Đề cương tuyên truyền về đồng chí Lâm Kiên Trì và liệt sĩ Huỳnh Văn Thạnh được truy tặng danh hiệu “Anh hùng LLVT nhân dân”

 

Thực hiện Kế hoạch số 135-KH/TU ngày 08/9/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy An Giang về việc tổ chức Lễ công bố quyết định công nhận Ngày truyền thống Lực lượng vũ trang (LLVT) tỉnh An Giang và truy tặng danh hiệu “Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân” trong thời kỳ kháng chiến; Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy xây dựng Đề cương tuyên truyền về cuộc đời, quá trình hoạt động cách mạng, những cống hiến, thành tích đặc biệt xuất sắc của đồng chí Lâm Kiên Trì và sự hy sinh của Liệt sĩ Huỳnh Văn Thạnh; qua đó góp phần tuyên truyền, tôn vinh, giáo dục truyền thống cách mạng, bồi đắp niềm tự hào, lòng biết ơn và phát huy tinh thần trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang và các tầng lớp Nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

I. KHÁI LƯỢC TIỂU SỬ VÀ QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG CÁCH MẠNG CỦA ĐỒNG CHÍ LÂM KIÊN TRÌ

Đồng chí Lâm Kiên Trì, tên thật là Lâm Minh Mẫn, bí danh Năm Trì, sinh ngày 01/7/1928, quê quán thị trấn Dương Đông, huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang (nay là đặc khu Phú Quốc, tỉnh An Giang). Đồng chí tham gia cách mạng từ tháng 02/1945, được kết nạp vào Đảng tháng 6/1949 và từ trần ngày 14/6/2022.

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, đồng chí tham gia Đoàn Thanh niên Tiền phong, Đội Tự vệ xã Cửa Dương. Từ năm 1947 đến năm 1953, đồng chí lần lượt đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ ở cơ sở, từ Tổ trưởng, Phân đoàn trưởng Thanh niên Cứu quốc xã Dương Tơ, Ủy viên Thanh niên Xã đoàn, Ủy viên Mặt trận Việt Minh, Trưởng Ban Thông tin xã, Tổ trưởng Đảng Chi bộ, Bí thư Chi bộ xã Cửa Dương, Bí thư xã Dương Tơ, đến Huyện ủy viên, Ủy viên Ban Thường vụ Huyện ủy, Trưởng Công an huyện Phú Quốc. Qua thực tiễn hoạt động cách mạng, đồng chí từng bước trưởng thành, được tổ chức tin tưởng giao nhiều trọng trách, đặt nền tảng cho quá trình lãnh đạo, chỉ đạo phong trào cách mạng ở Phú Quốc và trên địa bàn tỉnh sau này.

Từ tháng 8/1954 đến tháng 11/1957, đồng chí là Bí thư Huyện ủy Phú Quốc. Từ tháng 11/1957 đến tháng 6/1961, đồng chí lần lượt giữ cương vị Bí thư Huyện ủy Giồng Riềng – Gò Quao, Bí thư Huyện ủy Gò Quao và Bí thư Huyện ủy Giồng Riềng. Từ tháng 7/1961, đồng chí được điều động về tỉnh, giữ chức Tỉnh ủy viên, phụ trách Ban Tuyên – Văn – Giáo tỉnh Rạch Giá; từ tháng 6/1964 đến tháng 7/1967 là Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, phụ trách Ban Tuyên huấn và Ban Tổ chức Tỉnh ủy.

Từ tháng 7/1967 đến tháng 01/1972, đồng chí giữ cương vị Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Rạch Giá, phụ trách Ban Tuyên huấn và Ban Tổ chức Tỉnh ủy. Từ tháng 01/1972 đến tháng 9/1972, đồng chí là Bí thư Tỉnh ủy Rạch Giá; sau đó giữ chức Phó Bí thư Tỉnh ủy và tiếp tục được giao trọng trách Bí thư Tỉnh ủy từ tháng 6/1973 đến tháng 10/1974. Từ tháng 10/1974 đến tháng 5/1975, đồng chí là Ủy viên Ban Tổ chức Khu ủy Khu 9.

Sau ngày đất nước thống nhất, đồng chí tiếp tục được Đảng giao nhiều trọng trách trong lãnh đạo, quản lý tỉnh Kiên Giang. Từ tháng 01/1976 đến tháng 3/1983, đồng chí là Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy; từ tháng 4/1983 đến tháng 11/1986 là Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; sau đó là Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy. Từ tháng 11/1987 đến tháng 9/1991, đồng chí giữ cương vị Bí thư Tỉnh ủy Kiên Giang, Đảng ủy viên Đảng ủy Quân khu 9, Bí thư Đảng ủy Quân sự tỉnh. Từ tháng 10/1991 đến tháng 4/1993, đồng chí làm Cố vấn Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh và nghỉ hưu tháng 5/1993.

Gần nửa thế kỷ hoạt động cách mạng, ở bất cứ cương vị nào, đồng chí Lâm Kiên Trì cũng luôn thể hiện bản lĩnh của người cán bộ lãnh đạo, sâu sát cơ sở, gắn bó với Nhân dân, tận tụy với công việc, đặt lợi ích của Đảng, của cách mạng và của Nhân dân lên trên hết.

II. NHỮNG ĐÓNG GÓP TO LỚN CỦA ĐỒNG CHÍ LÂM KIÊN TRÌ VỚI SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG

1. Sớm thể hiện bản lĩnh, tinh thần dũng cảm, mưu trí trong những năm đầu kháng chiến

Cách mạng Tháng tám năm 1945 thành công, đồng chí Lâm Kiên Trì tham gia Đoàn Thanh niên Tiền Phong và Dân quân cách mạng huyện Phú Quốc. Đồng chí tích cực tuyên truyền cách mạng trong nhân dân, tham gia luyện tập quân sự, vận động và tiếp tế lương thực cho lực lượng cách mạng.

Tháng 4/1946, Pháp tái chiếm Phú Quốc. Tháng 9/1946, đồng chí được phân công vào Đội tự vệ mật, với nhiệm vụ theo dõi, nắm tình hình của Pháp, kịp thời báo cáo tổ chức để xây dựng kế hoạch biểu dương lực lượng cách mạng, đòi Pháp thực hiện nghiêm chỉnh “Thỏa hiệp án 14/9”… Cuộc biểu dương lực lượng đã được tổ chức tháng 10/1946, là thành công lớn của Quận ủy, trực tiếp là Tổ tự vệ đã vận động và bảo vệ trật tự an toàn cho hàng ngàn người tham gia cuộc tuần hành tại xã Dương Đông.

2. Kiên cường ở lại Phú Quốc, duy trì tổ chức Đảng và phong trào cách mạng trong điều kiện địch đàn áp

Tháng 4/1947, thực hiện chủ trương của Quận ủy đẩy mạnh hoạt động vũ trang, phá thế kềm kẹp, mở rộng địa bàn và giành dân, với vai trò Tổ trưởng Tổ Tự vệ mật, Phân Đoàn trưởng xã Dương Tơ, đồng chí cùng một số thanh niên trong Tổ Thanh niên Xóm Cồn may một lá cờ Tổ quốc, đợi đêm xuống dũng cảm ra cầu, treo lên đỉnh giữa Cầu Ngang, buộc địch phải đưa quân ra hạ cờ. Lúc đó, lực lượng của ta từ các hướng nổ súng làm địch hoang mang hoảng sợ, rút quân, co cụm vào đồn. Nhân cơ hội này hàng trăm người dân trong khu vực Cầu Ngang chuyển đồ đạc, nhà cửa về vùng tự do ở Dương Tơ sinh sống.

Năm 1954, thực hiện Hiệp định Genève, đồng chí Lâm Kiên Trì không đi tập kết, được phân công ở lại làm Bí thư Huyện ủy Phú Quốc. Trong điều kiện địch tăng cường đàn áp, Phú Quốc xa sự lãnh đạo trực tiếp của Tỉnh ủy, đồng chí cùng Ban Thường vụ Huyện ủy kiên trì duy trì tổ chức Đảng, củng cố chi bộ các xã, thị trấn; tổ chức hoạt động linh hoạt, kết hợp giữa hoạt động bí mật, căn cứ kháng chiến với hoạt động công khai, bán công khai, nhất là đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ, đòi hiệp thương, tổng tuyển cử; xây dựng lực lượng nòng cốt cho Đảng bộ và lực lượng vũ trang, tạo cơ sở quan trọng để củng cố phong trào cách mạng Phú Quốc trong những năm kháng chiến tiếp theo.

Gần đến ngày hiệp thương 20/7/1955, với vai trò Bí thư Huyện ủy, phụ trách Chi bộ Dương Đông, đồng chí Lâm Kiên Trì chỉ đạo các xã, thị trấn tổ chức vận động Nhân dân ký tên gửi quận trưởng, tỉnh trưởng, yêu cầu tổ chức hiệp thương và thi hành đúng Hiệp định Genève. Tại Dương Đông, đồng chí chỉ đạo rải, dán truyền đơn, áp phích tại nhiều nơi, kể cả trụ sở tề làng Dương Đông, và tổ chức mít tinh trên địa bàn huyện. Qua đó, lãnh đạo Nhân dân đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Genève, đồng thời yêu cầu địch chấm dứt khủng bố, bắt bớ, trả thù những người cách mạng, kháng chiến cũ.

3. Xây dựng cơ sở, “căn cứ lòng dân”, phát triển lực lượng ở Giồng Riềng - Gò Quao

Cuối năm 1957, chấp hành nghị quyết của Đảng, đồng chí Lâm Kiên Trì chuyển địa bàn hoạt động vào đất liền, làm Bí thư Liên huyện Giồng Riềng – Gò Quao; sau đó lần lượt làm Bí thư Huyện ủy Giồng Riềng và Huyện ủy Gò Quao. Đây là những địa bàn trọng điểm địch thực hiện chính sách tố cộng, diệt cộng, khủng bố, truy lùng cán bộ, đảng viên và đàn áp phong trào cách mạng. Riêng Giồng Riềng, từ 1.183 đảng viên ở lại sau tập kết, đến thời điểm này chỉ còn 51 đồng chí.

Trước tình hình đặc biệt khó khăn, đồng chí chủ động tìm cách bắt liên lạc, củng cố số cán bộ, đảng viên còn lại, xác định phương châm bám dân, dựa vào dân để tồn tại và hoạt động, xây dựng cơ sở bí mật, hầm bí mật trong nhà dân làm nơi trú ẩn và tổ chức hoạt động. Đồng thời, đồng chí cùng Huyện ủy xây dựng cơ sở trong hàng ngũ ngụy quân, ngụy quyền, từng bước khôi phục tổ chức Đảng, phát triển lực lượng và mở rộng phong trào cách mạng.

Sau khi Nghị quyết số 15 ra đời, đồng chí cùng Huyện ủy thành lập Ban Quân Binh (quân sự và binh vận), xây dựng lực lượng nội tuyến, góp phần tạo điều kiện cho các hoạt động diệt ác, thu vũ khí trang bị cho lực lượng cách mạng, tiêu biểu là tại đồn Chợ Mới (xã Hòa Thuận) năm 1957 và đồn Đường Cày (xã Thạnh Hưng) năm 1961.

4. “Chuyến đi lịch sử” nối lại liên lạc giữa đất liền với Phú Quốc, khơi dậy sức mạnh của phong trào trên đảo

Năm 1965, đế quốc Mỹ trực tiếp đưa quân vào miền Nam Việt Nam, địch tăng cường lực lượng, vũ khí, phương tiện chiến tranh và đẩy mạnh các hoạt động gián điệp, tình báo, chiêu hồi, chiêu hàng. Trên đảo Phú Quốc, địch thiết lập hệ thống đồn bốt, căn cứ và nhiều tầng tuần tra, kiểm soát cả trên bộ và trên biển, đặc biệt tăng cường phong tỏa vùng biển phía Bắc đảo, nhằm chia cắt Phú Quốc với đất liền, cô lập lực lượng cách mạng và tiêu diệt phong trào trên đảo.

Sau sự kiện đoàn cán bộ Phú Quốc vượt biển vào đất liền bị địch phát hiện, 12 đồng chí hy sinh ngày 25/10/1965, trong đó có đồng chí Giang Lạc Đắc, Bí thư Huyện ủy Phú Quốc. Địch càng siết chặt phong tỏa, kiểm soát tuyến biển Hà Tiên – Phú Quốc; việc liên lạc, tiếp vận giữa đảo với đất liền bị cắt đứt. Trên đảo, lực lượng cách mạng thiếu lương thực, vũ khí, phương tiện; đài điện báo bị hư hỏng, không thể liên lạc với tỉnh. Trong thời gian dài, Đảng bộ Phú Quốc phải tự tổ chức lãnh đạo, chủ yếu dựa vào tình hình thu thập được và tin tức qua radio. Phong trào gặp nhiều khó khăn, một bộ phận cán bộ, chiến sĩ dao động, cơ sở bị tổn thất, sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy đối với Đảng bộ Phú Quốc bị gián đoạn.

Trước tình hình đó, Tỉnh ủy Rạch Giá nhiều lần bàn biện pháp nối lại liên lạc, củng cố tổ chức và khôi phục phong trào trên đảo. Đồng chí Lâm Kiên Trì, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, nhận thức rõ muốn khắc phục tình trạng này phải có cán bộ lãnh đạo trực tiếp ra đảo, nên chủ động đề xuất và xung phong nhận nhiệm vụ tổ chức đoàn cán bộ vượt biển ra Phú Quốc để củng cố cơ sở, xây dựng lại phong trào cách mạng. Mặc dù biết đây là nhiệm vụ đặc biệt nguy hiểm, có thể phải hy sinh và trong Ban Thường vụ Tỉnh ủy có ý kiến can ngăn, đồng chí vẫn kiên quyết giữ vững ý định,  thiết tha yêu cầu được đi và trực tiếp tổ chức chuyến đi này. Đồng chí thuyết phục rằng mình sinh ra, lớn lên ở Phú Quốc, thông thuộc địa hình, vùng biển, thời tiết nơi đây và có kinh nghiệm đi biển, nên khả năng tổ chức chuyến đi thành công sẽ cao hơn.

Được Ban Thường vụ Tỉnh ủy và Thường trực Khu ủy chấp thuận, đồng chí trực tiếp tổ chức đoàn, lựa chọn cán bộ, chiến sĩ có kinh nghiệm, phần lớn là người gốc Phú Quốc. Giữa tháng 7/1967, đồng chí Lâm Kiên Trì dẫn đoàn vượt qua nhiều địa bàn, từ Châu Thành A (Hòn Đất) qua Giang Thành, Ton Hon rồi về Lục Sơn (tỉnh Kam-pốt, Campuchia). Tại đây, đoàn vừa xây dựng cơ sở, vừa nghiên cứu kỹ tình hình và quy luật bố phòng, tuần tra của địch. Sau một thời gian ém quân tại Lục Sơn nắm chắc tình hình và quy luật hoạt động của địch, đồng chí phát hiện một số sơ hở trong việc tổ chức tuần tra của địch mà ta có thể lợi dụng để chọc thủng vòng vây. Đồng chí quyết định chọn Kam-pốt (Campuchia) làm bàn đạp, từ đó nhanh chóng ra Hòn Nầng (sát cạnh Gành Dầu của Phú Quốc), vượt qua eo biển này, đổ bộ lên Bắc đảo Phú Quốc.

Giữa tháng 9/1967, sau nhiều ngày trinh sát, tổ công tác do đồng chí tổ chức đã vượt biển vào Bắc đảo Phú Quốc an toàn. Đêm 17/9/1967, đồng chí Lâm Kiên Trì cùng các thành viên còn lại của đoàn tiếp tục vượt biển, qua ba lớp vòng vây, phong tỏa của địch, đổ bộ an toàn lên Bắc đảo Phú Quốc, nối lại liên lạc với lực lượng cách mạng trên đảo.

Chuyến đi thành công có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nối thông liên lạc giữa đảo với đất liền, khôi phục sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy đối với Đảng bộ Phú Quốc; đồng thời khai thông một tuyến liên lạc bí mật, an toàn trên biển, tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận chuyển nhân lực, vật lực từ đất liền ra đảo và từ đảo vào đất liền.

Sau khi ra đảo, đồng chí khẩn trương chỉ đạo củng cố, xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang; thành lập hai đơn vị mới là Đặc công và Pháo binh của huyện; tổ chức xây dựng, củng cố hệ thống quân y cấp xã, thành lập tổ phẫu thuật, từng bước tăng cường khả năng chiến đấu và bảo đảm phục vụ chiến đấu của lực lượng cách mạng trên đảo.

“Chuyến đi lịch sử” thể hiện nổi bật bản lĩnh chính trị, ý thức trách nhiệm cao, tinh thần dũng cảm, mưu trí, sáng tạo và quyết đoán của đồng chí Lâm Kiên Trì; đặc biệt là tinh thần xung phong nhận nhiệm vụ đặc biệt nguy hiểm, trực tiếp tổ chức và thực hiện đến cùng. Thành công của chuyến đi góp phần quan trọng nối lại sự lãnh đạo của Tỉnh ủy đối với Đảng bộ và phong trào cách mạng Phú Quốc, thể hiện năng lực tổ chức, chỉ đạo thực tiễn của đồng chí Lâm Kiên Trì trong điều kiện chiến trường đặc biệt gian khổ, ác liệt.

5. Bám sát chiến trường, trực tiếp lãnh đạo Tổng tiến công Xuân Mậu Thân và đề ra chủ trương “3 bám”

Cuối năm 1967, đồng chí trở về đất liền để chuẩn bị cho hoạt động lãnh đạo, tấn công địch dịp Xuân Mậu Thân năm 1968. Trong Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, khi tỉnh Rạch Giá tổ chức tiến công vào thị xã Rạch Giá, đồng chí là Phó Bí thư Tỉnh ủy, được phân công làm Chính ủy Mặt trận thị xã.

Giai đoạn 1969 - 1972, địa bàn Rạch Giá vừa là căn cứ, vừa là là chiến trường, là đường hành lang vận chuyển người và vũ khí của Trung ương cho Quân khu 9 nên địch bình định, đánh phá ác liệt. Đồng chí Lâm Kiên Trì khi đó có lúc là Phó Bí thư Thường trực, có lúc là Bí thư đã cùng Tỉnh ủy bám sát chiến trường đề ra những chủ trương sát, đúng, đặc biệt là chủ trương 3 bám (Đảng bám dân; dân bám đất; bộ đội, du kích bám địch). Từ đó đã làm nền tảng kháng chiến toàn dân và cùng với Quân khu 9 đánh bại 3 đợt bình định Nhổ cỏ U Minh của Mĩ - Ngụy. Đồng thời lãnh đạo lực lượng vũ trang tỉnh tổ chức chuyển 3 trung đoàn và nhiều đơn vị khác của Bộ Tư lệnh miền tăng cường cho Quân khu 9.

6. Tiếp tục cống hiến trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc sau năm 1975

Sau ngày 30/4/1975, đồng chí Lâm Kiên Trì được giữ trọng trách, có lúc là Phó Bí thư Thường trực, Phó Bí thư – Chủ tịch UBND tỉnh, sau đó là Bí thư Tỉnh ủy Kiên Giang, đồng chí đã cùng Tỉnh ủy lãnh đạo thực hiện công tác quốc phòng quân sự địa phương sâu sát, hiệu quả. Từ năm 1976 đến đầu năm 1977, đồng chí cùng Tỉnh ủy lãnh đạo, chỉ đạo Đảng ủy - Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, Ban Biên giới tỉnh nắm được ý đồ của Khmer Đỏ, chủ động điều động, bố trí phòng thủ biên giới Bắc Hà Tiên. Khi Khmer Đỏ tiến hành xâm lược biên giới, lực lượng vũ trang tỉnh đã đánh bật một sư đoàn địch ngay từ trận đầu ngày 14/6/1977, buộc chúng rút về bên kia biên giới trong đêm.

Năm 1987, đồng chí là Bí thư Tỉnh ủy đầu tiên của tỉnh Kiên Giang tham gia Đảng ủy Quân khu 9 và trực tiếp làm Bí thư Đảng ủy Quân sự tỉnh theo Nghị quyết số 02 của Bộ Chính trị khóa VI; trong nhiệm kỳ đã lãnh đạo tổ chức thành công diễn tập khu vực phòng thủ cấp tỉnh “KG-88”, là cuộc diễn tập điểm thứ hai cho Đảng ủy Quân sự Trung ương - Bộ Quốc phòng.

7. Phẩm chất, đạo đức và tấm gương đồng chí Lâm Kiên Trì

Gần 50 năm hoạt động cách mạng, từ năm 1945 đến khi nghỉ hưu năm 1993, dù ở bất cứ cương vị, địa bàn nào, đồng chí luôn chấp hành nghiêm chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; thể hiện vai trò tiên phong, gương mẫu của người cán bộ, đảng viên, nói đi đôi với làm, sâu sát thực tiễn, gắn bó với lực lượng vũ trang và quan tâm chăm lo xây dựng lực lượng.

Qua 95 tuổi đời với 75 năm tuổi Đảng, trải qua 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đồng chí luôn tỏ rõ là một người chiến sỹ tuyệt đối trung thành của Đảng, sẵn sàng hy sinh vì lý tưởng cách mạng; kiên quyết, bản lĩnh trong chỉ đạo, lãnh đạo đấu tranh với địch; kiên tâm, bền chí khắc phục, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ để hoàn thành nhiệm vụ; trong sinh hoạt thường ngày, với  những ai đã từng tiếp xúc dù một lần cũng đều kính trọng trước đạo đức trong sáng, nhân hậu, thủy chung. Trong thời bình, đồng chí vẫn luôn gắn bó chặt chẽ, sâu sát với thực tế, với nhân dân; có cuộc sống bình dị, liêm khiết, quan hệ hài hòa, khiêm tốn với mọi người - dù đang lúc giữ chức vụ cao trong tỉnh hay khi đã nghỉ hưu. Với đồng chí thì thân ái, chân tình, thẳng thắn đấu tranh xây dựng; luôn ý thức và quan tâm đào tạo, bồi dưỡng, sẵn sàng tạo điều kiện cho đội ngũ cán bộ kế cận phát triển, phát huy năng lực, có điều kiện thăng tiến, cống hiến cho quê hương, đất nước. Đồng chí xây dựng được một gia đình mẫu mực, thành đạt, nối tiếp và phát huy được truyền thống cách mạng tốt đẹp.

8. Những phần thưởng cao quý

Với những đóng góp, cống hiến to lớn của mình, đồng chí Lâm Kiên Trì được Đảng và nhà nước tặng thưởng: Huy hiệu 30, 40, 50, 55, 60, 65, 70 và 75 năm tuổi Đảng; Huân chương Quyết thắng hạng Nhất; Huân chương Giải phóng hạng Nhất; Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất; Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng Ba; Huân chương Độc lập hạng Nhất; Huân chương Độc lập hạng Nhì. Ngày 28/8/2026, đồng chí được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

III. KHÁI LƯỢC TIỂU SỬ VÀ QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG CÁCH MẠNG CỦA LIỆT SĨ HUỲNH VĂN THẠNH

Liệt sĩ Huỳnh Văn Thạnh, bí danh Mười Thạnh, sinh năm 1951, quê quán Hòa Hưng, Giồng Riềng, Kiên Giang (nay là xã Hòa Hưng, tỉnh An Giang); tham gia cách mạng ngày 15/10/1967, vào Đảng chính thức tháng 6/1970; anh dũng hy sinh ngày 24/12/1977.

Từ chiến sĩ du kích, đồng chí lần lượt trưởng thành qua các cương vị Trung đội trưởng pháo binh, Chính trị viên phó, Chính trị viên Đại đội Địa phương quân huyện Giồng Riềng; sau ngày đất nước thống nhất là Chính trị viên Đại đội 1, Tiểu đoàn 207, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Rạch Giá. Quá trình trưởng thành của đồng chí gắn liền với chiến trường Giồng Riềng, với công tác chính trị, xây dựng lực lượng và trực tiếp chỉ huy chiến đấu.

IV. NHỮNG ĐÓNG GÓP TO LỚN CỦA LIỆT SĨ HUỲNH VĂN THẠNH VỚI SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG

1. Người cán bộ chính trị trưởng thành từ phong trào, lấy công tác tư tưởng làm nền tảng xây dựng sức mạnh chiến đấu

Trên cương vị Chính trị viên Đại đội Địa phương quân huyện Giồng Riềng, đồng chí phát huy vai trò hạt nhân chính trị, trung tâm đoàn kết của đơn vị; trực tiếp làm tốt công tác tư tưởng, giáo dục cán bộ, chiến sĩ, xây dựng ý chí, quyết tâm, giúp bộ đội vững vàng trước khó khăn, gian khổ và hy sinh. Bằng sự mưu trí, dũng cảm và khả năng vận động quần chúng khéo léo, đồng chí xây dựng được nhiều cơ sở nội tuyến hoạt động trong lòng địch và trực tiếp chỉ huy nhiều trận đánh quan trọng bứt rút nhiều đồn địch, như trận tiêu diệt đồn Bàu Tre. 

Để tiêu diệt đồn Bàu Tre, đồng chí nhiều lần rà soát, xác định Tám Châm và Chín Men là những người có điều kiện ra vào đồn; kiên trì, khéo léo vận động, khơi dậy tinh thần yêu nước, yêu tự do, xây dựng hai người trở thành lực lượng nội tuyến của ta. Những thông tin do lực lượng nội tuyến cung cấp góp phần giúp đơn vị tiêu diệt đồn Bàu Tre tháng 5/1971.

Đêm 26, rạng sáng 27/5/1971, đồng chí tiếp tục xây dựng và sử dụng lực lượng nội tuyến, trực tiếp chỉ huy đánh đồn Đường Láng tại xã Hòa Hưng; kết quả tiêu diệt và bắt sống 43 tên, thu nhiều vũ khí, trang bị, không có cán bộ, chiến sĩ hy sinh. Những kết quả đó thể hiện khả năng nắm tình hình, kiên trì vận động, xây dựng con người và tổ chức lực lượng trong lòng địch.

2. Linh hoạt, sáng tạo trong tổ chức và chỉ huy chiến đấu

Trong các năm 1972 - 1974, đồng chí trực tiếp chỉ huy đơn vị tham gia nhiều trận đánh quan trọng, từ phục kích, đánh chiếm đồn đến tổ chức bao vây, vận động địch đầu hàng. Ngày 14/4/1972, đồng chí tổ chức phục kích, đánh lực lượng bảo an tại Sóc Giữa; từ ngày 19 đến 24/4/1972, tham gia chỉ huy đánh chiếm các đồn Chùa Mới, Cái Đuốc Vàm, Ngã Tư Ông Dèo; ngày 26/9/1972, tổ chức đánh đồn Kinh 6B, bắt 16, diệt 8 tên, thu nhiều vũ khí.

Ngày 25/8/1973, đồng chí chỉ huy lực lượng chống giữ, cầm chân một tiểu đoàn địch cùng một đại đội xe M113 trong 21 ngày, diệt 27 tên và làm bị thương 18 tên. Đồng chí còn tổ chức các biện pháp làm địch từ bỏ đồn Sóc Mò Om; xây dựng lực lượng nội tuyến phục vụ đánh Thốt Nốt; tháng 9/1974 chỉ huy đánh chặn lực lượng Trung đoàn 31 đến giải tỏa, góp phần làm thất bại ý đồ chi viện của địch tại Xẻo Sâu; tháng 12/1974 tổ chức bao vây, vận động lực lượng địch tại Cái Đuốc Nhỏ đầu hàng.

3. Trực tiếp góp phần giải phóng huyện Giồng Riềng

Tháng 4/1975, trong đợt Tổng tiến công và nổi dậy giải phóng miền Nam, đồng chí trực tiếp tổ chức hiệp đồng lực lượng, chỉ huy mũi tiến công chủ yếu đánh vào Chi khu Giồng Riềng. Kết quả, lực lượng ta bắt sống gần 100 tên, thu toàn bộ vũ khí, trang bị, trong đó có 2 khẩu pháo 105 mm, trực tiếp góp phần giải phóng huyện Giồng Riềng. Đây là dấu mốc tiêu biểu, thể hiện sự trưởng thành từ người chiến sĩ cơ sở đến cán bộ chính trị trực tiếp tham gia tổ chức, hiệp đồng và chỉ huy chiến đấu.

4. Anh dũng hy sinh trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Sau ngày đất nước thống nhất, đồng chí được điều động giữ chức Chính trị viên Đại đội 1, Tiểu đoàn 207. Trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam, ngày 24/12/1977, đồng chí đã anh dũng hy sinh, thể hiện tinh thần trách nhiệm cao, ý chí chiến đấu kiên cường và sự tận tụy của người cán bộ chính trị trực tiếp chiến đấu nơi tuyến đầu. Sự hy sinh của đồng chí là biểu tượng cao đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, thể hiện phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, xứng đáng được Đảng, Nhà nước, Quân đội và Nhân dân trân trọng, ghi nhận, tôn vinh là tấm gương sáng giáo dục truyền thống cho các thế hệ cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang hôm nay và mai sau.

Với những thành tích đặc biệt xuất sắc trong chiến đấu, tháng 4/1979, đồng chí Huỳnh Văn Thạnh (Mười Thạnh), nguyên Chính trị viên Đại đội Địa phương quân huyện Giồng Riềng, Tỉnh đội Rạch Giá (nay thuộc tỉnh An Giang), Quân khu 9, được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba. Ngày 28/8/2026, đồng chí được truy tặng danh hiệu “Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân”.

Liệt sĩ Huỳnh Văn Thạnh được Đảng, Nhà nước truy tặng danh hiệu “Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân” không chỉ là niềm vinh dự, tự hào của thân nhân, gia đình, đồng chí, đồng đội mà đó cũng là niềm vinh dự, tự hào to lớn của cán bộ, đảng viên, cán bộ chiến sĩ LLVT và nhân dân An Giang. 

Thế hệ cán bộ, đảng viên, cán bộ chiến sĩ LLVT và nhân dân An Giang hôm nay, nguyện kế tục xứng đáng với những cống hiến, hy sinh của các anh hùng và các thế hệ cha anh đi trước, giữ gìn và phát huy truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ra sức thi đua trong công tác, lao động, học tập, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

*

Lễ truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho đồng chí Lâm Kiên Trì và Huỳnh Văn Thạnh là dịp để chúng ta ôn lại cuộc đời, sự nghiệp và tôn vinh công lao, cống hiến của hai đồng chí đối với cách mạng trong tỉnh; qua đó giáo dục tinh thần yêu nước, cổ vũ, động viên cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và người dân ra sức thi đua lao động, học tập, công tác; thực hiện tốt nhiệm vụ được giao; góp phần xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh; xây dựng tỉnh An Giang ngày càng phát triển.

Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy An Giang