Cuộc chiến tranh do Mỹ gây ra ở Việt Nam đã lùi xa hơn nửa thế kỷ, nhưng những hậu quả nặng nề vẫn còn dai dẳng đến hôm nay. Trong 3.735 ngày, từ năm 1961 đến năm 1971, quân đội Mỹ đã phun rải xuống Việt Nam khoảng 80 triệu lít chất độc hóa học, trong đó có 366 kg dioxin, làm khoảng 4,8 triệu người Việt Nam bị phơi nhiễm và khoảng 3 triệu người trở thành nạn nhân chất độc da cam.

Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Bình khởi công xây dựng xóa nhà tạm, nhà dột nát cho đối tượng là con đẻ của người hoạt động kháng chiến nhiễm chất độc da cam.
Trước phong trào đấu tranh, nổi dậy mạnh mẽ của Nhân dân miền Nam, năm 1961, Tổng thống Mỹ J. Kennedy chủ trương tiến hành chiến tranh hóa học song song với cuộc chiến tranh thông thường tại Việt Nam. Các chỉ huy quân sự Anh từng tham gia hoạt động phun rải chất độc hóa học tại Malaysia trong những năm 1950 như Gerald Templer, Rob Lockhart, Robert Thomson… được mời làm cố vấn cho quân đội Mỹ tại miền Nam Việt Nam.
Trong chiến tranh, khoảng 15 loại hóa chất đã được sử dụng với khối lượng lớn, nồng độ cao, biến Việt Nam thành nơi thử nghiệm các loại chất độc hóa học. Quân đội Mỹ sử dụng nhiều phương tiện, chủ yếu là máy bay C-123, trực thăng UH-1, để phun rải hóa chất xuống các cánh rừng, tuyến đường và vùng đất canh tác. Đồng thời, các phương tiện cơ giới trên bộ, lựu đạn, mìn và máy bơm áp lực cao cũng được sử dụng để phun rải hóa chất xung quanh căn cứ, khu vực đóng quân của quân Mỹ và đồng minh, cũng như vào các hầm trú ẩn, địa đạo của Quân Giải phóng.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, địa bàn xã Vĩnh Bình là một trong những nơi phải hứng chịu sự đánh phá, triệt hạ khốc liệt của kẻ thù. Ông Lê Văn Lai (Mười Hùng), nguyên Bí thư xã Vĩnh Bình, nhớ lại:Trong những năm trực tiếp tham gia hoạt động kháng chiến, ông đã chứng kiến quân Mỹ - ngụy trút xuống vùng quê U Minh Thượng không biết bao nhiêu bom đạn và chất độc hóa học.
Trên những chặng đường cùng đồng đội hành quân từ kênh Nông Trường, Lụt Út sang Kiểm Lâm, Sân Gạch, Chắc Băng, Xẻo Gia, trước mắt ông là cảnh cây cối khô cằn, những vạt rừng xanh bị hủy diệt, trơ trụi, đổ ngã. Việc phun rải chất độc hóa học không chỉ nhằm phá hủy môi trường, triệt hạ rừng cây mà còn làm mùa màng thất bát, cắt đứt nguồn lương thực, thực phẩm phục vụ cách mạng. Dọc sông Cái Lớn về Vĩnh Bình, những cánh rừng từng xanh tốt cũng trở nên hoang tàn, cây cối trơ trụi sau những đợt đánh phá của địch.
Chiến tranh đã kết thúc, nhưng hậu quả của chất độc da cam vẫn là nỗi đau hiện hữu trong nhiều gia đình. Không ít nạn nhân đang phải sống trong hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn cả về vật chất lẫn tinh thần, đặc biệt là những gia đình có nhiều nạn nhân, có nhiều thế hệ cùng chịu ảnh hưởng hoặc có người mắc bệnh nặng, bệnh hiểm nghèo, thường xuyên tái phát.
Nhiều trường hợp sinh con bị dị dạng, dị tật, thiểu năng trí tuệ; nhiều nạn nhân là dân thường đã mất khả năng lao động, không có nguồn thu nhập ổn định. Trong khi đó, chi phí chăm sóc, nuôi dưỡng và điều trị bệnh rất lớn, vượt quá khả năng của nhiều gia đình. Nạn nhân chất độc da cam vì thế được xem là “những người nghèo nhất trong những người nghèo, những người đau khổ nhất trong những người đau khổ”. Đáng lo ngại hơn, những căn bệnh hiểm nghèo và di chứng của chất độc hóa học vẫn tiếp tục ảnh hưởng đến các thế hệ con, cháu của nhiều gia đình.
Hiện nay, vẫn còn những người từng hoạt động kháng chiến tại các vùng quân đội Mỹ sử dụng chất độc hóa học nhưng chưa được giám định đầy đủ hoặc chưa hoàn chỉnh hồ sơ để được hưởng chính sách đối với người bị nhiễm chất độc hóa học. Việc hỗ trợ những người từng công tác, sinh sống tại các vùng bị phun rải chất độc hóa học, sau đó mắc bệnh hiểm nghèo hoặc sinh con dị dạng, dị tật cũng còn những vấn đề cần tiếp tục quan tâm.
Thực tế đó cho thấy, chăm sóc, giúp đỡ nạn nhân chất độc da cam là nhiệm vụ vừa lâu dài, vừa cấp thiết, đòi hỏi sự chung tay, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm thực hiện các chính sách chăm lo người có công, nạn nhân chất độc da cam, góp phần chia sẻ khó khăn, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho những người đang phải gánh chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh.
Để giành lại độc lập, tự do, mang đến cuộc sống hòa bình, ấm no, hạnh phúc cho dân tộc, biết bao thế hệ cán bộ, chiến sĩ và Nhân dân đã không tiếc máu xương, anh dũng chiến đấu trên khắp mọi miền đất nước. Bom đạn chiến tranh không thể khuất phục ý chí của họ, những đòn roi, tra tấn của kẻ thù cũng không thể lay chuyển niềm tin vào ngày đất nước thống nhất. Thế nhưng, với nhiều người, vết thương đau đớn nhất vẫn kéo dài từng ngày, từng giờ khi phải chứng kiến con, cháu mình tiếp tục gánh chịu những di chứng nặng nề của cuộc chiến tranh hóa học.
Nỗi đau da cam vì thế không phải là nỗi đau của riêng một người, một gia đình hay một thế hệ. Đó là nỗi đau chung của dân tộc, là hậu quả chiến tranh cần tiếp tục được toàn xã hội quan tâm, sẻ chia và chung tay khắc phục.
Nhân kỷ niệm 65 năm thảm họa da cam ở Việt Nam (10/8/1961 - 10/8/2026), mỗi tổ chức, cá nhân hãy tiếp tục phát huy truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, tinh thần tương thân, tương ái; bằng tình yêu thương, nghĩa tình và trách nhiệm, có những hành động thiết thực chăm lo, giúp đỡ nạn nhân chất độc da cam. Qua đó, góp phần xoa dịu nỗi đau chiến tranh, tiếp thêm nghị lực để các nạn nhân và gia đình vượt qua khó khăn, vươn lên trong cuộc sống.
Võ Thanh Xuân