trình. Tổ sẽ đề xuất với Bộ để Bộ đề xuất với Chính phủ những giải pháp, hỗ trợ kịp thời, khẩn cấp nhằm đảm bảo mục tiêu không để xảy ra thiệt hại sản xuất, không để người dân không có nước ngọt.

Ngoài ra, Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng tăng cường dự báo, cung cấp các bản tin nhận định về tình hình khí tượng thủy văn, tình hình hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn cho các cơ quan liên quan và các địa phương để chỉ đạo sản xuất phù hợp với điều kiện nguồn nước và chủ động thực hiện các biện pháp phòng, chống hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn./.

K.V

Nguồn: ĐCSVN

False
Long Xuyên nỗ lực phát triển để xứng tầm là đô thị trung tâm của tỉnhBài viếtTGAGLong Xuyên nỗ lực phát triển để xứng tầm là đô thị trung tâm của tỉnh/XDDImages/2020-02/Long-Xuyen-Bac-Ton_Key_06022020100538.jpg

(TUAG)- Thành phố Long Xuyên là trung tâm chính trị - kinh tế - văn hóa và xã hội của tỉnh An Giang. Trong những năm qua, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố Long Xuyên đã tập trung mọi nguồn lực để xây dựng thành phố quê hương Bác Tôn ngày thêm giàu đẹp, văn minh. Đến nay, Long Xuyên đã phát triển khá toàn diện, cơ bản đáp ứng các tiêu chí, chỉ tiêu của đô thị loại I.

06/02/2020 10:00 SAYesĐã ban hành

Long-Xuyen-Bac-Ton.jpg

Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân trong 20 năm qua đạt từ 12,5 - 13%; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng thương mại - dịch vụ và công nghiệp ngày càng chiếm tỷ trọng cao, thu ngân sách mỗi năm bình quân tăng từ 10% trở lên; riêng năm 2019, thu ngân sách Nhà nước đạt trên 1.288 tỷ đồng và là địa phương đầu tiên của tỉnh tự cân đối thu – chi ngân sách.

Công tác quy hoạch, phát triển đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng được thành phố tập trung thực hiện, như: Đầu tư xây dựng hoàn chỉnh cụm công nghiệp Mỹ Quý, đang hình thành cụm công nghiệp Bình Đức và kêu gọi đầu tư khu công nghiệp Vàm Cống cùng cụm tiểu thủ công nghiệp Tây Huề; nâng cấp đồng bộ 168 tuyến đường đô thị, hoàn thành Phố đi bộ Hai Bà Trưng – Nguyễn Huệ; chỉnh trang đường Trần Hưng Đạo; đấu nối hoàn thiện các tuyến đường nội ô: Lý Thái Tổ (nối dài), Ung Văn Khiêm (mở rộng),... thực hiện 2 dự án từ nguồn vốn ODA là dự án thu gom và xử lý nước thải và dự án nâng cấp, mở rộng và phát triển đô thị. Đặc biệt, dự án đường tránh Long Xuyên được tập trung triển khai với tổng kinh phí trên 2.000 tỷ đồng, đây là một trong những dự án lớn nhất từ trước đến nay được triển khai trên địa bàn thành phố.

Bên cạnh đó, thành phố cũng tăng cường công tác mời gọi đầu tư, tạo điều kiện tốt nhất để các doanh nghiệp triển khai thực hiện dự án. Đến nay, có nhiều doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh đã triển khai các dự án thương mại, dịch vụ và hạ tầng đô thị, như: Khu đô thị Sao Mai, Khu đô thị Golden City, Khu đô thị Diamond City (Tây Sông Hậu), Khu đô thị mới Tây Nam, đường giải thoát giao thông khu dân cư Nam Trà Ôn, khu đô thị mới FLC An Giang, dự án đầu tư du lịch nghỉ dưỡng cồn Phó Ba (xã Mỹ Hòa Hưng), khu vui chơi giải trí Mỹ Khánh… với tổng vốn đăng ký đầu tư hàng chục ngàn tỷ đồng, tạo tiền đề quan trọng cho sự phát triển nhanh, bền vững.

Lĩnh vực văn hóa – xã hội có nhiều chuyển biến tích cực; công tác chăm lo cho các gia đình chính sách, người có công với cách mạng, các đối tượng bảo trợ xã hội được thực hiện đầy đủ và kịp thời. Trong thời gian qua, thành phố đã tập trung mọi nguồn lực để thực hiện các chính sách an sinh xã hội, nổi bật là việc tạo quỹ đất, xây dựng các khu dân cư Đại đoàn kết cho hộ nghèo không có đất ở. Đến nay, đã xây dựng được 13 Khu Dân cư (317 nền), tạo điều kiện thuận lợi để người nghèo có chỗ ở ổn định; công tác đào tào nghề và giải quyết việc làm luôn được thành phố quan tâm thực hiện, năm 2019 đã đào tạo nghề cho trên 4,1 ngàn lao động, giải quyết việc làm cho trên 6,9 ngàn lao động (vượt chỉ tiêu đã đề ra), trong đó, có 64 lao động đi làm việc ở nước ngoài.

 Công tác giáo dục – đào tạo tiếp tục được quan tâm đầu tư về cơ sở vật chất, đến nay, có 34/56 trường được công nhận đạt chuẩn Quốc gia, hiện đang đề nghị tỉnh công nhận mới 4 trường. Công tác khuyến học, khuyến tài được các ngành, các địa phương chung tay vận động để các em có điều kiện đến trường học tập. Công tác phòng, chống dịch bệnh tiếp tục được tăng cường; Tỷ lệ người dân tham gia BHYT đạt tỷ lệ 88,2% dân số. Công tác đào tạo nguồn nhân lực được tập trung thực hiện, trình độ, năng lực đội ngũ cán bộ công chức thành phố ngày càng nâng cao…

 Trong thời gian tới, thành phố Long Xuyên sẽ tiếp tục tập trung mọi nguồn lực để triển khai thực hiện có hiệu quả các chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố đã đề ra, trong đó tập trung huy động mọi nguồn lực để chỉnh trang, nâng cấp đô thị; đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế và hạ tầng xã hội, quyết tâm xây dựng thành phố Long Xuyên đạt đô thị loại I trực thuộc tỉnh vào năm 2020, xứng tầm là đô thị trung tâm của tỉnh./.


PHẠM THÀNH THÁI

Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy,

Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND TP. Long Xuyên


True
 Vượt qua khó khăn, đưa kinh tế - xã hội An Giang phát triển nhanh, bền vững Bài viết Vượt qua khó khăn, đưa kinh tế - xã hội An Giang phát triển nhanh, bền vững /XDDImages/2020-01/Ng-thanh-Binh_Key_24012020143523.png

​(TUAG)- Nhân dịp đầu năm mới và đón Tết cổ truyền Canh Tý của dân tộc, đồng chí Nguyễn Thanh Bình, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh đã dành thời gian trả lời phỏng vấn về những kết quả đạt được trong năm vừa qua và quyết tâm của tỉnh thực hiện mục tiêu phát triển trong năm 2020.

24/01/2020 3:00 CHYesĐã ban hành

PV: Thưa đồng chí, năm 2019 đã qua, tuy có nhiều khó khăn nhưng tỉnh An Giang đạt được những thành tựu hết sức nổi bậc trong phát triển kinh tế - xã hội, trong đó 13/13 chỉ tiêu HĐND tỉnh giao  đều đạt và vượt. Xin đồng chí làm rõ thêm những thành tựu trên!

Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thanh Bình: Như chúng ta đã biết, năm 2019 vừa qua, trong bối cảnh kinh tế thế giới biến động với chiều hướng tiêu cực, chiến tranh thương mại, xu thế bảo hộ của một số quốc gia đã gây ảnh hưởng đến kinh tế nước ta. Bên cạnh đó, những khó khăn, hạn chế nội tại của nền kinh tế nước ta, địa phương và tình hình thiên tai, biến đổi khí hậu, dịch bệnh,… đã ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống người dân. Tuy nhiên, với sự tập trung lãnh đạo của Tỉnh ủy, chỉ đạo điều hành quyết liệt của UBND tỉnh, giám sát của HĐND tỉnh, cùng sự nỗ lực và đồng thuận của các ngành, các cấp, doanh nghiệp và nhân dân, An Giang đã thực hiện đạt và vượt 13/13 chỉ tiêu Nghị quyết số 21/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh. Trong đó có 08 chỉ tiêu đạt và 05 chỉ tiêu vượt. Đáng chú ý là các chỉ tiêu vượt kế hoạch như tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt 31.887 tỷ đồng; Thu ngân sách từ kinh tế địa bàn đạt 6.700 tỷ đồng; Tỷ lệ hộ nghèo chỉ còn dưới 3%... là những chỉ tiêu rất đáng ghi nhận. Cụ thể, tổng sản phẩm GRDP trên địa bàn ước thực hiện năm 2019 tăng 7,02%; trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 2,65%, khu vực Công nghiệp - Xây dựng tăng 9,40% và khu vực dịch vụ tăng 8,90%. Cơ cấu kinh tế tỉnh ta tiếp tục chuyển biến theo hướng tích cực và dần ổn định.

Về xây dựng nông thôn mới, An Giang đã có 03 đơn vị cấp huyện hoàn thành Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, được Thủ tướng Chính phủ công nhận gồm: huyện Thoại Sơn, thành phố Châu Đốc và thành phố Long Xuyên. Có 61/119 xã đạt chuẩn xã nông thôn mới, đạt tỷ lệ 51,26% và hoàn thành mục tiêu Chương trình sớm hơn 01 năm so với lộ trình, kế hoạch của tỉnh.

Ngành du lịch với các khu du lịch trọng điểm như Núi Sam, Núi Cấm, Trà Sư, Cù Lao Giêng tiếp tục được quan tâm đầu tư, quy hoạch phát triển; hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch phát triển cả về số lượng và chất lượng. Ước cả năm 2019, An Giang đón khoảng 9,2 triệu lượt khách tham quan, du lịch, tăng 8,24% so với cùng kỳ năm 2018. Trong đó, khách quốc tế ước đạt 120 nghìn lượt, doanh thu từ hoạt động du lịch ước đạt 5.500 tỷ đồng.

Hơn 30 ngàn lao động tạo công ăn việc làm ổn định. Đặc biệt có 430 lao động đi xuất khẩu lạo động tại các quốc gia phát triển như Nhật Bản 292 lao động, Đài Loan 100 lao động, Hàn Quốc 21 lao động. Tiếp tục tổ chức và thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, dự án chương trình giảm nghèo trên địa bàn tỉnh; các chính sách hỗ trợ về tín dụng, giáo dục, y tế... cho người nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội.

PV: Để đạt được các thành tựu trên, đâu là mấu chốt giúp tỉnh ta vượt qua những thách thức bất lợi cả khách quan lẫn chủ quan?

Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thanh Bình: Bên cạnh những thành tựu phát triển như trình bày trên thì chúng ta đã phải vượt qua rất nhiều thách thức. Đó là giá cả các mặt hàng chủ lực (lúa, cá tra) thiếu ổn định, thường duy trì ở mức thấp. Tình hình thời tiết diễn biến phức tạp, giông lốc, sạt lở bờ sông ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống nhân dân; khai thác khoáng sản trái phép và chưa tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường vẫn còn tiếp diễn. Dịch bệnh trên người (sốt xuất huyết, tay chân miệng) xảy ra tăng so cùng kỳ. Đặc biệt là xuất hiện dịch tả heo Châu Phi làm gia tăng nổi lo người tiêu dùng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến ngành chăn nuôi của tỉnh và ổn định giá cả thị trường nhất là giá thịt heo dịp cuối năm. Công tác phòng, chống tội phạm có giảm, nhưng có lúc, có thời điểm còn xảy ra nhiều vụ phức tạp. Tình trạng xâm hại trẻ em, ma túy, tín dụng đen diễn ra phức tạp gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn tỉnh.

Và để vượt qua những thách thứ đó, UBND tỉnh trong công tác chỉ đạo luôn đề cao vai trò giám sát của HĐND trong quá trình điều hành phát triển kinh tế - xã hội; phối hợp trong việc lấy ý kiến nhân dân, tích cực tham gia công tác phản biện xã hội đối với những vấn đề lớn của HĐND, UBND tỉnh. UBND tỉnh cũng chỉ đạo các cơ quan chuyên môn giải quyết kịp thời những vấn đề bức xúc của nhân dân, những kiến nghị chính đáng của cử tri, đại biểu HĐND tỉnh trước và sau các kỳ họp, những nội dung phản ánh của các tổ chức đoàn thể, mặt trận; khắc phục kịp thời những khuyết điểm, thực hiện có hiệu quả công tác điều hành đạt và vượt các chỉ tiêu phát triển đã đề ra.

PV: Thời gian qua, nhất là sau hội nghị xúc tiến đầu tư, An Giang đã trở thành điểm đế n của nhiều nhà đầu tư lớn trong lẫn ngoài nước, nhất là các nhà đầu tư chiến lược, xin đồng chí cho biết thêm những thành tựu nổi bậc trong thu hút đầu năm qua cũng như thời gian tới.

Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thanh Bình: Thời gian vừa qua, nhất là sau khi Hội nghị Xúc tiến đầu tư tỉnh An Giang được tổ chức thành công năm 2018, đến nay có nhiều doanh nghiệp lớn trong tỉnh, ngoài tỉnh và ngoài nước, nhất là các nhà đầu tư chiến lược đã quan tâm nghiên cứu và đầu tư trên địa bàn tỉnh An Giang. Trong năm 2019, có 76 dự án đăng ký đầu tư mới, trong đó, có 02 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài và 74 dự án đầu tư trong nước, với tổng vốn đăng ký là 17.636 tỷ đồng.

Với sự vào cuộc quyết liệt của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, các sở, ban, ngành tỉnh và các địa phương, cũng như sự nỗ lực, tập trung của các Nhà đầu tư, trong năm 2019 đã có nhiều dự án lớn được hoàn thành, đưa vào hoạt động như: Nhà máy điện mặt trời Sao Mai (giai đoạn 1), Nhà máy điện mặt trời Văn Giáo 1 và Văn Giáo 2, Siêu thị Coopmart Thoại Sơn, Khu sản xuất giống thủy sản công nghệ cao ở Tân Châu của Công ty Cá tra Việt Úc,…

Bên cạnh đó, nhiều dự án đã được UBND tỉnh cấp chủ trương đầu tư, đang trong giai đoạn hoàn chỉnh quy hoạch chi tiết, giải phóng mặt bằng và thực hiện các thủ tục tiếp theo, dự kiến sẽ khởi công vào những tháng đầu năm 2020, như: Nhà máy điện mặt trời Sao Mai giai đoạn 2, Khu đô thị Nam thành phố Long Xuyên (của Tập đoàn FLC), Khu đô thị mới Tây Nam thành phố Long Xuyên (của Cty 620 TP.HCM), Khu đô thị mới Bình Khánh và Khu đô thị mới Vàm Cống (của Tập đoàn T&T), dự án Chăn nuôi bò sữa và chế biến sữa tập trung (của Tập đoàn TH), Trung tâm Thương mại Dịch vụ Kết hợp Căn hộ Cao cấp (của Tập đoàn Phú Cường),…

Đồng thời, một số dự án lớn khác cũng đã được Nhà đầu tư thực hiện khảo sát, nghiên cứu, đang trong quá trình hoàn chỉnh quy hoạch và thủ tục đầu tư tiếp theo như: Tổ hợp Khách sạn 5 sao, Trung tâm thương mại và Shophouse, Khu đô thị du lịch Mỹ Hòa Hưng, Khu Công nghiệp Vàm Cống, Khu Công nghiệp Hội An, Vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại Thoại Sơn,…

Ngoài các dự án đã được ký kết hợp tác tại Hội nghị Xúc tiến đầu tư năm 2018, trong năm 2019, UBND tỉnh cũng đã tiếp các doanh nghiệp trong và ngoài nước đến An Giang để nghiên cứu đầu tư các dự án lớn như: Khu công nghiệp thông minh Hàn Quốc tại Khu công nghiệp Xuân Tô, huyện Tịnh Biên; các Nhà máy nhiệt điện đốt bằng nhiên liệu cây Cao lương sinh khối; Khu du lịch Núi Cấm,…

Trong năm 2020, UBND tỉnh cùng các sở, ban, ngành tỉnh sẽ tiếp tục theo dõi, hỗ trợ các Nhà đầu tư để sớm triển khai xây dựng, đưa dự án vào khai thác, phát huy hiệu quả các dự án, góp phần phát triển kinh tế - xã hội tỉnh nhà. Tôi tin rằng, với sự cam kết đồng hành với doanh nghiệp của Lãnh đạo tỉnh, cùng với môi trường đầu tư ngày càng thông thoáng, thuận lợi và minh bạch, trong thời gian tới sẽ có nhiều nhà đầu tư chiến lược với các dự án lớn sẽ được triển khai trên địa bàn tỉnh An Giang.

PV: Trong kỳ họp Ban chấp hành Tỉnh ủy vừa qua, cũng như phiên họp HĐND tỉnh An Giang cuối năm 2019, chúng ta một lần nữa đặt ra vấn đề phải xem xét lại những mũi nhọn kinh tế cũng như lợi thế so sánh của An Giang. Đồng chí có thể chia sẻ thêm về vấn đề này.

Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thanh Bình: Lần đầu tiên khẳng định là không phải đến thời điểm này chúng ta mời đặt ra việc xem xét lại những lợi thế so sánh riêng biệt của An Giang trong việc xác định mũi nhọn cho phát triển kinh tế tỉnh ta mà thời gian qua, Tỉnh ủy, Ban cán sự Đảng UBND tỉnh cũng đã nhiều lần đặt ra vấn đề trên để định hướng phát triển, cũng như hoạch định cơ cấu kinh tế địa phương. An Giang vẫn xác định nông nghiệp là cốt lõi trong cơ cấu kinh tế. Theo đó, An Giang sẽ phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững, tăng trưởng hợp lý, sản xuất hàng hóa lớn trên cơ sở tái cơ cấu ngành, sản phẩm gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng theo chiều sâu, nâng cao hàm lượng chất xám và sức cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp cùng với việc nâng cao giá trị canh tác và thu nhập của nông dân. Tiếp tục triển khai thực hiện Nghị quyết 09-NQ/TU của Tỉnh ủy, Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp; triển khai các gói hỗ trợ kỹ thuật, tài chính, thị trường cho các sản phẩm chủ lực. Đưa các sản phẩm nông nghiệp có lợi thế của tỉnh tiếp cận các hệ thống phân phối trong và ngoài nước.

Hỗ trợ cho các doanh nghiệp xây dựng và mở rộng vùng nguyên liệu, kết hợp đầu tư nhà máy sơ chế, kho bảo quản, tồn trữ sản phẩm gần vùng nguyên liệu. Đồng thời, thực hiện các chính sách ưu đãi, khuyến khích đối với Hợp tác xã, Tổ hợp tác tham gia vào mô hình liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm theo quy định của Chính phủ và Nghị quyết Hội đồng nhân dân tỉnh. Thực hiện chuyển dịch đất lúa kém hiệu quả sang những loại cây hoa màu có giá trị kinh tế cao hơn. Triển khai tái cơ cấu ngành hàng lúa gạo 2016-2020, thay đổi cơ cấu giống lúa gieo trồng theo hướng tăng những giống lúa chất lượng cao có thương hiệu được doanh nghiệp bao tiêu với giá mua được đặt trước.

Phát huy vai trò của khoa học - công nghệ với doanh nghiệp là trung tâm; đẩy nhanh quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu dựa vào ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất lao động và quản lý, sử dụng và phát huy các nguồn lực của nền kinh tế. Ưu tiên đầu tư các nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao công nghệ nhằm tăng cường hàm lượng khoa học và công nghệ trong các sản phẩm chủ lực của tỉnh, tạo nhiều sản phẩm mới, sản phẩm có giá trị gia tăng cao.

Đối với du lịch, An Giang sẽ phát triển du lịch thành kinh tế mũi nhọn theo hướng nâng cao chất lượng dịch vụ, tập trung đầu tư cơ sở vật chất - kỹ thuật đồng bộ, hiện đại và phát triển các sản phẩm có chất lượng cao, đa dạng, có thương hiệu, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc. Đẩy mạnh công tác xúc tiến, quảng bá du lịch An Giang trong và ngoài nước; Triển khai cổng thông tin du lịch và triển khai App du lịch thông minh để du khách dễ dàng tra cứu, tìm hiểu về du lịch An Giang. Khai thác hợp lý các nguồn lực phát triển du lịch theo hướng bảo vệ môi trường nhằm phát triển bền vững; Chủ động thực hiện liên kết vùng trong phát triển du lịch, nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch để tăng lượng khách du lịch đến An Giang. Đẩy mạnh đào tạo, thu hút nguồn nhân lực du lịch theo tiêu chuẩn chất lượng chung của cả nước và từng bước tiếp cận với các tiêu chuẩn quốc tế.

Thực hiện hiệu quả công tác chấn chỉnh hoạt động kinh doanh khách sạn, lữ hành, các khu - điểm du lịch. Bên cạnh đó, giải quyết triệt để nạn ăn xin, chèo kéo, đeo bám du khách nhằm đảm bảo an ninh trật tự, an toàn tính mạng, tài sản cho du khách; Bảo vệ môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm, văn minh thương mại, bảo vệ lợi ích hợp pháp của khách du lịch. Đưa An Giang trở thành một trong những trung tâm du lịch vùng Đồng bằng sông Cửu Long cũng như cả nước.

PV: Chân thành cảm ơn đồng chí! Chúc tỉnh An Giang đạt nhiều thành tựu cao hơn nữa trong năm 2020 và giai đoạn tiếp theo.


Bảo Trị (thực hiện)
True
Chào Xuân 2020: Thị xã Tân Châu với nhiều khởi sắc và triển vọng mớiBài viếtChào Xuân 2020: Thị xã Tân Châu với nhiều khởi sắc và triển vọng mới/XDDImages/2020-01/Tan-Chau-ktxh-2019-3_Key_19012020103338.jpg

(TUAG)- Chào Xuân Canh Tý 2020, thị xã Tân Châu với nhiều khởi sắc và triển vọng mới, năm qua kinh tế - xã hội của thị xã không ngừng phát triển, an ninh chính trị từ nội địa, đến biên giới được đảm bảo và giữ vững, văn minh đô thị từng bước được chỉnh trang, diện mạo nông thôn mới trên đà khởi sắc, đời sống Nhân dân nâng cao về vật chất, chuyển biến tích cực về tinh thần... 

19/01/2020 11:00 SAYesĐã ban hành
Năm 2019 là năm “nước rút”, có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ "Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020". Bên cạnh những thuận lợi, kinh tế - xã hội thị xã cũng đối mặt với một số thách thức, nhất là chịu ảnh hưởng thiên tai giông lốc, sạt lở, biến đổi khí hậu, thời tiết bất lợi đã tác động lên đời sống và hoạt động sản xuất của Nhân dân,... Nhưng với sự tập trung lãnh đạo của Thị ủy, chỉ đạo điều hành quyết liệt của UBND thị xã, giám sát của HĐND thị xã, cùng sự nỗ lực và đồng thuận của các ngành, các cấp, doanh nghiệp và sự đồng lòng của Nhân dân, kinh tế - xã hội của thị xã tiếp tục thu được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Đây là tiền đề, là động lực để thị xã Tân Châu tiếp tục tạo nên những đột phá trong năm mới, lập thành tích chào mừng Đại hội Đảng các cấp và Đại hội lần XIII của Đảng.


Đô thị Tân Châu nhìn từ trên cao

Năm 2019, kinh tế - xã hội của thị xã bức phá đậm nét, đạt kết quả khá toàn diện trên các mặt, nhiều lĩnh vực chuyển biến rõ nét hơn, tăng trưởng cao hơn năm trước, ước đạt và vượt toàn bộ 14/14 chỉ tiêu HĐND thị xã giao. Kinh tế tiếp tục ổn định, 3 khu vực đều tăng trưởng, từ đó giúp đời sống người dân không ngừng tăng lên, thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình ước đạt 52 triệu đồng, tăng 1,15 lần so với năm 2015. Cụ thể, tổng sản phẩm trên địa bàn GRDP (theo giá so sánh 2010) tăng 8,18%; theo giá hiện hành tăng 10,62%; trong đó: Khu vực nông, lâm, thủy sản, tăng 1,75%; khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 16,97%; khu vực dịch vụ tăng 8,45%. Cơ cấu kinh tế: Khu vực 1: 21,19%, Khu vực 2: 17,95%, khu vực 3: 60,68%. Hoạt động thương mại - dịch vụ tiếp tục phát triển, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tiếp tục đạt tốc độ tăng cao so với cùng kỳ năm trước, đạt trên 7.500 tỷ đồng (tăng 12,19%); doanh thu dịch vụ ăn uống, lưu trú đạt trên 1.300 tỷ đồng, so cùng kỳ tăng 11,03%, đạt 115,99% kế hoạch năm. Tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu qua cửa khẩu Vĩnh Xương đạt trên 600 triệu USD; tăng 9,34% so với năm 2018; trong đó, kim ngạch xuất khẩu đạt trên 580 triệu USD, kim ngạch nhập khẩu trên 20 triệu USD. Các loại hình dịch vụ tài chính - tín dụng, vận tải, nhà hàng - khách sạn có mức tăng trưởng cao. Hoạt động du lịch phát triển, số lượng khách du lịch trong nước và quốc tế tăng hàng năm. Giá trị sản xuất công nghiệp ước cả năm thực hiện được trên 2.700 tỷ đồng, tăng 18,42% so năm 2018.


Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc dự cắt băng khánh thành Công ty cổ phần cá tra Việt Úc

Một trong những điểm nhấn trong “bức tranh” kinh tế của thị xã Tân Châu năm 2019 là, thị xã thực hiện nhất quán chủ trương quy hoạch lại vùng sản xuất gắn với đề án tái cơ cấu nông nghiệp và sản xuất theo hướng ứng dụng công nghệ cao. Vì vậy, sản xuất nông nghiệp của thị xã không ngừng phát triển, theo hướng đổi mới quy trình sản xuất, nâng cao năng suất và chất lượng. Giá trị sản xuất nông nghiệp trên 1 héc ta ước đạt 180 triệu đồng/năm. Nhiều mô hình sản xuất theo hướng công nghệ cao đã mang lại hiệu quả kinh tế cao. Hệ thống kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn từng bước được đầu tư nâng cấp, xây mới tương đối hoàn chỉnh, đồng bộ phù hợp với yêu cầu đổi mới của nền sản xuất nông nghiệp.

Đặc biệt, rõ nét nhất trong chỉnh trang đô thị và xây dựng nông thôn mới của thị xã là sự đồng thuận, tham gia của Nhân dân trên địa bàn. Đến nay, toàn thị xã có 04 xã Long An, Phú Vĩnh, Tân An và Châu Phong đạt chuẩn “Xã nông thôn mới” và 02 phường Long thạnh, Long Hưng đạt chuẩn “phường Văn minh đô thị”, phường Long Châu cũng vừa hoàn thành các tiêu chuẩn của phường văn minh đô thị vào cuối năm 2019. Nhiều công trình trọng điểm đã và đang được thi công và đưa vào sử dụng góp phần tạo nên bộ mặt mới cho đô thị trong giai đoạn phát triển và hội nhập như: bến phà Tân Châu - Hồng Ngự, tuyến dân cư Kênh Vĩnh An, cầu Tân An, đường kênh Thần Nông, lộ sau sông Tiền, nâng cấp mở rộng đường Nguyễn Tri Phương, đường Tôn Đức Thắng, đường Nguyễn Công Nhàn, tỉnh lộ 953...

Các lĩnh vực văn hoá - xã hội của thị xã tiếp tục phát triển, từng bước kết hợp hài hoà với tăng trưởng kinh tế. Các hoạt động văn hóa thông tin, thể dục, thể thao từng bước phát triển và đáp ứng nhu cầu hưởng thụ của nhân dân trên địa bàn. Hệ thống cơ sở vật chất, chất lượng đội ngũ giáo viên được tăng cường theo hướng chuẩn hoá, tính đến cuối năm học 2018 - 2019 có 20/57 trường được UBND tỉnh công nhận đạt chuẩn quốc. Sự nghiệp giáo dục và đào tạo phát triển ổn định, vững chắc, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THPT đạt 99,93 và đứng hàng thứ 3 toàn tỉnh năm 2019. Hệ thống y tế từ thị xã đến cơ sở từng bước được củng cố và phát triển; chất lượng dịch vụ khám, chữa bệnh tiếp tục được cải thiện; công tác phòng chống dịch bệnh, bảo đảm an toàn thực phẩm, kế hoạch hóa gia đình,… được quan tâm chỉ đạo, thực hiện có hiệu quả. Tỷ lệ tham gia BHYT đạt 79,36%. Đến nay, trên địa bàn thị xã có 124 cơ sở y tế, trong đó có: 20 cơ sở khám chữa bệnh công lập với tổng số 259 giường bệnh (khu vực nội thị) và 115 cơ sở khám chữa bệnh ngoài công lập; 1 Bệnh viện đa khoa khu vực có quy mô 190 giường bệnh. Công tác giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa đạt nhiều kết quả tích cực. Các chế độ, chính sách cho các đối tượng chính sách, hộ nghèo, hộ khó khăn, đối tượng bảo trợ xã hội được thực hiện nghiêm túc, đầy đủ. Tỷ lệ hộ nghèo năm 2019 giảm 3,34%, đưa tỷ lệ hộ nghèo của thị xã giảm còn 2,32%.
Công tác quốc phòng - an ninh, giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội luôn được thị xã quan tâm củng cố. Mối quan hệ hữu nghị hợp tác và phát triển giữa Chính quyền và Nhân dân 02 địa phương Tân Châu và quận Lécdéc, tỉnh Kandal, Vương quốc Campuchia được duy trì và phát triển, góp phần xây dựng tuyến biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho Nhân dân hai nước qua lại mua bán và trao đổi hàng hóa. Công tác xây dựng khu vực phòng thủ, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân từng bước được nâng chất. Công tác cải cách hành chính luôn được quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo theo hướng giảm phiền hà, tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp, chống nhũng nhiễu, tiêu cực. Kết quả xếp hạng chỉ số cải cách hành chính đã được cải thiện đáng kể, từ vị trí thứ 10 vươn lên xếp thứ 3 toàn tỉnh. Thực hiện nghiêm túc các quy định giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông. Tỷ lệ hồ sơ giải quyết đúng hạn trên tổng số hồ sơ tiếp nhận đạt trên 98%.



Đô thị Tân Châu vào xuân


Năm 2020, là năm cuối thực hiện kế hoạch 5 năm 2016 - 2020, cũng là năm tiến hành Đại hội Đảng các cấp, là năm có ý nghĩa quan trọng trong việc đẩy mạnh thực hiện các mục tiêu đã đề ra. Bên cạnh những thời cơ, thuận lợi là cơ bản, đồng thời cũng đan xen những khó khăn, thách thức đòi hỏi các cấp, các ngành phải nỗ lực đổi mới, chủ động các giải pháp, quyết tâm hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020. Trên tinh thần đó, các ngành, các cấp cần xác định rõ nhiệm vụ, yêu cầu để từ đó xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2020 theo hướng tích cực, phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế và điều kiện để duy trì tăng trưởng kinh tế, nhằm góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của địa phương.

Với mục tiêu phát triển kinh tế đi đôi với phát triển toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực văn hóa, xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân; tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai, ứng phó biến đổi khí hậu. Đẩy mạnh cải cách hành chính, tinh gọn bộ máy, tinh giản biên chế; nâng cao hiệu lực, hiệu quả chỉ đạo điều hành và thực thi pháp luật; quyết liệt phòng chống tham nhũng, lãng phí; xây dựng bộ máy liêm chính, hành động, phục vụ người dân, doanh nghiệp. Thực hiện tốt các chính sách về giảm nghèo, đào tạo nghề, giải quyết việc làm. Củng cố quốc phòng, an ninh, bảo đảm trật tự an toàn xã hội; duy trì mối quan hệ hữu nghị, hợp tác và phát triển với huyện Lekdek, tỉnh Kandal, Campuchia. Tăng cường công tác thông tin truyền thông, tạo đồng thuận xã hội trong thực hiện các phong trào hành động cách mạng của địa phương.

Để sớm hoàn thành các chỉ tiêu, mục tiêu trên, thị xã Tân Châu đã đề ra nhiều giải pháp trọng tâm để thực hiện. Cụ thể là tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu và phát triển kinh tế biên mậu để trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Xây dựng, phát triển ngành nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá, bền vững, đồng thời thực hiện có hiệu quả chương trình xây dựng nông thôn mới để tạo thế ổn định, vững chắc cho sự phát triển chung của thị xã. Quan tâm, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, tiếp tục đầu tư, cải tạo nâng cấp hệ thống kết cấu hạ tầng then chốt. Nhất là, khẩn trương xây dựng hoàn thành các công trình trọng điểm quan trọng như: các hạn mục khu kinh tế Cửa khẩu Vĩnh Xương; dự án chỉnh trang đô thị khu vực ô nhiễm môi trường vùng trũng phường Long Hưng; nâng cấp mở rộng tỉnh lộ 953, 952; nâng cấp bến phà Tân Châu - Hồng Ngự, Cảng Tân Châu, cầu Tân Châu - Hồng Ngự; cầu Tân Châu - Châu Đốc, xây dựng tuyến N1 đoàn tuyến Tân Châu - Châu Đốc; lộ sau sông Tiền giai đoan II; đầu tư xây dựng các cụm - tuyến dân cư;  nâng cấp mở rộng đầu tư xây dựng nhà máy xử lý rác thải Vĩnh Hòa; tập trung triển khai thực hiện đầu tư các công trình: Nhà Thi đấu đa năng, Nhà Thiếu nhi, Thư viện thị xã, xây dựng hoàn thành hệ thống tuyến phố văn minh,… để đảm bảo các tiêu chuẩn đô thị loại III theo đề án nâng đô thị thị xã Tân Châu lên đô thị loại III.

Bên cạnh, thị xã tập trung phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng môi trường đầu tư hấp dẫn, thông thoáng, nâng cao khả năng hội nhập. Phát triển toàn diện lĩnh vực văn hoá, giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội, củng cố sự đồng thuận xã hội, tạo động lực tinh thần cho quá trình phát triển của thị xã. Xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực, sức chiến đấu của tổ chức Đảng và đảng viên. Xây dựng, củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân và khu vực phòng thủ. Tiếp tục duy trì, phát huy tình đoàn kết hữu nghị với chính quyền và nhân dân huyện Lecdec, tỉnh Candal, Vương Quốc Campuchia, kịp thời phối hợp giải quyết ổn thỏa tình hình ở khu vực biên giới.

Nhìn lại năm qua, kinh tế - xã hội của thị xã Tân Châu không ngừng phát triển, an ninh chính trị từ nội địa, đến biên giới được đảm bảo và giữ vững, văn minh đô thị từng bước được chỉnh trang, diện mạo nông thôn mới trên đà khởi sắc, đời sống Nhân dân nâng cao về vật chất, chuyển biến tích cực về tinh thần. Và có lẻ niềm vui lớn nhất của Đảng bộ, Chính quyền và Nhân dân thị xã trong năm 2019, chính là thị xã Tân Châu được Bộ Xây dựng công nhận đạt đô thị loại III theo Quyết định 1060 ngày 19/12/2019.

Những kết quả đó, niềm tin đó, đã minh chứng rõ nét cho sự đoàn kết, thống nhất, đồng lòng của Đảng bộ, Chính quyền và Nhân dân trong toàn thị xã. Dù còn nhiều khó khăn, thách thức ở phía trước, nhưng với những giải pháp trọng tâm, triển khai đồng bộ, thị xã Tân Châu tiếp tục phát huy nội lực, khai thác tối đa các nguồn lực và sẽ không khó để thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ chính trị mà Đại hội Đảng bộ thị xã lần thứ XI, nhiệm kỳ 2015 - 2020 đề ra, qua đó, xây dựng quê hương xứ lụa Tân Châu ngày càng phát triển nhanh và bền vững, xứng tầm là một trong 3 trung tâm kinh tế của tỉnh An Giang./.

Bài, ảnh: Văn Phô
True
Châu Phú triển khai nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội năm 2020TinChâu Phú triển khai nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội năm 2020/SiteAssets/CP-trien-khai-2020.jpg

(TUAG)- Ngày 17/01/2020, UBND huyện Châu Phú tổ chức hội nghị triển khai Nghị quyết của HĐND huyện về nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội năm 2020 và chương trình công tác của UBND huyện. Hội nghị được trực tuyến đến các điểm cầu xã, thị trấn trên địa bàn huyện; Bí thư, Chủ tịch UBND huyện Trần Thanh Nhã chủ trì hội nghị.

18/01/2020 4:00 CHNoĐã ban hành

CP-trien-khai-2020.jpg

Năm 2019; tổng diện tích gieo trồng là 96.497 héc ta, đạt 99,3% nghị quyết; sản lượng lương thực đạt 588.864 tấn, đạt 100%; vân động chuyển đổi đất trồng lúa kém hiệu quả sang vườn cây ăn trái được 1.081 héc ta; có 05 tổ hợp tác, hợp tác xã sản xuất rau an toàn với diện tích 9,61 héc ta; thực hiện 03 dự án nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao với diện tích 1.156,22 héc ta; thực hiện 15 công trình cầu, cống; nâng cấp 18 tuyến đường, chiều dài 49,8km, tổng kinh phí trên 84,8 tỷ đồng; thực hiện kế hoạch lập lại trật tự lòng, lề đường, vỉa hè và quản lý xây dựng đã tổ chức tháo dỡ, di dời 1.000 mái che, liều trại, biển quảng cáo, chặt mé trên 5.000 cây xanh che khuất tầm nhìn; phát triển mới 166 cơ sở kinh doanh; đầu tư xây dựng 85 công trình với tổng vốn đầu tư trên 1.161 tỷ đồng; tổng thu ngân sách nhà nước đạt 127,7 tỷ đồng đạt 129,44%. , tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; giáo dục, y tế, văn hóa đầu tư phát triển. 

Năm 2020, trên cơ sở những kết quả đạt được, huyện Châu Phú tiếp tục phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế, khai thác hiệu quả các nguồn lực để phát triển kinh tế, phát triển sản xuất nông nghiệp thông qua việc ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất, tăng cường các biện pháp phòng ngừa dịch bệnh; nâng cao chất lượng khám và điều trị bệnh; tiếp tục kêu gọi đầu tư; tăng cường công tác cải cách hành chính; thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội,...với một số chỉ tiêu cụ thể như: thu nhập bình quân đầu người đạt 62 triệu đồng/người/năm; vốn đầu tư phát triển  6.400 tỷ đồng; thu ngân sách nhà nước 101,1 tỷ đồng; tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng 9,32%; bảo hiểm y tế toàn dân 88,07%; tỷ lệ huy động trẻ đến trường đạt từ 98% trở lên; giảm tỷ lệ hộ nghèo 0,67%/năm.

Phát biểu chỉ đạo, Chủ tịch UBND huyện đề nghị: “Trên cơ sở những kết quả đạt được, năm 2020 đề nghị các ngành, đoàn thể cần thực hiện những công việc sau: Thực hiện nghiêm những nghị định mới có hiệu lực từ đầu năm 2020; tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện nghiêm kế hoạch lập lại trật tự lòng, lề đường, vỉa hè và quản lý xây dựng trên địa bàn, kiên quyết xử lý các hành vi lấn chiếm hành lang lộ giới; đối với các xã có các dự án yêu cầu giải ngân trước tết; thực hiện tốt trật tự kỷ cương hành chính nhất là công tác tiếp công dân của Chủ tịch UBND xã; tiếp tục đẩy mạnh và nhân rộng các vùng dự án hiệu quả; thực hiện chủ trương sản xuất 03 năm 8 vụ năm 2020; quản lý tốt và xử lý nghiêm các cơ sở, lấn chiếm đất công; tăng cường nắm chắc tình hình học sinh bỏ học trước và sau tết đồng thời giảm bớt các hoạt động văn hóa, thể thao mang tính hình thức”.

Nhẫn Nguyễn- Huỳnh Dương

False
Châu Thành triển khai nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2020 TinChâu Thành triển khai nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2020 http://www.angiang.dcs.vn/Imagesnews/2020-01/CT-trienkhai-KTXH-2020-1.jpg

(TUAG)- Chiều ngày 16/1, UBND huyện Châu Thành tổ chức Hội nghị triển khai kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh và phát động phong trào thi đua năm 2020. Đồng chí Phan Văn Cường - Phó Bí thư, Chủ tịch UBND huyện chủ trì.

17/01/2020 11:00 SANoĐã ban hành
 
Phát động phong trào và ký kết giao ước thi đua năm 2020

Phát huy những thành quả đạt được năm 2019, UBND huyện Châu Thành đề ra 14 chỉ tiêu trong năm 2020, trong đó lĩnh vực kinh tế có 4 chỉ tiêu, lĩnh vực văn hóa, xã hội có 10 chỉ tiêu. Cụ thể, địa phương tiếp tục nhân rộng các mô hình có hiệu quả về nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; đẩy mạnh chuyển dịch từ đất lúa kém hiệu quả sang rau màu, cây ăn trái hiệu quả cao hơn, gắn với thực hiện có hiệu quả chương trình mỗi xã một sản phẩm. Bên cạnh đó, huyện sẽ tập trung vào các chỉ tiêu chủ yếu như: Giá trị sản xuất (GO) giá hiện hành đạt trên 15.377 tỷ đồng. Tập trung chỉ đạo công tác thu ngân sách ngay từ đầu năm. Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn là 574,60 tỷ đồng. Hoàn thiện Đề án huyện nông thôn mới giai đoạn 2021-2025. Xây dựng xã Bình Hòa đạt chuẩn xã Nông thôn mới nâng cao theo Nghị quyết HĐND huyện. Đẩy mạnh sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp phù hợp với điều kiện của huyện; phát triển công nghiệp chế biến nông, thủy sản theo hướng gắn với quy hoạch vùng sản xuất nguyên liệu.

Đối với lĩnh vực văn hóa - xã hội, huyện đề ra các chỉ tiêu cụ thể như: Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục, đảm bảo huy động học sinh, duy trì sỉ số, chống bỏ học. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền vận động nhân dân tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện, tỷ lệ đạt 89%; Phấn đấu tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 2,5%; Đào tạo nghề cho 1.600 lao động; Tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch ở thành thị đạt 99%; Tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch ở nông thôn đạt 87%; Phấn đấu đến năm 2020 trên địa bàn huyện đạt 99,5% hộ sử dụng điện…

Lĩnh vực quốc phòng - an ninh: Duy trì các chế độ trực sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện theo kế hoạch. Xây dựng lực lượng dân quân tự vệ đạt chỉ tiêu trên giao. Thực hiện công tác tuyển quân và giao quân đảm bảo về số lượng và chất lượng. Thực hiện có hiệu quả chương trình quốc gia phòng chống tội phạm của Chính phủ. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý Nhà nước về an ninh trật tự, làm giảm tai nạn giao thông; hạn chế mức thấp nhất các vụ cháy, nổ gây thiệt hại lớn.

Trên lĩnh vực quản lý nhà nước: Năm 2020, UBND huyện tiếp tục thực hiện Chủ đề: “Trách nhiệm - Kỷ cương - Hiệu quả”. Xem đây là phương châm, hành động trong hoạt động quản lý nhà nước của huyện. Tiếp tục xây dựng nền hành chính hiện đại, chuyên nghiệp, tiếp tục rà soát, đơn giản hóa thủ tục hành chính, gắn với ứng dụng công nghệ thông tin.

Phát biểu kết luận, đồng chí Phan Văn Cường, Chủ tịch UBND huyện nhấn mạnh: Năm 2020 là năm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là năm cuối thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 5 năm 2016 - 2020, cũng là năm tiến hành Đại hội Đảng các cấp. Trên tinh thần đó, các ngành, các cấp cần xác định rõ từng nhiệm vụ, yêu cầu để từ đó xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2020 theo hướng tích cực, bền vững, phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế và điều kiện để đạt được mức tăng trưởng cao. Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước; bảo đảm an sinh xã hội, bảo vệ môi trường, cải thiện đời sống nhân dân; củng cố quốc phòng, an ninh, ổn định chính trị, giữ vững trật tự an toàn xã hội.



Khen thưởng cho đơn vị dẫn đầu phong trào thi đua năm 2019
Dịp này, UBND huyện khen thưởng cho 6 tập thể có thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng – an ninh năm 2019, đơn vị xã Vĩnh Bình dẫn đầu phong trào thi đua năm 2019. Đồng thời, phát động và ký kết giao ước thi đua phấn đấu hoàn thành thắng lợi các mục tiêu nhiệm vụ năm 2020.
Trúc Phương
False
Nhiều sản phẩm đặc sản hấp dẫn tại "Chợ Tết Xanh" ở TP. Long Xuyên TinNhiều sản phẩm đặc sản hấp dẫn tại "Chợ Tết Xanh" ở TP. Long Xuyên /XDDImages/2020-01/Tet-xanh-vincom-2_Key_15012020150742.jpg
(TUAG)- Từ ngày 14 đến 23-1, tại Trung tâm Thương mại Vincom Plaza Long Xuyên (TP. Long Xuyên, tỉnh An Giang) diễn ra “Chợ Tết Xanh”, hoạt động trưng bày, bán sản phẩm, do Sở Công thương phối hợp UBND TP. Long Xuyên, Trung tâm Thương mại Vincom Plaza Long Xuyên tổ chức.
15/01/2020 4:00 CHNoĐã ban hành
Có 19 doanh nghiệp, cơ sở trong tỉnh tham gia trưng bày 16 gian hàng bán các sản phẩm: hoa kiểng, hàng tiêu dùng, nông sản, đặc sản… kèm theo các chương trình khuyến mại hấp dẫn như tặng quà, giảm giá… Tại đây bán các sản phẩm như: nước ép xoài, xoài, dưa lưới, dưa hấu, bưởi; nấm linh chi, kiểng linh chi; trà artiso, gạo lúa mùa nổi; trà xạ đen, trà mãng cầu, mứt mãng cầu, khóm son chưng Tết.... Cùng đủ loại hoa lan, cúc vạn thọ, cúc pha lê, kiểng, mai, bonsai... và tranh thư pháp, đồ lưu niệm bằng gỗ, mô hình tăm tre.

Đặc sắc hoa lan trưng bày bán tại chợ Tết Xanh
Các doanh nghiệp tham gia gồm: Công ty TNHH MTV TM-DV Phan Nam, Công ty cổ phần Cảnh Toàn, Hợp tác xã SXKD dịch vụ nông nghiệp Chợ Mới, Hợp tác xã nông nghiệp Mỹ Hòa Hưng, Siêu thị Vinmart, Công ty TNHH Nông nghiệp Song Mai, Hộ kinh doanh nông trại Ếch Ộp, Nông trại sản xuất dưa lưới Giving's Farm, Công ty TNHH MTV TM DV 0207, Hộ sản xuất Tuấn Anh, Công ty TNHH MTV Tranh Thư pháp Thoại Lý, Cơ sở sản xuất linh chi Hồng Linh, Hộ kinh doanh Hoa Lan Thanh Mai, Cơ sở sản xuất kinh doanh Bảo Trang, Công ty TNHH SX Gạo Việt Ái Vy, Cơ sở thủ công mỹ nghệ Mộc Tăm Tre- Gáo dừa, Công ty TNHH Thái Bình Nosanfood, Cơ sở sản xuất và kinh doanh cây dược liệu Thiên Ân, Cơ sở sản xuất kinh doanh trà mãng cầu xiêm Thanh Nam, Cơ sở sản xuất và kinh doanh thực phẩm Hân Thịnh và Hội Nông dân tỉnh An Giang.


Nhiều sản phẩm nông sản sạch của Công ty TNHH MTV TM-DV Phan Nam
Đây là hoạt động mới của Sở Công thương nhằm tăng cường công tác bình ổn thị trường vào dịp Tết Nguyên đán Canh Tý năm 2020; đẩy mạnh quảng bá, tiêu thụ các sản phẩm đạt chất lượng cao, giá cả phù hợp, phục vụ nhu cầu mua sắm của người tiêu dùng trong và ngoài tỉnh vào dịp cuối năm, tết.
Tin, ảnh: H.C
False
Tái cơ cấu kinh tế An Giang: Tạo đột phá hướng đến phát triển bền vữngTinTái cơ cấu kinh tế An Giang: Tạo đột phá hướng đến phát triển bền vững/XDDImages/2020-01/Tai-co-cau-2_Key_06012020082429.jpg

(TUAG)- Hôm nay 4/1, Tỉnh ủy, UBND tỉnh An Giang tổ chức hội thảo lấy ý kiến đề án “Tái cơ cấu kinh tế tỉnh An Giang: Tạo đột phá hướng đến phát triển bền vững”.

06/01/2020 9:00 SAYesĐã ban hành

​Tham dự hội thảo, có ông Nguyễn Văn Giàu, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Quốc hội; ông Phan Thanh Bình, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hoá, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng Quốc hội. Lãnh đạo tỉnh An Giang có đồng chí Võ Thị Ánh Xuân, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh An Giang; đồng chí Nguyễn Thanh Bình, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh.


Trình bày tạo hội thảo, Tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh, thành viên Tổ tư vấn Kinh tế của Thủ tướng Chính phủ, thành viên Nhóm tư vấn của Uỷ ban Kinh tế của Quốc hội, Giám đốc Trường Chính sách công và quản lý Fulbright, đại diện nhóm nghiên cứu gợi ý mục tiêu tổng quát trong chiến lược trong 10 năm tiếp theo là: “Chuyển đổi mô hình phát triển, khôi phục tốc độ tăng thu nhập của người dân, kiến tạo môi trường cho doanh nghiệp phát triển”.

Trên từng lĩnh vực, nhóm nghiên cứu đề xuất: Đối với nông nghiệp An Giang phải chuyển đổi một cách cơ bản, trong đó then chốt là phải phát triển nền kinh tế hiện đại thay cho nền sản xuất nông nghiệp truyền thống đối với bốn khâu: Thị trường hóa hoạt động nông nghiệp; công nghiệp hóa và công nghệ hóa nông nghiệp; dịch vụ hóa nông nghiệp và nông nghiệp thích ứng với môi trường. Công nghiệp, An Giang có cơ hội phát triển trong 5 năm tới nhờ vào sự phát triển của hạ tầng kết nối, sự lan tỏa công nghiệp từ vùng Đông Nam bộ, từ lợi thế đất đai... Du lịch trong ngắn hạn lẫn trung hạn chưa thể là ngành kinh tế mũi nhọn, nền tảng; phải thay du lịch truyền thống sang mô hình du lịch mới mẻ cho đối tượng dân số trẻ, tầng lớp trung lưu.

Nhóm nghiên cứu chỉ các mục tiêu chiến lược cụ thể trên 3 lĩnh vực: Chuyển đổi mô hình phát triển tạo phúc lợi của người dân và lợi nhuận của doanh nghiệp được đặt vào trung tâm của chiến lược phát triển địa phương. Khôi phục tốc độ tăng thu nhập người dân. Kiến tạo môi trường cho doanh nghiệp phát triển.

Bí thư Tỉnh ủy Võ Thị Ánh Xuân phát biểu kết thúc hội thảo cho rằng, những đánh giá và đề xuất của nhóm nghiên cứu rất khoa học, đã phân tích và chỉ ra những điểm mạnh, yếu trong định hướng phát triển kinh tế An Giang thời gian qua. An Giang vì sao có nhiều lợi thế, nhiều mô hình hay trong phát triển kinh tế nhưng chững lại trong phát triển so với các tỉnh trong khu vực thời gian gần đây. Do vậy, để có cái nhìn rõ nét hơn về kinh tế An Giang và đề án sát thực tế, còn nhiều vấn đề cần tiếp tục điều chỉnh như số liệu thống kê, phân tích sâu hơn về những lợi thế riêng biệt, những thế mạnh đặc thù trong tổng thể bối cảnh trong ngoài nước và khu vực ĐBSCL. Đây được xem là cuộc cách mạng lần thứ 2 trong phát triển kinh tế An Giang sau năm 1986. Tuy nhiên, còn rất nhiều khó khăn mà An Giang cần phải vượt qua, trong đó động lực của nhân dân cùng chính quyền trong đồng hành phát triển phải được phát huy tốt nhất. Song song đó, việc hoàn chỉnh để án này cũng là nền tảng quan trọng để các cấp, ngành bổ sung vào nghị quyết đại hội đảng các cấp cũng như chiến lược phát triển tỉnh An Giang từ nay đến năm 2025, tầm nhìn 2030 và giai đoạn xa hơn. Do vậy, các sở, ngành cần bổ sung, cung cấp, chỉnh sửa số liệu chuẩn xác, làm cơ sở cho nhóm nghiên cứu nhanh chóng hoàn chỉnh đề án trình Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh thời gian sớm nhất.

Song Thư
True
Bức tranh toàn cảnh kinh tế - xã hội An Giang: “Vượt qua khó khăn, hoàn thành xuất sắc các chỉ tiêu nghị quyết nhiệm kỳ”Bài viếtBức tranh toàn cảnh kinh tế - xã hội An Giang: “Vượt qua khó khăn, hoàn thành xuất sắc các chỉ tiêu nghị quyết nhiệm kỳ”/XDDImages/2020-01/ktxh_Key_01012020105303.jpg

(TUAG)- Năm 2019 vừa qua, với sự tập trung lãnh đạo của Tỉnh ủy, chỉ đạo điều hành quyết liệt của UBND tỉnh, giám sát của HĐND tỉnh, cùng sự nỗ lực và đồng thuận của các ngành, các cấp, doanh nghiệp và nhân dân, An Giang đã thực hiện đạt và vượt 13/13 chỉ tiêu Nghị quyết số 21/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh.

01/01/2020 9:00 SAYesĐã ban hành
Trong đó có 08 chỉ tiêu đạt và 05 chỉ tiêu vượt. Đáng chú ý là các chỉ tiêu vượt kế hoạch như tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt 31.887 tỷ đồng; Thu ngân sách từ kinh tế địa bàn đạt 6.700 tỷ đồng; Tỷ lệ hộ nghèo chỉ còn dưới 3%... là những chỉ tiêu rất đáng ghi nhận.
ktxh.jpg
Cơ cấu kinh tế năm 2019, tiếp tục chuyển biến theo hướng tích cực và dần ổn định với khu vực I ngày càng giảm và khu vực II, III tăng dần qua các năm. Nông nghiệp vẫn là cốt lõi của kinh tế An Giang. Năm 2019, tuy phải đối mặt với nhiều diễn biến bất lợi của biến đổi khí hậu, nhất là tình trạng sạt lở bờ sông, nguồn nước sông Cửu Long về muộn và thấp  nhưng vẫn đạt tổng diện tích gieo trồng hơn 680 ngàn ha. Tổng sản lượng lúa cả năm đạt gần 3,92 triệu tấn. Diện tích cây ăn quả 15,6 ngàn ha. Công tác chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ trồng lúa sang cây rau, màu và cây ăn trái ngày càng hiệu quả. Tuy nhiên, năm 2019 vừa qua, ngành chăn nuôi của An Giang cũng như cả nước chịu thiệt hại nặng nề do ảnh hưởng dịch tả lợn Châu Phi. Đến cuối tháng 11/2019, trên địa bàn tỉnh đã có 1.254 điểm dịch tại 130 xã, phường, thị trấn thuộc 10 huyện, thị xã, thành phố. Tổng số heo đã tiêu hủy trên địa bàn tỉnh là 28.525 con. Tổng trọng lượng heo đã tiêu hủy gần 1.793 tấn.

Sản lượng thủy sản cả năm đạt 532,6 ngàn tấn, tăng 45,8 ngàn tấn. Riêng sản lượng cá tra đạt 412 ngàn tấn. Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới có 03 đơn vị cấp huyện hoàn thành Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, được Thủ tướng Chính phủ công nhận gồm: huyện Thoại Sơn, thành phố Châu Đốc và thành phố Long Xuyên. Có 61/119 xã đạt chuẩn xã nông thôn mới, hoàn thành mục tiêu Chương trình sớm hơn 01 năm so với lộ trình, kế hoạch của tỉnh.
    
 
Ông Nguyễn Thanh Bình, Chủ tịch UBND tỉnh An Giang tham quan khu nhà màng cá tra giống của Tập đoàn Việt - Úc
Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2019 đạt 32.036,4 tỷ đồng, đặc biệt là lần đầu tiên, ngành sản xuất và phân phối điện ước đạt 701,4 tỷ đồng tăng 49,37% khi sản lượng điện mặt trời đã lần đầu đóng góp vào giá trị công nghiệp An Giang.
    
Điểm sáng đặc biệt khác là câu chuyện thu hút đầu tư. Sau Hội nghị Xúc tiến đầu tư tỉnh An Giang được tổ chức thành công năm 2018, đến nay có nhiều doanh nghiệp lớn trong tỉnh, ngoài tỉnh và ngoài nước, nhất là các nhà đầu tư chiến lược đã quan tâm nghiên cứu và đầu tư trên địa bàn tỉnh An Giang. Trong năm 2019, có 76 dự án đăng ký đầu tư mới, trong đó, có 02 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài và 74 dự án đầu tư trong nước, với tổng vốn đăng ký là 17.636 tỷ đồng.

Năm 2019 đã có nhiều dự án lớn được hoàn thành, đưa vào hoạt động như: Nhà máy điện mặt trời Sao Mai (giai đoạn 1), Nhà máy điện mặt trời Văn Giáo 1 và Văn Giáo 2, Siêu thị Coopmart Thoại Sơn, Khu sản xuất giống thủy sản công nghệ cao ở Tân Châu của Công ty Cá tra Việt Úc,…

Đồng thời, một số dự án lớn khác cũng đã được Nhà đầu tư thực hiện khảo sát, nghiên cứu, đang trong quá trình hoàn chỉnh quy hoạch và thủ tục đầu tư tiếp theo như: Tổ hợp Khách sạn 5 sao, Trung tâm thương mại và Shophouse, Khu đô thị du lịch Mỹ Hòa Hưng, Khu Công nghiệp Vàm Cống, Khu Công nghiệp Hội An, Vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại Thoại Sơn,…
    
Song song đó, các lĩnh vực văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng được đảm bảo. Ngành giáo dục tiếp tục nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực, triển khai đổi mới chương trình, nội dung sách giáo khoa và phương pháp dạy và học. Đã có 206 trường đạt chuẩn quốc gia. Đặc biệt là sau 20 năm hình thành và phát triển Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định chuyển Trường Đại học An Giang là Trường Đại học thành viên của Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh. An Giang phối hợp tổ chức thành công.

Năm 2020 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, kỷ niệm 90 năm thành lập Đảng, 75 năm thành lập Nước, 130 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh và là năm tiến hành Đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII. Với An Giang ta, phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế, khai thác có hiệu quả các nguồn lực để phát triển kinh tế ổn định, bền vững theo hướng tăng trưởng xanh. Tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh và thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp sáng tạo.

Song song đó, tiếp tục khai thác mạnh mẽ lợi thế so sánh của tỉnh trong liên kết vùng, ứng phó và thích nghi hiệu quả với biến đổi khí hậu, chủ động phòng, chống thiên tai, tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Đẩy mạnh ứng dụng và chuyển giao công nghệ cao, công nghệ sinh học vào sản xuất và chế biến. Công tác cải cách hành chính, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Tập trung đầu tư, nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho nhân dân và thực hiện tốt các chính sách về giảm nghèo, đào tạo nghề nghiệp, giải quyết việc làm. Hai mũi nhọn chính của An Giang là nông nghiệp và du lịch sẽ là đầu tàu đưa kinh tế xã hội An Giang tiến nhanh, tiến vững chắc trong năm 2020 và thời gian tới.

Song Thư
True
Hội nghị kết nối nguồn hàng bảo đảm an toàn vào hệ thống phân phối và tuần lễ giới thiệu đặc sản an toàn vùng ĐBSCLTinHội nghị kết nối nguồn hàng bảo đảm an toàn vào hệ thống phân phối và tuần lễ giới thiệu đặc sản an toàn vùng ĐBSCL/XDDImages/2019-12/BCT-hoi-cho-ag-2_Key_20122019142745.jpg

(TUAG)- Ngày 20/12, Vụ Thị trường trong nước - Bộ Công thương phối hợp Sở Công thương An Giang và siêu thị Tứ Sơn tổ chức hội nghị kết nối nguồn hàng bảo đảm an toàn vào hệ thống phân phối và "Tuần lễ giới thiệu đặc sản an toàn vùng ĐBSCL vào hệ thống phân phối tại siêu thị Tứ Sơn". Phó Vụ trưởng Vụ thị trường trong nước-Bộ Công thương Lê Việt Nga; Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Văn Nưng đã đến dự.

20/12/2019 3:00 CHNoĐã ban hành

 
5 tỉnh và 3 doanh nghiệp đã ký kết hợp tác cung ứng-tiêu thụ sản phẩm vào hệ thống tại siêu thị Tứ Sơn.

Tại hội nghị, 5 tỉnh: Đồng Tháp, Tiền Giang, Long An, Sóc Trăng, An Giang và 3 doanh nghiệp: Công ty TNHH Lương thực Tấn Vương, Công ty TNHH Thảo Hương, Công ty TNHH sản xuất thương mại Gia Bảo đã ký kết hợp tác cung ứng-tiêu thụ sản phẩm vào hệ thống tại siêu thị Tứ Sơn.

Phó Giám đốc Sở Công thương Phan Lợi cho biết: hội nghị là dịp kết nối cung cầu, khuyến khích sản xuất kinh doanh thực phẩm an toàn tại các địa phương và hỗ trợ mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa đặc sản, đặc trưng của các vùng miền. Đồng thời tạo cơ hội tìm hiểu, liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp sản xuất chế biến nông sản với các hệ thống siêu thị, nhà phân phối trong và ngoài tỉnh.

Ông Lợi chân thành cảm ơn thời gian qua Vụ thị trường trong nước-Bộ Công thương đã hỗ trợ nhiệt tình cho Sở Công thương An Giang, mong muốn tiếp tục nhận được sự hỗ trợ để việc kết nối nguồn hàng nông sản thực phẩm bảo đảm ban toàn vào hệ thống phân phối ngày càng nhiều, kịp thời phục vụ người tiêu dùng tốt hơn.
    

Phó Vụ trưởng Vụ thị trường trong nước-Bộ Công thương Lê Việt Nga phát biểu tại hội nghị

Phát biểu tại hội nghị, Phó Vụ trưởng Vụ thị trường trong nước-Bộ Công thương Lê Việt Nga đánh giá cao nỗ lực của Sở Công thương tỉnh An Giang và DNTN Tứ Sơn trong việc kết nối tiêu thụ các sản phẩm an toàn của các tỉnh, thành trong khu vực.

Phó Vụ trưởng Vụ thị trường trong nước-Bộ Công thương Lê Việt Nga nhấn mạnh: ĐBSCL gồm 13 tỉnh, thành phố, chiếm diện tích khoảng 13% tổng diện tích cả nước với tổng dân số trên 17 triệu người chiếm tới 18% tổng dân số cả nước. Đây là khu vực được thiên nhiên ưu đãi với rất nhiều đặc sản trái cây nổi tiếng cùng với nhiều mặt hàng nông sản, thủy sản phong phú, đa dạng khác… Đây là sự kiện tiếp nối chuỗi các hoạt động kết nối tiêu thụ đặc sản an toàn do Bộ Công thương khởi xướng từ năm 2018, tạo cơ hội để các tỉnh, thành phố thuộc khu vực ĐBSCL giới thiệu những đặc sản mới lạ, hấp dẫn và an toàn như dừa Bến Tre, chôm chôm Vĩnh Long, vú sữa tím Sóc Trăng… và nhiều mặt hàng đặc sản khác đến tay người tiêu dùng thông qua hệ thống phân phối hiện đại như siêu thị Tứ Sơn. Tôi tin rằng nguồn cung hàng hóa của các địa phương trong hội nghị hôm nay cũng chính là nguồn hàng góp phần quan trọng phục vụ nhu cầu tiêu dùng của người dân tại các tỉnh trong khu vực trong dịp Tết Nguyên đán sắp tới, góp phần thực hiện chương tình bình ổn thị trường tại địa phương và các khu vực lân cận.
    
Trong khuôn khổ hội nghị diễn ra “Tuần lễ giới thiệu đặc sản an toàn vùng ĐBSCL vào hệ thống phân phối tại siêu thị Tứ Sơn”. Sự kiện tổ chức trong 3 ngày (từ 20 đến 22-12) với sự tham gia của 26 doanh nghiệp, cơ sở của 5 tỉnh: Đồng Tháp, Tiền Giang, Long An, Sóc Trăng, An Giang trưng bày bán sản phẩm: lương thực, thực phẩm, sản phẩm nông sản sạch, khô, đường thốt nốt... Đây là nơi quảng bá, giới thiệu đến người tiêu dùng sự đặc sắc, phong phú, đa dạng của các phẩm nông sản của tỉnh An Giang và các tỉnh ĐBSCL với chất lượng cao.     

Tin, ảnh: HẠNH CHÂU
False
Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh tổ chức họp mặt các doanh nghiệp, nhà đầu tư năm 2019TinBan Quản lý Khu kinh tế tỉnh tổ chức họp mặt các doanh nghiệp, nhà đầu tư năm 2019/XDDImages/2019-12/BQLKT-Hop-mat-doanh-nghiep-2_Key_17122019144723.jpg
(TUAG)- Chiều ngày 16/12, Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh An Giang đã tổ chức buổi họp mặt các doanh nghiệp, nhà đầu tư vào khu công nghiệp, khu chức năng thuộc Khu kinh tế cửa khẩu trên địa bàn tỉnh An Giang.
17/12/2019 3:00 CHYesĐã ban hành
Đến dự buổi họp mặt có đồng chí Lê Văn Nưng - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, đồng chí Nguyễn Minh Phong - Trưởng Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh cùng với lãnh đạo sở, ngành, địa phương và gần 50 doanh nghiệp, nhà đầu tư tại các khu công nghiệp, khu kinh tế cửa khẩu trên địa bàn tỉnh An Giang.

Quang cảnh buổi họp mặt

Đồng chí Nguyễn Minh Phong - Trưởng ban Ban Quản lý Khu tinh tế tỉnh trao đổi với các doanh nghiệp.
Tại buổi họp mặt lãnh đạo Ban Quản lý Khu kinh tế, sở, ngành và địa phương đã gợi mở, thẳng thắn, trao đổi trên tinh thần cầu thị, hướng dẫn và giải đáp những khó khăn vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện dự án cũng như sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong Khu công nghiệp, Khu kinh tế cửa khẩu.

Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Lê Văn Nưng phát biểu tại cuộc họp mặt các doanh nghiệp.
Phát biểu tại buổi họp mặt, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Văn Nưng đánh giá cao việc Ban Quản lý Khu kinh tế tổ chức buổi họp mặt với các doanh nghiệp đầu tư vào khu công nghiệp, khu chức năng thuộc Khu kinh tế cửa khẩu tỉnh năm 2019; đây là dịp để doanh nghiệp và các sở, ban ngành tỉnh gặp gỡ, trao đổi, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình hoạt động; Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Văn Nưng đề nghị Ban Quản lý Khu kinh tế tiếp tục duy trì việc họp mặt định kỳ và xem đây là một trong những việc làm cụ thể để hỗ trợ doanh nghiệp. Đồng thời, đánh giá cao các doanh nghiệp đã dành nhiều tâm huyết, công sức, vượt qua nhiều khó khăn thách thức để phát triển, nâng cao các hoạt động sản xuất kinh doanh đóng góp vào việc xây dựng và phát triển Khu công nghiệp, Khu kinh tế cửa khẩu tỉnh. Sự thành công của các doanh nghiệp cũng là thành công của tỉnh, doanh nghiệp có phát triển thì tỉnh mới phát triển.

Đồng chí Nguyễn Minh Phong - Trưởng ban Ban Quản lý Khu tinh tế tỉnh trao đổi với các doanh nghiệp.
Trưởng Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh Nguyễn Minh Phong cho biết, công tác xúc tiến mời gọi đầu tư vào khu công nghiệp, khu kinh tế cửa khẩu của Ban Quản lý Kinh tế tỉnh là rất khả quan. Đến nay có 35 dự án đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư với tổng vốn đăng ký đầu tư trên 7.300 tỷ đồng. Hiện đang tiếp nhận 02 đơn đăng ký đầu tư của 02 dự án sản xuất giày thể thao và chế biến các sản phẩm từ nông nghiệp (trong đó, có 01 dự án nước ngoài: Đài Loan) tại KCN Bình Hòa, tổng vốn đăng ký đầu tư: 526 tỷ đồng (trong đó, vốn FDI là: 12 triệu USD tương đương 276 tỷ đồng) và hỗ trợ 02 Công ty thực hiện các thủ tục xin chủ trương đầu tư của Thủ tướng Chính phủ để đầu tư xây dựng kinh doanh hạ tầng Khu công nghiệp Vàm Cống (tổng vốn đăng ký đầu tư gần 2.400 tỷ đồng), Khu công nghiệp Hội An (tổng vốn đăng ký đầu tư gần 1.400 tỷ đồng) và dự án Khu công nghiệp thông minh Hàn Quốc tại Khu công nghiệp Xuân Tô, huyện Tịnh Biên, với diện tích 150 hécta, tổng vốn đăng ký đầu tư là 820 triệu USD.
 
Các doanh nghiệp có ý kiến trao đổi
Tình hình hoạt động của các doanh nghiệp trong Khu công nghiệp, Khu kinh tế cửa khẩu năm 2019 tiếp tục phát triển tốt như: Khu công nghiệp Bình Hòa, có 16 dự án đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư với diện tích đất thuê là 90 hécta (tỷ lệ lấp đầy 90%), tổng vốn đăng ký đầu tư của các dự án trên 5.100 tỷ đồng; Khu công nghiệp Bình Long, có 10 dự án đã được cấp Giấy chứng nhận đầu tư còn hiệu lực với diện tích đất cho thuê 21 hécta (tỷ lệ lấp đầy đạt 100%), tổng vốn đăng ký đầu tư của các dự án gần 1.600 tỷ đồng; Khu vực cửa khẩu Khánh Bình, Tịnh Biên, Vĩnh Xương có 09 dự án đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và chấp nhận chủ trương đầu tư cho 03 dự án với tổng vốn đăng ký đầu tư của các dự án gần 600 tỷ đồng. Qua đó, đã đóng góp nguồn thu ngân sách Nhà nước lũy kế đến nay khoảng 224 tỷ đồng, đã giải quyết việc làm gần 13.000 lao động ở địa phương; Dự kiến khi các giai đoạn còn lại của dự án FDI chính thức vào hoạt động và đạt 100% công suất đã đăng ký, ước tính sẽ giải quyết cho gần 30.000 lao động.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh - Lê Văn Nưng chúc mừng Công ty TNHH Giầy Ching Luh Việt Nam đã được Ban Quản lý Khu kinh tế trao Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư Nhà máy sản xuất, gia công giày dép các loại tại KCN Bình Hòa.
Dịp này, Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh đã trao giấy chứng nhận đầu tư dự án nhà máy sản xuất gia công giày dép với quy mô 5,7ha tại Khu công nghiệp Bình Hòa cho Công ty TNHH Giầy Ching Luh Việt Nam đầu tư Nhà máy sản xuất, gia công giày dép các loại, với tổng vốn đầu tư là 1.035 tỷ đồng (tương đương 45 triệu USD).

Phạm Công
True
 Năm 2019, Đảng bộ huyện Phú Tân thực hiện đạt và vượt 16 chỉ tiêu Đầu tư khởi nghiệpTin Năm 2019, Đảng bộ huyện Phú Tân thực hiện đạt và vượt 16 chỉ tiêu /XDDImages/2019-12/PT-hoi-nghi-BCH-2_Key_14122019094859.png

(TUAG)- Ngày 13/12/2019, đồng chí Lâm Phước Trung - Tỉnh ủy viên - Bí thư Huyện ủy Phú Tân chủ trì hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ huyện mở rộng lần thứ 18, nhằm kiểm điểm tình hình thực hiện Nghị quyết về phát triển kinh tế - xã hội, công tác vận động quần chúng, xây dựng Đảng năm 2019 và đề ra những nhiệm vụ trọng tâm năm 2020.

14/12/2019 10:00 SANoĐã ban hành



Đồng chí Lâm Phước Trung - Tỉnh ủy viên, Bí thư Huyện ủy Phú Tân phát biểu kết luận
Trong năm qua, Đảng bộ huyện Phú Tân luôn đổi mới phương thức chỉ đạo, thực hiện và đạt nhiều kết quả nổi bật trong phát triển kinh tế - xã hội, theo đánh giá thì huyện thực hiện đạt và vượt 16/16 chỉ tiêu.Tổng giá trị sản xuất tăng trên cả 03 khu vực, trong đó khu vực I đạt trên 5.600 tỷ đồng, khu vực II đạt gần 3.338 tỷ đồng, khu vực III đạt trên 3.009 tỷ đồng; tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đạt 6.400 tỷ đồng; tổng thu ngân sách từ kinh tế đại bàn đạt trên 123 tỷ đồng. Về xây dựng nông thôn mới đã tổ chức lễ công bố quyết định của Chủ tịch UBND tỉnh công nhận xã Hiệp Xương đạt chuẩn xã nông thôn mới, lủy kế đến nay có 04/16 xã đạt chuẩn xã nông thôn mới. Hiện nay huyện cũng đang triển khai thực hiện xây dựng xã nông thôn mới năm 2019 đối với xã Bình Thạnh Đông, Phú Hưng, Phú Thạnh và nông thôn mới nâng cao xã Phú Bình. Về Công nghiệp thương mại dịch vụ tiếp tục được phát triển mới; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện trên nhiều mặt. Lĩnh vực văn hóa - xã hội được triển khai thực hiện tốt, các chính sách an sinh xã hội được triển khai kịp thời và đúng đối tượng; trật tự an toàn xã hội được bảo đảm. Hiệu lực hiệu quả hoạt động quản lý, điều hành của chính quyền có sự quyết liệt và chuyển biến khá rõ nét. Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị được quan tâm triển khai đạt hiệu quả, trong năm kết nạp mới được 110 đảng viên, trong đó có 4 học sinh ở các trường THPT; công tác kiểm tra, giám sát, công tác tổ chức, tuyên giáo, dân vận tiếp tục được quan tâm chỉ đạo thực hiện; hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể huyện tiếp tục được củng cố và tăng cường.


Các đại biểu tham dự hội nghị
Đại biểu tham dự hội nghị đã thực hiện chất vấn, tập trung thảo luận nhiều vấn đề có liên quan đến tình hình phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội - quốc phòng - an ninh ở địa phương, công tác cải cách hành chính, vấn đề nước sạch - vệ sinh môi trường,…

Phát biểu kết luận hội nghị, đồng chí Lâm Phước Trung yêu cầu trong thời gian tới các ngành, các cấp cần tập trung thực hiện quyết liệt các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; củng cố nâng chất các Hợp tác xã, Tổ hợp tác, các xã nông thôn mới; Quan tâm đến công tác dạy nghề, giới thiệu việc làm; thực hiện có hiệu quả các chính sách an sinh xã hội; nâng cao hiệu quả công tác giáo dục, đào tạo. Tập trung thực hiện tốt công tác chuẩn bị Đại hội các cấp, trong xây dựng báo cáo chính trị phải đồng bộ, xúc tích, có trọng tâm, trọng điểm; Tăng cường kiểm tra, đánh giá phân loại các cơ sở đảng; nghiêm túc thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ chính trị…

Nguyễn Thắng
False
Thành phố Châu Đốc tập trung phát triển kinh tế, phát huy tiềm năng du lịch TinThành phố Châu Đốc tập trung phát triển kinh tế, phát huy tiềm năng du lịch /XDDImages/2019-12/Chau-doc-du-lich_Key_12122019153523.jpg

(TUAG)- Ngày 11/12, UBND thành phố Châu Đốc tổ chức họp thành viên UBND thành phố (mở rộng) tổng kết tình hình phát triển kinh tế, xã hội năm 2019, đề ra nhiệm vụ năm 2020. Đồng chí Lâm Quang Thi - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố Châu Đốc chủ trì hội nghị.

12/12/2019 4:00 CHNoĐã ban hành
Chau-doc-hop-ubnd.jpg 
Năm 2019, thành phố Châu Đốc đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, đảm bảo thực hiện thắng lợi kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trong năm 2019 như: đẩy mạnh thu hút đầu tư, tiếp tục hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, đồng loạt khởi công và triển khai các công trình, dự án đầu tư xây dựng cơ bản. Tình hình kinh tế - xã hội thành phố tiếp tục phát triển ổn định. Doanh thu thông qua chợ ước đạt trên 7.718 tỷ đồng, đạt 103,35% so với kế hoạch. Lượng khách đến tham qua ước đạt 5.724.000 lượt, tăng 5,5% so với năm 2018, thu phí tham quan 45 tỷ 524 triệu đồng, qua đó, góp phần giải quyết việc làm cho lao động tại địa phương.

Bên cạnh đó, thực hiện các phong trào văn hóa - văn nghệ, thể dục - thể thao trên địa bàn thành phố được diễn ra sôi nổi, phong phú, đặc biệt trong dịp tết Nguyên Đán và Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam năm 2019. Công tác phòng chống dịch bệnh trên gia súc, gia cầm được tập trung. Hoạt động chăm lo đời sống cho các đối tượng chính sách, người có công, đối tượng bảo trợ xã hội... đảm bảo kịp thời. Công tác tuyển quân đạt chỉ tiêu trên giao. Đảm bảo tốt công tác an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.  

Năm 2020, là năm kết thúc nhiệm kỳ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020, cũng là năm tiến hành Đại hội Đảng bộ các cấp, Đại hội Đảng bộ thành phố Châu Đốc lần thứ XII, nhiệm kỳ 2020-2025 và tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Với mục tiêu chung, xây dựng và phát triển thành phố Châu Đốc là đô thị văn minh, xanh, sạch, hiện đại, là trung tâm thương mại, dịch vụ, du lịch của tỉnh gắn với ứng phó biến đổi khí hậu, đảm bảo quốc phòng, an ninh. Thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2020./.

Vân Anh
False
Đột phá sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao ở Tân Châu Bài viếtĐột phá sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao ở Tân Châu /Imagesnews/TC-nong-nghiep-CNC-2.jpg
(TUAG)- Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thị xã Tân Châu lần thứ nhiệm kỳ 2015-2020, xác định khâu tái cơ cấu ngành nông nghiệp và ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất là cốt lõi, phù hợp với quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội gắn với bảo vệ môi trường, đảm bảo phát triển bền vững trong điều kiện thích ứng với biến đổi khí hậu, đảm bảo các mục tiêu về nâng cao thu nhập, đời sống cho người dân nông thôn theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả.
11/12/2019 3:00 CHNoĐã ban hành
Đánh giá thành tựu 5 năm qua về thực hiện khâu đột phá sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thị xã lần thứ XI cho thấy. Ngành nông nghiệp thị xã Tân Châu đã có những chuyển biến mạnh mẽ, phát huy lợi thế của thị xã về đất đai, khí hậu, lựa chọn cây trồng, vật nuôi chủ lực để phát triển. Hình thành và từng bước nâng cao nhận thức trong đội ngũ cán bộ và một bộ phận nông dân, tiến tới ứng dụng các kỹ thuật tiên tiến trong các mô hình sản xuất nông nghiệp với mục tiêu nâng cao chất lượng, năng suất cũng như hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích đất canh tác so với hình thức sản xuất nông nghiệp truyền thống.

Mô hình nhà màng ươm cây giống ở xã Phú Vĩnh
Đến nay, thị xã Tân Châu đã thực hiện nhất quán chủ trương quy hoạch lại vùng sản xuất gắn với đề án tái cơ cấu nông nghiệp và sản xuất theo hướng ứng dụng công nghệ cao. Vì vậy, sản xuất nông nghiệp của thị xã không ngừng phát triển, theo hướng đổi mới quy trình sản xuất, nâng cao năng suất và chất lượng. Giá trị sản xuất nông nghiệp trên 1 héc ta ước đạt 180 triệu đồng/năm. Nhiều mô hình sản xuất theo hướng công nghệ cao đã mang lại hiệu quả kinh tế cao. Hệ thống kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn từng bước được đầu tư nâng cấp, xây mới tương đối hoàn chỉnh, đồng bộ phù hợp với yêu cầu đổi mới của nền sản xuất nông nghiệp.

Hiện tại, thị xã đã thực thành công mô hình nhà màng, với diện tích sản xuất 1,67 hecta ở các địa phương: Phú Vĩnh, Tân An, Long Châu, chủ yếu ươm cây giống rau màu các loại; mô hình Ứng dụng công nghệ nhà màng, hệ thống kiểm soát vi khí hậu tự động trong ươm cây giống rau của ông Lưu Văn Nhanh (xã Phú Vĩnh); mô hình“Trồng hoa lan Mokara cắt cành”; mô hình trồng khảo nghiệm cây cà tím gốc ghép xã Châu Phong; mô hình đổi mới công nghệ ứng dụng nhà màng để nâng cao hiệu quả trong sản xuất hoa kiểng (xã Phú Vĩnh), trồng dưa lưới (xã Vĩnh Xương), cây sung Mỹ (xã Châu Phong), mô hình sản xuất rau màu, cây ăn trái áp dụng hệ thống tưới tiết kiệm...

Thực hiện Nghị quyết số 09-NQ/TU của Tỉnh ủy về phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, thị xã đã xây dựng các quy hoạch và sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao theo 07 nhóm sản phẩm của tỉnh đề ra. Nhiều mô hình đang triển khai thực hiện và bước đầu đem lại hiệu quả kinh tế cao. Bên cạnh đó, cồn Vĩnh Hòa đã được tỉnh phê duyệt vùng nuôi thủy sản tập trung tham gia “Đề án liên kết sản xuất giống cá tra 3 cấp chất lượng cao vùng Đồng bằng sông Cửu Long”, đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030. Hiện nay Công ty Cổ phần Cá tra Việt Úc đã đầu tư hệ thống nhà màng ương dưỡng giống cá tra chất lượng cao với diện tích 104 hecta. Đến nay, thị xã Tân Châu đã tái cơ cấu và quy hoạch được các ngành sản xuất chủ lực như: ngành hàng lúa gạo; ngành hàng rau - màu; ngành thủy sản; ngành nấm ăn - nấm dược liệu; ngành chăn nuôi; ngành hàng cây ăn quả; ngành hàng hoa - cây kiểng. Trong quy hoạch tái cơ cấu, địa phương luôn chú trọng đến việc thực hiện ứng dụng công nghệ cao; nhất là, tập trung nâng chất các mô hình hiệu quả hiện có và khuyến cáo nông dân phát triển thêm các mô hình mới phù hợp với thổ nhưỡng và đáp ứng nhu cầu thị trường.


Vùng nuôi cá bè trên kênh Xáng, xã Long An
Để thực hiện khâu đột phá về sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao của thị xã thành công hơn nữa. Thời gian tới, ngành nông nghiệp thị xã Tân Châu tiếp tục triển khai rộng các cơ chế chính sách hỗ trợ đầu tư của Trung ương, của tỉnh phù hợp với nhu cầu thực tiễn. Thực hiện tốt cơ chế chính sách cho sản phẩm đặc trưng. Quy hoạch lại vùng sản xuất gắn với Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp, đồng thời nâng cao chất lượng hoạt động các hợp tác xã, tổ hợp tác sản xuất, phát triển các loại hình kinh tế hợp tác, tập trung phát triển theo chuỗi giá trị ngành hàng. Tăng cường sản xuất theo hướng hữu cơ, mở rộng sản xuất theo tiêu chuẩn Viet GAP nhằm đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về truy xuất nguồn gốc xuất xứ, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm cho từng sản phẩm. Đồng thời, tập trung đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nhằm tạo sự đồng thuận cao trong toàn hệ thống chính trị và ngoài Nhân dân, nhằm hướng đến sản xuất nông nghiệp phát triển bền vững về kinh tế - xã hội và môi trường, để từng bước cải thiện đời sống của nông dân trên địa bàn./.

Bài, ảnh: Văn Phô
False
Kinh tế xã hội huyện Châu Thành tiếp tục phát triển ổn định trong năm 2019 TinKinh tế xã hội huyện Châu Thành tiếp tục phát triển ổn định trong năm 2019 http://tuyengiaoangiang.vn/images/2019/Thang12/Chau-Thanh-ktxh-1.jpg

(TUAG)- Ngày 09/12, UBND huyện Châu Thành tổ chức hội nghị tổng kết tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội  năm 2019. Chủ trì hội nghị là ông Phan Văn Cường - Chủ tịch UBND huyện Châu Thành.

10/12/2019 10:00 SANoĐã ban hành
 
Trong năm 2019, tình hình kinh tế - xã hội của huyện Châu Thành tiếp tục có nhiều chuyển biến tích cực, tiếp tục phát triển một số chỉ tiêu chủ yếu đạt khá và tăng so với cùng kỳ như: Tổng diện tích gieo trồng năm 2019 là 82.352,41 ha đạt 104,4% kế hoạch năm. Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp Phát triển mới 24 cơ sở trong toàn huyện có 1.115 cơ sở, thu hút 2.705 lao động, vốn là 138,873 tỷ đồng. Các chính sách an sinh xã hội được thực hiện đầy đủ, kịp thời, bảo đảm ổn định đời sống nhân dân.

Song song đó, trong năm 2019, huyện đã giải quyết việc làm cho 6.063 lao động và mở 60 lớp đào tạo nghề ngắn hạn cho 1.702 lao động đạt 106,3% so với kế hoạch. Các hoạt động văn hóa, xã hội được tổ chức và duy trì tốt góp phần thực hiện tốt các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội địa phương. Bên cạnh đó, tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tiếp tục được giữ vững. Ngoài ra, quốc phòng duy trì nghiêm các chế độ trực sẵn sàn chiến đấu và hoàn thành 100% chỉ tiêu giao quân cho các đơn vị và tổ chức diễn tập phòng thủ theo kế hoạch…
 
Kết luận hội nghị, ông Phan Văn Cường - Chủ tịch UBND huyện lưu ý một số nội dung trọng tâm cần thực hiện trong thời gian tới như; Tăng cường chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp; Đẩy mạnh thực hiện công tác cải cách hành chính; Tăng cường công tác tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện đảm bảo vệ sinh môi trường quyết tâm trong công tác phòng chống dịch bệnh sốt xuất huyết, tay chân miệng, sởi;  Đồng thời, cần tăng cường công tác tuần tra kiểm soát để đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và an toàn giao thông trên địa bàn./.

Minh Thiện
False
Quan điểm, chủ trương, chính sách lớn về phát triển bền vững, sáng tạo, bao trùmBài viếtQuan điểm, chủ trương, chính sách lớn về phát triển bền vững, sáng tạo, bao trùm/Imagesnews/vna_potal_an_giang_gia_tang_hieu_qua_canh_tac_cho_nong_dan_voi_thiet_bi_bay_khong_nguoi_lai.jpg

​Phát triển bền vững, sáng tạo, bao trùm đã trở thành mục tiêu của nhiều quốc gia trên thế giới, Việt Nam cũng không nằm ngoài quỹ đạo chung đó. Sớm nhận thức được yêu cầu cấp bách, sống còn này, Đảng, Nhà nước ta lựa chọn chiến lược phát triển bền vững, sáng tạo, bao trùm làm mô hình phát triển đất nước là một đòi hỏi tất yếu khách quan và coi đây là nội dung, yêu cầu xuyên suốt trong quá trình phát triển đất nước.

07/12/2019 3:00 CHNoĐã ban hành
Cong viec tham lang_NVH.jpg
Nâng cao chất lượng công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân, phát triển y tế công nghệ cao là một trong những động lực thúc đẩy phát triển bền vững, sáng tạo, bao trùm_Ảnh:  baovinhlong.com.vn


Quan điểm phát triển

1- Phát triển gắn kết bền vững, sáng tạo, bao trùm là nội dung, là yêu cầu xuyên suốt trong quá trình phát triển đất nước

Phát triển bền vững là phát triển ngày hôm nay không làm tổn hại đến phát triển trong tương lai. Phát triển bền vững là phát triển bảo đảm kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa phát triển kinh tế bền vững với phát triển xã hội bền vững và bảo vệ môi trường bền vững. Phát triển kinh tế nhanh, bền vững trên cơ sở giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, trên nền tảng khoa học - công nghệ ngày càng cao và đổi mới sáng tạo không ngừng, bảo đảm an ninh kinh tế làm cơ sở thúc đẩy và gắn kết hài hòa với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. Phát triển kinh tế - xã hội phải luôn coi trọng bảo vệ và cải thiện môi trường sống, khai thác hợp lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, chủ động ứng phó và thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng.

Phát triển bền vững bao hàm sự phát triển sáng tạo; đổi mới sáng tạo không ngừng, đặc biệt là đổi mới sáng tạo công nghệ. Cách mạng khoa học - công nghệ, nhất là Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ là cơ sở, điều kiện, tiền đề để phát triển bền vững hơn.

Phát triển bền vững, sáng tạo, nhưng bao trùm (bao trùm tất cả mọi người dân trong xã hội, không ai bị “bỏ rơi” phía sau; bất cứ người dân nào cũng được quan tâm để phát triển toàn diện). Con người là mục tiêu, là động lực, là nguồn lực cho phát triển bền vững, sáng tạo, bao trùm.

Phát triển bền vững, sáng tạo, bao trùm là yêu cầu xuyên suốt trong chiến lược phát triển của đất nước, vì mục tiêu con người, dựa vào con người, do con người, trong đó phát triển kinh tế nhanh và bền vững giữ vị trí trung tâm, là mệnh lệnh, là phương sách duy nhất để sớm đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

Phát triển bền vững, sáng tạo, bao trùm cả kinh tế, xã hội, môi trường, trên cơ sở gắn kết chặt chẽ, hữu cơ giữa phát triển kinh tế bền vững với phát triển văn hóa, xã hội bền vững, bao trùm lên tất cả mọi người, không để ai bị “bỏ rơi” phía sau, đồng thời gắn chặt chẽ với phát triển môi trường bền vững. Phát triển kinh tế nhanh, bền vững gắn chặt chẽ, hài hòa, hợp lý với tiến bộ, công bằng xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ vững chắc môi trường.

Phát triển văn hóa, xã hội bền vững trên cơ sở xây dựng xã hội thực sự dân chủ, kỷ cương, đồng thuận, công bằng, văn minh; xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại; xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc, nâng cao chỉ số hạnh phúc của người dân; con người được phát triển toàn diện về trí tuệ, đạo đức, thể chất, tinh thần, năng lực sáng tạo; thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng chính sách phát triển kinh tế - xã hội.

Phát triển kinh tế bền vững, phát triển xã hội bền vững gắn chặt với xây dựng môi trường sống tự nhiên hài hòa, tốt lành, thân thiện với con người; giảm thiểu các tác động tiêu cực của hoạt động kinh tế đến môi trường; quản lý, khai thác hợp lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhất là các nguồn tài nguyên không tái tạo được; từng bước thực hiện “tăng trưởng xanh”, phát triển kinh tế các-bon thấp; phòng ngừa, kiểm soát và khắc phục ô nhiễm, suy thoái môi trường, bảo vệ môi trường cho thế hệ hôm nay và cho thế hệ mai sau; chủ động phòng, chống, hạn chế tác hại của thiên tai, chủ động thích ứng có hiệu quả với biến đổi khí hậu, nhất là nước biển dâng; phát triển kinh tế, phát triển xã hội thích ứng với biến đổi khí hậu...

Nước ta có điều kiện phát triển nhanh và yêu cầu phát triển nhanh cũng đang đặt ra hết sức cấp thiết. Phát triển bền vững, sáng tạo, bao trùm là cơ sở để phát triển nhanh. Phát triển nhanh để tạo nguồn lực cho phát triển bền vững, sáng tạo, bao trùm. Phát triển nhanh và bền vững, sáng tạo, bao trùm phải luôn gắn chặt với nhau trong chiến lược quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển kinh tế - xã hội.

Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh. Phải đặc biệt coi trọng giữ vững ổn định chính trị - xã hội, trật tự, an toàn xã hội, tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ để bảo đảm cho đất nước phát triển nhanh và bền vững, sáng tạo, bao trùm.

2- Đổi mới đồng bộ, mạnh mẽ, phù hợp giữa kinh tế và chính trị vì mục tiêu xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh là cơ sở, là tiền đề quan trọng để phát triển bền vững, sáng tạo, bao trùm

Quyết liệt và mạnh mẽ hơn nữa trong thực hiện đổi mới. Đổi mới chính trị phải đồng bộ, phù hợp với đổi mới kinh tế, trọng tâm là đổi mới hơn nữa nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng trong điều kiện một đảng cầm quyền; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; phát huy thực sự dân chủ trong Đảng và trong xã hội gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương để thúc đẩy đổi mới toàn diện và phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc vì mục tiêu xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Lấy việc thực hiện mục tiêu chung này làm tiêu chuẩn cao nhất để đánh giá hiệu quả của quá trình đổi mới và phát triển. Thể chế hóa và thực hiện nghiêm, có hiệu quả cơ chế: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ.

Không ngừng đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng về kinh tế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị và của toàn xã hội, đặc biệt là đội ngũ trí thức, các doanh nhân, doanh nghiệp,...

3- Phát triển bền vững, sáng tạo, bao trùm là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, của cả hệ thống chính trị

Các cấp ủy đảng, chính quyền, các bộ, ngành và địa phương; các cơ quan, doanh nghiệp, đoàn thể xã hội, các cộng đồng dân cư và mỗi người dân đều phải chung tay phát triển đất nước bền vững, sáng tạo, bao trùm. Các bộ, ngành, địa phương, cơ quan, tổ chức xây dựng quy hoạch, chiến lược, chính sách, kế hoạch hành động, các chương trình, đề án, nhiệm vụ cụ thể để thực hiện các mục tiêu phát triển đất nước bền vững, sáng tạo, bao trùm đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Tăng cường năng lực cho các bộ, ngành, địa phương, cơ quan, tổ chức trong việc thực hiện, lồng ghép, giám sát, đánh giá các mục tiêu phát triển bền vững, sáng tạo, bao trùm. Huy động mọi nguồn lực xã hội; tăng cường sự phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương, các cơ quan, tổ chức, đoàn thể, doanh nghiệp và các bên liên quan nhằm bảo đảm thực hiện thành công các mục tiêu phát triển đất nước bền vững, sáng tạo, bao trùm.

4- Con người là trung tâm của sự phát triển, phát triển vì con người, do con người.

Phát huy đầy đủ vai trò làm chủ của nhân dân; phát huy tối đa nhân tố con người với vai trò là trung tâm, là chủ thể, là nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của phát triển bền vững, sáng tạo, bao trùm. Phát huy, khơi dậy khát vọng dân tộc và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; phát huy vai trò nền tảng của giá trị văn hóa, con người Việt Nam cho phát triển bền vững, sáng tạo, bao trùm. Bảo đảm quyền con người, quyền công dân và các điều kiện để mọi người được phát triển toàn diện. Nâng cao năng lực và tạo cơ chế để nhân dân thực hiện đầy đủ quyền làm chủ, nhất là dân chủ trực tiếp để phát huy mạnh mẽ mọi khả năng sáng tạo và bảo đảm đồng thuận cao trong xã hội, tạo động lực phát triển đất nước. Phát huy lợi thế dân số và con người Việt Nam, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, trọng dụng nhân tài, chăm lo lợi ích chính đáng và không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của mọi người dân, thực hiện công bằng xã hội.

Tạo điều kiện để mọi người và mọi cộng đồng trong xã hội có cơ hội phát triển bình đẳng, được tiếp cận những nguồn lực chung và được phát huy mọi tiềm năng, tham gia, đóng góp và thụ hưởng bình đẳng thành quả của phát triển; cùng nhau xây dựng, tạo ra những nền tảng vật chất, tri thức và văn hóa tốt đẹp cho những thế hệ mai sau. Không để ai bị bỏ lại phía sau, tiếp cận những đối tượng khó tiếp cận nhất trước, bao gồm trẻ em, phụ nữ, người cao tuổi, người nghèo, người khuyết tật, đồng bào vùng sâu, vùng xa và những đối tượng dễ bị tổn thương khác. Bất cứ ai cũng được quan tâm, tạo điều kiện để phát triển toàn diện.

Thực hiện các hoạt động truyền thông, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức và hành động của toàn xã hội về các mục tiêu phát triển bền vững, sáng tạo, bao trùm và Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện sự phát triển bền vững, sáng tạo, bao trùm. Từng bước đưa các nội dung, các mục tiêu phát triển bền vững, sáng tạo, bao trùm vào giảng dạy trong hệ thống giáo dục và đào tạo các cấp.


vna_potal_an_giang_gia_tang_hieu_qua_canh_tac_cho_nong_dan_voi_thiet_bi_bay_khong_nguoi_lai.jpg
Sáng tạo áp dụng thiết bị bay không người lái vào sản xuất giúp nền nông nghiệp công nghệ cao phát triển bền vững, bảo vệ sức khỏe người nông dân tại An Giang_Ảnh: TTXVN

5- Đổi mới sáng tạo, phát triển đột phá lực lượng sản xuất trên nền tảng trình độ khoa học - công nghệ ngày càng cao; đồng thời hoàn thiện quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Hoàn thiện thể chế để tháo gỡ mọi cản trở, đổi mới sáng tạo không ngừng, nhất là đổi mới, sáng tạo công nghệ, tạo điều kiện thuận lợi để giải phóng và phát triển đột phá lực lượng sản xuất, đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học - công nghệ. Phát triển mạnh mẽ khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo giữ vị trí then chốt, là đột phá, là nền tảng, động lực cho phát triển đất nước bền vững, sáng tạo, bao trùm. Công nghệ tiên tiến hiện đại, công nghệ kỹ thuật số, công nghệ sạch và thân thiện với môi trường cần được ưu tiên sử dụng rộng rãi trong các ngành sản xuất. Động viên, khuyến khích, tạo cơ hội, tạo điều kiện cho tất cả mọi người, mọi doanh nghiệp, mọi thành phần kinh tế đổi mới sáng tạo không ngừng và phát triển công nghệ tạo ra bởi người Việt “made by Vietnam” để phát triển bền vững kinh tế tri thức, kinh tế số, bao trùm mọi lĩnh vực, mọi ngành, nghề, mọi tầng lớp nhân dân. Chủ động, tích cực tận dụng triệt để những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, coi đây là “cơ hội vàng” để đất nước phát triển. Chuyển mạnh từ áp dụng, “bắt chước” công nghệ sẵn có sang đổi mới sáng tạo công nghệ, phát triển công nghệ mới, tiên tiến hiện đại. Phải có công nghệ “made by Vietnam” để tạo ra hàng hóa “made by Vietnam”, làm cho Việt Nam phát triển hùng cường.

Đổi mới sáng tạo, nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, nâng cao chất lượng lao động, nhất là lao động giữ vị trí then chốt, lao động kỹ thuật số chất lượng cao, vừa là đột phá, động lực, vừa là tiềm năng, lợi thế để phát triển bền vững, sáng tạo, bao trùm.

Huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực, nhất là nguồn lực trí tuệ con người, trí tuệ nhân tạo, các công nghệ tiên tiến hiện đại, công nghệ kỹ thuật số... cho phát triển. Nâng cao năng suất lao động, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế là chìa khóa để phát triển kinh tế bền vững, làm cơ sở, tiền đề để phát triển xã hội bền vững; phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, phát triển toàn diện con người, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là điểm tựa cho phát triển bền vững, sáng tạo, bao trùm.

Tận dụng triệt để lợi thế của nước đi sau, còn đang trong thời kỳ có cơ cấu “dân số vàng” để kết hợp hài hòa phát triển kinh tế theo cả chiều rộng và chiều sâu, trong đó phát triển theo chiều sâu là chính, tạo bước đột phá trong nâng cao năng suất, chất lượng phát triển và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Ổn định vững chắc kinh tế vĩ mô. Chú trọng phát triển kinh tế xanh, sạch... Đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với cơ cấu lại nền kinh tế. Đẩy mạnh thực hiện các đột phá chiến lược. Hoàn thiện, nâng cao chất lượng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm có năng lực canh tranh cao trong khu vực và trên thế giới; hoàn thành quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường hiện đại phù hợp thông lệ quốc tế...

Huy động và sử dụng có hiệu quả tất cả các nguồn lực trong và ngoài nước, nhất là nguồn lực trí tuệ từ cách mạng công nghiệp 4.0 cho phát triển bền vững, sáng tạo, bao trùm.

Phát triển mạnh mẽ khoa học - công nghệ thực sự là động lực phát triển, là đột phá chiến lược, là lực lượng sản xuất quan trọng trong nền kinh tế tri thức, kinh tế số; thúc đẩy mạnh mẽ đổi mới sáng tạo quốc gia trong phát triển đất nước.

Phát triển nhanh, hài hòa các thành phần kinh tế và các loại hình doanh nghiệp. Tăng cường tiềm lực và nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của kinh tế nhà nước. Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Phát triển kinh tế tập thể với nhiều hình thức hợp tác đa dạng mà nòng cốt là hợp tác xã. Đẩy mạnh phát triển các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh với sở hữu chung mà chủ yếu là các doanh nghiệp cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn... để loại hình kinh tế này trở thành phổ biến trong nền kinh tế, thúc đẩy xã hội hóa sản xuất, kinh doanh và sở hữu. Hoàn thiện cơ chế, chính sách để phát triển mạnh kinh tế tư nhân thực sự trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế. Khuyến khích phát triển mạnh kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.

Tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch. Phát triển đồng bộ, hoàn chỉnh và ngày càng hiện đại các loại thị trường. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý và phân phối, bảo đảm công bằng lợi ích, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

6- Xây dựng nền kinh tế có tính tự chủ ngày càng cao trong điều kiện chủ động, tích cực hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng để phát triển bền vững, sáng tạo, bao trùm.

Phát huy nội lực và sức mạnh dân tộc là yếu tố quyết định, đồng thời tranh thủ ngoại lực và sức mạnh thời đại là yếu tố quan trọng để phát triển nhanh, bền vững, sáng tạo, bao trùm và xây dựng nền kinh tế có tính tự chủ ngày càng cao, nâng cao sức chống chịu và khả năng thích ứng của nền kinh tế. Không ngừng tăng cường tiềm lực kinh tế và sức mạnh tổng hợp của đất nước để chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng và có hiệu quả. Lấy phát triển để duy trì ổn định, tạo nền tảng cho phát triển bền vững, sáng tạo, bao trùm, sớm thu hẹp và bắt kịp các quốc gia phát triển.

Tăng cường huy động, sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực trong và ngoài nước để thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững, sáng tạo, bao trùm; tập trung nguồn lực nhằm giải quyết những vướng mắc, các lĩnh vực gặp khó khăn trong quá trình thực hiện mục tiêu, kế hoạch hành động phát triển bền vững, sáng tạo, bao trùm.

Phát triển lực lượng doanh nghiệp Việt Nam với nhiều thương hiệu mạnh, có sức cạnh tranh cao để làm chủ thị trường trong nước, mở rộng thị trường ngoài nước, tham gia mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu, góp phần bảo đảm tính tự chủ của nền kinh tế. Lấy doanh nghiệp Việt Nam làm động lực phát triển chủ yếu. Trong hội nhập quốc tế, phải luôn chủ động thích ứng với những thay đổi của tình hình, bảo đảm hiệu quả và lợi ích quốc gia, dân tộc.

Tăng cường hợp tác quốc tế trong quá trình thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững, sáng tạo, bao trùm của quốc gia; tích cực tham gia và tổ chức các hoạt động chia sẻ, học tập kinh nghiệm và nâng cao năng lực thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững, sáng tạo, bao trùm; chủ động phối hợp và tham gia cùng cộng đồng quốc tế giải quyết các vấn đề toàn cầu và khu vực cũng như các thách thức đối với thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững, sáng tạo, bao trùm.

Huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn hỗ trợ của quốc tế cho việc thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững, sáng tạo, bao trùm của Việt Nam.

Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia; gắn kết chặt chẽ phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh, nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại; giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; xây dựng xã hội kỷ cương, công bằng; bảo đảm an toàn cho cuộc sống người dân.

Những chủ trương, chính sách lớn

1- Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, mục tiêu... phát triển đất nước bền vững, sáng tạo, bao trùm đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

2- Nâng cao nhận thức và hành động của toàn xã hội về phát triển bền vững, sáng tạo, bao trùm và thực hiện có hiệu quả các mục tiêu phát triển bền vững, sáng tạo, bao trùm của Việt Nam.

3- Hoàn thiện, nâng cao chất lượng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và thể chế phát triển bền vững, sáng tạo, bao trùm; đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế; bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô; huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực cho phát triển bền vững, sáng tạo, bao trùm.

4- Phát triển mạnh công nghiệp và xây dựng theo hướng hiện đại, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh; thực hiện có hiệu quả chiến lược công nghiệp quốc gia; chú trọng phát triển công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp dựa trên công nghệ mới, tiên tiến, hiện đại, công nghệ kỹ thuật số...

5- Phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền vững, nâng cao sức cạnh tranh; đặc biệt là chú trọng phát triển nông nghiệp công nghệ cao.

6- Phát triển mạnh các ngành dịch vụ, nhất là các dịch vụ có giá trị cao, tiềm năng lớn và có sức cạnh tranh, tăng nhanh các ngành dịch vụ dựa trên công nghệ mới, hiện đại, công nghệ kỹ thuật số...

7- Phát triển nhanh kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhất là kết cấu hạ tầng giao thông hiện đại, kết cấu hạ tầng công nghệ thông tin, kết cấu hạ tầng công nghệ kỹ thuật số...

8- Phát triển hài hòa, bền vững các vùng, xây dựng đô thị thông minh và nông thôn mới...

9- Phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa, xã hội hài hòa với phát triển kinh tế và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; khơi dậy và phát huy khát vọng dân tộc, phát huy vai trò nền tảng của giá trị văn hóa, con người Việt Nam...

10- Phát triển mạnh sự nghiệp y tế, nâng cao chất lượng công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân; phát triển y tế công nghệ cao, công nghệ số...

11- Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đổi mới căn bản, toàn diện và phát triển nhanh giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững, sáng tạo, bao trùm; chú trọng nguồn nhân lực công nghệ kỹ thuật số chất lượng cao; xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ...

12- Phát triển mạnh khoa học và công nghệ thực sự là quốc sách hàng đầu, là một đột phá chiến lược, là động lực then chốt của quá trình phát triển nhanh, bền vững, sáng tạo, bao trùm...

13- Bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường, chủ động ứng phó và thích nghi có hiệu quả với biến đổi khí hậu, nước biển dâng; phòng và chống thiên tai tích cực, chủ động, sáng tạo, giảm thiểu thiệt hại...

14- Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia; bảo đảm an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội; nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, tích cực và chủ động hội nhập quốc tế, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế

Như vậy, nhận thức, chủ trương, quan điểm của Đảng ta về phát triển nhanh, bền vững, sáng tạo, bao trùm đất nước vừa có kế thừa nhận thức chung của thế giới, vừa có sự vận dụng sáng tạo, bổ sung, phát triển phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam. Phát triển nhanh, bền vững, sáng tạo, bao trùm là quá trình phát triển có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, ổn định trong một thời gian dài, có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa giữa phát triển kinh tế bền vững với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, phát triển bền vững xã hội và bảo vệ môi trường; phát triển bền vững cả về kinh tế, cả về xã hội và cả về môi trường; phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng những nhu cầu vật chất và tinh thần của thế hệ hiện nay nhưng không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng những nhu cầu của các thế hệ tương lai. Đồng thời, phát triển nhanh, bền vững, sáng tạo, bao trùm của Việt Nam lấy con người là trung tâm, là mục tiêu; phát huy tối đa nhân tố con người, khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực cho sự phát triển, tạo môi trường, điều kiện thuận lợi nhất để sáng tạo không ngừng, phát triển bền vững kinh tế tri thức, kinh tế số; phát triển nhanh, bền vững, sáng tạo, bao trùm là sự nghiệp chung của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; tất cả mọi người, mọi doanh nghiệp, mọi thành phần kinh tế, mọi cộng đồng trong xã hội có cơ hội bình đẳng để phát triển và phải có trách nhiệm tham gia đóng góp vào sự phát triển chung, đồng thời được hưởng thành quả từ phát triển nhanh, bền vững, sáng tạo, bao trùm, cùng nhau xây dựng đất nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, củng cố quốc phòng, an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Quan điểm, chủ trương, chính sách lớn về phát triển nhanh, bền vững, sáng tạo, bao trùm đất nước đã và đang được Đảng ta lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện đồng bộ bằng rất nhiều nhiệm vụ, giải pháp cụ thể, quyết liệt. Quan điểm phát triển nhanh, bền vững, sáng tạo, bao trùm đất nước đang được quán triệt trong việc sửa đổi, bổ sung, ban hành hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách ngày càng hoàn chỉnh, nhất là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, gắn kết chặt chẽ phát triển kinh tế với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, phát triển xã hội bền vững, bảo vệ môi trường bền vững. Đồng thời, phát triển nhanh, bền vững, sáng tạo, bao trùm đất nước là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của các ngành, lĩnh vực, các vùng, các địa phương. Phát triển nhanh, bền vững, sáng tạo, bao trùm đất nước được quán triệt triển khai thực hiện trong quy hoạch, chiến lược, kế hoạch phát triển khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; phát triển kết cấu hạ tầng phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội...

Vấn đề hết sức quan trọng phát triển bền vững là sự kết hợp phát triển bền vững đồng thời của cả 3 trụ cột: kinh tế - xã hội - môi trường. Nhưng phải quan tâm đến sự liên kết, sự ràng buộc lẫn nhau của 3 trụ cột này trong quá trình phát triển, bảo đảm yêu cầu kết hợp và đi đôi với nhau của ba trụ cột trong quá trình phát triển nhằm đạt tới sự hợp lý, hài hòa của ba trụ cột trong quá trình phát triển; trong đó phát triển kinh tế bền vững là điều kiện, là tiền đề, là cơ sở kinh tế để phát triển xã hội bền vững, phát triển môi trường bền vững, lấy việc xây dựng môi trường xã hội, môi trường tự nhiên tốt đẹp, lành mạnh để con người sống trong đó được phát triển toàn diện làm mục tiêu cuối cùng cho sự phát triển đất nước nhanh, bền vững, sáng tạo, bao trùm. Tuy nhiên, cần xây dựng một mô hình phát triển nhanh, bền vững, sáng tạo, bao trùm quốc gia để triển khai thực hiện trong cả nước cũng như trong từng ngành, từng lĩnh vực, từng vùng, từng địa phương cho thống nhất đem lại hiệu quả đồng bộ, cao hơn./.


Vũ Văn Phúc
PGS, TS, Phó Chủ tịch Hội đồng Khoa học các cơ quan Đảng Trung ương

Nguồn: TCCS

False
Phát triển vùng nuôi cá tra giống chất lượng cao ở cù lao Vĩnh Hòa Bài viếtPhát triển vùng nuôi cá tra giống chất lượng cao ở cù lao Vĩnh Hòa /XDDImages/2019-12/Ca-tra-vinh-hoa-1_Key_02122019080810.jpg

(TUAG)- An Giang nằm ở vùng hạ lưu sông Mê Kông, là tỉnh đầu nguồn của vùng đồng bằng sông Cửu Long, có hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt và có hai con sông Tiền, sông Hậu, cùng với nhánh sông Châu Đốc, sông Vàm Nao. Tất cả đã tạo nên cảnh quan đặc thù vùng sông nước An Giang, hết sức thuận lợi cho nghề nuôi trồng và khai thác thủy sản phát triển.

02/12/2019 9:00 SANoĐã ban hành

Với nhiều lợi thế

An Giang là một trong những tỉnh dẫn đầu cả nước về sản lượng và kim ngạch xuất khẩu thủy sản, nhất là cá tra. Tỉnh cũng đã ban hành nhiều chủ trương chính sách, trong đó có Quy hoạch phát triển ngành thủy sản đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 và Điều chỉnh bổsung Quy hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản tỉnh đến năm 2030. Với những định hướng có hiệu quả về Quy hoạch vùng sản xuất thủy sản gắn liền với ứng dụng, chuyển giao khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ cao vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và đặc biệt nâng cao giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích cũng như tiết kiệm tài nguyên, ứng phó với biến đổi khí hậu trong tương lai qua đó góp phần vào tăng trưởng kinh tế xã hội của địa phương.Thủy sản ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh An Giang với hơn 25 năm đóp góp vào sự phát triển kinh tế và an sinh xã hội của tỉnh. Đặc biệt hơn 10 năm qua nhờ vào quá trình hiện đại hóa, kiên trì chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, An Giang tiếp tục thắng lợi vượt bậc hơn trong ngành thủy sản cả nước.

Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh An Giang, phong trào nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh đang có xu hướng khôi phục và phát triển mạnh. An Giang và nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh, trong đó có Tân Châu, được xem là một trong những “cái nôi” truyền thống ngành cá tra của vùng. Với chủ trương của tỉnh là chuyển dịch kinh tế nông nghiệp theo hướng tăng tỷ trọng ngành thủy sản thì ngành đã đóng góp lớn vào sự phát triển kinh tế của địa phương.


Ông Nguyễn Thanh Bình, Chủ tịch UBND tỉnh An Giang tham quan khu nhà màng cá tra giống của Tập đoàn Việt - Úc

Cồn Vĩnh Hòa (thuộc ấp Vĩnh Bường, xã Vĩnh Hòa, T.X Tân Châu), nằm ở vị  trí đầu nguồn sông Tiền, được dòng Mê Kông cung cấp nước quanh năm, đây được xem là nơi lý tưởng để cá tra đẻ trứng, sinh trưởng tự nhiên, và đây cũng là “cái nôi” cung cấp nguồn cá tra, cá basa giống tự nhiên cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Tận dụng thế mạnh này, 2 doanh nghiệp lớn là Tập đoàn Việt – Úc và Công ty Cổ phần Vĩnh Hoàn đã tìm đến đây đầu tư dự án sản xuất giống cá tra 3 cấp ứng dụng công nghệ cao, nhằm mở thêm nhiều cơ hội phát triển cho ngành hàng chủ lực của An Giang nói chung và thị xã Tân Châu nói riêng.

Với khát vọng “Nâng Tầm Cá Việt”, Tập đoàn Việt – Úc không ngừng đầu tư vào công nghệ và con người để nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững ngành cá tra Việt Nam. Tiếp nối thành công từ việc ứng dụng các công nghệ vượt trội trong ngành tôm, Tập đoàn Việt – Úc đã triển khai Khu sản xuất cá tra giống công nghệ cao tại cồn Vĩnh Hòa. Công ty Cá Tra Việt Úc là đơn vị tiên phong trong việc ứng dụng công nghệ cao trong nghiên cứu quy trình chọn lọc đàn cá Tra bố mẹ đến sản xuất cá Tra giống, với tâm huyết và mong muốn là góp sức cùng tỉnh và thị xã phát triển nghề nuôi cá Tra đảm bảo chất lượng và cung ứng con giống tốt cho thị trường Đồng Bằng Sông Cửu Long.

Trong chuyến khảo sát Khu nuôi trồng thủy sản của Công ty Cổ phần cá tra Việt Úc, tại cồn Vĩnh Hòa, ngày 10/7/2019 vừa qua, Chủ tịch UBND tỉnh An Giang - Nguyễn Thanh Bình nhấn mạnh: “Có thể nói rằng, tỉnh An Giang rất là phấn khởi, Tập đoàn Việt – Úc về đầu tư dự án nuôi cá tra 3 cấp chất lượng cao trên địa bàn tỉnh An Giang. Trong quá trình Tập đoàn Việt – Úc để tìm vùng nuôi cho phù hợp, thì đến cồn Tân Châu này, chọn nơi đây thì UBND tỉnh rất là mừng. Bởi lẽ, An Giang là vùng khởi điểm đầu tiên nuôi cá tra ở đây và sau đó lan rộng ra các tỉnh khác; An Giang là một trong những tỉnh có sản lượng nuôi cá tra nhất, nhì cả nước; hiện nay và hằng năm cung ứng lượng xuất khẩu cá tra rất lớn sang các thị trường ở ngoài nước. Do vậy, Tập đoàn Việt – Úc đầu tư ươn con cá tra giống ở đây, đã đáp ứng yêu cầu các kỹ thuật, đảm bảo con giống khỏe mạnh, tăng trưởng cao”.  

Đến thời điểm hiện nay, Công ty Cá Tra Việt Úc đã xây dựng hoàn thành khu văn phòng làm việc, khu nhà ở cho cán bộ, hội trường và nhà kho. Xây dựng xong 18 nhà màng (với 200m2/nhà), và 36 ao (với 200m2/ao) để phục vụ cho nuôi vỗ và ương cá Tra giống. Riêng trong năm 2019 này, Công ty tiếp tục triển khai 12 nhà màng (10 nhà màng 200m2 và 2 nhà màng lớn, mỗi cái 10.000m2), một nhà để phục vụ lưu giữ cá bố mẹ để chọn giống; 01 nhà phục vụ sản xuất giống cá tra công nghệ cao trong nhà màng. Chương trình chọn giống cá tra được hổ trợ bởi Tập đoàn Việt -Úc có sự tham gia của các chuyên gia từ viện nghiên cứu CSIRO của Úc, đến nay đã sản xuất được 2 thế hệ, đang tiến triển rất tốt, kỳ vọng 3-4 năm nữa đưa ra thị trường con giống có sức đề kháng tốt hơn, sức sống tốt hơn, tăng trưởng tốt hơn thì sẽ cải thiện được năng suất và chất lượng con cá. Với con giống mới này, con cá tra sẽ có sức đề kháng tốt hơn thì nông dân ít phải dùng thuốc. Việc chọn được giống một thế hệ thì giúp cải thiện thế hệ đó từ 7% - 8%, do đó cần phải tạo rất nhiều thế hệ để mới có thể đạt được con giống tốt.

Giải pháp phát triển ngành cá tra chất lượng cao, bền vững

Một trong những lợi thế của ngành cá tra An Giang đó chính là thành công với Đề án “Liên kết sản xuất giống cá tra 3 cấp chất lượng cao cho vùng ĐBSCL”, được Bộ NN&PTNT đánh giá rất cao. Với đề án này, tỉnh đã thực hiện định hướng cung cấp con giống chất lượng cao theo hướng liên kết sản xuất giống cá tra 3 cấp, từng bước đáp ứng đủ về nhu cầu con giống cá tra chất lượng tốt cho vùng ĐBSCL, góp phần tái tạo ngành hàng cá tra theo hướng bền vững và chuỗi ngành hàng cá tra Việt Nam sẽ được kiểm soát chặt chẽ mọi khâu trong chuỗi sản xuất.Với đầu tư về mặt công nghệ và con người, Khu sản xuất cá tra công nghệ cao trên địa bàn tỉnh nói chung và tại Cồn Vĩnh Hòa nói riêng, sẽ là tiền đề góp phần phát triển nghề nuôi cá Tra của Đồng Bằng Sông Cửu Long với những bước đột phá toàn diện về mọi mặt, liên kết sản xuất giống cá tra 3 cấp chất lượng cao góp phần để con cá tra phát triển bền vững.


Mô hình nuôi cá tra thương phẩm tại cồn Vĩnh Hòa

Thành công ban đầu của Công ty Cổ phần Việt Úc trong đầu tư dự án cá tra giống công nghệ cao với quy mô lớn tại Cồn Vĩnh Hòa, càng tạo động lực để các doanh nghiệp lớn, điển hình là Công ty Cổ phần Vĩnh Hoàn đến thực hiện đẩy nhanh triển khai dự án. Hiện tại, Công ty Cổ phần Vĩnh Hoàn đã thành lập Công ty TNHH Sản xuất giống cá tra Vĩnh Hoàn, trụ sở đặt ngay tại ấp Vĩnh Bường (xã Vĩnh Hòa). Tiếp sau giai đoạn 1, công ty sẽ tiến hành khảo sát khu vực khoảng 100 hecta phía thượng lưu cồn Vĩnh Hòa để mở rộng quy mô theo thống nhất chủ trương của UBND tỉnh An Giang. Về giải pháp phát triển dự án giống cá tra 3 cấp trên địa bàn tỉnh sắp tới, Ông Nguyễn Thanh Bình, Chủ tịch UBND tỉnh An Giang nhấn mạnh: “Tỉnh sẽ sẵn sàng hỗ trợ cho doanh nghiệp để phát triển dự án này, từ lúc khởi đầu đến lúc đưa vào hoạt động ổn định, trong đó tỉnh sẽ hỗ trợ các điều kiện để cho dự án triển khai đúng theo tiến độ; đồng thời, yêu cầu các Sở, Ngành liên quan, cũng như địa phương sẽ tập trung hỗ trợ, để việc triển khai dự án này hết sức thuận lợi, phát triển trong thời gian tới”.

Với đầu tư về mặt công nghệ và con người, Khu sản xuất cá tra công nghệ cao trên địa bàn tỉnh An Giang nói chung và cồn Vĩnh Hòa (TX. Tân Châu) nói riêng, sẽ là tiền đề góp phần phát triển nghề nuôi cá Tra của Đồng Bằng Sông Cửu Long với những bước đột phá toàn diện về mọi mặt, liên kết sản xuất giống cá tra 3 cấp chất lượng cao góp phần để con cá tra phát triển bền vững trong thời gian tới.

Văn Phô
False
Ban Kinh tế - ngân sách HĐND tỉnh thẩm tra các nội dung chuẩn bị trình tại kỳ họp thứ 12 Hội đồng nhân dân tỉnh Ban Kinh tế - ngân sách HĐND tỉnh thẩm tra các nội dung chuẩn bị trình tại kỳ họp thứ 12 Hội đồng nhân dân tỉnh http://tuyengiaoangiang.vn/images/2019/thang11/HDND-ban-ktns.jpg
(TUAG)- Chiều ngày 27/11/2019, Ban Kinh tế - ngân sách Hội đồng nhân dân tỉnh đã họp thẩm tra các báo cáo, tờ trình và dự thảo nghị quyết thuộc lĩnh vực Ban phụ trách chuẩn bị trình tại kỳ họp thứ 12 Hội đồng nhân dân tỉnh.

28/11/2019 3:00 CHNoĐã ban hành
Tại cuộc họp, trên cơ sở ý kiến thảo luận của các đại biểu, Ban Kinh tế – ngân sách Hội đồng nhân dân tỉnh đã thống nhất với các nội dung do Ủy ban nhân dân tỉnh trình Hội đồng nhân dân tỉnh như: Điều chỉnh, bổ sung Nghị quyết số 05/NQ-HĐND ngày 19/7/2018 của Hội đồng nhân dân tỉnh về điều chỉnh bổ sung Nghị quyết số 11/NQ-HĐND ngày 14 tháng 7 năm 2017 của Hội đồng nhân dân tỉnh phê chuẩn phương án phân bổ chi tiết kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016 - 2020 (nguồn vốn đầu tư ngân sách tỉnh); Điều chỉnh, bổ sung Nghị quyết số 29/NQ-HĐND ngày 07/12/2018 của Hội đồng nhân dân tỉnh về phương án phân bổ kế hoạch vốn đầu tư phát triển năm 2019 (vốn đầu tư tập trung và vốn thu xổ số kiến thiết).

Trưởng Ban Kinh tế - ngân sách Hội đồng nhân dân tỉnh phát biểu ý kiến tại buổi làm việc

Phương án phân bổ, sử dụng nguồn vốn đầu tư công do cấp tỉnh quản lý năm 2020; sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 05/NQ-HĐND ngày 19 tháng 7 năm 2018 về việc điều chỉnh bổ sung Nghị quyết số 11/NQ-HĐND ngày 14/7/2017 của Hội đồng nhân dân tỉnh phê chuẩn phương án phân bổ chi tiết kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016 - 2020 (nguồn vốn ngân sách tỉnh An Giang)...

Nhìn chung, nội dung dự thảo Nghị quyết phù hợp với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước; tình hình, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của địa phương./.  
                                                
Tin, ảnh: Nguyễn Hùng
False
Liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị, nhân tố quyết định phát triển nông nghiệp bền vữngTinLiên kết sản xuất theo chuỗi giá trị, nhân tố quyết định phát triển nông nghiệp bền vững/_catalogs/wp/2019-11/Lien-ket-san-xuat_Key_19112019091314.jpg

(TUAG)- Liên Hiệp các Hội Khoa học và Kỹ Thuật phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Trường Đại học An Giang tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề “Phát triển hợp tác, liên kết, xây dựng chuỗi giá trị nông - thủy sản bền vững”.

19/11/2019 10:00 SANoĐã ban hành

Nhằm đánh giá thực trạng việc hợp tác, liên kết theo chuỗi giá trị trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp ở An Giang và các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long; đồng thời, định hướng, khuyến khích các giải pháp phát triển hợp tác, liên kết theo chuỗi giá trị trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp của tỉnh An Giang và các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, ngày 15/11, Liên Hiệp các Hội Khoa học và Kỹ Thuật phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Trường Đại học An Giang tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề “Phát triển hợp tác, liên kết, xây dựng chuỗi giá trị nông - thủy sản bền vững”.


Sự “dấn thân” của lãnh đạo địa phương

Ông Trương Kiến Thọ, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh An Giang cho biết, trong những năm qua, sản xuất nông nghiệp luôn được xem là nền tảng và là đầu tàu của nền kinh tế tỉnh An Giang, với thế mạnh là sản xuất lúa và cá nước ngọt đã đạt những thành tựu to lớn trong sản xuất, trong đó diện tích gieo trồng lúa năm 2018 đạt 628 ngàn ha, sản lượng lúa ổn định ở mức gần 4 triệu tấn; sản xuất rau màu và cây ăn trái đạt 557,3 ngàn tấn; sản lượng các loại cây lâu năm đạt gần 206 ngàn tấn; diện tích mặt nước nuôi cá tra của An Giang năm 2018 là 1.431 ha với sản lượng 371 ngàn tấn; tăng 75 ngàn tấn so với năm 2017.
 
Kết quả thực hiện liên kết sản xuất, tiêu thụ lúa gạo năm 2018, đã có 37 doanh nghiệp (27 công ty lương thực và 10 công ty giống) triển khai liên kết sản xuất thông qua 20 hợp tác xã và 10 tổ hợp tác với diện tích là 30.333 ha đạt tỉ lệ trên 55% diện tích kế hoạch (55.100 ha); 13 vùng được cấp chứng nhận đủ điều kiện sản xuất rau an toàn với tổng diện tích 2.697 ha và hơn 206 ha diện tích nuôi cá tra của các hộ dân có hợp đồng liên kết với các doanh nghiệp.

Ngoài ra, tỉnh cũng đã xây dựng chuỗi liên kết giống cá Tra 3 cấp giữa Chi hội sản xuất giống AFA với 31 hội viên tham gia, tổng diện tích ương nuôi giống là 200 ha và Chi hội sản xuất cá giống huyện Châu Phú với tổng số 16 hội viên, tổng diện tích tham gia 31,8 ha; đến nay, hai Chi hội đã sản xuất và cung cấp hơn 300 triệu con giống cá tra đến các vùng nuôi của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh An Giang như Công ty Sao Mai, Nam Việt, Cửu Long, Lộc Kim Chi,…

Tính đến cuối tháng 9/2019 toàn tỉnh An Giang có 191 hợp tác xã hoạt động trên 6 lĩnh vực như: 136 hợp tác xã nông nghiệp, thủy sản (chiếm 71,2%); 24 quỹ tín dụng nhân dân (chiếm 12,57%); 23 hợp tác xã vận tải (chiếm 12,04%); 6 hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp (chiếm 3,14%); 1 hợp tác xã thương mại - dịch vụ - du lịch - nông nghiệp (chiếm 0,52%); 1 hợp tác xã tài nguyên và môi trường (chiếm 0,52%).

Theo ông Thọ, việc tiêu thụ nông sản trong những năm qua chủ yếu thông qua hệ thống thương lái thu mua nông sản từ nông dân sau đó giao lại cho các nhà máy chế biến xuất khẩu và tiêu thụ nội địa. Qua nhiều năm thực tế tại địa phương, hệ thống thương lái đã góp phần giải quyết đầu ra cho nông sản, nhất là vào cao điểm thu hoạch đã không xảy ra tình trạng ứ đọng nông sản hàng hóa trong dân. Tuy nhiên, cách làm này luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro về giá, nông dân không quyết định được giá bán của nông sản do mình sản xuất, thường xuyên gặp cảnh được mùa mất giá. Về phía doanh nghiệp chế biến cũng không chủ động và quản lý được chất lượng của nguồn nguyên liệu đầu vào.

Từ thực tế hiệu quả của các mô hình liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản của tỉnh An Giang trong thời gia qua, tỉnh An Giang xác định, trong giai đoạn hiện nay, chỉ có liên kết sản xuất theo quy mô lớn, hợp tác xã nông nghiệp làm trung tâm kết nối với doanh nghiệp, doanh nghiệp xác định trước nhu cầu thị trường tiêu thụ để định hướng sản xuất mới đảm bảo được quan hệ cung - cầu hài hòa, nông dân mới tránh được tình trạng “được mùa mất giá’’, qua đó, từng bước nâng cao chất lượng, giá trị nông sản và thu nhập cho người nông dân.

“Để xây dựng thị trường nông – thủy sản ổn định, đảm bảo tốt nhất quyền lợi cho người nông dân, thời gian qua tỉnh An Giang đã tích cực mời gọi, hỗ trợ các doanh nghiệp có tiềm năng như Tập đoàn Lộc Trời (tiêu thụ lúa theo tiêu chuẩn SRP); Tập đoàn OLAM (tiêu thụ lúa giống Nàng Hoa 9, Jasmine 85); Tập đoàn Sun Rice (tiêu thụ lúa gạo hạt tròn); Tập đoàn Tân Long; Công ty TNHH Lương thực Tấn Vương; thủy sản có Công ty Cổ phần Tập đoàn Sao Mai, Công ty Vĩnh Hoàn, Nam Việt; trái cây có Công ty Chánh Thu… đa và đang liên kết rất tốt với các tổ chức nông dân trên địa bàn tỉnh để có vùng nguyên liệu lớn và chất lượng ổn định, phương thức thực hiện phù hợp theo nhu cầu sản xuất tại các địa phương. Thời gian tới sẽ tiếp tục có các tập đoàn lớn như tập đoàn TH, FLC… đến đầu tư và liên kết sản xuất tiêu thụ nông sản với nông dân An Giang” - ông Thọ thông tin thêm.

PGS.TS Nguyễn Phú Son - Khoa Kinh tế, Trường Đại học Cần Thơ đánh gia, việc tổ chức sản xuất các mặt hàng nông - thủy sản chủ lực của tỉnh ở An Giang nói riêng và đồng bằng sông Cửu Long nói chung theo mô hình chuỗi giá trị đã được xác định là giải pháp trọng tâm trong quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp; nhiều doanh nghiệp đã hợp tác, liên kết với người sản xuất trên lĩnh vực xuất khẩu lúa gạo, rau màu, trái cây, thủy sản… và bước đầu các mô hình đã tạo nền tảng liên kết giữ doanh nghiệp và nông dân, bảo đảm đầu ra cho sản phẩm có thị trường tiêu thụ tương đối tốt. Tuy nhiên, việc hợp tác, liên kết theo chuỗi giá trị trong nông nghiệp ở tỉnh An Giang còn nhiều yếu tố bất cập, chưa ổn định và thiếu bền vững. Điều dễ nhận thấy trong chuỗi giá trị nông - thủy sản hiện nay là thiếu sự hợp tác hoặc liên kết hài hòa lợi ích giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị; do vậy, các hợp đồng giữa người sản xuất và doanh nghiệp thu mua, chế biến, xuất khẩu chưa phát huy hiệu quả và còn nhiều bất cập. Bên cạnh đó, các yếu tố thúc đẩy và phát triển chuỗi liển kết như dịch vụ hỗ trợ, cơ sở hạ tầng, vai trò của các hiệp hội, ngành hàng, cơ quan liên quan còn hạn chế.

“Từ thực tế liên kết trong sản xuất và tiêu thụ nông sản của các địa phương ở vùng đồng bằng sông Cửu Long nói chung và An Giang nói riêng cho thấy ở đâu có được sự “dấn thân” của lãnh đạo địa phương, ở đó xác suất thành công của sự liên kết càng cao. Bởi lẻ, chính họ là người hiểu và nắm bắt được một cách tường tận người nông dân của họ đang cần gì và có được năng lực như thế nào để thực hiện vấn đề liên kết. Tuy nhiên, sự dấn thân ở đây dựa trên quan điểm phát triển thực sự, chứ không chỉ dựa vào “thành tích” hay “vụ lợi”, để từ đó thúc đẩy người dân và doanh nghiệp xây dựng những mối liên kết mang tính hình thức, chiếu lệ”- PGS.TS Nguyễn Phú Son phân tích.

Bên cạnh sự “dấn thân” của lãnh đạo địa phương, theo PGS.TS Nguyễn Phú Son, sự đóng góp của nhà khoa học, đặc biệt là trong lĩnh vực quản lý, kinh tế và thị trường, là chất kết dính không thể thiếu được để xây dựng một liên kết bền vững trong sản xuất và tiêu thụ nông sản hàng hóa.

Theo PGS.TS Nguyễn Phú Son, trong một thời gian tương đối dài, từ Quyết định số 80 đến Quyết định 62 của Thủ tướng Chính phủ, cũng như trong thực tế triển khai các Quyết định này, hầu như chúng ta đều tập trung vào sự đóng góp thiên về mặt kỹ thuật sản xuất từ các nhà khoa học. Điều này không sai, tuy nhiên trong điều kiện thị trường như hiện nay, đặc biệt trong bối cảnh của một nền kinh tế hội nhập ngày càng gia tăng cả về mặt số lượng và chất lượng, thì việc nâng cao năng lực kinh doanh và thị trường, cũng như năng lực quản lý của các nông dân và tổ chức kinh tế của nông dân là không thể thiếu được.

Nâng cao giá trị gia tăng thông qua liên kết sản xuất

TS. Lê Văn Bảnh, Nguyên Viện trưởng Viện Lúa đồng bằng sông Cửu Long, Hiệu trưởng Trường Nghề Nam bộ đánh giá, trong những năm qua, nền nông nghiệp nước ta đã đạt được những thành quả to lớn, từ tự cung tự cấp, năng suất kém, không đáp ứng được nhu cầu trong nước, chuyển sang nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa, xuất khẩu, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế nước nhà. Từng bước hình thành các vùng sản xuất tập trung, cánh đồng lớn, chuyên canh, các thành phần kinh tế phát triển đa dạng, từ hộ nông dân, tổ hợp tác, hợp tác xã, trang trại, doanh nghiệp, tập đoàn,... Tuy nhiên, cũng còn những tồn tại yếu kém do việc ứng dụng khoa học công nghệ còn hạn chế, đa số quy mô sản xuất theo nông hộ nhỏ lẻ, năng suất thấp, sản phẩm làm ra người nông dân không phải là chủ thể quyết định được giá cả mà phải phụ thuộc vào thương lái, doanh nghiệp, tình trạng được mùa mất giá do thị trường đầu ra không ổn định thường xuyên tái diễn, giá trị của kinh tế nông nghiệp còn nhỏ bé so với tiềm năng, đại bộ phận nông dân vẫn còn nghèo so mặt bằng chung cả nước.
 
Nguyên nhân chính là thiếu sự liên kết giữa sản xuất với thị trường tiêu thụ, do bản thân các hộ nông dân nhỏ lẻ không thể thực hiện tất cả các khâu từ tổ chức sản xuất, chế biến, nắm bắt nhu cầu thị trường, đưa sản phẩm hàng hóa đến tay người tiêu dùng cuối cùng… Quá trình này đòi hỏi phải có sự tham gia của các tổ chức, cá nhân vào chuỗi các hoạt động liên kết trên cơ sở phân bổ lợi ích hợp lý giữa các chủ thể.

Theo TS. Lê Văn Bảnh, trong nền kinh tế thị trường, muốn sản xuất hiệu quả, bền vững thì đều phải có mối liên kết và đảm bảo hài hòa về lợi ích của các nhân tố tham gia trong chuỗi giá trị bao gồm: sản xuất, chế biến, phân phối và tiêu dùng. Tổ chức sản xuất phải theo nhu cầu của thị trường và theo năng lực của người sản xuất, sản xuất phải theo chuỗi giá trị, liên kết để bao tiêu, tiêu thụ sản phẩm.     

Trong chuỗi giá trị, các công đoạn cơ bản và tất yếu bao gồm: chuẩn bị sản xuất, sản xuất, sau sản xuất, tiếp thị và bán hàng. Các công đoạn này diễn ra kế tiếp nhau và tác động lẫn nhau để cùng tạo ra sản phẩm và tiêu thụ sản phẩm đó. Để chuỗi giá trị diễn ra bình thường thì bên cạnh các hoạt động sản xuất phải có các hoạt động dịch vụ hỗ trợ, đó là: quy hoạch vùng sản xuất, phát triển cơ sở hạ tầng, đào tạo và quản lý nguồn nhân lực, cung cấp thông tin, và những dịch vụ bảo trì thiết bị, nhà xưởng sản xuất…

“Việc tham gia vào các chuỗi liên kết, chuỗi cung ứng thông qua các hợp tác xã, doanh nghiệp sẽ giúp người nông dân có thể yên tâm sản xuất, giảm chi phí đầu vào, hạn chế được tình trạng được mùa, mất giá; các hợp tác xã có thể chủ động về nguồn hàng nên ít bị động trong sản xuất, có nhiều cơ hội mở rộng quy mô sản xuất, mang lại lợi ích thiết thực cho thành viên hợp tác xã; các doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm của hợp tác xã ổn định được vùng nguyên liệu, ổn định được thị trường, nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Qua đó tạo tiền đề để hình thành các nguồn cung ứng nông sản lớn, mang tính hàng hóa cao, chất lượng được nâng lên thông qua việc ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất, sơ chế, chế biến, bảo quản.  Vì vậy, cần phải thực hiện liên kết giữa các hộ nông dân, trang trại, hợp tác xã nông nghiệp, các doanh nghiệp thì mới có thể đủ năng lực để đưa sản phẩm ra thị trường và làm gia tăng giá trị sản phẩm nông nghiệp”- TS. Lê Văn Bảnh nhấn mạnh.

Cùng quan điểm này, Thạc sĩ Võ Thị Bé Thơ, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành phố Cần Thơ cho rằng, liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị sản phẩm hàng hóa, dịch vụ nông - lâm - thủy sản là xu thế tất yếu trong bối cảnh hội nhập kinh tế nông nghiệp ngày càng sâu sắc như hiện nay. Trong đó, Hợp tác xã nông nghiệp được xác định là phương thức sản xuất tốt nhất để thực hiện vai trò liên kết giữa “5 nhà” - Nhà nước, Nhà đầu tư, Nhà khoa học, Nhà nông, Nhà bank (ngân hàng) và là “mắt xích” quan trọng trong phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị.

Hiện nay, cả nước có gần 10.000 hợp tác xã nông nghiệp thu hút trên 7 triệu thành viên hợp tác xã chiếm 55% số nông dân tham gia hợp tác xã. Theo số liệu điều tra Dự án “Điều tra năng lực sản xuất kinh doanh, dịch vụ và xây dựng mô hình hợp tác xã cung ứng vật tư, chế biến và tiêu thụ nông sản” cho thấy 18% số hợp tác xã có hoạt động cung ứng vật tư nông nghiệp, 8% hợp tác xã tham gia tiêu thụ nông sản và 26% số hợp tác xã tổ chức cả 2 hoạt động này, rất ít hợp tác xã hoạt động dịch vụ chế biến gắn với tiêu thụ nông sản cho thành viên hợp tác xã. Các hợp tác xã tổ chức hoạt động dịch vụ này đều được coi là hoạt động tốt, mang lại hiệu quả kinh tế cao. Ngoài ra, có 2 - 3% hợp tác xã chuyên chế biến nông sản trong tổng số các hợp tác xã nông nghiệp. Các hợp tác xã này được hình thành từ nhu cầu thực tế của sản xuất, nhất là những vùng chuyên canh như hợp tác xã xay xát, hợp tác xã chế biến nông sản thực phẩm, hợp tác xã sản xuất thức ăn gia súc. Các hợp tác xã chế biến nông sản giúp tận dụng tối đa nguyên liệu sản xuất tại địa phương thúc đẩy các hộ nông dân phát triển vùng sản xuất chuyên canh nâng cao giá trị và hiệu quả sử dụng của các sản phẩm nông nghiệp, đa dạng hóa sản phẩm và tạo tiền đề để phát triển sản xuất quy mô lớn, sản xuất tập trung và tạo chuỗi cung ứng liên kết giữa các hợp tác xã với nhau. Nhờ làm tốt dịch vụ này, các hợp tác xã đã giúp 70% nhu cầu tiêu thụ thóc giống, gia súc, gia cầm, nuôi trồng thủy sản, trái cây, rau và nông sản các loại cho các thành viên hợp tác xã; 64,2 % thành viên hợp tác xã, người nông dân không bị ép giá; 57,23% lượng nông sản bán ra nhanh hơn và 31,77 % thành viên hợp tác xã giảm được nợ vay.  

Để thực hiện chủ trương phát triển hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới trong liên kết chuỗi hiệu quả theo Thạc sĩ Võ Thị Bé Thơ, trong thời gian tới, An Giang cũng như các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long cần tiếp tục nâng chất các hợp tác xã nông nghiệp hiện có, xây dựng và hỗ trợ những hợp tác xã này trở thành trung tâm liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp để thực hiện chuỗi giá trị sản xuất từ đầu vào đến đầu ra và tiêu thụ sản phẩm, gắn với ứg dụng công nghệ cao… Đây là hướng đi cốt lõi, đảm bảo cho liên kết sản xuất bền vững, nông dân sản xuất theo đặt hàng của doanh nghiệp, doanh nghiệp có vùng nguyên liệu chất lượng cao, dần kiểm soát được giá cả sản xuất.

Bên cạnh đó, các địa phương tổ chức các lớp tập huấn cho các hộ nông dân, tổ hợp tác và hợp tác xã về các kỹ năng như: đàm phám hợp đồng trong liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, kế hoạch sản xuất kinh doanh để thực hiện hợp đồng; Lợi ích khi tham gia các tổ chức đại diện nông dân để thực hiện liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản; Quy trình sản xuất đảm bảo dư lượng trên các loại nông sản…

Thạc sĩ Võ Thị Bé Thơ khẳng định, trong bối cảnh hội nhập sâu, rộng, xây dựng và phát triển chuổi giá trị nông - thủy sản là xu hướng tất yếu, là nhân tố quan trọng thay đổi mô hình tăng trưởng kinh tế, giúp ngành nông nghiệp thực hiện tái cơ cấu theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững./.

Công Mạo
False
Ngành dệt may Việt Nam trước tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ tưNgành dệt may Việt Nam trước tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ tưhttp://www.angiang.dcs.vn/Imagesnews/2019-11/KCS-lua%20to%20tam.jpg

​Thực tế nhận diện tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và các bước đi để tiếp cận Cách mạng công nghiệp lần thứ tư của ngành dệt may Việt Nam cho thấy những nhận định trên chưa có khả năng xảy ra trong thập niên tới.


18/11/2019 10:00 SANoĐã ban hành

​Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) dự báo công nghệ tự động hóa có thể thay thế tới 47% khối lượng công việc; Báo cáo của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) ngày 7-7-2016 cũng dự báo, máy móc, công nghệ của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư có thể thay thế 85% số lao động dệt may của Việt Nam trong vài thập niên tới. Thực tế nhận diện tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và các bước đi để tiếp cận Cách mạng công nghiệp lần thứ tư của ngành dệt may Việt Nam cho thấy những nhận định trên chưa có khả năng xảy ra trong thập niên tới.


Chiếm hơn 10% lao động công nghiệp cả nước, ngành dệt may đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam_Ảnh: nhipcaudautu.vn


Vai trò của ngành dệt may đối với kinh tế Việt Nam


Trong những năm qua, ngành công nghiệp dệt may Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng của nền kinh tế. Trong tất cả các mặt hàng công nghiệp xuất khẩu hiện nay, dệt may là ngành có kim ngạch xuất khẩu và tốc độ tăng trưởng cao. Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may năm 2018 đạt trên 36 tỷ USD, chiếm 14% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Đây là lần đầu tiên Việt Nam đứng thứ hai thế giới về quy mô xuất khẩu hàng dệt may, chỉ sau Trung Quốc và đứng thứ tư về quy mô sản xuất hàng dệt may toàn cầu. Sau hơn mười năm gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam tăng lên hơn bốn lần, trong đó giá trị nội địa hóa của sản phẩm dệt may xuất khẩu tăng trên sáu lần. Bên cạnh đó, ngành dệt may hiện sử dụng khoảng ba triệu lao động công nghiệp, chiếm tỷ trọng trên 10% so với lao động công nghiệp cả nước. Như vậy, có thể thấy rằng, ngành dệt may đóng một vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam.


Để đạt được những thành tựu đáng khích lệ như trên, có thể thấy ngành dệt may đã tận dụng được lợi thế lao động dồi dào, có kỹ năng và tay nghề cùng vị trí địa lý thuận lợi để thu hút đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, trong thời gian tới, ngành dệt may Việt Nam sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức, trong đó lợi thế về lao động dồi dào và chi phí lao động thấp sẽ giảm dần.


Ngoài ra, đặt trong bối cảnh ngành dệt may Việt Nam có quan hệ thương mại quy mô lớn với cả Trung Quốc và Mỹ, cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung Quốc cũng tạo ra áp lực nhất định. Với Trung Quốc, Việt Nam nhập khẩu lượng nguyên phụ liệu chủ yếu là vải lên tới hơn 10 tỷ USD/năm, đồng thời là thị trường xuất khẩu sợi lớn nhất, gần 3 tỷ USD/năm. Mỹ là thị trường xuất khẩu hàng hóa may mặc chiếm tỷ trọng từ 48% đến 50% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc Việt Nam, đồng thời cũng là nơi Việt Nam nhập trên 60% lượng bông tự nhiên để sản xuất sợi. Việc đánh thuế quan vào hàng hóa giữa hai nước Trung Quốc và Mỹ có thể dẫn tới dịch chuyển nguồn cung, cũng như những nguy cơ tiềm ẩn trong các biện pháp trả đũa tiếp theo của hai nước mà chúng ta chưa dự báo được.


Nhận diện khu vực công nghệ có thể thay thế con người


Từ thực tiễn các mô hình công nghệ đã triển khai tại các nhà máy ở Việt Nam và các công nghệ tương lai cho ngành dệt may có thể thấy được những thay đổi chính về công nghệ áp dụng trong ngành dệt may như sau:


Nhóm sợi


Hiện nay, công nghệ ngành sợi tập trung vào việc phát triển máy móc, thiết bị kỹ thuật số với mức độ tự động hóa cao, sử dụng  robot trong một số công đoạn; quản lý chất lượng tự động thông qua hệ thống quản lý, phần mềm giám sát, bảo trì thiết bị tự động thông minh. Cho đến nay, công nghệ tiên tiến giúp ngành sợi tiết giảm khoảng 70% số lao động, các nhà máy ứng dụng mô hình công nghệ mới đã có ở Việt Nam. Nếu trước đây để sản xuất 10.000 cọc sợi cần 100 người thì bây giờ chỉ cần từ 25 đến 30 người. Thậm chí, trên thế giới có những nhà máy tiên tiến đang áp dụng sản xuất 10.000 cọc sợi với 10 công nhân đối với các mặt hàng phù hợp, ít thay đổi.


Nhóm dệt nhuộm


Các doanh nghiệp cung cấp thiết bị và giải pháp trong ngành dệt nhuộm chủ yếu tập trung vào các phần mềm thiết kế vải thông minh, sử dụng dữ liệu lớn, in-tơ-nét kết nối vạn vật, kết nối được với hầu hết các loại máy dệt hiện có; phần mềm quản lý nhà máy dệt nhuộm thông minh, kiểm soát tự động toàn bộ quá trình sản xuất. Ngành nhuộm đang hướng tới những công nghệ nhuộm không sử dụng nước, nhuộm nano, nhuộm UV... bảo đảm yêu cầu và xu hướng sản xuất xanh, giảm thiểu các tác động tới môi trường và giảm thiểu việc sử dụng tài nguyên. Chính vì vậy, trong ngành dệt nhuộm, tuy chỉ giảm khoảng 30% số lao động nhưng giảm sử dụng nước, tiêu hao năng lượng lên tới 50%.


Đối với ngành dệt, công nghệ mới giúp tăng năng suất 2,5 lần, nhưng việc sử dụng dữ liệu liên kết trong chuỗi giữa người mua hàng và nhà cung cấp (kết quả sản xuất được kết nối Icloud với tất cả những người mua hàng) cũng tạo ra thách thức cho những người đứng ngoài chuỗi.


Nếu trước đây ngành nhuộm phụ thuộc vào tay nghề của kỹ sư thì nay với việc sử dụng dữ liệu lớn (big data) kết nối tức thời giữa các quốc gia, có thể sử dụng công thức nhuộm của Pháp, Đức ngay tại Việt Nam mà không phụ thuộc vào tay nghề kỹ sư, độ chính xác cao, đạt đến 95% màu cần nhuộm, giúp giảm giá thành. Đặc biệt, ngành nhuộm áp dụng liên kết dữ liệu toàn cầu giữa các nhà sản xuất với người sử dụng (đơn vị sản xuất may mặc). Dữ liệu liên kết này giúp người mua hàng biết đơn hàng của mình đang được làm ở đâu, kiểm soát được chất lượng và tiến độ trực tuyến của sợi và vải của mình đem nhuộm.


Trong ngành dệt may Việt Nam, chỉ 5% số lao động nằm trong nhóm ngành sợi, dệt, nhuộm. Giả sử nếu 50% lao động của nhóm này bị ảnh hưởng bởi Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) thì thực tế chỉ có 2,5% số lao động ngành dệt may (nằm trong ngành sợi, dệt, nhuộm) bị ảnh hưởng.


Nhóm ngành may


Nhóm ngành may hiện đang chiếm tỷ lệ lớn lao động của cả ngành dệt may Việt Nam (95% số lao động toàn ngành thuộc nhóm này). Công nghệ ngành may trong giai đoạn vừa qua tập trung vào các giải pháp quản trị tự động, thiết bị may kỹ thuật số, in 3D và  robot may.


Trong 78 công đoạn sản xuất quần áo, các thiết bị kỹ thuật số, tự động hóa được tập trung chủ yếu vào khoảng 8 công đoạn là các công đoạn lặp đi lặp lại, hoặc các công đoạn khó, phức tạp trước đây phụ thuộc vào tay nghề người thợ, như bổ túi, tra tay, tra cổ... để giảm sự phụ thuộc vào tay nghề công nhân và tăng sự đồng đều về chất lượng của các sản phẩm.


Kế tiếp là công nghệ in 3D có thể thay thế công đoạn may, nhưng đến thời điểm hiện tại, in 3D chỉ thực hiện được trên chất liệu có nguồn gốc nhân tạo (nhựa), không in được trên các chất liệu có nguồn gốc tự nhiên, như bông, len, đay. Trong khi bông và sợi tổng hợp (polyester) được sử dụng đến 95% trong sản xuất hàng thời trang trên thế giới.


Bên cạnh đó, đặc thù của ngành may là sản xuất hàng thời trang, với mẫu mã thay đổi liên tục nên việc áp dụng  robot không thể đáp ứng hoàn toàn yêu cầu. Hiện nay, trên thế giới đã phát triển mô hình các nhà máy may sử dụng hoàn toàn  robot may Sewbot. Các nhà máy này cho phép tăng năng suất từ 1,5 đến 2 lần, trong khi giảm từ 75% đến 90% số lao động. Tuy nhiên, Sewbot chỉ mới áp dụng cho sản xuất các sản phẩm gia dụng đơn giản, như gối, thảm, tấm lót đệm... Sản phẩm may mặc duy nhất sử dụng được Sewbot là áo phông (T-shirt). Chính vì vậy, những dự báo  robot thay thế phần lớn lao động có thể diễn ra trong ngành sợi, dệt nhưng chưa thể xảy ra đối với ngành thời trang may mặc Việt Nam, với 95% số lao động.


Doanh nghiệp dệt may Việt Nam trước tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư


Chính phủ Việt Nam đã giao Tập đoàn Dệt may Việt Nam tiến hành nghiên cứu chuyên sâu về tác động của cuộc CMCN 4.0 đối với sự phát triển của ngành công nghiệp dệt may Việt Nam. Để có dữ liệu nghiên cứu, phân tích, nhóm khảo sát đã tổ chức cuộc khảo sát thử nghiệm đối với khoảng 300 doanh nghiệp dệt may trên khắp cả nước, trong đó khảo sát trực tiếp tại hơn 100 doanh nghiệp. Các doanh nghiệp khảo sát được chia thành bốn nhóm ngành, trong đó doanh nghiệp sợi chiếm 29%, doanh nghiệp dệt chiếm 16%, doanh nghiệp nhuộm chiếm 18% và doanh nghiệp may chiếm 37%. Về cơ cấu theo loại hình sở hữu, có 58% số doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong nước, 18% số doanh nghiệp có vốn nhà nước và 24% số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.


Nhóm khảo sát đã tham khảo phương pháp VDMA (Verband Deutscher Maschinen - und Anlagenbau) của Hiệp hội Kỹ thuật cơ khí của Đức, có sự điều chỉnh cho phù hợp hơn với tình hình thực tế tại Việt Nam, tập trung phân tích dựa trên các yếu tố: 1- Hệ thống quản trị thông minh; 2- Máy móc thiết bị thông minh; 3- Quản lý chuỗi cung ứng dựa trên nền tảng dữ liệu; 4- Người lao động; 5- Hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D). Bên cạnh đó, nhóm khảo sát cũng đưa ra các câu hỏi để đánh giá về nhận thức và mức độ chuẩn bị cho CMCN 4.0 của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam. Kết quả khảo sát cho thấy, về độ sẵn sàng và mức độ công nghệ phù hợp nhất với CMCN 4.0, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam được khảo sát hiện chỉ ở mức điểm trung bình 2,59 trên thang điểm 5 của khảo sát, trong đó:


1- Về mức độ tự động hóa, hiện nay các doanh nghiệp dệt may Việt Nam mới dừng ở trình độ tự động hóa thiết bị ở mức thấp. Cụ thể, ngành sợi đang ở mức cao nhất là 3,3 điểm, tiếp đến là ngành nhuộm với 2,9 điểm, ngành may: 2,7 điểm và thấp nhất là ngành dệt: 2,2 điểm.


2- Về mức độ sẵn sàng, ngành sợi đang ở mức cao nhất là 3,02 điểm, tiếp đến là ngành may: 2,85 điểm, ngành nhuộm: 2,3 điểm và thấp nhất là ngành dệt: 2,2 điểm.


3- Đối với hệ thống quản trị, hiện ngành may có mức điểm cao nhất với 3,11 điểm, tiếp đó là ngành nhuộm: 2,83 điểm, ngành sợi: 2,61 điểm và ngành dệt đứng cuối nhóm với 2,46 điểm.


Điểm “nghẽn” khó nhất của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam là chi phí cho R&D thấp, gần như không có, do tỷ suất lợi nhuận thấp, tích lũy quy mô còn nhỏ. Theo kết quả khảo sát, các doanh nghiệp may Việt Nam có dành ngân sách hằng năm cho hoạt động R&D, nhưng tỷ lệ chưa cao.


Có thể thấy rằng, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam vẫn chưa hoàn toàn sẵn sàng cho việc đầu tư bài bản theo xu hướng CMCN 4.0. Khó khăn nhất chủ yếu vẫn là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tiềm lực kinh tế thấp (bài toán về vốn). Trong khi đó để phát triển theo kịp xu hướng CMCN 4.0 đòi hỏi vốn lớn, lãi phải trả cho chi phí đầu tư cao, khấu hao thiết bị cũng cao.


Trong ngắn hạn, các doanh nghiệp sẽ tập trung đầu tư vào máy móc, thiết bị tự động hóa và các giải pháp tăng năng suất cục bộ, chủ yếu để bù đắp thiếu hụt về lao động. Trong dài hạn, các doanh nghiệp lớn, đặc biệt là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, sẽ đầu tư quản trị theo hướng số hóa thiết bị để tiết giảm lao động, đối phó với nguồn cung lao động ngày càng giảm.


Dưới tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, ngành dệt may Việt Nam cần phải đổi mới công nghệ, xây dựng chiến lược đào tạo, chuyển đổi nguồn nhân lực chất lượng cao một cách kịp thời_Ảnh: Tư liệu


Từ thực tiễn kiểm chứng có thể khẳng định: 85% số lao động dệt may mất việc sẽ không xảy ra trong 10 năm tới. Chỉ có khoảng 15% lực lượng lao động tại doanh nghiệp và khoảng 20% số lao động phải được đào tạo lại nghề để hình thành đội ngũ kỹ thuật cao đảm nhiệm quản trị thiết bị, quản trị công nghệ, quản trị khách hàng, nhưng đồng thời Cách mạng công nghiệp 4.0 cũng tạo thêm 20% số lượng công việc mới về thiết kế, xử lý mẫu kỹ thuật cho thiết kế thời trang mới, chưa kể ngành dệt may được dự báo vẫn tiếp tục tăng trưởng trong 5 đến 10 năm tới kéo theo nhu cầu lao động vẫn tiếp tục tăng.


Cuộc CMCN 4.0 có thể mang lại nhiều cơ hội để thay đổi bộ mặt các nền kinh tế, nhưng chỉ mang lại những thay đổi tích cực cho các doanh nghiệp dệt may Việt Nam khi các doanh nghiệp này có sự chuẩn bị tốt để nắm bắt được làn sóng này. Vì vậy, trong giai đoạn tới, các doanh nghiệp dệt may cần thường xuyên cập nhật tình hình về công nghệ của thế giới để có thể tiếp cận với công nghệ hiện đại và có định hướng đầu tư đúng đắn, tránh tình trạng công nghệ sản xuất của Việt Nam bị mất khả năng cạnh tranh do lạc hậu. Bên cạnh đó, cần có sự chuẩn bị cả nguồn lực về vốn, thị trường để ứng dụng từng phần CMCN 4.0 trong quá trình đầu tư, sản xuất mới. Nếu các doanh nghiệp vẫn giữ nguyên mô hình hoạt động, chất lượng nhân công và công nghệ lạc hậu như hiện nay, thì trong dài hạn việc khủng hoảng thừa lao động sẽ trở thành vấn đề đặc biệt nghiêm trọng. Vì vậy, cần có kế hoạch giải quyết lao động dư thừa, xây dựng chiến lược đào tạo, chuyển đổi nguồn nhân lực chất lượng cao một cách kịp thời. Điều này không chỉ làm giảm bớt những nguy cơ biến động lao động mà còn giúp tăng quy mô ngành dệt may cả về năng lực sản xuất lẫn năng lực xuất khẩu.


Rất cần sự vào cuộc của Chính phủ


Trước hết trong Quy hoạch tổng thể phát triển công nghiệp của Việt Nam đến năm 2030, Chính phủ cần xác định rõ ngành dệt may sẽ phát triển đến quy mô nào. Trong chiến lược phát triển cho ngành công nghiệp dệt may cần phân tích kỹ chính sách của các quốc gia cạnh tranh để có quyết sách phù hợp.


Chính phủ cần có chính sách hỗ trợ nghiên cứu và phát triển chung cho toàn ngành đi kèm mục tiêu cụ thể cho doanh nghiệp trong ngành, đồng thời cần có chính sách khuyến khích đổi mới công nghệ, đầu tư công nghệ mới tiết kiệm năng lượng, bảo vệ môi trường... Hiện tại, việc đầu tư công nghệ mới tiết kiệm năng lượng, bảo vệ môi trường đòi hỏi vốn lớn nên phải có hỗ trợ giúp nhà đầu tư có thể cạnh tranh được với các nhà sản xuất sử dụng công nghệ cũ, lạc hậu, thậm chí đã hết khấu hao, bán phá giá, ví dụ như hỗ trợ vốn trực tiếp hoặc miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, giúp tạo nguồn lực đầu tư công nghệ hiện đại; đẩy mạnh hỗ trợ các nghiên cứu, ứng dụng về đổi mới công nghệ, sản phẩm kỹ thuật mới trong ngành dệt may.


Bên cạnh đó, các chính sách liên quan đến đào tạo cũng cần được quan tâm, như hỗ trợ doanh nghiệp trong việc đào tạo nhân lực phù hợp với xu thế của cuộc CMCN 4.0. Chính sách này sẽ giúp tạo ra một đội ngũ lao động có trình độ ngày càng cao hơn, thu nhập tốt hơn.


Ngoài ra, cần cải cách thủ tục hành chính, đặc biệt là các thủ tục phi thuế quan; giúp cải thiện môi trường kinh doanh; cắt bỏ các điều kiện kinh doanh không phù hợp; thúc đẩy việc hình thành thị trường dệt may cạnh tranh lành mạnh./


Lê Tiến Trường
Tổng Giám đốc Tập đoàn Dệt may Việt Nam

Nguồn: Tạp chí Cộng sản

False
Muỗi hành tấn công lúa thu đông gây thiệt hại nặng, bà con lưu ý dịch hạiBài viếtMuỗi hành tấn công lúa thu đông gây thiệt hại nặng, bà con lưu ý dịch hạihttp://www.angiang.dcs.vn/Imagesnews/2019-11/Lua-muoi-hanh-2.jpg

​(TUAG)- Thời gian gần đây, tại một số địa phương đang xảy ra tình trạng muỗi hành tấn công lúa vụ thu đông gây thiệt hại nặng. Bà con nông dân hết sức lo lắng, không biết xử lý thế nào, vì khả năng diện tích lúa mất trắng, khó tái đầu tư vụ mới.


14/11/2019 8:00 SANoĐã ban hành

Trưởng Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Chợ Mới Lưu Minh Tuấn cho biết: "Tại huyện Chợ Mới có gần 307 ha diện tích lúa bị nhiễm muỗi hành ở 7 xã: Long Giang, Kiến Thành, Nhơn Mỹ, Mỹ Hội Đông, Long Kiến, Long Điền B, Kiến An. Diện tích nhiễm chủ yếu trên lúa đẻ nhánh đến làm đòng. Trong đó diện tích nhiễm 5-10% 139ha, 11-30% 123 ha 30-70% 44,5 ha, cục bộ có diện tích nhiễm trên 70%".


Lúa bị muỗi hành tấn công ở xã Mỹ Hội Đông.

Có mặt tại xã Mỹ Hội Đông, Chủ tịch Hội đồng Quản trị, Giám đốc Hợp tác xã Mỹ Thuận, xã Mỹ Hội Đông (Chợ Mới) Trần Phước Linh cho biết: "Gần 250ha lúa của thành viên hợp tác xã hầu hết bị nhiễm, thiệt hại 30-90%. Mấy ngày nay nông dân đứng ngồi không yên. Hợp tác xã cũng rất lo lắng vì khả năng vụ này lỗ nặng, bởi đến nay đã đầu tư bơm tưới, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật (BVTV), vốn tín dụng... cho nông dân hơn 350 triệu đồng".


Khổ nhất là những hộ dân thuê đất trồng lúa 2,5 triệu đồng/công/năm. Dẫn tôi ra đồng, tới miếng ruộng vàng lá bị nhiễm muỗi hành nông dân Lê Thành Thanh (ấp Mỹ Tân, xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới) chỉ tay nói: "Vụ này tôi thuê 22 công đất trồng lúa, giờ trà lúa 50 ngày bị nhiễm muỗi hành gần hết rồi, đọt lúa giống như cọng hành. Diện tích nhiễm và lây lan nhanh, rộng khắp; ý là trước đó lúa 10 ngày tôi đã xịt ngừa muỗi hành. Giờ cây lúa không còn bông để trổ, 1 bụi lúa chỉ còn 1 bông, trong khi chi phí đã dồn vô 1 công 1,8 triệu đồng, tới thu hoạch lúa mới trả. Giờ không biết tính sao, chắc bỏ luôn vì càng sạ phân vô càng lỗ".


Nông dân Nguyễn Thành Lập bất lực: "Khoảng 10 ngày nữa trổ bông nhưng lúa bị nhiễm muỗi hành nặng, cây lúa rất khó phục hồi. Ấu trùng muỗi hành âm thầm phát triển từ bên trong thân cây, làm cho cây lúa được khoảng 40-45 ngày tuổi thì không thể trổ bông, thân cây lúa nhìn giống cọng hành lá nên rất khó nhận biết kịp thời. Bông mẹ thay vì ra bông lúa lại không ra bông mà mọc thẳng như cọng hành. Giờ không biết cách nào để cứu cây lúa. 13,5 công lúa được 50 ngày, bị muỗi hành cục bộ thiệt hại hơn 90%. Đất tôi cũng thuê trồng lúa, mất chục năm nay, lần đầu tiên đối mặt tình trạng này, không biết tính sao, rất lo sợ và hoang mang, nhờ ngành chuyên môn hỗ trợ".


Cạnh đó, nhiều hộ dân rải phân dưỡng lại số bông lúa ít ỏi trên đồng, mong gỡ lại tiền phân, thuốc...


Theo Trưởng trạm bảo vệ thực vật huyện Chợ Mới Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, nguyên nhân do thời tiết tâm u, nhiều mây, trời mát, mưa kéo dài tạo độ ẩm cao là điều kiện thuận lợi muỗi hành bộc phát. Mặt khác đầu vụ đến nay lúa phát triển tốt, ít sâu bệnh, nông dân chủ quan, không quản lý muỗi hành. Diện tích xuống giống trễ, lúa còn nhỏ trùng với thời tiết thuận lợi cho muỗi hành gây hại.


Theo Chi Cục trồng trọt và bảo vệ thực vật tỉnh, tính đến ngày 30-10-2019, lúa thu đông 2019 đã thu hoạch 18.260 ha/157.478 ha (đạt 11,6% diện tích xuống giống). Các trà lúa còn lại đang tập trung vào các giai đoạn đòng-trổ-chín; trong đó khoảng 13.000 ha do xuống giống trễ lịch thời vụ.


Chi Cục trưởng Chi Cục trồng trọt và bảo vệ thực vật tỉnh Nguyễn Văn Hiền cho biết: "Từ đầu vụ đến nay trên lúa thu đông đã xuất hiện 14 đối tượng dịch bệnh với tổng diện tích nhiễm là 43.132 ha ở mức độ từ nhẹ đến trung bình. Đặc biệt có 2 đối tượng rầy nâu và muỗi hành. Từ đầu vụ đến nay, diện tích nhiễm muỗi hành là 1.340 ha (nhiễm nhẹ 725 ha, trung bình 342 ha, nặng 273 ha); tập trung ở các huyện: Châu Thành, Chợ Mới, Phú Tân, Thoại Sơn và Tri Tôn trên trà lúa 45 ngày tuổi. Cán bộ kỹ thuật đã xuống các địa phương nắm tình hình, thống kê thiệt hại. Tuy nhiên, qua kiểm tra ban đầu cho thấy hầu hết diện tích thiệt hại do bà con xuống giống trễ lịch thời vụ hoặc sạ quá dày...".


Trước tình hình dịch hại đang diễn ra trên lúa vụ thu đông và bắt đầu đi vào thời vụ xuống giống vụ đông xuân 2019 -2010. Đồng thời, trong thời gian tới, có khả năng xuất hiện các đối tượng gây hại như: rầy nâu, bệnh đạo ôn, bệnh cháy bìa lá, lem lép hạt... Chi Cục trưởng Chi Cục trồng trọt và bảo vệ thực vật tỉnh Nguyễn Văn Hiền cho biết: "Để bảo vệ năng suất, sản lượng lúa thu đông và dịch bệnh đầu vụ đông xuân, đề nghị các địa phương và bà con nông dân tăng cường công tác thăm đồng, phát hiện và áp dụng các biện pháp kỹ thuật phòng trừ dịch bệnh để hạn chế tối đa thiệt hại ảnh hưởng đến năng suất. Đối với các diện tích đang bị muỗi hành gây hại, bà con nông dân cần tiếp tục chăm sóc bằng cách bón phân cân đối phân NPK, các loại phân có chứa Ca, Si cho cây khỏe tạo nhiều hạt chắc trên bông. Cần rút nước để hạn chế sự phát triển của muỗi hành (áp dụng tưới nước tiết kiệm: “ngập khô xen kẻ”). Không xử lý thuốc trừ sâu để bảo vệ thiên địch để không tạo cơ hội cho các loài sâu hại cũng như sâu năn có cơ hội bùng phát".  


Đối với vụ lúa đông xuân 2019-2020: hiện nay do tình hình nước lũ rút sớm hơn dự kiến, vì vậy vụ đông Xuân có khả năng xuống giống trước ngày 15-11-2019 khoảng 10.000 ha chủ yếu ở vùng sản xuất 2 vụ/năm và vùng xã lũ ở các địa phương. Diện tích này có khả năng bị lây lan dịch hại từ vụ lúa thu đông sang như muỗi hành, rầy nâu... Ngoài các đối tượng dịch hại trên, trong điều kiện kiện thời tiết lạnh, ban ngày trời âm u, đêm và sáng sớm có sương mù, hoặc trời có mưa nắng xen kẽ… và nắng nóng, khô hạn ở cuối vụ sẽ xuất hiện một số loài dịch hại có khả năng phát sinh và gây hại mạnh trong vụ đông xuân như bệnh đạo ôn, bệnh vàng lá, lem lép hạt… trên các giống nhiễm sâu bệnh nhiều như: OM 4218, IR 50404, Jasmine 85, OM 2514,OM 5451, OM 6073, Nàng Hoa 9… Đặc biệt ở những ruộng còn tập quán gieo sạ dày, bón thừa đạm… Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật đề nghị địa phương tăng cường các công tác chỉ đạo, biện pháp quản lý dịch hại để bảo vệ sản xuất.


Để hạn chế tối đa và ngăn ngừa dịch hại, nhằm đảm bảo sản xuất vụ đông xuân năm 2019-2020, Chi Cục trưởng Chi Cục trồng trọt và bảo vệ thực vật tỉnh Nguyễn Văn Hiền đề nghị chính quyền địa phương và đơn vị chỉ đạo xuống giống theo khung thời vụ quy định và lịch xuống giống né rầy phù hợp với điều kiển cụ thể của từng địa phương.


Thay vì ra lúa, bông mẹ lại mọc thẳng như cọng hành

Cụ thể: vụ đông xuân 2019-2020, toàn tỉnh có kế hoạch xuống giống với diện tích 235.200 ha; thời gian xuống giống vụ được khuyến cáo bắt đầu từ ngày 15-11-2019 đến ngày 31-12-2019.


Lịch xuống giống tập trung, đồng loạt và né rầy chia làm 2 đợt: Đợt 1: xuống giống từ 15-11 đến 25-11-2019, xuống giống tập trung ở những vùng đã thu hoạch lúa thu đông sớm, vùng xả lũ và vùng sản xuất 2 vụ/năm; đợt 2: xuống giống từ 12-12 đến 22-12-2019, xuống giống tập trung ở những vùng đã thu hoạch lúa thu đông đại trà.


Cần tuyên truyền, vận động nông dân thực hiện nghiêm túc lịch gieo sạ tập trung, né rầy theo hướng dẫn của cơ quan chuyên môn; đẩy mạnh áp dụng các tiến bộ kỹ thuật “3 giảm, 3 tăng”, “1 phải, 5 giảm”, quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), giảm mật độ gieo sạ và lượng phân đạm. Tăng cường sự chỉ đạo của Ban chỉ đạo các cấp việc phòng, chống các dịch hại trên lúa và trên các cây trồng khác và hoạt động của Đoàn công tác về phòng chống Rầy nâu, bệnh vàng lùn - lùn xoắn lá và các dịch hại khác trên cây trồng để đảm bảo công tác chỉ đạo sản xuất và quản lý dịch hại ở địa phương.


Trạm trồng trọt và BVTV, cán bộ phụ trách địa bàn của Chi cục Trồng trọt và BVTV phối hợp cùng chính quyền địa phương và chỉ đạo phân công cán bộ kỹ thuật bám sát đồng ruộng, điều tra, phát hiện sớm diễn biến hình dịch hại (đặc biệt 3 các đối tượng có khả năng gây hại nặng ở đầu vụ như: Muỗi hành, rầy nâu, bệnh vàng lùn-lùn xoắn lá…), tăng cường công tác khuyến nông, đồng thời phải báo cáo kịp thời về Chi cục để xử lý; phối hợp chặt chẽ với các cơ quan thông tin đại chúng tại địa phương thông tin kịp thời tình hình diễn biến của dịch hại và các biện pháp phòng chống đến người dân.

Bài, ảnh: HẠNH CHÂU

False
Hiệu quả dự án kiểm soát lũ vùng đê bao Nam Vàm NaoBài viếtHiệu quả dự án kiểm soát lũ vùng đê bao Nam Vàm Nao/SiteAssets/Nam-Vam-Nao-1.jpg

(TUAG)- Có thể nói đây là dự án quy mô lớn nhất từ trước tới nay của huyện Chợ Mới nói chung, tỉnh An Giang nói riêng về một công trình kiểm soát lũ.

08/11/2019 10:00 SAYesĐã ban hành

​Sau 10 năm triển khai thực hiện, đến nay, dự án đầu tư xây dựng kiểm soát lũ vùng đê bao Nam Vàm Nao (huyện Chợ Mới) với tổng mức đầu tư hơn 1.200 tỷ đồng từ vốn trái phiếu Chính phủ đã hoàn thành các hạng mục công trình, đưa vào sử dụng, mang lại hiệu quả to lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội huyện Chợ Mới; giúp người dân vùng cù lao hưởng lợi từ dự án có cơ hội đổi đời.

Có thể nói đây là dự án quy mô lớn nhất từ trước tới nay của huyện Chợ Mới nói chung, tỉnh An Giang nói riêng về một công trình kiểm soát lũ.

Giám đốc Ban Quản lý dự án đầu tư và xây dựng khu vực huyện Chợ Mới Nguyễn Xuân Thịnh cho biết: "Dự án đã mang lại hiệu quả theo các mục tiêu và tiêu chí đề ra. Đã xây dựng: 59 cống hở khẩu độ 3m; 379 cống tròn với khẩu độ Φ800 và Φ1000; hệ thống đê bao phân vùng kết hợp xây dựng 38,684 km đường nhựa giao thông nông thôn. Xây dựng nâng cấp hệ thống đê bao tiểu vùng kết hợp 295,254km đường giao thông nhựa, bê tông xi măng và đường đất. Đặc biệt, nạo vét tất cả các tuyến giao thông thủy lợi nội đồng (113,626 km kênh chính), xây dựng hệ thống giao thông thủy lợi nội đồng 452,021 km và hoàn thành 3 nhà quản lý phân vùng; thi công hoàn thành 51 cầu giao thông".

Nam-Vam-Nao-1.jpg
Hệ thống cống hở kết hợp giao thông nội đồng của dự án Nam Vàm Nao phát huy hiệu quả tích cực

Tổng mức đầu tư giai đoạn 2010-2018 hơn 1.209 tỷ đồng từ vốn trái phiếu Chính phủ (trong đó chi phí xây dựng 1.056 tỷ đồng, chi phí đền bù giải phóng mặt bằng hơn 46 tỷ đồng, tư vấn đầu tư xây dựng 77,7 tỷ đồng...). Việc hoàn thành đưa vào sử dụng các hạng mục chính của dự án đã phát huy được hiệu quả sử dụng nguồn vốn trái phiếu Chính phủ và hiệu quả khai thác như: làm tăng khả năng kiểm soát mực nước bên trong nội đồng, chủ động nguồn nước tưới, tiêu thoát nước bẩn, góp phần xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, bảo vệ các tuyến đường giao thông…

Nam Vàm Nao là một trong những dự án kiểm soát lũ chủ động được triển khai tại khu vực thượng nguồn ĐBSCL (huyện Chợ Mới), do Ban Quản lý dự án đầu tư và xây dựng khu vực huyện Chợ Mới làm chủ đầu tư. Dự án gồm 4 phân vùng với 76 tiểu vùng “theo hướng mở” được chia thành nhiều hợp phần triển khai từ năm 2009. Dự án hoàn thành mục tiêu chính là đảm bảo khả năng đáp ứng nguồn nước vào mùa khô và tiêu thoát nước vào mùa lũ, thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng; hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng nông thôn và hệ thống thủy lợi nội đồng; kết hợp việc xây mới và xây củng cố hệ thống đê bao hiện tại nhằm đáp ứng mục tiêu chống lũ với tần suất lũ tương tự năm 2000.

Theo Phó Chủ tịch UBND huyện Chợ Mới Vũ Minh Thao, dự án kiểm soát lũ Nam Vàm Nao bước đầu mang lại hiệu quả theo các mục tiêu và tiêu chí đề ra. Hệ thống cơ sở hạ tầng ở huyện Chợ Mới phát triển mạnh cả về chiều rộng và chiều sâu, cơ bản đáp ứng yêu cầu phát triển chung và góp phần bảo đảm tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh, phát triển các lĩnh vực văn hóa, xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, rút ngắn khoảng cách giữa các vùng. Tập trung trong các lĩnh vực nông nghiệp, nông dân và cải thiện đời sống nông thôn, đặc biệt là các hộ canh tác sâu nội đồng. Hệ thống giao thông mang tính kết nối giữa các tiểu vùng và các khu vực lân cận, sự hợp lý của các hạng mục công trình, xây dựng cơ chế quản lý nước tưới phục vụ nông nghiệp mang đến hiệu quả đáng kể. Tạo diện mạo mới trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn và xây dựng nông thôn mới.

Qua khảo sát cho thấy, dự án Nam Vam Nao sau khi hoàn thành đã mang lại hiệu quả cao về nông nghiệp, đặc biệt là đối với các hộ canh tác trong nội đồng hoặc có diện tích canh tác lớn (hơn 5.000 m2). Hầu hết người dân đều hài lòng với hệ thống thủy lợi thuận lợi sau khi hoàn thiện, đã tạo điều kiện cho việc chủ động sản xuất, kiểm soát tưới và tiêu nước. Dự án còn góp phần hoàn thiện hệ thống giao thông (cả đường bộ và đường thủy) tạo điều kiện thuận lợi cho nông dân vận chuyển các sản phẩm nông thủy sản.

Nam-Vam-Nao-2.jpg
Đường giao thông Chợ Mới được đầu tư hoàn thiện.

Nói như các nông dân thì chưa bao giờ người dân sống dọc các tuyến kênh nội đồng ở Chợ Mới lại sung sướng như bây giờ. Nếu như trước đây những đoạn này toàn đường đất, nắng bụi mưa bùn, nhỏ hẹp, thì nay đường dọc kênh xáng, kênh nội đồng, đâm ngang, xẻ dọc các cánh đồng đều được láng nhựa hoặc bê tông vững chắc, rộng phẳng phiu. Xe ô tô, xe tải nhỏ, ba gác... đều chạy thẳng tới ruộng chở nông sản hàng hóa vừa thu hoạch mang tới vựa; vừa nhanh, vừa giảm chi phí.

Người dân hài lòng với cơ chế quản lý, vận hành hệ thống thủy lợi phục vụ tưới tiêu của Ban quản lý thủy lợi, do không cần phải tham gia vào công tác quản lý nước tưới. Dự án đã tạo điều kiện cho việc thực hiện đồng bộ, nhanh chóng các công trình thủy lợi như cống hở, cống tròn phục vụ sản xuất. Giao thông nông thôn hoàn thiện, tạo thuận lợi trong việc di chuyển. Người dân đều hài lòng về hiệu quả của dự án trong việc cải thiện đời sống ở nông thôn, đặc biệt là xây dựng nông thôn mới; bao gồm việc đảm bảo an toàn vào mùa lũ, cải thiện tình hình an ninh trật tự xã hội và chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Đây còn là điều kiện thuận lợi để hình thành các vùng sản xuất tập trung, chuyên canh rau màu cây ăn trái, sản xuất lớn, tái cơ cấu nông nghiệp, phát triển du lịch..., góp phần tạo thêm việc làm cho những lao động không ổn định, mang tính chất thời vụ...

Về cù lao Chợ Mới hôm nay, nông thôn dần đổi khác, với hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông hoàn thiện, đời sống nhân dân nâng cao. Những cây cầu tre lắc lẻo, cầu ván gập ghềnh xuống cấp, tải trọng 1-2 tấn là điểm nghẽn giao thông ở địa phương nay đã được tháo gỡ. Từ dự án đã đầu tư xây mới cầu bê tông, cầu sắt thép vĩnh cửu 2 làn xe, tải trọng 13-18 tấn.... góp phần xây dựng hoàn thiện cơ sở hạ tầng nông nghiệp, nông thôn, phát triển kinh tế-xã hội, giúp huyện Chợ Mới vươn tầm diện mạo mới. Với tiền đề đó, tin rằng Chợ Mới sẽ đạt chuẩn huyện nông thôn mới vào năm 2022 như kế hoạch đề ra.

Bài ảnh: HẠNH CHÂU

True
Thị xã trẻ Tân Châu vươn mình phát triển, trở thành đô thị biên giới, là vùng kinh tế động lực của tỉnhBài viếtThị xã trẻ Tân Châu vươn mình phát triển, trở thành đô thị biên giới, là vùng kinh tế động lực của tỉnhhttp://www.angiang.dcs.vn/Imagesnews/2019-11/TC-thi-xa-tre-1.jpg

(TUAG)- Tân Châu là thị xã biên giới, nằm ở phía Bắc tỉnh An Giang, nơi đầu nguồn của dòng Mê Kông chảy vào Việt Nam, có đường biên giới tiếp giáp nước bạn Campuchia dài khoảng 6,2 km, có cửa khẩu quốc tế Vĩnh Xương (cửa khẩu đường sông duy nhất trên biên giới Việt Nam và Campuchia),

04/11/2019 9:00 SAYesĐã ban hành

​Tân Châu là thị xã biên giới, nằm ở phía Bắc tỉnh An Giang, nơi đầu nguồn của dòng Mê Kông chảy vào Việt Nam, có đường biên giới tiếp giáp nước bạn Campuchia dài khoảng 6,2 km, có cửa khẩu quốc tế Vĩnh Xương (cửa khẩu đường sông duy nhất trên biên giới Việt Nam và Campuchia), là cửa ngõ giao thương kinh tế quan trọng của các tỉnh vùng đất chín rồng đến các quốc gia thượng nguồn sông Mê Kông. Với thế mạnh về phát triển đô thị, du lịch sinh thái, du lịch vùng sông nước và phát triển kinh tế cửa khẩu, là đầu mối giao thông thủy bộ của khu vực, điểm trung chuyển hàng hóa giao thương qua biên giới Campuchia, Tân Châu hội tụ nhiều điều kiện thuận lợi và vị trí chiến lược để phát triển cả về kinh tế thương mại, dịch vụ du lịch và an ninh - quốc phòng.


Kinh tế biên giới Vĩnh Xương

Trong những năm qua, tốc độ phát triển kinh tế, tăng trưởng đô thị và đô thị hoá của thị xã Tân Châu nhìn chung tăng nhanh (tỷ lệ đô thị hoá đạt 37,6%, đứng thứ 3 trên toàn tỉnh). Tốc độ tăng trưởng bình quân là 8,95%/năm (giai đoạn 2016 - 2018); đời sống Nhân dân trên địa bàn được cải thiện; thu nhập bình quân đầu người GDP đạt 43 triệu đồng/năm, tăng 230% so với năm 2009 (riêng thu nhập bình quân đầu người năm 2018 bằng 0,96 lần thu nhập bình quân đầu người cả nước); Tỷ lệ hộ nghèo đến nay còn 3,34%, giảm 0,81% so năm 2009. Thông qua chương trình khai thác lợi thế kinh tế biên mậu và phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, thế mạnh, tiềm năng phát triển kinh tế biên giới của thị xã ngày càng được phát huy. Cụ thể, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu qua Cửa khẩu quốc tế Vĩnh Xương (giai đoạn 2016 -2018) đạt trên 1,2 tỷ USD, trong đó xuất khẩu chiếm trên 95%. Song song đó, thị xã cũng chú trọng khôi phục, phát triển ngành se tơ, dệt lụa Tân Châu và dệt thổ cẩm Châu Phong. Thị xã luôn quan tâm, hỗ trợ tạo điều kiện cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh trên địa bàn phát triển mới và đầu tư, mở rộng qui mô. Từng bước hoàn chỉnh kết cấu hạ tầng Cụm công nghiệp Long Châu, Cụm công nghiệp Vĩnh Xương. Tích cực mời gọi các doanh nghiệp công nghiệp chế biến nông thuỷ sản, lương thực – thực phẩm, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng đầu tư sản xuất phục vụ thị trường nội địa và xuất khẩu sang Campuchia.

Hoạt động thương mại - dịch vụ tiếp tục phát triển mạnh, các hoạt động trao đổi, mua bán tại các chợ phục vụ tốt nhu cầu mua sắm và tiêu dùng của người dân. Tỷ trọng thương mại, dịch vụ tăng từ 61,7% (năm 2016) lên 64,2% (năm 2018). Ngoài siêu thị Co.opmart Tân Châu đã đưa vào hoạt động từ tháng 02/2018, hiện trên địa bàn thị xã có 20 chợ, trong đó có 3 trung tâm thương mại - dịch vụ cấp đô thị như chợ Tân Châu, chợ Long Hưng, chợ Long Sơn. Các chỉ tiêu bình quân về mạng lưới chợ trên địa bàn thị xã đạt khá so với các huyện, thị, thành trên địa bàn tỉnh. Từ lợi thế về cảnh quan thiên nhiên mang đậm nét vùng sông nước, có nhiều di tích lịch sử và các lễ hội văn hóa dân tộc đặc sắc, Tân Châu là điểm dừng chân cuối cùng ở miền Tây trước khi sang Campuchia của nhiều tàu du lịch dành cho khách nước ngoài. Gần 10 năm qua, các dịch vụ phục vụ du khách ngày càng phát triển, đặc biệt là các tour du lịch cộng đồng tham quan các làng nghề truyền thống như dệt lụa, dệt chiếu và dệt thổ cẩm. Chỉ tính riêng từ đầu năm đến nay, có trên 8.500 lượt khách tham quan; trong đó, có gần 6.500 lượt khách quốc tế thông qua các công ty du lịch lữ hành sông Mêkông.


Niềm vui của người dân khi cầu Tân An lưu thông

Hệ thống bưu chính viễn thông trên địa bàn thị xã Tân Châu được trang bị hiện đại, công nghệ cao và chất lượng tương đối đồng bộ, nối mạng hoàn chỉnh đến tất cả các đơn vị hành chính trong toàn tỉnh. Các loại hình dịch vụ khác như tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, tư vấn pháp luật, tin học, y tế có bước phát triển mạnh, góp phần quan trọng vào việc hình thành môi trường đầu tư kinh doanh sôi động và lành mạnh trên địa bàn. Điểm nổi bật của thị xã trong thời gian gần đây là tập trung xây dựng Nông thôn mới và xây dựng Nếp sống văn minh đô thị, đây được xem là nhiệm vụ chính trị trọng tâm hàng đầu và tập trung mọi nguồn lực để thực hiện, nhằm hướng đến cảnh quan "xanh, sạch, đẹp". Đến nay, toàn thị xã có 04 xã đạt chuẩn "Xã nông thôn mới", 02 phường đạt chuẩn "Văn minh đô thị". Nhiều công trình trọng điểm đã và đang được thi công và đưa vào sử dụng góp phần tạo nên bộ mặt mới cho đô thị trong giai đoạn phát triển và hội nhập. Chất lượng sống đô thị ngày một nâng cao. Nhà ở, công trình xây dựng đúng quy định, tạo vẽ mỹ quan, đảm bảo bộ mặt đô thị ngày càng khang trang sạch đẹp... Tỷ lệ nhà ở kiên cố, bán kiên cố ngày càng tăng cao, khu vực nội thị đạt 93%. Bên cạnh đó, hệ thống công trình công cộng trên địa bàn như trụ sở cơ quan, bệnh viện, trường học, khu vui chơi giải trí... đã và đang được đầu tư, nâng cấp, cải tạo, xây dựng mới tạo sự khang trang và mỹ quan cho đô thị. Trên địa bàn còn có nhiều tuyến phố đã được đầu tư cải tạo, chỉnh trang, là các tuyến giao thông chính như: Nguyễn Tri Phương, Nguyễn Công Nhàn, Tôn Đức Thắng, Hai Bà Trưng, Nguyễn Văn Linh, Huỳnh Tấn Phát,... Lưới điện trên địa bàn thị xã đáp ứng cơ bản các yêu cầu về kỹ thuật, an toàn vận hành, đảm bảo cung cấp điện phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất, tỷ lệ số hộ dân có điện sử dụng đạt 100%. Tỷ lệ đường phố chính được chiếu sáng khu vực nội thị đạt trên 96%, tỷ lệ ngõ hẻm được chiếu sáng trên 56%. Tỷ lệ dân số đô thị được cung cấp nước sạch năm 2018 đạt 99,6%.

Tân Châu cũng là một trong những địa phương có hệ thống giao thông khá hoàn chỉnh. Tổng chiều dài mạng lưới đường giao thông chính nội thị trên địa bàn thị xã là 33,74 km, mạng lưới giao thông được nâng cấp hoàn thiện, nhựa hóa từ trung tâm đến các phường -  xã; đặc biệt Cầu Tân An hoàn thành đưa vào sử dụng trong năm 2019 đã giúp thị xã thoát khỏi thế cô lập của vùng cù lao, tạo điều kiện giao thương hàng hóa thuận tiện, thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương. Trên địa bàn thị xã có đoạn sông Tiền dài 17,5 km, là tuyến đường thủy quốc tế cấp đặc biệt do Trung ương quản lý, đóng vai trò phục vụ giao thông vận chuyển hàng hóa nông sản của thị xã và các huyện cù lao (Phú Tân, Chợ Mới) sang nước bạn Campuchia. Cùng với đó, bờ kè ven sông Tiền tại khu vực trung tâm và tuyến biên giới Vĩnh Xương kéo dài hơn 2 km là công trình lịch sử, không chỉ ngăn chặn sự tàn phá của thiên nhiên, mà làm cho dòng sông Tiền trở nên hiền hòa, thơ mộng bên mái taly lung linh theo nhịp sống. Một công trình trị thủy cũng được đầu tư, thực hiện chủ trương "sống chung với lũ"; tiêu biểu là công trình tuyến dân cư bờ đông kênh Bảy xã, dài 12 km, góp phần ổn định dân cư, làm đê bao sản xuất nông nghiệp, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng, an ninh, tạo ra sự phát triển nhanh và bền vững của cả vùng An Hòa Xương anh hùng.


Tuyến bờ kè tại trung tâm thị xã Tân Châu

Lĩnh vực văn hoá - xã hội nhiều mặt tiến bộ. Chất lượng giáo dục, đào tạo ngày càng được nâng cao, cơ sở vật chất giáo dục và đào tạo có sự đầu tư cải thiện, đủ điều kiện để đầu tư nâng cấp thành trường đạt chuẩn, đảm bảo yêu cầu phát triển giáo dục trong tương lai. Mạng lưới khám chữa bệnh trên địa bàn được củng cố, xây mới liên tục, đáp ứng yêu cầu khám chữa bệnh cho người dân. Hoạt động văn hóa thông tin - thể dục thể thao trên địa bàn thị xã ngày càng được đẩy mạnh, đời sống văn hóa tinh thần của Nhân dân từng bước được nâng lên. Công tác đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn được quan tâm thực hiện tốt. Đời sống các đối tượng thuộc diện chính sách xã hội được quan tâm chăm lo ổn định.

Trong những năm qua, thị xã đã kết hợp chặt chẽ việc phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng an  ninh, giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội. Mối quan hệ hữu nghị hợp tác và phát triển giữa chính quyền và Nhân dân 02 địa phương Tân Châu và quận Lekdek, tỉnh Kandal, Vương quốc Campuchia được duy trì và phát triển, góp phần xây dựng tuyến biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho Nhân dân hai nước qua lại mua bán và trao đổi hàng hóa. Công tác xây dựng khu vực phòng thủ, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh Nhân dân từng bước được nâng chất.

Với mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thị xã Tân Châu lần thứ XI đặt ra là "Nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Phát huy dân chủ, tăng cường kỷ cương, giữ vững ổn định, khai thác lợi thế, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân. Phấn đấu đến năm 2020 trở thành đô thị hạt nhân Vùng 2 của tỉnh, đứng trong tốp ba về kinh tế - xã hội của tỉnh An Giang". Để đạt được mục tiêu đó, thị xã Tân Châu sẽ tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững, tạo chuyển biến mạnh về chất lượng phát triển, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường. Đồng thời, đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trong đó, tập trung lãnh đạo thực hiện 3 khâu đột phá như: Xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng và chỉnh trang đô thị; Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính; Khai thác lợi thế kinh tế biên mậu, phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao,…

Trải qua 262 năm hình thành và phát triển; 10 năm trở thành thị xã, Tân Châu thực sự "thay da đổi thịt", đã khẳng định được vị trí kinh tế, quốc phòng quan trọng nơi biên giới. Thành tựu đó, khẳng định một ý chí quyết tâm, tinh thần đoàn kết, sự hòa quyện giữa ý đảng lòng dân. Đó là điều kiện quan trọng để Tân Châu tiếp tục phát huy sức mạnh tổng hợp, khai thác tiềm năng, thế mạnh của địa phương, tiếp tục xây dựng và phát triển thị xã trẻ thật sự trở thành đô thị biên giới, một trung tâm kinh tế – xã hội năng động phía bắc tỉnh An Giang, một đô thị tầm vóc, sầm uất vùng đầu nguồn Đồng bằng sông Cửu long.

VĂN PHÔ

True
Sớm có giải pháp tháo gỡ cho xuất khẩu nông sảnTinSớm có giải pháp tháo gỡ cho xuất khẩu nông sảnhttp://www.angiang.dcs.vn/Imagesnews/2019-10/QH-MaiThiAnhTuyet.jpg

​(TUAG)- Thảo luận tại phiên họp toàn thể hội trường về tình hình kinh tế xã hội và ngân sách nhà nước, đại biểu Quốc hội tỉnh An Giang quan tâm đến lĩnh vực nông nghiệp và cho rằng để phát triển ngành nông nghiệp cần quan tâm đến xây dựng phát triển thương hiệu, đồng thời cần có quy hoạch, định hướng sản xuất dựa trên dự báo thị trường.

30/10/2019 7:00 CHYesĐã ban hành

​Phát biểu về tình hình xuất khẩu nông sản, đại biểu Mai Thị Ánh Tuyết - Đoàn ĐBQH tỉnh An Giang cho biết, mặc dù thời gian qua kim ngạch nông sản có xu hướng tăng nhưng dư địa xuất khẩu nông sản Việt Nam có nhiều biểu hiện thu hẹp dần. Nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, trong đó có gạo hiện giá trị rất thấp và có nguy cơ mất thị trường xuất khẩu. Đặc biệt, sức ép cạnh tranh ngày càng lớn, xuất khẩu nhóm hàng nông, thủy sản gặp nhiều khó khăn và thị trường Trung Quốc vẫn là thị trường chiếm tỷ lệ cao, nhất là tỷ lệ trái cây, rau quả chiếm trên 90% tỷ lệ xuất khẩu mặt hàng này và còn phụ thuộc nhiều vào đường tiểu ngạch.

Từ ngày 01/01/2019 trái cây, rau quả xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc phải có truy xuất nguồn gốc và có giấy chứng nhận kiểm dịch động thực vật, trong khi nước ta lại phải nhập khẩu trái cây và đáng lưu ý là khoảng 70% giá trị nhập khẩu trái cây, trùng với các loại sản phẩm mà trong nước chúng ta sản xuất được. Đồng thời, thế mạnh về thủy sản gặp nhiều bất lợi trong việc Ủy ban châu Âu chưa gỡ thẻ vàng.


Đại biểu Mai Thị Ánh Tuyết - Đoàn ĐBQH tỉnh An Giang

Cho rằng thực trạng trên đã có gắng giải quyết nhưng hiệu quả chưa cao, đại biểu Mai Thị Ánh Tuyết đề nghị Chính phủ sớm có giải pháp tháo gỡ có hiệu quả những tồn tại trong thời gian còn lại. Theo đó, cần có quy hoạch, định hướng dựa trên dự báo thị trường để tránh trường hợp người dân phải đổ xô trồng Thanh Long, dưa Hấu, trồng Cam, Xoài, v.v.. phải giải cứu. Đồng thời sớm tháo gỡ thực trạng khó tiếp cận đất đai của doanh nghiệp thông qua việc nhận quyền sử dụng đất, thuê đất và các chính sách thu hút doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất nông nghiệp, xây dựng chuỗi giá trị thích ứng với thị trường và phù hợp với khả năng điều kiện, trình độ phát triển của Việt Nam. Phát triển nông nghiệp công nghệ cao, chú ý tới hỗ trợ ý tưởng khởi nghiệp và xây dựng thương hiệu.

Đại biểu Mai Thị Ánh Tuyết cũng cho rằng, để thúc đẩy động lực mới cho nông nghiệp, Bộ tiêu chuẩn chất lượng là đặc biệt cần thiết, là công cụ để làm căn cứ cho nhiều hoạt động như căn cứ để các tổ chức tín dụng xác định các dự án cho vay vốn, căn cứ để nông dân và doanh nghiệp tổ chức sản xuất đạt chất lượng theo yêu cầu của thị trường.

Các chính sách cần tập trung tác động vào hai chủ thể là doanh nghiệp và người nông dân. Cần nhìn nhận đúng khái niệm "an ninh lương thực" trong bối cảnh nhu cầu hiện nay kèm theo với "an ninh dinh dưỡng" để cân đối và quy hoạch sản xuất phù hợp, tránh cung cầu bất hợp lý. Đồng thời, phát triển nông nghiệp nên quan tâm giải quyết một số vấn đề cấp bách hiện nay một cách căn cơ là vấn đề ảnh hưởng do biến đổi khí hậu gây sạt lở, gây nguy cơ nước biển dâng.

Phan Nguyên


True
An Giang sẽ tham gia diễn đàn Mekong Connect 2019 TinAn Giang sẽ tham gia diễn đàn Mekong Connect 2019 /_catalogs/wp/2019-10/Hop-ta-mekong_Key_30102019134626.jpg

(TUAG)- Sáng nay 30/10, tại TP. Cần Thơ, Hội Doanh nghiệp hàng Việt Nam chất lượng cao TP.HCM tổ chức họp báo giới thiệu những nội dung chính của Diễn đàn MeKong Connect 2019 sẽ diễn ra vào ngày 7/11 tại TP. Cần Thơ. An Giang là một trong 4 tỉnh tham gia sự kiện này.

30/10/2019 2:00 CHNoĐã ban hành

 


Diễn đàn Mekong Connect 2019 với chủ đề “Liên kết chuỗi giá trị đồng bằng, tăng cường hội nhập thị trường”. Đây là diễn đàn thường niên dành cho doanh nhân, nhà quản lý chính quyền, các chuyên gia trong và ngoài nước và các đối tượng có mối quan tâm, lơi ích liên quan đến ĐB. SCL được phối hợp bởi Hội doanh nghiệp hàng Việt Nam chất lượng cao và lãnh đạo 4 địa phương thuộc mạng lưới liên kết cấp vùng ABCD Mekong gồm: An Giang, Bến Tre, Cần Thơ, Đồng Tháp.

Diễn đàn Mekong Connect 2019 gồm các chủ đề chính: Nâng giá trị gia tăng, đẩy mạnh thương mại hoá nông sản đồng bằng; Bắt mạnh xu hướng thị trường, định hướng cho nông sản đồng bằng; Liên kết khởi nghiệp và phát triển trên nền tài nguyên bản địa và An Giang sẽ trình bày tham luận chủ đề: “Ứng dụng công nghệ -  kết nối chuỗi giá trị, giảm rủi ro cho nông sản”.

Diễn đàn Mekong Connect 2019 có cách nhìn, cách tiếp cận nhằm thay đổi nền nông nghiệp từ “tư duy sản xuất” sang “tư duy kinh tế” theo tỉnh thần Nghị quyết 120/NQ-CP của Chính phủ về phát triển ĐB.SCL bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu và xu thế thị trường.

Bích Vân
False
Cải cách hành chính mang đến sự hài lòng cho người dân, doanh nghiệpBài viếtCải cách hành chính mang đến sự hài lòng cho người dân, doanh nghiệphttp://www.angiang.dcs.vn/Imagesnews/2019-10/CCHC-1.jpg

​(TUAG)- Những tháng đầu năm 2019, tỉnh đã thực hiện đồng bộ nhiệm vụ cải cách hành chính (CCHC) đạt hiệu quả và đúng pháp luật. Tinh thần thái độ phục vụ nhân dân của từng cán bộ, công chức đều nâng lên, đặc biệt là việc giải quyết công việc theo cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông ở các cấp đã thể hiện tốt, mang đến sự hài lòng cho người dân, doanh nghiệp.


29/10/2019 10:00 SANoĐã ban hành

​Đó là kết quả sự quyết tâm trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện của tỉnh, cấp ủy và chính quyền các cấp nhằm thực hiện tốt công tác CCHC; giải quyết khó khăn, hạn chế, góp phần xây dựng nền hành chính của tỉnh từng bước hiện đại, thông suốt, hiệu lực, hiệu quả, hướng tới chất lượng phục vụ người dân ngày càng tốt hơn. Đồng thời xác định rõ đây cũng là một trong những điều kiện cần để thu hút các doanh nghiệp gia nhập thị trường và đầu tư sản xuất kinh doanh tại An Giang, góp phần phát triển kinh tế xã hội tỉnh nhà.

Điều đáng ghi nhận, công tác CCHC ngày càng đơn giản, giảm bớt phiền hà cho người dân; tinh thần, thái độ phục vụ nhân dân, phong cách làm việc của cán bộ công chức ngày càng cải thiện, góp phần cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh tỉnh và giảm bớt việc khiếu nại, phản ánh của người dân về giải quyết thủ tục hành chính.


Tinh thần thái độ phục vụ nhân dân của cán bộ, công chức được nâng lên, mang đến sự hài lòng cho người dân, doanh nghiệp

Phó Giám đốc Sở Nội vụ tỉnh Trương Long Hồ cho biết: Cơ chế một cửa tiếp tục được quan tâm đặc biệt. Tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả tại các sở, ban, ngành, các huyện, thị xã, thành phố và các xã, phường, thị trấn được đầu tư trang thiết bị hiện đại, cùng với trang bị đồng phục cho cán bộ, công chức làm việc tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả..., tạo môi trường làm việc tại cơ quan công quyền thân thiện, lịch sự và chuyên nghiệp hơn. Quá trình giải quyết thủ tục hành chính, thái độ của công chức đối với tổ chức, công dân được giám sát chặt chẽ, các trường hợp trễ hạn, phiền hà đều bắt buột xin lỗi cá nhân, tổ chức, tạo đồng thuận, thiện cảm đối với cho cá nhân, tổ chức.

Công tác kiểm tra CCHC từ cấp tỉnh đến cơ sở được thực hiện thường xuyên, với nhiều nội dung: kiểm soát thủ tục hành chính, kiểm tra công tác hộ tịch và kiểm tra công tác phổ biến giáo dục pháp luật... Đồng thời, hỗ trợ các cơ quan, đơn vị, địa phương khắc phục những hạn chế, thiếu sót trong thực thi các quy định của pháp luật, văn bản chỉ đạo của tỉnh về công tác quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực. Công tác quản lý, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức tiếp tục được quan tâm, chú trọng góp phần nâng cao chất lượng quản lý hành chính nhà nước, nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ, hành chính.

Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động quản lý, điều hành của cơ quan nhà nước được đẩy mạnh, tỷ lệ trung bình máy tính/cán bộ, công chức đạt trên 100%; phần mềm quản lý, chỉ đạo điều hành trên môi trường mạng, văn phòng điện tử; hệ thống thư điện tử, ứng dụng chữ ký số và nhiều phần mềm chuyên dùng khác trong cơ quan nhà nước được thực hiện tốt, từng bước hiện đại hóa hoạt động quản lý nhà nước.

Tuy nhiên, bên cạnh đó, vẫn còn một bộ phận cán bộ, công chức chưa chấp hành nghiêm kỷ luật, kỷ cương hành chính. Chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức làm việc tại Bộ phận "Một cửa" vẫn còn thấp, chưa tương xứng với công sức và trách nhiệm. Một số cơ quan còn hạn chế trong việc sử dụng các phần mềm văn phòng điện tử, phần mềm một cửa, việc tiếp nhận, chuyển xử lý văn bản và phát hành chưa thông suốt, đồng bộ theo quy trình. Việc nộp hồ sơ dịch vụ công trực tuyến mức độ 3,4 của người dân còn hạn chế, số lượng người dân tham gia nhận trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính qua dịch vụ bưu chính chưa cao.

Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ CCHC những tháng đầu năm 2019, Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thanh Bình biểu dương vai trò, trách nhiệm của các thành viên Ban Chỉ đạo trong tham mưu UBND tỉnh điều hành, triển khai thực hiện nhiệm vụ CCHC có chất lượng, đúng tiến độ; có nhiều đề xuất, sáng kiến được áp dụng mang lại hiệu quả.

Để tiếp tục đẩy mạnh, triển khai thực hiện và hoàn thành các nhiệm vụ, mục tiêu kế hoạch năm 2019, Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thanh Bình đề nghị các thành viên Ban Chỉ đạo, các Sở, ngành, huyện, thị xã tiếp tục quan tâm triển khai thực hiện tốt công tác CCHC đảm bảo nhiệm vụ kế hoạch đề ra. Tiếp tục thanh tra, kiểm tra công vụ, kiểm tra công tác CCHC và kiểm tra việc chấp hành kỷ luật, kỷ cương hành chính theo kế hoạch và đột xuất; đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền CCHC; tiếp tục triển khai thực hiện Bộ tiêu chí đánh giá Chỉ số CCHC của các sở, ngành UBND cấp huyện, xã, phường, thị trấn; triển khai đo lường sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của các cơ quan hành chính Nhà nước; nâng cao chất lượng hoạt động cơ chế một cửa, một cửa liên thông, nhất là giải quyết thủ tục hành chính cho tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân. Tăng cường tuyên truyền sử dụng dịch vụ công trực tuyến mức độ 3,4 và dịch vụ bưu chính công ích. Đề cao vai trò, trách nhiệm người đứng đầu trong công tác kiểm tra, giám sát đối với cấp dưới thuộc thẩm quyền. Tổ chức thành công hội thi tuyên truyền CCHC tỉnh năm 2019 nhằm tìm kiếm sáng kiến, hiến kế cải CCHC tỉnh.

Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thanh Bình đề nghị: Đẩy mạnh thanh tra công vụ, kiểm tra CCHC, xử lý nghiêm tập thể, cá nhân vi phạm; thực hiện nghiêm các quy định về chấp hành kỷ luật, kỷ cương hành chính, đạo đức công vụ, văn hóa công sở…Tiếp tục công bố danh mục, nhập, đăng tải công khai thủ tục hành chính của tỉnh vào Cơ sở dữ liệu Quốc gia. Khảo sát, đánh giá mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp đối với cơ quan hành chính, cán bộ, công chức, viên chức làm việc tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả các cấp. Tiếp tục triển khai kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức, bồi dưỡng chuyên đề CCHC.

UBND tỉnh thống nhất chủ trương cho UBND các huyện, thị xã, thành phố bố trí ngân sách của địa phương hỗ trợ kinh phí bưu chính trong tiếp nhận và trả kết quả thủ tục hành chính tại nhà người dân; thực hiện mô hình chuyển giao cho Bưu điện tiếp nhận và trả kết quả đối với các thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyền của cấp huyện, cấp xã. Thống nhất chủ trương bố trí nguồn vốn sự nghiệp ngân sách tỉnh để trang bị "Phòng học trực tuyến E-Learning" tại Sở Nội vụ hướng đến tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng theo hình thức trực tuyến. Xây dựng APP trên điện thoại đi động để tiếp nhận và trả lời các phản ánh, kiến nghị của người dân liên quan thủ tục hành chính, chấp hành giờ giấc, hành kỷ luật - kỷ cương hành chính, đạo đức công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức toàn tỉnh; công khai thủ tục hành chính, hướng dẫn quy trình giải quyết thủ tục hành chính, quy trình tiếp nhận, giải quyết, trả kết quả thủ tục hành chính qua dịch vụ bưu chính...., để người dân nhận biết một cách dễ dàng khi có nhu cầu thực hiện thông qua chiếc điện thoại thông minh hoặc máy tính bảng, máy vi tính của người dân.

Bài, ảnh: HẠNH CHÂU

False
Hải quan An Giang luôn đồng hành cùng doanh nghiệpHải quan An Giang luôn đồng hành cùng doanh nghiệphttp://www.angiang.dcs.vn/Imagesnews/2019-10/Hai-quan-2.jpg

(TUAG)- Chiều 24/10, tại thành phố Châu Đốc, Cục Hải quan tỉnh An Giang tổ chức "Hội nghị đối thoại doanh nghiệp năm 2019" với sự tham gia của gần 100 doanh nghiệp thường xuyên có hoạt động xuất nhập khẩu qua địa bàn tỉnh.

25/10/2019 8:00 SANoĐã ban hành

Ông Trần Quốc Hoàn, Cục trưởng Cục Hải quan tỉnh cho biết, Hội nghị đối thoại doanh nghiệp là hoạt động thường niên của Hải quan tỉnh An Giang nhằm gặp gỡ, đối thoại, giải quyết kịp thời các khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp trong quá trình làm thủ tục hải quan tại các cửa khẩu trên địa bàn tỉnh An Giang; đồng thời, cập nhật và phổ biến các thông tin, quy định pháp luật mới được ban hành liên quan đến quyền hạn, trách nhiệm và nghĩa vụ của doanh nghiệp trong quá trình thực hiện thủ tục hải quan để doanh nghiệp biết và thực hiện đúng.

Bên cạnh đó, hội nghị cũng là cơ hội để Cục Hải quan tỉnh lắng nghe những đề xuất, kiến nghị từ phía cộng đồng doanh nghiệp trong việc hoàn thiện các cơ chế, chính sách về hải quan; qua đó, nắm bắt được những mong muốn mà doanh nghiệp chờ đợi từ phía Hải quan để từng bước hoàn thiện, nâng cao chất lượng phục vụ.

“Hội nghị cũng là cam kết của Hải quan An Giang trong việc đồng hành, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho cộng đồng doanh nghiệp có hoạt động xuất nhập khẩu qua các cửa khẩu thuộc tỉnh An Giang; đặc biệt là các doanh nghiệp đóng trên địa bàn tỉnh An Giang, nhằm giảm chi phí cho doanh nghiệp, nâng cao năng lực cạnh tranh, góp phần phát triển kinh tế tỉnh nhà”- Cục trưởng Cục Hải quan tỉnh An Giang nhấn mạnh.

Tại hội nghị, các đại biểu được cán bộ các phòng nghiệp vụ của Hải quan An Giang giới thiệu những nội dung mới liên quan đến quản lý nhà nước về hải quan của Việt Nam; trong đó, tập trung chủ yếu vào những điểm mới của Thông tư số 60/2019/TT-BTC ngày 30/8/2019 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 39/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; Thông tư 62/2019/TT-BTC ngày 5/9/2019 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 38/2018/TT-BTC ngày 20/4/2018 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về xác định xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; các thủ tục hành chính thực hiện qua dịch vụ bưu chính công ích; các thủ tục tờ khai hải quan khi các doanh nghiệp đến làm thủ tục xuất, nhập khẩu hàng hóa tại cựa khẩu Bắc Đai và cửa khẩu Vĩnh Hội Đông sau khi Hải quan An Giang thực hiện sát nhập Chi cục Hải quan Bắc Đai vào Chi cục Hải quan Vĩnh Hội Đông theo Quyết định số 1860/QĐ-BTC ngày 19/9/2109 của Bộ Trưởng Bộ Tài chính; các Nghị định của Chính phủ quy định về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa; quy định của Chính phủ về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hóa chất và vật liệu nổ công nghiệp (cùng có hiệu lực từ ngày 1/10/2019) so với các văn bản trước đó để doanh nghiệp nắm bắt và thực hiện.


Tại buổi đối thoại, lãnh đạo Cục Hải quan tỉnh An Giang trực tiếp giải đáp các câu hỏi của đại diện các doanh nghiệp về các vấn đề vướng mắc của các doanh nghiệp liên quan tới tờ khai hải quan, thủ tục tạm nhập tái xuất, hồ sơ hàng hóa khi làm thủ tục hải quan, thủ tục kiểm tra chuyên ngành…

Theo Cục trưởng Cục Hải quan tỉnh Trần Quốc Hoàn, hiện nay phần lớn hồ sơ, thủ tục hải quan đã được số hóa, nên việc kê khai thủ tục hải quan rất thuận lợi.

Với phương châm “chuyên nghiệp, minh bạch, hiệu quả”, thời gian tới Cục Hải quan tỉnh An Giang cam kết sẽ luôn nhiệt tình, tận tụy với công việc; thực hiện đúng quy trình, quy định; văn minh lịch sự trong ứng xử với doanh nghiệp.

Cùng đó, Hải quan An Giang sẽ luôn lắng nghe, tiếp nhận đầy đủ, phản hồi nhanh chóng, giải quyết khẩn trương các ý kiến đóng góp, khiếu nại của người dân và doanh nghiệp; thực hiện cơ chế đảm bảo sự giám sát của khách hàng đối với hoạt động nghiệp vụ hải quan. Bên cạnh đó, giảm tỷ lệ kiểm tra thực tế hàng hóa, giảm thiểu chi phí hành chính và thời gian thông quan, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các doanh nghiệp đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu phục vụ sản xuất và kinh doanh./.

Công Mạo

False
Quyết tâm hoàn thành toàn diện, vượt mức kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2019Bài viếtQuyết tâm hoàn thành toàn diện, vượt mức kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2019http://www.angiang.dcs.vn/Imagesnews/2019-10/KTXH-Chinhphu.jpg

(TUAG)- Những người cơ hội về chính trị đang rêu rao: "Một thể chế được dựng lên theo một mô hình đã sụp đổ,... đưa đất nước đi vào ngõ cụt với thể chế toàn trị phản dân chủ,… thì sự bục vỡ như đang diễn ra là khó tránh khỏi".

22/10/2019 11:00 SAYesĐã ban hành

Hiện nay, khi chúng ta đang chuẩn bị và tổ chức đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, hoạt động chống phá càng gia tăng.

Trái với sự xuyên tạc đó, nền kinh tế nước ta tiếp tục tăng trưởng cao trên mức mong đợi: GDP tăng 6,98%, mức tăng cao nhất trong vòng 9 năm qua. Lạm phát ở mức thấp, bình quân 9 tháng là 2,5%, thấp nhất trong 3 năm qua. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng 10,3%, đặc biệt khu vực ngoài Nhà nước chiếm tỷ trọng 45,3%, tăng 16,9%. Vốn FDI thực hiện cao nhất trong nhiều năm trở lại đây, ước đạt 14,2 tỷ USD, tăng 7,3%. Thu ngân sách Nhà nước tăng 10,1% (khả năng vượt dự toán 5%), bội chi 3,4% GDP, nợ công dưới 57% GDP… Xuất khẩu hơn 190 tỷ USD, tăng 8,2% (trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 16,4%). Xuất siêu đạt mức kỷ lục, gần 6 tỷ USD…

Nông nghiệp mặc dù gặp rất nhiều khó khăn như dịch tả lợn châu Phi, tác động của biến đổi khí hậu… Nhưng đã tập trung cơ cấu lại nội ngành theo hướng hiệu quả hơn. Chăn nuôi gia cầm, thủy sản tăng mạnh, nên cả ngành nông nghiệp tăng hơn 2%. Riêng ngành lâm sản, xuất khẩu gỗ rừng trồng và sản phẩm từ gỗ đạt hơn 9 tỷ USD và cả năm có thể đạt hơn 11 tỷ…

Cùng với sự phát triển kinh tế, các lĩnh vực văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại cũng tiếp tục có nhiều chuyển biến và đạt kết quả rất quan trọng. Đời sống nhân dân được cải thiện, đặc biệt tại khu vực nông thôn (Thực hiện chương trình giảm nghèo bền vững đạt kết quả tích cực, số hộ thiếu đói giảm 33%)… Dự kiến năm 2019 sẽ hoàn thành toàn diện, vượt mức các mục tiêu kế hoạch đề ra, là năm thứ 2 liên tiếp đạt 12 chỉ tiêu chủ yếu, trong đó vượt 5 chỉ tiêu.

Điều đáng quan tâm là tăng trưởng về số lượng gắn với chất lượng được cải thiện rõ nét. Tăng trưởng ở mức cao nhưng vẫn duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, đặc biệt lạm phát được kiểm soát tốt và các cân đối lớn của nền kinh tế được cải thiện. Nó diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới, khu vực có nhiều khó khăn, thách thức… Theo dự báo của nhiều tổ chức quốc tế, do tác động của xung đột thương mại Mỹ-Trung và các yếu tố rủi ro có tính chất chu kỳ, kinh tế thế giới sẽ tăng trưởng thấp nhất từ sau khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 và đang đứng bên bờ suy thoái. Tăng trưởng kinh tế của nhiều nền kinh tế giảm mạnh (tăng trưởng kinh tế của Mỹ là 2%, EU là 1%, Nhật Bản là 0,6%, Ấn Độ là 5%, Trung Quốc dưới 6%, Singapore là 0%...). Nhiều nước đã bắt đầu nới lỏng chính sách tiền tệ, Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục hạ lãi suất.

Riêng đối với nước ta, các tổ chức quốc tế có uy tín đánh giá cao, tiếp tục coi Việt Nam là điểm sáng của kinh tế khu vực và toàn cầu. ADB dự báo tăng trưởng GDP của Việt Nam ở mức 6,8% năm 2019. Standard Chartered đánh giá Việt Nam có tốc độ tăng trưởng dự kiến đạt 6,9%, và tốc độ này được kỳ vọng sẽ duy trì đến năm 2021. Citigroup Inc. đã điều chỉnh dự báo cả năm cho kinh tế Việt Nam lên 6,9%, từ mức 6,7% trước đó. Tạp chí US News &World Report vừa xếp hạng Việt Nam đứng thứ 8 trong số 20 quốc gia có nền kinh tế tốt nhất để đầu tư.

Bên cạnh kết quả tích cực, nền kinh tế vẫn còn nhiều điểm yếu, khó khăn, thách thức. Trong những tháng còn lại không được chủ quan, thỏa mãn; phải cố gắng phát huy thuận lợi, vượt qua khó khăn… Quyết tâm hoàn thành toàn diện, vượt mức Kế hoạch phát triển KT-XH năm 2019./.
                                                                                   
Sự thật
-----------------
True
1 - 30Next