Quy định số 212-QĐ/TW ngày 17/8/2026 của Bộ Chính trị về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm, tiếp tục hoàn thiện các quy định của Đảng về xử lý vi phạm, đáp ứng yêu cầu thực tiễn trong tình hình mới. Với phạm vi điều chỉnh toàn diện, nhiều nội dung được bổ sung, cụ thể hóa, nhất là đối với những lĩnh vực mới như khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo, Quy định góp phần tăng cường kỷ luật, kỷ cương, đề cao trách nhiệm của tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, phục vụ yêu cầu xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

Đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư. Ảnh: TL
Ngày 17/8/2026, thay mặt Bộ Chính trị, đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, ký ban hành Quy định số 212-QĐ/TW về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm. Quy định có hiệu lực từ ngày ký, thay thế Quy định số 69-QĐ/TW ngày 06/7/2022 của Bộ Chính trị khóa XIII và Quy định số 264-QĐ/TW ngày 14/02/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định số 69-QĐ/TW; đồng thời được phổ biến đến chi bộ.
Việc ban hành Quy định số 212-QĐ/TW tiếp tục thể hiện yêu cầu hoàn thiện đồng bộ hệ thống quy định về kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng. Trong điều kiện thực tiễn phát triển nhanh, nhiều loại hình hoạt động, quan hệ xã hội và phương thức quản lý mới xuất hiện, các quy định về kỷ luật cũng cần được cập nhật kịp thời, bảo đảm bao quát những hành vi vi phạm mới, khắc phục khoảng trống trong quản lý, đồng thời tạo cơ sở thống nhất để tổ chức đảng có thẩm quyền xem xét, xử lý vi phạm.
Quy định số 212-QĐ/TW xác định rõ nội dung vi phạm và hình thức kỷ luật đối với tổ chức đảng, đảng viên có vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật. Đáng chú ý, phạm vi áp dụng khá rộng, bao gồm cả tổ chức đảng đã hết nhiệm kỳ hoạt động, đã giải thể, kết thúc hoạt động hoặc thay đổi do chuyển giao, chia tách, sáp nhập, hợp nhất. Đối với đảng viên, Quy định còn áp dụng với đảng viên bị tuyên bố mất tích, đảng viên đã qua đời nhưng có vi phạm đặc biệt nghiêm trọng và đảng viên ở nước ngoài.
Quy định này tiếp tục khẳng định một nguyên tắc cơ bản: tất cả tổ chức đảng và đảng viên đều bình đẳng trước kỷ luật của Đảng. Tổ chức đảng, đảng viên vi phạm chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước đều phải được xem xét, xử lý công minh, chính xác, kịp thời. Thi hành kỷ luật phải đúng nguyên tắc, quy trình, thủ tục và thẩm quyền; bảo đảm chủ động, công khai, dân chủ, khách quan, công tâm, thận trọng, chặt chẽ, chính xác, nghiêm minh.
Điều đó tiếp tục làm rõ tinh thần xuyên suốt trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng: kỷ luật của Đảng không có “vùng cấm”, không phụ thuộc vào việc tổ chức đã thay đổi mô hình hay cá nhân đã chuyển vị trí công tác. Trách nhiệm phải được xem xét trên cơ sở hành vi, tính chất, mức độ và hậu quả của vi phạm. Đây vừa là yêu cầu bảo đảm tính nghiêm minh, vừa góp phần nâng cao ý thức tự giác chấp hành kỷ luật của từng tổ chức đảng và đảng viên.
Một điểm đáng chú ý khác là khi xem xét kỷ luật, Quy định yêu cầu đánh giá toàn diện nội dung, động cơ, tính chất, mức độ, hậu quả, nguyên nhân vi phạm, hoàn cảnh cụ thể, các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ; đồng thời xem xét ý thức, thái độ tự phê bình, tiếp thu phê bình và kết quả sửa chữa, khắc phục hậu quả. Một hành vi vi phạm chỉ bị kỷ luật một lần bằng một hình thức kỷ luật; trường hợp cùng thời điểm có nhiều hành vi vi phạm thì phải xem xét từng hành vi và quyết định chung bằng hình thức kỷ luật cao nhất.
Cách quy định này vừa bảo đảm tính nghiêm minh, vừa thể hiện yêu cầu khách quan, toàn diện, tránh tình trạng xử lý đơn giản, máy móc. Kỷ luật không chỉ nhằm xử lý vi phạm mà còn phải gắn với giáo dục, quản lý, giúp tổ chức đảng, đảng viên nhận thức rõ khuyết điểm để sửa chữa, khắc phục và tiến bộ.
Đặc biệt, Quy định số 212-QĐ/TW tiếp tục nhấn mạnh trách nhiệm cá nhân trong vi phạm của tập thể. Khi xem xét kỷ luật tổ chức đảng phải làm rõ trách nhiệm của tổ chức, đồng thời xem xét trách nhiệm của từng cá nhân liên quan, nhất là người đứng đầu. Đây là vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong khắc phục tình trạng né tránh, đùn đẩy hoặc “hòa cả làng” khi khuyết điểm, vi phạm xảy ra dưới danh nghĩa quyết định tập thể.
Qua đó, trách nhiệm lãnh đạo, quản lý được xác định cụ thể hơn. Người đứng đầu không chỉ chịu trách nhiệm về hành vi trực tiếp của mình mà còn phải chịu trách nhiệm tương ứng khi buông lỏng lãnh đạo, quản lý, thiếu kiểm tra, giám sát để xảy ra sai phạm thuộc lĩnh vực, địa bàn được giao phụ trách. Điều này có tác dụng nâng cao trách nhiệm nêu gương, ý thức giữ gìn kỷ luật, kỷ cương của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý.
Quy định số 212-QĐ/TW cũng quy định cụ thể thời hiệu kỷ luật. Đối với tổ chức đảng, thời hiệu là 5 năm đối với vi phạm đến mức khiển trách, 10 năm đối với vi phạm đến mức cảnh cáo; không áp dụng thời hiệu đối với vi phạm đến mức giải tán và một số nhóm vi phạm đặc biệt nghiêm trọng. Đối với đảng viên, thời hiệu là 5 năm đối với vi phạm đến mức khiển trách, 10 năm đối với vi phạm đến mức cảnh cáo hoặc cách chức; không áp dụng thời hiệu đối với vi phạm đến mức khai trừ, vi phạm chính trị nội bộ, vi phạm quốc phòng, an ninh, đối ngoại xâm hại lợi ích quốc gia, dân tộc và hành vi sử dụng văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận không hợp pháp.
Bên cạnh việc kế thừa các quy định về những lĩnh vực truyền thống như tổ chức, cán bộ, công tác đảng viên, bầu cử, quản lý ngân sách, tài chính, tài sản, kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, đầu tư, xây dựng, đất đai, tài nguyên, giáo dục, y tế, văn hóa - xã hội…, Quy định số 212-QĐ/TW có điểm mới nổi bật khi cụ thể hóa các vi phạm trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Đối với tổ chức đảng, các hành vi có thể bị xem xét kỷ luật gồm không lãnh đạo, chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra hoặc không kịp thời xử lý các tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi quản lý có vi phạm; tổ chức thực hiện các hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trái chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước; ban hành văn bản trái quy định hoặc buông lỏng lãnh đạo, thiếu trách nhiệm để xảy ra vi phạm.
Đối với đảng viên, Quy định đã đưa vào những hành vi gắn trực tiếp với sự phát triển nhanh của công nghệ hiện nay như cản trở hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số hợp pháp; nghiên cứu, phát triển, cung cấp, triển khai hoặc sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo trái quy định; thu thập, xử lý, sử dụng dữ liệu để phát triển, huấn luyện, kiểm thử hoặc vận hành hệ thống trí tuệ nhân tạo trái quy định. Đáng chú ý là hành vi sử dụng trí tuệ nhân tạo hoặc công nghệ mới để giả mạo video, hình ảnh, giọng nói, chữ ký của người khác, tạo lập, đăng tải, phát tán thông tin trái quy định cũng được xác định cụ thể.
Đây là bước cập nhật có ý nghĩa thực tiễn rõ nét. Quá trình chuyển đổi số, ứng dụng dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo đang tạo ra nhiều phương thức mới trong lãnh đạo, quản lý và đời sống xã hội, nhưng đồng thời cũng đặt ra những nguy cơ mới về thông tin giả, giả mạo danh tính, dữ liệu cá nhân, an toàn thông tin và trách nhiệm sử dụng công nghệ. Việc đưa các hành vi này vào quy định về kỷ luật của Đảng tạo thêm cơ sở để cán bộ, đảng viên nhận thức đầy đủ rằng không gian số không phải là không gian nằm ngoài phạm vi trách nhiệm và kỷ luật.
Để Quy định số 212-QĐ/TW thực sự đi vào cuộc sống, trước hết các cấp ủy, tổ chức đảng cần tổ chức quán triệt đầy đủ đến từng chi bộ, từng cán bộ, đảng viên; gắn việc nghiên cứu Quy định với các quy định về những điều đảng viên không được làm, trách nhiệm nêu gương, kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Việc quán triệt phải hướng đến nhận thức đúng, hiểu đúng và tự giác thực hiện, tránh tình trạng học tập hình thức hoặc chỉ xem kỷ luật là công việc của cơ quan kiểm tra.
Cùng với đó, cần tăng cường kiểm tra, giám sát thường xuyên ở những lĩnh vực nhạy cảm, dễ phát sinh tiêu cực; coi trọng kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm; phát huy trách nhiệm của người đứng đầu trong quản lý cán bộ, đảng viên. Trong bối cảnh chuyển đổi số mạnh mẽ, mỗi cấp ủy cũng cần quan tâm giáo dục kỹ năng số, ý thức bảo vệ dữ liệu, trách nhiệm sử dụng mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo cho đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Đối với mỗi cán bộ, đảng viên, Quy định số 212-QĐ/TW trước hết là yêu cầu về ý thức tự giác. Mỗi người phải thường xuyên “tự soi, tự sửa”, lấy kỷ luật của Đảng làm khuôn khổ trong hành động, gắn quyền hạn với trách nhiệm, gắn trách nhiệm nêu gương với từng công việc cụ thể. Cán bộ càng giữ cương vị cao, phạm vi tác động càng lớn thì yêu cầu về giữ gìn phẩm chất, đạo đức, liêm chính và kỷ luật càng phải nghiêm.
Việc Bộ Chính trị ban hành Quy định số 212-QĐ/TW tiếp tục khẳng định quyết tâm của Đảng trong xây dựng hệ thống kỷ luật ngày càng đồng bộ, chặt chẽ, phù hợp với yêu cầu mới. Tổ chức thực hiện nghiêm túc Quy định không chỉ góp phần xử lý đúng những vi phạm đã xảy ra, mà quan trọng hơn là phòng ngừa sai phạm, giữ vững nguyên tắc tổ chức, tăng cường đoàn kết, thống nhất, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng. Từ đó góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị thực sự trong sạch, vững mạnh, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân.
PV