Cụ Huỳnh Thúc Kháng là một trong những nhà yêu nước tiêu biểu, người trí thức lớn có bản lĩnh, khí tiết và nhân cách cao đẹp. Từ phong trào Duy Tân, những năm tháng tù đày Côn Đảo, hoạt động nghị trường, báo chí đến khi tham gia Chính phủ cách mạng do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu, cuộc đời cụ luôn gắn với khát vọng độc lập dân tộc, dân chủ, dân quyền và hạnh phúc của Nhân dân. Những đóng góp to lớn của cụ đã để lại dấu ấn sâu đậm trong tiến trình đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng Nhà nước Việt Nam mới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và cụ Huỳnh Thúc Kháng cùng các thành viên Chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ảnh: TL
Sinh ngày 01/10/1876 tại làng Thạnh Bình, tổng Tiên Giang Thượng, huyện Hà Đông, phủ Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam (nay thuộc thành phố Đà Nẵng), Huỳnh Thúc Kháng lớn lên trong một gia đình nhà nho có truyền thống hiếu học. Từ nhỏ, Huỳnh Thúc Kháng nổi tiếng thông minh, ham học, sớm có chí hướng cứu nước. Năm 1904, sau khi đỗ tiến sĩ, thay vì lựa chọn con đường làm quan, Huỳnh Thúc Kháng cùng Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp và nhiều sĩ phu tiến bộ khởi xướng, thúc đẩy phong trào Duy Tân ở Trung Kỳ.
Phong trào Duy Tân và cuộc vận động chống thuế ở Trung Kỳ năm 1908 bị thực dân Pháp đàn áp. Huỳnh Thúc Kháng bị bắt, kết án và đày ra Côn Đảo. Hơn 13 năm nơi lao tù khắc nghiệt không làm lay chuyển ý chí của người chí sĩ yêu nước. Trái lại, thử thách càng tôi luyện bản lĩnh, khí tiết và lòng kiên trung của Huỳnh Thúc Kháng. Trong tù, Huỳnh Thúc Kháng vẫn học tập, nghiên cứu, giữ vững niềm tin vào tương lai dân tộc. Đó cũng là giai đoạn làm nổi bật phẩm chất của Huỳnh Thúc Kháng: có thể bị giam cầm về thể xác nhưng không bao giờ khuất phục về tinh thần.
Sau khi được trả tự do năm 1921, Huỳnh Thúc Kháng tiếp tục dấn thân trên một trận tuyến mới. Năm 1926, Huỳnh Thúc Kháng được bầu làm Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ. Trên nghị trường, Huỳnh Thúc Kháng thẳng thắn đấu tranh đòi quyền lợi chính đáng cho Nhân dân, phản đối những chính sách hà khắc, bất công của chính quyền thực dân và phong kiến. Huỳnh Thúc Kháng đề nghị mở rộng quyền dân chủ, cải thiện đời sống, giảm sưu thuế, thực hiện các chính sách có lợi cho dân. Khi nhận thấy cơ quan này ngày càng bị hạn chế khả năng hoạt động, cụ chủ động từ chức, thể hiện thái độ nhất quán: tham gia nghị trường là để phục vụ Nhân dân chứ không phải tìm kiếm địa vị.
Một trong những đóng góp nổi bật khác của Huỳnh Thúc Kháng là trên mặt trận báo chí. Năm 1927, cụ sáng lập và làm chủ nhiệm, chủ bút báo Tiếng Dân tại Huế. Trong gần 16 năm tồn tại, báo Tiếng Dân trở thành một diễn đàn có ảnh hưởng lớn ở Trung Kỳ, góp phần truyền bá tư tưởng yêu nước, nâng cao dân trí, bảo vệ quyền lợi của Nhân dân và phê phán những chính sách bất công. Với tinh thần “tiếng nói của dân”, tờ báo kiên trì phản ánh đời sống xã hội, đấu tranh cho dân sinh, dân chủ, góp phần hình thành ý thức chính trị và trách nhiệm xã hội trong các tầng lớp nhân dân.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 mở ra bước ngoặt mới trong cuộc đời hoạt động của Huỳnh Thúc Kháng. Trân trọng uy tín, tài năng và nhân cách của cụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh mời cụ tham gia Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đầu năm 1946, cụ được giao giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Điều này thể hiện chủ trương đại đoàn kết dân tộc của Chính phủ cách mạng, quy tụ những nhân sĩ, trí thức có uy tín cùng chung sức xây dựng và bảo vệ chính quyền non trẻ.
Trên cương vị Bộ trưởng Bộ Nội vụ, cụ Huỳnh Thúc Kháng tham gia giải quyết nhiều công việc quan trọng về tổ chức bộ máy, hành chính, giữ gìn trật tự và củng cố chính quyền cách mạng. Đặc biệt, từ ngày 31/5/1946, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp đàm phán, cụ được giao quyền Chủ tịch nước. Trong hơn 4 tháng đảm đương trọng trách, giữa lúc tình hình chính trị trong và ngoài nước vô cùng phức tạp, cụ đã cùng Chính phủ xử lý nhiều vấn đề hệ trọng, góp phần giữ vững ổn định chính trị, bảo vệ thành quả của Cách mạng Tháng Tám và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Việc Chủ tịch Hồ Chí Minh tin tưởng giao quyền điều hành đất nước cho Huỳnh Thúc Kháng cho thấy uy tín đặc biệt của cụ trong đời sống chính trị lúc bấy giờ. Đáp lại sự tin cậy ấy, cụ đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên mọi khác biệt về chính kiến, sử dụng kinh nghiệm và bản lĩnh để cùng Chính phủ vượt qua những thử thách hiểm nghèo. Đây là một trong những đóng góp đặc biệt quan trọng của cụ đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Nhà nước cách mạng trong những ngày đầu độc lập.
Cuối năm 1946, khi toàn quốc kháng chiến bùng nổ, cụ Huỳnh Thúc Kháng được cử làm Đặc phái viên Chính phủ tại Trung Bộ. Dù tuổi cao, sức yếu, cụ vẫn đi nhiều nơi để tuyên truyền đường lối kháng chiến, động viên Nhân dân đoàn kết, củng cố chính quyền và chăm lo lực lượng kháng chiến. Ngày 21/4/1947, cụ qua đời tại Quảng Ngãi trong khi đang thực hiện nhiệm vụ. Sự ra đi của cụ là một tổn thất lớn đối với Chính phủ và Nhân dân. Trong thư gửi đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá cao nhân cách Huỳnh Thúc Kháng với những phẩm chất nổi bật: “học hành rất rộng, chí khí rất bền, đạo đức rất cao”.
Nhìn lại cuộc đời hơn 70 năm của cụ Huỳnh Thúc Kháng, có thể thấy một hành trình nhất quán của lòng yêu nước và tinh thần phụng sự Nhân dân. Từ một nhà nho yêu nước, nhà hoạt động Duy Tân, người tù Côn Đảo, nghị viên đấu tranh cho dân quyền, nhà báo đầy khí phách, đến một thành viên quan trọng của Chính phủ cách mạng, ở bất cứ cương vị nào, cụ cũng giữ vững khí tiết, không màng danh lợi, lấy lợi ích của Tổ quốc và Nhân dân làm mục tiêu cao nhất.
Kỷ niệm 150 năm Ngày sinh cụ Huỳnh Thúc Kháng (01/10/1876 - 01/10/2026) là dịp để mỗi cán bộ, đảng viên và Nhân dân thêm trân trọng những đóng góp của một chí sĩ lớn đối với sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tấm gương của cụ tiếp tục nhắc nhở các thế hệ hôm nay về tinh thần tự lực, tự cường, phát huy sức mạnh đại đoàn kết, đặt lợi ích của đất nước và Nhân dân lên trên hết, góp phần xây dựng nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh, văn minh và hạnh phúc.
PV