Quê hương là nơi mỗi người sinh ra, lớn lên và mang theo suốt cuộc đời những ký ức khó phai. Với Chủ tịch Tôn Đức Thắng, quê hương An Giang không chỉ là nơi chôn nhau cắt rốn, nơi có gia đình, dòng họ và những kỷ niệm tuổi thơ, mà còn là mảnh đất góp phần hun đúc nên nhân cách của một người cộng sản kiên trung, một nhà lãnh đạo mẫu mực của cách mạng Việt Nam.

Đảng uỷ xã Vĩnh Bình tổ chức về nguồn, dâng hoa tri ân Chủ tịch Tôn Đức Thắng.
Từ Cù lao Ông Hổ đến lý tưởng cách mạng
Ngày 20/8/1888, tại Cù lao Ông Hổ, làng An Hòa, tổng Định Thành, hạt Long Xuyên, nay là xã Mỹ Hòa Hưng, tỉnh An Giang, cậu bé Tôn Đức Thắng cất tiếng khóc chào đời trong một gia đình trung nông giàu truyền thống yêu nước, đậm nghĩa tình của vùng sông nước Nam Bộ.
Truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm của các bậc tiền nhân cùng những bất công mà người dân lao động phải chịu đựng đã góp phần hình thành ở người thanh niên Tôn Đức Thắng lòng thương dân, sự cảm thông sâu sắc với thân phận người lao động và khát vọng tìm con đường đấu tranh giải phóng dân tộc.
Trong hơn 60 năm hoạt động cách mạng, đồng chí Tôn Đức Thắng trải qua nhiều gian lao, thử thách; từng bị thực dân bắt giam, tra tấn, đày ải; tham gia phong trào công nhân, lãnh đạo cách mạng và đảm nhiệm nhiều trọng trách của Đảng, Nhà nước, Mặt trận. Từ Phó Chủ tịch nước, Người trở thành Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và sau đó là Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Năm 1945, sau hơn 15 năm bị thực dân Pháp giam cầm, đày ải tại Côn Đảo, Cách mạng Tháng Tám thành công, đồng chí Tôn Đức Thắng trở về đất liền. Sau những năm tháng tù đày khắc nghiệt, một trong những mong muốn lớn của Người là được trở về thăm gia đình, quê hương.
Người có dịp trở lại Mỹ Hòa Hưng, gặp gia đình, người thân, bà con và xóm làng sau bao năm xa cách. Tuy nhiên, niềm vui đoàn tụ không kéo dài. Đất nước vừa giành được độc lập, chính quyền cách mạng non trẻ đứng trước muôn vàn khó khăn, thử thách. Đồng chí Tôn Đức Thắng được giao nhiệm vụ ra Bắc làm việc với Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Trong giờ phút chia tay quê hương, Bác Tôn chỉ nói một câu giản dị: “Việc nước đang gấp”. Rồi Người lại lên đường.
Một đêm ở quê nhà sau hơn 15 năm tù đày là khoảng thời gian rất ngắn đối với một người con xa quê. Nhưng với đồng chí Tôn Đức Thắng, tình riêng luôn nhường chỗ cho nghĩa lớn. Đó cũng là sự lựa chọn xuyên suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người: đặt lợi ích của Tổ quốc, của Nhân dân lên trên lợi ích của cá nhân.
Trở về quê hương trong ngày đất nước thống nhất
Nếu lần trở về năm 1945 là cuộc hội ngộ đầy xúc động sau những năm tháng tù đày thì lần trở lại quê hương vào tháng 12/1975 mang một ý nghĩa đặc biệt. Cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc đã thắng lợi, miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất. Sau 30 năm xa cách, người con của quê hương An Giang trở về trên cương vị Chủ tịch nước.
Sáng 5/12/1975, Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng về thăm tỉnh An Giang. Gặp gỡ đại biểu Nhân dân trong tỉnh, Người xúc động nói: “Hôm nay Đảng và Nhà nước cho phép tôi về thăm quê nhà. Chưa bao giờ tôi thấy sung sướng như lúc này, khi cả nước được độc lập, tự do, Bắc - Nam thống nhất”.
Niềm vui của Bác Tôn không chỉ là được trở lại nơi mình sinh ra và lớn lên, mà lớn hơn cả là được chứng kiến ngày đất nước hòa bình, độc lập, Bắc - Nam sum họp một nhà sau bao năm chiến đấu, hy sinh.
Trong cuộc gặp với cán bộ tỉnh An Giang, điều Chủ tịch Tôn Đức Thắng quan tâm trước hết là đời sống của Nhân dân sau chiến tranh, nhất là đồng bào Khmer, đồng bào theo đạo Hòa Hảo. Người hỏi kỹ về sản xuất, đời sống, việc học hành của trẻ em, sự phục hồi hoạt động làm ăn, buôn bán của người dân.
Nghe báo cáo đời sống Nhân dân tuy còn khó khăn nhưng đã từng bước được cải thiện, sản xuất dần phục hồi, học sinh phần lớn được đến trường, Bác Tôn rất vui. Người đặc biệt quan tâm việc tập hợp quần chúng vào các đoàn thể, hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và việc củng cố khối đại đoàn kết toàn dân.
Từ thực tiễn đó, Người căn dặn: “Dân là nền tảng sức mạnh của cách mạng”, vì vậy phải thường xuyên chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân; tập hợp Nhân dân trong các đoàn thể, trong Mặt trận; phát huy vai trò của các tổ chức trong xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân.
Bác Tôn cũng dành nhiều thời gian tìm hiểu về tổ chức và hoạt động của Tỉnh ủy, các cấp ủy, chi bộ cơ sở; công tác phát triển Đảng trong công nhân, nông dân, thanh niên, phụ nữ, đồng bào dân tộc và tôn giáo, nhất là trong vùng đồng bào Khmer, đồng bào theo đạo Hòa Hảo.
Người vui mừng khi biết các cấp ủy từ tỉnh đến cơ sở hoạt động ngày càng đi vào nền nếp, chú trọng công tác phát triển Đảng trong các tầng lớp Nhân dân; Trường Chính trị của tỉnh thường xuyên tổ chức các lớp bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên.
Qua những câu hỏi, lời căn dặn của Bác Tôn trong lần trở về này có thể thấy, dù xa quê nhiều năm và đang đảm nhiệm trọng trách cao nhất của Nhà nước, Người vẫn luôn đau đáu với đời sống Nhân dân, với công tác xây dựng Đảng, củng cố hệ thống chính trị và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân ở quê hương.
Sáng 06/12/1975, lãnh đạo tỉnh An Giang đưa Bác Tôn về thăm Cù lao Ông Hổ, nơi Người sinh ra và lớn lên. Gia đình, họ hàng và đông đảo bà con chòm xóm có mặt từ trong nhà ra ngoài sân để đón người con xa quê sau 30 năm trở lại.
Cảnh vật quê nhà đã nhiều đổi thay, nhưng trong ký ức của Bác Tôn, những hình ảnh thân thuộc của Cù lao Ông Hổ vẫn vẹn nguyên. Người thắp hương trước bàn thờ tổ tiên, ân cần hỏi thăm bà con, dòng họ, hỏi chuyện quê hương, làng xóm.
Dù trên cương vị Chủ tịch nước, trước người thân và bà con quê nhà, Bác Tôn vẫn là “Anh Hai Thắng” giản dị, chân tình của Cù lao Ông Hổ năm nào. Trong bộ quần áo giản dị, đôi dép quen thuộc, Người trò chuyện gần gũi, thân tình với mọi người. Giữa vị nguyên thủ quốc gia và bà con quê nhà dường như không có khoảng cách, chỉ có tình cảm ấm áp của một người con lâu ngày trở lại nơi mình sinh ra và lớn lên. Bà con mong Bác Tôn ở lại lâu hơn, nhưng đất nước vừa thống nhất, công việc còn bộn bề, Người lại phải chia tay quê nhà để tiếp tục “đi lo việc nước”.
Hai lần trở về quê hương, cách nhau 30 năm và diễn ra trong hai thời điểm lịch sử khác nhau, nhưng đều thể hiện rõ một phẩm chất nhất quán ở Chủ tịch Tôn Đức Thắng. Đó là tình cảm sâu nặng với gia đình, quê hương luôn gắn với trách nhiệm đối với đất nước và Nhân dân. Năm 1945, sau hơn 15 năm tù đày, Người rời quê vì “việc nước đang gấp”; năm 1975, trong niềm vui đoàn tụ sau ngày đất nước thống nhất, Người cũng không thể ở lại lâu vì còn phải “đi lo việc nước”.
Quê hương An Giang đã trao cho Bác Tôn một tuổi thơ, một nền tảng văn hóa và cốt cách nghĩa tình, hào sảng của người Nam Bộ. Từ mảnh đất Cù lao Ông Hổ, những phẩm chất ấy được hun đúc cùng lý tưởng cách mạng, góp phần hình thành nên người chiến sĩ cộng sản Tôn Đức Thắng kiên trung, giản dị, hết lòng vì nước, vì dân.
Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Người đã dành tâm sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân, góp phần làm rạng danh quê hương An Giang. Cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Tôn Đức Thắng mãi là niềm tự hào, đồng thời để lại những giá trị sâu sắc về lòng yêu nước, tinh thần đại đoàn kết, đức tính khiêm nhường, giản dị và trách nhiệm đối với Nhân dân, đất nước.
Võ Thanh Xuân