Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksChính trị

Chào mừng quý vị đến với Cổng thông tin điện tử Đảng bộ tỉnh An Giang!
 
Chính trị
 

​​(TUAG)- Sáng nay 12/2, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chủ trì phiên họp trực tuyến của Ủy ban Quốc gia về Chính phủ điện tử với Ban Chỉ đạo xây dựng Chính phủ điện tử, Chính quyền điện tử các bộ, ngành, địa phương. Cùng tham dự hội nghị có Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam. Tại điểm cầu An Giang có sự tham dự của Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thanh Bình, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Văn Phước.

 
 

(TUAG)- Trãi qua 90 năm xây dựng và phát triển, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo lãnh đạo Nhân dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, làm nên những kỳ tích vĩ đại trong lịch sử dân tộc, đóng góp xứng đáng vào phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, vì hòa bình và tiến bộ của nhân loại.

 
 

(TUAG)- Ngày 3-2-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đánh dấu một móc son chói lọi trên con đường phát triển của dân tộc, chấm dứt tình trạng khủng hoảng về đường lối, về giai cấp lãnh đạo cách mạng diễn ra cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Từ đó, nhân dân ta tập hợp dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng, cùng chung tư tưởng và hành động để tiến hành cuộc cách mạng vĩ đại, giành những thắng lợi to lớn. ​

 
 

​(TUAG)- Trên hành trình tìm đường cứu nước, đến năm 1920 Bác Hồ đã tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp: “Từ đó, chủ nghĩa cộng sản bắt đầu vượt qua lưới sắt của chủ nghĩa đế quốc Pháp và dần dần thấm vào nước ta”. Bằng khả năng sáng tạo phi thường Bác cùng các đồng chí tiền bối chuẩn bị đầy đủ các điều kiện cần thiết để năm 1930 “Đảng ta chân chính thành lập”.

 
 

(TUAG)- Kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2) khắp nơi trong tỉnh tổ chức nhiều hoạt động biểu dương cấp ủy, tổ chức đảng và đảng viên có công lao, đóng góp tiêu biểu đối với công tác xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh và thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh. Tổ chức trao Huy hiệu Đảng, kết nạp đảng viên mới; hội thảo, tọa đàm; đề xuất các giải pháp nâng cao bản lĩnh chính trị, uy tín, trí tuệ và năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng trong thời gian tới.

 
Đảng khai xuân khải hoàn (27/01/2020 18:00:00)
 

Nhân dịp Tết Nguyên đán-Xuân Canh Tý 2020 và kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930 - 3/2/2020), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương đã dành thời gian chia sẻ với phóng viên về một số vấn đề xoay quanh sự kiện chính trị đặc biệt này.

 
Đảng ta thật vĩ đại! (24/01/2020 23:00:00)
 

​(TUAG)- Kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản việt Nam (3/2/1930 - 3/2/2020) - Năm 1858, thực dân Pháp đưa quân xâm lược  nước ta. Việt Nam từ một quốc gia phong kiến độc lập trở thành một xứ thuộc địa:

 
 

(ĐCSVN)- Thời gian qua cơ quan chức năng công bố kết quả đấu tranh phòng, chống tham nhũng (PCTN) được dư luận rất chú ý, quan tâm, đánh giá cao. Những kết quả ấy đã chứng minh cho quan điểm của Đảng và Nhà nước ta là đấu tranh PCTN không có “vùng cấm” không có “ngoại lệ” là đúng, có cơ sở được dân tin, đồng tình ủng hộ.

 
 

(TUAG)- Năm 2019,  các cấp chính quyền đã tập trung nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản l‎ý gắn với đổi mới công tác dân vận của chính quyền, tạo đồng thuận xã hội trong thực hiện các mục tiêu kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, nâng cao đời sống Nhân dân.

 
 

(TUAG)- Kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2020), sáng ngày 15/01/2020, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy và Trường Chính trị Tôn Đức Thắng tổ chức tọa đàm khoa học cấp tỉnh với chủ đề “90 năm truyền thống vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam”.

 
 
 
 
  
  
  
  
  
Tóm tắt
  
  
  
  
Nội dung
  
  
PostCategory
  
Năm 2020: Năm đầu tiên thực hiện Chính phủ số - Chính quyền sốTinBích VânNăm 2020: Năm đầu tiên thực hiện Chính phủ số - Chính quyền số/Imagesnews/2020-02/HN-chinhphu-so_Key_12022020140417.jpg

​​(TUAG)- Sáng nay 12/2, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chủ trì phiên họp trực tuyến của Ủy ban Quốc gia về Chính phủ điện tử với Ban Chỉ đạo xây dựng Chính phủ điện tử, Chính quyền điện tử các bộ, ngành, địa phương. Cùng tham dự hội nghị có Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam. Tại điểm cầu An Giang có sự tham dự của Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thanh Bình, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Văn Phước.

12/02/2020 3:00 CHYesĐã ban hành

Năm 2019, công cuộc xây dựng Chính phủ điện tử có nhiều chuyển biến tích cực. Tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến cấp độ 4 tăng gấp đôi. Cổng Dịch vụ công quốc gia đi vào hoạt động đã phát huy hiệu quả bước đầu. Tính từ thời điểm Thủ tướng Chính phủ nhấn nút khai trương (09/12/2019) đến nay, đã có 47.377 tài khoản đăng ký trên Cổng Dịch vụ công quốc gia; có hơn 13,7 triệu lượt truy cập; hơn 945.000 hồ sơ đồng bộ trạng thái. Đến thời điểm này, đã có 9/22 Bộ, cơ quan và 63/63 tỉnh, thành phố kết nối, tích hợp với Cổng Dịch vụ công quốc gia.

HN-chinhphu-so.jpg

Phát biểu tham luận tại phiên họp, Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thanh Bình cho biết: Tại An Giang, việc thực hiện xây dựng chính quyền điện tử luôn được quan tâm, triển khai, ứng dụng công nghệ thông tin với cải cách hành chính.Tỷ lệ gửi, nhận văn bản điện tử trên địa bàn tỉnh đạt 97%; cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 đạt 45%, mức độ 4 đạt 34%. Tỷ lệ hồ sơ giải quyết trực tuyến mức độ 3 đạt tỷ lệ 41,5%, mức độ 4 đạt tỷ lệ 75,8%… An Giang cũng kiến nghị, các bộ ngành sớm triển khai các cơ sở dữ liệu nền tảng; tạo điều kiện thuận lợi để các địa phương kết nối các hệ thống để phát huy việc liên thông, đồng bộ trong giải quyết các thủ tục hành chính tại địa phương.

Phát biểu kết luận hội nghị, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh: Năm 2020 là năm đầu tiên chuyển sang Chính phủ số, chính quyền số, vì vậy nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm là cần xây dựng, ban hành Chiến lược, thể chế phát triển Chính phủ điện tử. Cần một đề án tổng thể triển khai Chính phủ điện tử giai đoạn 2021-2023 trong đó gắn kết giữa cải cách quản trị công và chuyển đổi số. Tận dụng tối đa lợi ích của công nghệ số mang lại để hoàn thành được các mục tiêu đã đề ra, tận dụng tối đa lợi ích của công nghệ số mang lại bảo đảm phát triển nhanh, bền vững đất nước./.

Bích Vân

True
Lòng tin của Nhân dân và sự thành công của Đảng Cộng sản Việt NamBài viếtLòng tin của Nhân dân và sự thành công của Đảng Cộng sản Việt Nam/Imagesnews/2020-02/Co-dang_Key_04022020090124.jpg

(TUAG)- Trãi qua 90 năm xây dựng và phát triển, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo lãnh đạo Nhân dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, làm nên những kỳ tích vĩ đại trong lịch sử dân tộc, đóng góp xứng đáng vào phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, vì hòa bình và tiến bộ của nhân loại.

04/02/2020 9:00 SANoĐã ban hành

Trong suốt chặng đường lịch sử vẻ vang đó, Đảng luôn được Nhân dân tin yêu, đùm bọc, giúp đỡ, thừa nhận là Đảng của chính mình và trìu mến gọi Đảng Cộng sản Việt Nam bằng hai chữ “Đảng ta”. Đây là niềm vinh dự, tự hào của Đảng mà không phải bất kỳ đảng chính trị nào trên thế giới cũng có được.


Ngay khi Đảng ta mới ra đời, với Cương lĩnh chính trị đầu tiên đã mở ra thời kì mới cho cách mạng Việt Nam - thời kì đấu tranh giành độc lập dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội. Cương lĩnh đầu tiên đã xác định được những nội dung cơ bản nhất của con đường cách mạng Việt Nam; đáp ứng được những nhu cầu bức thiết của lịch sử và trở thành ngọn cờ tập hợp, đoàn kết thống nhất các tổ chức cộng sản, các lực lượng cách mạng và toàn thể dân tộc.

Với tôn chỉ, mục đích rõ ràng, bằng sự kiên trung của các chiến sĩ cộng sản, Đảng ta nhanh chóng giành được vị thế lãnh đạo và được sự ủng hộ rộng rãi của quần chúng Nhân dân lao động. Chính nhờ có sự ủng hộ rộng rãi của Nhân dân, ngay từ khi ra đời, Đảng ta đã lãnh đạo cao trào năm 1930-1931 mà đỉnh cao là phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh; cao trào dân chủ 1936-1939 và cao trào giải phóng dân tộc 1939-1945, làm nên cuộc Cách mạng tháng Tám vĩ đại, thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - Nhà nước dân chủ cộng hòa đầu tiên ở Đông Nam Á, mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội cho dân tộc Việt Nam. Sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng ngày 06/01/1946, Nhân dân ta đã tiến hành Tổng tuyển cử để tự lựa chọn bầu ra những đại biểu chân chính của mình vào Quốc hội - cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội đã bầu lãnh tụ Hồ Chí Minh giữ chức Chủ tịch Chính phủ và trao quyền cho Người lập Chính phủ chính thức - Chính phủ Liên hiệp kháng chiến. Đến kỳ họp thứ hai (tháng 11/1946), Quốc hội đã thông qua Hiến pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Như vậy, Đảng ta đã giành được chính quyền trong quá trình lãnh đạo cách mạng và được trao quyền lãnh đạo đất nước thông qua luật pháp, thông qua bầu cử của Nhân dân; quyền lãnh đạo của Đảng là do Nhân dân và cả dân tộc Việt Nam tin tưởng giao phó chứ Đảng không đòi hỏi bắt buộc phải có sứ mệnh lịch sử đó. Vì tin yêu Đảng, Nhân dân ta đã một lòng, một dạ đi theo Đảng, quyết tâm ủng hộ Đảng lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của dân tộc đi đến thắng lợi cuối cùng.

Sau khi lãnh đạo giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước năm 1975, trước muôn vàn khó khăn sau chiến tranh, Nhân dân ta tiếp tục tin tưởng, giao cho Đảng trọng trách lãnh đạo dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước. Điều 4 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980 khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong và bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân Việt Nam, được vũ trang bằng học thuyết Mác - Lênin, là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội; là nhân tố chủ yếu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đảng tồn tại và phấn đấu vì lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam. Các tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp”. Đây là sự lựa chọn tự giác, tự nguyện của Nhân dân và dân tộc ta.

Đến những năm 80 của thế kỷ XX, tình hình thế giới có những biến cố to lớn, đặc biệt sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu là tổn thất rất lớn, gây bất lợi cho phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Đứng trước tình thế vô vàn khó khăn, thử thách, Nhân dân ta vẫn tin tưởng giao cho Đảng trọng trách kiên trì con đường cách mạng đã lựa chọn, lãnh đạo toàn dân tộc xây dựng nước Việt Nam độc lập và đi lên chủ nghĩa xã hội. Điều 4 Hiến pháp năm 1992 một lần nữa khẳng định ý chí và nguyện vọng của Nhân dân ta về quyền lãnh đạo của Đảng.

Hiện nay, trước những thời cơ, vận hội đan xen với những nguy cơ, thách thức lớn, Nhân dân ta vẫn một lòng, một dạ đi theo Đảng. Điều 4 Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định ý chí, nguyện vọng của toàn thể Nhân dân Việt Nam: “Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là sứ mệnh lịch sử thiêng liêng được Nhân dân và dân tộc giao cho. Và niềm tin tuyệt đối của Nhân dân đối với Đảng tiếp tục được củng cố trên cơ sở những thành tựu to lớn trong hơn 30 năm đổi mới toàn diện đất nước do Đảng khởi xướng và lãnh đạo.

Những thắng lợi vĩ đại trong 90 năm qua kể từ ngày có Đảng lãnh đạo là minh chứng sinh động nhất về năng lực lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng và sức mạnh to lớn của Nhân dân ta. Đảng đã không ngừng tự đổi mới, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trước bối cảnh thế giới có nhiều diễn biến phức tạp. Đảng ta đã dành không ít thời gian và công sức cho công tác xây dựng Đảng, coi xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, được đặt ra trong nhiều nghị quyết, chỉ thị của Đảng.

Từ thực tiễn phong phú của cách mạng Việt Nam trong suốt 90 năm qua, Đảng đã tích luỹ và đúc rút được nhiều bài học kinh nghiệm lớn. Trong đó, Đảng ta đã khẳng định: Sự nghiệp cách mạng là của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân. Chính Nhân dân là người làm nên những thắng lợi lịch sử. Toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của Nhân dân. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với Nhân dân. Quan liêu, tham nhũng, xa rời Nhân dân sẽ dẫn đến những tổn thất khôn lường đối với vận mệnh của đất nước, của chế độ xã hội chủ nghĩa và của Đảng.

Giữ vững lòng tin của Nhân dân với Đảng là mục tiêu phấn đấu, là trách nhiệm của mỗi tổ chức Đảng, mỗi đảng viên. Đó là cơ sở để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi thử thách, xây dựng thành công nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.

Lâm Giàu

False
Đảng bộ An Giang 90 năm đoàn kết, đổi mới, sáng tạoBài viếtĐảng bộ An Giang 90 năm đoàn kết, đổi mới, sáng tạo/Imagesnews/2020-02/90-thanh-lap-dang_Key_03022020074925.jpg

(TUAG)- Ngày 3-2-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đánh dấu một móc son chói lọi trên con đường phát triển của dân tộc, chấm dứt tình trạng khủng hoảng về đường lối, về giai cấp lãnh đạo cách mạng diễn ra cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Từ đó, nhân dân ta tập hợp dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng, cùng chung tư tưởng và hành động để tiến hành cuộc cách mạng vĩ đại, giành những thắng lợi to lớn. ​

03/02/2020 8:00 SAYesĐã ban hành

Đảng bộ An Giang hình thành, hòa nhịp, phát triển và có ý nghĩa lớn đối với phong trào cách mạng cả nước

Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, chi bộ Đảng các tỉnh lần lượt ra đời. Ở An Giang, cuối năm 1927, chi bộ Hội Thanh niên đầu tiên ra đời ở Long Điền (Chợ Mới). Tháng 2/1928, Tỉnh bộ Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên tỉnh Long Xuyên được thành lập.

Đến cuối tháng 3/1930, đồng chí Nguyễn Văn Cưng cùng các đồng chí lãnh đạo Hội Thanh niên Long Xuyên được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Đồng chí Lưu Kim Phong được Đặc ủy Hậu Giang phân công về hoạt động ở Long Xuyên và hình thành Ban Chấp ủy lâm thời tỉnh Long Xuyên. Đồng chí Nguyễn Văn Cưng được cử làm Bí thư Tỉnh ủy. Tỉnh ủy chủ trương đẩy mạnh tuyên truyền, vận động xây dựng cơ sở tổ chức đảng, lấy Chợ Mới làm trung tâm phát triển tổ chức.

IMG_0567.JPG

Đầu tháng 4 năm 1930, Chi bộ Đảng ở Long Điền (huyện Chợ Mới) được thành lập gồm có 3 đồng chí: Lưu Kim Phong, Bùi Trung Phẩm và Đoàn Thanh Thủy. Đây là Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của tỉnh An Giang.

Sự ra đời Ban Chấp ủy lâm thời tỉnh Long Xuyên (cuối tháng 3-1930) và Chi bộ Long Điền (Chợ Mới)- Chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam đầu tiên của An Giang (đầu tháng 4-1930) đã tạo ra một bước ngoặt cho phong trào cách mạng An Giang tiến lên một bước mới vô cùng quan trọng, hòa nhịp và có ý nghĩa lớn đối với phong trào cách mạng cả nước; góp phần làm sáng tỏ về mặt lý luận và thực tiễn đối với quy luật thành lập Đảng ở Việt Nam.

Đến nay, Đảng bộ An Giang có 15 đảng bộ trực thuộc (11 đảng bộ huyện, thị, thành phố và 4 đảng bộ khối, ngành), gồm 829 tổ chức cơ sở đảng (tăng 424 tổ chức cơ sở đảng so với năm 1979), với 64.168 đảng viên (chiếm 3,36% dân số) (tăng 59.564 đảng viên so với năm 1979).

Lịch sử 90 năm Đảng bộ An Giang cho thấy Đảng bộ không ngừng phát triển lớn mạnh, là một bộ phận quan trọng của Đảng Cộng sản Việt Nam và có nhiều đóng góp lớn cho phong trào cách mạng cả nước.

Đảng bộ An Giang luôn là hạt nhân đoàn kết, lãnh đạo nhân dân kháng chiến chống xâm lược và bảo vệ Tổ quốc

Trong hai thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược, với đặc thù đa dân tộc, đa tôn giáo, bị địch kềm kẹp gắt gao, lợi dụng dân tộc, tôn giáo để chia rẽ Đảng với dân, đồng thời phải nhiều lần điều chỉnh địa giới hành chính, chia tách, tái lập tỉnh, nhưng Đảng bộ An Giang vẫn luôn đoàn kết một lòng, vượt qua vô vàng thử thách ác liệt để lãnh đạo nhân dân lập nên rất nhiều chiến công vang dội.

Tính từ năm 1945 đến năm 1975, tỉnh An Giang đã trải qua 8 lần tách nhập địa giới hành chính lớn với nhiều tên gọi khác nhau như: An Giang, Long Xuyên, Châu Đốc; Long Châu Tiền, Long Châu Hậu; Long Châu Hà, Long Châu Sa; Châu Hà; Long Châu Hà, Long Châu Tiền và đến tháng 12 năm 1975 trở lại với tên gọi An Giang.

Cùng với tách, nhập địa giới hành chính là tách, nhập tổ chức, cán bộ của tỉnh được điều động đi nơi khác, nhiều cán bộ nơi khác được điều động, tăng cường cho tỉnh. Trong 45 năm (từ năm 1930 đến năm 1975), Đảng bộ An Giang có 31 đồng chí làm Bí thư Tỉnh ủy, phụ trách Đảng bộ tỉnh.

Bên cạnh đó, với đặc điểm đa dân tộc, đa tôn giáo, trong đội ngũ cán bộ, chiến sĩ cách mạng cũng có rất nhiều người dân tộc Khmer, Hoa, Chăm, người theo các tôn giáo, nhất là Phật giáo Hòa Hảo. Trong lịch sử, địch dùng nhiều thủ đoạn xuyên tạc cách mạng, lôi kéo, chia rẽ đồng bào dân tộc, tôn giáo với cách mạng, tạo ra nhiều hiểu lầm, gây ra nhiều vụ việc đau lòng, làm cho lực lượng cách mạng bị nhiều thiệt hại...

GBTG.jpg

Mặc dù với nhiều biến động về tổ chức, con người và gặp nhiều yếu tố bất lợi, gây cho ta nhiều thiệt hại như trên; nhưng cán bộ, đảng viên An Giang vẫn luôn kiên định theo Đảng, đoàn kết, chung sức, chung lòng lãnh đạo nhân dân, không để xảy ra việc mất đoàn kết, hay mâu thuẫn nội bộ trong quá trình tách, nhập bộ máy, phân công cán bộ. Nhờ đó, Đảng bộ luôn đoàn kết, vững mạnh, lãnh đạo nhân dân, hạt nhân đoàn kết các dân tộc, tôn giáo trong tỉnh, đấu tranh giành thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược.

Ngày 20/12/1975, tỉnh An Giang được tái lập. Đảng bộ bắt tay ngay vào củng cố, xây dựng chính quyền các cấp, khôi phục sản xuất, ổn định đời sống nhân dân, xây dựng lại quê hương trong điều kiện xuất phát điểm rất thấp. Tuy nhiên, hoà bình chưa được bao lâu, đêm 30/4/1977, tập đoàn phản động Pôn Pốt đã mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược biên giới Tây Nam nước ta.

Trong chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam Tổ Quốc, Đảng bộ phải tiến hành di dân để bố trí lại dân cư, kết hợp xây dựng vùng kinh tế mới, gần 20.000 đồng bào vùng biên giới sơ tán về tuyến sau ổn định nơi ăn ở; phải đưa 55.000 đồng bào Khmer xuống định cư ở Hậu Giang, Minh Hải theo chỉ đạo của Trung ương.

Một lần nữa Đảng bộ An Giang đoàn kết trên dưới một lòng tiếp tục lãnh đạo nhân dân (nhất là đồng bào Khmer ở Bảy Núi), làm tốt công tác hậu phương, đóng góp sức người cùng với cả nước chiến đấu, bảo vệ vững chắc biên giới Tây Nam của Tổ quốc và giúp nhân dân Campuchia đánh đổ chế độ diệt chủng (7/01/1979).

Có thể khẳng định, đoàn kết là đặc điểm nổi bật trong suốt quá trình hình thành và phát triển, trở thành truyền thống tốt đẹp của Đảng bộ An Giang.

Đảng bộ An Giang luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, đổi mới, sáng tạo, phát triển tỉnh nhà, mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân

Từ năm 1975 đến nay, tình hình thế giới và trong nước trãi qua nhiều giai đoạn thăng trầm, với nhiều diễn biến phức tạp như: Khủng hoảng kinh tế trong nước, sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, các lực lượng cơ hội trong nước cộng với sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch bằng chiến lược diễn biến hoà bình nhằm làm chệch hướng đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta…

Thực trạng kinh tế thị trường đã đem lại hiệu quả năng động, thúc đẩy sản xuất phát triển, nhưng cũng tạo ra những vấn đề bức xúc phải giải quyết như: Tình trạng quan liêu, tham nhũng, thiếu dân chủ, chủ nghĩa cá nhân thực dụng, tệ nạn xã hội phát sinh...

Cùng với thiên tai, lũ lụt thường xuyên xảy ra gây thiệt hại nặng nề. Đời sống nhân dân, nhất là vùng nông thôn, đồng bào dân tộc còn gặp nhiều khó khăn…

Tất cả các yếu tố trên đã tác động đến tư tưởng tâm trạng cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là niềm tin vào Đảng, Nhà nước và chủ nghĩa xã hội.

Trong suốt quá trình đó, Đảng bộ An Giang đã luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Quán triệt bài học lấy dân làm gốc, cả hệ thống chính trị, với trách nhiệm chủ yếu của cán bộ chủ chốt các cấp, đã luôn kịp thời nắm bắt, giải quyết có hiệu quả những nhận thức, tư tưởng "mới nảy sinh" để làm ổn định tư tưởng. Đại đa số cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân An Giang an tâm, tin tưởng vào đường lối đổi mới của Đảng, thấy được triển vọng đi lên của của địa phương, đất nước, tự nguyện chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước và tham gia tích cực những chủ trương đổi mới, sáng tạo của địa phương.

Trong suốt quá trình đổi mới, An Giang đã vận dụng linh hoạt, sáng tạo hàng loạt các chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước vào thực tiễn của tỉnh trong công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn; giải quyết đồng bộ, có hiệu quả các vấn đề về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của người dân, với các chủ trương sáng tạo, đột phá như: Tăng cường hợp đồng 2 chiều ứng trước cho dân; Nhà nước mua hàng của dân theo giá hợp đồng; Chủ trương "mua đúng bán đúng"; Xóa bỏ các trạm "ngăn sông cấm chợ"; chủ trương về tam nông: nông nghiệp, nông dân và nông thôn (lúc bấy giờ gọi là "Tư tưởng tam nông"); Chương trình khai thác tứ giác Long Xuyên (năm 1988); Chương trình khuyến nông (năm 1989); Chương trình phát triển nông thôn (năm 1992); Chương trình khuyến công (năm 1996); Chương trình trồng và bảo vệ rừng; phát triển nghề nuôi và xuất khẩu cá tra, ba sa…; Phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao (năm 2012); gần đây là mô hình "Cánh đồng lớn"…

Kết quả, từ một tỉnh đứng trước ngưỡng thiếu lương thực với sản lượng lúa 848 ngàn tấn (năm 1986), đến có dư để xuất khẩu, đạt trên mức 02 triệu tấn lần đầu tiên vào năm 1996, trên mức 03 triệu tấn vào năm 2007 và hiện nay là trên 04 triệu tấn; là một trong những tỉnh có sản lượng lúa đứng đầu cả nước, hoàn thành tốt nhiệm vụ đảm bảo an ninh lương thực cho quốc gia; đời sống nhân dân được cải thiện, bộ mặt nông thôn ngày càng đổi mới.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ X, nhiệm kỳ 2015-2020, Đảng bộ, Chính quyền và nhân dân An Giang đã nỗ lực phấn đấu vượt qua khó khăn, đưa kinh tế - xã hội phát triển khá rõ nét qua từng năm GRDP năm sau cao hơn năm trước (năm 2016 tăng 4,47%; năm 2017 tăng 4,5%; năm 2018 tăng 6,52%; năm 2019 ước đạt trên 7%), thu nhập bình quân đầu người được cải thiện, đời sống vật, tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng lên; tỉ lệ hộ nghèo giảm nhanh, đến cuối năm 2018 còn 3,67%...

Tiếp nối truyền thống đoàn kết, đổi mới, sáng tạo, hiện nay Ban Chấp hành Đảng bộ, Ban Thường vụ Tỉnh ủy luôn trăn trở về định hướng phát triển của tỉnh thời gian tới, mong muốn khôi phục tốc độ phát triển cao của tỉnh như thập niên năm 2000 đến 2010 (lúc bấy giờ trung bình phát triển trên 10%).

Tỉnh đã sớm xây dựng và tập trung thực hiện Đề án "Một số vấn đề về đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả trên địa bàn tỉnh". Hiện nay, tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị trên địa bàn tỉnh tiếp tục được củng cố, kiện toàn. Với kết quả bước đầu rất phấn khởi ở cả 3 cấp tỉnh, huyện, xã như:

Cấp tỉnh: 01 đồng chí Uỷ viên Ban Thường vụ giữ chức vụ Trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy, Giám đốc Sở Nội vụ. Sắp xếp tổ chức lại bộ máy các cơ quan tham mưu, giúp việc Tỉnh uỷ (giảm 8 phòng so với trước)…

Cấp huyện: Hợp nhất 2 Đảng bộ Khối Dân Chính Đảng và Đảng bộ Khối Doanh nghiệp tỉnh. 4 địa phương (Long Xuyên, Châu Đốc, Châu Phú, Tri Tôn) Bí thư cấp ủy đồng thời là Chủ tịch Ủy ban nhân dân. 100% (11) Trưởng ban Tuyên giáo đồng thời là Giám đốc Trung tâm Bồi dưỡng chính trị cấp huyện. 5 địa phương Trưởng ban Dân vận đồng thời là Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc. 2 địa phương Trưởng ban Tổ chức huyện ủy đồng thời là Trưởng phòng Nội vụ. 1 địa phương Chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra huyện ủy đồng thời là Chánh Thanh tra...

Cấp xã: 84/156 xã, phường, thị trấn Bí thư cấp ủy đồng thời là Chủ tịch Ủy ban nhân dân. 100% (888) khóm, ấp Bí thư chi bộ đồng thời là Trưởng khóm, ấp...

Toàn tỉnh đã tinh giản được 4.433 biên chế; gi ảm 28 đơn vị sự nghiệp; tổng ngân sách nhà nước giảm chi trong 02 năm (2017 - 2018) gần 42 tỉ đồng…

Trăn trở về sự phát triển của An Giang 10 năm gần đây, không được như giai đoạn trước, có biểu hiện tụt hậu so với  sự phát triển chung của cả nước, vừa qua Tỉnh đã tổ chức hội thảo, lấy ý kiến các nhà khoa học, trí thức, cán bộ lãnh đạo tỉnh cho "Đề án tái cơ cấu tỉnh An Giang: Tạo đột phá hướng đến phát triển bền vững"; để làm cơ sở xác định hướng phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh trong nhiệm kỳ 2020-2025 và những năm tiếp theo, với mục tiêu tổng quát trong chiến lược phát triển kinh tế của An Giang trong 10 năm tới là "chuyển đổi mô hình phát triển, khôi phục tốc độ tăng thu nhập của người dân, kiến tạo môi trường cho doanh nghiệp phát triển", đây được đánh giá là cách làm sáng tạo của tỉnh.

*

*   *

Những thành tựu đạt được của tỉnh thời gian qua là tiền đề quan trọng để tỉnh tiếp tục đổi mới và phát triển trong nghững năm tới; góp phần vào những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của cả nước trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc; góp phần khẳng định đường lối đổi mới của Đảng là đúng đắn, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử.

Kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930-3/2/2020), tự hào về truyền thống vẻ vang của Đảng ta, mỗi người chúng ta càng tự hào và phát huy truyền thống 90 năm đoàn kết, đổi mới, sáng tạo của Đảng bộ An Giang; cần phải luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; đoàn kết; quyết tâm, trách nhiệm, đổi mới, sáng tạo, phấn đấu hoàn thành thật xuất sắc nhiệm vụ chính trị của mình, góp phần phát triển tỉnh nhà, mang lại ấm no hạnh phúc cho nhân dân./.

ThS. Nguyễn Thành Nhân

Phó Hiệu Trưởng Trường Chính trị Tôn Đức Thắng

True
Đảng ta là đạo đức là văn minh! Bài viếtĐảng ta là đạo đức là văn minh! /Imagesnews/2020-02/TLD-3-2_Key_02022020210051.jpg

​(TUAG)- Trên hành trình tìm đường cứu nước, đến năm 1920 Bác Hồ đã tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp: “Từ đó, chủ nghĩa cộng sản bắt đầu vượt qua lưới sắt của chủ nghĩa đế quốc Pháp và dần dần thấm vào nước ta”. Bằng khả năng sáng tạo phi thường Bác cùng các đồng chí tiền bối chuẩn bị đầy đủ các điều kiện cần thiết để năm 1930 “Đảng ta chân chính thành lập”.

02/02/2020 9:00 CHNoĐã ban hành

​Ngay từ khi mới ra đời, Ðảng đã giương cao ngọn cờ cách mạng, màu cờ đỏ của Ðảng chói lọi như mặt trời mới mọc, xé tan cái màn đen tối, soi đường dẫn lối cho Nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khổ, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách và giành được những thắng lợi vĩ đại: Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, đưa dân tộc ta tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do; thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống xâm lược, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc, làm tròn nghĩa vụ quốc tế; thắng lợi của công cuộc đổi mới, tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế...

 

Trong cuộc đấu tranh lâu dài gian khổ đó, biết bao đảng viên luôn đi đầu cùng hàng triệu cán bộ, chiến sĩ anh dũng hy sinh. Máu đào của các liệt sĩ đã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Bác Hồ khẳng định: “Với tất cả tinh thần khiêm tốn của người cách mạng, chúng ta vẫn có quyền nói rằng: Ðảng ta thật là vĩ đại!”. Ðảng ta vĩ đại “vì nó gần gũi tận trong lòng của mỗi đồng bào ta”; vì ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Ðảng ta không có lợi ích gì khác.

Quá trình lãnh đạo, Đảng có lúc cũng phạm sai lầm, khuyết điểm, có những sai lầm, khuyết điểm nghiêm trọng do giáo điều, chủ quan, duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan. Đảng đã ra sức đẩy mạnh việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI và khóa XII, làm cho Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức; đổi mới phương thức lãnh đạo, tăng cường mối liên hệ giữa Đảng với nhân dân, giữ vững và tăng cường bản chất cách mạng, tính tiên phong của Đảng.

Chín mươi năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng, thế và lực của nước ta đã được tăng cường, Việt Nam được dư luận quốc tế đánh giá là một quốc gia kinh tế - văn hóa phát triển, chính trị - xã hội ổn định, có nhiều triển vọng tốt... Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ to lớn, vai trò và vị thế cao như ngày nay.Từ một nước nhược tiểu, nghèo đói, Việt Nam đã vươn lên trở thành nước có thu nhập trung bình, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện, nâng cao; quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế không ngừng rộng mở, hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư được tăng cường. Việt Nam đã tham gia hầu hết các tổ chức quốc tế và thiết chế hợp tác kinh tế đa phương, có vai trò, tiếng nói quan trọng trong khu vực và trên thế giới.

Bác Hồ khẳng định: “Sứ mệnh của Đảng ta rất to. Công việc Đảng ta rất nhiều. Đảng đòi hỏi chúng ta phải làm trọn nhiệm vụ của đảng viên”. “Không có vinh dự nào to bằng cái vinh hạnh được làm đảng viên của Đảng Cộng sản”. Quan trọng hơn Người còn chỉ dạy: “Chúng ta có nhiều thành công, nhưng chúng ta cũng còn nhiều khuyết điểm. Mỗi đồng chí ta cần phải mạnh dạn và thành thật kiểm điểm mình, kiểm điểm đồng chí mình”. Nội dung cần tập trung kiểm điểm là: “Đã bỏ hết bệnh chủ quan, hẹp hòi chưa? Đã bỏ hết tư ý tiểu khí chưa? Đã luôn cố gắng học tập, luôn luôn cầu tiến bộ chưa? Đã thực hiện đoàn kết 100% chưa? Đã thật cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư chưa? Đã thật là người kiểu mẫu trong phong trào thi đua ái quốc chưa? Nếu chưa thì phải làm cho kỳ được”.    

Hiện nay, trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, mở rộng hội nhập, hằng ngày, hằng giờ đối mặt với bao cám dỗ, với mặt trái của cơ chế thị trường, mỗi cán bộ, đảng viên càng phải chăm lo giữ vững bản chất cách mạng và tính tiên phong của Đảng; kiên quyết đấu tranh góp phần loại bỏ những cán bộ tham nhũng, hư hỏng, thoái hoá, biến chất; xây dựng đội ngũ cán bộ thật sự liêm chính, trong sạch, có đủ dũng khí đấu tranh bảo vệ cái đúng, loại bỏ cái sai...

Chúng ta tự hào về: “Ðảng ta là đạo đức, là văn minh”. Từ đó phải ra sức góp phần xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh; đủ sức chăm lo thế nước, vun đắp lòng dân, dẫn dắt công cuộc đổi mới tiếp tục tiến lên./.         

Sự thật

False
Nhiều hoạt động kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam 3-2TinNhiều hoạt động kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam 3-2/Imagesnews/2020-02/TLD-3-2_Key_02022020195641.jpg

(TUAG)- Kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2) khắp nơi trong tỉnh tổ chức nhiều hoạt động biểu dương cấp ủy, tổ chức đảng và đảng viên có công lao, đóng góp tiêu biểu đối với công tác xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh và thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh. Tổ chức trao Huy hiệu Đảng, kết nạp đảng viên mới; hội thảo, tọa đàm; đề xuất các giải pháp nâng cao bản lĩnh chính trị, uy tín, trí tuệ và năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng trong thời gian tới.

02/02/2020 5:00 CHNoĐã ban hành

Tổ chức triển lãm hoặc trưng bày chuyên đề, giới thiệu những hình ảnh, tư liệu về lịch sử vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam 90 năm qua, về những thành tựu sau 35 năm thực hiện đường lối đổi mới đất nước. Tổ chức thăm hỏi, tri ân đảng viên lão thành; về nguồn, tham quan di tích lịch sử, các hoạt động văn hóa - văn nghệ, thể dục, thể thao…
TLD-3-2.jpg
Tỉnh tăng cường tuyên truyền những mốc son chói lọi của Đảng, những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng. Tuyên truyền công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, làm rõ những kết quả và bài học kinh nghiệm trong triển khai thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, kết luận về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng qua các kỳ đại hội ở các cấp, các tổ chức đảng, nhất là trong việc triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 gắn với việc triển khai chỉ thị của Bộ Chính trị các khóa về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; khẳng định quyết tâm chính trị của Đảng trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức Đảng, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Biểu dương cấp ủy, tổ chức đảng và đảng viên tiêu biểu ở các cấp, các ngành; phát hiện và nhân rộng những mô hình hay, cách làm sáng tạo trong đổi mới nội dung, hình thức sinh hoạt cấp ủy và chi bộ; đề xuất, kiến nghị những giải pháp nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức cách mạng, trí tuệ và năng lực hoạt động thực tiễn của cán bộ, đảng viên hiện nay.  
Đồng thời, tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm, thông tin sai trái, thù địch; đồng thời vạch trần âm mưu, thủ đoạn chống phá cách mạng Việt Nam, gây chia rẽ, mất đoàn kết nội bộ, làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ.
H.C
False
Đảng khai xuân khải hoànBài viếtĐảng khai xuân khải hoàn/Imagesnews/2020-01/dang-khai-xuan-khai-hoan_Key_27012020170842.jpg

Nhân dịp Tết Nguyên đán-Xuân Canh Tý 2020 và kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930 - 3/2/2020), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương đã dành thời gian chia sẻ với phóng viên về một số vấn đề xoay quanh sự kiện chính trị đặc biệt này.

27/01/2020 6:00 CHNoĐã ban hành

 


Phóng viên (PV):
 Kính thưa Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, có phải ngẫu nhiên khi kỷ niệm Ngày thành lập Đảng hằng năm lại đúng dịp đất nước bước vào xuân và trong ý thức của mỗi người dân: Đảng là mùa xuân, Đảng khai xuân, Đảng mang mùa xuân về cho dân tộc?

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng: Bước sang năm 2020 là tròn 90 năm thành lập Đảng quang vinh. Lịch sử nước nhà ghi lại những trang vàng về chiều dài 9 thập kỷ xây dựng, trưởng thành của Đảng cũng chính là 90 mùa xuân dân tộc ta có Đảng dẫn đường, soi lối, đưa sự nghiệp cách mạng nước ta đi hết thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Có lẽ đó là sự sắp đặt và kiến tạo của lịch sử, cũng là quy luật tất yếu trong tiến trình phát triển đi lên của cách mạng Việt Nam sau những thăng trầm, biến cố trong đêm trường nô lệ. Đảng ra đời vào mùa xuân, gắn với xuân cũng có thể còn là ý chí và quyết tâm chính trị tuyệt vời của các vị lãnh tụ tiền bối cách mạng Việt Nam khai sinh ra Đảng ta.

Mùa xuân năm 1930, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chủ trì Hội nghị hợp nhất 3 tổ chức cộng sản ở Việt Nam và Đông Dương là Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản liên đoàn, thành một tổ chức cộng sản duy nhất, lãnh đạo cách mạng là Đảng Cộng sản Việt Nam. Trải qua những biến thiên lịch sử, con đường đi lên của dân tộc Việt Nam từ mùa Xuân ấy đến nay dù có những gập ghềnh, gian khó, nhưng dưới sự dẫn dắt của Đảng, dân tộc ta đã vượt bao thác ghềnh; vượt bao gian khó để tự hào đi trên con đường hòa bình tươi đẹp và thênh thang như hôm nay đây, lúc này đây.

90 năm kể từ khi có Đảng, 75 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) và 45 năm ngày Việt Nam thống nhất, mỗi mùa xuân có Đảng là một mùa hạnh phúc, an vui với mỗi người dân và gia đình Việt. Điều đó lý giải vì sao Đảng ta đã trở thành niềm tin, niềm tự hào của dân tộc; là tổ chức tiền phong duy nhất được quần chúng nhân dân vinh danh, gọi bằng tên trìu mến: "Đảng ta!".

Dù rằng, trên con đường đi lên cùng dân tộc và đất nước, nói một cách công bằng và thẳng thắn, không phải không có lúc chúng ta mắc sai lầm, khuyết điểm. Nhưng với tinh thần tự phê bình và phê bình, Đảng đã sớm nhận ra những sai lầm, khuyết điểm và kiên quyết sửa chữa, dù có đau đớn hay phải đối diện với muôn vàn khó khăn, rào cản. Chính điều đó càng làm tăng thêm niềm tin của nhân dân dành cho Đảng và có lẽ hiếm có dân tộc nào trên thế giới khi nói đến Đảng cầm quyền, nhân dân lại dành cho một sự trân trọng, tự hào, yêu thương như dân tộc Việt Nam đối với Đảng Cộng sản Việt Nam.

PV: Vậy thành quả lớn nhất Đảng ta đạt được trong 9 thập kỷ qua là gì, thưa đồng chí?

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng: Điểm lại thành quả cách mạng thì rất nhiều và có thể viết đến hàng trăm nghìn bộ đại sử ký, nhưng tựu trung lại: Thành quả lớn nhất là Đảng ta đã luôn hoàn thành sứ mệnh lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, thật sự mang lại độc lập cho dân tộc, cơm ăn, áo mặc, đem tới tự do, hạnh phúc cho nhân dân Việt Nam và đóng góp to lớn vào hòa bình, phát triển trên thế giới.

90 năm trải qua những chặng đường khác nhau và không phải đều là những chặng đường bằng phẳng, nhưng Đảng ta đã lãnh đạo đưa Việt Nam từ một nước nửa phong kiến, thuộc địa, thiếu đói, trở thành một nước phát triển có thế và lực, uy tín trên trường quốc tế. Vị thế của Đảng cũng nhờ đó mà không ngừng được nâng lên. Từ một Đảng lãnh đạo cách mạng đến một Đảng cầm quyền lãnh đạo kiến thiết đất nước, bứt phá đổi mới với những thành tựu ấn tượng, được quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Đảng ta cũng đồng thời mở rộng cánh tay, chủ động, tích cực hợp tác, hội nhập với bạn bè "bốn biển, năm châu" vì nước nhà cường thịnh, vì một nền hòa bình, hữu nghị, hợp tác và sự tiến bộ, công bằng, phát triển của nhân loại.

PV: Vậy trong năm 2019 - năm thứ 89 của Đảng ta, theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Đảng ta đã đạt được những thành quả gì đáng ghi nhận nhất?

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng: Năm 2019 được ví như mùa gặt sớm, với rất nhiều chỉ tiêu, mục tiêu Nghị quyết Đại hội XII của Đảng được hoàn thành trước hoặc đúng tiến độ, tiến trình vào cuối năm thứ tư của nhiệm kỳ khóa XII. Năm 2019 cũng là năm hoàn thành thắng lợi các chỉ tiêu kế hoạch phát triển mà Đảng và Nhà nước đề ra: Kinh tế khởi sắc bứt phá; quốc phòng, an ninh bảo đảm ổn định vững chắc; các lĩnh vực văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục... đều có bước tiến ấn tượng trong nhịp điệu đổi mới. Đáng nói là vị thế, vai trò, uy tín của Đảng và đất nước được nâng tầm trên nhiều phương diện. Ở đây, chỉ xin nhấn mạnh về hai kết quả được cho là ấn tượng nhất:

Trước hết, sau hàng loạt chủ trương, giải pháp xây dựng Đảng đúng, trúng của Trung ương qua nhiều nhiệm kỳ, đến nay, Đảng ta đã thực sự vững mạnh hơn, trong sạch hơn. Môi trường trong Đảng được "gạn đục khơi trong". Nội bộ Đảng và hệ thống chính trị đoàn kết hơn, tinh, gọn, hiệu quả và hiệu lực hơn. Cùng với đó, đội ngũ cán bộ được Trung ương và các cấp giáo dục, rèn luyện nghiêm túc nên đã xác định đầy đủ hơn bổn phận công vụ, cống hiến, hy sinh vì Đảng, vì nước, vì dân. Cán bộ ở các cấp đã phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc đúng nghĩa hơn với hai từ "công bộc" mà Bác Hồ từng răn dạy, mong muốn. Cũng vì đó mà năng lực lãnh đạo của Đảng được nâng cao; sức chiến đấu của tổ chức đảng được tăng cường; nguyên tắc, kỷ cương, kỷ luật Đảng được giữ vững; đạo đức cách mạng được vun trồng tốt tươi trở lại.

Dấu ấn thứ hai, đồng thời cũng là thành quả cách mạng rất to lớn, là nhân dân ta đã nêu cao tinh thần thực hành đoàn kết rộng rãi. Niềm tin của người dân dành cho Đảng và hệ thống chính trị được củng cố vững chắc, mãnh liệt trở lại; ý thức công dân và trách nhiệm cống hiến cho cộng đồng xã hội thể hiện rõ ràng ở các tầng lớp, bộ phận xã hội và mỗi công dân Việt Nam. Thật khâm phục trước ý chí, nghị lực phi thường của những vận động viên thể thao tham dự Đại hội Thể thao Đông Nam Á lần thứ 30 (SEA Games 30), thi đấu quên mình vì màu cờ sắc áo, quyết mang vinh quang về cho Tổ quốc; thật đáng mừng khi những công nhân, nông dân, nhà khoa học, cộng đồng doanh nghiệp hôm nay đang thực sự làm chủ khoa học, đổi mới công nghệ, phương tiện, phương thức lao động, sản xuất trong xu thế hội nhập và hòa nhịp vào cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; thật đáng ghi nhận cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đã chung sức, đồng lòng cùng cả nước tập trung đẩy mạnh phát triển kinh tế, hiện thực hóa công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa...

Tựu trung lại: Thành quả lớn nhất là Đảng ta đã hoạch định được những chủ trương, chính sách thật sự hợp lòng dân; huy động được tình cảm, trí tuệ và sức mạnh của toàn dân; được nhân dân tin yêu, đồng tâm, hợp lực, làm theo. Càng tự tin hơn khi người Việt Nam hôm nay là những công dân thông minh, "công dân 4.0" trong "xã hội số" với nhận thức, tâm thế, tâm huyết và trí tuệ được thay đổi về chất, mang đến không chỉ những thành quả to lớn đã đạt được mà cả những kỳ vọng tươi sáng của nước nhà trong tương lai!

Nhân dịp Xuân Canh Tý 2020, thay mặt lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam, tôi thân ái gửi lời cảm ơn đến mỗi công dân Việt Nam, gửi lời chúc Xuân mới an khang, thịnh vượng, thái hòa, mọi sự hanh thông đến mọi gia đình Việt Nam đang sinh sống trên mọi miền Tổ quốc và trên thế giới.

Cũng nhân dịp này, tôi thương mến gửi lời chúc mừng năm mới đến toàn thể cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam-những quân nhân cách mạng đứng trong hàng ngũ của một quân đội với bề dày hơn 75 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành-một đội quân cách mạng, anh hùng "bách chiến, bách thắng" được Đảng, Nhà nước và nhân dân trao trọn tin yêu!

PV: Năm 2020 là năm rất quan trọng-năm cuối thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Bí thư Quân ủy Trung ương có trao gửi thông điệp gì đến toàn thể cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân?

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng: Có thể nói đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ như ngày hôm nay. Sắp tới, chúng ta có nhiều lợi thế, trước hết là toàn Đảng, toàn dân sẽ bắt tay vào thực hiện nhiệm vụ cách mạng với niềm lạc quan rất lớn từ dấu mốc kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

Bước vào năm mới, nhiệm vụ đầu tiên của toàn Đảng và từng cấp ủy, tổ chức đảng là phải tích cực, khẩn trương chuẩn bị và tổ chức thành công đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIII của Đảng. Đây là nhiệm vụ hết sức hệ trọng, cũng là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn dân; từ chuẩn bị văn kiện, nhân sự đến tổ chức đại hội. Các văn kiện, nhất là báo cáo chính trị-văn kiện trung tâm của mỗi đại hội đến việc quan trọng là chuẩn bị về con người-đội ngũ nhân sự cho khóa mới ở mỗi cấp. Do đó, cần tiếp tục, thường xuyên làm tốt công tác cán bộ; đồng thời không ngừng hoàn thiện quy trình, quy định, quy chế liên quan đến công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ một cách dân chủ, công khai, minh bạch. Tăng cường phân cấp gắn với kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực chặt chẽ, hiệu quả trong công tác tổ chức, cán bộ. Hơn bao giờ hết, mỗi cán bộ, đảng viên, quần chúng phải nêu cao trách nhiệm cùng chung tay phát hiện, giới thiệu nhân tài cho Đảng; đồng thời quyết liệt ngăn chặn, thanh lọc, đưa ra khỏi quy hoạch những thành phần cơ hội, suy thoái, không để những "con lươn, con chạch" chui vào bộ máy của Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị.

Cũng cần nhớ rằng, cùng với quá trình chuẩn bị cho đại hội Đảng, các cấp ủy, chính quyền phải đồng thời tập trung sức lãnh đạo, chỉ đạo, phấn đấu đẩy nhanh, đẩy mạnh, tăng tốc để hoàn thành tốt các chỉ tiêu, mục tiêu, nhiệm vụ mà đại hội đảng các cấp nhiệm kỳ trước đặt ra, góp phần hoàn thành thắng lợi Nghị quyết Đại hội XII của Đảng; nhất quyết không được chủ quan, sao nhãng công tác lãnh đạo hoàn thành nhiệm vụ chính trị thường xuyên; không ngừng nêu cao dũng khí đấu tranh của người cộng sản và nâng cao sức chiến đấu của tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở.

Về công tác đối ngoại, thực hiện tốt vai trò Việt Nam là Chủ tịch ASEAN 2020 và Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020-2021 và nhiều sự kiện chính trị trọng đại khác.

90 năm đã trôi qua, Đảng ta-Đảng do Bác Hồ kính yêu sáng lập, rèn luyện và phát triển chưa bao giờ xa rời mục tiêu cao nhất của mình, đó là, làm cho dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Năm 2020 và suốt tiến trình cách mạng kế tiếp trong tương lai, với truyền thống vẻ vang, thành quả cách mạng to lớn và bản chất tốt đẹp, chắc chắn Đảng ta sẽ tiếp tục hoàn thành sứ mệnh vẻ vang mà nhân dân vẹn tròn tin yêu, giao phó.

Một lần nữa, nhân dịp xuân mới, chúc Đảng ta, đất nước ta, nhân dân ta vạn sự khải hoàn!

PV: Xin trân trọng cảm ơn Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Bí thư Quân ủy Trung ương

Nguồn: QĐND
False
Đảng ta thật vĩ đại! Bài viếtĐảng ta thật vĩ đại! /Imagesnews/2020-01/Vao-xuan_Key_24012020223256.jpg

​(TUAG)- Kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản việt Nam (3/2/1930 - 3/2/2020) - Năm 1858, thực dân Pháp đưa quân xâm lược  nước ta. Việt Nam từ một quốc gia phong kiến độc lập trở thành một xứ thuộc địa:

24/01/2020 11:00 CHNoĐã ban hành

“Thuở nô lệ, thân ta nước mất

Cảnh cơ hàn, trời đất tối tăm

Một đời đau suốt trăm năm

Chim treo trên lửa, cá nằm dưới dao!”

                                            (Tố Hữu)...

Vao-xuan.jpg

Ngay lập tức, từ Nam chí Bắc các cuộc khởi nghĩa và các phong trào đấu tranh chống Pháp đã diễn ra liên tục và mạnh mẽ. Tuy nhiên do không có đường lối đúng đắn nên tất cả đều thất bại. Non một thế kỷ,  mấy trăm cuộc khởi nghĩa thất bại; thất bại chồng lên thất bại... Cả dân tộc đứng trước cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lối.

Sinh ra và lớn lên trong nghịch cảnh đó, ngày 5/6/1911, từ bến cảng Nhà Rồng, thành phố Sài Gòn, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã ra đi tìm đường cứu nước. Người giải thích: “Nhân dân Việt Nam trong đó có ông cụ thân sinh ra tôi, lúc này thường tự hỏi nhau ai sẽ là người giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp. Người này nghĩ là Anh, có người lại cho là Mỹ. Tôi thấy phải đi ra nước ngoài xem cho rõ. Sau khi xem xét họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi”…

Người đã đi đến hầu hết các châu lục. Đây là những năm tháng “thấm dầy thực tiễn”, nó giúp cho Người tìm thấy, hiểu đúng bản chất của chủ nghĩa thực dân. Năm 1912, dừng chân ở nước Mỹ không lâu nhưng Người đã sớm nhận ra bộ mặt thật của đế quốc. Đằng sau khẩu hiệu "cộng hòa dân chủ" của giai cấp tư sản là những thủ đoạn bóc lột nhân dân lao động vô cùng tàn bạo... Đầu năm 1919, Người tham gia Đảng Xã hội Pháp. Tháng 6 năm 1919, với tên mới là Nguyễn Ái Quốc, Người thay mặt những người yêu nước Việt Nam gửi đến Hội nghị Véc-xây Bản yêu sách của nhân dân An Nam gồm 8 điểm, đòi Chính phủ Pháp phải thừa nhận các quyền tự do dân chủ và quyền bình đẳng của dân tộc Việt Nam. Nhưng bản Yêu sách không được chấp nhận, Người nhận thấy: "Chủ nghĩa Uynxơn chỉ là một trò bịp bợm lớn" và "Muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào mình, trông cậy vào lực lượng của bản thân mình".

Tháng 7/1920, Nguyễn Ái Quốc được đọc bản “Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của Lênin và cũng chính từ đây đã chỉ ra cho Người con đường đấu tranh giành độc lập tự do thật sự cho dân tộc. Người nói: "Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: "Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta".

Cuối tháng 12/1920, Nguyễn Ái Quốc tham dự Đại hội lần thứ 18 Đảng Xã hội Pháp với tư cách đại biểu Đông Dương. Kết thúc Đại hội ngày 30/12/1920, Người ủng hộ thành lập Đảng Cộng sản Pháp và trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, và cũng là người Cộng sản đầu tiên của dân tộc Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc vừa tiếp tục hoạt động trong Đảng Cộng sản Pháp, vừa tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Người tập trung chuẩn bị về tổ chức và cán bộ, lập ra Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên (1925), tổ chức nhiều lớp đào tạo cán bộ tại Quảng Châu, Trung Quốc, đồng thời gửi cán bộ đi học tại trường Đại học Phương Đông (Liên Xô) và trường Lục quân Hoàng Phố (Trung Quốc).

Trong Báo cáo gởi Quốc tế Cộng sản ngày 19-2-1925 Người nêu rõ: “Tôi đã lập một nhóm bí mật gồm 9 hội viên”, trong đó “có 5 người đã là đảng viên dự bị của Đảng Cộng sản...”. Đến năm 1927, trong một báo cáo khác, Người viết: “... chúng tôi đã... : 1) Đưa 75 thanh niên An Nam đến học ở Trường tuyên truyền do chúng tôi tổ chức ở Quảng Châu, 2) Xuất bản 3 tờ tuần báo nhỏ, 3) Phái những người tuyên truyền vừa mới được đào tạo về Xiêm, Trung Kỳ, Bắc Kỳ và Nam Kỳ, 4) Thành lập một liên đoàn cách mạng do một uỷ ban gồm 5 uỷ viên ở Quảng Châu lãnh đạo, liên đoàn đã bắt rễ khắp nơi trong tất cả các xứ Đông Dương đó”... Chính nhờ hoạt động không mệt mỏi của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và nhiều đồng chí cách mạng tiền bối mà đến cuối năm 1929, đầu năm 1930, những điều kiện cho sự ra đời của một Đảng Cộng sản đã chín muồi (Ngày 17/6/1929 Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập tại Hà Nội. Tháng 11/1929 tại Nam Kỳ thành lập An Nam Cộng sản Đảng. Ngày 1/1/1930 thành lập Đông Dương Cộng sản Liên Đoàn ở Trung Kỳ). Đồng chí Nguyễn Ái Quốc nhận xét: “Một nước mà ba đảng cộng sản. Cả ba nhóm đều ngầm hiểu như thế là sai. Quần chúng đều hiểu rằng như thế là không đúng. Cả ba nhóm đều tìm cách để đi đến thống nhất. Nhưng bệnh hẹp hòi và cách làm không khéo, cho nên càng muốn gần nhau, lại càng xa nhau”.

Từ ngày 6/1 đến ngày 7/2/1930, Hội nghị hợp nhất các tổ chức Cộng sản thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đã họp ở bán đảo Cửu Long thuộc Hồng Kông (Trung Quốc) dưới sự chủ trì của Nguyễn Ái Quốc; đồng chí đã yêu cầu Hội nghị thảo luận và thống nhất trước hết là vấn đề tự phê bình và phê bình:“Bỏ mọi thành kiến xung đột cũ, thành thật hợp tác để thống nhất các nhóm cộng sản Đông Dương”. “Sau cuộc bàn bạc sôi nổi, và sau lời giải thích rõ ràng của đồng chí Nguyễn ái Quốc, mọi người đều tán thành thống nhất cả ba nhóm thành một đảng”. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (9/1960) đã quyết nghị lấy ngày 3 tháng 2 dương lịch mỗi năm làm ngày kỷ niệm thành lập Đảng. “Từ ngày mới ra đời, Ðảng ta liền giương cao ngọn cờ cách mạng, đoàn kết và lãnh đạo toàn dân ta tiến lên đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp. Mầu cờ đỏ của Ðảng chói lọi như mặt trời mới mọc, xé tan cái màn đen tối, soi đường dẫn lối cho nhân dân ta vững bước tiến lên”. Bác Hồ đã khẳng định: “... Kinh qua bao nhiêu cơn sóng gió, bao nhiêu bước khó khăn, càng nhiều gian nan, Đảng ta càng nhiều rèn luyện, càng thêm vững chắc và rộng lớn. Nhờ chính sách đúng, lãnh đạo chắc, kỷ luật nghiêm, nhờ tư tưởng thống nhất, mà Đảng ta và dân tộc ta được những thắng lợi vẻ vang”.

Nhìn lại chặng đường đã qua: “Với tất cả tinh thần khiêm tốn của người cách mạng, chúng ta vẫn có quyền nói rằng: Đảng ta thật là vĩ đại!”. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ to lớn như hiện nay. Những thắng lợi to lớn qua 90 năm và những thành tựu qua 35 năm thực hiện đường lối đổi mới càng minh chứng sinh động về vai trò lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng. Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đảng ta thật vĩ đại bởi Đảng không có lợi ích nào khác ngoài việc phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân.

Thành công càng lớn, thắng lợi càng to, chúng ta càng phải thực hiện tốt chỉ dạy của Bác: “... tuyệt đối không được tự kiêu, tự đại”. “Chúng ta có nhiều thành công, nhưng chúng ta cũng còn nhiều khuyết điểm. Mỗi đồng chí ta cần phải mạnh dạn và thành thật kiểm điểm mình, kiểm điểm đồng chí mình. Đã bỏ hết bệnh chủ quan, hẹp hòi chưa? Đã bỏ hết tư ý tiểu khí chưa? Đã luôn cố gắng học tập, luôn luôn cầu tiến bộ chưa? Đã thực hiện đoàn kết 100% chưa? Đã thật cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư chưa? Đã thật là người kiểu mẫu trong phong trào thi đua ái quốc chưa? Nếu chưa thì phải làm cho kỳ được”.

“Sứ mệnh của Đảng ta rất to. Công việc Đảng ta rất nhiều. Đảng đòi hỏi chúng ta phải làm trọn nhiệm vụ của đảng viên”./.

TRUNG THÀNH

False
Dân tin không có “vùng cấm”Bài viếtDân tin không có “vùng cấm”/Imagesnews/2020-01/Tong-bi-thu-NPT_Key_20012020155832.jpg

(ĐCSVN)- Thời gian qua cơ quan chức năng công bố kết quả đấu tranh phòng, chống tham nhũng (PCTN) được dư luận rất chú ý, quan tâm, đánh giá cao. Những kết quả ấy đã chứng minh cho quan điểm của Đảng và Nhà nước ta là đấu tranh PCTN không có “vùng cấm” không có “ngoại lệ” là đúng, có cơ sở được dân tin, đồng tình ủng hộ.

20/01/2020 4:00 CHNoĐã ban hành

Tong-bi-thu-NPT.jpg 

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng luôn khẳng định quyết tâm trong công cuộc phòng chống tham nhũng. Ảnh: KT


Nhận diện một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái


Tại kỳ họp 42, Ủy ban Kiểm tra (UBKT) Trung ương đã xem xét, kết luận: Vi phạm của Ban Thường vụ Thành ủy nhiệm kỳ 2010 - 2015, của Ban cán sự Đảng (BCSĐ), UBND TP. Hồ Chí Minh nhiệm kỳ 2011 - 2016 và các đồng chí: Lê Thanh Hải, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Bí thư Thành ủy chịu trách nhiệm chính về những vi phạm, khuyết điểm của Ban Thường vụ Thành ủy; Lê Hoàng Quân, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Bí thư Thành ủy, nguyên Bí thư BCSĐ, nguyên Chủ tịch UBND Thành phố cùng chịu trách nhiệm về những vi phạm, khuyết điểm của Ban Thường vụ Thành ủy và chịu trách nhiệm chính về những vi phạm, khuyết điểm của BCSĐ, UBND Thành phố; Nguyễn Văn Đua, nguyên Phó Bí thư Thường trực Thành ủy, nguyên Ủy viên BCSĐ, nguyên Phó Chủ tịch UBND TP…cùng chịu trách nhiệm về những vi phạm, khuyết điểm của Ban Thường vụ Thành ủy, của BCSĐ, UBND Thành phố và trách nhiệm cá nhân trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được phân công trong quá trình thực hiện dự án đầu tư Khu đô thị mới Thủ Thiêm. Việc làm trên đã ảnh hưởng xấu đến uy tín của cấp ủy, chính quyền Thành phố, gây bức xúc trong xã hội, đến mức phải xem xét kỷ luật.


Có thể nói, kết luận của UBKT Trung ương bước đầu đã tìm được lời giải và mở đường cho việc hóa giải những oan ức, cùng cực của hàng nghìn người dân Thủ Thiêm trong suốt hơn 20 năm qua.


Đồng thời UBKT Trung ương cũng xem xét, thi hành kỷ luật Ban Thường vụ Đảng ủy Tổng Công ty Thép Việt Nam và một số cá nhân liên quan đến các vi phạm đã được kết luận tại Kỳ họp 41 của UBKT Trung ương.


 Theo đó, khai trừ ra khỏi Đảng đối với các đồng chí: Mai Văn Tinh, nguyên Bí thư Đảng ủy, nguyên Chủ tịch HĐQT; Đậu Văn Hùng, nguyên Phó Bí thư Đảng ủy, nguyên Tổng giám đốc Tổng Công ty Thép Việt Nam; Trần Văn Khâm, nguyên Bí thư Đảng ủy, nguyên Chủ tịch HĐQT; Trần Trọng Mừng, nguyên Bí thư Đảng ủy, nguyên Tổng giám đốc; Ngô Sỹ Hán, nguyên Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy, nguyên Phó Tổng giám đốc Công ty Gang thép Thái Nguyên.


Cảnh cáo đối với các đồng chí Văn Trọng Lý, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ; Nguyễn Văn Tài, nguyên Hàm Vụ trưởng Văn phòng Chính phủ; Đỗ Cảnh Dương, Tổng cục trưởng Tổng cục Địa chất và Khoáng sản, Bộ Tài nguyên và Môi trường, nguyên cán bộ Văn phòng Chính phủ.


Khiển trách đối với các đồng chí Nguyễn Hữu Vũ, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ; Đặng Thúc Kháng, nguyên Bí thư Đảng ủy, nguyên Chủ tịch HĐQT; Lê Phú Hưng, nguyên Phó Bí thư Đảng ủy, nguyên Tổng giám đốc Tổng Công ty Thép Việt Nam…


Theo Văn phòng Trung ương Đảng, ngày 10/01, Tổng bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã chủ trì Hội nghị Bộ Chính trị xem xét, thi hành kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo đối với đồng chí Hoàng Trung Hải, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội, nguyên Ủy viên Ban Cán sự Đảng, nguyên Phó thủ tướng Chính phủ. Và quyết định kỷ luật bằng hình thức khiển trách đối với đồng chí Triệu Tài Vinh, Phó trưởng Ban Kinh tế Trung ương, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Hà Giang, do liên quan gian lận thi cử.


Để minh họa thêm quyết tâm đấu tranh phòng chống tham nhũng của Đảng ta là không có “vùng cấm”, không có “ngoại lệ”, không có “hạ cánh an toàn” tại Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của Đảng ngày 10/01/2019, đồng chí Trần Quốc Vượng, Uỷ viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư đã khẳng định:


 Công tác xây dựng Đảng có nhiều chuyển biến tích cực, đặc biệt, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng đạt nhiều kết quả rất quan trọng, được nhân dân đồng tình, tin tưởng và ủng hộ. Qua 4 năm (2016 – 2019) thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, đã kiểm tra dấu hiệu vi phạm 13.619 tổ chức, 16.214 cấp ủy viên các cấp và 24.727 đảng viên, gần bằng cả nhiệm kỳ của khóa XI (khóa XI, ủy ban kiểm tra đã kiểm tra 16 nghìn tổ chức đảng, 55 nghìn đảng viên và cấp ủy viên có dấu hiệu vi phạm). Cấp ủy và ủy ban kiểm tra các cấp thi hành kỷ luật 1.111 tổ chức đảng, 18.265 cấp ủy viên các cấp và 54.573 đảng viên, trong đó, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư thi hành kỷ luật 8 tổ chức đảng, 45 đảng viên, Ủy ban Kiểm tra Trung ương thi hành kỷ luật 111 đảng viên, trong đó có 92 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý (2 ủy viên Bộ Chính trị, 21 ủy viên và nguyên ủy viên Trung ương Đảng, 38 sỹ quan trong lực lượng công an, quân đội (cấp tướng là 22 đồng chí...).


 Nhìn vào kết quả trên có thể nói các kết luận, quyết định của Trung ương về các sai phạm nêu trên của các tập thể và cá nhân hợp lòng dân và rất kịp thời, được nhân dân, tin tưởng, đồng tình ủng hộ. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, từng bước được nhận diện, chỉ tên qua các sai phạm cụ thể.


Đấu tranh, đẩy lùi tư tưởng đẩy mạnh đấu tranh PCTN “làm chậm sự phát triển”


Theo đồng chí Trần Quốc Vượng, Uỷ viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí, chúng ta đã đưa ra được câu trả lời từng bước làm rõ được, tại sao số lượng tổ chức đảng, đảng viên vi phạm kỷ luật Đảng, vi phạm kéo dài qua nhiều năm không được phát hiện? Phải chăng hằng năm, từng nhiệm kỳ chúng ta đánh giá chưa chính xác chất lượng đảng viên và tổ chức đảng? Phải chăng công tác kiểm tra, giám sát của các cấp chưa được coi trọng, chưa làm tốt, tiến hành không thường xuyên? Trong sinh hoạt cấp ủy, sinh hoạt chi bộ còn hình thức, thiếu dân chủ? Tính chiến đấu của người cộng sản, người đảng viên không được phát huy? Đây là những vấn đề cần hết sức quan tâm trong thời gian tới.


“Quá trình xem xét, xử lý các vụ việc, các cấp ủy và ủy ban kiểm tra các cấp bảo đảm công minh, chính xác, kịp thời, “thấu tình, đạt lý”. Cho đến hôm nay, cơ bản các vụ việc đã xử lý kỷ luật, thì khiếu nại về mức kỷ luật chiếm tỷ lệ rất thấp” - đồng chí Trần Quốc Vượng nhấn mạnh.


Công tác đấu tranh PCTN đã được đẩy lên cao, trở thành “phong trào” không ai đứng ngoài cuộc, việc xử lý cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật, tham nhũng có tác dụng giáo dục, răn đe, cảnh tỉnh giúp mỗi cán bộ, đảng viên soi vào đó để tu dưỡng, rèn luyện. Công tác đấu tranh PCTN nhận được sự cổ vũ, động viên, ủng hộ của đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân.


Điểm nổi bật trong thời gian qua chính là, đã kịp thời công khai kết quả kiểm tra, kết luận các phiên họp của uỷ ban kiểm tra, nhất là các phiên họp của Ủy ban Kiểm tra Trung ương. Qua đó, góp phần ngăn chặn, phòng ngừa sai phạm, giúp cho công xây dựng Đảng nhất là cuộc đấu tranh PCTN ngày càng có hiệu quả hơn.


Các quyết định của UBKT Trung ương và Bộ Chính trị đã làm lành mạnh môi trường xã hội, tạo điều kiện tiền đề quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội như năm 2019. Đồng thời đấu tranh, ngăn chặn suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”; PCTN, tiêu cực, lãng phí, lợi ích nhóm; từng bước củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.


Qua kiểm tra, giám sát, đã phát hiện những vấn đề còn bất cập, sơ hở trong các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đề xuất sửa đổi, bổ sung kịp thời.


Kết quả đấu tranh PCTN của Đảng và Nhà nước ta thời gian qua, cho thấy thực sự dân đã tin không có “vùng cấm” và không có “ngoại lệ” không thể “hạ cách an toàn” như lời Tổng Bí thư Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định.


Ngày 15/01/2020, tại phiên họp thứ 17 của Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Nguyễn Phú Trọng Trưởng Ban Chỉ đạo đã lưu ý, năm 2020 là năm cuối của nhiệm kỳ, có ý nghĩa rất quan trọng trong việc hoàn thành thắng lợi Nghị quyết Đại hội XII của Đảng; năm tiến hành tổ chức Đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội toàn quốc lần thứ XIII của Đảng và diễn ra nhiều sự kiện trọng đại của đất nước. Do vậy, nhiệm vụ đặt ra hết sức nặng nề, đòi hỏi chúng ta tuyệt đối không được chủ quan, thỏa mãn, không được bằng lòng với những kết quả đã đạt được; công tác PCTN cần tiếp tục được đẩy mạnh, với quyết tâm cao hơn, quyết liệt hơn, hiệu quả hơn. “Chấn chỉnh, đấu tranh đẩy lùi tư tưởng lo ngại việc đẩy mạnh PCTN sẽ “làm chậm sự phát triển”, làm “hạn chế sức sáng tạo, dám nghĩ, dám làm”, “nhụt chí”, “làm cầm chừng”, “phòng thủ” trong một bộ phận cán bộ, công chức, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp” – Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh.

Nguyễn Minh

False
Nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin!Bài viếtNghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin!/Imagesnews/2020-01/Chucmung-nammoi-2020_Key_18012020143553.jpg

(TUAG)- Năm 2019,  các cấp chính quyền đã tập trung nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản l‎ý gắn với đổi mới công tác dân vận của chính quyền, tạo đồng thuận xã hội trong thực hiện các mục tiêu kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, nâng cao đời sống Nhân dân.

18/01/2020 3:00 CHYesĐã ban hành

​Năm 2019,  các cấp chính quyền đã tập trung nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản l‎ý gắn với đổi mới công tác dân vận của chính quyền, tạo đồng thuận xã hội trong thực hiện các mục tiêu kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, nâng cao đời sống Nhân dân. Việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ngày càng đi vào thực chất; xây dựng nông thôn mới vượt mục tiêu đề ra; phong trào thi đua nâng cao ‎đạo đức công vụ, ‎ ý thức phục vụ  Nhân dân bước đầu đạt kết quả tích cực… Những kết quả tích cực đó đã góp phần củng cố lòng tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân…

Tuy nhiên, một số cơ quan, đơn vị, người đứng đầu và một bộ phận cán bộ, công chức chưa nhận thức đầy đủ, sâu sắc vai trò quan trọng của công tác dân vận chính quyền; còn biểu hiện xem nhẹ công tác dân vận, chủ yếu dùng mệnh lệnh hành chính; chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm trong thực thi công vụ. Hiệu lực, hiệu quả quản lý‎ nhà nước trên một số lĩnh vực còn hạn chế để xảy ra lãng phí, tham nhũng. Bác Hồ chỉ dạy: “… vì những người và những cơ quan lãnh đạo mắc bệnh quan liêu thành thử có mắt mà không thấy suốt, có tai mà không nghe thấu, có chế độ mà không giữ đúng, có kỷ luật mà không nắm vững. Kết quả là những người xấu, những cán bộ kém tha hồ tham ô, lãng phí”. “Thế là bệnh quan liêu đã ấp ủ, dung túng, che chở cho nạn tham ô, lãng phí. Vì vậy, muốn trừ sạch nạn tham ô, lãng phí, thì trước mắt phải tẩy sạch bệnh quan liêu”.

Năm 2020 là năm đẩy mạnh công tác dân vận khéo trong hệ thống chính trị, công tác dân vận của các cơ quan hành chính nhà nước các cấp cần tập trung vào các nhiệm vụ, giải pháp. Trong đó trước hết phải tiếp tục quán triệt sâu sắc đường lối của Đảng về công tác dân vận, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa về nhận thức và trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, nhất là người đứng đầu chính quyền các cấp đối với công tác dân vận. Đây là vấn đề có ‎ nghĩa quan trọng để thực hiện mục tiêu cao cả của Nhà nước ta là “Nhà nước của dân, do dân, vì dân”.

Tập trung nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản l‎ý nhà nước trên các lĩnh vực đời sống xã hội nhằm nâng cao đời sống vật chất tinh thần của Nhân dân, bảo đảm quá trình phát triển bền vững. Thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội và người có công; nâng cao chất lượng thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, giảm nghèo bền vững…

Tập trung thực hiện có hiệu quả chương trình tổng thể cải cách hành chính, trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính, nhất là những lĩnh vực liên quan trực tiếp đến người dân và doanh nghiệp. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín đáp ứng yêu cầu tình hình mới theo phong cách “trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân”, “nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin” và phương châm “chân thành, tích cực, thận trọng, kiên trì, tế nhị, hiệu quả”.

Tiếp tục thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở. Thực hiện nghiêm Luật tiếp công dân của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp; tăng cường đối thoại, giải quyết kịp thời, đúng pháp luật những kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân. Bác Hồ nói: “Đồng bào có oan ức mới khiếu nại, hoặc vì chưa hiểu rõ chính sách của Đảng và Chính phủ mà khiếu nại. Ta phải giải quyết nhanh, tốt thì đồng bào thấy rõ Đảng và Chính phủ quan tâm lo lắng đến quyền lợi của họ, do đó mối quan hệ giữa Nhân dân với Đảng và Chính phủ càng được củng cố tốt hơn”.

Nâng cao hiệu quả công tác dân vận của lực lượng vũ trang, phát huy phẩm chất truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ” và hình ảnh người chiến sỹ “Công an nhân dân” trong thực hiện nhiệm vụ. Nâng cao hiệu quả phối hợp hoạt động giữa chính quyền  các cấp với các cơ quan của Đảng và các tổ chức chính trị-xã hội; có cơ chế, chính sách tạo điều kiện để Mặt trận TQVN, các tổ chức chính trị-xã hội và Nhân dân thực hiện giám sát và phản biện xã hội, giám sát cán bộ, công chức, viên chức.

Cán bộ, công chức, viên chức phải tích cực thực hiện tốt phong cách “Nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin” nhằm góp phần xây dựng chính quyền thật sự trong sạch, vững mạnh./.


Sự thật
________________

True
Tọa đàm “90 năm truyền thống vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam”TinTọa đàm “90 năm truyền thống vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam”/Imagesnews/2020-01/Toa-dam-90-nam-dcs_Key_15012020143937.jpg

(TUAG)- Kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2020), sáng ngày 15/01/2020, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy và Trường Chính trị Tôn Đức Thắng tổ chức tọa đàm khoa học cấp tỉnh với chủ đề “90 năm truyền thống vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam”.

15/01/2020 3:00 CHYesĐã ban hành
Đồng chí Trần Thị Thanh Hương, Ủy viên Ban Thường vụ - Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy và Tiến sĩ Hồ Ngọc Trường, Hiệu trưởng Trường Chính trị Tôn Đức Thắng chủ trì buổi Toạ đàm.
 
Tham dự buổi toạ đàm có các đại biểu là lãnh đạo các phòng chuyên môn thuộc Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, cán bộ, giảng viên thuộc các khoa, phòng thuộc Trường Chính trị Tôn Đức Thắng, các nhà khoa học trong và ngoài tỉnh tham dự.
 
Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Trần Thị Thanh Hương phát biểu khai mạc.

Phát biểu khai mạc, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Trần Thị Thanh Hương, nhấn mạnh Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời vào mùa Xuân, mùa Xuân của đất nước và dân tộc với tràn đầy hạnh phúc, niềm tin và hy vọng. Như một lẽ tự nhiên, hằng năm, cứ vào độ Tết đến, Xuân về là cả dân tộc Việt Nam lại hân hoan, tưng bừng đón chào năm mới, chào mừng kỷ niệm Ngày thành lập Đảng quang vinh (03/02/1930) - một ngày lịch sử đi vào khối ốc và trái tim của hàng triệu người con đất Việt.
Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, chi bộ Đảng các tỉnh trong nước lần lượt ra đời. Ở An Giang, đầu tháng 4/1930, Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên được thành lập ở Chợ Mới. Cuối tháng 4/1930, các Chi bộ Kiến An, Bình Thành, An Phong... (Chợ Mới); Tân Huề, Long Thuận, Long Sơn... (Tân Châu - Hồng Ngự); Long Xuyên, Lấp Vò... lần lượt ra đời, đánh dấu sự phát triển tất yếu của phong trào cách mạng của nhân dân Long Xuyên, Châu Đốc lúc bấy giờ.
Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy nhấn mạnh, buổi tọa đàm có nhiều ý nghĩa sâu sắc, là một công việc quan trọng cho hoạt động kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Qua đây, góp phần làm cho cán bộ, đảng viên trong tỉnh nhận thức đầy đủ và sâu sắc hơn lịch sử vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam; khẳng định vai trò, uy tín, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong suốt chặng đường cách mạng Việt Nam 90 năm qua; thông qua tọa đàm nhằm góp phần khơi dậy và bồi đắp niềm tin, niềm tự hào đối với Đảng, Bác Hồ và công cuộc đổi mới đất nước; tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm, thông tin sai trái, thù địch…

 

Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Lê Chí Thành phát biểu.

Buổi toạ đàm, đã có 11 ý kiến phát biểu tham luận và thảo luận xoay quanh các nội dung: Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, tính tất yếu của lịch sử cách mạng Việt Nam thế kỷ XX; Sự phát triển các cơ quan lãnh đạo của Đảng được đánh dấu qua các kỳ Đại hội của Đảng Cộng sản Việt Nam; Đảng ta thật vĩ đại!; Giá trị tạo dựng và bài học được rút ra qua 90 năm, dưới sự lãnh đạo của Đảng; Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng trong giai đoạn hiện nay; Lòng tin của nhân dân và sự thành công của Đảng Cộng sản Việt Nam; Đảng bộ An Giang 90 năm đoàn kết, đổi mới, sáng tạo; Tự hào truyền thống vẻ vang của Đảng bộ tỉnh An Giang, phấn đấu đưa tỉnh nhà bước vào giai đoạn phát triển mới.

 

TS. Hồ Ngọc Trường - Hiệu trưởng Trường Chính trị Tôn Đức Thắng phát biểu.

Qua thời gian chuẩn bị, Ban Tổ chức đã nhận được 66 bài tham luận của các nhà khoa học, nhà quản lý, nhà nghiên cứu, các đại biểu trong và ngoài tỉnh. Các bài tham luận đều bám sát chủ đề do Ban tổ chức đề ra, có hàm lượng khoa học cao, được các tác giả đầu tư hết sức công phu, nghiêm túc và trí tuệ. Nội dung các bài tham luận, ý kiến thảo luận đã khẳng định công lao vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người sáng lập, tổ chức, rèn luyện và lãnh đạo Đảng ta; phân tích làm rõ hơn những giá trị mang tính bước ngoặt lịch sử của sự kiện thành lập Đảng ngày 03/02/1930; nêu bật những thành công và thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam 90 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng…
Thông qua tọa đàm khoa học “90 năm truyền thống vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam” là sinh hoạt chính trị, thời sự, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, cũng là dịp để Kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

Quốc Hùng
True
Nhịp cầu nối ý Đảng - lòng DânBài viếtNhịp cầu nối ý Đảng - lòng Dân/Imagesnews/2020-01/Y-dang-long-dan-2_Key_13012020160257.jpg
(TUAG)- Gần 20 năm khoác lên mình bộ quân phục Công an nhân dân cũng là ngần ấy năm anh miệt mài cống hiến, hoàn thành tốt vai trò “chiếc cầu nối” của mình. Chiếc cầu nối ý đảng với lòng dân. Anh là Trung tá Chau Vuth Thi - Phó đội trưởng đội An ninh dân tộc thuộc phòng An ninh đối nội Công an tỉnh An Giang.
13/01/2020 4:00 CHNoĐã ban hành

Đồng chí Chau Vuth Thi (thứ 2 từ trái sang) thăm hỏi gia đình bà Neang De
Khắc ghi lời Bác dạy: “Việc gì lợi cho dân phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân phải hết sức tránh”, đồng chí Thi đã luôn vận dụng linh hoạt, làm tốt công tác tham mưu để trong khả năng của mình có thể phần nào sẻ chia, và giúp đỡ người dân nơi huyện miền núi còn nhiều khó khăn này. Một ngày theo chân các anh trên con đường quê hun hút, đầy đá sỏi, bụi mù, vào tận phum sóc để gặp gỡ, thăm hỏi bà con vùng đồng bào dân tộc mới hiểu được phần nào sự vất vả, cơ cực của người cán bộ làm công tác an ninh. Gia đình bà Neang De thuộc ấp Pô Thi, xã An Cư, huyện Tri Tôn trước đây do gia cảnh khó khăn, lại không am hiểu pháp luật nên đã bị kẻ xấu xúi giục gây rối, làm mất an ninh trật tự tại địa phương. Sau khi được cán bộ Thi cùng với chính quyền địa phương thường xuyên lui tới động viên, giải thích, ông bà dần hiểu ra và trở về con đường đúng đắn. Bà De chậm rãi: “Trước đây ông nhà bị tai nạn nên gia đình cũng thiếu thốn, nhà sập. Chú Thi thấy hoàn cảnh khó khăn mới vận động cất cho căn nhà nên tôi rất mang ơn. Giờ vợ chồng tôi lo làm ăn kiếm sống”.
Bên cạnh đó, anh còn làm tốt công tác tranh thủ chức sắc, chức việc, người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc để tuyên truyền, vận động các tín đồ phật tử chấp hành pháp luật, không nghe theo luận điệu xuyên tạc của các phần tử xấu; phổ biến pháp luật, những chủ trương, quy định mới của Đảng, Nhà nước, vận động quần chúng nhân dân, tín đồ trong dân tộc tôn giáo tham gia đảm bảo an ninh trật tự ngay từ cơ sở. Trong ngày lễ hội của chùa, đồng chí thường trực tiếp cùng anh em xuống địa bàn hỗ trợ nhà chùa trong công tác đảm bảo an ninh trật tự; lắng nghe những tâm tư, nguyện vọng của các vị trụ trì, của ban quản trị để kịp thời động viên, hỗ trợ giải quyết những vấn đề còn vướng mắc, khó khăn. Để rồi từ đó, Đội an ninh dân tộc đã trở thành điểm tựa đáng tin cậy của các chức sắc cũng như bà con trong vùng đồng bào dân tộc. Chính sự tin yêu, ủng hộ của quần chúng nhân dân chính là động lực lớn lao giúp đồng chí Chau Vuth Thi luôn phấn đấu hoàn thành mọi nhiệm vụ mà Đảng, Ngành và nhân dân giao phó.

Đồng chí Chau Vuth Thi gặp gỡ các vị chức sắc trao đổi tình hình an ninh trật tự
Thượng tá Sun Tự Cường - Phó trưởng phòng An ninh đối nội Công an tỉnh nhận xét: “Đối với vai trò là người chỉ huy của Đội an ninh dân tộc, thời gian qua đồng chí luôn làm tốt công tác lãnh đạo, chỉ đạo cán bộ cấp dưới thực hiện tốt công tác đảm bảo an ninh trật tự trong vùng đồng bào dân tộc. Thực hiện tốt vai trò vai trò nêu gương, các chuẩn mực đạo đức của người Công an khi gặp gỡ, tiếp xúc với quần chúng nhân dân. Đối với đồng chí đồng đội, đồng chí là người sống rất tình cảm, nhiệt thành, luôn quan tâm, tìm hiểu điều kiện sống của anh em để kịp thời chia sẻ, động viên, cùng nhau hoàn thành tốt nhiệm vụ”.
Với những gì đã và đang thực hiện, Trung tá Chau Vuth Thi - người con của xã Núi Tô anh hùng sẽ tiếp tục phát huy được sức mạnh của khối Đại đoàn kết dân tộc, chung vai cùng đồng chí đồng đội đảm bảo tốt tình hình an ninh trật tự tại địa phương, vì cuộc sống bình yên cho ngươi dân nơi phum sóc.
Bích Trâm, Tiến Tầm
False
Hội nghị trực tuyến: Chuyên đề 90 năm truyền thống vẻ vang Đảng Cộng sản Việt Nam TinHội nghị trực tuyến: Chuyên đề 90 năm truyền thống vẻ vang Đảng Cộng sản Việt Nam /Imagesnews/2020-01/Chuyen-de-90nam_Key_12012020175826.jpg

(TUAG)- Ngày 08-01, tại điểm cầu Công an tỉnh An Giang đã diễn ra Hội nghị trực tuyến từ Bộ Công an về Chuyên đề 90 năm truyền thống vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam và sự lãnh đạo của Đảng đối với Công an nhân dân.

12/01/2020 6:00 CHNoĐã ban hành

Đến dự có đại tá Phạm Bá Hậu, Phó Cục trưởng Cục Công tác đảng và công tác chính trị chủ trì Hội nghị. Đồng chí PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc, nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng, chuyên gia cấp cao Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; các đồng chí đại biểu đại diện các ban, bộ, ngành Trung ương; các đồng chí lãnh đạo trong Đảng ủy Công an Trung ương, đại diện lãnh đạo các đơn vị trực thuộc Bộ; lãnh đạo các học viện, trường CAND và Công an các tỉnh, thành trực thuộc Trung ương.



Quang cảnh Hội nghị tại điểm cầu Công an tỉnh An Giang

Tại Hội nghị, các đại biểu là cán bộ lãnh đạo chủ chốt và báo cáo viên cao cấp trong Công an nhân dân đã được nghe PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc ôn lại những mốc son chói lọi của Đảng, những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng; khẳng định bản lĩnh, trí tuệ, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách; nêu bật những truyền thống quý báu và bài học kinh nghiệm trong suốt chặng đường cách mạng 90 năm qua của Đảng, nhất là 35 năm lãnh đạo sự nghiệp đổi mới đất nước; khẳng định sức sống của Đảng trong mối liên hệ mật thiết, máu thịt với nhân dân, ngoài lợi ích của nhân dân Đảng ta không còn lợi ích nào khác; khẳng định niềm tin của nhân dân đối với Đảng và công cuộc đổi mới đất nước. Qua đó, giúp cán bộ, đảng viên, chiến sỹ CAND nhận thức sâu sắc hơn về 90 năm truyền thống vẻ vang Đảng Cộng sản Việt Nam; khẳng định vai trò, uy tín, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, sự trung thành vô hạn với lợi ích nhân dân và đất nước, cũng như sự lãnh đạo của Đảng đối với CAND.

Hội nghị cũng được nghe lãnh đạo Cục Công tác đảng và công tác chính trị thông báo một số nội dung định hướng và lưu ý trong công tác thông tin, tuyên truyền trước rất nhiều sự kiện chính trị trọng đại của đất nước và của lực lượng CAND năm 2020 như: Kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam; các hoạt động mừng Đảng, mừng Xuân của nhân dân cả nước và lực lượng Công an nhân dân trong dịp Tết Nguyên đán Canh Tý 2020, tuyên truyền về kết quả cao điểm tấn công trấn áp tội phạm dịp Tết Nguyên đán của lực lượng Công an nhân dân,… Bên cạnh đó, còn có các ngày lễ lớn như: 45 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; 130 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh; 75 năm Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2/9; 75 năm Ngày truyền thống CAND, 15 năm Ngày hội toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc… đặc biệt là Đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; Việt Nam giữ vai trò Chủ tịch luân phiên ASEAN 2020 và Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc 2020…

Chú trọng tuyên truyền kết quả Nghị quyết số 35 của Bộ Chính trị về bảo vệ nền tảng của Đảng, đấu tranh phản bác những luận điệu sai trái trong tình hình mới. Ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ gắn với việc triển khai chỉ thị của Bộ Chính trị các khóa về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; khẳng định Đảng luôn coi trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, luôn quan tâm chăm lo tới việc giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức và lối sống cho cán bộ, đảng viên; khẳng định quyết tâm chính trị của Đảng trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức Đảng, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Tăng cường thông tin tích cực, gương người tốt việc tốt để xây dựng hình ảnh đẹp của lực lượng Công an trong lòng nhân dân.


Mai Phương
False
Tân Châu sơ kết 03 năm thực hiện Chỉ thị số 05 của Bộ Chính trị TinTân Châu sơ kết 03 năm thực hiện Chỉ thị số 05 của Bộ Chính trị /Imagesnews/2020-01/TC-so-ket-CT05-1_Key_08012020135204.jpg

(TUAG)- Sáng 07/01/2020, Ban Thường vụ Thị ủy Tân Châu tổ chức Hội nghị đánh giá kết quả 50 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1969 - 2019), sơ kết 03 năm thực hiện Chỉ thị số 05 của Bộ Chính trị và tổng kết cuộc thi sáng tác, quảng bá tác phẩm văn học, nghệ thuật về chủ đề “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”.

08/01/2020 2:00 CHNoĐã ban hành
Đến dự có đồng chí Trần Thị Thanh Hương - Ủy viên Ban Thường vụ - Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy An Giang, đồng chí Huỳnh Quang Ngự - Phó Bí thư thường trực thị ủy.


Thừa ủy quyền, đồng chí Trần Thị Thanh Hương - Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy đã trao Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ cho cá nhân tiêu biểu.

Qua 50 năm thực hiện Di chúc của Bác Hồ, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thị xã Tân Châu luôn vận dụng những tư tưởng cốt lõi của Bác trong Di chúc, nhất là công tác xây dựng Đảng về phát huy sức mạnh đoàn kết, dân chủ, tự phê bình và phê bình. Chú trọng chăm lo xây dựng hệ thống chính trị, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ. Trong 03 năm thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, Ban Thường vụ Thị xã ủy đã xác định cụ thể nội dung đột phá, là sự nêu gương của cán bộ lãnh đạo các cấp, các ngành, địa phương, đơn vị trong thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao. Nhất là xây dựng ý thức tôn trọng Nhân dân, phát huy dân chủ, chăm lo đời sống Nhân dân theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Từ đó, đã xuất hiện nhiều tập thể, cá nhân không ngừng sáng tạo, đổi mới cách làm, mang lại hiệu quả thiết thực như: Đảng bộ xã Phú Vĩnh đoàn kết thống nhất nêu cao tinh thần trách nhiệm, gương mẫu thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị của địa phương; Trường Tiểu học Bán trú A Long Thạnh thi đua dạy tốt - học tốt, năm 2018 nhận Huân Chương lao động hạng II; Ban chính trị, Ban chỉ huy quân sự thị xã thực hiện thắng lợi công tác quốc phòng địa phương,…


Phó Bí thư thị ủy Tân Châu - Huỳnh Quang Ngự trao giấy khen cho các tập thể cá nhân tiêu biểu

Dịp này, có 01 cá nhân là ông Đoàn Văn Hổ - Trưởng Ban trị sự Phật giáo Hòa Hảo xã Vĩnh Xương nhận bằng khen của Thủ tướng Chính phủ; 05 tập thể và 17 cá nhân được UBND tỉnh, thị xã trao tặng bằng khen, giấy khen có thành tích tiêu biểu trong “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. UBND thị xã trao 05 giải thưởng cho các tác giả đạt giải cuộc thi sáng tác, quảng bá tác phẩm văn học, nghệ thuật về chủ đề “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” và kỷ niệm 10 năm thành lập thị xã Tân Châu (2009 - 2019).

Thúy Hằng
False
Trong sạch hóa đội ngũ cán bộ, đảng viên theo phương châm: “Nói đi đôi với làm, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, không có đặc quyền, bất kể người đó là ai”TinTrong sạch hóa đội ngũ cán bộ, đảng viên theo phương châm: “Nói đi đôi với làm, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, không có đặc quyền, bất kể người đó là ai”/Imagesnews/2020-01/Tket-noichinh_Key_06012020151508.jpg

(TUAG)- Hiện thực hóa công tác phòng chống tham nhũng, làm trong sạch hóa đội ngũ cán bộ, đảng viên theo phương châm “Nói đi đôi với làm, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, không có đặc quyền, bất kể người đó là ai” theo đúng tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng

06/01/2020 4:00 CHNoĐã ban hành

Tket-noichinh.jpg

Phát biểu chỉ đạo hội nghị toàn quốc công tác ngành nội chính Đảng năm 2019, triển khai nhiệm vụ công tác năm 2020, đồng chí Trần Quốc Vượng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư đánh giá cao công tác nội chính, ngành nội chính đã làm tốt công tác tham mưu tốt nhiệm vụ tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước các chủ trương, chính sách lớn về lĩnh vực nội chính, phòng chống tham nhũng, cải cách tư pháp cũng như tham mưu kịp thời chỉ đạo, sửa đổi, bổ sung khắc phục sơ hở, bất cập để hoàn thiện hệ thống thể chế về phòng chống tham nhũng, hiện thực hóa công tác phòng chống tham nhũng, làm trong sạch hóa đội ngũ cán bộ, đảng viên theo phương châm “Nói đi đôi với làm, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, không có đặc quyền, bất kể người đó là ai” theo đúng tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng về công tác nội chính, phòng chống tham nhũng, cải cách tư pháp. Công tác nội chính không chỉ là phòng ngừa mà còn đảm bảo cho sự ổn định và phát triển đất nước.

Tket-noichinh1.jpg

Năm 2020, cùng thời cơ và thuận lợi, chúng ta còn đối mặt với không ít khó khăn, thách thức; do đó, Thường trực Ban Bí thư Trần Quốc Vượng yêu cầu ngành Nội chính Đảng cần nghiên cứu, đề xuất các chủ trương, đề án lớn phục vụ tốt nhất cho Đại hội XIII của Đảng và đại hội đảng các cấp. Nỗ lực, quyết tâm hướng hoạt động vào việc góp phần thực hiện thắng lợi các chủ trương, chính sách về nội chính, phòng chống tham nhũng, cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XII của Đảng và các Nghị quyết của Trung ương; tổ chức thành công đại hội đảng các cấp tiến tới Đại hội XIII của Đảng. Phát hiện, chấn chỉnh, xử lý nghiêm, kịp thời các vụ án, tiêu cực, tham nhũng trong các cơ quan có chức năng chống tham nhũng với tinh thần không có vùng cấm, không ngoại lệ, nhất là tham nhũng vặt, ngay trong những cơ quan phòng chống tham nhũng. Bên cạnh đó, ngành nội chính trực tiếp hoặc phối hợp kiểm tra, giám sát và tham mưu giúp Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các tỉnh ủy, thành ủy nâng cao hiệu quả kiểm tra, giám sát để phát hiện, xử lý tham nhũng, nhát là các dự án đầu tư lớn, các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước, quản lý sử dụng đất đai...

Ban Nội chính Trung ương cần tiếp tục thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ là Cơ quan thường trực của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp Trung ương; tập trung tham mưu, đề xuất chỉ đạo đẩy nhanh hơn nữa tiến độ điều tra, xử lý các vụ án, vụ việc tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm; nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản tham nhũng. Chủ động phối hợp, tham mưu lãnh đạo, chỉ đạo quán triệt và thực hiện nghiêm túc các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội đã đề ra trong các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Trung ương. Nâng cao hiệu quả công tác nghiên cứu, đề xuất các chủ trương, chính sách về tổ chức và hoạt động của các cơ quan nội chính; tham gia có hiệu quả với các cơ quan có thẩm quyền về công tác cán bộ. Chú trọng tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về lĩnh vực nội chính, phòng, chống tham nhũng và cải cách tư pháp.

Thường trực Ban Bí thư nhấn mạnh, cán bộ, công chức ngành nội chính đảng phải có bản lĩnh, có dũng khí bảo vệ cái đúng, kiên quyết đấu tranh với cái sai; có trình độ, có hiểu biết tương đối toàn diện, nắm vững các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, các chính sách, pháp luật của Nhà nước; có kiến thức, kinh nghiệm sâu sắc về lĩnh vực nội chính, phòng, chống tham nhũng và cải cách tư pháp; đặc biệt phải liêm, phải sạch; phải có đạo đức trong sáng, công tâm; có phương pháp làm việc khoa học, cương, nhu đúng lúc; kỷ cương, kỷ luật chặt chẽ, đoàn kết, thống nhất cao, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, xứng đáng với niềm tin yêu của cán bộ, đảng viên và nhân dân./.

Bảo Trị 


False
Thành tựu đối ngoại 2019: Bản lĩnh và tinh thần Việt Nam Bài viếtThành tựu đối ngoại 2019: Bản lĩnh và tinh thần Việt Nam /Imagesnews/2020-01/Co-dang_Key_02012020144551.jpg

Năm 2019, năm cuối cùng trong thập niên thứ hai của thế kỷ 21 vừa khép lại. Có thể thấy bức tranh toàn cảnh thế giới năm 2019 có nhiều gam màu xám hơn so với năm 2018. Kinh tế thế giới tăng trưởng chậm lại.

02/01/2020 3:00 CHNoĐã ban hành

Sự đấu tranh giữa xu thế toàn cầu hóa và liên kết kinh tế với trào lưu bảo hộ thương mại, chống hội nhập diễn ra gay gắt. Cọ xát chiến lược giữa các nước lớn rất quyết liệt, dẫn tới nhiều hệ lụy phức tạp cả về kinh tế, thương mại và chính trị, an ninh. Đặc biệt, tình hình Biển Đông có nhiều diễn biến phức tạp mới do những hành vi vi phạm luật pháp quốc tế gây xói mòn lòng tin. Bất ổn bùng phát và kéo dài ở nhiều quốc gia và khu vực trên thế giới do bất cập kinh tế-xã hội (KT-XH) nội tại cũng như sự can thiệp, kích động từ bên ngoài.

Giữa những bất ổn đó, điểm tích cực là hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn và khát vọng chung của nhân loại tiến bộ. Khu vực châu Á-Thái Bình Dương tiếp tục phát triển năng động và đi đầu về liên kết kinh tế. Dẫu còn không ít khó khăn, thách thức, song Cộng đồng ASEAN với tư cách là mái nhà chung của 10 nước thành viên đã thể hiện sự tự cường, trưởng thành hơn và tiếp tục phát huy được vai trò trung tâm, vị trí quan trọng trong chính sách của các nước lớn đối với khu vực. Tình hình chính trị-xã hội các nước Đông Nam Á cơ bản ổn định, kinh tế tăng trưởng cao hơn so với các khu vực khác trên thế giới.

Đóng góp thiết thực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Trong năm 2019, mặc dù môi trường chiến lược phức tạp hơn trước, song với tinh thần chủ động nắm bắt cơ hội và vượt qua thách thức, công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta đã được triển khai đồng bộ, hiệu quả, góp phần duy trì môi trường hòa bình, thu hút các nguồn lực cho phát triển, giữ vững chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và nâng cao hơn nữa vị thế đất nước trên trường quốc tế.

Năm 2019 có nhiều điểm sáng trong triển khai chủ trương lớn của Đảng về hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng và ngoại giao kinh tế phục vụ phát triển với phương châm, lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Chúng ta đã thực hiện hiệu quả Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Chỉ sau một năm đi vào cuộc sống, FTA thế hệ mới đầu tiên trên thế giới này đã giúp kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam tới các thành viên, như Nhật Bản, Canada, Mexico tăng đáng kể so với năm 2018. Việt Nam đã chính thức ký với Liên minh châu Âu Hiệp định thương mại tự do (EVFTA) và Hiệp định bảo hộ đầu tư (EVIPA), kết thúc đàm phán Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP). Cùng với những nỗ lực quyết liệt của Chính phủ kiến tạo, việc triển khai và tham gia các FTA quan trọng này đã tạo ra những động lực mới cho phát triển, đổi mới thể chế kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Theo xếp hạng của Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF), năng lực cạnh tranh toàn cầu của kinh tế Việt Nam đã tăng 10 bậc so với năm 2018 lên vị trí 67/141 quốc gia và vùng lãnh thổ. Trong đó, kinh tế đối ngoại đạt nhiều kết quả quan trọng: Thu hút FDI đạt 38,02 tỷ USD, xuất siêu vượt 9,9 tỷ USD, ta cũng đón 18 triệu lượt khách du lịch quốc tế-những con số kỷ lục. Những đóng góp quan trọng đó đã góp phần giúp tăng trưởng kinh tế đạt hơn 7% năm 2019, đưa Việt Nam trở thành một trong những nền kinh tế tăng trưởng cao thuộc loại hàng đầu của khu vực. IMF đánh giá, Việt Nam nằm trong Top 20 nền kinh tế đóng góp lớn nhất vào tăng trưởng toàn cầu năm 2019. Chúng ra rất phấn khởi với việc, năm 2019 là năm thứ hai liên tiếp đạt và vượt toàn bộ 12 chỉ tiêu phát triển KT-XH do Quốc hội đề ra, trong đó 5 chỉ tiêu vượt kế hoạch.

Bên cạnh trụ cột hội nhập kinh tế quốc tế, hội nhập trong lĩnh vực chính trị-ngoại giao, quốc phòng, an ninh, văn hóa-xã hội đều được thúc đẩy mạnh mẽ. Việt Nam đã lần đầu tiên tham gia diễn tập hàng hải chung trong khuôn khổ ASEAN với Mỹ; ký Hiệp định khung về tham gia các hoạt động quản lý khủng hoảng của EU (FPA); gia nhập Công ước số 98 của Tổ chức Lao động quốc tế. Chúng ta đã cử Bệnh viện Dã chiến cấp 2 số 2 tham gia Phái bộ Gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc (LHQ) tại Nam Sudan sau khi Bệnh viện Dã chiến cấp 2 số 1 hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Việc đạt vị trí thứ hai toàn đoàn ở SEA Games 30 tại Philippines vừa qua và những thành tích xuất sắc khác của thể thao nước nhà trong năm 2019 cũng khẳng định vị thế mới của Việt Nam trong bản đồ thể thao khu vực và quốc tế.

Đất nước càng hội nhập quốc tế sâu rộng thì đối ngoại đa phương càng khẳng định rõ bản lĩnh và bản sắc của Việt Nam với tư cách là một thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, đóng góp ngày càng nhiều vào hòa bình, hợp tác và phát triển trong khu vực và trên thế giới. Ngay trong năm đầu tiên triển khai Chỉ thị 25 của Ban Bí thư về đẩy mạnh nâng tầm đối ngoại đa phương đến năm 2030, chúng ta đã đạt nhiều thành tựu quan trọng. Việt Nam đã tổ chức thành công Hội nghị thượng đỉnh Hoa Kỳ-Triều Tiên lần hai tại Hà Nội, góp phần thúc đẩy đối thoại, hòa giải, hòa bình trên bán đảo Triều Tiên, được các đối tác và cộng đồng quốc tế đánh giá rất cao. Việt Nam đã được bầu làm Ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo an (HĐBA) nhiệm kỳ 2020-2021 với số phiếu cao kỷ lục trong lịch sử bầu cử HĐBA tại LHQ (192/193 phiếu). Những đóng góp quan trọng của Việt Nam tại các diễn đàn ASEAN, ASEM, LHQ với tư cách thành viên cũng như tại G20 với tư cách khách mời đã được bạn bè, đối tác hưởng ứng tích cực.

Trong kênh song phương, điều rất quan trọng là chúng ta đã giữ được đà phát triển quan hệ ổn định, tích cực với các đối tác, từng bước xử lý ổn thỏa các vấn đề phát sinh, tồn tại. Đồng thời, chúng ta đã tiếp tục nỗ lực đưa quan hệ với các nước láng giềng, khu vực, các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và bạn bè truyền thống đi vào chiều sâu. Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ và Quốc hội đã thực hiện 17 chuyến thăm nước ngoài, đón 22 đoàn cấp cao thăm Việt Nam, đạt nhiều kết quả quan trọng, thực chất trong tăng cường tin cậy chính trị và đan xen lợi ích kinh tế với các nước láng giềng Lào, Campuchia, Trung Quốc, các nước lớn, như: Nga, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Ấn Độ và nhiều đối tác ưu tiên, chủ chốt. Với việc nâng cấp quan hệ với Brunei và Hà Lan lên đối tác toàn diện, ta đã tiếp tục hoàn thiện mạng lưới đối tác chiến lược và đối tác toàn diện, nâng tổng số lên 30 đối tác.

Trong bối cảnh môi trường chiến lược của ta bất ổn hơn trước, đối ngoại đã góp phần hiệu quả vào công cuộc bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc cả trên bộ và trên biển. Việt Nam và Campuchia đã ký và phê chuẩn hai văn kiện pháp lý công nhận 84% thành quả phân giới cắm mốc, tạo cơ sở và động lực quan trọng để xây dựng đường biên giới hòa bình và phát triển. Trong bối cảnh tình hình Biển Đông diễn biến phức tạp, nghiêm trọng nhất trong 5 năm qua, chúng ta đã đánh giá đúng tình hình, đấu tranh kịp thời, xử lý tỉnh táo, sáng suốt, kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, các quyền và lợi ích chính đáng của Việt Nam trên biển. Đồng thời, Việt Nam cũng chủ động, tích cực cùng các thành viên ASEAN và các đối tác liên quan thúc đẩy, quyết tâm xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) hiệu quả, thực chất và phù hợp với luật pháp quốc tế, góp phần duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển trên Biển Đông cũng như ở khu vực và trên thế giới.

Bên cạnh đó, các trụ cột và lĩnh vực quan trọng khác của công tác đối ngoại đều được triển khai hiệu quả, đạt kết quả quan trọng. Đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại nhân dân, đối ngoại Quốc hội, đối ngoại quốc phòng, an ninh đều có những bước đi chủ động, hiệu quả, phối hợp chặt chẽ, đóng góp vào thành tựu đối ngoại chung của đất nước. Tính đến giữa tháng 12-2019, ta đã tiến hành công tác bảo hộ đối với khoảng 7.000 công dân, 1.643 ngư dân/194 tàu cá; xử lý kịp thời nhiều vụ việc phức tạp và nhạy cảm liên quan đến công dân ta ở nước ngoài. Công tác ngoại giao văn hóa, công tác người Việt Nam ở nước ngoài, thông tin tuyên truyền đối ngoại cũng được triển khai chủ động, tích cực, góp phần quan trọng vào thành tựu đối ngoại chung của đất nước.

Trọng trách mới, tâm thế mới

Năm 2020 có ý nghĩa rất quan trọng, là năm cuối thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, Kế hoạch phát triển KT-XH 2016-2020 và Chiến lược phát triển KT-XH 2011-2020. Đây cũng là năm chuẩn bị và tạo đà cho Chiến lược phát triển KT-XH 10 năm 2021-2030, kỷ niệm 90 năm thành lập Đảng, 75 năm thành lập nước, 130 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, và tổ chức đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIII của Đảng. Đất nước ta bước vào năm 2020 với khí thế mới và khát vọng mới.

Môi trường đối ngoại của ta sẽ tiếp tục đan xen cả thời cơ và thách thức. Công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước năm 2020 cần tiếp tục được triển khai một cách đồng bộ, hiệu quả, sáng tạo nhằm tiếp tục củng cố môi trường hòa bình, ổn định, góp phần thúc đẩy các lợi ích an ninh, phát triển và nâng cao hơn nữa vị thế của đất nước trên trường quốc tế.

Đặc biệt, năm 2020 là thời điểm lịch sử rất quan trọng với đối ngoại Việt Nam, nhất là đối ngoại đa phương. Việt Nam sẽ lần đầu tiên cùng lúc đảm đương đồng thời hai trọng trách là Chủ tịch ASEAN 2020 và Ủy viên không thường trực HĐBA LHQ nhiệm kỳ 2020-2021. Đó là những trọng trách khu vực và quốc tế có ý nghĩa quan trọng, thể hiện sự tin cậy và kỳ vọng lớn của bạn bè quốc tế vào Việt Nam. Đó là cơ hội quan trọng để chúng ta đóng góp chủ động, tích cực, trách nhiệm vào hòa bình, an ninh và thịnh vượng chung của khu vực và thế giới; là dịp để ta khẳng định tâm thế của một Việt Nam yêu chuộng hòa bình, đổi mới, đang hội nhập quốc tế sâu rộng. Những trọng trách đa phương này cũng là thời cơ để Việt Nam tranh thủ thúc đẩy hơn nữa quan hệ song phương giữa ta và các nước, tạo ra những động lực mới cho phát triển và nâng cao vai trò, vị thế của Việt Nam. Vinh dự rất lớn lao, lợi ích rất thiết thực, song trách nhiệm cũng hết sức nặng nề.

Với chủ đề “Gắn kết và Chủ động thích ứng” cho năm Chủ tịch ASEAN 2020 và “Việt Nam: Đối tác tin cậy vì hòa bình bền vững” cho vai trò Ủy viên không thường trực HĐBA LHQ, Việt Nam sẽ cùng các bạn bè, đối tác nỗ lực thúc đẩy chủ nghĩa đa phương, thượng tôn pháp luật, tăng cường hơn nữa vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc khu vực đang định hình, nâng cao hiệu quả hợp tác giữa ASEAN, tổ chức khu vực là mái nhà chung của các nước Đông Nam Á và tổ chức quốc tế đóng vai trò trung tâm là LHQ. Chúng ta xác định rõ, hai trọng trách đa phương nói trên gắn kết với nhau, và phải góp phần thúc đẩy lợi ích chung giữa Việt Nam với cộng đồng khu vực và quốc tế. Với tinh thần đó, Việt Nam sẽ nỗ lực phấn đấu khẳng định vai trò cầu nối quan trọng giữa ASEAN và LHQ, đóng góp chủ động, tích cực vào sự nghiệp thúc đẩy hòa bình, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới.  

Thế và lực mới của đất nước sau gần 35 năm đổi mới và những thành tựu đối ngoại quan trọng đạt được những năm qua đã tạo tiền đề vững chắc để Việt Nam vững tâm bước vào năm 2020. Chúng ta tin tưởng rằng, với đường lối đối ngoại đúng đắn của Đảng và sự vào cuộc đầy quyết tâm của cả hệ thống chính trị, sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các lực lượng làm công tác đối ngoại và sự chung sức, đồng lòng của các bộ, ban, ngành, địa phương, doanh nghiệp và toàn dân, chúng ta sẽ thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ đối ngoại trong năm 2020, đóng góp xứng đáng cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


PHẠM BÌNH MINH

Ủy viên Bộ Chính trị, Phó thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao

False
Thực hiện có hiệu quả các nghị quyết về công tác tổ chức gắn với chuẩn bị Đại hội Đảng các cấpTinThực hiện có hiệu quả các nghị quyết về công tác tổ chức gắn với chuẩn bị Đại hội Đảng các cấp/Imagesnews/2019-12/Hoi-nghi-to-chuc_Key_27122019120847.jpg

(TUAG)- Sáng ngày 25-12, Ban Tổ chức Trung ương tổ chức hội nghị trực tuyến toàn quốc về công tác tổ chức xây dựng Đảng năm 2019, định hướng 2020. Đồng chí Trần Quốc Vượng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư chủ trì và chỉ đạo hội nghị tại điểm cầu Trung ương. Điểm cầu An Giang có đồng chí Võ Thị Ánh Xuân, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy.

27/12/2019 1:00 CHNoĐã ban hành
Năm 2019, ngành tổ chức, xây dựng Đảng đã tham mưu, tổ chức triển khai quyết liệt, tích cực, toàn diện và có hiệu quả các nghị quyết về công tác xây dựng, chính đốn Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, đội ngũ cán bộ và các quy định về nêu gương; nhất là đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh giản biên chế gắn với cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và nâng cao hiệu lực, hiệu quả rõ nét, thiết thực. Ngành đã rà soát, bổ sung, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ công tác; tăng cường phân cấp, phân quyền đi đôi với kiểm tra, giám sát và kiểm soát quyền lực; đẩy mạnh cải cách hành chính, tích cực ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, điều hành.
Công tác tinh gọn bộ máy đã giảm 4 đầu mối trực thuộc Trung ương, 7 tổng cục và tương đương; 81 cục, vụ; 2.600 phòng ban; cấp tỉnh và cấp huyện hàng trăm đầu mối với 15 ngàn lãnh đạo cấp trưởng, phó các cấp; 236 ngàn công chức viên chức; 25 ngàn người hoạt động không chuyên trách cấp xã và hơn 100 ngàn người ở thôn ấp. Từ đó tiết kiệm ngân sách khoảng 10 ngàn tỷ đồng. Công tác phát triển đảng cũng được chú trọng về chất lượng với 143 ngàn đảng viên mới được kết nạp, nâng tổng số đảng viên toàn quốc lên 5,2 triệu đồng chí.
Năm 2020, ngành tổ chức, xây dựng Đảng triển khai 8 nhiệm vụ trọng tâm gồm: Thực hiện hiệu lực, hiệu quả, hoàn thiện công tác quy hoạch cán bộ; tập trung nghiên cứu tham mưu có chất lượng cao nhất cho việc chuẩn bị nội dung phục vụ công tác lãnh đạo, điều hành, tổ chức đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội XIII của Đảng. Nâng cao nhận thức và tổ chức thực hiện có hiệu quả quy định về trách nhiệm nêu gương “cán bộ có chức vụ càng cao thì càng phải nêu gương”; đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi bằng được tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Đảng, trong xã hội. Kiện toàn sắp xếp bộ mái tinh gọn, khắc phục khuynh hướng thụ động, trông chờ hoặc chủ quan nóng vội. Triển khai đồng bộ công tác cán bộ và bảo vệ chính trị nội bộ. Nâng cao công tác tuyên truyền công tác Đảng với phương châm “lấy tích cực đẩy lùi tiêu cực”, “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”...

Song Thư
False
Quân đội bách chiến, bách thắng của dân tộc và đất nước anh hùng! Bài viếtQuân đội bách chiến, bách thắng của dân tộc và đất nước anh hùng! http://www.angiang.dcs.vn/Imagesnews/2019-12/Quan-su-tinh.jpg

Kỷ niệm 75 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và 30 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân cũng là dịp để chúng ta ôn lại lịch sử vẻ vang của dân tộc và những chiến công oanh liệt của quân và dân ta; khơi dậy niềm tự hào dân tộc, phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam vào giai đoạn cách mạng mới.

23/12/2019 11:00 SANoĐã ban hành

Cách đây 75 năm, tại khu rừng giữa tổng Hoàng Hoa Thám và Trần Hưng Đạo thuộc châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng (nay là xóm Nà Sang, xã Tam Kim, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng), theo chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân được thành lập và giao cho  đồng chí Võ Nguyên Giáp phụ trách. Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân thành lập gồm 34 chiến sĩ, biên chế thành 3 tiểu đội. Đồng chí Hoàng Sâm được cử làm Đội trưởng. Đồng chí Xích Thắng (Vương Mạc Thanh) làm chính trị viên. Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân có chi bộ Đảng lãnh đạo.


Thực hiện chỉ thị của Lãnh tụ Hồ Chí Minh: “Trong một tháng phải có hoạt động. Trận đầu nhất định phải thắng lợi”, 17 giờ ngày 25-12-1944 (ngay sau ngày thành lập), Đội đã mưu trí, tạo bạo, bất ngờ đột nhập đồn Phai Khắt (đóng tại tổng Kim Mã, châu Nguyên Bình (nay thuộc xã Tam Kim, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng) và 7 giờ sáng ngày 26-12-1944, lại đột nhập tấn công đồn Nà Ngần (đóng tại xã Cẩm Lý, châu Nguyên Bình, nay thuộc xã Hoa Thám, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng) với hai chiến thắng mở đầu cho truyền thống đánh chắc thắng, đánh thắng trận đầu của quân đội ta.

Tháng 3-1945, Thường vụ Trung ương Đảng họp mở rộng và ra Chỉ thị “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Tháng 4-1945, Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị Quân sự cách mạng Bắc Kỳ, quyết định thống nhất các lực lượng vũ trang cả nước là Việt Nam truyền thống giải phóng quân, Cứu Quốc quân và các tổ chức vũ trang khác… thành Việt Nam Giải phóng quân do đồng chí Võ Nguyên Giáp làm tư lệnh. Tháng 3/1945, Thường vụ Trung ương Đảng họp mở rộng và ra Chỉ thị “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Tháng 4/1945, Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị Quân sự cách mạng Bắc Kỳ, quyết định thống nhất các lực lượng vũ trang cả nước (Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, Cứu quốc quân và các tổ chức vũ trang khác…) thành Việt Nam Giải phóng quân; đẩy mạnh tuyên truyền xung phong có vũ trang phá kho thóc của Nhật để cứu đói cho nhân dân; xây dựng các đội tự vệ vũ trang, du kích cứu quốc; phát động chiến tranh du kích, giải phóng từng vùng, mở rộng căn cứ cách mạng. Từ tháng 4/1945, cao trào kháng Nhật cứu nước, phong trào vũ trang khởi nghĩa, khởi nghĩa từng phần đã giành thắng lợi ở nhiều nơi. Ngày 15/5/1945, sau buổi lễ thống nhất tại Định Biên Thượng, Định Hóa, Thái Nguyên, đồng chí Võ Nguyên Giáp trở thành Tư lệnh các lực lượng vũ trang thống nhất, mang tên Việt Nam giải phóng quân.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, lực lượng vũ trang cùng các tầng lớp nhân dân tiến hành tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám chỉ trong vòng 15 ngày cuối tháng 8-1945 và đã giành thắng lợi. Ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập ở Quảng trường Ba Đình lịch sử tuyên bố với thế giới, với quốc dân đồng bào Nhà nước công nông đầu tiên trên ở Đông Nam châu Á đã ra đời. Đồng thời Việt Nam Giải phóng quân đổi thành Vệ quốc quân. Năm 1946 Vệ quốc quân đổi tên thành Quân đội Quốc gia Việt Nam. Năm 1950, đổi tên thành Quân đội nhân dân Việt Nam. Ngày 22/12/1944, ngày thành lập Đội Tuyên truyền Giải phóng quân chủ lực đầu tiên của Quân đội nh Việt Nam được lấy làm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đứng trước nhiều khó khăn chồng chất, cùng một thời điểm phải đối phó với ba giặc: Giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm. Ở  Nam Bộ, ngày 23-9-1945, thực dân Pháp được quân Anh, quân Nhật giúp sức đã trắng trợn gây hấn ở Sài Gòn, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ hai. Tại Bắc Bộ và Trung Bộ, từ cuối tháng 8 đến đầu tháng 10-1945, gần 20 vạn quân Tưởng Giới Thạch đã chiếm đóng hầu hết các thành phố từ vĩ tuyến 16 mở ra. Trong bối cảnh đó, Vệ quốc quân vừa xây dựng vừa chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu, các lực lượng vũ trang đã cùng với lực lượng tự vệ chống giặc ngoài, thù trong, góp phần bảo vệ chính quyền nhân dân trong những năm đầu của chính quyền cách mạng. Ngày 19-12-1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Với tinh thần “Cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh”, Vệ quốc quân đã anh dũng chiến đấu ở Thủ đô Hà Nội, làm phá sản chiến lược “Đánh nhanh, thắng nhanh”, đánh bại âm mưu “bình định” và “phản công” của địch, cùng toàn dân giành thắng lợi cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân (1953 - 1954) với 5 đòn tiến công chiến lược, quân và dân ta đã tiêu diệt nhiều sinh lực địch, giải phóng nhiều vùng đất đai rộng lớn.

Năm nay, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta kỷ niệm 75 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và 30 năm Ngày hội quốc phòng toàn dân. Đây là dịp để khắc ghi những truyền thống hào hùng của quân đội ta qua 75 năm chiến đấu, xây dựng và trưởng thành. Đồng thời, phát huy những truyền thống quý báu của quân đội ta để góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn cách mạng mới.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975), Quân đội nhân dân Việt Nam tiến lên chính quy, từng bước hiện đại, xây dựng và bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, giữ gìn, phát triển lực lượng vũ trang cách mạng ở Việt Nam, từng bước đánh bại các chiến lược của đế quốc Mỹ và giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Để đáp ứng nhiệm vụ cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới, mà Trung ương Đảng xác định đó là “trụ cột bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ hòa bình”, quân đội ta nhanh chóng xây dựng theo kế hoạch quân sự 5 năm lần thứ nhất (1955-1960) với phương châm: Tích cực xây dựng quân đội nhân dân hùng mạnh, tiến dần từng bước lên chính quy, hiện đại. Ở miền Nam, tháng 6/1954, Mỹ dựng chính quyền Ngô Đình Diệm và ráo riết khủng bố tàn bạo. Tháng 1/1959, Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa II) mở rộng đã xác định nhiệm vụ chiến lược của cách mạng miền Nam và vạch rõ con đường cơ bản của cách mạng miền Nam là sử dụng bạo lực cách mạng. Ngày 17/1/1960, nhân dân các huyện Mỏ Cày, Minh Tân, Thạnh Phúc tỉnh Bến Tre nhất loạt nổi dậy, phá thế kìm kẹp, tạo nên phong trào “Đồng Khởi” lan rộng ra nhiều tỉnh Nam Bộ, khu 5. Ngày 20/12/1960, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời. Ngày 15/2/1961, Quân ủy Trung ương quyết định thành lập Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, bộ phận trực tiếp của Quân đội nhân dân Việt Nam thực hiện nhiệm vụ chiến đấu ở miền Nam. Chúng ta lần lượt giữ gìn và phát triển lực lượng vũ trang cách mạng ở miền Nam, đánh bại: “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ (1961-1965), “Chiến tranh cục bộ” và chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất của đế quốc Mỹ (1965-1968), chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” và cuộc tập kích bằng không quân, hải quân lần thứ hai vào miền Bắc của đế quốc Mỹ (1969-1972).Với tinh thần dũng cảm, bằng cách đánh mưu trí, linh hoạt, quân và dân miền Bắc đã đánh thắng cuộc tập kích chiến lược lần thứ hai bằng B52 của Mỹ, lập nên kỳ tích “Điện Biên Phủ trên không” trên bầu trời Hà Nội.

Thắng lợi to lớn của quân và dân hai miền Nam - Bắc, đã buộc đế quốc Mỹ phải ký Hiệp định Paris về “chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” ngày 27-1-1973. Sau khi Hiệp định được ký kết, với bản chất ngoan cố, đế quốc Mỹ chưa chịu từ bỏ âm mưu duy trì chế độ thực dân mới, chia cắt lâu dài đất nước ta. Trong quá trình rút quân, đế quốc Mỹ vẫn để lại nhiều sĩ quan mặc áo dân sự và giao lại cho quân đội Sài Gòn toàn bộ cơ sở vật chất, vũ khí, phương tiện chiến tranh. Dựa vào viện trợ của quan thầy Mỹ, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu ra sức củng cố ngụy quân, ngụy quyền, liên tiếp mở các cuộc hành quân “tràn ngập lãnh thổ”, lấn chiếm vùng giải phóng của ta. Nắm chắc được âm mưu của địch, Hội nghị Bộ chính trị tháng 10-1974 và đầu năm 1975 đã kịp thời đánh giá đúng so sánh lực lượng giữa ta và địch trong tình hình mới, chỉ rõ sự xuất hiện thời cơ lịch sử và nêu quyết tâm chiến lược, giải phóng hoàn toàn miền Nam, đánh bại cuộc chiến tranh thực dân mới của đế quốc Mỹ bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, kết thúc bằng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Cờ Tổ quốc tung bay trước tòa nhà chính của Dinh Độc lập lúc 11 giờ 30 phút ngày 30-4-1975. Chiến dịch Hồ Chí Minh đã toàn thắng, miền Nam hoàn toàn giải phóng, thu non sông về một mối. Chiến dịch Hồ Chí Minh là chiến dịch hiệp đồng quân, binh chủng quy mô lớn nhất, giành thắng lợi to lớn nhất, đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của Quân đội nhân dân Việt Nam, là đỉnh cao của nghệ thuật quân sự Việt Nam.

Trong giai đoạn cách mạng mới của đất nước, nhiệm vụ của quân đội được Trung ương Đảng nêu rõ: “Ra sức bảo vệ sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta… bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển, biên giới và hải đảo của nước Việt Nam thống nhất. Tích cực tham gia sản xuất, góp phần xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội”. Để thực hiện nhiệm vụ của Đảng trong giai đoạn cách mạng mới, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng đề ra phương hướng, nhiệm vụ xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng trong 5 năm (1976-1981). Quân đội nhân dân Việt Nam đã góp phần quan trọng vào việc khắc phục hậu quả chiến tranh, ổn định đời sống nhân dân, cùng toàn dân đánh thắng hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc, làm tròn nghĩa vụ quốc tế ở Campuchia, cùng quân dân Campuchia đánh đổ chế độ diệt chủng Pôn pốt - Iêng xary; hồi sinh, tái thiết đất nước Campuchia.

Thực hiện Chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng, từ năm 1979, quân đội ta đã triển khai cuộc vận động “Phát huy bản chất tốt đẹp, nâng cao sức mạnh chiến đấu”. Quân đội ta đã có những đóng góp xứng đáng vào những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử của hơn 30 năm đổi mới đất nước. Quân đội ta đã nắm chắc và dự báo đúng tình hình liên quan đến quốc phòng - an ninh; chủ động tham mưu, đề xuất với Đảng và Nhà nước hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách; tham mưu giúp Ban chấp hành Trung ương Đảng ra Nghị quyết về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, tham mưu giúp Bộ chính trị ban hành “Chiến lược quốc phòng”. Đã tham mưu với Đảng, Nhà nước đề ra đối sách phù hợp, xử lý linh hoạt, đúng đắn các tình huống phức tạp, các vấn đề nhạy cảm về quốc phòng - an ninh, trong quan hệ đối nội và đối ngoại, không để đất nước bị động bất ngờ về chiến lược, đồng thời không để cho các thế lực thù địch lợi dụng, chống phá; giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và quan hệ tốt với các nước láng giềng, bảo đảm sự ổn định chính trị - xã hội, tạo môi trường thuận lợi để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Trải qua 75 năm chiến đấu, xây dựng và trưởng thành cùng với những chiến công mãi mãi ghi vào lịch sử dân tộc như những biểu tượng sáng ngời về chủ nghĩa anh hùng cách mạng của một quân đội từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, phục vụ, quân đội ta đã xây đắp nên những truyền thống cao đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ”. Hiện nay, trên thế giới và khu vực bên cạnh xu thế hòa bình, hợp tác, hội nhập và phát triển thì có những diễn biến phức tạp, mau lẹ, khó lường. Do vậy, bên cạnh thuận lợi, thời cơ thì cũng đan xen nhiều khó khăn, thách thức đối với sự nghiệp đổi mới và bảo vệ Tổ quốc. Bên cạnh bốn nguy cơ mà Hội nghị giữa nhiệm kỳ khóa VII đã nêu ra đang được ngăn chặn, đẩy lùi từng bước thì bây giờ lại xuất hiện bốn vấn đề bức xúc của xã hội ảnh hưởng hằng ngày, hằng giờ đến tư tưởng, đến sức sức khỏe và tính mạng của các tầng lớp nhân dân. Đó là: An toàn môi trường, an toàn thực phẩm, an toàn giao thông và an toàn mạng. Các thế lực thù địch, phản động đang đẩy mạnh “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Chúng sử dụng mạng xã hội, internet tung ra các tài liệu xấu, độc nhằm phủ nhận chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để đánh vào nền tảng tư tưởng của Đảng, bôi nhọ các đồng chí lãnh đạo, hòng gây nghi ngờ chia sẻ trong nội bộ, chia rẽ Đảng với nhân dân, chia rẽ Đảng với quân đội và phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng, “phi chính trị hóa” các lực lượng vũ trang. Mục đích của chúng là hướng lái đất nước đi chệch con đường xã hội chủ nghĩa. Trong bối cảnh đó, cần phải nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị đối với nhiệm vụ xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, tận dụng những thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội nhân dân Việt Nam. Xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội có bản lĩnh chính trị kiên định, vững vàng, có đạo đức, lối sống tốt, có năng lực trí tuệ và hoạt động thực tiễn, có quan hệ chặt chẽ, máu thịt với nhân dân.

Kỷ niệm 75 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và 30 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân cũng là dịp để chúng ta ôn lại lịch sử vẻ vang của dân tộc và những chiến công oanh liệt của quân và dân ta; khơi dậy niềm tự hào dân tộc, phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam vào giai đoạn cách mạng mới./.

 
TS. Bùi Thế Đức
Phó chủ tịch Hội đồng Lý luận, phê bình
văn học, nghệ thuật Trung ương
False
Ngày Toàn quốc kháng chiến (19/12/1946) - Tiếng gọi của non sôngBài viếtNgày Toàn quốc kháng chiến (19/12/1946) - Tiếng gọi của non sông/Imagesnews/2019-12/toanquoc_khangchien_Key_19122019130610.jpg

(TUAG)- Lời kêu gọi thiêng liêng ấy đã vang lên trong một quá khứ rất xa, đã 73 năm, nhưng đến nay vẫn vẹn nguyên tinh thần và mong ước. Càng giá trị hơn khi Bản thảo “Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh” năm nào trở thành một trong năm tác phẩm được công nhận là “bảo vật quốc gia”.

19/12/2019 7:00 SAYesĐã ban hành
Những ngày cuối tháng 9/1945, núp bóng quân Anh và giải giáp quân Nhật đầu hàng, thực dân dân Pháp nổ súng đánh chiếm Nam Bộ. Từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc, 20 vạn quân Tưởng kéo vào nước ta theo âm mưu của đế quốc Mỹ; từ vĩ tuyến 16 trở vào Nam do quân đội Anh chịu trách nhiệm. Theo chân thực dân, đế quốc và quân Tưởng, bọn phản động từ ngoài nước kéo về kết hợp với bọn phản động trong nước chống phá chính quyền cách mạng non trẻ. Dân tộc ta, ở vào tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, cùng một lúc phải đối phó với nhiều kẻ thù.

toanquoc_khangchien.jpg
Bút tích "Lời kêu gọi toàn Quốc kháng chiến" của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 19/12/1946.
Với sách lược “phân hóa kẻ thù” hết sức khôn khéo, trên nguyên tắc giữ vững chủ quyền và độc lập dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã tạm thời hòa hoãn với quân Tưởng để giữ vững chính quyền, tạo điều kiện đối phó với quân Pháp ở miền Nam, phá tan âm mưu “diệt Cộng cầm Hồ”, “Hoa quân nhập Việt”. Hơn 6 tháng sau, ngày 28/02/1946, Hiệp ước Hoa - Pháp được ký kết, đứng trước âm mưu hợp sức tiêu diệt phong trào cách mạng vô sản và cách mạng thuộc địa của Anh, Pháp và Mỹ - Tàu (Tưởng), Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã ra quyết sách vô cùng sáng suốt là “Hòa để tiến” bằng việc ký với Pháp Hiệp định sơ bộ ngày 06/3/1946, đẩy quân Tưởng ra khỏi Việt Nam, làm thay đổi tương quan lực lượng có lợi cho cách mạng nước ta, đồng thời có được “giây phút nghỉ ngơi” để chuẩn bị cho cuộc chiến đấu với quân Pháp chắc chắn sẽ xảy ra.

Tiếp đó, khi quân Pháp liên tục gây hấn, để tạm đầy lùi nguy cơ xung đột lớn, tranh thủ thêm thời gian xây dựng lực lượng, Chính phủ Việt Nam đã đi tới “bước nhân nhượng cuối cùng”, ký với Pháp “Tạm ước Modus - Vivendu” tại Fontainebleau (14/9/1946), thừa nhận quyền lợi kinh tế và văn hóa của Pháp ở Việt Nam; Pháp phải đình chiến và tôn trọng quyền tự do dân chủ ở Nam Bộ; ta trao trả cho Pháp Viện Pasteur (Hà Nội) và ngừng bắn ở Nam Bộ.

Hiệp định sơ bộ và Tạm ước 14/9 được ký kết, buộc các bên phải thi hành. Thế nhưng, thực dân Pháp chẳng những không thi hành những thỏa thuận đã ký kết mà còn ngang nhiên lập Chính phủ bù nhìn của cái gọi là “Nước Nam kỳ tự trị”, đánh chiếm miền Tây Nam Trung Bộ, ra lệnh đánh chiếm một số nơi, đem quân đi khắp các vùng nông thôn, lùng sục, bắt bớ những người yêu nước; đặt lại ban “hội tề” ở các làng xã,… Những hành động khiêu khích liên tục cho thấy, thực dân Pháp rắp tâm “xé bỏ” Hiệp định sơ bộ và Tạm ước, gây chiến với nhân dân ta khắp 3 miền với dã tâm cướp nước ta một lần nữa.

Không thể nhân nhượng được nữa, nếu tiếp tục nhân nhượng sẽ mất chủ quyền, nhân dân sẽ trở lại kiếp ngựa trâu. Trong hai ngày 17, 18/12/1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp tại làng Vạn Phúc (Hà Đông) dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quyết định phát động toàn dân kháng chiến và xác định những vấn đề cơ bản về đường lối kháng chiến. Trưa ngày 19/12/1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng điện cho các mặt trận và các chiến khu: “Chỉ trong vòng 24 giờ nữa giặc Pháp sẽ nổ súng. Chỉ thị của Trung ương: Tất cả hãy sẵn sàng!”. Tiếp đó, Bộ Tổng chỉ huy quân đội Quốc gia Việt Nam xác định mở đầu cuộc tấn công là đêm 19/12/1946 và giao nhiệm vụ tác chiến cho từng vùng. Chiều ngày 19/12, đồng chí Võ Nguyên Giáp ra mệnh lệnh chiến đấu: “Tổ quốc lâm nguy! Giờ chiến đấu đã đến!”. Trong đêm 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi “Toàn quốc kháng chiến”, Người nói: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa!

Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.

…Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước”…

Thế là, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ!

Quyết định của Đảng và Bác Hồ ra lời kêu gọi đồng bào cả nước đứng lên chống giặc, cứu nước đáp ứng đòi hỏi khách quan của lịch sử và nguyện vọng của nhân dân lúc bấy giờ. Một lựa chọn hoàn toàn đúng đắn, không có con đường nào khác. Bởi, nếu không dám chấp nhận cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp thì sẽ mất độc lập tự do mới giành được, “độc lập, tự do không thể cầu xin mà có được”.

Nhưng trước khi đi đến quyết định đó, Đảng ta và Hồ Chủ tịch đã kiên trì thương lượng, cố gắng tranh thủ hòa bình, tận dụng mọi cơ hội để có thể tránh được cuộc chiến tranh cho cả hai dân tộc. Nhưng, mọi cố gắng ấy trở nên vô nghĩa trước sự hiếu chiến của bọn thực dân phản động, chúng cự tuyệt nguyện vọng hòa bình, chân chính của nhân dân Việt Nam.

Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến và Chỉ thị toàn dân kháng chiến của Đảng là những văn kiện lịch sử thể hiện ý chí sắt đá bảo vệ Tổ quốc độc lập của toàn dân và toàn quân ta, nêu rõ đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ một cách vô cùng giản dị và hào hùng. Những văn kiện lịch sử ấy vạch trần âm mưu của thực dân Pháp, khẳng định niềm tin tất thắng “nhất định sẽ về với dân tộc ta” trong cuộc chiến tranh chính nghĩa. Tinh thần và nội dung các văn kiện đó có tác dụng chỉ đạo trong suốt chín năm kháng chiến hào hùng, tiếp thêm sức mạnh và niềm tin vô bờ bến cho hàng triệu con người trên khắp các chiến trường, các miền quê của đất nước, “tiếng gọi” có năng lực truyền cảm và uy lực cuốn hút tuyệt diệu, thôi thúc mọi trái tim yêu nước đứng lên bảo vệ nền độc lập, tự do của đất nước bằng tất cả những gì có được trong tay!

Lời kêu gọi thiêng liêng ấy đã vang lên trong một quá khứ rất xa, đã 73 năm, nhưng đến nay vẫn vẹn nguyên tinh thần và mong ước. Càng giá trị hơn khi Bản thảo “Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh” năm nào trở thành một trong năm tác phẩm được công nhận là “bảo vật quốc gia”./.

Hòa Bình
True
Quyết tâm lớn, đồng thuận cao trong đấu tranh chống tham nhũng! (None)Quyết tâm lớn, đồng thuận cao trong đấu tranh chống tham nhũng! /Imagesnews/2019-12/Tham-nhung_Key_15122019200628.jpg

(TUAG)- Tham nhũng là hiện tượng xã hội phổ biến, tồn tại ở hầu hết các quốc gia. Nó làm tổn hại rất lớn các nguồn lực của đất nước; làm sai lệch công lý, công bằng xã hội…

15/12/2019 9:00 CHNoĐã ban hành

​Bác Hồ khẳng định: “Tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu là kẻ thù của nhân dân”. Đây là “Kẻ thù khá nguy hiểm, vì nó không mang gươm mang súng, mà nó nằm trong các tổ chức của ta, để làm hỏng công việc của ta”. Càng nguy hiểm hơn khi nó “trộm cắp của công một cách đường hoàng, một cách có ngăn nắp”; nó là “những con lợn… rúc vào vườn rau của Nhà nước” mặc tình thao túng, no say!


Hội nghị lần thứ năm, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) nhận định: “Tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng, với những biểu hiện tinh vi, phức tạp, xảy ra trên nhiều lĩnh vực, nhiều cấp, nhiều ngành… gây bức xúc trong xã hội và là thách thức lớn đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước”. Hội nghị quyết định thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng (PCTN) do đồng chí Tổng Bí thư làm Trưởng Ban. Kể từ đó, nhất là từ sau Đại hội XII của Đảng, cuộc đấu tranh PCTN đã có một bước tiến mạnh, đạt được nhiều kết quả toàn diện, tích cực, rõ rệt…


Trong năm 2019, các cơ quan tiến hành tố tụng đã có nhiều nỗ lực, cố gắng, khẩn trương, nghiêm túc thực hiện các Kết luận của Ban Chỉ đạo; quan tâm phối hợp chặt chẽ, tích cực tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ điều tra, truy tố, xét xử các vụ án, xác minh các vụ việc thuộc diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo. Nhiều vụ án được mở rộng điều tra, khởi tố thêm nhiều bị can, làm rõ bản chất hành vi chiếm đoạt, tham nhũng của các bị can, bị cáo để xử lý theo quy định của pháp luật. Các cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan chức năng đã tập trung điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh một số vụ án tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm, như: Vụ án “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản” xảy ra tại Vinashin; Vụ án “Buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh” xảy ra tại Công ty cổ phần VN Pharma; Vụ án “Cố ý làm trái quy định của nhà nước gây hậu quả nghiêm trọng” xảy ra tại Bảo hiểm Xã hội Việt Nam; Vụ án “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ; Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” xảy ra tại Đà Nẵng và một số địa phương; Vụ án “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản, cố ý làm trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng, Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” xảy ra tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Á…


Đạt được những kết quả nêu trên là do Ban Chỉ đạo, Thường trực Ban Chỉ đạo, các cơ quan tiến hành tố tụng và các cơ quan chức năng đã có quyết tâm lớn, đồng thuận cao, phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng, có cách làm khoa học, bài bản, nền nếp. Từ thực tiễn chỉ đạo xử lý các vụ án lớn rút ra nhiều kinh nghiệm quý và tiếp tục khẳng định quyết tâm của Đảng, Nhà nước đối với công tác phòng chống tham nhũng với tinh thần kiên quyết, kiên trì, liên tục, không có vùng cấm, được Nhân dân đồng tình ủng hộ, đánh giá cao.


Thực  tế là như vậy, nhưng các thế lực thù địch và các phần tử cơ hội chính trị lợi dụng tính chất gay go, quyết liệt, phức tạp của cuộc đấu tranh, đã tung tin: “không biết cuộc chiến này nhằm mục đích gì và cuối cùng sẽ đi đến đâu, không biết đây là cuộc chiến chống tham nhũng thật hay giả, có thực sự vì dân vì nước hay không, hay chỉ vì hám danh, hám quyền lực của kẻ đứng đầu”. Chúng bày ra lý‎ lẻ vô cùng thâm độc: “Trong một thể chế như thế không thể chống được tham nhũng”. “Bản thân bộ máy đẻ ra tham nhũng, hay nói cách khác cái lò này đẻ ra tham nhũng thì phải vứt cái lò đẻ ra tham nhũng này đi, chứ không phải đốt những kẻ tham nhũng; bởi không bao giờ đốt hết được cả”... Đây là sự xuyên tạc, mỵ dân, đầy gian trá!


Nhằm giữ vững lòng tin của Nhân dân và đẩy mạnh hơn nữa phong trào đấu tranh phòng, chống tham nhũng: Các cấp ủy, tổ chức đảng cần tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan chức năng triển khai tích cực, khẩn trương hoàn thành đúng tiến độ điều tra, truy tố, xét xử các vụ án; xác minh, xử lý các vụ việc theo Kế hoạch của Ban Chỉ đạo.


Phải có quyết tâm lớn và đồng thuận cao!

                                                                      
Sự thật
__________

False
Nhiều sáng kiến, hiến kế cải cách hành chính hay, cần nhân rộng(None)Nhiều sáng kiến, hiến kế cải cách hành chính hay, cần nhân rộng/Imagesnews/CCHC-2.png

(TUAG)- Phó Giám đốc Sở Nội vụ Trương Long Hồ cho biết, hiện nay ở các địa phương, đơn vị có nhiều sáng kiến, ý tưởng, giải pháp cải cách hành chính rất tốt, có thể nghiên cứu, vận dụng vào thực tế trong công tác cải cách thủ tục hành chính (TTHC) và thực thi công vụ ở các cơ quan, đơn vị, địa phương. Đây là những sáng kiến, hiến kế mới, khả thi, hiệu quả và có ý nghĩa thực tế có thể triển khai, nhân rộng trong thời gian tới.

13/12/2019 5:00 CHNoĐã ban hành

Điển hình như sáng kiến mới, khả thi, hiệu quả của ngành y tế “Vận hành cây kios thông minh phục vụ công tác khám, chữa bệnh tại Bệnh viện Sản-Nhi An Giang”. Đây là tiện ích mới bệnh viện áp dụng tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người dân khi tới khám bệnh. Qua đó, mang lại hiệu quả rõ rệt cho người bệnh và bệnh viện. Đối với đội ngũ y bác sĩ giúp nâng cao hiệu quả chẩn đoán, khám chữa bệnh; đối với người bệnh và thân nhân giúp tăng tiện ích dịch vụ y tế trong quá trình trải nghiệm khám chữa bệnh, tăng cường giao tiếp của nhân viên y tế, giảm thời gian chờ đợi của người bệnh và thân nhân.

CCHC-1.jpg
Trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy, Giám đốc Sở Nội vụ tỉnh Ngô Hồng Yến trao thưởng cho đơn vị đoạt giải nhất hội thi tuyên truyền cải cách hành chính.


Hay sáng kiến “Nộp đơn khởi kiện qua cổng thông tin điện tử Tòa án”. Bằng phương thức như trên có thể giúp người dân nộp đơn khởi kiện một cách nhanh nhất, không tốn kém chi phí đi lại, không hạn chế về thời hiệu khởi kiện của họ cũng rút ngắn thời hạn giải quyết vụ việc tranh chấp, phục vụ cho nhiệm vụ chính trị đặt ra tại địa phương.    


Với sáng kiến “Ứng dụng chatbot để hỗ trợ, giải đáp TTHC cho người dân và doanh nghiệp”, người dân, doanh nghiệp có thể đặt các câu hỏi liên quan đến các TTHC và sau đó nhận được ngay câu trả lời từ hệ thống tự động trực tuyến. Người dùng có thể đặt câu hỏi ở bất cứ đâu và bất kỳ lúc nào mà không phải cần đi tới cơ quan, cũng không cần liên hệ vào giờ hành chính, tất cả những gì người dùng cần là một thiết bị có kết nối internet, truy cập vào wedsite và gửi câu hỏi vào hệ thống trả lời tự động trực tuyến liên quán đến TTHC tỉnh An Giang.


Sáng kiến “Giải pháp xử lý các trường hợp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bị nhằm thửa trước đây”, hiệu quả mang lại là để công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực đất đai được thực hiện tốt hơn, là nền tảng cho quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, quản lý tài nguyên thiên nhiên, giải quyết tốt các yêu cầu bức xúc của người sử dụng đất.


TP. Long Xuyên thực hiện mô hình "Liên thông thủ tục đăng ký hộ kinh doanh và cấp mã số thuế tại Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả UBND cấp huyện”. Nếu theo quy trình cũ, người dân phải đi đến 2 nơi, 2 cơ quan khác nhau để thực hiện thủ tục: Đến Bộ phận Một cửa để thực hiện thủ tục đăng ký kinh doanh, sau đó đến Chi cục thuế để thực hiện thủ tục cấp mã số thuế và phải tốn nhiều thời gian thực hiện. Với quy trình mới này, người dân chỉ việc đến 1 cơ quan duy nhất là Bộ phận Một cửa, sau khi thực hiện thủ tục, sẽ được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và giấy chứng nhận đăng ký thuế (cấp mã số thuế). Quy trình mới sẽ rút gọn được trình tự và thời gian thực hiện, người dân khỏi phải đi lại nhiều lần. Đồng thời, tạo điều kiện thuận lợi trong quản lý kê khai thuế, hạn chế đăng ký kinh doanh “ảo”.

CCHC-2.png
TP. Châu Đốc thực hiện "Tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả TTHC tại nhà không thu phí thông qua dịch vụ bưu chính công ích".


TP. Châu Đốc thực hiện "Tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả TTHC tại nhà không thu phí thông qua dịch vụ bưu chính công ích", đã đem lại sự hài lòng cho người dân, thực hiện có hiệu quả, kịp thời các quy trình tiếp nhận hồ sơ, giải quyết và trả kết quả giải quyết TTHC tại nhà không thu phí thông qua dịch vụ bưu chính. Đồng thời, giúp tiết kiệm thời gian và chi phí đi lại của người dân, tổ chức, doanh nghiệp khi có yêu cầu thực hiện các loại TTHC; tăng cường sự công khai, minh bạch trong quá trình giải quyết TTHC.


Huyện An Phú thực hiện “Cải cách hành chính phải bắt đầu từ sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp”. Huyện nhân rộng mô hình “Phân công luân phiên cán bộ không chuyên trách ngồi tại bàn để viết hộ cho người dân” tại Bộ phận một cửa áp dụng cho toàn huyện. Đồng thời, làm việc với Bưu điện để chuyển giao hệ thống tiếp nhận, trả kết quả của huyện cho Bưu điện huyện thực hiện. Huyện sẽ chọn xã Vĩnh Hội Đông làm thí điểm tại 2 ấp mô hình “Cử cán bộ ấp trực tiếp nhận và trả kết quả tận nhà cho người dân”. Thí điểm mô hình “chuyển giao cho nhân viên Bưu điện trực tiếp nhận và trả kết quả tại nhà cho người dân”.


Sở Giáo dục và Đào tạo An Giang sáng kiến, hiến kế: “Thực hiện đơn giản hóa thủ tục chuyển trường đối với học sinh THPT”, đã rút ngắn thời gian thực hiện TTHC. Căn cứ pháp lý không quy định thời gian thực hiện TTHC, tuy nhiên Sở Giáo dục và Đào tạo An Giang đã triển khai thực hiện thủ tục này ngay trong ngày làm việc. Trước khi áp dụng sáng kiến người dân phải liên hệ 5 cơ quan, sau khi áp dụng sáng kiến dân chỉ còn phải đến 2 cơ quan, đơn vị. Từ việc chưa quy định rõ thời gian đã thực hiện nhanh chóng, chính xác, đúng quy định, đơn giản hóa các bước thực hiện của người dân, tạo niềm tin và sự hài lòng của người dân.

Bài, ảnh: HẠNH CHÂU

False
Việt Nam sẵn sàng cho vai trò Chủ tịch Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc vào tháng 1/2020(None)Việt Nam sẵn sàng cho vai trò Chủ tịch Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc vào tháng 1/2020/Imagesnews/chu-tich-H%C4%90BA-LHQ.jpg

Sáng 12-12, Bộ Ngoại giao tổ chức họp báo quốc tế về việc Việt Nam chính thức đảm nhiệm vai trò Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020-2021.

12/12/2019 5:00 CHNoĐã ban hành

chu-tich-HĐBA-LHQ.jpg

Thứ trưởng Bộ ngoại giao Nguyễn Hoài Trung thông báo về việc Việt Nam đảm nhận vai trò Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021. Ảnh: Lâm Khánh/TTXVN


Phát biểu tại họp báo, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung cho biết, tháng 6/2019, với số phiếu bầu kỷ lục 192/193 phiếu, Việt Nam chính thức trở thành Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc.

Điều đó thể hiện sự nhìn nhận của cộng đồng quốc tế về nước Việt Nam không những có truyền thống trong quá khứ về đấu tranh vì những mục tiêu của Liên hợp quốc là nhằm duy trì hòa bình và an ninh quốc tế, độc lập dân tộc, mà còn là sự nhìn nhận về nỗ lực của Việt Nam trong hội nhập, thúc đẩy quan hệ quốc tế, về đường lối đối ngoại của Việt Nam theo hướng ủng hộ những vấn đề chung được cộng đồng quốc tế quan tâm.

“Với việc tham gia Hội đồng Bảo an, Việt Nam có thể có cơ hội quan trọng để thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước, là đường lối thúc đẩy hòa bình, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa và Việt Nam mong muốn là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”, Thứ trưởng Lê Hoài Trung nêu rõ.

Theo Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, đây là nhiệm vụ của ngành đối ngoại và cũng là trách nhiệm Việt Nam đóng góp vào thúc đẩy hợp tác đa phương để góp phần tăng cường hiệu quả phương thức giải quyết các vấn đề quốc tế, trong đó Việt Nam nỗ lực và tích cực vươn lên đóng vai trò nòng cốt, trung gian hòa giải trên những vấn đề phù hợp với lợi ích, trong khả năng và điều kiện của mình.

Làm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Việt Nam mong muốn đóng góp vào thúc đẩy việc phát huy vai trò hàng đầu của Hội đồng là duy trì hòa bình và an ninh quốc tế, cụ thể là ngăn ngừa xung đột, giúp giải quyết các vấn đề khủng hoảng; góp phần vào việc nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội đồng, đồng thời thúc đẩy một số vấn đề mà các nước, nhóm nước khu vực châu Á - Thái Bình Dương quan tâm như bảo vệ thường dân trong xung đột vũ trang, vấn đề tái thiết sau xung đột, phụ nữ và hòa bình, an ninh... Cùng với đó, Việt Nam mong muốn qua dịp này thúc đẩy được quan hệ đối tác với các quốc gia trong Hội đồng Bảo an và các quốc gia khác.

Từ năm 2014 đến nay, Việt Nam bắt đầu tham gia vào các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc tại Nam Sudan và Cộng hòa Trung Phi với gần 100 cán bộ, chiến sỹ. Gần đây, Việt Nam đã tham gia đóng góp bệnh viện dã chiến cấp 2. Tỷ lệ nữ cán bộ Việt Nam tham gia vào các hoạt động gìn giữ hòa bình được Liên hợp quốc đánh giá là cao nhất.

Trong nhiệm kỳ làm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Việt Nam có hai tháng làm Chủ tịch Hội đồng vào tháng 1/2020 và tháng 4/2021. Việc làm Chủ tịch ngay từ tháng 1/2020, khi chỉ có 6 tháng để chuẩn bị, là một thách thức không nhỏ.

Ý thức được trách nhiệm của mình, các bộ, ban, ngành đã triển khai nhiều công việc: rà soát lại, xây dựng hồ sơ cơ bản về từng vấn đề trong chương trình nghị sự của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc; xây dựng cơ chế về phối hợp liên ngành Công an - Quốc phòng - Ban đối ngoại Trung ương và các bộ, ngành liên quan...

Tại buổi họp báo, Thứ trưởng Lê Hoài Trung đã trả lời nhiều câu hỏi của báo giới liên quan đến những vấn đề Việt Nam ưu tiên thảo luận trong tháng nắm giữ chức Chủ tịch Hội đồng Bảo an, ngay sau khi trở thành Ủy viên không thường trực của Hội đồng (tháng 1/2020); những thuận lợi và thách thức khi đảm nhiệm vai trò Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, những đánh giá của Liên hợp quốc đối với việc tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Việt Nam và những đóng góp của Việt Nam trong thời gian tới...

Thứ trưởng Lê Hoài Trung cho biết, đường lối của Việt Nam là mong muốn thúc đẩy hòa bình, hợp tác và phát triển. Việt Nam hiện có quan hệ đối tác chiến lược, đối tác toàn diện với nhiều nước, quan hệ hữu nghị, chặt chẽ và tin cậy với nhiều quốc gia trên thế giới. Với 192/193 phiếu  ủng hộ, một mặt thể hiện mối quan hệ đối tác sâu sắc giữa Việt Nam với các quốc gia, đồng thời cũng thể hiện các quốc gia mong muốn Việt Nam đóng góp và sẵn sàng để Việt Nam đóng góp vào công việc chung của cộng đồng quốc tế.

Tuy nhiên, bên cạnh thuận lợi, cũng có mặt phức tạp là những khó khăn trong quan hệ của các nước lớn, điều đó tác động rất sâu sắc đến hoạt động của Hội đồng Bảo an. Có đánh giá cho rằng kể từ sau khi kết thúc chiến tranh lạnh, đây là giai đoạn có sự chia rẽ, khó khăn ở mức cao nhất giữa các nước lớn thường trực tại Hội đồng Bảo an. Thêm vào đó, chủ nghĩa đa phương gặp thách thức chưa từng có, trong đó có vấn đề đáng lo ngại là xu hướng muốn đe dọa, muốn sử dụng vũ lực tăng lên.

Thứ trưởng Bộ Ngoại giao khẳng định, quan điểm của Việt Nam về các vấn đề quốc tế lớn là tích cực và xây dựng, Việt Nam không có chủ trương phát triển vũ khí hàng loạt, Việt Nam chống khủng bố dưới mọi hình thức và mong muốn giải quyết các căng thẳng, bất đồng quốc tế bằng biện pháp hòa bình, tôn trọng độc lập chủ quyền các quốc gia, quyền và lợi ích chính đáng của quốc gia, dân tộc.

“Việt Nam rất mong muốn có hòa bình, phấn đấu vì hòa bình. Chúng ta tham gia vào Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc sẽ góp phần vào phát huy vai trò của Hội đồng, để tạo môi trường thuận lợi, quốc tế, khu vực hòa bình, ổn định hơn, điều này sẽ rất thuận lợi cho phát triển của Việt Nam... Qua đó, Việt Nam thúc đẩy quan hệ song phương, quan hệ với các tổ chức, khu vực, từ đó tạo điều kiện thuận lợi để chúng ta thúc đẩy quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư, tạo điều kiện giới thiệu về đất nước, con người Việt Nam, về thành tựu, năng lực của Việt Nam, vị thế quốc tế, tạo niềm tin trong cán bộ, nhân dân về đường hướng đối ngoại, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước”, Thứ trưởng Lê Hoài Trung nói.

Về các ưu tiên thảo luận trong vai trò Chủ tịch Hội đồng Bảo an vào tháng 1/2020, Thứ trưởng Lê Hoài Trung cho biết, trong chương trình nghị sự, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh sẽ chủ trì cuộc họp của Hội đồng Bảo an, trong đó có cuộc thảo luận mở cấp bộ trưởng với chủ đề kỷ niệm 75 năm thành lập Liên hợp quốc, về tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc trong duy trì hòa bình và an ninh quốc tế, cũng như vai trò của tổ chức khu vực trong hợp tác với Hội đồng Bảo an trong duy trì hòa bình và an ninh quốc tế.

Việt Nam cũng sẽ trao đổi về các vấn đề liên quan đến quỹ của Iraq, một số vấn đề liên quan đến khu vực Trung Đông, hoạt động của Lebanon. Tháng 4/2021, Việt Nam đang trao đổi với các quốc gia, trong đó theo hướng sẽ có trao đổi về vấn đề hậu xung đột, gồm giải quyết bom mìn, vấn đề nhân đạo, phụ nữ, trẻ em...

Cũng theo Thứ trưởng Lê Hoài Trung, Liên hợp quốc đánh giá sự tham gia của các cán bộ, chiến sỹ Việt Nam vào lực lượng gìn giữ hòa bình rất nghiêm túc, hoạt động hiệu quả, không những phục vụ cho các lực lượng gìn giữ hòa bình các nước mà tham gia hỗ trợ, phục vụ cho cả nhân dân, cộng đồng địa phương.

Vì vậy, Liên hợp quốc mong muốn Việt Nam cử thêm lực lượng tham gia. Một số sỹ quan của Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình đã được khen thưởng. Thời gian tới, Việt Nam sẽ tham gia không chỉ trong lĩnh vực liên quan đến y tế mà đã chuẩn bị sẵn sàng để tham gia cả về lĩnh vực công binh.

Nguồn: Báo Tin Tức

False
Phó Chủ tịch HĐND tỉnh Đỗ Tấn Kiết trả lời phóng vấn về các nội dung liên quan đến Kỳ họp thứ 12 (None)Phó Chủ tịch HĐND tỉnh Đỗ Tấn Kiết trả lời phóng vấn về các nội dung liên quan đến Kỳ họp thứ 12 /Imagesnews/2019-12/Phongvan-Do-Tan-Kiet_Key_09122019093553.jpg

(TUAG)- Trong 3 ngày (09 đến 11/12/2019) diễn ra Kỳ họp thứ 12, Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh khóa IX, nhiệm kỳ 2016 - 2021. Dịp này, phóng viên đã có cuộc phỏng vấn Phó Chủ tịch HĐND tỉnh Đỗ Tấn Kiết về các vấn đề liên quan đến hoạt động của Hội đồng nhân dân tỉnh trong năm 2019 và những nội dung tập trung làm việc trong kỳ họp.

09/12/2019 10:00 SAYesĐã ban hành

PV. Thưa ông, xin ông cho biết những nội dung chính mà kỳ họp lần này sẽ tiến hành thảo luận.

Phó Chủ tịch HĐND tỉnh Đỗ Tấn Kiết: Kỳ họp thứ 12 HĐND tỉnh là kỳ họp thường lệ cuối năm 2019 nhằm đánh giá tình hình, kết quả thực hiện Nghị quyết của HĐND tỉnh về phát triển kinh tế - xã hội năm 2019 và ban hành nghị quyết về kinh tế - xã hội; Đồng thời, tại kỳ họp, dự kiến sẽ thông qua 28 báo cáo và 28 nghị quyết (trong đó, có 04 nghị quyết về công tác nhân sự, 01 về kinh tế - xã hội, 15 nghị quyết lĩnh vực kinh tế - ngân sách, 04 nghị quyết lĩnh vực văn hóa - xã hội, 03 nghị quyết lĩnh vực pháp chế, 01 nghị quyết về tổ chức các kỳ họp thường lệ HĐND tỉnh năm 2020).

Các nghị quyết về nhân sự lần này sẽ tiến hành các thủ tục theo luật định để miễn nhiệm chức danh Phó Chủ tịch HĐND tỉnh (lý do nghỉ hưu theo quy định) và miễn nhiệm 02 Ủy viên Ủy ban nhân dân tỉnh (lý do chuyển công tác); Đồng thời tiến hành bầu bổ sung chức danh Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh và 01 Ủy viên Ủy ban nhân dân nhiệm kỳ 2016 - 2021.

Các nghị quyết về phát triển kinh tế - xã hội, tập trung đánh giá khách quan, toàn diện tình hình phát triển kinh tế - xã hội năm 2019 và thảo luận, xem xét và quyết nghị thông qua 23 nghị quyết trên các lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng và những vấn đề quan trọng khác. Cụ thể: 01 NQ về KT-XH; 15 NQ lĩnh vực kinh tế - ngân sách; 03 NQ lĩnh vực pháp chế; 04 NQ lĩnh vực văn hóa - xã hội.

Thảo luận, cho ý kiến các báo cáo báo cáo kết quả tiếp xúc cử tri của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh trước kỳ họp thứ 12 và thông báo của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh tham gia xây dựng chính quyền; báo cáo của Thường trực và các ban Hội đồng nhân dân tỉnh; báo cáo của Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân và Cục Thi hành án dân sự tỉnh; các báo cáo thẩm tra của các Ban HĐND tỉnh theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương.

Kỳ họp này, Hội đồng nhân dân tỉnh cũng sẽ tiến hành chất vấn và các sở, ngành liên quan trả lời chất vấn đối với 08 nhóm vấn đề liên quan đến 07 thủ trưởng các đơn vị sở, ngành và Phó Chủ tịch UBND tỉnh. Đây là hình thức hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân, của toàn thể cử tri trên địa bàn, nhất là giám sát việc thực hiện lời hứa của Thủ trưởng các cơ quan chức năng.

PV. Trong các nội dung ông vừa nêu, kỳ họp này sẽ đưa ra nhiều Nghị quyết quan trọng để đánh giá toàn diện các chỉ tiêu phát triển tỉnh nhà. Xin ông chia sẻ thêm những vấn đề này.

Phó Chủ tịch HĐND tỉnh Đỗ Tấn Kiết: Năm 2020 là năm có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 05 năm 2016 - 2020 theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh và Hội đồng nhân dân tỉnh đề ra. Để góp phần phát triển kinh tế - xã hội tỉnh nhà, HĐND tỉnh sẽ xem xét cho ý kiến một số vấn đề có tính chất tháo gỡ khó khăn cũng như thúc đẩy sự phát triển của tỉnh như: Nghị quyết về nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 2020. Nghị quyết về phê chuẩn dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn, thu, chi ngân sách địa phương và phân bổ ngân sách địa phương tỉnh An Giang năm 2020. Nghị quyết về Tổng mức vay, kế hoạch vay, trả nợ của ngân sách tỉnh An Giang năm 2020. Nghị quyết về phương án phân bổ kế hoạch vốn đầu tư phát triển năm 2020. (vốn đầu tư tập trung và vốn thu từ xổ số kiến thiết). Nghị quyết về việc phương án phân bổ Kế hoạch vốn và danh mục chi tiết các xã sử dụng nguồn vốn đầu tư phát triển ngân sách trung ương thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia năm 2020 trên địa bàn tỉnh An Giang. Nghị quyết về việc thông qua Đề án chính sách thu hút nguồn nhân lực y tế giai đoạn 2019 - 2025. Nghị quyết về việc giao số biên chế công chức, hợp đồng lao động theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP Nghị định số 161/2018/NĐ-CP trong các cơ quan hành chính nhà nước và tạm giao số lượng người làm việc, hợp đồng lao động theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP, Nghị định số 161/2018/NĐ-CP trong các đơn vị sự nghiệp công lập và hội có tính chất đặc thù trên địa bàn tỉnh An Giang năm 2020.

Trong bối cảnh dự báo tình hình kinh tế thế giới và trong nước có những diễn biến phức tạp tác động đến sản xuất, tiêu thụ sản phẩm của các thành phần kinh tế trong tỉnh, Hội đồng nhân dân tỉnh đề nghị Uỷ ban nhân dân tỉnh tập trung thực hiện quyết liệt các chỉ tiêu, nhiệm vụ, giải pháp trong năm 2020 đã được Hội đồng nhân dân thống nhất thông qua cũng như các chỉ tiêu của nghị quyết kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020.

PV. Trong các buổi tiếp xúc cử tri trước kỳ họp, theo ông, các ý kiến của cử tri đã gửi gắm những vấn đề bức xúc nào để kỳ họp lần này phân tích và thảo luận?

Phó Chủ tịch HĐND tỉnh Đỗ Tấn Kiết: Để chuẩn bị cho kỳ họp, Thường trực HĐND tỉnh đã phối hợp với Ban Thường trực UBMTTQVN tỉnh tổ chức tiếp xúc cử tri tại 134 điểm tiếp xúc tại 11 huyện, thị xã, thành phố toàn tỉnh, có 10.272 lượt cử tri tham dự và có 626 lượt cử tri phát biểu ý kiến liên quan đến các lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội và đời sống dân sinh. Tuy nhiên, nhiều cử tri cũng bày tỏ những băn khoăn, trăn trở trên nhiều lĩnh vực, mong các ngành chức năng xem xét, giải quyết như:

- Một số công trình giao thông, tuyến đường xuống cấp nhưng chậm được duy tu, sửa chữa (huyện Châu Phú, huyện Phú Tân, Huyện Tri Tôn, huyện Tịnh Biên, huyện Châu Thành)

- Vấn đề ô nhiễm môi trường tại các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh (khu công nghiệp Bình Long, huyện Châu Phú)

- Tội phạm ma túy An Giang diễn biến phức tạp không chỉ ở thành thị mà gần như đều khắp nông thôn (phát hiện và bắt giữ tăng 13,9% (131/115 vụ)).

- Tình hình sạt lở bờ sông (huyện Châu Phú, huyện Chợ Mới, thị xã Tân Châu).

Qua các ý kiến, kiến nghị của cử tri, Thường trực HĐND tỉnh đã chọn những nội dung bức xúc để chất vấn các sở ngành.

PV. Với tư cách lãnh đạo HĐND tỉnh, ông có đánh giá như thế nào đối với các vấn đề mà công tác thẩm tra trước kỳ họp của các Ban HĐND tỉnh đã thẩm tra thực tế tại các địa phương. Trong đó, đạt và chưa đạt ở những điểm nào?

Phó Chủ tịch HĐND tỉnh Đỗ Tấn Kiết: Việc thẩm tra các báo cáo, đề án và dự thảo nghị quyết được các Ban HĐND tỉnh thực hiện đúng trình tự và thời gian quy định. Báo cáo thẩm tra đánh giá toàn diện về sự phù hợp của các dự thảo nghị quyết, báo cáo, đề án với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tình hình, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, thể hiện rõ quan điểm, chính kiến của Ban về những vấn đề thuộc nội dung thẩm tra, ý kiến thống nhất hoặc không thống nhất và đề xuất những nội dung cần sửa đổi, bổ sung, phương án xử lý đối với những vấn đề còn có ý kiến khác nhau để HĐND thảo luận, cho ý kiến. Nhìn chung, chất lượng các báo cáo thẩm tra là kênh thông tin quan trọng, ý kiến phản biện có giá trị, giúp cho các đại biểu HĐND nhìn nhận vấn đề một cách khách quan, toàn diện, có thêm căn cứ để tham gia đóng góp ý kiến và quyết định các vấn đề quan trọng tại kỳ họp.

Tuy nhiên, cũng còn những hạn chế, tồn tại: Việc tham mưu của một số sở, ban, ngành tỉnh chuẩn bị các tờ trình, dự thảo nghị quyết phục vụ kỳ họp thứ 12 HĐND còn chậm, nội dung còn sơ sài, chưa chặt chẽ, chưa đảm bảo yêu cầu nên UBND tỉnh đã xin rút 10 tờ trình và sẽ trình tại kỳ họp gần nhất khi đã hoàn chỉnh về nội dung và hình thức, cụ thể: Lĩnh vực kinh tế - ngân sách: 02 tờ trình. Lĩnh vực văn hóa - xã hội: 06 tờ trình. Lĩnh vực pháp chế: 02 tờ trình.

PV. Kỳ họp lần thứ 12 đóng vai trò rất quan trọng do đây là kỳ họp gần như đánh giá nhiều mặt kinh tế - xã hội tỉnh An Giang. Do vậy, phiên chất vấn và trả lời chất vấn sẽ tập trung những vấn đề then chốt và xin ông chia sẻ thêm về những cải cách trong hoạt động chất vấn, trả lời chất vấn trong kỳ họp này?

Phó Chủ tịch HĐND tỉnh Đỗ Tấn Kiết: Vấn đề chất vấn và trả lời chất vấn là một trong những nội dung hết sức quan trọng luôn được Thường trực HĐND tỉnh quan tâm chỉ đạo trong các kỳ họp HĐND tỉnh. Căn cứ quy định tại khoản 2, Điều 60 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND, Thường trực HĐND đã đề nghị HĐND quyết định nhóm vấn đề chất vấn và người bị chất vấn, gồm các lĩnh vực: ngân sách, tài chính, nông nghiệp, y tế, lao động, tài nguyên, ma túy, tòa án, giao thông, hàng gian, hàng giả… Qua đó, đã có 15 câu hỏi liên quan đến 8 nhóm vấn đề chất vấn, cụ thể: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - chi nhánh An Giang; Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Sở Y tế; Sở Lao động, Thương binh và Xã hội; Sở Tài nguyên và Môi trường; Sở Kế hoạch và Đầu tư; Công an tỉnh; Tòa án nhân dân tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh và Phó Chủ tịch UBND tỉnh.

Có thể nói, chất vấn và trả lời chất vấn là một hoạt động sinh hoạt dân chủ trong các kỳ họp của HĐND tỉnh. Tuy nhiên với quỹ thời gian không nhiều, do vậy các cơ quan nhận được câu chất vấn của đại biểu phải có trách nhiệm chuẩn bị giải trình trước kỳ họp. Thường trực HĐND tỉnh cũng yêu cầu giám đốc (thủ trưởng) các sở, ngành phải trả lời thẳng vào vấn đề và đưa ra được những nhiệm vụ, giải pháp trong thời gian tới để khắc phục những vấn đề tồn tại mà cử tri còn băn khoăn; đồng thời cam kết những nội dung hứa trước nhân dân và hứa trước cử tri về thời gian thực hiện của mình. Đó cũng là điều kiện để nhân dân cử tri xem xét giám sát, đồng thời qua đó có sự đánh giá trong lãnh đạo chỉ đạo thực hiện của các ngành địa phương và trong quá trình giải trình chất vấn, trả lời chất vấn sẽ có sự trao đổi qua lại giữa đại biểu HĐND tỉnh với các ngành. Do đó, cần phải đòi hỏi sự chuẩn bị cũng như thái độ trách nhiệm của từng thủ trưởng các ngành, địa phương trước nhân dân.

PV. Cuối cùng, ông có đôi lời nào gửi gắm với cử tri tỉnh nhà trước khi kỳ họp diễn ra.

Phó Chủ tịch HĐND tỉnh Đỗ Tấn Kiết: Qua tiếp xúc cử tri và thảo luận tổ tại huyện, thị xã, thành phố, Thường trực HĐND tỉnh ghi nhận ý kiến, kiến nghị của cử tri trước kỳ họp HĐND tỉnh, chọn lọc và tổng hợp kịp thời gửi đến UBND tỉnh và các sở, ngành trả lời cho bà con cử tri biết. Từ nay đến kỳ họp HĐND tỉnh, rất mong bà con cử tri phản ánh những vấn đề có liên quan đến phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và một số vấn đề khác qua đường dây nóng của kỳ họp HĐND tỉnh với số điện thoại 02963.852.289.

Sau kỳ họp HĐND tỉnh, sẽ là kỳ họp của HĐND huyện, thị xã, thành phố rất mong bà con cử tri tiếp tục phản ánh những nội dung, phương án khả thi để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

PV. Xin cảm ơn ông!

PV.HT - Đài PTTHAG
True
75 năm keo sơn gắn bó "như cá với nước" (None)75 năm keo sơn gắn bó "như cá với nước" /Imagesnews/bo-doi-giup-dan.jpg

Trên chặng đường lịch sử 75 năm xây dựng và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam, mỗi chiến công, mỗi bài học kinh nghiệm của đội quân cách mạng đều gắn liền với nguồn sức mạnh của sự gắn bó keo sơn thắm thiết quân dân.

07/12/2019 4:00 CHYesĐã ban hành
Là quân đội của nhân dân, gắn bó và yêu thương, kính trọng nhân dân, vì nhân dân mà chiến đấu, đó là bản chất của quân đội cách mạng, đó cũng chính là nhân tố quan trọng góp phần làm nên sức mạnh tổng hợp về chính trị, tinh thần, ý chí quyết chiến, quyết thắng, tài thao lược của quân đội ta trước mọi kẻ thù, trong mọi hoàn cảnh.


Quân đội nhân dân anh hùng của dân tộc Việt Nam anh hùng

TỪ NHÂN MÀ RA, VÌ NHÂN DÂN MÀ CHIẾN ĐẤU

Để tiến hành sự nghiệp giải phóng dân tộc và đi lên chủ nghĩa xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng, trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, việc xây dựng lực lượng chính trị của cách mạng là điều cơ bản nhất, là việc phải làm đầu tiên, rồi mới xây dựng quân đội, xây dựng lực lượng vũ trang. Đó chính là quan điểm “người trước súng sau”, là xây dựng lực lượng chính trị của quần chúng để trên nền tảng đó xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, tiến hành khởi nghĩa vũ trang, đánh đuổi kẻ thù, giành lấy chính quyền, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; là luôn tăng cường và đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, bảo đảm cho quân đội luôn trung thành tuyệt đối với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, với lợi ích của giai cấp công nhân, của dân tộc và nhân dân lao động.

Trên tinh thần đó, vấn đề “tổ chức ra quân đội công nông”[1] đã được khẳng định trong Chánh cương vắn tắt của Đảng (thông qua tại Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam mùa Xuân năm 1930). Tiếp đó, khởi đầu từ những Đội tự vệ đỏ trong phong trào Xô Viết - Nghệ Tĩnh, đến đội vũ trang Cao Bằng, du kích Nam Kỳ, Bắc Sơn (sau đổi thành Cứu quốc quân), Ba Tơ,… cùng với sự phát triển của tiến trình cách mạng, thực hiện Chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã được thành lập ngày 22/12/1944. Với thắng lợi ban đầu (hạ đồn Phai Khắt, Nà Ngần) và từ 34 chiến sĩ đầu tiên, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã ngày càng mở rộng địa bàn hoạt động, đã phát triển từ đội thành đại đội, rồi đại đội chủ lực đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam. Tiền đồ của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân rất vẻ vang, “nó là khởi điểm của giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam”[2].

Từ buổi đầu thành lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Đội quân đó từ nhân dân mà ra nên phải dựa vào dân, luôn gắn bó với nhân dân, gần gũi nhân dân, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, vì nhân dân mà chiến đấu để được dân tin, dân yêu, dân giúp đỡ, bao bọc và chở che. Vì chỗ dựa vững chắc nhất của quân đội là lòng dân, cho nên “trung với nước, hiếu với dân là bổn phận thiêng liêng, một trách nhiệm nặng nề nhưng cũng là vinh dự của người chiến sĩ”[3] và “phải làm cho quân đội ta thành một quân đội chân chính của nhân dân”[4]. Đồng thời, thấm nhuần chỉ dẫn của Người: “Điểm trọng yếu là bất kỳ bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích đều phải bám sát lấy dân, rời dân ra nhất định thất bại. Bám lấy dân là làm sao cho được lòng dân, dân tin, dân mến, dân yêu. Như vậy thì bất kỳ việc gì khó cũng làm được và nhất định thắng lợi”[5], trong mọi hoàn cảnh, quân đội “phải tăng cường công tác chính trị, luôn nâng cao trình độ chính trị và giác ngộ giai cấp của bộ đội”, phải làm cho “mỗi người binh sĩ phải biết chính trị ít nhiều. Họ đem xương máu ra giữ gìn Tổ quốc, thì chẳng những họ phải hiểu vì sao mà hy sinh, họ lại phải có thể nói cho người khác biết vì sao phải yêu nước”[6]…

Đây chính là sức mạnh của quân đội cách mạng, thể hiện sâu sắc tư tưởng xây dựng quân đội nhân dân cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh; đồng thời, cho thấy sự khác biệt với quan điểm quân sự tư sản, lấy vai trò của chỉ huy với một đội quân nhà nghề cùng súng ống, vũ khí và trang bị kỹ thuật làm sức mạnh. Đó luôn là đội quân chiến đấu, đội quân công tác và sản xuất, thực hiện tốt nhiệm vụ vừa tiêu diệt địch, bảo vệ nhân dân vừa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đó cũng chính là đội quân luôn trung thành tuyệt đối với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, với lợi ích của giai cấp công nhân, của dân tộc và nhân dân lao động, luôn thực hiện mối quan hệ quân dân gắn bó “như cá với nước” và nhận được sự góp sức người, sức của từ nhân dân.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Việt Nam giải phóng quân (do Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và Cứu quốc quân hợp lại) đã cùng toàn dân vùng lên đấu tranh, giành thắng lợi trong cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sau đó, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ trong toàn quốc, thấu triệt quan điểm: 1) Mục đích của cuộc kháng chiến là đánh thực dân phản động Pháp, giành độc lập thống nhất. 2) Tính chất cuộc kháng chiến là toàn dân, toàn diện, trường kỳ. 3) Chính sách kháng chiến là đoàn kết toàn dân, đoàn kết quốc tế, v.v..4) Tiến hành kháng chiến toàn diện, kết hợp các mặt trận và các hình thức đấu tranh; trong đó, đấu tranh quân sự là chủ chốt, Quân đội nhân dân Việt Nam (với các tên gọi Việt Nam giải phóng quân, Vệ quốc quân, Quân đội quốc gia Việt Nam và cuối cùng là Quân đội nhân dân Việt Nam) đã ngày một phát triển về số lượng và nâng cao trình độ tác chiến, tài thao lược trên các chiến trường.

Quân đội luôn được “tổ chức chặt chẽ, tập luyện hẳn hoi, chuẩn bị chu đáo”[7] thường xuyên, liên tục để đảm bảo sẵn sàng chiến đấu; đội ngũ cán bộ - “những người tướng giỏi của đoàn thể” và chiến sĩ quân đội luôn được chú trọng đào tạo và bồi dưỡng đã xuất phát từ thực tiễn và vận dụng sáng tạo kinh nghiệm đánh giặc của tổ tiên “lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ đánh lớn, lấy yếu chống mạnh”,v.v.. để từng bước chuyển từ thế phòng ngự sang thế tiến công; đã kiên cường, mưu trí và kiên trì, sáng tạo giành thắng lợi to lớn trong trận Điện Biên Phủ, kết thúc 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.


Chủ tịch Hồ Chí Minh quan sát đồn Đông Khê tại Chiến dịch Biên giới năm 1950

Tuy nhiên chiến tranh chưa kết thúc, không chỉ giúp thực dân Pháp trong cuộc chiến tranh Đông Dương, khi Pháp bại trận, đế quốc Mỹ đã ngang nhiên tuyên bố không bị ràng buộc bởi Hiệp định Giơnevơ, can thiệp sâu vào miền Nam Việt Nam, nhằm biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước bảo vệ độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc của nhân dân Việt Nam đã trở thành một cuộc đụng đầu lịch sử. Quyết tâm đánh Mỹ và quyết tâm thắng Mỹ, cả nước đã tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân với tinh thần đoàn kết “triệu người như một”, với niềm tin chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” và ý chí “đánh cho đến thắng lợi hoàn toàn, đánh cho đến độc lập và thống nhất thực sự”.

Tiếp tục phát huy truyền thống “cả nước đánh giặc” của cha ông trong lịch sử, thấm nhuần lời dạy của Lênin, khi có chiến tranh phải “biến cả nước thành một dinh luỹ cách mạng”, lực lượng vũ trang cách mạng bao gồm bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích được xây dựng và ngày càng phát triển, hình thành thế trận bao vây và tiêu diệt địch. Để tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, xuất phát từ thực tiễn, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Phải xây dựng quân đội ngày càng hùng mạnh và sẵn sàng chiến đấu để giữ gìn hoà bình, bảo vệ đất nước, bảo vệ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc làm hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà”[8].

Để thực hiện lời Người, đồng thời để có đủ sức mạnh chiến thắng kẻ thù, cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam đã ra sức rèn luyện, học tập nâng cao trình độ tác chiến trên chiến trường, phối hợp với quân dân miền Bắc vừa sản xuất vừa chiến đấu, tạo thành nguồn sức mạnh tổng hợp nhằm đưa cách mạng tiến lên bằng những bước nhảy vọt. Cuối cùng, không chỉ phát triển về mọi mặt, không chỉ luôn rèn luyện và ngày một trưởng thành mà quân đội ta còn chớp đúng thời cơ và “thần tốc, thần tốc, thần tốc hơn nữa” để giành thắng lợi trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, kết thúc thắng lợi cuộc Tổng tấn công mùa xuân 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đát nước.

MÃI XỨNG DANH “BỘ ĐỘI CỤ HỒ”

Là quân đội của nhân dân, với sự nỗ lực đoàn kết của toàn quân, đoàn kết quân dân và đoàn kết quốc tế, Quân đội nhân dân Việt Nam - công cụ bạo lực vũ trang chủ yếu của Đảng, Nhà nước và nhân dân đã góp phần to lớn vào thắng lợi chung của dân tộc. Đối lập về bản chất với quân đội của giai cấp bóc lột và quân đội xâm lược của các nước đế quốc, thực dân, Quân đội nhân dân Việt Nam được tổ chức và xây dựng theo quan điểm của Hồ Chí Minh: “Đối với nhân dân, nhân dân là nền tảng, là cha mẹ của bộ đội”[9], “quân đội nhân dân, từ nhân dân tổ chức ra, được nhân dân nuôi nấng, giúp đỡ, vì nhân dân mà chiến đấu”[10].

Luôn ghi nhớ “dân là chủ. Dân như nước, mình như cá. Lực lượng bao nhiêu là nhờ ở dân hết” và  “muốn giết địch, thắng trận thì phải có đồng bào giúp mọi mặt. Muốn được đồng bào vui lòng giúp, thì phải giúp đỡ đồng bào, kính trọng đồng bào. Đó là con đường thắng lợi”[11], mỗi quân nhân cách mạng đều thấm nhuần và tuân theo "Mười điều kỷ luật" do Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo và yêu cầu cán bộ, chiến sĩ thực hiện:

1/Phải phục tùng mệnh lệnh của cấp trên.
2/Không được lấy cái kim sợi chỉ của dân.
3/Mua bán với dân phải công bằng.
4/Không được lấy của công làm của riêng.
5/Nói năng với dân phải lễ phép.
6/Phải giữ gìn sạch sẽ nhà cửa, vườn tược của dân nơi đóng quân.
7/Mượn cái gì của dân dùng xong phải đem trả.
8/Làm hư hại cái gì của dân phải bồi thường.
9/Không tắm rửa trước phụ nữ.
10/Không rượu chè, cờ bạc, hút thuốc phiện

Lịch sử cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng lãnh đạo đã chứng minh rằng, Quân đội nhân dân Việt Nam “mạnh là nhờ giáo dục khéo, nhờ chính sách đúng và kỷ luật nghiêm” và “quân đội ta có sức mạnh vô địch vì nó là quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục”[12]. Đó cũng chính là quá trình trang bị và giáo dục cho những người quân nhân cách mạng về lý tưởng, mục tiêu, đường lối của Đảng, về nhiệm vụ cách mạng, thể hiện từ nhận thức trở thành bản lĩnh chính trị, thành niềm tin, thành ý chí và quyết tâm hành động. Quân đội nhân dân Việt Nam là tập hợp đông đảo những người công nhân, nông dân, trí thức dũng cảm vốn xuất thân “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu” đã luôn dựa vào nhân dân như “cá với nước”; có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân, sẵn sàng chiến đấu vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Mỗi cán bộ, chiến sĩ dù ở cấp bậc nào cũng luôn rèn luyện và gương mẫu về đạo đức, lối sống trong chiến đấu cũng như trong cuộc sống đời thường; luôn nỗ lực học tập để nâng cao năng lực toàn diện, sẵn sàng tác chiến trong thời chiến cũng như thời bình; đều sẵn sàng vượt qua cực khổ, khó khăn, chống lại những vinh hoa, phú quý không chính đáng; luôn thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, đồng cam cộng khổ cùng nhau trên cơ sở thực sự phát huy dân chủ.

Là quân đội của nhân dân, gắn bó và yêu thương, kính trọng nhân dân, vì nhân dân mà chiến đấu, đó là bản chất của quân đội cách mạng, đó cũng chính là nhân tố quan trọng góp phần làm nên sức mạnh tổng hợp về chính trị, tinh thần, ý chí quyết chiến, quyết thắng, tài thao lược của quân đội ta trước mọi kẻ thù, trong mọi hoàn cảnh. Là quân đội của nhân dân, những người lính “bộ đội Cụ Hồ" không chỉ đánh giặc giỏi mà còn là những người sẵn sàng giúp dân về mọi mặt, tham gia chống thiên tai, bảo vệ an toàn tính mạng và tài sản của nhân dân, xứng đáng với niềm tin yêu của nhân dân, nhưng quyết “không động đến cái kim và sợi chỉ của nhân dân”, để “làm cho dân mến, khi sắp tới dân mong, khi đi dân tiếc”.

75 năm xây dựng, rèn luyện và ngày một trưởng thành, là lực lượng trung thành, tin cậy của Đảng, của chế độ, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn xứng đáng với lời khen tặng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”[13].

Trong bối cảnh đất nước đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng, trước cả thuận lợi và khó khăn, thách thức của thời kỳ mới, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững ổn định chính trị của đất nước, ngăn ngừa, đẩy lùi và làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá, thù địch, không để bị động bất ngờ… càng đặt ra cho Quân đội nhân dân Việt Nam trọng trách lớn lao.

Nhận rõ sức mạnh của Quân đội nhân dân Việt Nam chính là sức mạnh chính trị, là từ sự lãnh đạo của Đảng, các thế lực thù địch, phản động ngày càng tăng cường thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, “bạo loạn lật đổ”, đòi “phi chính trị hóa” quân đội, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, âm mưu muốn xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với quân đội. Chúng không ngừng kích động gây mâu thuẫn giữa quân đội với nhân dân, với công an; cán bộ đảng, chính quyền với cán bộ, chiến sĩ trong quân đội; giữa cán bộ với chiến sĩ, hòng phá hoạt sự đoàn kết, thống nhất nội bộ, làm mai một truyền thống quân dân "như cá với nước” và sự đoàn kết hợp đồng các lực lượng trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa của quân đội ta. Chúng còn cổ súy tâm lý “tự do”, ngại kỷ luật chặt chẽ, nghiêm minh trong quân đội, lối sống thực dụng, buông thả, vị kỷ để không chỉ nhằm kích động tư tưởng công thần, địa vị, bè phái, cục bộ, đòi hưởng thụ đãi ngộ của các "bậc công thần"; kêu gọi quân đội liên minh với quân đội một số nước để tiến lên hiện đại, trở thành quân đội “nhà nghề” như quân đội các nước tư bản mà còn thúc đẩy sự tha hóa, biến chất, “tự diễn biến” trong nội bộ quân đội theo ý đồ của chúng.
bo-doi-giup-dan.jpg
Bộ đội giúp dân khi lũ về

Tuy nhiên, càng nhiều cam go, thử thách, yêu cầu và đòi hỏi phải xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam xứng đáng là “lực lượng trụ cột” của cách mạng Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam càng trở nên bức thiết. Càng phải đối phó với những âm mưu, thủ đoạn ngày càng tăng của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động, thù địch, càng phải xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam xứng đáng là lực lượng nòng cốt của sức mạnh quốc phòng toàn dân; là lực lượng chiến đấu trong sạch, vững mạnh, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân. Trên tinh thần đó, phải tạo nên sức mạnh tổng hợp của quốc gia về cả tiềm lực và thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận lòng dân, an ninh nhân dân gắn với xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại” như Nghị quyết Đại hội XII của Đảng và Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định, kết hợp với sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế và vận dụng sáng tạo thành tựu khoa học kỹ thuật của nền kinh tế tri thức. Trong “từng bước hiện đại hoá” quân đội, tư tưởng “người trước, súng sau” của Chủ tịch Hồ Chí Minh phải được thấm nhuần trong từng quyết sách, để giải quyết đúng đắn mối quan hệ con người và vũ khí, trong đó con người có vai trò quyết định.

Để phát huy truyền thống “bộ đội Cụ Hồ” và xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam phát triển vững mạnh, toàn diện, cần tập trung thực hiện một số giải pháp và nhiệm vụ trọng tâm sau:

Một là, tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp, toàn diện, thường xuyên của Đảng đối với quân đội: trong công tác Đảng, công tác chính trị, xác định nhiệm vụ chính trị, quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc; đường lối xây dựng thế trận lòng dân, nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân gắn với xây dựng, củng cố thế trận chiến tranh nhân dân; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; xây dựng, phát triển nền khoa học quân sự, nghệ thuật quân sự, chính sách hậu phương quân đội; xây dựng cơ sở vật chất, khí tài… Tiếp tục xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam "cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại"; trong đó, chú trọng xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của toàn lực lượng. Cụ thể, chú trọng nâng cao chất lượng hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị; nâng cao ý chí, quyết tâm bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân trong tình hình mới; tăng cường giáo dục truyền thống yêu nước, chống giặc ngoại xâm của dân tộc gắn với truyền thống lịch sử của quân đội, đơn vị...

Hai là, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, làm cho cán bộ, chiến sĩ tiếp tục kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; làm cho bản chất cách mạng, truyền thống “bộ đội Cụ Hồ” thấm sâu vào mỗi cán bộ, chiến sĩ quân đội. Đồng thời, tăng cường đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng; chủ động đấu tranh phản bác các luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc của các thế lực thù địch, nhất là âm mưu xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng với quân đội, thúc đẩy “phi chính trị hóa” quân đội, chia rẽ quân đội với Đảng, Nhà nước và nhân dân. Xây dựng và củng cố mối quan hệ trong quân đội và giữa quân đội với các thành tố trong hệ thống chính trị, với nhân dân, với bạn bè quốc tế gắn với không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ, chiến sĩ, xây dựng môi trường văn hoá quân sự lành mạnh. Qua đó, tạo sự “miễn dịch”, tăng sức “đề kháng” phòng ngừa sự tác động, xâm nhập từ mặt trái xã hội vào môi trường quân đội, góp phần phòng, chống, ngăn chặn các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Ba là, tiếp tục đẩy mạnh giáo dục về bản chất, truyền thống vẻ vang của quân đội, bản chất, truyền thống mối quan hệ đoàn kết quân dân gắn bó như “cá với nước” cho cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân gắn với tăng cường giáo dục, quán triệt trong toàn lực lượng đường lối, quan điểm của Đảng về công tác dân vận, Quy chế dân chủ cơ sở, về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh... Bồi đắp, xây dựng lòng tự hào, ý thức trách nhiệm cho mọi cán bộ, chiến sĩ để tiếp tục vun đắp, củng cố, phát huy, phát triển mối quan hệ gắn bó giữa quân đội với nhân dân trong giai đoạn hiện nay trên tinh thần: Gắn bó với nhân dân, dựa vào nhân dân, đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi với nhân dân, toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân để được nhân dân chăm lo, giáo dục và cùng nhân dân phối hợp chiến đấu, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Để bảo đảm thực hiện tốt nhiệm vụ, chức năng là đội quân công tác, góp phần xây dựng thế trận lòng dân vững chắc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, mỗi cán bộ, chiễn sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam không chỉ thường xuyên tuyên truyền, vận động, giúp đỡ và bảo vệ nhân dân mà còn thiết thực tiết kiệm của cải cho nhân dân, kết hợp với tăng gia sản xuất để giảm việc đóng góp của nhân dân, góp phần nâng cao đời sống nhân dân.

Bốn là, mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam không ngừng rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị, tu dưỡng đạo đức người quân nhân cách mạng, năng lực lãnh đạo, chỉ huy, tác chiến, trình độ chuyên môn kỹ thuật, nghiệp vụ và sức mạnh chiến đấu toàn diện để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của quân đội; đồng thời, thực hiện đoàn kết chặt chẽ trong nội bộ, đoàn kết trong nước và quốc tế. Trong mọi thời điểm, phải giữ nghiêm kỷ luật, chân thành giúp đỡ lẫn nhau trên cơ sở đường lối, chủ trương, nguyên tắc của Đảng, lợi ích của nhân dân và chức năng, nhiệm vụ của quân đội; trên cơ sở kỷ luật quân đội, tình thương yêu giữa cán bộ và chiến sĩ, giữa cấp trên và cấp dưới để kết thành một khối thống nhất, vững chắc. Trong bất luận hoàn cảnh nào, thực hiện nhiệm vụ gì “cán bộ và chiến sĩ thương yêu nhau như ruột thịt, chia ngọt sẻ bùi. Quân và dân như cá với nước, đoàn kết một lòng, học hỏi, giúp đỡ lẫn nhau”[14], cũng luôn dũng cảm, tận tụy, mưu trí và sáng tạo, đem hết tinh thần, sức lực, trí tuệ, tài năng, kiên quyết hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ trong chiến đấu và mọi mặt công tác như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn./.

TS. Văn Thị Thanh Mai, Ban Tuyên giáo Trung ương
Ths. Vũ Văn Tuấn, Học viện Kỹ thuật Quân sự
-----------------

[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, t.3, tr.1
[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, t.3, tr.540
[3] Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội.1974, t.1, tr.236
[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, t.7, tr.37
[5] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, t.7, tr.448
[6] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, t.5, tr.121
[7] Hồ Chủ tịch với các lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1962, tr.69
[8] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, t.11, tr.365
[9] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, t.5, tr.485
[10] Nghị quyết quân sự của Đảng 1930-1960, tr.105
[11] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, t.5, tr.492
[12] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, t.14, tr.435
[13] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, t.14, tr.435
[14] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, t.14, tr.435
True
Đề cương tuyên truyền kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930-3/2/2020) (None)Đề cương tuyên truyền kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930-3/2/2020) http://tuyengiaoangiang.vn/images/2019/thang11/Thang-lap-dang-3-2.jpg

​(TUAG)- Ban Tuyên giáo Trung ương ban hành Đề cương tuyên truyền 90 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Cổng thông tin Đảng bộ An Giang trân trọng giới thiệu toàn văn bản Đề cương.

28/11/2019 4:00 CHNoĐã ban hành
 

I. ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM RA ĐỜI LÀ BƯỚC NGOẶT TO LỚN TRONG LỊCH SỬ CÁCH MẠNG VIỆT NAM
1. Bối cảnh lịch sử ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam

1.1. Bối cảnh quốc tế

Từ cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang chủ nghĩa đế quốc. Các nước tư bản đế quốc thực hiện chính sách: bên trong tăng cường bóc lột nhân dân lao động, bên ngoài gia tăng các hoạt động xâm lược và áp bức nhân dân các dân tộc thuộc địa. Sự thống trị của chủ nghĩa đế quốc làm đời sống nhân dân lao động trên thế giới trở nên cùng cực. Mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa thực dân ngày càng gay gắt. Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc diễn ra mạnh mẽ ở các nước thuộc địa.

Năm 1917, với thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga, chủ nghĩa Mác -Lênin từ lý luận đã trở thành hiện thực, mở ra một thời đại mới trong lịch sử loài người; là ánh sáng soi đường cho các dân tộc bị áp bức đứng lên đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.

Tháng 3 năm 1919, Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III) ra đời đã thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Đối với Việt Nam, Quốc tế Cộng sản có vai trò quan trọng trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin và thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

1.2. Bối cảnh trong nước

- Năm 1858, thực dân Pháp xâm lược Việt Nam và từng bước thiết lập bộ máy thống trị, biến nước ta từ một quốc gia phong kiến thành “một xứ thuộc địa, dân ta là vong quốc nô, Tổ quốc ta bị giày xéo dưới gót sắt của kẻ thù hung ác”. Chính sách thống trị của thực dân Pháp đã làm cho xã hội Việt Nam có nhiều thay đổi.

Về chính trị, thực dân Pháp thi hành chính sách cai trị thực dân, tước bỏ quyền lực đối nội, đối ngoại của chính quyền phong kiến nhà Nguyễn, đó là một chính sách chuyên chế điển hình, chúng đàn áp đẫm máu các phong trào và hành động yêu nước của người Việt Nam, mọi quyền tự do bị cấm. Chúng chia rẽ ba nước Đông Dương, chia Việt Nam thành ba kỳ (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ) và thực hiện ở mỗi kỳ một chế độ cai trị riêng.

Về kinh tế, thực dân Pháp cấu kết với giai cấp địa chủ để thực hiện chính sách bóc lột tàn bạo, cướp đoạt ruộng đất để lập đồn điền; ra sức vơ vét tài nguyên, cùng nhiều hình thức thuế khóa nặng nề, vô lý; xây dựng một số cơ sở công nghiệp, hệ thống đường giao thông, bến cảng phục vụ chính sách khai thác thuộc địa.

Về văn hóa, thực dân Pháp tiến hành chính sách ngu dân, chúng bưng bít, ngăn cản ảnh hưởng của văn hóa tiến bộ trên thế giới, khuyến khích văn hóa độc hại, xuyên tạc lịch sử, giá trị văn hóa Việt Nam và dung túng, duy trì các hủ tục lạc hậu.

- Sự phân hóa giai cấp và mâu thuẫn xã hội diễn ra ngày càng gay gắt

Phần lớn giai cấp địa chủ cấu kết với thực dân Pháp ra sức bóc lột nông dân; một bộ phận địa chủ có lòng yêu nước, đã tham gia đấu tranh chống Pháp dưới các hình thức và mức độ khác nhau. Các giai cấp, tầng lớp khác trong xã hội Việt Nam đều mang thân phận người dân mất nước và đều bị thực dân áp bức, bóc lột, chèn ép nên đều căm phẫn thực dân Pháp. Do đó, mẫu thuẫn cơ bản trong xã hội Việt Nam lúc này, không chỉ là mâu thuẫn giữa nhân dân, chủ yếu là nông dân với giai cấp địa chủ và phong kiến, mà đã nảy sinh mâu thuẫn ngày càng gay gắt giữa toàn thể nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược.

- Các cuộc khởi nghĩa và phong trào đấu tranh của quần chúng chống thực dân Pháp xâm lược diễn ra mạnh mẽ nhưng đều bị thất bại, xã hội Việt Nam rơi vào khủng hoảng về đường lối cách mạng.

Trước sự xâm lược của thực dân Pháp, các cuộc khởi nghĩa và các phong trào đấu tranh của nhân dân ta diễn ra liên tục và mạnh mẽ. Tuy nhiên do thiếu đường lối đúng đắn, thiếu tổ chức và lực lượng cần thiết nên các phong trào đó đã lần lượt thất bại. Phong trào yêu nước theo ý thức hệ phong kiến như phong trào Cần Vương đã chấm dứt với sự thất bại của cuộc khởi nghĩa Hương Khê do Phan Đình Phùng lãnh đạo (1896); phong trào nông dân Yên Thế của Hoàng Hoa Thám kéo dài 30 năm cũng không giành được thắng lợi. Phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản do các cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Lương Văn Can lãnh đạo cũng rơi vào bế tắc. Cuộc khởi nghĩa Yên Bái do Nguyễn Thái Học lãnh đạo cũng bị thất bại,… Cách mạng Việt Nam chìm trong cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lối cứu nước.

2. Nguyễn Ái Quốc tìm đường cứu nước và chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam

- Giữa lúc dân tộc ta đứng trước cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước, nhiều nhà yêu nước đương thời tiếp tục con đường cứu nước theo lối cũ thì ngày 5/6/1911 người thanh niên Nguyễn Tất Thành (tức là Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh sau này) ra đi tìm đường cứu nước theo phương hướng mới. Với khát vọng cháy bỏng giành độc lập tự do cho dân, cho nước, Nguyễn Tất Thành đã bất chấp mọi nguy hiểm, gian khổ, đi qua nhiều nước của châu Âu, châu Phi, châu Mỹ và đã rút ra chân lý: Chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc thực dân là cội nguồn mọi đau khổ của công nhân và nhân dân lao động ở chính quốc cũng như ở các nước thuộc địa.

- Đầu năm 1919, Nguyễn Tất Thành tham gia Đảng Xã hội Pháp. Tháng 6 năm 1919, với tên mới là Nguyễn Ái Quốc, Người thay mặt những người yêu nước Việt Nam gửi đến Hội nghị Véc-xây Bản yêu sách của nhân dân An Nam gồm 8 điểm đòi Chính phủ Pháp phải thừa nhận các quyền tự do dân chủ và quyền bình đẳng của dân tộc Việt Nam.

- Tháng 7/1920, Nguyễn Ái Quốc được đọc bản “Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của Lênin đăng trên báo Nhân đạo và cũng chính từ đây đã giải đáp cho Người con đường đấu tranh giành độc lập tự do thực sự cho dân tộc, cho đồng bào mình.

- Từ ngày 25 đến 30/12/1920, Nguyễn Ái Quốc tham dự Đại hội lần thứ 18 Đảng Xã hội Pháp với tư cách đại biểu Đông Dương. Kết thúc Đại hội ngày 30/12/1920, Nguyễn Ái Quốc tán thành thành lập Đảng Cộng sản Pháp và trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, và cũng là người Cộng sản đầu tiên của dân tộc Việt Nam.

- Từ năm 1921-1930, Nguyễn Ái Quốc vừa tiếp tục hoạt động trong Đảng Cộng sản Pháp, nghiên cứu bổ sung và hoàn thiện tư tưởng cứu nước, vừa tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Người tập trung chuẩn bị về tổ chức và cán bộ, lập ra Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên (1925), tổ chức nhiều lớp đào tạo cán bộ tại Quảng Châu, Trung Quốc, đồng thời gửi cán bộ đi học tại trường Đại học Phương Đông (Liên Xô) và trường Lục quân Hoàng Phố (Trung Quốc).

Nhờ hoạt động không mệt mỏi của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và nhiều đồng chí cách mạng tiền bối mà đến cuối năm 1929, đầu năm 1930, những điều kiện cho sự ra đời của một Đảng vô sản ở Việt Nam đã chín muồi.

3. Thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam

- Đáp ứng những đòi hỏi của thực tiễn cách mạng, ngày 17/6/1929, Kỳ Bộ Bắc Kỳ Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên đã thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng tại Hà Nội. Tháng 11/1929, các đồng chí Tổng bộ và Kỳ Bộ Nam Kỳ của Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên quyết định thành lập An Nam Cộng sản Đảng. Ngày 1/1/1930, những đại biểu ưu tú của Tân Việt cách mạng Đảng (một tổ chức tiền thân của Đảng) đã họp và thành lập Đông Dương Cộng sản Liên Đoàn ở Trung Kỳ. Tuy nhiên ở một nước có tới ba tổ chức cộng sản nên không tránh khỏi sự phân tán về lực lượng và tổ chức, không thể thống nhất về tư tưởng và hành động. Trách nhiệm lịch sử là phải thành lập một Đảng Cộng sản duy nhất, chấm dứt tình trạng chia rẽ phong trào Cộng sản ở Việt Nam.

- Từ ngày 6/1 đến ngày 7/2/1930, Hội nghị hợp nhất các tổ chức Cộng sản thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đã họp ở bán đảo Cửu Long thuộc Hồng Kông (Trung Quốc) dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc thay mặt cho Quốc tế Cộng sản. Trong Hội nghị thành lập Đảng, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đề ra 5 điểm lớn cần thảo luận và thống nhất, trước hết là tự phê bình và phê bình, “Bỏ mọi thành kiến xung đột cũ, thành thật hợp tác để thống nhất các nhóm cộng sản Đông Dương”. Hội nghị đã nhất trí thống nhất các tổ chức cộng sản thành lập một đảng, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội nghị đã thông qua các văn kiện gồm: Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng và Lời kêu gọi của đồng chí Nguyễn Ái Quốc thay mặt Quốc tế Cộng sản và Đảng Cộng sản Việt Nam gửi đến công nhân, nông dân, binh lính, thanh niên, học sinh và tất cả đồng bào bị áp bức, bóc lột nhân dịp thành lập Đảng. Trong đó, Chánh cương vắn tắt của Đảng và sách lược vắn tắt của Đảng phản ánh nội dung cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội nghị hợp nhất các tổ chức Cộng sản có ý nghĩa như Đại hội thành lập Đảng.

- Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (9/1960) đã quyết nghị lấy ngày 3 tháng 2 dương lịch mỗi năm làm ngày kỷ niệm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

4. Ý nghĩa lịch sử sự ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam và Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng

- Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời với Cương lĩnh chính trị đầu tiên đã mở ra thời kì mới cho cách mạng Việt Nam - thời kì đấu tranh giành độc lập dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội. Cương lĩnh đầu tiên của Đảng ra đời, đã xác định được những nội dung cơ bản nhất của con đường cách mạng Việt Nam; đáp ứng được những nhu cầu bức thiết của lịch sử và trở thành ngọn cờ tập hợp, đoàn kết thống nhất các tổ chức cộng sản, các lực lượng cách mạng và toàn thể dân tộc.

- Sự kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam là một bước ngoặt vô cùng quan trọng của lịch sử cách mạng Việt Nam, quyết định sự phát triển của dân tộc, chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối và tổ chức lãnh đạo của phong trào yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ XX. Đó là kết quả của sự vận động, phát triển và thống nhất phong trào cách mạng trong cả nước; sự chuẩn bị công phu về mọi mặt của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và sự đoàn kết nhất trí của những chiến sỹ tiên phong vì lợi ích của giai cấp, của dân tộc.

- Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là thành quả của sự kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam; chứng tỏ giai cấp công nhân Việt Nam đã trưởng thành, đủ sức lãnh đạo cách mạng.

- Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và việc Đảng chủ trương cách mạng Việt Nam là một bộ phận của phong trào cách mạng thế giới, đã tranh thủ được sự ủng hộ to lớn của cách mạng thế giới, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại làm nên những thắng lợi vẻ vang; đồng thời đóng góp tích cực vào sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc và tiến bộ của nhân loại trên thế giới.

II. NHỮNG MỐC SON CHÓI LỌI VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM TRÊN CHẶNG ĐƯỜNG 90 NĂM VINH QUANG CỦA ĐẢNG

1. Đảng lãnh đạo đấu tranh giành chính quyền (1930 - 1945)

Sau khi ra đời, Đảng đã lãnh đạo nhân dân đấu tranh giải phóng dân tộc, giành chính quyền với 3 cao trào cách mạng có ý nghĩa to lớn đưa đến thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945. Đó là:   
   
- Cao trào cách mạng 1930-1931 mà đỉnh cao là phong trào XôViết - Nghệ Tĩnh: Làm rung chuyển chế độ thống trị của đế quốc Pháp và tay sai. Dưới sự lãnh đạo của Đảng quần chúng cách mạng đã vùng dậy trừng trị bọn cường hào, phản động, tay sai thực dân Pháp, thành lập chính quyền cách mạng ở một số nơi theo hình thức XôViết. Cao trào cách mạng 1930 - 1931 đã khẳng định đường lối cách mạng Việt Nam do Đảng đề ra là đúng đắn và để lại những bài học quý báu về xây dựng liên minh công-nông, về xây dựng Mặt trận Dân tộc Thống nhất, về phát động phong trào quần chúng đấu tranh giành và bảo vệ chính quyền.
- Cao trào cách mạng đòi dân sinh, dân chủ (1936 - 1939): Bằng sức mạnh đoàn kết của quần chúng, dưới sự lãnh đạo của Đảng đã buộc chính quyền thực dân phải nhượng bộ một số yêu sách về dân sinh, dân chủ; quần chúng được giác ngộ về chính trị và trở thành lực lượng chính trị hùng hậu của cách mạng; Đảng đã tích lũy được nhiều bài học kinh nghiệm trong việc xây dựng Mặt trận Dân tộc Thống nhất, kinh nghiệm tổ chức, lãnh đạo quần chúng đấu tranh công khai, hợp pháp...
- Cao trào cách mạng giải phóng dân tộc (1939 - 1945) dưới sự lãnh đạo sáng suốt, kiên quyết của Đảng, đứng đầu là Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cùng với sự đoàn kết hăng hái, chiến đấu ngoan cường và hy sinh to lớn của biết bao đảng viên cộng sản, chiến sĩ và đồng bào yêu nước đã kết thúc thắng lợi bằng cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945.
Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã phá tan sự thống trị của thực dân gần một trăm năm và lật đổ chế độ phong kiến đè nặng lên nhân dân ta mấy mươi thế kỉ, mở ra bước ngoặt vĩ đại của cách mạng, đưa dân tộc Việt Nam bước sang kỷ nguyên mới; kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội. Ngày 2/9/1945, tại quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á. Khái quát ý nghĩa lịch sử của Cách mạng tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chẳng những giai cấp lao động và Nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”.
2. Đảng lãnh đạo đấu tranh giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước  (1945 - 1975)
2.1. Xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng, toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ (1945-1954)
- Trong những năm 1945 - 1946, Đảng ta đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo xây dựng và củng cố vững chắc chính quyền nhân dân, bầu cử Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (6/1/1946); xây dựng và thông qua Hiến pháp dân chủ đầu tiên (9/11/1946); chăm lo xây dựng chế độ mới, đời sống mới của nhân dân, chống giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm; tổ chức kháng chiến chống thực dân Pháp ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ với sự ủng hộ và chi viện của cả nước; kiên quyết trấn áp các thế lực phản cách mạng, bảo vệ chính quyền và thành quả Cách mạng tháng Tám; đồng thời thực hành sách lược khôn khéo, đưa cách mạng vượt qua những thử thách hiểm nghèo. Đảng đã chủ động chuẩn bị những điều kiện cần thiết để đối phó với cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp trên phạm vi cả nước.
- Tháng 12/1946, trước dã tâm xâm lược nước ta một lần nữa của thực dân Pháp, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động toàn quốc kháng chiến với quyết tâm “Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”. Bằng đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính, đồng thời tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của bạn bè quốc tế, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta lần lượt đánh bại các kế hoạch chiến tranh của thực dân Pháp giành thắng lợi mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, buộc Chính phủ Pháp phải ký kết Hiệp định Giơnevơ chấm dứt sự thống trị của thực dân Pháp ở nước ta.
2.2. Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc (1954 - 1975)
- Sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, nhân dân ta bắt tay vào xây dựng, khôi phục kinh tế - văn hóa, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong khi đó ở miền Nam, đế quốc Mỹ phá hoại Hiệp định Giơnevơ, hất chân thực dân Pháp, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của chúng. Nhiệm vụ của Đảng ta trong giai đoạn này hết sức nặng nề, đó là phải lãnh đạo cách mạng Việt Nam tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược gồm cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc.
- Đảng ta đã lãnh đạo toàn dân nêu cao quyết tâm đánh Mỹ, thực hiện đường lối chiến tranh nhân dân bằng tầm cao khoa học và nghệ thuật. Với một đế quốc hùng mạnh bậc nhất thế giới, Đảng ta chủ trương đánh lâu dài; kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang và hoạt động binh vận; kết hợp tiến công và nổi dậy, tiến hành đấu tranh trên cả ba vùng (đồng bằng, thành thị và miền núi); kết hợp mặt trận quân sự, chính trị với mặt trận ngoại giao; phát huy cao độ chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và sức mạnh thời đại. Bằng đường lối lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt và tinh thần đấu tranh anh dũng kiên cường, bất khuất, bất chấp mọi gian khổ hy sinh của nhân dân ta, cùng với sự giúp đỡ to lớn của các nước xã hội chủ nghĩa và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh tàn bạo của đế quốc Mỹ, giành nhiều thắng lợi vẻ vang mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, kết thúc 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Đây là một trong những trang chói lọi nhất của lịch sử dân tộc, là một sự kiện có tầm quốc tế và có tính thời đại sâu sắc.
- Song song với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đảng đã lãnh đạo nhân dân miền Bắc khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục kinh tế - xã hội, tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa và đưa miền Bắc quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Sau 21 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Bắc đã giành được những thành tựu quan trọng, chuẩn bị cơ sở vật chất, kỹ thuật ban đầu cho chủ nghĩa xã hội; vừa sản xuất, vừa chiến đấu và chi viện sức người, sức của, hoàn thành vai trò hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn miền Nam.
3. Thời kỳ tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa trên cả nước, thực hiện công cuộc đổi mới đất nước từ năm 1975 đến nay
3.1. Từ năm 1975 đến năm 1986
- Sau chiến tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đất nước ta gặp muôn vàn khó khăn, Đảng đã lãnh đạo nhân dân vừa ra sức khôi phục kinh tế vừa tiến hành hai cuộc chiến tranh chống xâm lược biên giới phía Bắc và Tây Nam, bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia; đồng thời tập trung lãnh đạo xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội, từng bước hình thành cơ cấu kinh tế mới trong cả nước, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân lao động. Tuy nhiên, việc duy trì lâu dài mô hình, cơ chế kinh tế tập trung bao cấp không còn phù hợp và đã bộc lộ những hạn chế, nhược điểm; việc hoạch định và thực hiện đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa, có lúc, có nơi đã mắc sai lầm khuyết điểm chủ quan, duy ý chí. Đó cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự trì trệ, khủng hoảng kinh tế - xã hội trong những năm đầu cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.
- Trước những thách thức của thời kỳ mới, Đảng ta đã tổng kết thực tiễn, tìm tòi, hoạch định đường lối đổi mới, ban hành Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 20/9/1979 của Hội nghị Trung ương 6 (khóa IV) về “Phương hướng nhiệm vụ phát triển công nghiệp hàng tiêu dùng và công nghiệp địa phương”; Chỉ thị 100-CT/TW ngày 13/1/1981 của Ban Bí thư về “Cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp”; Quyết định 25/QĐ-CP ngày 21/1/1981 của Chính phủ về đổi mới quản lý kinh tế quốc doanh; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8, khóa V (tháng 6/1985) thừa nhận sản xuất hàng hóa và những quy luật của sản xuất hàng hóa; Kết luận của Bộ Chính trị (tháng 8/1986) về 3 quan điểm kinh tế trong tình hình mới...
3.2. Từ năm 1986 đến nay
- Trên cơ sở đánh giá tình hình đất nước và qua quá trình tìm tòi, khảo nghiệm, Đại hội VI của Đảng (tháng 12/1986) đã đưa ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, mở ra bước ngoặt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
- Trước bối cảnh mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới tạm thời lâm vào thoái trào, Đại hội VII của Đảng (tháng 6/1991) khẳng định tiếp tục đổi mới đồng bộ, triệt để trên các lĩnh vực với những bước đi, cách làm phù hợp và giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa. Đại hội đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, xác định những quan điểm và phương hướng phát triển đất nước, khẳng định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng.
- Các nghị quyết của Đảng từ Đại hội VIII đến nay tiếp tục khẳng định sự kiên định, kiên trì thực hiện đường lối đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế. Hệ thống quan điểm lý luận về công cuộc đổi mới, về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, về xây dựng và chỉnh đốn Đảng trong tình hình mới không ngừng được bổ sung và phát triển. Đảng Cộng sản Việt Nam từng bước hoàn thiện và cụ thể hóa toàn diện các định hướng đổi mới, phát triển, xác định rõ trọng tâm trong từng giai đoạn. Ban Chấp hành Trung ương Ðảng các khóa đã ban hành nhiều nghị quyết về những vấn đề quan trọng; lãnh đạo để Quốc hội không ngừng bổ sung, hoàn thiện, thể chế hóa Hiến pháp, hệ thống pháp luật, tạo cơ sở pháp lý ngày càng đồng bộ, phù hợp cho quá trình đổi mới; lãnh đạo Chính phủ cụ thể hóa thành các cơ chế, chính sách và giải pháp quản lý, quản trị phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc.
- Qua gần 30 năm thực hiện Cương lĩnh 1991 và 35 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, với sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Đất nước ta vượt qua khủng hoảng kinh tế đã trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình; đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Kinh tế tăng trưởng khá, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước hình thành, phát triển. Văn hóa - xã hội có bước phát triển, công tác xóa đói giảm nghèo đạt được những thành tựu quan trọng, sớm đạt được nhiều chỉ tiêu phát triển thiên niên kỷ của Liên hợp quốc, được quốc tế đánh giá cao. Diện mạo đất nước và đời sống của nhân dân có nhiều thay đổi. Chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường. Sức mạnh về mọi mặt của đất nước được nâng lên. Quan hệ đối ngoại được mở rộng và ngày càng đi vào chiều sâu, Việt Nam đã có quan hệ với 189 quốc gia và vùng lãnh thổ. Dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy và ngày càng mở rộng. Ðại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường. Xây dựng Nhà nước pháp quyền và cả hệ thống chính trị được đẩy mạnh. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã và đang đạt được một số kết quả tích cực. Số lượng đảng viên không ngừng gia tăng. Từ Đại hội lần thứ I (1935) Đảng ta có khoảng 500 đảng viên đến Đại hội lần thứ XII (2016) Đảng ta có hơn 4,5 triệu đảng viên. Đa số cán bộ, đảng viên và Nhân dân phấn khởi, tin tưởng vào Đảng, Nhà nước, vào công cuộc đổi mới và triển vọng phát triển của đất nước. Nhiều đảng viên đã để lại nhiều tấm gương tốt thể hiện tinh thần tiên phong và tính gương mẫu.
- Những thành tựu qua 35 năm thực hiện đường lối đổi mới đất nước đã tạo đà cho sự phát triển trong những năm tiếp theo; đồng thời cũng là minh chứng sinh động khẳng định vai trò lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng ta.
4. Những bài học kinh nghiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam
Thực tiễn phong phú của cách mạng Việt Nam trong suốt 90 năm qua, Đảng ta đã tích luỹ và đúc rút được nhiều bài học kinh nghiệm lớn:
    Một là, nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội - ngọn cờ vinh quang mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao lại cho thế hệ hôm nay và các thế hệ mai sau. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc. Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược có quan hệ chặt chẽ với nhau.
    Hai là, sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Chính nhân dân là người làm nên những thắng lợi lịch sử. Toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với nhân dân. Quan liêu, tham nhũng, xa rời nhân dân sẽ dẫn đến những tổn thất khôn lường đối với vận mệnh của đất nước, của chế độ xã hội chủ nghĩa và của Đảng.
    Ba là, không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết: Đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế. Đó là truyền thống quý báu và là nguồn sức mạnh to lớn của cách mạng nước ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổng kết: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết - Thành công, thành công, đại thành công.
    Bốn là, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế. Trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng cần kiên định ý chí độc lập, tự chủ, nêu cao tinh thần hợp tác quốc tế, phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ ngoại lực, kết hợp yếu tố truyền thống với yếu tố hiện đại.
    Năm là, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đảng không có lợi ích nào khác ngoài việc phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Đảng phải nắm vững, vận dụng sáng tạo, góp phần phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng làm giàu trí tuệ, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực tổ chức để đủ sức giải quyết các vấn đề do thực tiễn cách mạng đặt ra. Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan. Phải phòng và chống những nguy cơ lớn: sai lầm về đường lối, bệnh quan liêu và sự thoái hoá, biến chất của cán bộ, đảng viên.

III. PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG VẺ VANG, TÍCH CỰC XÂY DỰNG ĐẢNG TRONG SẠCH VỮNG MẠNH, ĐẤT NƯỚC NGÀY CÀNG GIÀU ĐẸP

1. Những truyền thống vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta xây dựng nên nhiều truyền thống quý báu, thể hiện bản chất tốt đẹp.

    Đó là truyền thống trung thành vô hạn với lợi ích của dân tộc và giai cấp, kiên định mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trên cơ sở chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Chỉ có đi theo con đường cách mạng mà Đảng ta và Bác Hồ đã lựa chọn thì cách mạng Việt Nam mới giành được thắng lợi trọn vẹn, đất nước ta mới thật sự được độc lập; dân tộc ta mới thật sự được tự do; nhân dân ta mới có cuộc sống ngày càng ấm no, hạnh phúc.

    Đó là truyền thống giữ vững độc lập, tự chủ về đường lối; nắm vững, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tham khảo kinh nghiệm của quốc tế để đề ra đường lối đúng và tổ chức thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ cách mạng. Trong mỗi giai đoạn, Đảng ta luôn thấm nhuần quan điểm chân lý là cụ thể, cách mạng là sáng tạo, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam để xác định phương hướng, nhiệm vụ, phương pháp của cách mạng Việt Nam.

    Đó là truyền thống gắn bó máu thịt giữa Đảng và nhân dân, luôn luôn lấy việc phục vụ nhân dân làm lẽ sống và mục tiêu phấn đấu. Nhân dân ta đã nuôi dưỡng và bảo vệ Đảng từ những ngày còn trứng nước, hết lòng tin yêu Đảng, ủng hộ và ra sức phấn đấu thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng. Sức mạnh vô tận của nhân dân làm nên sức mạnh vô địch của Đảng; nguồn gốc sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó máu thịt với nhân dân, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân.

    Đó là truyền thống đoàn kết thống nhất, có tổ chức và kỷ luật chặt chẽ trên cơ sở nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình, phê bình và tình thương yêu đồng chí. Trải qua những thử thách khắc nghiệt trong nhà tù đế quốc, trước lưỡi lê, họng súng của kẻ thù hay trên chiến trường lửa đạn, những người cộng sản Việt Nam đã nêu những tấm gương sáng ngời về tinh thần đoàn kết gắn bó, thương yêu nhau; về tình đồng chí, đồng đội. Chính tình nghĩa cộng sản đó đã gắn kết những người cách mạng Việt Nam thành một đội tiên phong gang thép được nhân dân tin yêu, bạn bè ngưỡng mộ, kẻ thù khiếp sợ; tạo thành sức mạnh để Đảng ta vượt qua mọi thử thách, hy sinh, giữ vững niềm tin và giương cao ngọn cờ lãnh đạo.

    Đó là truyền thống đoàn kết quốc tế thuỷ chung, trong sáng dựa trên những nguyên tắc và mục tiêu cao cả. Đây là cơ sở vững chắc để Đảng ta hình thành và thực hiện thành công đường lối đối ngoại đúng đắn qua các thời kỳ, phát huy đến đỉnh cao sự kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, đưa cách mạng Việt Nam liên tục phát triển.

Những truyền thống quý báu của Đảng ta là sự kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, của giai cấp công nhân Việt Nam và giai cấp công nhân quốc tế trên một tầm cao mới của thời đại; là sức mạnh bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng; là kết quả của quá trình vun trồng, xây đắp bền bỉ, là sự hy sinh xương máu, phấn đấu không mệt mỏi của các thế hệ cán bộ, đảng viên.

Những truyền thống ấy của Đảng có ý nghĩa dân tộc và ý nghĩa quốc tế sâu sắc, thể hiện tinh thần cách mạng triệt để. Ngay từ khi mới ra đời, Đảng đã nắm bắt đúng xu thế phát triển của thời đại, gắn phong trào cách mạng Việt Nam với phong trào cách mạng thế giới, giải quyết đúng đắn vấn đề độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội. Trên con đường phát triển của cách mạng Việt Nam, Đảng ta đã không ngừng đưa ra những quyết sách phù hợp, đáp ứng yêu cầu lịch sử, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa nước nhà đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

2. Tích cực xây dựng Đảng ta trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp, văn minh

- Những thắng lợi vĩ đại trong 90 năm qua kể từ ngày có Đảng lãnh đạo là minh chứng sinh động nhất về năng lực lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng và sức mạnh to lớn của Nhân dân ta. Đảng đã không ngừng tự đổi mới, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trước bối cảnh thế giới có nhiều diễn biến phức tạp. Đảng ta đã dành không ít thời gian và công sức cho công tác xây dựng Đảng, coi xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, được đặt ra trong nhiều nghị quyết, chỉ thị của Đảng. 

Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII đến nay, với quyết tâm chính trị cao, Ban Chấp hành Trung ương đã bám sát 6 nhiệm vụ trọng tâm của Đại hội, ban hành 4 nghị quyết và 01 quy định để lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ then chốt là xây dựng Đảng. Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành 124 văn bản (nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định, quy chế, kế hoạch, hướng dẫn...) về công tác xây dựng Đảng, trong đó kịp thời ban hành các nghị quyết để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện những nhiệm vụ mới, quan trọng như: thực hiện một số mô hình thí điểm về tổ chức bộ máy; việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện và cấp xã; về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức chạy quyền; trách nhiệm nêu gương của cán bộ đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp; về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng và chiến lược an ninh mạng quốc gia; về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới... Việc Trung ương ban hành kịp thời, đồng bộ hệ thống văn bản trên hầu hết trên các lĩnh vực đã tạo cơ sở chính trị quan trọng để đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong tình hình mới.

Sau thời gian triển khai thực hiện, Công tác xây dựng Đảng đã đạt được những chuyển biến tích cực và kinh nghiệm quan trọng. Bản lĩnh chính trị, trình độ, năng lực lãnh đạo của Đảng ngày càng được nâng lên; Đảng luôn vững vàng trước mọi khó khăn, thách thức trong bối cảnh trong nước, khu vực, thế giới có nhiều diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường và có những quyết sách phù hợp để chỉ đạo xử lý kịp thời, hiệu quả. Bản chất, lập trường giai cấp công nhân của Đảng được giữ vững. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt và người đứng đầu các cấp từng bước được nâng lên. Tinh thần tự phê bình và phê bình của cán bộ, đảng viên có tiến bộ; việc ngăn chặn, xử lý tiêu cực, sai phạm, thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, lãng phí có chuyển biến rõ nét. Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng đến nay đã có trên 50 nghìn cán bộ, đảng viên bị xử lý kỷ luật, trong đó có hơn 70 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý. Bộ Chính trị, Ban Bí thư cũng đã kỷ luật 7 tổ chức đảng. Tinh thần, thái độ phục vụ nhân dân, ý thức trách nhiệm của cán bộ đối với công việc được giao được nâng lên, góp phần khắc phục một bước tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên. Niềm tin của cán bộ và các tầng lớp nhân dân đối với Đảng ngày càng được củng cố và nâng cao.

Tuy nhiên, công tác xây dựng Đảng vẫn còn nhiều việc phải làm, nhất là việc đấu tranh chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá"; tệ tham nhũng, lãng phí, quan liêu, xa dân... Các thế lực thù địch vẫn đang tìm mọi cách phá hoại sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta; chúng ra sức xuyên tạc, vu cáo Đảng, Nhà nước ta, đánh thẳng vào hệ tư tưởng, Cương lĩnh, đường lối chính trị của Đảng, kích động, chia rẽ nội bộ Đảng, chia rẽ Đảng, Nhà nước với nhân dân, hòng làm tan rã Đảng ta, chế độ ta từ gốc, từ bên trong, hết sức thâm độc và nguy hiểm.

Trong tình hình ấy, chúng ta càng cần phải tập trung làm tốt hơn nữa công tác xây dựng Đảng. Phương hướng chung của việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay là phải tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp, giữ vững và tăng cường bản chất cách mạng và tính tiên phong của Đảng, xây dựng Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức, đổi mới phương thức lãnh đạo, tăng cường mối liên hệ giữa Đảng với nhân dân, bảo đảm cho Đảng đủ sức lãnh đạo sự nghiệp của đất nước không ngừng phát triển.

Trong điều kiện Đảng ta là Đảng cầm quyền, hoạt động trong môi trường phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa hội nhập quốc tế; cán bộ, đảng viên giữ nhiều trọng trách, đối mặt với bao cám dỗ, với mặt trái của cơ chế thị trường, chúng ta càng phải chăm lo giữ vững bản chất cách mạng và tính tiên phong của Đảng. Nếu không nhận thức sâu sắc điều này, nếu cán bộ, đảng viên không tích cực và kiên trì rèn luyện thì rất dễ bị thoái hoá, biến chất. Vấn đề giữ vững bản chất của Đảng - là một Đảng Cộng sản, đảng cách mạng chân chính, hoạt động vì sự nghiệp của giai cấp công nhân, của dân tộc, vì lợi ích của nhân dân là vấn đề hết sức cơ bản và quan trọng.

Nghị quyết Trung ương 4 khoá XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã khẳng định: Phải nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật. Kết hợp giữa "xây" và "chống"; "xây" là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài; "chống" là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách. Kiên quyết, kiên trì thực hiện với quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn; phát huy sự chủ động, sáng tạo và sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, của nhân dân, trong đó cán bộ lãnh đạo, quản lý, trước hết là cán bộ cấp cao, cán bộ chủ chốt, người đứng đầu các cấp là nòng cốt; thực hiện quyết liệt, đồng bộ các giải pháp để đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" có hiệu quả, nhất là những vụ việc gây bức xúc trong dư luận để củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Tăng cường sự lãnh đạo và đoàn kết, thống nhất trong Đảng, trước hết là Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp ủy và ban thường vụ cấp ủy các cấp. Giữ vững nguyên tắc, kỷ luật, kỷ cương của Đảng; đề cao pháp luật của Nhà nước. Chủ động phòng ngừa, tích cực đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị.

Tự hào với những thắng lợi đã đạt được, hướng tới tương lai tươi sáng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn vững tay lái, tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh. Phát huy sức mạnh toàn dân tộc và dân chủ xã hội chủ nghĩa. Đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; phát triển kinh tế nhanh, bền vững, phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Giữ gìn hòa bình, ổn định, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế để phát triển đất nước; nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới.
*
*    *
Kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vô cùng tự hào vì đất nước có một Đảng Cộng sản kiên cường, trung thành với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lãnh đạo Nhân dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, làm nên những kỳ tích vĩ đại trong lịch sử dân tộc, đóng góp xứng đáng vào phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, vì hòa bình và tiến bộ của nhân loại. Tự hào về Đảng quang vinh, về Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi người dân Việt Nam ở trong nước và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài càng thấy rõ hơn trách nhiệm của mình, nguyện đi theo Đảng, xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, tiếp tục lãnh đạo nhân dân ta đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế, thực hiện thắng lợi mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, xây dựng một nước Việt Nam phồn vinh, hòa bình và thịnh vượng. 

BAN TUYÊN GIÁO TRUNG ƯƠNG

False
Bí thư Tỉnh ủy Võ Thị Ánh Xuân dự Ngày hội Đại đoàn kết dân tộc tại khóm Đông An 2(None)Bí thư Tỉnh ủy Võ Thị Ánh Xuân dự Ngày hội Đại đoàn kết dân tộc tại khóm Đông An 2/Imagesnews/2019-11/Bi-thu-du-ngay-DDK-1_Key_16112019154452.jpg

(TUAG)- Sáng 16-11, Ban Thường trực UBMTTQ Việt Nam phường Mỹ Xuyên long trọng tổ chức điểm Ngày hội Đại đoàn kết dân tộc tại khóm Đông An 2. Bí thư Tỉnh ủy Võ Thị Ánh Xuân, lãnh đạo UBMTTQ Việt Nam tỉnh cùng đông đảo cán bộ lão thành, nhân dân địa bàn khóm cùng tham dự.

16/11/2019 4:00 CHYesĐã ban hành
Dịp này, nhiều cá nhân, gia đình tiêu biểu được khen thưởng. Trước đó, một số địa phương như: khóm Quỹ Quới (Mỹ Quý), khóm Tây Khánh 3 (Mỹ Hòa) cũng đã tổ chức chào mừng ngày hội.

 
Bí thư Tỉnh ủy Võ Thị Ánh Xuân tặng quà chúc mừng ngày hội và tặng quà cho các hộ nghèo địa bàn khóm

Ngày hội nhằm ôn lại truyền thống cách mạng vẻ vang của Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam trong 89 năm qua (18/11/1930 – 18/11/2019) và kết quả thực hiện cuộc vận động  “Toàn dân xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” năm 2019 và phương hướng nhiệm vụ trọng tâm năm 2020. Khóm Đông An 2 có 18 tổ dân phố với 536 hộ dân, trong năm Ban khóm đã vận động quỹ “Vì người nghèo”, quỹ “Khuyến học” trên 10 triệu đồng cùng 700 quyển tập. Qua đó, 5 nội dung cuộc vận động “Toàn dân xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” do Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam phát động cơ bản được nhân dân địa bàn khóm tích cực tham gia, cụ thể: đã chăm lo cho 28 lượt hộ nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn nhận dịp các lễ, tết. Hỗ trợ chăm lo khó khăn đột xuất cho 4 lượt hộ nghèo, cận nghèo đau yếu, bệnh tật với tổng kinh phí 2 triệu đồng. Đồng thời, giới thiệu phát vay vốn cho hộ nghèo, vay sinh viên, giới thiệu đào tạo nghề, việc làm để ổn định cuộc sống vươn lên thoát nghèo bền vững. Bên cạnh đó, các thiết chế văn hóa thường xuyên được củng cố nâng chất nhằm phục vụ đời sống văn hóa tinh thần cho nhân dân, đến nay có 513/536 hộ gia đình văn hóa (5 hộ đạt 3 năm liền), đạt gần 96%; 100% trẻ em trong độ tuổi đi học được đến trường, đạt chuẩn phổ cập giáo dục theo quy định.

 

Phát biểu tại ngày hội, Bí thư Tỉnh ủy Võ Thị Ánh Xuân biểu dương các cấp, các ngành đã tổ chức ngày hội ngày càng thiết thực và chúc mừng những kết quả khóm Đông An 2 đạt được trong thời gian qua. Đồng thời, mong rằng các cán bộ hưu trí, gia đình tiêu biểu trên địa bàn đồng tâm góp sức giúp đỡ các hộ nghèo, khó khăn vươn lên có cuộc sống khá hơn; đặc biệt vận động nhân dân chấp hành tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, địa phương tránh những thông tin sai trái từ bên ngoài làm ảnh hưởng đến đời sống, kinh tế - xã hội, sự đoàn kết dân tộc.


Trao giấy khen gương người tốt việc tốt cho nhân dân khóm Đông An 2    


Trao giấy khen gương người tốt việc tốt cho nhân dân khóm Mỹ Quới

Tin, ảnh: K.H
True
Mãi mãi đi theo ánh sáng của Cách mạng Tháng Mười (None)Mãi mãi đi theo ánh sáng của Cách mạng Tháng Mười /Imagesnews/2019-11/cmt10_Key_08112019105015.jpg

Đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười Nga, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Lãnh tụ Hồ Chí Minh, sự nghiệp cách mạng Việt Nam gần 90 năm qua đã giành được những thắng lợi to lớn mang tính bước ngoặt lịch sử.

08/11/2019 10:00 SAYesĐã ban hành

​Cách đây 102 năm, dưới sự lãnh đạo của Đảng Bôn-sê-vích, đứng đầu là Lê nin vĩ đại đã xác định cách mạng Nga là chuyển từ cách mạng dân chủ tư sản sang cách mạng xã hội chủ nghĩa. Đêm 6/11/1917 (theo lịch cũ nước Nga), khởi nghĩa vũ trang đã nổ ra ở Thủ đô Pê-tơ-rô-grát. Ngày 07/11/1917, cuộc khởi nghĩa đã kết thúc thắng lợi và được ghi vào lịch sử là ngày thắng lợi của Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười vĩ đại.

Đây là một trong những sự kiện vĩ đại nhất của thế kỷ XX, đánh dấu một mốc son mới trong lịch sử phát triển của nhân loại. Nó đã xóa bỏ các giai cấp bóc lột tư sản, địa chủ và chế độ người bóc lột người, đưa giai cấp vô sản bị áp bức, bóc lột nặng nề thành giai cấp làm chủ xã hội; đưa người lao động từ thân phận nô lệ trở thành người tự do, là chủ nhân của đất nước.


Cuộc tuần hành kỷ niệm 100 năm ngày Cách mạng Tháng Mười thành công diễn ra tại thủ đô Mát-xcơ-va ngày 7/11/2017.

Cách mạng Tháng Mười thành công đã dẫn tới sự ra đời của Nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới và mở ra bước ngoặt căn bản trong lịch sử loài người, từ thế giới tư bản chủ nghĩa sang thế giới xã hội chủ nghĩa. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Giống như mặt trời chói lọi, cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế”[i]. Đúng như vậy, cách mạng Tháng Mười Nga thành công đã khích lệ, cổ vũ, lôi cuốn mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc của những nước thuộc địa ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ La tinh. Thắng lợi của phong trào giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở một loạt nước, như: Ba Lan, Bun-ga-ri, Cộng hòa dân chủ Đức, Hung-ga-ri, An-ba-ni, Ru-ma-ni, Mông Cổ, Triều Tiên, Cu Ba và Việt Nam đã tạo nên những tiền đề thực tế cho sự ra đời của một hệ thống xã hội mà trước đó chưa từng tồn tại trong lịch sử và chỉ trong một thời gian ngắn sau khi ra đời - hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa, nó đã đóng vai trò chi phối đến nhiều quá trình quan trọng của thế giới hiện đại.

Ở Việt Nam, từ đầu thế kỷ XX, các phong trào yêu nước cách mạng Việt Nam đều bị dìm trong biển máu và thất bại vì không có một đường lối cứu nước đúng đắn. Giữa lúc đó, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sau nhiều năm bôn ba tìm đường cứu nước đã tiếp thu được ánh sáng của cách mạng Tháng Mười. Đầu những năm 20 thế kỷ XX, khi nghiên cứu Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin, Người đã sớm nắm bắt được cốt lõi trong tư tưởng của Lênin: “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại!”. Người khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”[ii]. Ngày 03/02/1930, Người đã chủ trì hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và khẳng định đường lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình cách mạng Việt Nam.

Dưới ánh sáng soi đường của cách mạng Tháng Mười Nga, với đường lối đúng đắn, sáng tạo, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khổ, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách và giành được những kỳ tích vĩ đại trong thế kỷ XX và gần hai thập kỷ đầu thế kỷ XXI. Đó là những thắng lợi của cuộc cách mạng Tháng Tám năm 1945 khi Đảng ta có chưa đến 5.000 đảng viên đã lãnh đạo nhân dân làm cuộc cách mạng “long trời lở đất”, lập nên Nhà nước Công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á. Đó là thắng lợi của cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp kết thúc bằng thắng lợi lịch sử Điện Biên Phủ “chấn động địa cầu”. Đó là thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ 21 năm trường kỳ, gian khổ kết thúc bằng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử ngày 30/4/1975 giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Đó là thắng lợi của 33 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng đã đưa nước ta từ nước kém phát triển trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình. Hiện nay, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang nỗ lực phấn đấu thực hiện Cương lĩnh của Đảng, Hiến pháp của Nhà nước, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chủ động hội nhập quốc tế. Đây là một sự nghiệp cách mạng vĩ đại, “một cuộc chiến đấu khổng lồ” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy, nhưng cũng đan xen nhiều khó khăn, thách thức không nhỏ.

Sau sự sụp đổ mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu, các thế lực thù địch và phản động quốc tế đã chống phá quyết liệt, mưu toan phủ nhận mọi thành quả của Cách mạng Tháng Mười Nga và chủ nghĩa Mác-Lê nin là nền tảng tư tưởng của cuộc cách mạng vĩ đại. Có thể nói, chủ nghĩa xã hội hiện thực tạm thời lâm vào thoái trào nhưng sức sống của chủ nghĩa xã hội không hề bị lu mờ. Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở một số nước vẫn tiếp tục phát triển và phong trào cánh tả phát triển mạnh mẽ ở một số nước Mỹ La tinh... Sự thoái trào đó không có nghĩa là chủ nghĩa xã hội bị “tiêu vong”, giai cấp công nhân “mất vai trò lịch sử”, cũng không làm mất đi ý nghĩa phấn đấu và niềm tin vào tương lai xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên toàn thế giới. Trái lại, giai cấp công nhân có thêm bài học sâu sắc như Lê nin đã dạy: “Giành chính quyền đã khó nhưng giữ chính quyền lại càng khó khăn” và “Cách mạng phải biết tự bảo vệ và có sức mạnh bảo vệ”.

Trong bối cảnh hiện nay, tình hình trên thế giới diễn ra mau lẹ và khó lường. Chủ nghĩa xã hội đứng trước nhiều khó khăn, thử thách. Nhận thức sâu sắc những nguyên nhân và bài học sau sự kiện chính trị xảy ra ở Liên Xô và Đông Âu, Đảng ta đã kiên quyết, kiên trì khắc phục những khuyết điểm, thiếu sót trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Từ Đại hội VI năm 1986, Đảng ta đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện trên nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác-Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, vì độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội. Trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào cũng không dao động, bi quan, đổi hướng, thay đổi mục tiêu, con đường đã lựa chọn. Đảng đề ra phương châm: “Phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, xây dựng nền văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội”, nhất là, trong những năm qua, bên cạnh quan tâm phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa, an ninh, quốc phòng và đối ngoại, Đảng ta rất chú trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng để nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Một đảng cách mạng chân chính có đường lối, có tổ chức chặt chẽ, có đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, gương mẫu, tận tụy, gắn bó máu thịt với nhân dân, được nhân dân ủng hộ, thì đảng đó có sức mạnh vô địch, không thể lúc nào ngăn cản nổi trên con đường dẫn dắt dân tộc đi”[iii].

Do có đường lối đúng đắn, sáng tạo vận dụng những bài học của Cách mạng Tháng Mười, của chủ nghĩa Mác-Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh nên Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành sự nghiệp đổi mới đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử. Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác-Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”.

Đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười Nga, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Lãnh tụ Hồ Chí Minh, sự nghiệp cách mạng Việt Nam gần 90 năm qua đã giành được những thắng lợi to lớn mang tính bước ngoặt lịch sử. Nhân dân ta kiên định sự nghiệp đổi mới, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, tiếp tục con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Xã hội chủ nghĩa mà chúng ta xây dựng và hướng tới là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Để đạt được mục tiêu cao cả đó, chắc chắn phải trải qua nhiều chặng đường khó khăn, gian khổ với những bước đi, hình thức phù hợp trong suốt thời kỳ quá độ. Song, chúng ta tin rằng, vững bước đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười Nga, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam - Đảng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, sẽ hoàn thành sứ mệnh cao cả đưa đất nước ta đi đến đích thắng lợi./.
 

Chú thích:
[i] Hồ Chí Minh (2011). Hồ Chí Minh toàn tập (tập 15). NXB Chính trị Quốc gia, tr. 387.
[ii] Hồ Chí Minh (2011). Hồ Chí Minh toàn tập (tập 15). NXB Chính trị Quốc gia, tr. 30
[iii] Nguyễn Phú Trọng. Đảng vững mạnh, đất nước phát triển, dân tộc trường tồn. Báo Nhân Dân. Ngày 01-2-2019.

TS Bùi Thế Đức
Nguồn: Ban Tuyên giáo Trung ương
True
Ủy ban Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam tỉnh kiểm tra công tác Mặt trận huyện Châu Thành năm 2019(None)Ủy ban Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam tỉnh kiểm tra công tác Mặt trận huyện Châu Thành năm 2019http://tuyengiaoangiang.vn/images/2019/Thang11/Mat-tran-tinh-ktra-Chauthanh.jpg

(TUAG)- Chiều 6/11, đoàn công tác của Ủy ban Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam tỉnh do ông Nguyễn Tiếc Hùng - TUV, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (MTTQVN) tỉnh làm trưởng đoàn đã có buổi làm việc với Ủy ban MTTQVN huyện Châu Thành về chương trình công tác Mặt trận năm 2019. Tiếp và làm việc với đoàn có ông Lê Phước Dũng - Phó Bí thư thường trực huyện ủy, Chủ tịch HĐND huyện.

07/11/2019 10:00 SANoĐã ban hành

 

Năm 2019, Ủy ban MTTQVN các cấp của huyện Châu Thành đã bám sát sự chỉ đạo, hướng dẫn của Ban Thường trực Uỷ ban MTTQVN tỉnh, của cấp uỷ địa phương, phối hợp chặt chẽ với chính quyền, chủ động, sáng tạo, tích cực đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, triển khai đồng bộ, hiệu quả các nội dung công tác theo theo kế hoạch đề ra. Công tác tuyên truyền, vận động có nhiều đổi mới gắn với các phong trào thi đua yêu nước, trọng tâm là cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”, “Người Việt nam ưu tiên dùng hàng Việt nam”, và cuộc vận động học tập làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Đặc biệt là tuyên truyền Đại hội MTTQVN các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQVN lần thứ IX, nhiệm kỳ 2019 - 2024. Từ đầu năm đến nay, hệ thống Mặt trận từ huyện đến cơ sở đã vận động và tiếp nhận Quỹ “Vì người nghèo”, “An sinh xã hội” được trên 16,5 tỷ đồng, qua đó thực hiện cất mới 127 căn, sửa chữa 17 căn nhà Đại đoàn kết, thăm hỏi, tặng quà cho trên 8.900 lượt hộ nghèo, khám chữa bệnh cho trên 8.600 lượt bệnh nhân nghèo; trong công tác an sinh xã hội, thực hiện cất mới 6 cây, sửa chữa 3 cây cầu nông thông cùng với nâng cấp, sửa chữa hàng ngàn mét đường nông thôn….

Đoàn kiểm tra đã thảo luận đánh giá toàn diện các mặt công tác triển khai thực hiện chương trình phối hợp thống nhất hành động của Ủy ban MTTQVN huyện năm 2019, tập trung trao đổi chuyên môn về các nội dung công tác, ghi nhận những đề xuất, kiến nghị của địa phương. Kết luận tại các buổi làm việc, Chủ tịch Ủy ban MTTQVN tỉnh Nguyễn Tiếc Hùng ghi nhận những kết quả thực hiện chương trình công tác Mặt trận năm 2019 của Mặt trận huyện. Đồng chí nhấn mạnh, để thực hiện tốt nhiệm vụ công tác Mặt trận năm 2020, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp của huyện Châu Thành cần đưa ra những giải pháp thiết thực, hiệu quả thực hiện các cuộc vận động, nhất là cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”; tiếp tục coi trọng và làm tốt công tác tôn giáo; thực hiện công tác giám sát có trọng tâm, trọng điểm; tích cực tham gia xây dựng Đảng, xây dựng Chính quyền; phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh tại địa phương.

Trúc Phương
False
Siết chặt kỷ cương trong kê khai tài sản để phòng, chống tham nhũng(None)Siết chặt kỷ cương trong kê khai tài sản để phòng, chống tham nhũnghttp://www.angiang.dcs.vn/Imagesnews/2019-11/nguyen_lan_hieu_an_giang-10_26_30_005.jpg

(ĐCSVN)- Đề cập đến vấn đề phòng, chống tham nhũng, đại biểu Quốc hội Nguyễn Lân Hiếu (An Giang) đề nghị cần rà soát, siết chặt kỷ cương, nghiêm túc trong việc kê khai tài sản cá nhân, công bố các nguồn thu…

06/11/2019 2:00 CHNoĐã ban hành


Đại biểu Nguyễn Lân Hiếu (An Giang). (Ảnh: TL)

Ngày 5/11, Quốc hội tiếp tục thảo luận tại Hội trường về báo cáo phòng chống tham nhũng năm 2019 của Chính phủ.

Đề cập đến vấn đề phòng chống tham nhũng, đại biểu Nguyễn Lân Hiếu (An Giang) cho biết, báo cáo thẩm tra của Ủy ban Tư pháp đã chỉ ra trong hơn 1 triệu người kê khai tài sản chỉ xác minh, phát hiện được 10 trường hợp vi phạm, nghĩa là tăng có 2 người so với năm 2018. Điều này chứng minh tính trung thực của việc kê khai tài sản là một dấu hỏi lớn với cử tri. Chính vì vậy, cần rà soát, siết chặt kỷ cương, nghiêm túc trong việc kê khai tài sản cá nhân, công bố các nguồn thu và đặc biệt cần công khai thuế thu nhập cá nhân ở các vị trí quản lý, lãnh đạo.

Đại biểu cũng cho biết, số lượng các vụ án tạm đình chỉ điều tra vẫn tăng. Số trường hợp bị oan tăng đến 58,3% so với cùng kỳ năm 2008, tỷ lệ giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm chưa đạt chỉ tiêu 60% theo yêu cầu của Quốc hội. “Trong Báo cáo của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có đề cập đến đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng của toàn bộ hệ thống Tòa án nhân dân. Tuy nhiên, cần có thêm các biện pháp đột phá những kiểu tiêu chí đánh giá cụ thể hơn để hình ảnh người cầm cân nảy mực, chí công vô tư được phục hồi trong lòng dân" đại biểu đề xuất.

Theo đại biểu Nguyễn Lân Hiếu, vẫn còn một số vi phạm pháp luật mà Báo cáo của Chính phủ về công tác phòng, chống và vi phạm pháp luật không nhắc đến, như nạn bạo hành nhân viên y tế. “Có một thời gian, khi liên tiếp xảy ra hàng loạt vụ việc nghiêm trọng, dư luận đã đồng loạt lên án. Chúng ta đã đặc biệt quan tâm đến lĩnh vực này. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, cho dù có sự cố gắng của một số địa phương nhưng những vụ việc vẫn xảy ra dưới hình thức này hay hình thức khác, nó như những ngọn lửa nhỏ âm ỉ cháy và có thể bùng lên bất cứ lúc nào”, đại biểu cho hay.

Trước thực trạng trên, đại biểu đề nghị các cơ quan tư pháp cần tiếp tục hoàn chỉnh hệ thống pháp luật bằng các thông tư, nghị định, cần coi đây là một trong các tiêu chí báo cáo hàng năm như các tiêu chí phòng, chống tội phạm khác.

“Thời gian qua, Công an Hà Nội đã có rất nhiều cố gắng trong việc phối hợp với các bệnh viện trên địa bàn phòng, chống bạo hành y tế và vi phạm pháp luật, đây là mô hình rất tốt. Tôi đề nghị cần tiếp tục phát huy và nhân rộng để các nhân viên y tế có thể yên tâm khám, chữa bệnh, mang lại môi trường bình yên trong bệnh viện”, đại biểu Nguyễn Lân Hiếu cho biết./.


Bích Liên
False
Đội K93 ra quân đợt 1 giai đoạn XIX sang Campuchia tìm kiếm hài cốt liệt sĩ quân tình nguyện Việt Nam(None)Đội K93 ra quân đợt 1 giai đoạn XIX sang Campuchia tìm kiếm hài cốt liệt sĩ quân tình nguyện Việt Nam/Imagesnews/Tim-hai-cot.jpg
(TUAG)- Sáng 02/11, Đội K93 thuộc Bộ CHQS tỉnh An Giang tổ chức lễ xuất quân mở đầu đợt 1 giai đoạn XIX, sang Vương quốc Campuchia tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ quân tình nguyện Việt Nam hy sinh qua các thời kỳ.
04/11/2019 5:00 CHNoĐã ban hành

Đại tá Lê Thanh Tâm, Phó Chính ủy Bộ CHQS tỉnh, thành viên Ban chỉ đạo 515 (năm một năm) tỉnh An Giang đến thăm hỏi, động viên và cùng tham gia chỉ huy đưa Đội sang đất bạn.

Tim-hai-cot.jpg

Theo kế hoạch được Ban chỉ đạo 515 phê duyệt, trong đợt 1 của giai đoạn mùa khô 2019-2020, còn gọi là giai đoạn XIX, Đội K93 sẽ tìm kiếm hài cốt liệt sĩ tại các khu vực trọng điểm thuộc địa phận tỉnh Kampongspeu. Cụ thể tại các địa phận gồm: huyện Ôm Leng và huyện Treang Dưng. Đây đều là những địa hình phức tạp, nhiều rừng núi, nơi mà trước kia các đơn vị bộ đội chủ lực của ta đã từng tham gia chiến đấu và làm nghĩa vụ quốc tế giúp bạn vào những năm kháng chiến chống Mỹ và đánh đuổi bọn diệt chủng Pôn Pốt.

Dịp này Ban chỉ huy Đội K93 kêu gọi các cựu chiến binh và mọi người dân trong cả nước, nếu có thông tin gì về nơi chôn cất liệt sĩ trước đây hãy cung cấp cho đơn vị nhằm hỗ trợ cho Đội thuận tiện trong quá trình làm nhiệm vụ.

Điện thoại ban chỉ huy 02963.876.120;

Đội trưởng Đại tá Nguyễn Quốc Thông: 0918.370.835;

hoặc Đại tá Đinh Văn Cứng, Chính trị viên Đội K93, số điện thoại 0988.423.184./.                                                                                               

Văn Tranh

False
Hoàng Văn Thụ - Một tấm gương chói lọi của đạo đức cách mạng (None)Hoàng Văn Thụ - Một tấm gương chói lọi của đạo đức cách mạng http://www.angiang.dcs.vn/Imagesnews/2019-11/hoangvanthu.jpg

(TG)- Là một cán bộ lãnh đạo có tầm nhìn chiến lược, sâu sát thực tiễn và gắn bó mật thiết với nhân dân, đồng chí Hoàng Văn Thụ - Người chiến sĩ cộng sản kiên trung, bất khuất, một cán bộ lãnh đạo xuất sắc của Đảng đã có những cống hiến quý báu cho cuộc cách mạng giải phóng dân tộc trong những năm 1930-1945.

03/11/2019 5:00 CHNoĐã ban hành

Khai mạc triển lãm chuyên đề "Hoàng Văn Thụ - Sáng mãi tên anh"

ĐI THEO CÁCH MẠNG

Đồng chí Hoàng Văn Thụ sinh ngày 4-11-1906, trong một gia đình nông dân dân tộc Tày có truyền thống yêu nước và hiếu học tại làng Phạc Lạn, tổng Nhân Lý, châu Văn Uyên (nay là thôn Nhân Hòa, xã Hoàng Văn Thụ, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn). Tên khai sinh là Hoàng Ngọc Thụ, lúc nhỏ là Hoàng Hảo Do, trong những năm tháng hoạt động cách mạng đồng chí mang các bí danh: Lô Minh Hạ, Lý, Giáo, Vân…

Từ nhỏ, đồng chí được học cả chữ Hán và chữ quốc ngữ. Tháng 8-1923, vào học tại trường Tiểu học Pháp - Việt (thị xã Lạng Sơn), đồng chí đã kết bạn với Hoàng Đình Dong (Roong, Gioong) và Lương Văn Chi. Tại đây, chịu ảnh hưởng của phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX, Hoàng Văn Thụ, Lương Văn Chi và một số học sinh đã bí mật tiếp nhận, phân phát sách báo và tài liệu của Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên, vận động tổ chức nhóm học sinh yêu nước tại trường, rồi tìm cách liên lạc với cán bộ của Hội.

Năm 1926, đồng chí cùng Lương Văn Chi thành lập nhóm thanh niên yêu nước ở Lạng Sơn. Cuối năm 1927, đồng chí cùng Lương Văn Chi sang Bản Đáy (Quảng Tây, Trung Quốc) - nơi Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên đang tổ chức các lớp huấn luyện chính trị, nhưng bị vây bắt và chạy thoát về Long Châu. Tiếp tục hoạt động, cuối năm 1929, đồng chí được kết nạp vào Đông Dương Cộng sản Đảng, hoạt động ở vùng biên giới Việt - Trung và được phân công phụ trách Lạng Sơn.

Sau hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930, chi bộ Đông Dương Cộng sản Đảng ở Long Châu đã chuyển thành chi bộ của Đảng Cộng sản Việt Nam. Thực hiện nhiệm vụ do chi bộ Long Châu phân công, đồng chí Hoàng Văn Thụ đã nhiều lần bí mật về nước hoạt động. Để đảm bảo bí mật, đồng chí đã gây dựng cơ sở cách mạng ở Lũng Nghịu làm nơi liên lạc với trong nước và phát triển cơ sở cách mạng trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.

Năm 1932, đồng chí Lê Hồng Phong về nước hoạt động, đã bắt liên lạc với Ban liên Tỉnh ủy Cao - Lạng và “nhờ sự giúp đỡ tích cực của Ban liên Tỉnh ủy trong đó có đồng chí Hoàng Văn Thụ mà đồng chí Lê Hồng Phong nhanh chóng nắm được tình hình và chắp được mối với các đảng bộ, chuẩn bị cho cuộc hội nghị giữa Ban lãnh đạo của Đảng ở ngoài nước và các đại biểu đảng bộ trong nước họp vào tháng 6 năm 1934”(1). Cuối năm 1934, đồng chí Hoàng Văn Thụ cùng các đồng chí trong Ban liên Tỉnh ủy lâm thời tổ chức hội nghị cán bộ liên tỉnh, kiểm điểm tình hình và cử đại biểu đi dự Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ nhất ở Ma Cao, Trung Quốc.

Sau Đại hội, đồng chí được Trung ương giao nhiệm vụ in Văn kiện Đại hội chuyển về trong nước để tuyên truyền. Những năm tháng hoạt động ở vùng biên giới, do có quan hệ tốt với đảng viên của Đảng Cộng sản Trung Quốc ở vùng biên, giúp đỡ các đồng chí bạn trong công tác vận động quần chúng, nên hoạt động của đồng chí gặp nhiều thuận lợi. Cuối năm 1937, “đồng chí được Trung ương triệu tập ra Hồng Kông để học tập chủ trương, chính sách mới của Đảng do đồng chí Lê Hồng Phong và đồng chí Phùng Chí Kiên hướng dẫn. Đầu năm 1938, đồng chí được Trung ương cử về nước bắt liên lạc với Xứ ủy Bắc kỳ để truyền đạt chỉ thị của Trung ương và nhận công tác ở Xứ ủy”(2). Lúc này, công tác vận động công nhân và các tổ chức cơ sở đảng ở các vùng tập trung công nhân còn yếu và gặp nhiều khó khăn nên Xứ ủy đã cử đồng chí đến các vùng mỏ, nhà ga, bến tàu để nắm lại tình hình, tuyên truyền, vận động và củng cố, phát triển phong trào cách mạng. Sau đó không lâu, đồng chí về Hà Nội để báo cáo công tác và được bổ sung vào Xứ ủy và tham gia Ban vận động công nhân. Sự hoạt động tích cực và những kinh nghiệm của đồng chí đã góp phần chắp mối, củng cố các cơ sở cách mạng ở vùng mỏ và nhiều địa phương, thúc đẩy phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân ở những vùng trọng điểm, “tạo sự chuyển biến rõ rệt trong công cuộc vận động cách mạng ở Bắc Kỳ sau thời gian bị địch khủng bố và bọn Tờ-rốt-kít phá hoại”(3).

Tại hội nghị Xứ ủy Bắc Kỳ mở rộng do Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ triệu tập và chủ trì ở Vạn Phúc, Hà Đông (9-1939), đồng chí Hoàng Văn Thụ được Trung ương Đảng phân công làm Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ, trực tiếp phụ trách phong trào cách mạng khu vực Hà Nội, vùng phụ cận và báo “Giải phóng” - cơ quan ngôn luận của Xứ ủy Bắc Kỳ.

SÂU SÁT THỰC TIỄN, GẮN BÓ VỚI NHÂN DÂN, BẤT KHUẤT TRƯỚC KẺ THÙ

Là một cán bộ lãnh đạo luôn sâu sát thực tiễn và gắn bó mật thiết với nhân dân, một trong những đóng góp to lớn của đồng chí Hoàng Văn Thụ là giác ngộ, vận động quần chúng, góp sức phát triển phong trào cách mạng, thành lập các tổ chức đảng ở Lạng Sơn, Cao Bằng, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Vĩnh Yên; củng cố, xây dựng nhiều cơ sở ở Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh...

Thời gian hoạt động ở Hà Đông, cơ quan Xứ ủy Bắc Kỳ bị theo dõi, khủng bố ráo riết, để tránh bị lộ, đồng chí thường xuyên cải trang, di chuyển, ở trong nhiều nhà dân và đã vận động được nhiều người tham gia cách mạng. Ngoài công việc Xứ ủy, đồng chí còn trực tiếp phụ trách Thành ủy Hà Nội, góp sức khôi phục lại Thành ủy Hà Nội nhiều lần bị phá hoại do nội phản.

Chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra, thực dân Pháp ở Đông Dương tăng cường đàn áp phong trào cách mạng và bắt giam nhiều cán bộ, đảng viên của Đảng. Trong bối cảnh Đảng Cộng sản Đông Dương rút vào hoạt động bí mật, đồng chí đã cùng đồng chí Trường Chinh bí mật đi đến nhiều địa phương để chắp nối các cơ sở cách mạng. Cuối tháng 12-1940, Hoàng Văn Thụ sang Trung Quốc liên lạc với lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Nhận chỉ thị của Người, đồng chí về làm việc với Tỉnh ủy Cao Bằng, chuẩn bị địa điểm đón Người về nước và tổ chức Hội nghị Trung ương lần thứ 8. Đầu năm 1941, đồng chí dự Hội nghị mở rộng của Ban Chấp hành Trung ương ở Bắc Ninh và được cử đi dự hội nghị Trung ương 8 ở Cao Bằng. Thời gian này, địch tiến hành khủng bố ác liệt phong trào cách mạng trong nước, phong tỏa các tuyến giao thông, nhất là vùng biên giới Việt - Trung từ Lạng sơn lên Cao Bằng, vì thế, hành trình của đoàn đại biểu Trung ương đi dự Hội nghị Trung ương lần thứ 8 gặp nhiều khó khăn.

Cuối tháng 2-1941, đoàn đại biểu Trung ương đến Khuổi Nọi, Vũ Lễ (Bắc Sơn). Trong thời gian dừng chân ở Bắc Sơn, thực hiện chủ trương của Trung ương về việc phát triển căn cứ địa Bắc Sơn - Vũ Nhai, ngày 29-2-1941, các đồng chí lãnh đạo Trung ương Đảng đã gặp Ban chỉ huy đội du kích Bắc Sơn để chỉ thị về những công tác cần kíp trước mắt. Tại đây, “đồng chí Hoàng Văn Thụ thay mặt Trung ương thông báo tình hình nhiệm vụ cách mạng mới, chủ trương phát triển đội du kích Bắc Sơn thành đội cứu quốc quân làm nòng cốt cho việc xây dựng lực lượng võ trang cách mạng của Đảng”(4); trực tiếp chỉ đạo việc duy trì, phát triển đội du kích Bắc Sơn rút vào bí mật, bảo toàn lực lượng và xây dựng căn cứ địa cách mạng Bắc Sơn - Võ Nhai. Đồng thời, “đồng chí Hoàng Văn Thụ đã trực tiếp giao nhiệm vụ cho đội cứu quốc quân đưa đường và bảo vệ đoàn cán bộ Trung ương đi dự hội nghị ban Chấp hành trung ương lần thứ 8 tại Pác Bó, Hà Quảng, Cao Bằng”(5).

Tại hội nghị Trung ương 8 (5-1941), đồng chí được bầu vào Ban Thường vụ Trung ương, phụ trách công tác Mặt trận và binh vận. Không chỉ góp phần đề ra chủ trương thành lập Mặt trận Việt Minh nhằm đoàn kết các giai cấp, tầng lớp nhân dân đánh đuổi thực dân Pháp và phát xít Nhật mà trên cương vị phụ trách công tác Mặt trận và binh vận, đồng chí còn giác ngộ được nhiều binh lính người Việt trong quân đội Pháp ủng hộ cách mạng. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí, nhiều cơ sở cách mạng được gây dựng, củng cố và phát triển rộng khắp, tạo sự  lớn mạnh không ngừng của lực lượng cách mạng.

Đồng chí cũng nhiều lần vượt qua mạng lưới mật thám để có mặt ở những nơi mũi nhọn, chỉ đạo sát sao các cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân đòi quyền lợi thiết thân hằng ngày như cải thiện chế độ làm việc, chống chế độ cúp phạt… Các cuộc đấu tranh đó lan rộng trong các xí nghiệp mộc, in và các ngành thủ công khác, lôi kéo cả một bộ phận tiểu thương tham gia ủng hộ. Vì thế, dù bị kiểm soát ngặt nghèo, nhưng công nhân vẫn hưởng ứng các cuộc vận động, quyên góp ủng hộ cách mạng, lưu hành truyền đơn, Báo Cờ giải phóng, Báo Cứu quốc... Tháng 8-1941, đồng chí về dự hội nghị Xứ ủy Bắc Kỳ ở Thanh Ba, Vĩnh Phúc, sau đó về Vĩnh Yên làm việc với chiến khu “Đ” và ban cán sự của tỉnh, đóng góp nhiều ý kiến để xây dựng, củng cố lực lượng trong tình hình mới.

Sau khi Mặt trận Việt Minh ra đời, phong trào cứu quốc phát triển mạnh trong cả nước. Từ năm 1943, đồng chí Hoàng Văn Thụ được Trung ương giao nhiệm vụ giác ngộ binh lính địch ở khu vực Hà Nội. Ngày 25-8-1943, giữa lúc phong trào cách mạng đang trên đà phát triển, thì đồng chí Hoàng Văn Thụ bị địch bắt ở khu Tám Mái, Hà Nội, sau đó đưa về giam tại nhà tù Hỏa Lò. Biết đồng chí là một cán bộ cao cấp của Đảng, Phủ toàn quyền Đông Dương lệnh cho Sở mật thám bằng mọi cách bắt Hoàng Văn Thụ cung khai để tìm ra cơ quan đầu não của Trung ương. Song, mọi thủ đoạn dụ dỗ, mua chuộc, sự tra tấn dã man hay đòn tâm lý thâm hiểm “sẽ cho thăm lại gia đình” của kẻ thù đều thất bại trước dũng khí quả cảm của người cộng sản. Trong nhà lao Hỏa Lò, dù bị hơn 20 trận tra tấn nặng, có nhiều trận kéo dài từ 9 giờ đêm tới 3 giờ sáng, nhưng đồng chí vẫn nêu cao tinh thần kiên trung, bất khuất trước kẻ thù, vẫn tranh luận với các thủ lĩnh Đảng Đại Việt giúp họ nhận thức được chủ trương đúng đắn của Mặt trận dân tộc thống nhất chống Pháp - Nhật do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo và tranh thủ cảm hóa các giám ngục, binh lính trông tù để họ hiểu hơn về cách mạng, ủng hộ cách mạng.

Cuối tháng 1-1944, thực dân Pháp đưa đồng chí Hoàng Văn Thụ ra xét xử tại Tòa án binh. Căn cứ vào hồ sơ, tòa kết án 20 năm tù, nhưng trùm mật thám E. Lanéc - Phó Chánh Sở Mật thám hằn học nói tại phiên tòa: “Hoàng Văn Thụ là một lãnh tụ cách mạng. Nếu không xử tử hắn thì nước đại Pháp không thể đàn áp được cách mạng Việt Nam”(6), do đó, đồng chí Hoàng Văn Thụ đã bị tòa án thực dân tuyên án tử hình.

Mặc dù bị giam trong xà lim chờ thi hành án, nhưng đồng chí Hoàng Văn Thụ vẫn tiếp tục truyền kinh nghiệm đấu tranh, lý luận cách mạng và nêu cao tấm gương đạo đức, để không chỉ động viên tinh thần các chiến sĩ cách mạng, quần chúng đang bị giam cầm mà còn góp phần vạch trần bộ mặt của những kẻ làm tay sai cho phát xít Nhật. Sáng ngày 24-5-1944, đồng chí Hoàng Văn Thụ bị giải ra pháp trường. Trước câu hỏi: “Anh có muốn nói gì nữa không?”, đồng chí thẳng thắn tuyên bố: “Tôi không cần nói gì nữa! Trong cuộc đấu tranh sinh tử giữa chúng tôi, những người mất nước và các ông, những kẻ cướp nước, sự hy sinh của những người như tôi là một sự dĩ nhiên. Chỉ biết rằng, cuối cùng chúng tôi sẽ thắng”(7). Khi viên giám mục bày trò rửa tội, đồng chí Hoàng Văn Thụ nói: “Cảm ơn ông. Tôi không có tội. Nếu yêu nước, cứu nước mà có tội thì những người Pháp hiện giờ đang chiến đấu chống phát xít Đức ở bên đất nước ông đều là có tội cả. Ông về hỏi xem họ có tội không?”(8). Sự hiên ngang của đồng chí ở trường bắn không chỉ truyền thêm dũng khí, sức mạnh tinh thần cho Đảng ta, nhân dân ta trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc mà còn làm cho kẻ thù thán phục và xúc động thốt  lên: “Một người gang thép!”(9).

Không chỉ là người cán bộ, đảng viên lãnh đạo của Đảng gan dạ, dũng cảm, sẵn sàng nhận mọi nhiệm vụ do Đảng phân công, khi cách mạng cần, đồng chí Hoàng Văn Thụ còn là một người đồng chí chân thành, giản dị, gương mẫu trong cuộc sống, chan hòa, gần gũi với quần chúng, lôi cuốn và tập hợp, đoàn kết được mọi người, được đồng chí cảm phục, nhân dân yêu mến. Với các cơ sở cách mạng, đồng chí Hoàng Văn Thụ luôn hòa mình vào cuộc sống bình dị hằng ngày của đồng bào, cùng làm các công việc như một thành viên ruột thịt trong mỗi gia đình cơ sở, nên đi đến đâu cũng được dân thương, đùm bọc và nuôi giấu. Ở vùng mỏ Hà Lầm, Hòn Gai, đồng chí trực tiếp lao động như một công nhân thực thụ, khiêm tốn, chân thành, giản dị trong cuộc sống đời thường với những người công nhân. Sâu sát thực tiễn và gắn bó với cơ sở, nên dù hoạt động ở vùng biên giới Việt - Trung, khu mỏ, nhà ga, bến tàu hay trong Thành ủy Hà Nội, ở đâu đồng chí bí thư Xứ ủy cũng được cán bộ, đảng viên và quần chúng kính trọng, chở che.

Cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí Hoàng Văn Thụ không dài, nhưng tấm gương người cộng sản luôn đảm nhận những công việc khó, luôn gần dân, sâu sát địa bàn cơ sở và kiên cường, bất khuất trước kẻ thù của đồng chí được các thế hệ người Việt Nam ghi nhớ và tôn vinh đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Trong Đảng ta, các đồng chí Trần Phú, Ngô Gia Tự, Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Văn Thụ, Nguyễn Thị Minh Khai và nhiều đồng chí khác đã vì dân, vì Đảng mà oanh liệt hy sinh, đã nêu gương chói lọi của đạo đức cách mạng chí công vô tư cho tất cả chúng ta học tập”(10)./.


TS. Văn Thị Thanh Mai

Ban Tuyên giáo Trung ương

_____________________

(1), (2), (6), (8), (9) Đức Vượng - Nguyễn Đình Nhơn: Những người cộng sản, Nxb. Thanh Niên, H, 2000, tr.104, 106, 114, 116, 117.

(3), (4), (5), (7) Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn: Hoàng Văn Thụ - Người chiến sỹ cộng sản kiên trung bất khuất, Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng tỉnh Lạng Sơn, 1984, tr.23, 30, 30, 34.

(10) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, H, 2011, t.11, tr.602.
False
1 - 30Next